Tác giả chưa có điều kiện tham khảo hết các công trình nghiên cứu về quan hệ giữa Chu Dịch và YH trong tiến trình lịch sử văn minh Trung Quốc, chỉ có thể liệt kê ra đây một số công trìn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐẶNG QUANG VIỆT
ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG CHU DỊCH ĐỐI VỚI MỘT SỐ LĨNH VỰC Y HỌC CỔ
TRUYỀN
LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Triết học
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Mã số: 60220301
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM QUỲNH
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả dưới
sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Quỳnh Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà nội, ngày 13 tháng 07 năm 2015
Tác giả luận văn
Đặng Quang Việt
Trang 4LỜI CẢM ƠN!
Luận văn tốt nghiệp cao học được hoàn thành tại Đại học Quốc gia, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Có được bản luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Đại học Quốc gia, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, phòng Đào tạo sau Đại học, đặc biệt là TS Phạm Quỳnh đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tác giả với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành đề tài:
“Ảnh hưởng của tư tưởng Chu dịch đối với một số lĩnh vực Y học cổ truyền
Việt Nam” Xin chân thành cảm ơn các thầy,các cô giáo, các nhà khoa học đã
trực tiếp, giảng dạy truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành Triết học quý báu cho bản thân tác giả trong nhưng năm tháng qua Xin gửi tới các thầy, các cô giáo trong trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn nói chung và khoa Triết nói riêng lời cảm tạ sâu sắc Trong thời gian vừa rồi, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp tác giả thu thập số liệu tham khảo cũng như những tài liệu nghiên cứu cần thiết liên quan tới đề tài cao học Bên cạnh đó tác giả cũng muốn gửi lời cảm ơn tới các bạn học viên cùng lớp đã có những đóng góp quý báu và luôn giúp đỡ cùng tác giả hoàn thành khóa luận này Cũng nhân đây tác giả muốn gửi lời cảm tạ đặc biệt tới gia đình đã luôn quan tâm, động viên và đồng hành trong mỗi bước đi của tác giả để đến được thành quả ngày hôm nay
Một lần nữa, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các đơn vị và
cá nhân đã hết lòng quan tâm tới sự nghiệp đào tạo Tăng tài cho đất nước Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp, phê bình của quý thầy cô, các nhà khoa học, độc giả và các bạn đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… ……… …1
NỘI DUNG……….…… … … 7
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CHU DỊCH VÀ Y HỌC CỔ TRUYỀN 1.1 Khái quát về Chu Dịch……… ……….… …7
1.1.1 Nguồn gốc và tính chất của Chu Dịch……… ……… … … 7
1.1.2 Kết cấu của Chu Dịch……… ………… ……… …8
1.2 Một số tư tưởng cơ bản trong Chu Dịch liên quan đến y học Cổ truyền 1.2.1 Tư tưởng thiên nhân hợp nhất……… 14
1.2.2 Tư tưởng biện chứng……… ….21
1.3 Y học cổ truyền: lược sử và kết cấu ……… …29
1.3.1 Lược sử sự phát triển của y học Cổ truyền ……… …… 29
1.3.2 Kết cấu hệ thống y học Cổ truyền ……… …… …….…….………… ….40
Tiểu kết chương 1……….…….…43
Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA CHU DỊCH ĐẾN VIỆC HÌNH THÀNH CƠ SỞ LÝ LUẬN Y HỌC CỔ TRUYỀN 2.1 Khí luận trong Chu Dịch và lý luận “tạng phủ tinh h ”…… 45
2.2 Ảnh hưởng của Chu Dịch đến việc hình thành cơ sở lý luận y học Cổ truyền 2.2.1 Ảnh hưởng của Chu Dịch đến tác phẩm Hoàng đế nội kin… … ……….……… 53
2.2.2 Ảnh hưởng của Chu Dịch đến tác phẩm Thương hàn luận … 75
2.3 Ảnh hưởng của Dịch lý đến lý luận châm cứu học và dược học y học Cổ truyền …… ……….….83
2.3.1 Dịch lý với châm cứu học…… ……… …….… …… ……… … 83
2.3.2 Dịch lý trong dụng phương trị pháp 92
Tiểu kết chương 2……… …… 96
KẾT LUẬN……… …… ………… ……….…….…97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chu Dịch là một tác phẩm được xếp vào hàng kinh điển của Nho gia, đứng đầu
trong: Ngũ Kinh (Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu) Tư tưởng Triết học(TH) trong Chu Dịch được coi là cơ sở lý luận cho nhiều môn khoa học cổ đại
Trung Quốc, từ quân sự, chính trị, văn hóa, sử học, toán học, triết học… y học cổ
truyền(YHCT) cũng không ngoại lệ, lấy triết học trong Chu Dịch làm nền tảng xây
dựng lý luận và chỉ đạo thực tiễn lâm sàng
Chính vì vậy, các y gia từ cổ chí kim, chẳng hạn như Tôn Tư Mạo đều cho rằng:
“不知易,便不足以言知醫 - Bất tri Dịch, tiện bất túc dĩ ngôn tri y - Không biết Dịch
lí thì không nói về nghề y”
Trong y môn bổng hát viết: “是以易之書一言一字皆藏醫學指南 - Thị dĩ Dịch chi thư, nhất ngôn nhất tự giai tàng y học(YH) chỉ nam - Trong sách Dịch, mỗi lời mỗi
chữ đều là kim chỉ nam cho y học”[23, tr.14]… Tại sao lại có thể nói như vậy? Học giả
Trung Quốc nổi tiếng là Dương Lực cho rằng, sở dĩ giữa YHCT và Chu Dịch có sự tương thông với nhau, thể hiện ở ba điểm: Một là sự tương thông trên quan niệm vận
động; Hai là sự tương thông trong quan niệm chỉnh thể; Ba là sự tương thông trên quan
niệm cân bằng[23, tr.57]
YHCT phương Đông, còn được gọi là Đông y, có nguồn gốc từ Trung Quốc Đông y là tên gọi để phân biệt với Tây y, ngành y học phương Tây có nguồn gốc từ các nước phương Tây YHCT được truyền bá rộng rãi ra đến những nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán, trong đó có Việt Nam Và việc phân biệt YHCT của Trung Quốc và YHCT của Việt Nam không có mấy ý nghĩa, bởi nó có sự liên thông rất sâu sắc Nếu
có sự khác biệt, thì chỉ có ở vấn đề sử dụng dược liệu để trị bệnh Nguồn dược liệu Việt Nam trồng, hoặc các cây thuốc có nguồn gốc từ Việt Nam, do Việt Nam chế biến được
Trang 8gọi là thuốc Nam, còn nguồn dược liệu nhập khẩu, hoặc mua nguyên liệu về chế biến
từ Trung Quốc, hoặc cây thuốc có nguồn gốc từ Trung Quốc được gọi là thuốc Bắc Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất sử dụng thuật ngữ YHCT thay cho các thuật ngữ như Đông y, Trung y
Thế kỷ XIX - XX, nhiều nước phương Tây trong giao thương, chiến tranh với Trung Quốc, thấy được lợi ích thực sự của YHCT đã học hỏi và truyền bá
YHCT của Trung Quốc được hình thành trong một thời gian khá dài Sự phát triển của YHCT Trung Quốc gắn bó mật thiết với sự phát triển của TH Trung Quốc Đây là một đặc điểm rất đặc biệt của YHCT Trung Quốc Đồng thời, TH cổ, cận đại Trung Quốc tìm thấy một nơi ứng dụng những lý thuyết của mình rộng rãi nhất cũng là
YH Bởi trong suốt quá trình định hình, phát triển của mình, YHCT Trung Quốc đã tiếp thu rất nhiều tư tưởng TH của Đạo gia, Phật giáo, Nho giáo, Thiên Chúa giáo…
Cũng hoàn toàn có thể nói rằng, YHCT là Y Triết, bởi tư tưởng TH được coi như
là một sợi chỉ đỏ xuyên suốt, trong hệ thống lý luận, cũng như trong thực tiễn lâm sàng của nó Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy nhiều Triết lý dưỡng sinh ở trong hệ thống lý luận cũng như các nguyên tắc biện chứng, luận trị của YHCT
Quá trình nghiên cứu, học tập TH, YHCT, chúng tôi nhận thấy, Chu Dịch và
YHCT có nhiều điểm tương đồng Tìm hiểu nhiều tài liệu, chúng tôi nhận thấy, chính Chu Dịch đã cung cấp cho YHCT nhiều căn cứ TH, nói cách khác, nhiều luận điểm
trong hệ thống lý luận cũng như nguyên tắc điều trị của YHCT có nguồn gốc từ TH
trong Chu Dịch Vì vậy, việc hệ thống hóa, làm rõ ảnh hưởng của Chu Dịch đến YHCT
là một nhu cầu cấp thiết Từ những vấn đề cấp thiết đó chúng tôi tự đề xuất đề tài:“Ảnh
hưởng của tư tưởng Chu Dịch đối với một số lĩnh vực y học cổ truyền”, làm đề tài
luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trang 9Việc nghiên cứu Chu Dịch trong lịch sử đã đạt được rất nhiều thành tựu với các
nhà dịch học tiêu biểu ở cả phương Đông và phương Tây
Tác giả chưa có điều kiện tham khảo hết các công trình nghiên cứu về quan hệ
giữa Chu Dịch và YH trong tiến trình lịch sử văn minh Trung Quốc, chỉ có thể liệt kê
ra đây một số công trình nghiên cứu tiêu biểu, về mối quan hệ y - Dịch:
1)李浚川 (主編): 醫易會通精義, 古籍 出版社,1989 Lý Tuấn Xuyên (chủ biên,
1989): y - Dịch hội thông tinh nghĩa, Cổ tịch xuất bản xã; 2) 漆潔 (主編, 1992): 實用 醫易小辭典, 中國醫葯技秫出版社 Tất Khiết (chủ biên, 1992): Thực dụng y dược kỹ
thuật xuất bản xã, Trung Quốc y dược kỹ thuật xuất bản xã; 3) 楊力 (1997): 周易與中
醫學, 北京科學技秫出版社 Dương Lực (1997): Chu Dịch và Trung y học, Bắc Kinh
khoa học kỹ thuật xuất bản xã (bản dịch tiếng Việt năm 2006 của Lê Quý Ngưu và Trần Tú Vân, Nxb Thuận Hoá, xuất bản tại Huế năm 2006…
Ở Việt Nam, các học giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa Chu Dịch và YHCT,
hoặc vận dụng Dịch lý vào giải quyết một số vấn đề thực tiễn lâm sàng hoặc xây dựng
lý thuyết Có thể nêu ra ở đây một số công trình tiêu biểu như sau: 1) Dương Thiện
Đàm, Lý luận YHCT dưới ánh sáng khoa học (1985); 2) Huỳnh Minh Đức, Dịch lý y lý (1988); 3) Trần Thúy, Bài giảng Kinh Dịch (1989) (tài liệu giảng dạy sau đại học); 4) Phan Văn Sĩ, (1991) y Dịch lục khí Bộ Y tế - Chương trình Quốc gia YHCT - GS Trần Thuý và cộng sự, Y dịch, Nxb Y học, 2000…
Tuy số lượng các công trình nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ giữa Dịch lý
và y lý chưa nhiều, nhưng không phải vì thế mà không có thành tựu đáng kể Chẳng hạn, công trình nghiên cứu ứng dụng của tác giả Phan Văn Sĩ có thành công nhất định, khác biệt với công trình của các học giả Trung Quốc
Trang 10Nói một cách tổng quát tư tưởng trong Chu Dịch có ảnh hưởng đến YHCT đã
được nhiều tác giả tìm hiểu ở nhiều góc độ khác nhau và đạt được những thành tựu nhất định Đây chính là những tiền đề, tư liệu quan trọng để chúng tôi có điều kiện
thuận lợi trong việc đi vào nghiên cứu ảnh hưởng của tư tưởng TH trong Chu Dịch đến
YHCT một cách đầy đủ và sâu sắc hơn
3 Mục đ ch và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích
Luận văn hướng đến làm rõ ảnh hưởng của một số tư tưởng triết học trong Chu
Dịch như: Tư tưởng thiên nhân hợp nhất, tư tưởng biện chứng trong Chu Dịch trong
một số lĩnh vực của YHCT, tập trung vào những lĩnh vực cơ bản: hệ thống lý luận cơ bản, thực tiễn lâm sàng trong điều trị
- Nhiệm vụ
Để thực hiện các mục đích đã nêu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ cụ thể cần phải giải quyết như sau:
Thứ nhất: Trình bày, phân tích một số nội dung quan trọng trong Chu Dịch có ảnh
hưởng đến sự hình thành và phát triển của YHCT, bao gồm tư tưởng thiên nhân hợp nhất, tư tưởng biện chứng
Thứ hai: Trình bày làm rõ sự ảnh hưởng của Chu Dịch tới cơ sở lý luận, phương
pháp điều trị, thực tiễn lâm sàng trị liệu trong YHCT
4 Cơ sở lý luận và phương pháp luận
- Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về việc nghiên cứu lý luận, tư tưởng; xem đó
là cơ sở lý luận để nhìn nhận và phân tích một số tư tưởng triết học được thể hiện trong
Chu Dịch.…Đồng thời, luận văn còn kế thừa những thành tựu, kết quả của các công
Trang 11trình nghiên cứu trong và ngoài nước trên lĩnh vực nghiên cứu về triết học phương Đông, của Trung Quốc, lịch sử tư tưởng Việt Nam
- Phương pháp luận
Luận văn sử dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, lôgic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh, đặc biệt là những phương pháp luận đặc thù trong nghiên cứu YHCT
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các tư tưởng thiên nhân hợp nhất, biện chứng, tạng
tượng và số hoá trong Chu Dịch và ảnh hưởng của Chu dịch đối với YHCT
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu, tìm hiểu một số tư
tưởng triết học trong Chu Dịch như tư tưởng thiên nhân hợp nhất, tư tưởng biện chứng,
tư tưởng tạng tượng và trong Chu Dịch bằng cách khảo cứu chi tiết một số văn bản
Chu Dịch có uy tín hiện hành, phân tích sự ảnh hưởng của nó đối với phương pháp
luận, cơ sở lý luận, phương pháp trị liệu trong YHCT
Về văn bản Chu Dịch, chúng tôi sử dụng cuốn Chu Dịch dịch chú của Trương
Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ, bản dịch của Vương Mộng Bưu và Nguyễn Trung Thuần,
Nxb Hà Nội (năm 2007) Đây là bản Chu Dịch có nội dung và kết cấu đầy đủ nhất và được hai học giả uyên thâm về Chu Dịch của Trung Quốc chú giải Các văn bản Chu
Dịch khác, chúng tôi sử dụng trong trường hợp muốn tham khảo rộng hơn về cách chú
giải nghĩa hoặc ứng dụng
Về văn bản Hoàng đế nội kinh và Thương hàn luận, đây là 2 trong 4 văn bản
quan trọng nhất làm nền tảng cho lý luận YHCT, chúng tôi tham khảo theo bản dịch
Trang 12của Lương y Nguyễn Trung Hoà (Nxb Thuận Hoá, 2012), Nguyễn Thiện Siêu (Nxb Lao Động, 2009) và Trương Chứng dịch từ nguyên tác và các giáo trình do Học viện Trung y Nam Kinh biên soạn
6 Ý nghĩa của đề tài
Luận văn nghiên cứu có hệ thống một số tư tưởng TH được thể hiện trong Chu
Dịch và ảnh hưởng của TH Chu Dịch đến một số lĩnh vực của YHCT Từ đó, góp phần
thúc đẩy tình hình nghiên cứu TH phương Đông nói chung và Chu Dịch nói riêng; cũng như làm sáng tỏ phương pháp luận TH của Chu Dịch trong nghiên cứu cơ sở lý
luận và trị liệu trong YHCT
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương, 6 tiết
Trang 13PHẦN NỘI DUNG Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CHU DỊCH VÀ Y HỌC CỔ TRUYỀN
1.1 Khái quát về Chu Dịch
1.1.1 Nguồn gốc và tính chất của Chu Dịch
Nguyên là một bộ sách bói quẻ, Chu Dịch trong quá trình hình thành và lưu
truyền về sau có nhiều sự thay đổi và được các nhà Nho tôn xưng là đứng đầu trong
các bộ kinh (群經之首 - Quần kinh chi thủ) Nguồn gốc tên gọi Chu Dịch cũng chưa
có sự nhất trí, chỉ dừng lại là những giả thuyết
Trước hết là xem xét chữ “周”: Chữ “Chu” có hai cách giải thích khác nhau Một
là, chữ Chu nghĩa là “Chu tẩn vô sở bị”, theo nghĩa thông thường, Chu có nghĩa là bao hàm hết thẩy Hai là, Chu có nghĩa là thời đại Chu (một trong ba triều đại Hạ, Thương, Chu) Từ góc độ lịch sử và thực tiễn, cách giải thích thứ hai này phù hợp với việc ghi chép tên sách thời xưa
Tiếp đến là chữ Dịch (易): Thời cổ đại, chữ Dịch có ba cách giải thích khác nhau Thứ nhất, Dịch là chữ tượng hình, được mô phỏng theo hình con thằn lằn; thứ hai, trên chữ Dịch có chữ nhật 日 và chữ nguyệt 月 Dịch là do hai chữ nhật nguyệt, tượng trưng
Trang 14cho âm dương(AD), cấu thành; thứ ba, bộ phận dưới của chữ Dịch là chữ vật 勿 Sau này, Dịch có ba nghĩa, giản Dịch, biến Dịch và bất Dịch
Trong suốt hàng nghìn năm lịch sử, Chu Dịch luôn được chú giải, bổ sung Tất cả
thư tịch cổ của Trung Quốc khi được chú thích và lý giải tường tận đều gọi là kinh 經
Kinh được chú thích và lý giải đầy đủ gọi là truyện Chu Dịch nguyên bản chỉ có kinh Dịch Đến thời Hán, hai chữ Chu Dịch lại mang hàm nghĩa kép: hoặc chỉ Dịch kinh;
hoặc chỉ chỉnh thể của cả phần Dịch kinh và Dịch truyện
a) Loại nhận thức thứ nhất cho rằng, Dịch kinh là sách viết về nghĩa và lý Ngay
trong Dịch truyện đã có nhận thức này Hệ từ viết: “易 之 為 書 也,原 始 要 終,以
為 質 也,六 爻 相 雜,唯 其 時 物 也 - Dịch chi vi thư dã, nguyên thủy yếu chung,
dĩ vi chất dã, lục hào tương tạp, duy kì thời vật dã - Dịch là cuốn sách chủ yếu nghiên
cứu và thảo luận về sự vật từ khi sinh ra đến khi mất đi”[13, tr.937] Hoặc chỗ khác
trong Hệ từ viết: “易 之 為 書 也,廣 大 悉 備,有 天 道 焉,有 人 道 焉,有地道 焉
- Dịch chi vi thư dã, quảng đại tất bị Hữu thiên đạo yên, hữu nhân đạo yên, hữu địa
đạo yên - Dịch là tác phẩm triết học về đạo trời, đạo đất và đạo người”[13, tr.942]
Sau nhận thức về Dịch truyện, đã hình thành hai trường phái lớn chú giải Kinh
Dịch là phái Tượng số và phái Nghĩa lý
b) Loại nhận thức thứ hai cho rằng, Dịch kinh vốn là sách bói toán, bởi trong
quái từ và hào từ đã chứa rất nhiều câu chuyện về bói toán Đại biểu phái này là Chu
Hy Ông cho rằng, một số hào từ ghi chép lại nhiều truyện có thực trong lịch sử về bói toán, như trong các quẻ Minh Di (lục ngũ), quẻ Quy Muội (cửu ngũ), quẻ Thái (lục ngũ), quẻ Ký Tế (cửu tam)…Những nhận xét đó của Chu Hy về cơ bản là chính xác
Trang 15Học giả ngày nay có Lý Kính Trì tác giả của Chu Dịch thông nghĩa, Cao Hanh tác giả của Chu Dịch cổ kinh kim chú… cũng đồng quan điểm với Chu Hy
c) Ngày nay, cũng có một số học giả cho rằng, Kinh Dịch là một cuốn sách lịch
sử đồ sộ Xuất phát từ quan điểm của học giả thời Thanh, Chương Học Thành đã từng
nói “lục kinh giai sử”, nhiều học giả cũng đã đi theo hướng nghiên cứu này Điển hình
có Hồ Phác An với tác phẩm nổi tiếng Chu Dịch cổ sử quan (cách nhìn cổ sử về Chu
Dịch) Cũng có quan điểm cho rằng, kinh Dịch sử dụng cách nói ẩn dụ và vỏ bọc bên ngoài là sách bói toán để viết nên bộ sách lịch sử đó
Như vậy, Dịch kinh vốn là sách bói, nhưng trong đó hàm chứa nhiều nội dung triết học thể hiện trong tượng, số, hào từ, quái từ, Dịch truyện… Đây chính là những căn cứ nội tại để Dịch kinh thoát khỏi diện mạo vốn có của nó là sách bói, trở thành bộ sách có độ khái quát triết học sâu sắc
1.1.2 Kết cấu của Chu Dịch
Chu dịch gồm hai bộ phận cấu thành là Dịch kinh và Dịch truyện Ngoài ra, các
học giả dịch học sau này còn bổ sung hệ thống các sơ đồ, bảng biểu thường được gọi là Dịch đồ để thuyết minh Dịch lý
* Vài nét về Dịch kinh
Dịch kinh theo nghĩa hẹp là quái tượng (tượng quẻ), quái từ (lời quẻ), hào tượng
(tượng hào), hào từ (lời hào) của 64 quẻ (quái); theo nghĩa rộng: bao quát toàn bộ cấu trúc nội tại của bộ sách Chu Dịch, Dịch truyện theo nghĩa hẹp là toàn bộ phần thập dực
Đơn vị cấu thành cơ bản của Dịch kinh là quái (quẻ) tượng Mỗi quái tượng cùng với văn từ kèm theo tương đương với một thiên hoặc một chương Kinh Dịch có tổng số
5006 ký tự và phù hiệu Dịch kinh chia thành thượng kinh chủ yếu bàn về tự nhiên và
hạ kinh chủ yếu bàn về xã hội Hào là một ký hiệu nhỏ trong Dịch kinh, một vạch dài nằm ngang chỉ hào dương (▬), hai hào ngắn (▬ ▬) nằm ngang chỉ hào âm Quái là
Trang 16một ký hiệu trong Dịch kinh, do ba hào hoặc sáu hào chồng lên nhau mà thành Ví dụ , .Kinh quái tức là bát quái, còn gọi là đơn quái, bát kinh quái, bát thuần quái, tam hào quái, quái tiểu thành kinh quái do ba hào âm dương chồng lên nhau mà hình thành Biệt quái: 64 quái, còn gọi là phức quái, trùng quái, lục hào quái, đại thành quái Biệt quái do hai kinh quái chồng lên nhau mà thành
* Vài nét về Dịch truyện
Dịch truyện là phần luận giải một cách có hệ thống Dịch kinh từ suốt thời kỳ Chiến Quốc đến nay Dịch truyện bao gồm 7 loại và tổng cộng có 10 quyển (gọi là Thập dực): Thoán truyện (thượng, hạ), Tượng truyện (thượng, hạ), Văn ngôn truyện,
Hệ từ truyện (thượng, hạ), Thuyết quái truyện, Tự quái truyện, Tạp quái truyện
Dịch truyện viết trong nhiều thời đại, không phải trong thời kỳ Chiến Quốc Thoán truyện có thể ra đời sớm hơn còn Tự truyện có thể ra đời muộn hơn Do đó,
truyền thuyết cho rằng, Khổng tử là tác giả của Thập dực là không chính xác Nhưng
Dịch truyện có quan hệ mật thiết với Khổng tử Dịch truyện do nhiều người thuộc nhiều trào lưu tư tưởng chấp bút Trong đó có cả Đạo gia, Âm Dương gia, dĩ nhiên cả Nho gia Dịch truyện là kết quả của sự dung hòa học thuật thời Chiến Quốc và sau đó Dịch truyện và Dịch kinh vừa có mối liên hệ mật thiết vừa có sự khác biệt Truyện là để giải thích kinh, nhưng trong Dịch truyện cũng đã hòa nhập được rất nhiều
tư tưởng mới của các tác giả
Dịch truyện kế thừa quan niệm “Tượng” và “Số” của phép bốc phệ (bói cỏ thi) Tuy nhiên, Dịch truyện chú giải phép bốc phệ theo kiểu lý luận hoá, đồng thời đem nghĩa và lý hàm chứa trong Dịch kinh nâng lên một tầm cao mới Còn về thực chất, Dịch truyện đã là một tác phẩm triết học đồ sộ Do đó, trong Dịch truyện tồn tại hai
loại ngôn ngữ Một là, ngôn ngữ của phép bốc phệ, giải thích quái tượng, hào tượng, vị trí của hào và phương pháp bói; Hai là, ngôn ngữ triết học, nói về nguyên tắc biến
Dịch của vũ trụ, giới tự nhiên, nguồn gốc và quy luật phát triển của xã hội loài người Hai loại ngôn ngữ này, đôi khi diễn giải tách rời nhau, nhưng hầu hết là nhập vào làm
Trang 17một để diễn giải, trong bói toán có triết lý, trong triết lý có bói toán, vừa giảng giải về triết học vừa giảng giải về bói toán Không hiểu sâu ngôn ngữ của bốc phệ thì không thể đi sâu tìm hiểu triết lý của nó; ngược lại, không biết đến ngôn ngữ triết học của nó, thì dùng bất cứ cách nào để giải thích kết quả bói toán đều là hoang đường Do đó, nghiên cứu Dịch truyện cần phải vừa tìm hiểu thuộc tính triết học của nó, vừa phải hiểu
rõ đặc điểm bói toán của nó[30, tr.10]
* Vài nét về Dịch đồ
Dịch đồ có rất nhiều, số lượng Dịch đồ từ cổ chí kim có thể thành lập thành cuốn
từ điển Trong luận văn này, tác giả chỉ trình bày Hà đồ, Lạc thư, Tiên thiên bát quái và
Hậu thiên bát quái là những hình vẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến YHCT - Hà đồ: Nguyên thủy là hình vẽ có 55 điểm đen trắng bố cục như sau:
Các chấm trong Hà đồ gồm 1 và 6 ở dưới, 2 và 7 ở trên, 3 và 8 ở bên tả, 4 và 9 ở bên hữu, còn 5 và 10 ở chính giữa Hay nói cách khác: 1 hợp 6, 2 hợp 7, 3 hợp 8, 4 hợp
9 Như vậy ứng với 8 quẻ là 4 số thực, 4 số thứ
Hệ từ thượng truyện viết: “Thiên 1 địa 2, thiên 3 địa 4, thiên 5 địa 6, thiên 7 địa 8, thiên 9 địa 10”[13, tr.886]
Hệ từ thượng truyện lại viết: “Thiên số ngũ, địa số ngũ, ngũ vị tương đắc nhi các hữu hợp; thiên số nhị thập hữu ngũ, địa số tam thập, phàm thiên địa chi số ngũ thập
hữu ngũ, thử sở dĩ thành biến hóa nhi hành quỷ thần giã - Nghĩa là: Số trời có 5 số, số
đất có 5 số, năm ngôi cùng tương đắc mà đều hợp nhau, số trời là 25, số đất là 30, tổng số trời đất là 55, các số ấy tạo nên sự biến hóa và điều hành quỷ thần”[13, tr.878]
Chu Hy giải thích: “Thiên lấy 1 sinh thuỷ mà địa lấy 6 thành thuỷ Địa lấy 2 sinh hỏa mà thiên lấy 7 thành hỏa Thiên lấy 3 sinh mộc mà địa lấy 8 hóa thành mộc Địa
Trang 18lấy 4 sinh kim mà thiên lấy 9 hóa thành kim Thiên lấy 5 sinh thổ mà địa lấy 10 hóa thành thổ Đó gọi là hữu hợp Cộng 5 số lẻ lại thành 25, cộng 5 số chẵn lại thành 30 Hãy tổng hợp cả 2 số lại có 55 Số đó là toàn số của Hà đồ”
để chỉ sự biến thiên của vạn vật
- Lạc thư: Có cấu tạo như sau:
Chu Hy giải thích rằng: “Lạc thư lấy tượng của rùa nên số của nó thì trên đầu đội 9, dưới chân đạp 1, sườn trái 3, hông phải 7, vai mang 2 và 4, chân đi 6 và 8, nằm chính giữa bụng là 5 (ngũ trung)”
Phương vị của các số được giải thích như sau: Tượng của trời 1 ở phía dưới tiến lên hợp với 5 ở giữa thành 6 ở Tây Bắc Tượng của trời ở phía tả tiến lên hợp với 5 ở giữa thành 8 ở Đông Bắc Tượng của trời 7 ở phía hữu lui hợp với 5 ở giữa thành 2 ở Tây Nam Tượng của trời 9 ở phía trên lui xuống dưới hợp với 5 ở giữa thành 4 ở Đông
Trang 19Nam Trong sơ đồ này có 45 điểm, chia số lẻ và số chẵn ở vào 9 phương để nói về sự biến hoá, biến động, biến dịch, bốn phương chính là dương, 4 phương góc là âm
Dựa theo hình Lạc thư, sắp xếp các số đó vào hình vuông, phân làm 9 ô, mỗi ô 1
số Số 5 là số ngũ hành ở ngôi giữa, tượng của thái cực Các số lẻ trừ số 5 ở giữa còn 4
số kia (1, 3, 7, 9) nằm ở cạnh của hình vuông tương ứng với 4 phương chính (1 ở Bắc,
9 ở Nam, 3 ở Đông, 7 ở Tây) Các số chẵn nằm ở 4 góc của hình vuông tương ứng với
4 hướng (2 ở Tây Nam, 4 ở Đông Nam, 6 ở Tây Bắc, 8 ở Đông Bắc)
Khi biểu diễn số của lạc thư ra số trong 9 ô của một hình vuông, chúng ta có
một dạng ma phương Các con số được xếp đặt rất kỳ lạ nếu ta cộng các số theo chiều
ngang, chiều dọc hay đường chéo cũng đều được tổng số 15
- Tiên thiên bát quái và hậu thiên bát quái
Căn cứ vào Dịch truyện, Thuyết quái truyện, Thiệu Ung, người triều Tống đã sắp xếp lại phương vị bát quái Ông coi, phương vị bát quái của Phục Hy là tiên thiên đồ,
và phương vị bát quái của Văn Vương là hậu thiên đồ Xét về mặt ngôn từ, đúng ra, Tiên thiên đồ có trước, Hậu thiên đồ có sau, nhưng sự thực không phải vậy Hậu thiên bát quái ra đời từ thời Chiến Quốc, ra đời trước, Tiên thiên bát quái do Thiệu Ung thời Tống sáng tạo, ra đời sau Sở dĩ Thiệu Ung muốn sáng tạo Tiên thiên đồ vì ông thấy Hậu thiên bát quái không hợp lý Cụ thể:
Trang 20Trong đoạn luận: “thuyết quái truyện”, là cơ sở cho Chu Hy xây dựng Tiên thiên bát quái đồ: “天 地 定 位 山 澤 通 氣 雷 風 相 薄 水 火 不 相 射 八 卦 相 錯 - Thiên địa định vị Sơn trạch thông khí Lôi phong tương bác Thủy Hỏa bất tương xạ
Bát quái tương thác - Trời và đất được xác định vị trí Khí của núi và hồ thông nhau
Sấm và gió kích động nhau Nước và lửa chống đối nhau Bát quái hoán đổi nhau Số
đã qua thì thuận, số sắp đến thì nghịch Cho nên Dịch là nghịch số”[13, tr.959]
Nhìn vào Tiên thiên bát quái của Chu Hy ta thấy: Càn Khôn đối đỉnh (Thiên Địa định vị); Cấn Đoài đối đỉnh (Sơn Trạch thông khí); Chấn Tốn đối đỉnh (Lôi Phong tương bác); Khảm Ly đối đỉnh (Thủy Hỏa bất tương xạ)
“Thông khí” là “ảnh hưởng qua lại”, là “hợp nhất sức mạnh”; “tương bạc - kích bác nhau”; “tương xạ - tương khắc”; “tương thác - hoán đổi qua lại”
Tuy ở vào vị trí đối lập nhau, nhưng thực ra lại hỗ trợ lẫn nhau Có thể thấy, thông qua các biểu tượng là bát quái sắp xếp theo mô hình tiên thiên, các tác giả của
Thuyết quái Chu Dịch muốn chuyển tải một thông điệp sự mâu thuẫn nhưng hài hòa,
đối lập mà thống nhất, tác động lẫn nhau phát triển trong tự nhiên
Đoạn luận sau đây trong “Thuyết quái truyện” là cơ sở cho Thiệu Ung xây dựng Hậu thiên bát quái đồ: “帝 出 乎 震 齊 乎 巽 相 見 乎 離 致 役 乎 坤 說 言 乎 兌
戰 乎 乾 勞 乎 坎 成 言 乎 艮 - Đế xuất hồ Chấn Tề hồ Tốn Tương kiến hồ Ly Trí
Dịch hồ Khôn Duyệt ngôn hồ Đoài Chiến hồ Kiền Lao hồ Khảm Thành ngôn hồ Cấn
- Thượng Đế khiến vạn vật xuất hiện ở Chấn, khiến chúng hoàn bị ở Tốn, Khiến chúng
thấy nhau ở Ly, khiến chúng được giúp đỡ ở Khôn, khiến chúng vui vẻ ở Đoài Ngài chiến đấu ở Càn, lao nhọc ở Khảm, khiến vạn vật hoàn thành ở Cấn”[13, tr.963]
Trang 21Tiên thiên bát quái là Siêu hình học, nghiên cứu về thiên lý, còn Hậu thiên bát quái là hình nhi hạ học nghiên cứu về nhân sự, nói cách khác thì Tiên thiên bát quái là một môn học đầu tiên nghiên cứu về lý lẽ của trời đất, còn Hậu thiên bát quái là môn học sau này nghiên cứu về việc của con người Tiên thiên bát quái là nguyên thể, Hậu thiên bát quái là công dụng; Tiên thiên là bất Dịch, hậu thiên là giao Dịch và biến Dịch, tiên thiên là vô hình, hậu thiên là hữu hình, AD là tiên thiên vì AD là vô hình, ngũ hành là hậu thiên vì ngũ hành là hữu hình
1.2 Một số tư tưởng cơ bản trong Chu Dịch liên quan đến y học cổ truyền
1.2.1 Tư tưởng thiên nhân hợp nhất
Thiên nhân hợp nhất “天人合一 ”, là một mệnh đề trung tâm biểu thị quan hệ giữa con người với tự nhiên trong Nho học truyền thống Trung Quốc Nó nhấn mạnh
sự thống nhất hài hòa giữa con người chủ thể với giới tự nhiên khách thể Tự nhiên và con người thống nhất hài hòa, hay nói cách khác tự nhiên và con người như một thể thống nhất
Mệnh đề “天人合一 - Thiên nhân hợp nhất”, đến thời Bắc Tống, Trương Tải mới đưa ra một cách rõ ràng Tuy nhiên, quan điểm Thiên nhân hợp nhất lại có từ rất sớm,
sớm nhất là xuất hiện trong Chu Dịch Tuy trong Chu Dịch không có nói rõ quan hệ
Thiên - Nhân, nhưng đã hàm chứa quan niệm dung hợp xã hội loài người và giới tự
nhiên là một thể thống nhất Trong quái từ, hào từ không chỉ ghi chép nhiều nội dung
về nhân sự, nhiều nội dung ghi chép về các hiện tượng tự nhiên, không chỉ nói về quan
hệ cát hung giữa hiện tượng tự nhiên và con người, mà khi đoán quẻ cũng thường lấy
Trang 22quái từ, hào từ bàn về các hiện tượng tự nhiên trả lời các vấn đề của con người, xem hiện
tượng tự nhiên và nhân sự là cùng loại Khi Khổng tử biên soạn Dịch truyện, trong Dịch
kinh cũng đã có nội hàm của Thiên nhân hợp nhất, từ đó phát triển và trình bày thêm,
trong đó bao hàm những tư tưởng đơn giản nhưng sâu sắc
Trước hết, con người là một bộ phận của giới tự nhiên, đây là khởi điểm của tư
tưởng thiên nhân hợp nhất Thiên, địa, nhân (tam tài) là ba khái niệm quan trọng nhất trong Chu Dịch, tư tưởng triết học của Chu Dịch không thể không qua ba khái niệm đó
để biểu đạt được Theo sự giải thích của Dịch truyện, tính chất của bát quái, kết cấu của
sáu hào và kết cấu sắp đặt của 64 quẻ đều thể hiện quan hệ thiên, địa, nhân
Ví dụ: trong bát quái, tính chất của Càn là kiện, kiện cũng là tính chất của thiên (trời); Tính chất của Khôn là thuận, thuận cũng là tính chất của đất (địa) Mặc dù bát quái thủ tượng có thể đa dạng, linh hoạt, nhưng hai quẻ Càn, Khôn chủ yếu thủ tượng trời đất Bát quái chồng lên nhau thành 64 quẻ, ba vạch thành sáu vạch, cũng chính là
sự biểu hiện ý nghĩa của thiên, địa, nhân Trong sáu nét sơ, nhị, tam, tứ, ngũ, thượng,
thì ngũ thượng ở trên đại diện cho thiên, sơ, nhị ở dưới đại diện cho địa, tam, tứ ở giữa
đại diện cho nhân Do đó, Hệ từ truyện giải thích ý nghĩa của lục hào:
“《易》之为为也, 广大悉为: 有天道焉, 有人道焉, 有地道焉 兼三才而两
之, 故六 六者非它也 , 三才之道也 - Dịch chi vi thư dã, quảng đại tất bị: Hữu thiên đạo yên, hữu nhân đạo yên, hữu địa đạo yên Kiêm tam tài nhi lưỡng chi, cố lục Lục
giả phi tha dã, tam tài chi đạo dã - Dịch là sách có phạm vi bao quát đầy đủ, rộng lớn,
trong đó có đạo trời, đạo người, đạo đất Nó kết hợp tam tài và gấp đôi nên thành sáu hào Sáu hào này vẫn là nó, là đạo tam tài thôi”[13, tr.942]
Việc sắp xếp kết cấu của 64 quẻ càng biểu hiện ý nghĩa của tam tài thiên, địa, nhân Hai quẻ Càn Khôn đặt ở đầu, đại diện chỉ sự sản sinh, nuôi dưỡng vạn vật của trời và đất, còn lại 62 quẻ đại diện cho vạn vật, con người được bao hàm trong vạn vật
Có thể nói, con người và vạn vật cùng một loại, đều là sản vật của trời đất, là một bộ
Trang 23phận của giới tự nhiên Mặc dù, xuất phát từ giới tự nhiên và dần dần độc lập với giới
tự nhiên, thành một bộ phận của tam tài ngang hàng với thiên, địa, nhưng xét về thuộc tính bản chất của con người, nó vẫn giữ được quan hệ hài hòa vốn có giữa thiên và địa
Thứ hai, khẳng định hoàn toàn sự khác biệt giữa thiên và nhân, khẳng định tính
chủ thể của con người, Chu Dịch đi đến tiền đề cơ bản về sự hài hòa giữa trời và người
Tuy con người là sản vật của thiên địa, là một bộ phận của giới tự nhiên, nhưng con
người và trời đất cuối cùng cũng khác biệt Chu Dịch cho rằng, sự khác biệt chính ở
con người là chủ thể nhận thức, mà trời là khách thể nhận thức; con người là chủ thể nhận thức vì nó có ý thức, mà trời là khách thể nhận thức vì không có ý thức Nhiệm vụ
của Chu Dịch không ngoài việc làm trung gian giữa chủ thể và khách thể, giúp cho chủ
thể nhận thức khách thể, nhận thức và lý giải đạo của trời đất, tức là quy luật của tự
nhiên, đồng thời, cũng lý giải và nhận thức bản thân nhân loại Do đó, Hệ từ truyện
thượng viết: “《易》与 天 地 准, 故 能 弥 为天地 之道 - Dịch dữ thiên địa chuẩn, cố
năng di luân thiên địa chi đạo - Dịch ngang bằng với trời đất, nên có thể bao quát mọi
quy luật biến hóa trong trời đất”[13, tr.860], “夫《易》开物成为,冒天下之道 - phù
(Dịch) khai vật thành vụ, mạo thiên hạ chi đạo” Dịch khai mở cho vạn vật, thanh toán mọi việc bao trùm mọi đạo lí trong thiên hạ, “是 以 明于天 之 道 而察于民之故 - Thị
dĩ minh ư thiên chi đạo, nhi sát ư dân chi cố” Những nội dung đó đều nói rõ Chu Dịch
là sự phản ánh đạo trời “天之道 - thiên chi đạo” và “民之故 - dân chi cố”, đạo trời thấu suốt huyền vi xét dân, tìm hiểu chi li sự tình thấu rõ các định luật của trời đất và nhu cầu của nhân dân, giúp chủ thể nhận thức thế giới Thánh nhân dùng Dịch để nhận thức thế giới, thánh nhân có nghĩ, có làm, có ý thức tự giác, tư tưởng của thánh nhân cũng nhận thức về trời người, đồng thời, thông qua Dịch thể hiện và truyền đạt cho mọi người Nâng cao tính chủ thể của con người, phát huy hết tính năng động chủ quan của
Trang 24con người có ý thức, chú trọng đến trời càng chú trọng con người, xem trọng con người trong địa vị chủ yếu của họ với thiên địa, mới có thể đạt tới sự hài hòa thiên nhân
Thứ ba, giới tự nhiên có quy luật phổ biến khách quan, hoạt động của con người
cũng có quy luật khách quan, con người cần phục tùng quy luật khách quan, đây là quan điểm trung tâm của tư tưởng thiên nhân hợp nhất Thoán truyện của quẻ Dự nói:
“天地以为为, 故日月不为,而 四为 不忒 圣人以为为, 为刑为 清而民服 豫之为为大矣哉 ! - Thiên địa dĩ thuận động, cố nhật nguyệt bất quá, nhi tứ thời bất thác Thánh nhân dĩ thuận động, tắc hình phạt thanh nhi dân phục Dự chi thời nghĩa đại hỹ tại! -
Trời đất thuận theo tính chất của mọi vật mà vận động, nên ngày đêm không sai khác, bốn mùa không thayđổi; Thánh nhân theo dân tình mà hành động, nên hình phạt nhẹ
mà dân phục” [13,tr.288]
Sự vận động của trời đất là có quy luật, từ trước tới nay trái quy luật sẽ vận động hỗn loạn, ngày lên đêm xuống, bốn mùa thay đổi, trật tự không thay đổi, không sai khác, điều này gọi là trời đất vận động thuận Mọi hoạt động của xã hội loài người, thuận theo quy luật mà gặp hình phạt mọi người dân đều phục, chính trị thông, nhân tâm hòa Trái lại, làm trái quy luật, thì chính trị hôn ám, dân phản loạn Hoạt động của con người và sự vận động của trời đất đều có quy luật nhất định, nhưng giữa chúng có
chỗ tương thông, tương đồng nào không? Thoán truyện quẻ Sơn lôi Di trả lời: “天
地 養 萬 物 聖 人 養 賢 以 及 萬 民 - Thiên địa dưỡng vạn vật Thánh nhân dưỡng
hiền, dĩ cập vạn dân - Trời đất nuôi dưỡng vạn vật, thánh nhân nuôi dưỡng người hiền
và vạn dân”[13, tr 411] Hoặc: Thoán truyện quẻ Trạch sơn Hàm : “天 地 感 而 萬
物 化 生,聖 人 感 人 心 而 天 下 和 平 觀 其 所 感而 天 地 萬 物 之 情 可 見 矣
- Thiên địa cảm nhi vạn vật hoá sinh Thánh nhân cảm nhân tâm nhi thiên hạ hoà bình
Trang 25Quan kỳ sở cảm nhi thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hĩ - Trời đất cảm mà vạn vật
hóa sinh, thánh nhân cảm nhân tâm mà thiên hạ hòa bình Xem xét cái sự cảm ấy thì có thể thấy cái tình của thiên địa vạn vật”[13, tr 454] Rất nhiều những lập luận có thể
đưa ra để thuyết minh trời có quy luật của trời, người cũng có quy luật của người Quy luật của con người có thể tìm kiếm căn cứ trong quy luật của trời, quy luật của trời
được phản ánh trong quy luật của con người Chu Dịch xem thiên, địa, nhân là một
chỉnh thể thống nhất, cho rằng chúng tự bộc lộ theo quy luật cụ thể của tự thân chúng,
đó là thiên đạo, địa đạo và nhân đạo, tức là đạo tam tài Từ xuất phát điểm đó, cho rằng việc đánh giá hành vi của con người đúng đắn hay không, đều phải xem anh ta có phù hợp với đạo trời đất hay không Nhưng thực chất không chỉ thánh nhân, quân tử, hiền nhân mà còn cả trăm họ, đều theo đạo trời đất mà làm việc, chỉ khác ở chỗ quân tử tự giác, mà trăm họ tự nhiên Việc nhân loại bắt chước theo trời đất có thể biểu hiện ra dường như ở tất cả các phương diện, một trong các phương diện đó, quan trọng nhất là phẩm hạnh của con người Như Quẻ Càn, tượng truyện nói: “天行健, 君 子以自强不
息 - Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức - Trời vận hành mạnh mẽ, người
quân tử do vậy mà tự cường không nghỉ”[13, tr.91] Quẻ Khôn, tượng truyện nói: “地
为坤,君子以厚德为物 - Địa thế Khôn, quân tử dĩ hậu đức tải vật - Thế của đất thì
dày, người quân tử lấy đức dày để chứa vạn vật”[13, tr.118] Quân tử theo đạo hạnh
của trời đất, đã vừa phải cương kiện hữu vi, tự cường bất tức, lại còn dùng dân súc
chúng, hậu đức tải vật Tượng truyện quẻ Phong thiên Tiểu súc viết: “为行天上,
小畜 君子以懿文德 - Phong hành thiên thượng, Tiểu súc Quân tử dĩ ý văn đức -
Gió bay trên trời, tượng cho tiểu súc; Quân tử nên trao dồi đạo đức, văn chương đợi thời”[13, tr.212] Quái này thượng quái là Tốn, Tốn là gió, hạ quái là Càn, Càn là trời,
Trang 26cho nên mới nói “为行天上 - Phong hành thiên thượng - Gió nhẹ bay trên trời”[13,
tr.212] Người quân tử theo loại hiện tượng tự nhiên này, lấy đạo đức giáo hóa từ dân chúng đến triều đình, lấy việc tích trữ mỹ đức Như vậy có thể thấy, quy luật của trời
và quy luật của con người giống nhau ở tính khách quan, con người cũng phải phục tùng quy luật phổ biến Nhưng việc bắt chước và tuân thủ đạo trời vừa không đầy đủ, vừa cần chỉ đạo con người như thế nào để không trái với tiền đề của quy luật khách quan mà vẫn phát huy được tính năng động chủ quan, mới có thể đạt được kết quả tốt nhất, tức là đạt tới sự hài hòa và thống nhất cao độ giữa chủ thể và khách thể Liên
quan đến vấn đề phát huy tính năng động của chủ thể, Chu Dịch còn đưa ra kiến giải
“裁成为相 - Tài thành phụ tướng” Tượng truyện, quẻ Thái viết: “天地交 , 泰 后(君 )
以为 (同 “裁”) 成天地之道, 为相天地之宜, 以 左 右 民 - Thiên địa giao, Thái Hậu (quân) dĩ tài thành thiên địa chi đạo, phụ tướng thiên địa chi nghi, dĩ tả hữu dân -
Trời đất giao hợp với nhau, Thái Người quân chủ từ đó sửa cho thành đạo thông giao của trời đất, giúp cho sự thích nghi trong sự sinh hóa của trời đất, để giúp cho trăm họ trong thiên hạ”[13, tr.234] Con người tuân thủ phép tắc tự nhiên không hoàn toàn bị
động mà chủ động, mà luôn cố gắng không ngừng nghỉ “tự cường bất tức”, có chủ kiến, trên cơ sở nhận thức quy luật tự nhiên mới tiến hành hỗ trợ, tiết chế và điều chỉnh tự nhiên, nhu cầu của nhân loại và tự nhiên càng cần có sự hòa điệu
Thứ tư, lý tưởng cao nhất của nhân sinh là sự hài hòa giữa trời và người, tức là
đạt tới sự thống nhất cao độ giữa chủ thể và khách thể, đây là mức độ cao nhất của tư
tưởng “thiên nhân hợp nhất” mà Chu Dịch hướng tới Văn ngôn truyện viết:
“夫 大 人 者, 与 天 地合其德, 与日月合其明, 与四为合其序, 与鬼神合其凶 先天而天弗为, 后天而奉天为 天且弗为, 而况于人乎 ? 况于鬼神乎 ? - Phù, đại
Trang 27nhân giả, dữ thiên địa hợp kỳ đức, dữ nhật nguyệt hợp kỳ minh, dữ tứ thời hợp kỳ tự,
dữ quỷ thần hợp kỳ hung Tiên thiên nhi thiên phất vi, hậu thiên nhi phụng thiên thời
Thiên thả phất vi, nhi huống ư nhân hồ? Huống ư quỷ thần hồ? - Đại nhân hòa hợp đức
của mình với trời, hoà hợp đức sáng của mình với mặt trời và mặt trăng, hòa hợp trật
tự của mình với bốn mùa, hòa hợp sự may rủi của mình với quỷ thần (Đại nhân hành động) trước trời mà trời không chống lại, sau trời mà tiếp nhận thiên thời Trời không chống lại, nói gì đến con người? Nói gì đến quỷ thần” Đoạn này giải thích hào từ cửu
ngũ, quẻ Càn “飛 龍 在 天, 利 見 大 人 - Phi long tại thiên, lợi kiến đại nhân - Rồng
bay trên trời, có lợi cho việc gặp đại nhân”[13, tr.85], trên thực tế đã trình bày quan
điểm về sự thống nhất hài hòa giữa con người chủ thể cùng với giới tự nhiên Tiên thiên là sự chỉ dẫn trước của trời, tại trời trước đó vẫn chưa phát sinh sự biến hóa mới tiến hành chỉ dẫn Hậu thiên là sự tuân thủ quy luật biến hóa của tự nhiên, theo thiên thời mà hành động
Tóm lại, từ bốn phương diện nội dung chủ yếu quan hệ trời người có liên quan
trong Chu Dịch đã trình bày trên đây có thể thấy, Chu Dịch cho rằng, đạo người và đạo
trời thống nhất tuyệt đối, hài hòa tuyệt đối, quy luật của tự nhiên và quy luật của con người là một, con người với tư cách là chủ thể nhận thức, với vấn đề quan hệ chủ yếu
với trời như thế nào để đạt được và thích ứng với trời mà không trái với đạo trời Chu
Dịch không đưa ra bất kỳ phương pháp gì để khống chế trời, chiến thắng trời, cải tạo
trời, cũng không cho rằng việc của người do trời quyết định mà không nên phát huy
tính chủ động của con người Tự quái truyện viết: “有天地, 然后万物生焉 - Hữu thiên địa, nhiên hậu vạn vật sinh yên - Có trời đất, sau đó vạn vật sinh ra”[13, tr.998],
do tự nhiên nuôi dưỡng nhân loại và vạn vật, cho nên trời có đức, có thiện, có nhân, nhưng “仁 - Nhân” ở đây biểu hiện tập trung trong sức sáng tạo của của đại tự nhiên
Trang 28vĩnh hằng Chu Dịch, Hệ từ truyện thượng, viết: “生 生之为易 - Sinh sinh chi vị Dịch
- Sinh sinh gọi là Dịch”[13, tr.865], hoặc quẻ Hàm, Thoán truyện viết: “天地感而万物
化生 - Thiên địa cảm vạn vật hóa sinh - Trời đất giao cảm khiến cho muôn vật được
hóa dục sinh trưởng”[13, tr.454], hoặc Hệ từ truyện hạ viết: “天地之大德曰生 -
Thiên địa chi đại đức viết sinh - Nếu không thường sinh thì đức không lớn, do bởi muôn
vật thường sinh, cho nên nói đại đức vậy”[13, tr.902], sinh là phép tắc cơ bản của vũ trụ,
phổ biến thiên địa vạn vật, sinh sinh không nghỉ, chu lưu không dừng Người quân tử làm theo trời, cũng tinh thần này nhân lên mà mở rộng ra thiên hạ, ân trạch tới vạn vật, đạt tới giới hạn trời đất, người, vạn vật là một thể thống nhất, thiên, địa, nhân, hợp đức
mà tiến, đạt tới trình độ hài hòa, hoàn thiện[13, tr.50]
1.2.2 Tư tưởng biện chứng
Nội dung chủ yếu của Chu Dịch là nói về sự biến đổi của âm dương Trong quẻ Càn, Thoán từ viết: “乾道乃革 - Càn đạo nãi cách - Đạo trời, tức quy luật vận hành
trong thiên nhiên, cách là biến cách Chỉ hào Chín Bốn như khí dương phát triển đến một giai đoạn nhất định, muôn vật đang ở vào lúc chuyển hóa”[13, tr.104], phần Hệ từ
hạ cũng có nhiều chỗ nói về sự biến thiên, như: “易之为为也不可为, 为 道也屡迁, 为为不居, 流六虚, 上下无常, 为柔相易, 不可为典要, 唯为 所适 - Dịch chi vi thư dã bất khả viễn, vi đạo dã lũ thiên, biến động bất cứ, lưu lục hư,cương nhu tương Dịch
thượng hạ vô thường, bất khả vi điển yếu, duy biến sở thích - Bộ Chu Dịch, không thể
phút giây xa rời Lẽ đạo được thể hiện trong đó thường biến thiên, biến hóa, vận hành không ngừng, xoay quanh trong khoảng sáu hào của các quẻ, lên xuống đi lại không chuẩn định, dương cứng âm mềm thay nhau, không thể cứ theo những cương yếu điển
Trang 29thường, mà chỉ có biến hóa mới thích hợp”[13, tr.934] Lấy sự vận động của trời đất
phản ánh trong sự biến hóa của các hào AD, Dịch truyện, khái quát tính chất chuyển hóa của các sự vật thành quá trình hưng suy, tiêu tức Có thể thấy nội dung chủ yếu
của Chu Dịch là quy nạp sự phát sinh phát triển của sự vật thành sự chuyển hóa, giao
dịch của AD
Ngay từ đầu Chu Dịch đã bàn đến sự phát triển: Hệ từ thượng truyện nói: “太极
生两宜,两宜生四象, 四象生八卦 - Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ
tượng, tứ tượng sinh bát quái - Từ vô cùng sinh ra AD, từ AD chồng lên nhau sinh ra
bốn tượng, từ bốn tượng chồng lên nhau sinh ra tám quẻ ”[13,tr.889] Tứ tượng là
bốn biểu tượng do hai hào âm dương chồng lên nhau, bao gồm: thiếu âm, thiếu dương, thái âm, và thái dương Bát quát là ba hào âm dương chồng lên nhau Tám quẻ đơn này
lần lượt chồng lên nhau thành 64 quẻ kép Chu Dịch đã thể hiện rất rõ nét quá trình
phát triển: bắt đầu là từ đồng nhất (thái cực), tiếp đến sinh lưỡng nghi… đến 64 quẻ là một quá trình vận động và phát triển Từ hai hào âm dương phát triển thành 64 x 6 =
386 hào, từ 8 quẻ đơn thành 64 quẻ kép là quá trình vận động từ thấp lên đến cao, từ đơn giản đến phức tạp
Tư tưởng xuyên suốt của bộ sách này là lẽ biến dịch Hệ từ hạ, chương 8 viết: “為
道 也 屢 遷,變 動 不 居 , 周 流 六 虛; 上 下 無 常 ; 剛 柔 相 易,不 可 為 典 要 ,
唯 變 所 適 - Vi đạo dã lũ thiên, biến động bất cư, chu lưu lục hư; thượng hạ vô
thường, cương nhu tương dị; bất khả vi điển yếu, duy biến sở thích - Đạo của Dịch
biến đổi như sóng dồn, biến động không ở yên một nơi nào, chảy suốt trong lục hư, lên xuống vô thường, cứng mềm thay đổi, không thể điển hình bằng cái gì, mà chỉ biến để
Trang 30thích ứng”(1) [13, tr.934] Như vậy, Dịch là vận động biến đổi Có vận động tất có biến
đổi, Chu Dịch gọi bằng từ biến hoá Biến hoá là chỉ sự vật đã chuyển sang một chất mới
Biến hoá là kết quả của sự tương tác giữa hai mặt đối lập “cương nhu tương thôi, nhi
sinh biến hoá” Hệ từ thượng, chương 4 nói: “日新之位盛德, 生生之位易 - Nhật tân
chi vị thịnh đức, sinh sinh chi vị dịch Mỗi ngày mỗi đổi mới là đức thịnh, sinh hóa vô
cùng gọi là Dịch - ngày ngày thêm mới, không ngừng thêm thiện nên bảo là đức hạnh
thịnh đẹp Âm dương chuyển hóa mà sinh sinh không dứt gọi là biến Dịch”[13 Tr.863]
Ngày một mới là bởi vì trong mỗi sự vật, hiện tượng đều đạt tới điểm cực thịnh, đến lúc biến đổi Sinh rồi lại sinh mới tạo ra các sự vật hiện tượng hoàn toàn mới
Chữ “Dịch” còn có một nghĩa nữa là bất dịch hay bất biến Lẽ bất Dịch mà Chu
Dịch nói tới là tính không thay đổi của các quy luật tự nhiên, được gọi là thường hằng,
đối lập với vô thường Thoán từ quẻ Lôi phong Hằng nói rất rõ điều này:
“天 地 之 道,恆 久 而 不 已 也 利 有 攸 往,終 則 有 始 也 日 月 得 天,而 能 久 照,四 時 變 化,而 能 久 成 - Thiên địa chi đạo, hằng cửu nhi bất dĩ
dã Lợi hữu du vãng Chung tắc hữu thuỷ dã Nhật nguyệt đắc thiên Nhi năng cửu
chiếu Tứ thời biến hoá Nhi năng cửu thành - Quy luật vận hành của trời đất là bền
lâu chứ không dừng lại; “Lợi về có sự đi”, sự phát triển của sự vật bao giờ cũng đến lúc cuối lại quay trở lại đầu Mặt trời, mặt trăng chuyển vận thuận hành “Đạo” trời
mà có thể chiếu rọi xuống thiên hạ mãi mãi, bốn mùa thay đổi lặp đi lặp lại mà mãi mãi sinh thành ra muôn vật”[13, tr.466] Tính bất biến ở đây chính là sự vận động theo
quy luật, xuân, hạ, thu, đông, bốn mùa thay đổi Sự vận động luôn diễn ra liên tục theo
một chu trình tuần hoàn Trong Chu Dịch, xuất phát từ hai quẻ Càn - Khôn các quẻ
biến thiên, chuyển hoá lẫn nhau và kết thúc bằng quẻ Ký tế và Vị tế Sự vận động, biến
( 1 ) Lục hư cũng là lục hợp, bao gồm thượng, hạ, tứ phương (đông, tây, nam, bắc) Nói lục hư cũng tức là nói vũ trụ
Trang 31hóa của AD là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự vận động, biến hóa của vạn vật trong vũ trụ
Trong Chu Dịch tư tưởng về mối liên hệ phổ biến thể hiện ở các chữ “giao cảm”,
“tương ứng”, “tương cầu”, cùng chỉ sự liên hệ mật thiết giữa các yếu tố trong vũ trụ
Có cảm thì mới có giao, có tương ứng thì mới có tương cầu, tương hỗ; có tương đồng mới có tương hợp Đó là những tác động qua lại, hoà quyện vào nhau của những sự vật, hiện tượng có tương tác, hấp dẫn Sự vật, hiện tượng vốn tự sinh, tự hoá, ngoài ra còn
có tương sinh, tương hoá
Chu Dịch biểu đạt mâu thuẫn biện chứng bằng hai phạm trù AD (còn được gọi là
lưỡng nghi) Âm được tượng trưng bằng một nét đứt (gọi là hào âm), Dương được biểu
thị bằng một nét liền (gọi là hào dương) AD biểu thị hết thẩy mọi sự đối lập trong tự nhiên, xã hội và tư duy như: nam nữ, ngày đêm, phủ định - khẳng định… Phạm trù AD
là sự biểu thị một phương thức tư duy bằng biểu tượng, một trong những đặc trưng của
phương thức tư duy TH Trung Quốc
AD không chỉ tồn tại bên cạnh nhau một cách hình thức trong các quẻ mà luôn được đặt trong quá trình vận động chuyển hóa lẫn nhau Trong các quẻ, tính chất đối lập giữa tĩnh tại và chuyển động cũng được thể hiện Thông qua phân tích các hào
trong từng quẻ ta sẽ thấy được điều này rất rõ Tự quái truyện giải thích về sự sắp xếp
thứ tự của 64 quẻ, nêu lên ý nghĩa tiếp nối của các quẻ đã cho thấy về mặt hình thức
các quẻ đều có quẻ đối lập với nó tạo thành các cặp đối lập Tự quái phân tích trật tự kết cấu của các quẻ theo hai khía cạnh: Tương nhân và tương phản Tương nhân là
quan hệ kế thừa nhân quả giữa hai quẻ liền nhau, quan hệ điều kiện và quan hệ nội hàm như quẻ Nhu và quẻ Tụng, quẻ Hàm và quẻ Hằng, quẻ Tỉnh và quẻ Cách, quẻ Truân và
quẻ Mông, Kí tế và Vị tế Quan hệ tương phản chính là hai quẻ liền kề nhau có quan hệ
biến hóa ngược chiều với nhau chẳng hạn như quẻ Bĩ và quẻ Thái, Tổn và Ích… Chính các quan hệ này đã thể hiện sự vận động của tự nhiên xã hội cũng theo nguyên tắc chuyển hóa của các mặt đối lập “vật cực tắc phản”, tức vật lên đến đỉnh điểm sẽ thay
Trang 32đổi, các mặt đối lập có thể chuyển hóa lẫn nhau, vận động đến vô cùng, vô tận Từ đó
có thể thấy nhận thức về kết cấu hình quẻ của tác giả, ý nghĩa TH của nó toát ra ở chỗ nói lên sự phát triển của sự vật bao giờ cũng thể hiện các quy luật biến hóa của chúng
từ trong các nhân tố đối lập nhau
Có thể khẳng định, một mặt, các quẻ đều chứa đựng mâu thuẫn nội tại bên trong (hào âm, hào dương), mặt khác, các quẻ còn có sự mâu thuẫn bên ngoài với quẻ đối lập với nó Chính mâu thuẫn này làm nên động lực của sự phát triển của sự vật hiện tượng
Tác giả Chu Dịch đã nhận thấy sự phát triển của mọi sự vật hiện tượng bao hàm mâu
thuẫn nội tại và quá trình phát triển của chúng cũng chứa đựng những mâu thuẫn
Các tác giả của Chu Dịch chủ trương, các mặt đối lập phải thâm nhập vào nhau,
tiến tới sự chuyển hóa và có cơ chế chuyển hóa thì mới được xem là tốt, còn ngược lại, các mặt đối lập tách rời nhau, không có cơ chế chuyển hóa qua lại với nhau được coi là xấu Ví dụ: Quẻ Địa thiên thái là quẻ tượng trưng cho sự hanh thông, tốt lành do đất (địa) nặng có khuynh hướng rơi xuống, trời (khí) nhẹ có khuynh hướng bay lên, nhờ đó gắn kết, hòa quyện Tượng truyện quẻ Thái viết: “天地交泰 - Thiên địa giao,
Thái - Trời đất giao hợp với nhau, tượng cho sự thông suốt”[13, tr.234] Hai quẻ đơn
Càn, Khôn trong quẻ Thiên địa bĩ vận động theo hướng tách rời nhau, không hòa nhập gắn kết vào với nhau nên gọi là bĩ, là xấu Quẻ Thái nhấn mạnh sự lưu chuyển
giao cảm AD Tượng truyện quẻ Bĩ viết: “天地不交,否 - Thiên địa bất giao, Bĩ - trời
đất không giao hợp với nhau, tượng của sự bế tắc”[13, tr.247]
Trong Chu Dịch, tương ứng với “thống nhất” có chỉnh thể thái cực, tương ứng với “một phân thành hai” có “thái cực sinh AD” Chu Dịch, Hệ từ thượng truyện viết:
“易有太极,是生两宜 - Dịch hữu thái cực, thị sinh lưỡng nghi - Dịch, trước tiên có
thái cực (hỗn độn, chưa phân ra vật nọ vật kia), thái cực sinh ra lưỡng nghi (trời đất,
Trang 33AD)”[13, tr.884], “一阴一阳之位道 - Nhất âm nhất dương chi vị đạo - Một âm một dương chính là đạo vậy”[13, tr.863], thường được xem là mô thức trọng yếu của tư duy
biện chứng Quan hệ AD tạo ra một cặp mâu thuẫn nhất định Trong Chu Dịch, hai yếu
tố AD thiên về sự hấp dẫn lẫn nhau, đối đãi với nhau từng bước hướng tới trạng thái cân bằng, trạng thái hài hòa Quan hệ giữa hai yếu tố AD trong cả phần kinh lẫn phần
truyện trong Chu Dịch, từ nghĩa lý đến quái tượng đều nói về sự đối đãi AD Chu Dịch,
hệ từ hạ nói: “乾坤其易之为邪 - Càn khôn kỳ Dịch chi môn tà - Khổng Tử nói: Hai
quẻ Càn, Khôn là cửa của Chu Dịch, Càn tượng trưng cho những vật thuộc về dương; Khôn tượng trưng cho những vật thuộc về âm”[13, tr.925], và hệ từ thượng nói: “乾 坤
其 易 之为邪 - Càn khôn kỳ Dịch chi uẩn tà - Hai quẻ Càn Khôn là cửa của Chu
Dịch, chứa moi thứ tốt xấu trong đó”[13, tr.896], đều lấy Càn thuần dương và Khôn
thuần âm làm trung tâm và cơ sở của 64 quẻ Nghĩa lý cương nhu, kiện thuận hàm chứa trong quẻ Càn, Khôn cùng với những dấu hiệu biểu trưng của nó như thiên địa, phụ mẫu đều không tồn tại sự xung đột, đối nghịch, bài trừ nhau, mà chủ yếu là sự đối ứng, hấp thu và bổ sung của tính đối đãi AD
Nhìn lại 64 quẻ, gồm 32 cặp đối ngẫu hoặc đối đãi “非复为遍 - Phi phục tắc biến”, nội dung chủ yếu là nói về AD đối đãi, không nhấn mạnh sự bài bác, xung đột Tuy nhiên, trong giới tự nhiên, có lúc phát sinh sự đột biến thậm chí tai biến, xã hội loài người cũng có lúc quan hệ giữa người và người phát sinh xung đột thậm chí
phát sinh đối kháng Trong Chu Dịch có một số quẻ phản ánh sự bài bác AD, dẫn đến
hiện tượng xung đột Chẳng hạn, quẻ Trạch hỏa Cách , thể hiện sự xung đột do sự tương bác AD nào đó trong tự nhiên hoặc xã hội Quẻ Trạch hỏa Cách nói về sự bài bác lẫn nhau của hai hiện tượng tự nhiên nước - lửa, dẫn chứng trong con người là hiện
Trang 34tượng bất đồng ý chí Đảo ngược vị trí hai quẻ đơn của quẻ Trạch hỏa Cách ta được quẻ Hỏa trạch Khuê , hướng vận động của thủy hỏa khác nhau, hỏa hướng lên trên, thủy chảy xuống dưới, tượng của sự chia lìa, tan rã… tượng của hiện tượng bất thường Theo nghĩa, Trạch là Đoài, là duyệt (vui sướng, hạnh phúc, yêu thích); Hỏa là Ly, là sáng, nghĩa là vui sướng (tâm duyệt) mà khuynh hướng tươi sáng (quang minh), hào ba
và hào năm đóng ở trung vị, và hào cửu nhị tương ứng Có thể thấy, có một số, số ít quẻ đã thể hiện, hiện tượng khác thường của sự tương tác AD, nhưng cũng không ảnh
hưởng đến tư tưởng chính của sự đối đãi AD trong Chu Dịch
Mỗi quẻ trong 64 quẻ biểu thị một chất xác định Đó là 64 tượng ký hiệu bằng 64
quẻ và diễn giải bởi quái từ và hào từ Quái từ và hào từ là những phán đoán logic về các vấn đề của tự nhiên, xã hội Theo Hồ Thích, chữ tượng này có hai nghĩa, một là, các hiện tượng trong giới tự nhiên; nghĩa thứ hai quan trọng hơn, đó là biểu tượng đại diện cho một tập hợp các luận giải, vấn đề TH nào đó[34, tr.72-73]
Ví dụ: Quẻ Càn Quái từ là “ 乾:元,亨,利,为 - Càn: nguyên, hanh, lợi, trinh -
Quẻ Càn; nguyên là đầu tiên; hanh là thông; lợi là hòa; trinh là chín”[13, tr.105] Hào
từ của hào đầu là “初九:潜为勿用 - Sơ cửu: Tiềm long vật dụng - Hào Chín Đầu,
rồng lớn ẩn mình dưới nước, tạm thời chưa thi thố được tài năng”[13, tr.82] Quái từ
chính là định nghĩa về quẻ, và như vậy, nó là kết quả của quá trình quy nạp các đối tượng cùng tính chất vào một tập hợp - quẻ Còn Hào từ là định nghĩa về mỗi hào trong quẻ đó Định nghĩa về quẻ căn cứ vào tượng của quẻ, vào kết cấu, trật tự bố trí của các hào (hào âm, hào dương) trong quẻ Định nghĩa về hào cũng vậy, căn cứ vào vị trí của hào, và tương quan của nó đối với các hào khác trong quẻ Nếu quan niệm “chất là chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ giữa các thuộc tính để nó là nó và có thể phân biệt nó với các cái khác thì mỗi quẻ hoàn toàn
có thể được hiểu như một chất
Trang 35Vậy, lượng biểu thị trong quẻ như thế nào? Mỗi quẻ đều có số lượng hào như
nhau - 6 hào, nhưng có hai điểm khác biệt khiến cho 64 quẻ khác nhau, một là số lượng các hào âm và hào dương trong một quẻ và trật tự sắp xếp các hào ấy quyết định quẻ ấy mang tượng như thế nào
Ví dụ 1: Số hào âm và hào dương trong hai quẻ khác nhau: quẻ Nhu có 4 hào dương và hai hào âm; còn quẻ Khảm có bốn hào âm và hai hào dương
Ví dụ 2: Số hào âm và hào dương của hai quẻ như nhau, nhưng trật tự sắp xếp các hào AD khác nhau cũng khiến chúng khác nhau quẻ Chấn vi lôi và quẻ Cấn vi sơn , cùng có hai hào dương và bốn hào âm
Hàm lượng hào AD trong một quẻ, trật tự sắp xếp các hào AD trong một quẻ làm
nên lượng của quẻ Trong Chu Dịch tồn tại ba quẻ nói về sự phát triển là quá trình tích
lũy về chất và chuyển hóa về lượng khá điển hình là quẻ Tấn, quẻ Thăng và quẻ Tiệm
Trong Chu Dịch tuy không có một số từ rõ ràng như lượng biến, chất biến, nhưng
lại có hiện tượng tương ứng Từ điểm nút lượng biến đến chất biến có một số điểm cần lưu ý, trên thực tế, cũng có một số không thể gọi là điểm nút, chúng chỉ cùng lắm là một vài mắt xích trung gian hoặc giai đoạn quá độ của sự biến đổi mà thôi Giữa các
cặp quẻ đối ngẫu như Càn - Khôn, Thái - Bĩ trong Chu Dịch không thể biết được đâu
là giới hạn tuyệt đối rõ ràng, không biết được hiệu quả phổ biến vô điều kiện như “非阳即阴 - phi dương tức âm”; “非太即否 - Phi Thái tức phủ”; “非吉即兇 - Phi cát tức hung”, ngoại trừ “大吉大兇 - Đại cát đại hung”, cũng có chỗ thừa nhận “皮阴皮
阳 - Vừa âm vừa dương”, “皮吉皮兇 - Vừa cát vừa hung” Việc điều hòa AD dẫn đến động thái cân bằng AD tiêu tức là sự thể hiện tính đối đãi của AD
Trang 36Trong Chu Dịch, có lúc số lượng các hào không có tăng giảm, nhưng tùy theo vị
trí của mỗi hào thay đổi cũng khiến cho chất của quẻ thay đổi
Quy luật phủ định của phủ định được thể hiện bằng câu “物极为反 - Vật cực tắc
phản” Chữ phản “反” có nghĩa là trở về khởi điểm Sự vật phát triển đến một một giới hạn sẽ chuyển hóa theo một tương phản Trong biểu tượng của thái cực đã biểu thị cho quy luật này rồi, trong thái âm đã bao gồm thiếu dương, trong thái dương đã bao gồm thiếu âm, khi thiếu âm và thiếu dương đủ lớn sẽ thay thế thái dương và thái âm Ngay khi ấy, cặp thiếu âm, thiếu dương mới lại bắt đầu được sinh ra Như thế, không có cái nào là cái mới tuyệt đối cũng như cũ tuyệt đối Trong cái mới đã có cái cũ, trong cái cũ
đã nảy sinh cái mới Hệ từ thượng, chương 7 nói: “遍化者, 進退之象也 - Biến hoá giả, tiến thoái chi tượng dã - Biến hoá là tượng của tiến rồi lui”[13, tr.885]
Tóm lại, cũng giống như phép biện chứng hiện đại lấy quy luật thống nhất đối lập
làm quy luật trung tâm và căn bản, trong mô thức tư duy biện chứng Chu Dịch, AD đối
đãi tính cũng là đặc tính căn bản và trung tâm Chính là do sự chế ước và chủ đạo của tính đối đãi, khí AD, không phải do sự hạn chế của xung đột đối lập, mới có tính đa nhân tố quyết định lượng đổi chất đổi Cũng chính là do sự bổ sung và tác động qua lại của AD đối đãi mới dẫn đến trong quá trình phủ định và khẳng định từ AD bài xích nhau, bác bỏ nhau thành điều hòa AD, tức tính hòa hợp AD Cho nên có thể lấy đa nhân tố quyết định và tính hòa hợp AD đều xem sự đối đãi AD là đặc tính căn bản quyết định và phái sinh các đặc tính khác
1.3 Y học cổ truyền: lược sử và kết cấu
1
Để biên soạn nội dung này, chúng tôi tham khảo chủ yếu từ các cuốn sách: 1) Trung y học khái luận,
tài liệu giảng dạy thí điểm của trường Cao đẳng y dược - Viện Trung y Nam Kinh, Nxb y học, 1961
Trang 37Trước Công nguyên từ tám đến ba thế kỉ (thời kỳ Xuân thu Chiến quốc), lịch sử Trung Quốc đã từng xuất hiện một cao trào văn hóa là “trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng” Nhiều học phái triết học ra đời và đạt được những thành tựu rực rỡ Trong hoàn cảnh xã hội, học thuật ấy, nhiều nhà y học xuất sắc đã tổng kết được những thành tựu y
học đáng kể Hoàng đế Nội kinh là pho sách y học đầu tiên của YHCT được biên soạn
từ giai đoạn này trở về trước nữa
Cùng thời, có danh y Biển Thước (Tần Việt Nhân) giỏi về chẩn đoán và vận dụng những phương pháp bằng thuốc thang, châm cứu để chữa bệnh Về mạch học ông cũng
đã có thành tựu nhất định, cho nên Sử ký có chép: “Trong thiên hạ ngày nay nói đến
mạch là từ Biển Thước mà ra” Ông là một thầy thuốc giỏi, sở trường về các khoa nội, phụ, nhi và ngũ quan Biển Thước còn là người sáng tạo ra phép xem mạch, bổ sung
môn thiết chẩn, hoàn thiện tứ chẩn: “Vọng, văn, vấn, thiết”; tác giả của nạn kinh, gồm
81 điều, tiếp tục làm sáng tỏ những vấn nạn trong nội kinh và những vấn đề khác
Nhà y học lâm sàng kiệt xuất đời hậu Hán là Trương Trọng Cảnh (142 - 220 sau CN), người đã sáng lập ra phương dược, trị pháp, sưu tầm nhiều phương thuốc, trên cơ
sở lý luận của Hoàng đế nội kinh, đã phát triển thêm phép “biện chứng luận trị”, đã soạn ra quyển Thương hàn tạp bệnh luận (bao gồm cả hai bộ Thương hàn và Kim qũy
yếu lược, là bộ sách đầu tiên chuyên về lâm sàng, ngày nay vẫn còn sử dụng Ngoài giá
trị thực dụng, Thương hàn tạp bệnh luận còn thay thế quyển ngoại kinh đã bị thất lạc từ trước, (ngoại kinh là một bộ sách về lâm sàng cùng tương đương với bộ nội kinh là
sách lý luận y học của thời xưa) Tác phẩm này là kinh điển về YH lâm sàng, bàn sâu đến 379 bệnh án, 113 phương, vận dụng đến 97 loại thuốc để chữa bệnh Trương Trọng
Cảnh khi viết Thương hàn luận căn cứ vào lý luận AD của Chu Dịch, nội kinh xây
dựng hệ thống lý luận tam âm, tam dương (biện chứng lục kinh) Lục kinh bao gồm Thái dương, Thiếu dương, Dương minh, Thái âm, Thiếu âm, Quyết âm có sự vận động
(nhóm giảng viên Đông y dịch, Phòng Tu thư huấn luyện Viện nghiên cứu Đông y hiệu đính); 2) Nguyễn
Trung Hoà: Đông y toàn tập, Nxb Thuận Hoá, Huế, 2000
Trang 38theo xu hướng từ thịnh đến suy và ngược lại Theo Trương Trọng Cảnh, nguyên lý chung của sự chuyển biến lục kinh là từ dương vào âm, từ biểu vào lý, trước là tam âm, sau là tam dương, phản ánh quy luật tiêu trưởng AD của 6 hào AD đồng thời cũng
phản ánh quá trình chuyển hoá bệnh tật trong mỗi kinh Thương hàn luận được tôn vinh là Thiên cổ bất san chi diệu điển Tuy nhiên, mới chỉ bàn nhiều đến bệnh thương
hàn do lục khí gây nên mà chưa bàn tới các bệnh do thị dục, ẩm thực gây nên Y giới sau này tôn xưng Trương Trọng Cảnh là: “y thánh”
Đồng thời với Trương Trọng Cảnh có danh y Hoa Đà (110 - 207) Ông tinh thông các khoa nội, ngoại, phụ, nhi, châm cứu Đặc biệt là chữa bệnh ngoại khoa, ông đã có
thành tựu vượt bậc Hậu Hán thư chép chuyện Hoa Đà rằng; nếu bệnh bị kết lại ở trong
dùng châm, dùng thuốc không được, thì trước tiên dùng Ma phi tán cho uống với rượu Khi đã say không biết gì nữa thì mổ lưng và bụng ra, cắt chỗ tích tụ ấy đi, nếu bệnh ở trường vị thì cắt ra và rửa sạch, trừ hết chất bẩn của bệnh rồi khâu lại và dán Thần cao vào, trong 4, 5 ngày chỗ cắt sẽ lành, khoảng một tháng thì sẽ bình phục như cũ Đó là lời ghi chép sớm nhất trên thế giới về việc sử dụng thuốc mê để mổ bụng Về thể dục liệu pháp, ông phát minh ra; ngũ cầm hý Đây được xem là mở đầu cho võ thuật Trung Quốc
Thời Hán, sự phát triển của Đạo giáo là một tiền đề quan trọng cho sự phát triển của y học Thuật luyện đan làm thuốc trường sinh, sử dụng thuỷ ngân chế luyện thành Hồng Thăng, Bạch Giáng được xem là kỹ thuật hoá dược đầu tiên trên thế giới, có đóng góp lớn cho ngoại khoa YHCT Nhiều thầy thuốc thành danh theo Đạo giáo như: Cát Hồng (đạo hiệu Bão Phác Tử), Vương Thúc Hoà (đạo hiệu Thái Ất Tử), Hoàng Phủ Bật (đạo hiệu Huyền Yến Tử), Đào Hoằng Cảnh (đạo hiệu Hoa Dương Tử), Tôn
Tư Mạo (đạo hiệu Diệu Ứng Chân Nhân), Vương Băng (đạo hiệu Huyền Băng Tử), Chu Đan Khê (đạo hiệu Xung Châu Tử)… Dưới đây khái lược những đóng góp của các vị ấy đối với sự phát triển của YH
Trang 39Vương Thúc Hòa đời Tấn (210 - 285 sau CN), soạn ra quyển Mạch kinh, đã tập
hợp tất cả những công trình về mạch học từ đời Tấn trở về trước, là bộ sách đầu tiên chuyên về mạch học, chuyên môn về chẩn đoán học Đặc biệt là ông đề xuất ra cách
“xem mạch” “nghe thanh âm”, “trông khí sắc”, “hỏi chứng bệnh” đều cần phải kết hợp với nhau và đều phải coi trọng thì mới có thể theo được các bậc hiền triết đời xưa”, đủ thấy ông là người có kiến thức vượt bậc Ông là người chỉnh lý trước tác sách y của
Trương Trọng Cảnh, chia thành hai tập là Thương hàn luận và Kim Quỹ yếu lược
Cát Hồng (278 - 339 sau CN), nhà YH vĩ đại trong thực tiễn chữa bệnh và uống thuốc theo phép “thiêu đan luyện hống”1 Ông đã xúc tiến phát triển việc chế thuốc hóa
học và còn soạn ra quyển trửu hậu phương vừa giản dị, vừa có công hiệu nhanh chóng,
tiện cho việc sử dụng của quảng đại quần chúng nhân dân Trong đó có chép nhiều thứ bệnh truyền nhiễm, như về chứng hậu và đường lối truyền nhiễm của các bệnh đậu mùa đều có chép rất kỹ càng
Đào Hoằng Cảnh (452 - 536 sau CN) nhà dược vật học đời Tấn, chịu ảnh hưởng lớn của Cát Hồng, từ quan đi ở ẩn chuyên tâm nghiên cứu dược học Ông là người có
công lớn trong việc hiệu chỉnh Thần Nông bản thảo Ông cho rằng, Thần Nông vốn
không viết bản thảo, nên đã tiến hành chỉnh lý những bản sách bị cắt xén phiến diện thành tập sách thần nông thuật lại, ngoài giữ lại 365 vị thuốc trong thần nông bản thảo
kinh, bổ sung 365 vị mới, cộng lại thành 730 vị gọi là Thần Nông bản thảo kinh tập
chú Ông sử dụng chữ mực đỏ để chép các vị thuốc nguyên gốc của thần nông bản thảo,
chữ mực đen để chép các vị thuốc do mình thêm vào
YH thời kỳ Tùy, Đường (589 - 709 sau CN) chẳng những đã kế thừa được học thuyết của tiền nhân, mà còn có sự phát triển thêm nữa Sào Nguyên Phương (năm 610)
soạn ra quyển Chu bệnh nguyên hậu luận chép 1720 bài, bàn về triệu chứng các loại
bệnh, trong đó đều có chép rõ ràng cách xem xét phân biệt về bệnh lên đậu, bệnh sởi
1
Thiêu đan luyện hống: Thuật luyện đan do Cát Hồng phát minh, dùng Đan sa đun lâu thành Thủy ngân, để lâu lại trở thành Đan sa
Trang 40(thời kỳ phát ban) và về những bệnh Thương hàn, Ôn bệnh, Phong hủi là bệnh có tính chất truyền nhiễm mà gây nên Đó là một bộ sách sớm nhất chuyên về nguyên nhân và bệnh lý học hiện còn ở Trung Quốc
Tôn Tư Mạc (581 - 682) là một nhà đại danh y ở đời Đường, ông nhận thấy rằng:
“Nhân mạng là rất trọng, quý hơn nghìn vàng, một phương thuốc mà cứu chữa được,
còn quý hơn thế nữa” Vì thế ông mới soạn ra sách Thiên kim yếu phương, Thiên kim
dực phương là một bộ sách có đầy đủ lý luận, phương dược và các cách chữa bệnh
Ông rất coi trọng phụ khoa và nhi khoa, đem những bệnh phụ nữ, trẻ em đặt vào đầu sách, dùng bệnh chứng của tạng phủ để phân loại cũng là do ông sáng tạo ra Ông nêu cao y đức, cứu tử phù nguy, coi mạng người quý hơn ngàn vàng, khi cứu người không hỏi giàu sang, nghèo hèn… Ông cũng khá sớm phát hiện ra những chứng bệnh phát sinh theo vùng miền, chẳng hạn ở miền núi sẽ thiếu (i - ốt), nên đã sử dụng Côn bố, Hải tảo, Tuyến giáp trạng của Dê để chữa; dùng gan bò, gan dê để chữa quáng gà; Hạnh nhân, Phòng phong, Ngô thù du, Thục, Tiêu để chữa tê phù (cước khí)[14, tr.15]
Tiếp sau đó, Vương Đạo (năm 752) soạn ra quyển Ngoại đài bí yếu, sách đó chia
thành 1104 môn, sưu tầm rất đầy đủ những trước tác từ đời Đường trở về trước của nhiều nhà YH nổi danh như Thâm Sư, Thôi Thị, Hứa Nhân Tắc, Trương Văn Trọng đã
bị mất từ trước đời Nam Tống
Đến đời Tống nghề in hoạt bản (typo) phát triển, các sách thuốc nhờ đó mà được truyền bá rộng rãi như từ triều Nhân Tôn đến Anh Tôn (1029 - 1067), triều đình đã triệu tập các ông Cao Bảo Hành, Lâm Ức để tu chỉnh và biên tập các sách thuốc cổ như
Nội kinh, Thương hàn luận Nhiều sách thuốc từ đời Tùy, Đường trở về trước đều đã
qua các ông này chỉnh lý, in và phát hành, đồng thời việc giáo dục YH đã chính thức
mở rộng, các khoa học thuật về phương diện YH đều rất phát triển, nhiều bộ sách lớn
có tính lý luận, hoặc chuyên về phương dược như bộ Thái Bình thánh huệ phương, bộ
Thanh tế tổng lục, và bộ Thái Bình hòa tễ cục phương do các danh y tập thể thực
nghiệm và biên soạn, được triều đình công nhận Chuyên về phụ khoa có bộ Phụ nhân