1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò của Sanyutei Encho trong đời sống xã hội - văn hóa Nhật Bản thời kỳ Minh Trị: Luận án TS. Lịch sử: 62 22 50 05

212 61 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 212
Dung lượng 9,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nghiên cứu thân thế, sự nghiệp, vai trò đóng góp của Sanyutei Encho trong đời sống xã hội – văn hóa Nhật Bản, nhà hoạt động văn hóa - nghệ thuật đại chúng tiêu biểu cuối thời Edo - đầu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN DƯƠNG ĐỖ QUYÊN

VAI TRÒ CỦA SANYUTEI ENCHO TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI - VĂN HÓA NHẬT BẢN

THỜI KỲ MINH TRỊ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN DƯƠNG ĐỖ QUYÊN

VAI TRÒ CỦA SANYUTEI ENCHO TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI - VĂN HÓA NHẬT BẢN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TS Nguyễn Văn Kim

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN

GS.TSKH Vũ Minh Giang

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận án đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Nguyễn Dương Đỗ Quyên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới GS.TS Nguyễn Văn Kim, người Thầy luôn tận tâm chỉ bảo và động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Tôi cũng xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc tới các Thầy Cô giáo Bộ môn Lịch sử Thế giới, Khoa Lịch sử và Bộ môn Nhật Bản học, Khoa Đông Phương học, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN), các nhà nghiên cứu tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á thuộc Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vì những ý kiến chỉ bảo quý báu và động viên ân cần đã giúp tôi ngày càng trau dồi cách nhìn và phương pháp nghiên cứu trong quá trình hoàn thiện luận án Tôi xin dành sự kính trọng và lòng biết ơn đặc biệt tới Giáo sư Nobuhiro Shinji (Đại học Meiji), cố Giáo sư Masuda Shinichiro (Đại học Seitoku Tokyo), ông Sugimoto Atsushi (nguyên Giám đốc Quỹ Chấn hưng Văn hóa – nguyên Giám đốc Nhà hát Rozé, thành phố Fuji, tỉnh Shizuoka), các nhà nghiên cứu tại Đại học Showa, Đại học Kyoto, các nghệ sĩ kể chuyện - tấu nói Rakugo, những người thân và bạn bè Nhật Bản đã luôn nhiệt tình trao đổi, chia sẻ những tri thức mới về vấn đề nghiên cứu cũng như hỗ trợ để tôi có thể tiếp cận nhiều nguồn tư liệu và tài liệu nghiên cứu quý báu

Tôi xin chân thành cảm ơn bố mẹ và gia đình tôi, chỗ dựa tinh thần vững chãi để tôi có thể vững tâm và bền chí, phấn đấu hoàn thành luận án

Xin trân trọng cảm ơn

Nguyễn Dương Đỗ Quyên

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 4

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 4

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Thuật ngữ và khái niệm liên quan 8

5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 13

6 Nguồn sử liệu được sử dụng trong luận án 14

7 Đóng góp của luận án 15

8 Bố cục luận án 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 17

1.1 Khái quát về nghiên cứu lịch sử Nhật Bản thời Minh Trị 17

1.2 Nghiên cứu tiến trình cận đại hóa nền nghệ thuật đại chúng, chuyển biến xã hội và văn hóa đô thị thời Minh Trị 19

1.2.1 Nghiên cứu quá trình cận đại hóa nghệ thuật đại chúng 19

1.2.2 Nghiên cứu quá trình cận đại hóa xã hội và văn hóa đô thị 20

1.2.3 Nghiên cứu mối quan hệ giữa nghệ thuật đại chúng và xã hội đô thị 21

1.3 Nghiên cứu về Sanyutei Encho 23

1.3.1 Nghiên cứu trên phương diện lịch sử 23

1.3.2 Nghiên cứu trên phương diện văn học 27

1.3.3 Nghiên cứu trên phương diện nghệ thuật 32

Tiểu kết: Nghiên cứu về Sanyutei Encho - một số vấn đề bỏ ngỏ 33

CHƯƠNG 2: TIẾP BIẾN VĂN HÓA VÀ VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA THỊ DÂN EDO TRONG TIẾN TRÌNH CẬN ĐẠI HÓA NHẬT BẢN - NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP SANYUTEI ENCHO 37

2.1 Bối cảnh chính trị - xã hội Nhật Bản những năm cuối thời Edo 38

2.2 Cận đại hóa và những chuyển biến xã hội – văn hóa thời Minh Trị 39

2.2.1 Diễn tiến mạnh mẽ của trào lưu Văn minh khai hóa 40

2.2.2 Sự trỗi dậy của xu hướng Quốc túy bảo tồn 45

Trang 6

2.3 Văn hóa thị dân - tiếp biến và hội nhập trong cận đại hóa 50

2.3.1 Xã hội và văn hóa thị dân Edo – một tiền đề của cận đại hóa 50

2.3.2 Chuyển biến cận đại hóa xã hội và văn hóa thị dân Edo 55

2.3.3 Nghệ thuật tạp kỹ Yose và kể chuyện - tấu nói Rakugo - Tính liên tục và quá trình tiếp biến 57

2.4 Sanyutei Encho - Khái lược về thân thế và sự nghiệp 64

Tiểu kết 69

CHƯƠNG 3: ĐÓNG GÓP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA SANYUTEI ENCHO TRONG VĂN HÓA NHẬT BẢN THỜI MINH TRỊ 72

3.1 Đóng góp của Encho trong kế thừa truyền thống văn hóa Edo 72

3.1.1 Vai trò thủ lĩnh trong bảo lưu truyền thống văn hóa đại chúng Edo 72

3.1.2 Phát triển truyền thống văn nghệ Edo trong sáng tác mới Rakugo 79

3.1.3 Hoạt động của Encho trong các hội văn nhân đô thị 84

3.2 Đóng góp của Encho trong sáng tạo văn hóa mới thời cận đại 89

3.2.1 Sự chiếm lĩnh của tác phẩm Encho trên sân khấu Nhật Bản cận đại 89

3.2.2 Đóng góp của Encho trong phổ biến văn hóa chữ in đại chúng 94

3.2.3 Ngôn ngữ thị dân trong sáng tác của Encho – hình mẫu của ngôn ngữ thành văn cận đại 99

Tiểu kết 102

CHƯƠNG 4: ĐÓNG GÓP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA SANYUTEI ENCHO TRONG XÃ HỘI NHẬT BẢN THỜI MINH TRỊ 105

4.1 Đóng góp của Encho trong công cuộc giáo dục tư tưởng quốc dân 105

4.1.1 Vai trò của văn nghệ sĩ đô thị trong nhận thức của chính quyền 105

4.1.2 Xây dựng hình mẫu con người thời đại qua sáng tác “Shiobara Tasuke” 110

4.2 Đóng góp của Encho trong chuyển biến nhận thức và tư tưởng xã hội về cận đại hóa 116

4.2.1 Encho và văn nghệ sĩ đô thị - nhân tố truyền dẫn tinh thần cận đại hóa 116

4.2.2 Tuyên truyền và phản biện về chính sách Văn minh khai hóa 122

4.2.3 Truyền bá tri thức và tư tưởng phương Tây 127

4.3 Đóng góp và ảnh hưởng của Encho trong truyền thông báo chí 133

4.3.1 Công chúng và quan hệ xã hội của Encho nhìn từ báo chí 133

4.3.2 Encho và báo chí - sự kết giao giữa truyền thông đại chúng cũ và mới 137

Tiểu kết 142

Trang 7

KẾT LUẬN 145

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN

ĐẾN LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHẦN PHỤ LỤC 162

Phụ lục 1: Niên biểu về cuộc đời và sự nghiệp của Sanyutei Encho 163

Phụ lục 2: Một số nhân vật tiêu biểu thời Minh Trị có nhiều liên hệ với Encho 169

Phụ lục 3: Bảng thống kê các sáng tác của Sanyutei Encho 177

Phụ lục 4: Tóm tắt nội dung một số sáng tác tiêu biểu của Sanyutei Encho 182

Phụ lục 5: Bảng thống kê số lượng khán giả của sân khấu thời Minh Trị 191

Phụ lục 6: Khái quát lịch sử phát triển của kể chuyện - tấu nói Rakugo 192

Phụ lục 7: Một số tư liệu hình ảnh về đời sống xã hội thời Minh Trị 194

Phụ lục 8: Một số tư liệu hình ảnh về sự nghiệp của Sanyutei Encho 197

Phụ lục 9: Danh mục đối tượng và nội dung khảo sát thực địa - phỏng vấn tại Nhật Bản 205

Phụ lục 10: Một số tư liệu hình ảnh nghiên cứu thực địa của tác giả luận án 207

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Cũng như nhiều quốc gia châu Á, Nhật Bản bước vào thời cận đại trước áp lực ngày càng mạnh mẽ của nhiều cường quốc phương Tây Từ năm 1854, sau khi ký hiệp ước với Mỹ, Nhật Bản đã phải ký hàng loạt hiệp ước bất bình đẳng với Nga, Anh, Pháp, Hà Lan, Nền độc lập của dân tộc Nhật Bản bị đe dọa nghiêm trọng [10; tr.479-506] Trong bối cảnh đó, chính quyền Minh Trị non trẻ đã sớm xác định

mục tiêu “Học tập, đuổi kịp và vượt liệt cường phương Tây”, tiến hành cận đại hóa

đất nước một cách toàn diện và mạnh mẽ Nhờ vậy, Nhật Bản đã giữ vững được nền độc lập và xác lập vị thế khu vực và quốc tế không lâu sau đó

Trong nghiên cứu lịch sử Nhật Bản, quá trình cải cách thời Minh Trị là một đề tài luôn được đông đảo học giả trong và ngoài Nhật Bản dành nhiều mối quan tâm khảo cứu Các nhà nghiên cứu châu Á và Việt Nam cũng có nhiều công trình viết về thời Minh Trị Mặc dù vậy, các nghiên cứu đó thường chỉ tập trung phân tích những chuyển biến và thành công của công cuộc cải cách trên các lĩnh vực chính trị, kinh

tế hay giáo dục và đề cao vai trò của các nhà lãnh đạo và lực lượng võ sĩ - trí thức tinh hoa Trong khi đó, quá trình chuyển biến của quần chúng, một lực lượng đông đảo góp phần quan trọng tạo nên thành công căn bản của công cuộc cải cách xã hội,

cận đại hóa Nhật Bản trong thời kỳ này lại ít được quan tâm khảo cứu Bên cạnh

đó, một vấn đề khác cũng chưa được quan tâm đúng mức là quá trình tiếp biến của các truyền thống văn hóa trong xu thế tiếp nhận mạnh mẽ những giá trị mới từ bên ngoài, cụ thể là văn minh phương Tây Đây cũng là một trong những nguyên nhân căn bản khiến việc nhận thức và học tập mô hình thành công của Nhật Bản tại nhiều quốc gia Đông Á đương thời còn ít nhiều chưa thật toàn diện

Trên thực tế, để có được những phát triển "thần kỳ" đầu thời cận đại, xã hội Nhật Bản một mặt được trang bị những nền tảng xã hội và văn hóa quan trọng từ thời Edo (1600-1868), mặt khác đã phải trải qua những năm tháng vận động mãnh liệt với nhiều khó khăn, thách thức Được khởi xướng và dẫn dắt bởi một lực

lượng tinh hoa cấp tiến, đông đảo quần chúng bao gồm thị dân, nông dân, võ sĩ

Trang 9

vốn ban đầu bị cuốn theo một cách thụ động, đã từng bước trưởng thành, thích ứng và tham gia một cách tích cực vào công cuộc cải biến xã hội trong từng lĩnh vực cụ thể với nhiều đóng góp khác nhau

Trong lĩnh vực văn hóa, chính quyền Minh Trị cũng sớm nhận thức tầm quan

trọng của việc cận đại hóa nền văn hóa - nghệ thuật đại chúng, tìm kiếm và xác

lập những phương thức biểu hiện mới, cũng như nâng cao năng lực thưởng thức

và ứng xử của công chúng, nhằm khẳng định vị thế đồng đẳng về văn hóa với các quốc gia tiên tiến phương Tây Là một quy luật, truyền thống văn hóa nói chung, nghệ thuật đại chúng nói riêng, thường gắn chặt và sống bền bỉ trong đời sống xã

hội Bởi vậy, quá trình chuyển biến của văn hóa - nghệ thuật đại chúng không chỉ phản ánh, mà còn góp phần thúc đẩy những chuyển biến về tinh thần, thị hiếu, nhận thức và tư tưởng của chính quyền cũng như công chúng Nhật Bản

Ngày nay, tại Bảo tàng Edo - Tokyo (ở Tokyo) nơi trưng bày về lịch sử phát triển của đô thị Edo - Tokyo, người ta phục dựng ngay tại gian trung tâm một mô hình Yose - rạp hát đại chúng thịnh hành trong thời Edo - Minh Trị Điều này phần nào cho thấy tầm quan trọng của truyền thống văn hóa - nghệ thuật này trong lịch sử phát triển của xã hội đô thị Nghệ thuật kể chuyện - tấu nói độc diễn Rakugo, hình thức biểu diễn chủ đạo và hấp dẫn nhất của rạp hát đại chúng Yose, sau hơn 400 năm hình thành và phát triển, vẫn tồn tại bền bỉ, độc đáo và sinh động trong đời sống văn hóa - nghệ thuật Nhật Bản hiện đại Trong sự chuyển biến thời đại từ thời cận thế sang cận đại của nước Nhật, rạp hát Yose và nghệ thuật kể chuyện - tấu nói Rakugo đã luôn là một phần thiết yếu trong đời sống văn hóa đô thị, cũng như tham

gia tích cực như một xúc tác cận đại hóa xã hội

Trong khi đó, tại Việt Nam, đặc điểm và vai trò của Rakugo nói riêng, văn hóa - nghệ thuật đại chúng Nhật Bản nói chung lại hầu như ít được biết đến Ở một khía cạnh khác, trong nghiên cứu lịch sử tại Việt Nam, so với các lĩnh vực lịch sử chính trị, xã hội hay quan hệ quốc tế, nghiên cứu về lịch sử văn hóa - nghệ thuật thế giới nói chung, Nhật Bản nói riêng còn chưa được quan tâm thỏa đáng Mặc dù cần phải

khẳng định, văn hóa - nghệ thuật là một lĩnh vực quan trọng thể hiện truyền thống lịch sử của một xã hội cũng như trình độ phát triển của xã hội đó trong hiện tại,

Trang 10

nhưng trên thực tế, vai trò của văn hóa - nghệ thuật và các nhà sáng tạo văn hóa -

tư tưởng lại chưa được quan tâm, đánh giá đúng mức

Minh Trị Duy tân còn là một thời kỳ đặc biệt trong lịch sử Nhật Bản bởi sự xuất hiện đông đảo những thế hệ người tài đầy nhiệt huyết, có nhiều đóng góp xuất sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội cận đại Trong khi đó, nghiên cứu ở Việt Nam

về các danh nhân thời đại Minh Trị còn rất hạn chế, ngoài một số không nhiều về nhà tư tưởng - cải cách Fukuzawa Yukichi hay đại văn hào Natsume Soseki Các công trình phần nhiều mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu khái quát chân dung nhân vật hay dịch tác phẩm, chứ chưa khảo cứu, đánh giá sâu về vai trò và những đóng góp của mỗi cá nhân đó trong bối cảnh xã hội Nhật Bản đương thời

Sanyutei Encho (三遊亭圓朝, 1839-1900) là tác gia và nghệ sĩ kể chuyện - tấu nói Rakugo đại diện cho truyền thống văn hóa - nghệ thuật đại chúng, một danh nhân văn hóa Nhật Bản thời Minh Trị Ông sống 29 năm trong giai đoạn cuối thời Edo (1600-1868) và 32 năm trong giai đoạn đầu thời Minh Trị (1868-1912) Là một thị dân Edo, sống trọn đời tại một đô thị là tâm điểm của cuộc chuyển mình thời đại

từ thành Edo phong kiến trở thành thủ đô Tokyo hiện đại, cuộc đời và sự nghiệp hoạt động của Encho gắn bó và phản ánh những đổi thay to lớn của Nhật Bản thời

Minh Trị

Bởi vậy, trước hết, nghiên cứu về vai trò của Sanyutei Encho cùng nghệ thuật

kể chuyện - tấu nói Rakugo trong thời kỳ chuyển giao lịch sử đó có ý nghĩa nhận thức về quá trình phát triển của lịch sử văn hóa - nghệ thuật và xã hội Nhật Bản

Quan trọng hơn, nghiên cứu còn mang ý nghĩa thực tiễn đóng góp một cách tiếp mới nhằm lý giải sự chuyển mình, bứt phá của Nhật Bản từ một xã hội Á Đông thành một quốc gia hiện đại tiếp nhận những giá trị văn minh phương Tây đỉnh cao, nhưng vẫn bảo lưu được những đặc tính văn hóa truyền thống - điều vẫn là một câu

hỏi nóng đang tìm lời giải đáp ở Việt Nam

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Là một công trình nghiên cứu tích hợp về lịch sử xã hội, lịch sử văn hóa và lịch

sử nghệ thuật Nhật Bản, luận án xác định mục tiêu nghiên cứu chủ yếu sau:

Trang 11

- Nghiên cứu thân thế, sự nghiệp, vai trò đóng góp của Sanyutei Encho trong đời sống xã hội – văn hóa Nhật Bản, nhà hoạt động văn hóa - nghệ thuật đại chúng tiêu biểu cuối thời Edo - đầu thời Minh Trị với tư cách một nghiên cứu trường hợp trong việc phân tích vai trò của tầng lớp văn nghệ sĩ đô thị trong việc lôi cuốn các tầng lớp xã hội, và quá trình tiếp biến của truyền thống văn hóa thị dân Edo - một tiền đề và nội lực quan trọng của cận đại hóa xã hội và văn hóa Nhật Bản, đóng

góp một cách tiếp cận mới nhằm lý giải mức độ toàn diện và sâu sắc của công cuộc cải cách Nhật Bản thời Minh Trị

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu, làm rõ những chuyển biến và xu hướng phát triển của lịch sử văn hóa Nhật Bản thời Minh Trị; phân tích quá trình kế thừa và tiếp biến của nghệ thuật đại chúng Yose và kể chuyện - tấu nói Rakugo (gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp

của Sanyutei Encho) từ một truyền thống của xã hội và văn hóa thị dân phát triển

mạnh mẽ trong thời Edo trở thành loại hình mang dấu ấn cận đại hóa thời Minh Trị

- Từ đó, khảo cứu các nguồn sử liệu gốc, tư liệu và nghiên cứu về Sanyutei Encho trong liên hệ đa chiều và mật thiết với các sự kiện và bối cảnh của thời đại

nhằm làm rõ cuộc đời, sự nghiệp và các mối quan hệ xã hội, những đóng góp và ảnh hưởng chủ yếu của Sanyutei Encho trong đời sống văn hóa - xã hội Nhật Bản thời Minh Trị

- Qua nghiên cứu sự nghiệp của Sanyutei Encho và tác động xã hội sâu rộng

của văn hóa - nghệ thuật và văn nghệ sĩ đô thị trong thành công của quá trình cận đại hóa Nhật Bản, góp phần khẳng định tầm quan trọng của việc định hướng đúng

đắn sự phát triển của văn hóa - nghệ thuật đại chúng và nghệ thuật truyền thống trong đời sống xã hội và sự nghiệp bảo tồn, phát triển văn hóa ở Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án là thân thế, sự nghiệp, đóng góp và ảnh hưởng của Sanyutei Encho với tư cách là một thị dân, bình dân Edo, một nhà

sáng tạo và thủ lĩnh văn hóa tinh thần, văn hóa đại chúng, một trí thức và nhà hoạt

động xã hội trong đời sống văn hóa - xã hội Nhật Bản thời Minh Trị

Trang 12

Để làm rõ được đối tượng nghiên cứu này trong một thời kỳ lịch sử đặc biệt sôi động của xã hội Nhật Bản thời Edo - Minh Trị, trong luận án, một số chân dung chính khách, nhà tư bản, nhà báo và văn nghệ sĩ đại chúng tiêu biểu có quan hệ mật thiết với cá nhân Encho và ảnh hưởng xã hội của nghệ thuật Encho cũng sẽ được liên hệ phân tích Việc mở rộng đối tượng nghiên cứu góp phần cung cấp cách nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về vai trò, ảnh hưởng của Encho cũng như bối cảnh văn hóa - xã hội thời Minh Trị

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi thời gian nghiên cứu của luận án là toàn bộ cuộc đời hoạt động của

Sanyutei Encho trong bối cảnh xã hội Nhật Bản khoảng 30 năm cuối thời Edo (1839-1868) và gần hết thời Minh Trị (1868-1900) Trước và sau thời gian này, những tiền đề xã hội và văn hóa - nghệ thuật truyền thống gắn với sự kế thừa và phát triển của Encho cũng sẽ được đề cập ở mức độ cần thiết

- Phạm vi không gian nghiên cứu tương ứng với không gian địa lý của Nhật

Bản gắn liền với mức độ lan toả sâu rộng của tên tuổi và nghệ thuật của Encho, trong đó đặc biệt là đô thị Edo - Tokyo, nơi diễn ra phần lớn sự nghiệp hoạt động của ông đồng thời là trung tâm của những chuyển biến xã hội thời đại Những ảnh hưởng của văn minh phương Tây từ bên ngoài tới Encho và Nhật Bản cũng nằm trong phạm vi được đề cập trong chừng mực có liên quan

- Phạm vi nội dung nghiên cứu gắn liền trực tiếp với đối tượng nghiên cứu

chính - Sanyutei Encho - là quá trình chuyển biến và phát huy vai trò của văn hóa - nghệ thuật đại chúng đô thị, tiêu biểu là kể chuyện - tấu nói Rakugo, từ thời Edo sang thời Minh Trị

4 Thuật ngữ và khái niệm liên quan

Do đặc thù của một công trình luận án lịch sử có đối tượng nghiên cứu nước ngoài, bởi vậy, nhằm giúp hiểu rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu, dưới đây, luận

án cung cấp những kiến giải cơ bản của một số thuật ngữ có tính chất xương sống của toàn bộ nội dung luận án trên cơ sở tham khảo một số bộ từ điển uy tín của Nhật Bản và thế giới

Trang 13

- Thời Minh Trị: khởi đầu bằng dấu mốc năm 1867 khi Thiên hoàng Minh Trị lên ngôi và Mạc phủ Tokugawa trao trả lại quyền điều hành đất nước cho Thiên hoàng, chấm dứt 7 thế kỷ chế độ phong kiến quân sự Mạc phủ (hoặc năm 1868 khi Thiên hoàng Minh Trị công bố bản “Ngũ điều ngự thệ” (五条御誓, Lời thề năm điều) và dời đô từ Kyoto về Edo - đại bản doanh của chính quyền Mạc Phủ Tokugawa trong hơn 260 năm, đồng thời đổi tên Edo thành Tokyo), và kết thúc vào năm 1912 khi Thiên hoàng Minh Trị băng hà Trên thực tế, “Meiji” (明治) là cách gọi chính thống trong nhận thức và nghiên cứu về Nhật Bản trên thế giới Tuy vậy,

do sự chưa phổ biến của cách gọi này tại Việt Nam, luận án sử dụng cách gọi quen thuộc “Minh Trị” theo âm Hán Việt, nhưng khuyến nghị việc sử dụng thuật ngữ

“Meiji” trong các nghiên cứu về sau để thống nhất với cách gọi chung của thế giới

- Thời Edo (江戸, Giang Hộ): còn được gọi là thời Tokugawa (徳川) theo họ Tokugawa, dòng họ võ sĩ nắm quyền điều hành chính quyền Mạc phủ trung ương Thời kỳ này được coi là bắt đầu từ năm 1600 (khi Tokugawa Ieyasu giành quyền thống trị lãnh thổ Nhật Bản sau trận thắng Sekigahara) hoặc năm 1603 (khi Tướng quân Tokugawa Ieyasu chọn vùng đầm lầy Musashino ở Edo (Tokyo ngày nay) làm đại bản doanh thiết lập chế độ Mạc phủ mới, bởi vậy thời Edo được gọi theo tên của thủ phủ Edo), và kết thúc vào năm 1867 (hoặc 1868)

- “Cận đại hóa”: Thời Minh Trị tương ứng với thời cận đại trong lịch sử Nhật

Bản Sự chuyển biến từ thời cận thế (tương ứng với thời Edo) sang thời cận đại

được giới nghiên cứu lịch sử Nhật Bản gọi là "cận đại hóa” (近代化) Theo Heibonsha’s World Encyclopedia, khái niệm “cận đại hóa” tương ứng với

“modernization” hay “modernism”, “hàm nghĩa sự chuyển biến từ xã hội tiền cận đại như xã hội truyền thống hay xã hội phong kiến thành xã hội cận đại, cùng với những thay đổi trong các lĩnh vực xã hội và văn hóa Nhưng do sự xung đột với phương Tây và dưới chính sách áp đặt từ trên xuống nhằm đuổi kịp và vượt phương Tây, khái niệm này đã phát triển với ý nghĩa độc đáo là áp dụng mô hình cận đại của phương Tây, chủ ý du nhập thể chế chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa nhằm mục đích phát triển đất nước”

Trang 14

Trên thực tế, ở phương Tây, quá trình “cận đại hóa” nền khoa học kỹ thuật và

sản xuất công nghiệp đã diễn ra từ sớm trong thế kỷ XVI Còn tại nhiều quốc gia châu Á, đặc biệt là Trung Quốc và Việt Nam, quá trình này chỉ mới bắt đầu trong thời hiện đại và còn đang diễn tiến, nên “modernization” đã được dịch theo âm Hán Việt là “hiện đại hóa” Nhằm phản ánh đúng bản chất của quá trình lịch sử tại các

quốc gia, thiết nghĩ nên phân định rõ khái niệm “cận đại hóa” với “hiện đại hóa”

Từ nhận thức đó, tác giả luận án mạnh dạn sử dụng khái niệm “cận đại hóa” để

trình bày về thời Minh Trị ở Nhật Bản

- “Thị dân”: Trong lịch sử Nhật Bản, có ba thuật ngữ hàm nghĩa tương đương

là “đinh chúng” (町衆), “đinh nhân” (町人) và “thị dân” (市民), tương ứng với ba thời kỳ nối tiếp nhau Nếu như “đinh chúng” chủ yếu dùng để chỉ tầng lớp thương nhân và thợ thủ công phát triển tại Kyoto - đô thị trung tâm trong thời kỳ từ Muromachi (室町, 1337-1573) đến Sengoku (戦国, 1467-1600) (tương ứng với nửa sau của thời trung thế), thì “đinh nhân” là cách gọi chỉ những cư dân đô thị sống trong thời cận thế (thời Edo) Theo “Nhật Bản đại bách khoa toàn thư” (日本大百科全書), “Ngoài tầng lớp thị dân trung và thượng lưu, còn có nhiều hạng dân khác nhau, đặc biệt những cư dân nghèo, thuê nhà trọ trong các câu chuyện Rakugo Nếu xét một cách khắt khe, họ không được xếp vào tầng lớp thị dân, nhưng trên thực tế lại là một bộ phận đông đảo sống bám trụ ở đô thị” Trong khi đó, “thị dân” là thuật ngữ mới, hình thành trong thời Minh Trị, được trực dịch từ “citizen” - một thuật ngữ đã được sử dụng lâu đời ở phương Tây

Theo Heibonsha’s World Encyclopedia, ở phương Tây, qua mỗi thời kỳ, khái niệm “thị dân” có nhiều biến đổi về ý nghĩa, “từ chỗ là “quốc dân” (thời Hy lạp cổ đại) đến “cư dân sống trong thành” (còn gọi là bourgeois) (thời trung đại ở phương Tây) - khi các đô thị khéo léo điều tiết mối quan hệ đối lập với lãnh chúa, nhà thờ

và nhà vua, mặt khác nắm giữ quyền tự trị như quyền đúc tiền, quyền thu thuế, quyền tài phán, hơn nữa, còn sở hữu quân đội riêng có khả năng chống ngoại xâm Việc điều hành đô thị tự trị được thị dân tiến hành một cách tự chủ và có kỷ luật riêng, là cơ sở của sự hình thành quốc gia cận đại Giữ vai trò trung tâm trong giới

Trang 15

thị dân là những nhà sản xuất và thương nhân có tài sản và trình độ giáo dục, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nhưng cũng có thể độc lập lựa chọn những lợi ích cá nhân một cách hợp lý…”

“Ở Nhật Bản, xã hội đô thị và văn hóa thị dân đã hình thành và phát triển sớm, nhưng do được bảo trợ và bảo hộ bởi quyền lực quốc gia, nên hầu như không đảm nhiệm ý niệm mang đầy đủ tính chất thị dân như ở phương Tây” Dù vậy, đây vẫn là một đặc trưng hoàn toàn khác biệt giữa Nhật Bản với phần lớn các xã hội châu Á

phong kiến và chính là một yếu tố quan trọng dẫn tới thành công của cận đại hóa

thời Minh Trị Để tránh gây khó hiểu về các thuật ngữ tiếng Nhật chưa quen thuộc tại Việt Nam, trong luận án, tác giả sử dụng chung cách gọi “thị dân” nhưng bổ sung chú thích về thời gian hoặc phạm vi nội hàm tùy từng trường hợp khác nhau

- “Văn hóa đại chúng”: Chỉ đến cuối thời Taisho (1912 - 1926) mới hình thành khái niệm “Văn hóa đại chúng” (大衆文化) do chịu ảnh hưởng khái niệm

“mass culture” từ phương Tây với ý nghĩa văn hóa của quần chúng trên cơ sở

“sự sụp đổ của cơ cấu giai tầng truyền thống dựa trên địa vị và thân phận, khi dân số vốn thuộc tầng lớp thấp nhất cũng được phổ cập giáo dục và có cơ hội tham chính”, “đảm bảo những điều kiện kinh tế cho việc hưởng thụ nhu cầu tiêu dùng ở một mức độ nhất định (theo The Heibonsha’s World Encyclopedia và Britannica Encyclopedia) “Văn hóa đại chúng” hàm nghĩa bao trùm các loại hình “nghệ thuật đại chúng” (大衆演芸, đại chúng diễn nghệ) gồm diễn kịch (như ca kịch Kabuki và kịch nói), các loại hình tạp kỹ Yose và ca múa nhạc phục

vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa của đại bộ phận dân chúng (Heibonsha’s World Encyclopedia)

Theo nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật cận đại Nhật Bản Kurata Yoshihiro, trong thời cuối Edo - đầu thời Minh Trị, ở Nhật Bản phổ biến khái niệm “du nghệ” (遊芸) để chỉ những loại hình nghệ thuật kể trên [65; tr.47] Kể từ năm Minh Trị

34 (1901), khái niệm “du nghệ” được thay thế bằng “diễn nghệ” (演芸), thể hiện bằng mức độ thường xuyên xuất hiện của thuật ngữ mới này trên các mặt báo Trên thực tế, “du nghệ” là hình thức văn hóa đại chúng phổ biến và thịnh hành

Trang 16

nhất trong xã hội Nhật Bản, đặc biệt là xã hội thị dân thời cận thế và cận đại Bởi vậy, cách diễn đạt “văn hóa đại chúng”, khi được sử dụng trong luận án, mang ý nghĩa tương đối và có phạm vi hẹp hơn gốc nghĩa

- Rạp hát Yose (寄席, thời kỳ đầu gọi là Yose-ba (寄せ場) mang ý nghĩa là nơi tụ tập), ra đời trong giai đoạn cuối thời Edo tại đô thị Edo, bao gồm các loại hình biểu diễn thị dân quy mô nhỏ như kể chuyện - tấu nói Rakugo, Kodan, rối, tranh bóng, xiếc, ảo thuật…

- Rakugo (落語) là tên gọi của loại hình kể chuyện - tấu nói, trung tâm của sân khấu Yose Rakugo ra đời vào đầu thời Edo và trong suốt thời kỳ này được gọi là Otoshi-banashi (落とし噺 - “Lạc thoại” với ý nghĩa “tấu truyện chơi chữ”), vì ngoài việc hoạt dụng các ngôn từ tượng thanh, tượng hình, đa nghĩa…, thì hài hước bất ngờ là một yếu tố chủ đạo của loại hình này Sang thời Minh Trị, tên gọi mới Rakugo ( “Lạc ngữ”) được sử dụng cho đến ngày nay Về hình thức trình diễn, đây

là loại hình độc diễn có diễn xuất mang thủ pháp ước lệ và tượng trưng, với hai đạo

cụ diễn duy nhất là một chiếc khăn tay (手拭い) và một chiếc quạt gấp (扇子) Nghệ sĩ Rakugo (落語家 hoặc 噺家) trong trang phục kimono trung tính, không hóa trang, ngồi chính tọa (正座) giữa sân khấu không bài trí, vừa là người dẫn truyện, vừa thủ tất cả các vai nhân vật Kho tàng truyện kể Rakugo được phân thành hai thời kỳ chủ yếu là “Rakugo cổ điển” (古典落語, kế thừa các sáng tác trước và trong thời Edo) và “Rakugo tân tác” (新作落語, các sáng tác mới được cho là mở đường bởi Sanyutei Encho từ cuối thời Edo - đầu thời Minh Trị)

Về cơ bản, các thuật ngữ được trình bày thống nhất theo trật tự: [Hán Việt hóa (nguyên bản tiếng Nhật, trong trường hợp cần thiết bổ sung cách dịch tiếng Việt)]

để tận dụng khả năng biểu nghĩa của từ vựng Hán Việt, thuận tiện cho độc giả Việt Nam chưa quen thuộc với các khái niệm tiếng Nhật Nhưng mặt khác, với những danh từ riêng là thuật ngữ chủ chốt của luận án gắn với các đối tượng nghiên cứu đặc trưng Nhật Bản như Rakugo, Yose, Kabuki, Noh, hay địa danh và

họ tên người Nhật, luận án chủ trương trình bày theo cách giữ nguyên bản phiên

âm Latin cách đọc theo tiếng Nhật và đặt chú thích tiếng Nhật trong ngoặc đơn

Trang 17

5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Là một công trình nghiên cứu lịch sử, luận án sử dụng các phương pháp chủ yếu của khoa học lịch sử, đồng thời kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu liên ngành phổ biến hiện nay như cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu trường hợp, các phương pháp nghiên cứu xã hội và văn hóa, nghiên cứu khu vực học nhằm

bổ trợ và tối ưu hóa các kết quả nghiên cứu

5.1 Cách tiếp cận nghiên cứu trường hợp

Vài thập kỷ gần đây, trên thế giới, ngày càng phổ biến xu hướng nghiên cứu trường hợp (case-study) trong khoa học xã hội nói chung, nghiên cứu lịch sử nói riêng Xu hướng này được đề cao, bởi thông qua những trường hợp nghiên cứu cụ thể, điển hình ở tầm vi mô, giúp làm sâu sắc hơn nhận thức và tri thức về vấn đề nghiên cứu, khảo sát được tính đa diện của vấn đề, cũng như phát hiện được những đặc trưng, trường hợp dị biệt

Từ nhận thức trên, luận án lựa chọn một nhân vật lịch sử là Sanyutei Encho với

ý nghĩa một nghiên cứu trường hợp, một lịch sử thu nhỏ trong diễn trình phát triển của lịch sử Nhật Bản thời Minh Trị Tuy nhiên, một khó khăn trong nghiên cứu trường hợp chính là sự hạn chế về nguồn tư liệu nghiên cứu, đặc biệt với những đối tượng, nhân vật lịch sử có tính chất đặc thù Để khắc phục hạn chế này, bên cạnh việc khai thác tối đa các tư liệu nghiên cứu trực tiếp, việc liên hệ và đối chiếu với các tư liệu có tính khái quát hoặc các vấn đề liên quan là vô cùng cần thiết nhằm bổ sung các tri thức, quan điểm giúp làm sáng rõ vấn đề

5.2 Nghiên cứu sử liệu và các phương pháp nghiên cứu khoa học khác

Với tư cách một công trình nghiên cứu lịch sử, phương pháp khảo cứu sử liệu gốc bằng tiếng Nhật trong thời Minh Trị được luận án chú trọng sử dụng Bên cạnh

đó, luận án cũng sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu lịch sử như nghiên cứu và phê phán tài liệu, phương pháp thống kê, nghiên cứu so sánh, phương pháp lịch đại

và đồng đại…

Ngoài ra, văn học - nghệ thuật là lĩnh vực đặc thù, có khả năng phản ánh tư tưởng, thẩm mỹ, giá trị cũng như những biến động lịch sử Xuất phát từ nhận thức phổ biến trong nghiên cứu lịch sử ngày nay coi văn học cũng là một nguồn tri thức

Trang 18

lịch sử có giá trị tham khảo quan trọng, đặc biệt với nghiên cứu trường hợp Encho, một văn nghệ sĩ, tác gia có khối lượng sáng tác đồ sộ với nhiều danh tác còn lưu truyền tới ngày nay, luận án cũng sử dụng ít nhiều các phương pháp phân tích văn bản tác phẩm, so sánh và phê phán tài liệu nhằm hiểu biết hơn về giá trị và ảnh hưởng của tác phẩm Encho cũng như các thông tin, sự kiện về đời sống xã hội Nhật Bản đương thời được phản ánh qua các sáng tác

5.3 Nghiên cứu thực địa và phỏng vấn

Bên cạnh nỗ lực tiếp cận nguồn tư liệu gốc, tác giả luận án cũng tích cực tiến hành nghiên cứu thực địa và phỏng vấn - những phương pháp cơ bản của nghiên cứu khu vực học qua việc khảo sát các địa danh lịch sử - văn hóa tại Nhật Bản có liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp

Tác giả luận án cũng coi trọng tác nghiệp phỏng vấn, tham vấn ý kiến của nhiều chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan, trong đó có GS Nobuhiro Shinji - nhà nghiên cứu lịch sử văn học thời Edo - Minh Trị cũng đồng thời được coi là chuyên gia duy nhất về Sanyutei Encho tại Nhật Bản, nhà địa chí - phong tục học Mori Mayumi - tác giả của công trình khảo cứu về Encho bằng phương pháp thực địa, những nghệ sĩ gạo cội của giới Rakugo đang tiếp nối truyền thống Encho như Shunputei Koasa, Katsura Utamaru và những nghệ sĩ trẻ triển vọng như Kokontei Kikuroku, Yanagiya Kogonta Qua những trao đổi, học tập chuyên môn này, tác giả luận án mong muốn không chỉ làm sâu sắc hơn tri thức về vai trò và đóng góp của Encho trong thời Minh Trị, mà còn hiểu biết thêm về sức sống, mức độ ảnh hưởng của Encho trong lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật và công chúng hiện đại

Chi tiết về địa điểm, đối tượng, nội dung và tư liệu hình ảnh ghi lại quá trình nghiên cứu thực địa - phỏng vấn được trình bày trong Phụ lục 9 và 10 của luận án

6 Nguồn sử liệu sử dụng trong luận án

Sử liệu gốc bằng tiếng Nhật trong thời Minh Trị được luận án khảo cứu bao

gồm các tư liệu tiểu sử Encho (trong đó có tiểu sử cho chính ông tự thuật), các sắc lệnh, văn bản của chính quyền Minh Trị về phong tục xã hội, văn học - nghệ thuật,

đặc biệt là các loại hình nghệ thuật tạp kỹ đại chúng Yose trong đó có kể chuyện - tấu nói Rakugo và liên quan tới sự nghiệp của Encho

Trang 19

Một nguồn sử liệu quan trọng khác là báo chí thời Minh Trị Đây là một nguồn

sử liệu phong phú nhờ sự phát triển của phong trào dân quyền, tự do ngôn luận kể

từ đầu thời kỳ Nhiều tờ báo có lịch sử lâu đời đưa tin và bài bình luận về Encho

hoặc đăng các sáng tác của Encho như là một lợi thế cạnh tranh bao gồm Đông Kinh nhật nhật tân văn (東京日日新聞), Triều dã tân văn (朝野新聞), Trung ương tân văn (中央新聞), Độc mại tân văn (読売新聞), Đại hòa tân văn (大和新聞), Thời sự tân báo (時事新報), Bưu điện báo tri (郵便報知)…

Bên cạnh đó, một số ghi chép, bình luận đương thời của các môn đệ, nhà văn,

nhà nghệ thuật, người viết sử đương thời về Encho cũng được luận án khai thác như

là một nguồn tư liệu lịch sử Có thể kể đến đánh giá của kịch gia Okamoto Kido về thành công của sân khấu hóa các tác phẩm của Encho (năm Minh Trị 18, 25), đánh giá của nhà văn Tsubouchi Shoyo - người đứng đầu văn đàn Minh Trị - về ngôn ngữ nghệ thuật của Encho, ghi chép của môn đệ Itcho…

Tư liệu tiểu sử của một số nhân vật tiêu biểu thời Minh Trị có nhiều liên hệ với Encho như Bộ trưởng Ngoại vụ Inoue Kaoru, nhà báo Fukuchi Ochi, nghệ sĩ

Kabuki Ichikawa Danjuro, tốc ký gia Wakabayashi Kanzo, chính trị gia - doanh gia Shibusawa Eiichi cũng là những nguồn tư liệu gián tiếp hỗ trợ nghiên cứu về Encho Luận án cũng khai thác một số sử liệu thời Minh Trị là những bình luận, đánh

giá về Encho và xã hội Nhật Bản của những người nước ngoài sinh sống và làm việc ở Nhật Bản, những người chứng kiến và tham gia vào công cuộc cận đại hóa

của nước Nhật Có thể kể đến nhà báo, nhà văn quốc tế người Anh Lafcadio Hearn (1850-1904, Koizumi Yakumo - người đã định cư, dạy đại học tại Nhật Bản và chịu nhiều ảnh hưởng của Encho trong sáng tác truyện ma quái), nhà hoạt động xã hội, nhà sáng tác và nghệ sĩ kể chuyện - tấu nói Rakugo người Anh Henry Black (nghệ danh Kairakutei Black), hay công sứ Pháp Jules Adam qua tác phẩm "Au Japon" về xã hội Nhật Bản và nghệ thuật tạp kỹ Yose năm Minh Trị 32 (1899)…

7 Đóng góp của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam về lịch sử Nhật Bản thời Minh Trị từ cách tiếp cận khảo cứu sâu về sự nghiệp hoạt động của một nhân vật lịch sử - danh nhân văn hóa đương thời, đồng thời cũng là nghiên cứu đầu tiên tiếp cận vấn đề từ góc độ lịch sử văn hóa và nghệ thuật

Trang 20

Trong khi các nghiên cứu lịch sử thời cận thế và cận đại Nhật Bản tại Việt Nam thường có xu hướng đi sâu khảo sát các vấn đề nghiên cứu của mỗi thời kỳ cận thế hoặc cận đại một cách riêng rẽ mà ít có những liên kết chặt chẽ giữa hai thời kỳ, luận án chọn nghiên cứu một nhân vật lịch sử sống trọn giữa hai thời kỳ, một mặt kế thừa những nền tảng quan trọng của văn hóa và xã hội Nhật Bản thời Edo, mặt khác tham gia tích cực vào công cuộc cải biến xã hội thời Minh Trị

Trong nghiên cứu về Sanyutei Encho, luận án là công trình nghiên cứu có quy

mô đầu tiên tại Việt Nam, cũng là công trình đầu tiên lấy Encho làm đối tượng nghiên cứu trường hợp nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lịch sử - xã hội có liên quan

trong thời Minh Trị, cụ thể là vai trò của văn nghệ sĩ đô thị trong tiến trình cận đại hóa và quá trình tiếp biến của văn hóa Nhật Bản thời Minh Trị

Bởi vậy, tác giả luận án hy vọng công trình này có thể đóng góp một nghiên cứu mới và là một tài liệu tham khảo có giá trị trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử

Nhật Bản nói riêng, lịch sử thế giới cận đại - hiện đại nói chung tại Việt Nam

cận đại hóa Nhật Bản thời Minh Trị Phần Phụ lục trình bày các tư liệu hình ảnh,

niên biểu và bảng biểu thống kê góp phần làm rõ nội dung nghiên cứu

Trang 21

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Khái quát về nghiên cứu lịch sử Nhật Bản thời Minh Trị

Do tầm quan trọng, tính đặc biệt của thời Minh Trị trong lịch sử Nhật Bản cũng như mức độ phức tạp và phong phú của các vấn đề nghiên cứu về diễn trình phát triển của đời sống xã hội - văn hóa trong thời kỳ này, thật khó có thể tổng kết được tất cả những lĩnh vực, thành tựu và vấn đề nghiên cứu tại Nhật Bản và trên thế giới về lịch sử thời Minh Trị Chủ đề có tính bao trùm, được tranh luận

nhiều nhất là khía cạnh cận đại hóa, văn minh khai hóa

Trong một thời gian dài cho đến thập niên 60 của thế kỷ XX, một xu hướng nghiên cứu ở cấp độ vĩ mô về mô hình phát triển của Nhật Bản được các học giả phương Tây đặc biệt quan tâm Tuy nhiên, do sử dụng hệ lý thuyết, quan điểm phương Tây để tranh luận về "tính hiện đại" của công cuộc cải cách Nhật Bản thời Minh Trị, những nghiên cứu này sau đó đã bị phản biện là mang nặng cách

nhìn thiên kiến văn hóa hoặc đánh đồng quá trình "cận đại hóa" Nhật Bản với

"Âu hóa" [130] Một đề tài tranh luận sôi nổi từng tập trung mối quan tâm lớn của đông đảo học giả trên thế giới là việc thống nhất một cách định danh cho quá

trình cận đại hóa thời Minh Trị là một cuộc "cải cách" (reform) hay "cách mạng"

(revolution), "duy tân" (維新) hay “phục cổ” (restoration) [19; tr.150-161] càng cho thấy tính chất phức tạp và lý thú của vấn đề

Trong vài thập kỷ trở lại đây, nhìn chung các công trình nghiên cứu về lịch

sử cận đại Nhật Bản đã đi đến chia sẻ một nhận thức phổ quát về tính đặc thù của

công cuộc "cận đại hóa" Nhật Bản, cũng như vai trò có tính quyết định của các yếu tố nội sinh (endogenous factors) [19, 103], trong đó có vai trò của truyền

thống văn hóa - xã hội, trong thành công của cải cách Minh Trị Là một trong

những tiến trình cận đại hóa độc đáo và nhanh nhất trên thế giới, thời kỳ này còn

được coi là một nguyên mẫu, "một trường hợp thử nghiệm cho việc nghiên cứu

Trang 22

lịch sử văn hóa thế giới" [114; tr.24], cũng như được đánh giá cao về sự ưu trội với tính chất một cuộc “cải cách” khi so sánh với các cuộc “cách mạng triệt để” trên thế giới như Cách mạng tư sản Pháp (1789-1799) Mặt khác, nếu như nhiều

nghiên cứu đánh giá cao những tác động tích cực của cận đại hóa đến đời sống

xã hội Nhật Bản, không ít nghiên cứu cũng nhấn mạnh khía cạnh tiêu cực của tăng trưởng "nóng" hay như Donald H.Shivley trong “Tradition and

Modernization in Japanese Culture" đã định danh là "bệnh lý của cận đại hóa"

[115, 119, 142]

Tại Việt Nam, trong khoảng ba thập niên trở lại đây, các công trình chuyên khảo, nghiên cứu liên hệ hoặc dịch thuật có tính mở đường trong nghiên cứu lịch

sử Nhật Bản thời Minh Trị đã được đông đảo giới nghiên cứu đánh giá cao như

"Nhật Bản cận đại" (Vĩnh Sính), "Minh Trị Duy tân và Việt Nam" (Nguyễn Tiến Lực), "Cải cách Nhật Bản thời Minh Trị (1868-1912)", "Xã hội thành thị và dòng văn hóa thị dân Nhật Bản thời Edo" (Nguyễn Văn Kim), "Bunmei kaika và

sự biến đổi trong đời sống vật chất của người Nhật" (Phan Hải Linh), "Cải cách giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị Duy tân" (Đặng Xuân Kháng), 『ベトナムと日本の近代における「文明開化」-福澤諭吉とファン・ボイ・チャウの

「文明開化」概念を比較して-』(“Văn minh khai hóa” trong thời cận đại ở Việt Nam và Nhật Bản qua so sánh khái niệm “Văn minh khai hóa” của Fukuzawa Yukichi và Phan Bội Châu”, Phạm Thị Thu Giang), "Tại sao Nhật Bản "thành công" - Công nghệ phương Tây và tính cách Nhật Bản" (Morishima Micho, Đào Anh Tuấn dịch), "Phúc Ông tự truyện" (Fukuzawa Yukichi, Phạm Thị Thu Giang dịch)

Những năm gần đây, nghiên cứu trên thế giới ngày càng có khuynh hướng tìm tòi mới và khảo cứu sâu các vấn đề, đối tượng nghiên cứu có quy

mô nhỏ hẹp hoặc có tính liên hệ lẫn nhau Trong một nghiên cứu đáng chú ý

“New Directions in the Study of Meiji Japan” [125], các tác giả đã khai thác thêm nhiều vấn đề mới về lịch sử - xã hội thời Minh Trị như mối quan hệ giữa

Trang 23

Phật giáo với chính quyền, sự phát triển của triển lãm và bảo tàng, các loại hình sách tốc ký… Có thể thấy, nghiên cứu về lịch sử thời Minh Trị trên thế giới hứa hẹn nhiều phát hiện thú vị hơn nữa Luận án này được thực hiện cũng

với hy vọng đó

Trên cơ sở nhận thức vai trò quan trọng của các truyền thống văn hóa - xã

hội trong tiến trình cận đại hóa thời Minh Trị như kể trên, trong giới hạn nghiên

cứu của luận án, chúng tôi sẽ trình bày khái quát một số khuynh hướng và đặc điểm chủ yếu của các nghiên cứu về quá trình chuyển biến của nghệ thuật đại chúng và đời sống xã hội đô thị Nhật Bản thời Minh Trị, trước khi trình bày sâu

hơn các khuynh hướng nghiên cứu cụ thể về Sanyutei Encho

1.2 Nghiên cứu tiến trình cận đại hóa nền nghệ thuật đại chúng, chuyển biến xã hội và văn hóa đô thị thời Minh Trị

1.2.1 Nghiên cứu quá trình cận đại hóa nghệ thuật đại chúng

Trong nghiên cứu lịch sử nghệ thuật Nhật Bản thời cận đại, cụ thể là thời Minh Trị, không thể không nhắc đến Kurata Yoshihiro (倉田喜弘, 1931-) - một nhà nghiên cứu có ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực này Kurata là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu quan trọng, có giá trị về lịch sử nghệ thuật Nhật Bản thời cận đại như “Giải trí đại chúng thời Minh Trị - Đại Chính” (『明治大正の民衆娯楽』), “Văn minh khai hóa trong nghệ thuật” (『芸能の文明開化』), và “Nghệ thuật” (『芸能』) - quyển 18 trong bộ “Đại hệ tư tưởng cận đại Nhật Bản” (『日本近代思想大系』) gồm 23 quyển [64]… Kurata cũng dành nhiều năm dày công sưu tầm các bài báo và tạp chí đương thời liên quan đến nghệ thuật (hiện đang được lưu giữ tại các thư viện hàng đầu Nhật Bản như kho báo - tạp chí thời Minh Trị thuộc Đại học Tokyo, Thư viện Quốc hội Nhật Bản, Thư viện tổng hợp phủ Kyoto)… các văn bản, pháp lệnh của chính quyền Minh Trị liên quan tới nghệ thuật từ các bộ tư liệu “Đông kinh cảnh thị bản thự

bố đạt toàn thư” (『東京警視本署布達全書』), “Đông kinh cảnh thị bản thự lục sự” (『東京警視本署録事』), “Cảnh thị lệnh giám” (『警視令監』) và

“Lục sự” (『録事』) của các tỉnh, chủ yếu là Tokyo, và biên tập thành bộ công

Trang 24

trình “Nghệ thuật biểu diễn thời Minh Trị - tuyển tập tư liệu” (『明治の演芸 演芸資料選書』) [60-63] gồm 5 quyển có giá trị tham khảo cao bởi sự chi tiết

và tính chính xác về thời gian và nguồn dẫn Đây cũng là những tư liệu tham khảo mang tính nền tảng của luận án

Như trên, Kurata đại diện cho khuynh hướng sưu tầm tư liệu và nghiên cứu

về các lĩnh vực cụ thể trong nghệ thuật thời Minh Trị Trong các nghiên cứu này, nghệ thuật đại chúng thường được phân chia thành các loại hình, trong đó có nghệ thuật tạp kỹ trong các nhà hát bình dân Yose và nghệ thuật kể chuyện - tấu nói Rakugo Đáng chú ý là hầu hết các công trình theo khuynh hướng này đều chọn trình bày một tiểu mục về Sanyutei Encho

Ở một khía cạnh khác, Kurata cũng là nhà nghiên cứu đi đầu trong khuynh

hướng luận giải về quá trình chuyển biến, cận đại hóa nghệ thuật Nhật Bản thời

Minh Trị Trong nghiên cứu “Thời cận đại của Kịch quán và Rạp hát tạp kỹ bình dân Yose - Từ "Du nghệ" đến "Văn hóa"” (『芝居小屋と寄席の近代-「遊芸」から「文化」へ』) [65], ông nhận định: việc lý giải những biến chuyển

của các loại hình nghệ thuật đại chúng Nhật Bản trong trào lưu cận đại hóa thời

Minh Trị phải dựa trên cơ sở nắm bắt những thay đổi về phong tục tập quán, tâm

lý và thị hiếu đương thời Từ đó, ông tiến hành khảo sát từng biến chuyển trong

lề thói, phong tục, tiêu biểu như việc chính quyền từng bước kiểm soát, cấm đoán việc ở trần trong đời sống và trên sân khấu, phê phán của Mori Ogai (森鴎

外, một danh sĩ lưu học ở Đức trở về) đối với chất giọng "khàn đục" được coi là chuẩn mực của kịch Kabuki trên sàn diễn Shintomi-za tiêu biểu của nước Nhật năm Minh Trị 23 (1890), sự phổ biến của thể loại kịch mừng ngày giỗ các cao tăng xưa, trong đó khán giả không ngớt niệm chú “Nam mô diệu pháp liên hoa”,

“Nam mô quan thế âm bồ tát” hay tục cạo lông mày và nhuộm răng đen của diễn viên nữ (đã có gia đình) vẫn còn tồn tại đến đầu thời Showa… Từ đó, ông khẳng

định “quá trình cận đại hóa trên sân khấu Nhật Bản đã diễn ra không hề đơn giản

như thay một bộ Âu phục” [65; tr.148]

Trang 25

1.2.2 Nghiên cứu quá trình cận đại hóa xã hội và văn hóa đô thị

Edo - Tokyo là đô thị trung tâm của quá trình chuyển mình của Nhật Bản từ thời Edo sang Minh Trị, bởi vậy là tâm điểm của rất nhiều nghiên cứu về đô thị theo nhiều khuynh hướng khác nhau Một khuynh hướng chủ đạo là xem xét một cách cặn kẽ sự phát triển của từng lĩnh vực điển hình như giáo dục, kiến trúc, đất đai, giao thông, hạ tầng trong thời Minh Trị

Bên cạnh đó, một cách tiếp cận khác là khảo sát quá trình chuyển biến của

đô thị Edo -Tokyo từ thời Edo sang thời Minh Trị trong một nội hàm rộng lớn hơn như “tính liên tục” và “phi liên tục” trong văn hóa thị dân hay không gian đô thị Philippe Pons trong "Từ Edo đến Tokyo - Văn hóa thị dân và văn hóa bình dân Edo" (『江戸から東京へ-町人文化と庶民文化-』) [80] đã đề cao các

“di sản” và “tính liên tục” của các truyền thống văn hóa Edo, trong đó dành nhiều tiểu mục trình bày về nghệ thuật kể chuyện - tấu nói trong phạm trù “văn hóa mang tính liên tục" Mặt khác, tác giả cũng không bỏ qua những “Hình tượng hiện đại mang tính đặc thù” từ thời Minh Trị như hiện tượng các khu đô thị mới nổi Ginza hay Shinjuku, phim ảnh Kogi Shinzo trong nghiên cứu “Edo Tokyo - nghiên cứu không gian sống” (『江戸東京 生活空間の研究』)đã chỉ ra: trong khi các khu đô thị có truyền thống như Asakusa vẫn tiếp tục được bảo lưu "tính liên tục" của văn hóa thị dân từ Edo sang Minh Trị, thì Shibuya hay Ikebukuro vốn là những vùng nông thôn thuần tuý có tốc độ đô thị hóa chậm

trong thời Edo, lại chuyển biến lớn với tốc độ đô thị hóa và cận đại hóa nhanh

chóng kể từ sau thời Minh Trị

1.2.3 Nghiên cứu mối quan hệ giữa nghệ thuật đại chúng và xã hội đô thị

Sanyutei Encho là một thị dân gốc sinh trưởng và sống trọn đời ở đô thị Edo

- Tokyo Mặt khác, nghệ thuật kể chuyện - tấu nói Rakugo mà ông là một đại diện tiêu biểu cũng lại có lịch sử hình thành và phát triển gắn bó mật thiết với lịch sử phát triển của đô thị này Vì lý do đó, luận án đặt mối quan tâm tới các nghiên cứu

về sự liên hệ giữa những chuyển biến của đô thị Edo - Tokyo với nghệ thuật đại chúng thời Minh Trị Có thể điểm qua một số kết quả nghiên cứu như sau:

Trang 26

Kawauchi Yukie trong “Nghiên cứu về ảnh hưởng của chính sách đô thị Edo đối với nghệ thuật” (『江戸の都市政策が芸能に与えた影響に関する研究』) [53] nhận xét: những nghiên cứu về lịch sử nghệ thuật lâu nay mang nặng

xu hướng xem xét từng lĩnh vực, thể loại hay tác phẩm một cách chi tiết, chứ chưa có nhiều công trình lấy cả nền nghệ thuật làm đối tượng nghiên cứu hoặc từ quan điểm thực tế về địa vực chứ không phải từ các quan điểm mang tính lý luận Một số ít nghiên cứu thuộc khuynh hướng này có thể kể đến là “Đô thị và nhà hát” (『都市と劇場』) [56] của Kokasahara Kyoko hay “Chuyển biến trong không gian mở đô thị từ Edo đến Tokyo” (『江戸から東京へのオープンスペースの変容』) của Dohi Masato [38]

Kokasahara trình bày một cách phổ quát mối quan hệ giữa tính chất của nghệ thuật với tính địa vực, nhưng lại không khảo sát kỹ mối quan hệ giữa chính sách

đô thị và nghệ thuật Mặt khác, nghiên cứu của Dohi khi xem xét sự biến chuyển

từ Edo sang Minh Trị, lại quan tâm đến mối quan hệ giữa không gian mở của Edo với những loại hình nghệ thuật đường phố Khi quan tâm lý giải sự hưng thịnh của nghệ thuật thời Edo (thời đại mà khái niệm “văn hóa” và “chính sách văn hóa” chưa hình thành), tác giả Kawauchi đã đánh giá khá khắt khe: quần chúng đô thị và nghệ thuật sân khấu thời Edo có mối quan hệ mật thiết, khác với tình trạng mờ nhạt được định hình từ thời Minh Trị đến nay ở Nhật Bản nếu so sánh với các nước phát triển Âu - Mỹ

Nhà lịch sử kiến trúc Fujimori Terunobu trong “Kế hoạch kiến thiết Tokyo thời Minh Trị” (『明治の東京計画』) và Philippe Pons đều nhận định: Trong quá trình du nhập ồ ạt văn hóa Âu - Mỹ, chính quyền Nhật Bản thời Minh Trị cũng đồng thời áp dụng một quan điểm giá trị mới định nghĩa nghệ thuật phải là những “văn hóa thể hiện sức mạnh quốc gia với bên ngoài” và biến đổi Edo về chất trở thành thủ đô Tokyo mang đặc trưng văn hóa ngang tầm quốc tế [39, 80] Theo thống kê trong “Đông Kinh thị sử cảo” (『東京史稿』) năm Minh Trị 2 (1869), do tình trạng hết sức khó khăn của nền kinh tế đầu thời Minh Trị, những

Trang 27

hỗ trợ chính thống đột ngột dừng lại khiến nghệ thuật rơi vào trạng thái khủng hoảng Trong bối cảnh đó, các chính sách văn hóa của chính quyền bị giới hạn trong các nghệ thuật quy mô lớn như Kabuki - những loại hình dễ được nhìn nhận là “Văn hóa” Ngược lại, những loại hình nghệ thuật quy mô nhỏ thịnh hành của đô thị Edo, do không được gán giá trị “Văn hóa” nên lại suy giảm, hoặc tiến tới suy vong Chính vì vậy, trong nghiên cứu với tiêu đề đầy chủ ý (Thời cận

đại của Kịch quán và Rạp tạp kỹ Yose - từ “Du nghệ” đến “Văn hóa”) [65],

Kurata đã khảo sát nỗ lực vận động của các truyền thống nghệ thuật đại chúng quy mô nhỏ thời Edo trong việc thích nghi tồn tại và phát huy vai trò trước chính

sách văn hóa mới thời Minh Trị

1.3 Nghiên cứu về Sanyutei Encho

Tại Nhật Bản, nghiên cứu về Sanyutei Encho được tiến hành trong hơn một thế kỷ qua và thu được nhiều thành tựu đáng kể Các nghiên cứu chủ yếu được

thực hiện trên ba phương diện: lịch sử, văn học và nghệ thuật

1.3.1 Nghiên cứu trên phương diện lịch sử

a) Nghiên cứu tiểu sử Encho

Có thể coi tiểu sử Encho được nghiên cứu sớm nhất trong “Truyện về Hội văn nhân Túy cuồng liên” (『酔狂蓮傳』) năm Minh Trị 18 (1885) bởi hai tác gia - nhà văn hóa tiêu biểu Kanagaki Robun (仮名垣魯文) và Sansantei Arindo (山々亭有人) Năm Minh Trị 23 (1890), tiểu sử do chính Encho tự thuật được nhà báo - nhà văn Rogetsu Sanshi chấp bút Với sự nhuần nhuyễn và đầy ắp thông tin của bản ghi, tiểu sử này ngay lập tức được đăng hai lần trên báo Yomiuri Shinbun năm đó, rồi tiếp tục được xuất bản thành sách có nhan đề

“Truyền ký Sanyutei Encho” (『三遊亭円朝子の傳』) trong năm sau Từ đó về sau, tác phẩm này đã trở thành nguồn tư liệu quan trọng nhất trong nghiên cứu tiểu sử Encho, được Koike Shotaro tập hợp trong “Encho toàn tập” (『円朝全集』, 1938) và Kurata Yoshihiro trình bày trọn vẹn trong “Đại hệ Tư tưởng cận

đại Nhật Bản - quyển Nghệ thuật” năm 1988

Trang 28

Trên cơ sở những ghi chép và khảo cứu ban đầu đó, nhiều công trình nghiên cứu tiểu sử Encho tiếp nối ra đời, như “Encho sau khi giải nghệ” (『引退後の円朝』) của Saito Nakaichiro (1981), “Encho di văn” (『円朝遺聞』) của Suzuki Kohaku, “Encho và thời Minh Trị” (『円朝の明治』) của nhà lý luận phê bình nghệ thuật Yano Seiichi (2000)… Đặc biệt, năm 1999, “Sanyutei Encho” [72] của Nagai Hiroo được giới nghiên cứu đặc biệt đánh giá cao về sự tầm cứu công phu, chi tiết và khách quan về cuộc đời và sự nghiệp của Encho trong mối liên

hệ với thời đại Tác phẩm này được tái bản ngay một năm sau đó

Trong đời sống văn hóa - nghệ thuật truyền thống Nhật Bản, Encho luôn được suy tôn như một vị thánh Màn sương huyền thoại về ông cũng từ đây mà

ra Bởi vậy, khi lấy Encho làm ví dụ điển hình, theo Kurata, “nghiên cứu lịch sử nghệ thuật ngày nay có khuynh hướng thiên lệch Quá trình tìm kiếm nguyên nhân của sự thiên lệch đó không chỉ giúp tìm lại và đánh giá một cách xác thực

về cuộc đời của một nhân vật mà còn đặt lại vấn đề về ý nghĩa của nghệ thuật”1[60; tr.9] Kurata nhấn mạnh giá trị của báo chí như một phương tiện hiệu quả hỗ trợ quá trình đó, bởi từng sự kiện, bình luận lưu trên mặt báo, cùng với thời gian,

đã trở thành hồ sơ tinh thần, tư tưởng và tập tính người Nhật thời cận đại Kurata

đã sưu tầm báo chí thời Minh Trị trong nhiều năm và dày công nghiên cứu, nhìn nhận sự kiện với cách nhìn đa diện và óc phán đoán để xác định sự chân thực của các sự kiện qua sự phản ánh nhiều khi không giống nhau của báo chí

Đánh giá về Encho, theo Arata Nao, có sự khác nhau giữa ba nhóm xã hội Theo đó, đối với giới kể chuyện - tấu nói và những nghệ thuật có liên quan, “Đại Encho” (大円朝) là một sự thần thánh hóa Thái độ suy tôn đó bị chi phối bởi sự đối lập bí ẩn trong cá tính Encho giữa phong thái nghệ thuật nhẹ nhàng, thái độ suy tư đầy chất Thiền (vốn rất phù hợp với thị hiếu của giới văn nhân từ sau thập niên thứ hai thời Minh Trị) với phong cách sáng tác thể hiện chồng chất các mối

1

Trên thực tế, đã có một số sai lệch giữa các nguồn tư liệu bàn về việc Encho không chấp nhận tiếp nối nghệ danh Sanyutei Ensho đời thứ III mà truyền toàn bộ kho tàng, đạo cụ cho đệ tử và chuyển hoàn toàn sang kể chuyện - tấu nói thuần túy (素噺); hoặc khi bàn về tính xác thực của sự kiện Encho diễn trước Minh Trị Thiên hoàng năm 1889…

Trang 29

quan hệ, mâu thuẫn phức tạp và đáng sợ Nhóm thứ hai chủ yếu là các nhà nghiên cứu văn học sử, tập trung đánh giá ảnh hưởng ngôn ngữ của Encho đối với sự hình thành văn học cận đại Nhật Bản Nhưng theo Arata, đó chỉ là ảnh hưởng mang tính phái sinh không liên hệ trực tiếp tới Encho Cuối cùng là đánh giá của công chúng về Encho qua các tác phẩm được tái hiện trên sân khấu và điện ảnh Ở đây, Arata cũng lưu ý, những sản phẩm đó, trong nhiều trường hợp,

đã vượt khỏi ý tưởng ban đầu của Encho và bị nhào nặn cùng với tư tưởng của thời đại, khiến cho cách nhìn về Encho trở nên phiến diện [32]

Là một danh nhân văn hóa có cuộc đời nhiều thăng trầm, hình tượng Encho còn được tiểu thuyết hóa, nổi bật như “Tiểu thuyết - Encho” (『小説 円朝』) của nhà nghiên cứu Rakugo nổi tiếng Masaoka Iruru xuất bản năm 1943 (tái bản năm 1947), “Encho” (2 tập) của Kojima Seijiro “Encho” của Kojima được viết dưới hình thức một chuỗi truyện kể dài kỳ đan xen giữa các hội thoại nhân vật, tương tự phong cách Rakugo đặc trưng của Encho Mặc dù có nhiều gia công tìm tòi và khai thác tư liệu về Encho, với các tiêu đề thể hiện những chặng đời và sự nghiệp của ông khá giống với nghiên cứu “Sanyutei Encho” của Nagai Hiroo, nhưng do tính chất tiểu thuyết, các công trình này đã không mấy chú trọng tới tính chính xác về không gian, thời gian của các sự kiện

Có thể thấy, sáng tác văn học - nghệ thuật ngày càng được thừa nhận là những nguồn tài liệu có giá trị trong nghiên cứu lịch sử Tuy vậy, trong nhiều trường hợp, rất khó xác định ranh giới giữa sự chân thực lịch sử với những yếu

tố hư cấu, giả tưởng mang đặc trưng của văn học - nghệ thuật Điều này càng khiến nghiên cứu về Encho hấp dẫn và thú vị hơn, nhưng mặt khác chất chứa nhiều thử thách, đòi hỏi người làm sử phải tiếp cận được đối tượng một cách khách quan thông qua việc tìm kiếm và khảo chứng các tư liệu lịch sử chân thực

b) Nghiên cứu giá trị lịch sử trong sáng tác của Encho

Encho là một tác giả có nhiều khảo cứu thực địa công phu Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, ông đã đi rất nhiều nơi trên khắp nước Nhật và ghi lại những điều tai nghe mắt thấy, những tình tiết, sự kiện, nhân vật đời thực và biến

Trang 30

chúng thành chất liệu văn học Bởi vậy, sáng tác của Encho không phải là những tác phẩm văn học hư cấu đơn thuần mà còn được đông đảo giới nghiên cứu coi

là những nguồn tư liệu chứa đựng nhiều giá trị chân thực lịch sử Các nghiên cứu khuynh hướng này cũng sử dụng chính phương pháp thực địa, phỏng vấn, đối chiếu tư liệu văn bản với các địa danh, nhân vật, sự kiện… được cho là có thực

mà Encho đã khai thác làm chất liệu sáng tác “Encho” của Masaoka Iruru xuất bản năm 1968, “Encho zanmai” (『円朝ざんまい』) của tác giả, nhà địa chí - phong tục học Mori Mayumi xuất bản năm 2008 và nhiều nghiên cứu của Nobuhiro Shinji tiêu biểu cho khuynh hướng này

Trong “Encho zanmai” [71], Mori đã thực hiện nhiều chuyến thực địa, vẽ chi tiết bản đồ theo dấu tích những chuyến hành trình thực tế của Encho dọc khắp nước Nhật Chú trọng tính xác thực và ý nghĩa của các địa danh, sự kiện trong cuộc đời và tác phẩm Encho, Mori ghi lại bằng hình ảnh, mô tả, tìm kiếm

tư liệu và phỏng vấn nhân vật Mori cũng xác nhận sự phong phú của các phương ngữ được Encho gia công (một sáng tạo mới trong thời Minh Trị), góp phần lý giải cảm nhận sống động và chân thực khi thưởng thức các tác phẩm Encho Là một nhà địa chí - phong tục học hâm mộ Rakugo, Mori đã tìm thấy trong các sáng tác của Encho nhiều phong tục, tập quán và văn hóa thời Duy tân Xuất phát từ khả năng khai thác, cập nhật bối cảnh xã hội Nhật Bản thời Minh Trị, cũng như sự phổ biến của các sáng tác của Encho trong đời sống văn học và nghệ thuật trong và sau thời Minh Trị, nhiều nghiên cứu khác lại quan tâm đến sự phản ánh đời sống xã hội và giá trị thời đại của các sáng tác tiêu biểu của Encho Trong đó, tác phẩm “Truyền ký Shiobara Tasuke” (『塩原太助一代記』) của Encho được nghiên cứu nhiều nhất Aoki Masatsugu trong “Tính cách

của “Truyền ký Shiobara Tasuke” (『塩原太助一代記の性格』) đã so sánh

nhân vật chính của tác phẩm này - Shiobara Tasuke, người thanh niên nông dân

“lập thân xuất thế” ở đô thị với Ninomiya Kinjiro (二宮金次郎), người thiếu niên nông dân bám trụ đồng ruộng Trong thời Minh Trị, cả hai hình tượng này

Trang 31

đều được đưa vào giảng dạy trong sách giáo khoa môn Tu thân (終身, được hiểu

là Đạo đức) nhằm cổ xúy cho tư tưởng giáo dục của chính quyền thời đó Aoki

đã đề cao Shiobara với tính cách “một hình tượng đột phá của thời đại đã được nâng tầm từ nghệ thuật đại chúng” [31, tr.33-80]

Trong “Truyện kể nhân vật thời Minh Trị” (『明治人物夜話』), Mori Senzo2 lại đề cao quan điểm của Encho về thời đại khi dẫn lời ông khuyến khích các môn đệ đọc tác phẩm “Tây quốc lập chí biên” (『西国立志編』) của Samuel Smiles - một cuốn sách dịch bán chạy nhất đầu thời Minh Trị cổ vũ tư tưởng tự do

cá nhân của phương Tây Trong “Encho zanmai”, qua việc phân tích các sáng tác của Encho như “Phương pháp kinh doanh của sĩ tộc” (『士族の商法』) hay “Bác

sĩ hoa tộc” (『華族の医者』), Mori Mayumi đưa ra nhiều phân tích, lý giải về nỗ

lực thích nghi thời cuộc của giới võ sĩ trong bối cảnh văn minh khai hóa đầu thời

Minh Trị Còn ở các công trình như “Khai quốc và biến loạn cuối Mạc Phủ” (『開国と幕末の乱』, Inoue Isao chủ biên), “Sự hình thành tác phẩm “Đèn lồng hoa mẫu đơn”” (『怪談牡丹灯籠まで』, Nobuhiro Shinji) hay “Sự hình thành tác phẩm “Vùng Kajikazawa”” (『鰍沢の成立』)… các tác giả đã phân tích sự xuất hiện của hàng loạt chi tiết về tín ngưỡng bùa chú như là biểu hiện của sự bất ổn tâm lý xã hội trong giai đoạn biến động lớn cuối thời Edo - đầu Minh Trị, mặc dù

Duy tân là thời kỳ bài trừ mê tín theo xu hướng Văn minh khai hóa

1.3.2 Nghiên cứu trên phương diện văn học

Mặt khác, có thể thấy nghiên cứu về Encho trên phương diện văn học được thực hiện theo hai khuynh hướng chủ yếu: Nghiên cứu theo khuynh hướng văn học sử thủ pháp sáng tác của Encho (với một tác phẩm độc lập hoặc bằng phương pháp so sánh tác giả, tác phẩm), sưu tầm, nghiên cứu và biên soạn

“Encho toàn tập”

2 Mori Senzo (1895-1985) là nhà nghiên cứu lịch sử và thư chí học thuộc trường phái độc lập Những nghiên cứu sâu sắc và chi tiết của ông về nhân vật và điển tịch được coi là cơ sở của nghiên cứu phong tục và nghiên cứu nhân vật thời Edo-Minh Trị, bởi vậy ông được tôn vinh là một trong những người khởi xướng ngành nghiên cứu Edo học Các trước tác tiêu biểu của ông được tập hợp trong bộ “Trước tác tập” (『著作集』) (trọn bộ 13 quyển) và “Trước tác tập tục biên” (『著作集続編』) (trọn bộ 17 quyển)

Trang 32

a) Nghiên cứu văn học sử thủ pháp sáng tác của Encho

Trong kho tàng sáng tác của Encho, thể loại truyện Nhân tình thế thái (人情噺, được hiểu là truyện Hiện thực tâm lý), được các nhà nghiên cứu văn học đặc biệt quan tâm Trong đó phải kể đến 3 tác phẩm đã trở thành kinh điển không chỉ trên sàn diễn kể chuyện - tấu nói Rakugo mà còn cả trên sân khấu kịch hiện đại là

“Truyện ma Đèn lồng hoa mẫu đơn” (『怪談牡丹灯籠』), “Hồ ma” (『神軽累ヶ淵』) và “Truyền ký Shiobara Tasuke” (『鹽原多助一代記』) Với cả ba kinh điển này, thủ pháp truyện ma quái (怪談噺) mang phong cách đặc trưng của Encho tập trung nhiều nghiên cứu, tiêu biểu trong đó là của Ishii Akira và Nobuhiro Shinji “Truyện ma Đèn lồng Hoa mẫu đơn” là đối tượng nghiên cứu nhiều hơn cả Các nghiên cứu trong đó có “Giải thích về “Truyện ma Đèn lồng hoa mẫu đơn”” (『怪談 牡丹灯籠の解説』) của Okuno Shintaro (1965) đã chỉ

ra rằng văn học cổ điển Trung Hoa đã được Encho cấu trúc lại và gia công tài tình dựa trên những chất liệu phong phú của đời sống xã hội Nhật Bản cuối thời Edo Nhằm khảo chứng những ảnh hưởng về ngôn ngữ và phong cách của Encho cũng như những dấu ấn chung thời đại, Encho còn được so sánh với nhiều tác gia nổi tiếng thời Minh Trị như đại văn hào Natsume Soseki (夏目漱石), tiểu thuyết gia trinh thám Kuroiwa Ruiko ( 黒 岩 涙 香 ), nhà văn Nhật gốc Anh Lafcadio Hearn, tiểu thuyết gia Futabatei Shimei (二葉亭四迷), nghệ sĩ kể chuyện Shorin Hakuen (松林伯円), kịch tác gia Kawatake Mokuami (河竹黙阿弥)… Trong đó, phải kể đến mối quan tâm tới Natsume Soseki, tác gia nổi tiếng

mà thuở thiếu thời rất say mê những màn diễn Rakugo của Encho Tuy nhiên, những nghiên cứu này hầu như mới chỉ dừng lại ở những bài nghiên cứu nhỏ

Ở một khía cạnh khác, hầu hết các nghiên cứu đều nhất trí rằng, ngôn ngữ nghệ thuật độc đáo của Encho tuy không phải là dấu mốc đánh dấu sự ra đời của ngôn ngữ văn học hiện đại Nhật Bản, nhưng có một ảnh hưởng lớn, gợi mở sự hình thành hình thức hợp nhất giữa văn nói và văn viết Tiểu thuyết được coi là

Trang 33

mở màn cho nền văn học hiện đại Nhật Bản - “Đám mây phù thế” (『浮雲』) của Futabatei Shimei là kết quả thành công trên cơ sở nghiên cứu ngôn ngữ Encho từ sự giới thiệu của Tsubouchi Shoyo (坪内逍遥) - người thủ lĩnh của văn đàn Nhật Bản thời Minh Trị

Encho cũng là đối tượng tập trung nhiều nghiên cứu so sánh trong lĩnh vực sân khấu nói chung khi là một tác gia kể chuyện - tấu nói nhưng lại sở hữu số lượng lớn sáng tác được chuyển thể và chiếm lĩnh sân khấu kịch cận đại Nhật Bản trong thời Minh Trị Hai công trình đáng chú ý theo khuynh hướng này là

“Encho và Mokuami” (『円朝と黙阿弥』) của Inoue Hisashi (1982) và Luận

án Tiến sĩ “Sanyutei Encho và kịch Kabuki” (『三遊亭円朝と歌舞伎』) của Takano Mikio (2001) đã chỉ ra rằng, Encho có vai trò đặc biệt quan trọng khỏa lấp khoảng trống trong nghệ thuật sân khấu thời Minh Trị trong giai đoạn vắng bóng những kịch tác gia đại diện của thời đại mới

Một mối quan tâm khác tập trung vào nhóm 6 tác phẩm dài kỳ của Encho được cho là chuyển thể từ tiểu thuyết phương Tây (được gọi là hon’an-mono, 翻案物) nhằm tìm ra những ý tưởng và thủ pháp sáng tác mà ông đã học tập và tiếp biến Tuy nhiên, chỉ 3 trong 6 tác phẩm khẳng định được nguyên tác phương Tây trong sáng tạo của Encho là “Người đẹp bị chôn sống” (『松の操美人の生埋,』) được sáng tác phỏng theo tiểu thuyết “Pauline” của Alexandre Dumas (dịch sang tiếng Anh thành “Buried Alive”) (theo nghiên cứu của Ogawa Shigehiro và Sam de Flint), “Truyện kể Nữ hoàng Anh quốc Elizabeth” (『英国女王エリザベス傳』) chuyển thể từ “Kenilworth” của Walter Scott (theo Tozawa Ken) và “Choji - Người thợ mộc tài danh” (『名人長二』) chuyển thể

từ “Un Parricide” (Kẻ giết cha mẹ) của Guy de Maupassant (theo Ogawa Shigehiro và Baba Kocho) Trong đó, “Choji - Người thợ mộc tài danh”, chuyển thể đầu tiên nguyên tác của Maupassant tại Nhật Bản, là tác phẩm được nghiên

cứu nhiều nhất và cũng có nhiều phát hiện thú vị nhất

Trang 34

b) Sưu tầm, nghiên cứu và biên soạn “Encho toàn tập”

Đây là khuynh hướng được tiến hành ngay sau khi Encho qua đời Toàn tập

đầu tiên - “Encho toàn tập” (『円朝全集』) gồm 13 quyển của Suzuki Kohaku được NXB Shunyodo hoàn thành năm 1926 và được tái bản với nhiều tác phẩm

bổ sung (NXB Sekai Bunko) năm 1963 Tiếp đến là “Sanyutei Encho toàn tập” (quyển 10 trong “Toàn tập văn học Minh Trị”) do NXB Chikuma Shobo xuất bản năm 1965, gồm “Tiểu sử tự thuật của Encho” do Rogetsu Sanshi chấp bút

và bài bình luận nổi tiếng “Suy ngẫm về Encho” (『円朝雑観』) của Oka Onitaro Năm 1975, NXB Kadogawa công bố “Sanyutei Encho toàn tập” gồm 7 quyển Đáng chú ý có Bộ “Sanyutei Encho toàn tập” với tiêu đề bằng tiếng Anh xen lẫn “Complete Works of Encho” và tiêu đề phụ “Tập hợp ở đây những câu chuyện của Sanyutei Encho - đã ảnh hưởng sâu đậm tới nền văn học cận đại mang phong cách ngôn văn nhất trí thể!” (NXB Koten kyoiku bunko) Gần đây nhất vào năm 2013, NXB Iwanami xuất bản “Encho toàn tập” gồm 13 quyển chính và 2 phụ lục do Kurata Yoshihiro và Nobuhiro Shinji - hai tác gia tên tuổi trong nghiên cứu lịch sử nghệ thuật cận đại, chủ biên Tiêu đề phụ của tác phẩm viết “Con người là đáng sợ nhất Con người cũng là thú vị nhất Di sản truyện kể hiếm có của thời đại được lưu giữ bằng thuật tốc ký - một phương pháp chụp hình ngôn ngữ”3

Xuất bản Toàn tập của Encho được coi là một hiện tượng hiếm trong nghệ thuật đại chúng Nhật Bản bởi công việc này vốn chỉ dành cho những tác gia lớn trên văn đàn hay lĩnh vực tư tưởng Biên soạn Toàn tập của mỗi tác gia ở đâu và

ở thời nào cũng là việc khó Nhưng với Encho, công việc này còn khó hơn nhiều, bởi tác phẩm của Encho là những câu chuyện kể-tấu nói được ghi lại bằng phương thức duy nhất là kỹ thuật tốc ký thời Minh Trị Chọn lọc những bản tốc

ký tốt nhất, kết hợp với những luận giải xác đáng nhất để đưa vào Toàn tập là

3 Nobuhiro Shinji, nhà nghiên cứu lịch sử văn học Hiện đại Nhật Bản, là người duy nhất tự nhận chuyên môn của mình là nghiên cứu là Encho Hầu hết các sáng tác của Encho đã được ông khảo cứu công phu

Trang 35

công việc hết sức công phu Sự phong phú của “Encho toàn tập” đã phản ánh rõ nét vị trí của Encho trên văn đàn Nhật Bản

Nobuhiro Shinji (延広真治), nhà nghiên cứu văn học cận thế - cận đại Nhật Bản, là người duy nhất tự nhận chuyên môn nghiên cứu của mình là Encho Bên cạnh công trình "Lịch sử hình thành Rakugo" (『落語はいかに形成されたか』) được đánh giá cao, ông cũng là tác giả của một số lượng dày dặn và đều đặn các nghiên cứu về Encho trên các khía cạnh lịch sử văn học và văn học thuần túy Am hiểu tinh tường và sâu sắc về nghệ thuật biểu diễn và tính chất văn học của Encho, hầu như với mỗi sáng tác nào của Encho đều có dấu ấn nghiên cứu của ông như “Tác phẩm “Hồ ma” của Sanyutei Encho” (『三遊亭円朝「神経累が淵」』), “Thủ pháp của sáng tác “Chuyện kể chính trị - Tấm gương trăng”” (『「政談月の鏡」の手法』), “Sự hình thành của Truyện ma Đèn lồng hoa mẫu đơn” (『牡丹灯籠の形成』), “Tác phẩm Hoàng tử Anh quốc và tác phẩm Hard Cash” (『英国孝子』と “Hard Cash”), “Giữa sự thật lịch sử và hư cấu” (『史実と虚構の間』)…, trong đó, ông so sánh với nhiều tác phẩm văn học cận đại Nhật Bản và phương Tây nhằm tìm ra những mối liên

hệ về ý đồ và phương pháp sáng tác giữa các tác giả

Nghiên cứu của Nobuhiro rất tỉ mỉ, chi tiết về trích dẫn, trên cơ sở so sánh nhiều nguồn tài liệu về Encho tới nay, bởi vậy có tính tham khảo cao và gợi mở nhiều hướng nghiên cứu Trong “Thế giới Encho - Tập san văn học đặc biệt kỷ niệm 100 năm ngày mất của Encho” (『文学増刊 没後百年記念特集「円朝の世界」』) [49], ông đã tổng kết một số vấn đề chưa được nghiên cứu hoặc nghiên cứu chưa thấu đáo như mối quan hệ giữa Encho và Phật giáo Thiền, ranh giới giữa sáng tác riêng của Encho với ảnh hưởng từ những nghệ nhân tiền bối trong các sáng tác mới Ông là thành viên biên soạn trọn bộ “Encho toàn tập” năm 2013

Trang 36

1.3.3 Nghiên cứu trên phương diện nghệ thuật

Bên cạnh phương diện văn học, phong cách nghệ thuật của Encho cũng là một đề tài thu hút nhiều mối quan tâm nghiên cứu Năm Minh Trị 22 (1889), Mutsu Munemitsu4 - một nhà ngoại giao tiêu biểu của chính quyền Minh Trị đã mang về từ Mỹ chiếc máy ghi âm, một phát minh quan trọng của thế giới đương thời, nhưng thật tiếc việc ghi âm màn diễn của Encho đã không kịp thực hiện Tài năng của Encho cũng như nghệ thuật tấu nói - kể chuyện của Encho còn lại với đời sau chỉ còn là các bản tốc ký trực tiếp màn diễn của Encho cùng những đánh giá của người đương thời Đây cũng là loại tư liệu quan trọng bậc nhất giúp khảo cứu nghệ thuật Encho Bên cạnh đó, nghiên cứu về nghệ thuật của Encho cũng chỉ có thể bổ sung nguồn tư liệu tham khảo dựa trên những nhận xét, đánh giá của các học giả, kịch tác gia, nhà văn, nhà báo đương thời về ông

Do tính đặc thù của việc trình diễn kể chuyện - tấu nói Rakugo, chính nghệ

sĩ là những nhà nghiên cứu và sáng tạo nghệ thuật Do sự truyền nghề trực tiếp giữa các thế hệ, nghệ thuật của nhiều nghệ sĩ tài danh bị thất truyền khi không có môn đệ kế tục Trên thực tế, nghệ danh Encho chưa từng chính thức được tiếp nối, phần vì tài năng xuất chúng của ông, phần vì con đường độc đạo khó khăn

mà ông đã chọn trong lịch sử Rakugo Tuy vậy, một số nghệ sĩ thuộc trường phái khác như Ensho đời VI, Katsura Utamaru (1936~) hay Shunputei Koasa (1955~) tuy không trực tiếp nối tiếp nghệ danh danh giá Sanyutei Encho, vẫn là những người có công trong việc thừa kế và trình diễn sáng tác của Encho

4

Xem Mutsu Munemitsu trong Phụ lục 2

Trang 37

Tiểu kết: Nghiên cứu về Sanyutei Encho - một số vấn đề còn bỏ ngỏ

Tựu chung, có thể khái quát đôi nét các kết quả nghiên cứu đa chiều về Encho như sau:

Cho đến nay, các nghiên cứu tại Nhật Bản về Sanyutei Encho phần lớn đều

nhất trí cho rằng: Encho là một nhà sưu tầm, nhà kể chuyện hiện đại, một tác giả

không thuộc dòng chủ lưu song “nghệ thuật và văn học Encho len lỏi vào đời sống đông đảo tầng lớp xã hội, ảnh hưởng tới tư tưởng, phong cách sáng tác của nhiều tác gia nổi tiếng” (Nagai Hiroo, 1999); Khuynh hướng sáng tác chủ đạo của Encho mang phong vị đậm đà của văn hóa, văn nghệ Edo, độc đáo ở năng lực khảo chứng thực địa, bởi vậy luôn phong phú chất liệu hiện thực, mặt khác đột phá sáng tạo ở khả năng tích cực cập nhật những luồng tri thức và văn hóa mới của thời đại trong đó những trào lưu từ phương Tây; Khỏa lấp những khoảng trống trong nền văn học và sân khấu đại chúng đang lúng túng tìm kiếm con đường phát triển trong thời đại mới Điều thú vị là những đóng góp quan trọng này lại xuất phát từ một người nghệ sĩ của một loại hình nghệ thuật đại chúng bình dân đô thị với hình thức độc diễn vô cùng đơn giản, cô đọng Ngôn ngữ nghệ thuật của Encho có vai trò quan trọng với tư cách tiền đề hình thành

“ngôn văn nhất trí thể” (言文一致体) - hợp nhất văn nói và văn viết - hình thức ngôn ngữ văn học cận đại của Nhật Bản

Nghiên cứu Encho chủ yếu dựa trên các tư liệu lịch sử thời Minh Trị liên quan cũng như những văn bản gốc đã được tốc ký trực tiếp màn diễn của Encho trên sân khấu, bởi vậy không khỏi gặp phải nhiều khó khăn do tính truyền khẩu của nghệ thuật kể chuyện - tấu nói Rakugo và mức độ hoàn thiện của các nguyên bản tốc ký thời Minh Trị Các nghiên cứu vẫn tiếp tục đào sâu các nguồn tư liệu nhằm giải quyết nhiều nghi vấn vẫn còn đặt ra trong nghiên cứu Encho như lý giải bước ngoặt đột ngột từ thành công lớn trong thể loại tấu nói và diễn mang phong cách kịch Kabuki kèm đạo cụ (芝居噺) sang sáng tác và trình diễn truyện

kể thuần tuý (素噺) trong bối cảnh xã hội đương thời, giá trị thời đại và giá trị

Trang 38

văn học - nghệ thuật của từng sáng tác của Encho, cách thức Encho tiếp thu và kết hợp ý tưởng, phương pháp biểu hiện của văn học phương Tây với truyền thống Edo, tư tưởng Thiền tông trong các sáng tác trong mối liên hệ với nhà tư tưởng nổi tiếng của thời đại Yamaoka Tesshu…

Ở một khía cạnh khác, lâu nay, khi xem xét những chuyển biến lịch sử của một xã hội, các nghiên cứu, đặc biệt tại Việt Nam, thường có xu hướng quan tâm một cách khá thiên lệch tới các triều đại, thể chế, các nhà chính trị - tư tưởng hoặc nhà quân sự lỗi lạc , mà ít đi sâu khảo cứu quá trình chuyển biến của quần chúng hay vai trò truyền dẫn của các nhà văn hóa - tư tưởng, nhà hoạt động xã hội trong quá trình đó, điều mà trong nhiều trường hợp mới chính là sự phản ánh bản chất chân thực của sự phát triển xã hội Xu hướng này phần nào bắt nguồn từ tình trạng khó khăn trong việc tìm kiếm và khai thác nguồn sử liệu và tài liệu nghiên cứu liên quan, từ đó vô hình chung, càng góp phần vào tình trạng thiếu

hụt tư liệu nghiên cứu Nghiên cứu quá trình cận đại hóa Nhật Bản thời Minh

Trị cũng là một ví dụ điển hình của tình trạng kể trên

Có thể thấy, nghiên cứu về Sanyutei Encho chiếm một vị trí nhất định trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử văn hóa Nhật Bản nói chung, thời Edo - Minh Trị nói riêng Tuy vậy, do tài năng đặc biệt xuất sắc của ông trong lãnh địa văn học - nghệ thuật, cũng như do điều kiện khai thác sử liệu có phần khó khăn, nên các nghiên cứu cho đến nay chủ yếu đi sâu tìm hiểu những đặc điểm và giá trị của kho tàng sáng tác của ông mà ít quan tâm khảo cứu chính bản thân cuộc đời và

sự nghiệp hoạt động của Encho như một đối tượng của nghiên cứu lịch sử - xã hội Đến nay, dường như chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu, tổng kết một cách hệ thống và toàn diện về vai trò của ông đặt trong bối cảnh xã hội

và văn hóa Nhật Bản thời kỳ này

Khoảng hai thập niên gần đây, nghệ thuật kể chuyện - tấu nói Rakugo trở thành một hiện tượng văn hóa nổi lên trong xã hội Nhật Bản hiện đại Nhiều nghiên cứu nước ngoài đã quan tâm đến sức sống kỳ lạ của của loại hình nghệ thuật đại chúng này, trong đó ít nhiều đề cập đến vai trò của Sanyutei Encho

Trang 39

Tuy nhiên, sự khó khăn về ngôn ngữ và tư liệu là những cản trở rất lớn đối với các công trình nước ngoài lấy Sanyutei Encho làm đối tượng nghiên cứu trực tiếp [106, 125, 134]

Năm 2002, Ian Douglas McArthur trong Luận án tiến sĩ có tiêu đề

“Mediating Modernity - Henry Black and Narrated Hybridity in Meiji Japan” (Kết nối hiện đại - Henry Black và sự lai ghép trong nghệ thuật kể chuyện - tấu nói ở Nhật Bản thời Minh Trị) [130] đã khảo cứu sâu về cuộc đời và hoạt động của cha con nhà báo người Anh Reddie và Henry Black, chủ bút tờ “Japan Herald”, thành viên của phong trào tự do - dân quyền và là nghệ sĩ kể chuyện - tấu nói Rakugo ngoại quốc ở Nhật Bản thời Minh Trị Là môn đệ thuộc phái Sanyutei do Encho thống lĩnh, Henry Black là một người nước ngoài có công trong việc tích hợp tư tưởng phương Tây với văn hóa truyền thống Nhật Bản trong thời Minh Trị Nghiên cứu về Black, luận án của McArthur đã góp phần

gợi mở một hướng nghiên cứu mới về Encho với tư cách một đại diện người

Nhật tiêu biểu của sự tiếp biến văn hóa từ truyền thống đến hiện đại cũng như giữa Nhật Bản với thế giới

Ở một khía cạnh khác, trong khi vai trò của thị dân và văn hóa thị dân là một đề tài quan trọng trong nghiên cứu lịch sử về thời Edo, dường như ít thấy bóng dáng các nghiên cứu về vai trò của thị dân thời Minh Trị Lý do chủ yếu hẳn là vì tuy thời Minh Trị đã tạo nên những chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống xã hội đô thị, nhưng quãng thời gian đó chưa đủ để xác lập một nội hàm

“thị dân Tokyo” (東京っ子) đúng nghĩa như đã từng có với “thị dân Edo” (江戸

っ子) Mặc dù vậy, vai trò mà thị dân Edo đã phát huy trong lịch sử đã thể hiện

“tính liên tục” hay chuyển biến như thế nào trong thời Minh Trị là một vấn đề

lịch sử thú vị cần được khảo cứu sâu

Trong một công trình nghiên cứu duy nhất xuất bản tại Việt Nam được tìm thấy cho đến nay có đề cập tới Sanyutei Encho, nhà nghiên cứu Nam Trân đã viết: "Thế hệ trí thức Nhật Bản sinh khoảng năm 1830 có những người không

Trang 40

may ngã gục như một cái giá phải trả cho lịch sử Tuy thế, vẫn còn bốn hạng người (những chí sĩ, chính trị gia lãnh đạo cuộc Duy tân, những công chức cao cấp và tài cán, những nhà báo, nhà giáo, nhà dịch thuật hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và ngôn luận, những văn nhân, nghệ sĩ) tồn tại để đưa nước Nhật tiến lên trong thời Minh Trị…, trong đó có Sanyutei Encho" [26; tr.328] Nhận định này được nhà nghiên cứu trình bày mà không có những lý giải cụ thể về vai trò của Encho Thiết nghĩ, nghiên cứu của luận án hướng tới làm sáng rõ quá trình chuyển biến và vai trò đóng góp Sanyutei Encho - một thị dân gốc và đại diện của giới văn nghệ sĩ đô thị Edo - Tokyo trong đời sống xã hội và văn hóa thời Minh Trị – một thời kỳ nhiều biến động quan trọng trong lịch sử Nhật Bản – với tư cách một nghiên cứu trường hợp, sẽ góp phần lý giải tính xác đáng của nhận định vừa nêu, cũng như bổ khuyết những khoảng trống trong nghiên cứu kể trên

Ngày đăng: 21/09/2020, 20:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w