1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo với đời sống kinh tế - xã hội của người Mường tỉnh Phú Thọ : Luận án TS. Lịch sử: 62 22 70 01

239 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 239
Dung lượng 9,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những kết quả cũng như những hạn chế của công cuộc XĐGN biểu hiện đa dạng ở các tộc người, các địa phương có các điều kiện về địa lý, dân cư, lịch sử - văn hóa khác nhau và liên quan chặ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

Chương 2: Vài nét về người Mường ở tỉnh Phú Thọ và thực trạng đói

nghèo của họ

30

2.2 Về tình hình đói nghèo của người Mường ở tỉnh Phú Thọ trước năm 1999 39

Chương 3: Quá Trình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xóa

đói giảm nghèo ở vùng người Mường tỉnh Phú Thọ

55

3.1 Quá trình hình thành Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm

nghèo ở Việt Nam

55

3.2 Các chủ trương của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Phú Thọ và các huyện

Thanh Sơn, Yên Lập về xóa đói giảm nghèo

68

3.3 Những thành quả của công cuộc xóa đói giảm nghèo ở vùng người

Mường tỉnh Phú Thọ và tác động của chúng

73

3.4 Những hạn chế và bất cập của công cuộc XĐGN 114

Chương 4: Từ kết quả của chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN

đến phương hướng thực hiện chương trình trong tương lai

129

4.1 Chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN giai đoạn 2005 - 2010, cơ sở

để tiếp tục thực hiện công cuộc XĐGN ở các vùng, miền của đất nước

129

4.2 Một số vấn đề đặt ra với công cuộc xóa đói giảm nghèo hiện nay ở

vùng người Mường tỉnh Phú Thọ từ góc độ Dân tộc học

133

Trang 4

ii

DANH MỤC BẢNG

TrangBảng 2.1: Mức độ cư trú tập trung của người Mường ở tỉnh Phú Thọ 33 Bảng 2.2: Nguyên nhân đói nghèo ở hai huyện Thanh Sơn và Yên Lập 43

Bảng 2.3: Một số nguyên nhân của đói nghèo ở huyện Thanh Sơn 51

Trang 5

iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

ATK : An toàn khu

KHXH và NVQG : Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia

LĐTB & XH : Lao động, Thương binh và xã hội

Trang 6

iv QLDACT : Quản lý dự án chương trình THCS : Trung học cơ sở

UBND : Ủy ban nhân dân

VHDT : Văn hóa dân tộc

VHTT : Văn hóa thông tin

WB : Ngân hàng thế giới

XDCB : Xây dựng cơ bản

XĐGN : Xóa đói giảm nghèo

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

1.1 Cuối những năm 80 của thế kỷ XX, Việt Nam nổi lên là một trong

những nước nghèo nhất thế giới Mặc dù là một nước nông nghiệp, nhưng Việt Nam lại luôn lâm vào tình trạng thiếu lương thực, hàng năm phải nhập khẩu gạo, số hộ đói nghèo chiếm trên 50%; ở các tỉnh miền núi và vùng các DTTS, con số này còn lớn hơn rất nhiều

Song chỉ sau không đầy 10 năm từ giữa thập kỷ 90 trở đi, Việt Nam lại nổi lên như là một nước đi tiên phong trong công cuộc chống đói nghèo nhờ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và sự hỗ trợ tích cực của cộng đồng quốc tế Chương trình quốc gia XĐGN đã nhanh chóng làm thay đổi bộ mặt kinh tế các vùng thôn quê, góp phần vào phát triển con người, như tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, giảm dần tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em, tạo ra bình đẳng trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, từng bước thiết lập hệ thống an sinh xã hội tốt hơn và ngày càng nâng cao vị thế của những người lao động ở mọi vùng miền trong việc tham gia các quyết định phát triển kinh tế- xã hội của địa phương ở các vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số, công cuộc XĐGN cũng đạt những kết quả khả quan hơn

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, công cuộc XĐGN ở Việt Nam còn nhiều hạn chế Số hộ nghèo theo chuẩn mới vẫn chiếm 22%; con số này lớn hơn ở miền núi và vùng các DTTS là 28,6 %

Những kết quả cũng như những hạn chế của công cuộc XĐGN biểu hiện

đa dạng ở các tộc người, các địa phương có các điều kiện về địa lý, dân cư, lịch sử - văn hóa khác nhau và liên quan chặt chẽ đến các yếu tố này, cần được xem xét một cách thấu đáo để rút ra được những bài học kinh nghiệm cho việc chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ mang ý nghĩa chính trị - xã hội to lớn

Trang 8

Chính vì những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Chương trình mục tiêu

quốc gia xóa đói giảm nghèo đối với đời sống kinh tế- xã hội của người Mường tỉnh Phú Thọ” làm đề tài Luận án Tiến sĩ, chuyên ngành Dân tộc

học

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Việc nghiên cứu người Mường ở Việt Nam và người Mường ở tỉnh Phú

Trang 9

Thọ đã được nhiều học giả trong và ngoài nước đề cập dưới các góc độ khác nhau Dưới góc độ Dân tộc học, tiêu biểu nhất là các tác phẩm khảo luận

chung về tộc người này như Les Mường- Geographie humaine étociologie

(Người Mường - địa lý xã hội và nhân văn) của J Cusinier [36], “Dân tộc

Mường” trong cuốn Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc)” do Viện Dân tộc học biên soạn [102], Người Mường trên đất Tổ Hùng Vương là

cuốn sách ảnh do UBND tỉnh Phú Thọ và Trung KHXH và NVQG biên soạn

[86], Gia đình và hôn nhân của dân tộc Mường ở tỉnh Phú Thọ của Nguyễn

Ngọc Thanh [44] vốn là Luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Dân tộc học,

Tổ chức xã hội cổ truyền và những biến đổi của nó ở người Mường Thanh Sơn, Phú Thọ của Hà Văn Linh [31] v v Ngoài ra còn có một số cuốn sách

giới thiệu các mặt văn hóa, văn học nghệ thuật của người Mường như ở vùng

đất này như Địa chí Vĩnh Phú của Nguyễn Xuân Lân [29], Địa chí Vĩnh Phú -

văn hóa dân gian vùng đất Tổ do Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Vĩnh Phú xuất

bản [39], Văn hiến làng xã vùng đất Tổ Hùng Vương của Vũ Kim Biên [4]

Các tác phẩm này chủ yếu đề cập đến các khía cạnh môi trường sống, lịch sử

và văn hóa truyền thống của người Mường, không bàn đến vấn đề đói nghèo của tộc người này

Vấn đề thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN cũng đã được triển khai nghiên cứu, tiêu biểu là các công trình sau:

- Hội thảo nghiên cứu giảm nghèo ở nông thôn, từ cách tiếp cận vĩ mô

Sách giới thiệu 45 báo cáo tham luận trình bày tại Hội thảo cùng tên do Viện Dân tộc (ủy ban Dân tộc Trung ương), Chương trình nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan tổ chức tại Đà Nẵng (tháng 5 - 2002) Các báo cáo tập trung thành 4 nhóm: xóa đói giảm nghèo và bảo vệ tài nguyên môi trường; xóa đói giảm nghèo và giới, phát triển con người, xóa đói giảm nghèo và vấn đề chính sách, thể chế cộng đồng; xóa đói giảm nghèo và áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ [12]

Trang 10

- Một số vấn đề giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số Việt Nam do Bùi

Minh Đạo chủ biên cuốn sách tập trung phản ánh tình hình nghèo đói và các phương pháp giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số Việt Nam, đồng thời Cuốn sách cũng chỉ ra được những kinh nghiệm và kỹ năng nghiên cứu vấn đề giảm nghèo bằng các phương pháp khác nhau, trong đó phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân là chính yếu và xuyên suốt [16] Tác giả còn tiếp tục nghiên cứu và trình bày những ý tưởng về XĐGN tại một địa bàn

có tầm quan trọng chiến lược là Tây Nguyên, trong một cuốn sách có tiêu đề

Thực trạng đói nghèo và một số giải pháp giảm nghèo đối với các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên [15]

- Năm 2004, Nhà xuất bản Nông nghiệp công bố cuốn Lắng nghe người

nghèo nói [103] Cuốn sách này là kết quả của chương trình hợp tác nghiên

cứu giữa Viện Kinh tế học (Trung tâm KHXH và NVQG, nay là Viện KHXH Việt Nam) và tổ chức Action Aid Nội dung của cuốn sách phản ánh cuộc sống của những người “đói kinh niên” ở các dân tộc: Kinh, Thái, Khơ Mú, Hmông, Khơ me, Chăm, Ra- glai thuộc các tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Hà Tĩnh, Ninh Thuận, thành phố Hồ Chí Minh, Trà Vinh, từ đó đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp để giúp những người “đói kinh niên” hòa nhập vào cộng đồng

- Kỷ yếu hội thảo Xóa đói giảm nghèo - vấn đề và giải pháp ở vùng dân

Trang 11

tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam Sách do Nhà xuất bản Nông nghiệp ấn hành,

giới thiệu 17 báo cáo tại hội thảo cùng tên chủ đề, do Viện Dân tộc (ủy ban Dân tộc Trung ương) và Ngân hàng thế giới phối hợp tổ chức (năm 2004) Nội dung các báo cáo đề cập đến các vấn đề: nhận thức về nghèo đói, chuẩn nghèo, đặc điểm nghèo đói các vùng DTTS ở Việt Nam nói chung và vùng núi phía Bắc nói riêng, giải pháp xóa đói giảm nghèo, vai trò của Chính phủ

và các tổ chức trong nước, quốc tế trong XĐGN ở các vùng DTTS [100]

- Giải pháp cải thiện đời sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số là Kỷ

yếu Hội thảo do Viện Dân tộc thuộc ủy ban Dân tộc và WB tổ chức (năm 2005) Nội dung của các báo cáo trong Hội thảo tập trung vào vấn đề: sự hưởng ứng, xây dựng, triển khai chương trình XĐGN của các bộ, ngành, đoàn thể và nhân dân ở các địa phương có các DTTS nhằm giúp đỡ các hộ nghèo,

xã nghèo khắc phục khó khăn; đồng thời đề xuất các kiến nghị để tiếp tục công cuộc XĐGN ở các vùng DTTS [101] Cùng liên quan đến nội dung này

còn có các cuốn: Kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu nghèo vùng dân tộc

và miền núi phía Bắc ở nước ta hiện nay của Lê Du Phong và Hoàng Văn

Hoa [35], Các dân tộc thiểu số Việt Nam trong thế kỷ XX, tập hợp bài viết của

các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các vị đứng đầu các tỉnh có DTTS sinh sống và của một số nhà khoa học [5] có đề cập đến XĐGN ở các địa phương này…

Đối với vấn XĐGN ở vùng người Mường tỉnh Phú Thọ, có thể nói, cho đến nay, mới được đề cập đến trong hai luận văn:

- Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế Phát triển kinh tế với việc xóa đói

giảm nghèo ở huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ (từ 1986 đến nay) của Sa Thị

Quyết hoàn thành từ năm 1999 [38] luận văn phân tích thực trạng phát triển

kinh tế gắn với công cuộc XĐGN ở huyện Thanh Sơn từ đó đưa ra một số giải pháp cho con đường đi lên phía trước của huyện Tuy nhiên, Luận văn chỉ đề

Trang 12

cập đến vấn đề được bàn trong thời gian 12 năm, từ khi Thanh Sơn cùng cả nước bước ra khỏi cơ chế quan liêu bao cấp đến năm 1988, khi các công việc của Chương trình 135 chưa được triển khai đồng bộ xuống các xã; hơn nữa, tác giả chỉ nhìn nhận việc XĐGN dưới góc độ kinh tế học, thông qua các số liệu thống kê và các báo cáo tổng kết nhiệm kỳ của cấp ủy và chính quyền địa phương, không khảo sát dân tộc học tại thực địa

- Luận văn Cao cấp lý luận chính trị Vấn đề xóa đối giảm nghèo ở huyện

Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ- thực trạng và giải pháp của Bùi Văn Huấn [27],

tuy cũng đưa ra một số đánh giá về thực trạng phát triển kinh tế với XĐGN ở huyện Thanh Sơn từ năm 1986 đến năm 2002, từ đó đưa ra những quan điểm

cơ bản và giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế gắn với XĐGN ở huyện; song lại nhìn nhận vấn đề dưới góc độ chính trị, không phải góc độ dân tộc học và cũng chỉ thông qua các số liệu thống kê và các báo cáo tổng kết nhiệm

kỳ của cấp ủy và chính quyền địa phương, không khảo sát dân tộc học tại thực địa.Vì vậy, các khuyến nghị, giải pháp trong Luận văn này mang tính chất định hướng chung chung, thiếu tính cụ thể, sát thực

Như vậy, dưới góc độ Dân tộc học, vấn đề XĐGN gắn với việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia ở vùng người Mường tỉnh Phú Thọ gần như còn bị bỏ ngỏ Đây cũng là lý do để tôi chọn vấn đề này làm Luận án Tiến sĩ của mình

3 Mục đích nghiên cứu của luận án

3.1 Làm rõ thực trạng của việc thực hiện các nhiệm vụ của Chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN ở vùng người Mường tỉnh Phú Thọ từ trước đến nay (những mặt được cùng tác động của chúng với đời sống kinh tế - xã hội đối với đồng bào Mường cũng như những hạn chế, những bất cập, cùng nguyên nhân của chúng dưới góc độ Dân tộc học)

3.2 Tạo cơ sở khoa học và cung cấp các tư liệu để các nhà quản lý và

Trang 13

hoạch định chính sách các cấp tham khảo để bổ sung, hoàn thiện và đổi mới các chủ trương, chính sách XĐGN ở vùng người Mường nói riêng, các tộc người thiểu số khác ở tỉnh Phú Thọ nói chung và nêu một số vấn đề có tính chất như là những khuyến nghị cho việc tổ chức thực hiện, góp phần đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả của công cuộc XĐGN, giúp đồng bào Mường ở tỉnh Phú Thọ nhanh chóng thoát nghèo, vươn lên làm giàu, có cuộc sống ấm

no, hạnh phúc và văn minh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là các vấn đề liên quan đến việc thực hiện các chương trình quốc gia về XĐGN ở vùng người Mường tỉnh Phú Thọ (các chủ trương, chính sách, sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy và chính quyền các cấp, các bước tổ chức thực hiện, những kết quả đã đạt được, đặc biệt là những điển hình tiên tiến của đồng bào trong công cuộc XĐGN, tác động của những kết quả đó với đời sống kinh tế- xã hội; cũng như những mặt hạn chế, bất cập của quá trình đó)

Phạm vi nghiên cứu của Luận án về mặt không gian là các huyện: Thanh Sơn, Yên Lập của tỉnh Phú Thọ, nơi tập trung đông đồng bào Mường sinh sống

Về thời gian, Luận án nghiên cứu quá trình thực hiện Chương trình mục

tiêu quốc gia XĐGN ở vùng đồng bào Mường tỉnh Phú Thọ, cụ thể ở địa bàn hai huyện Thanh Sơn và Yên Lập từ năm 1999, khi bắt đầu thực hiện Chương trình 135 - khâu đột phá quan trọng của công cuộc XĐGN đến cuối năm 2005

5 Nguồn tư liệu của luận án

- Nguồn tư liệu đầu tiên của Luận án là các văn bản nghị quyết, thông tư, nghị định về các chủ trương, chính sách, xóa đói giảm nghèo của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cùng các ban ngành có liên quan

ở Trung ương; các Nghị quyết về công tác XĐGN của Tỉnh, UBND tỉnh Phú Thọ và ở hai huyện Thanh Sơn, Yên Lập

Trang 14

- Nguồn tư liệu chính của Luận án là tư liệu điền dã Đó là những tư liệu thu được từ các cuộc thẩm vấn, trao đổi, điều tra hồi cố với các đối tượng đói nghèo, các tấm gương về XĐGN, cán bộ lãnh đạo các xã, huyện, các ngành

có liên quan ở các địa bàn được chọn làm điểm nghiên cứu Luận án còn sử dụng các báo cáo tổng kết, các số liệu thống kê hằng năm của cấp ủy, chính quyền và các ban ngành, đoàn thể có liên quan của các địa bàn được khảo sát

- Luận án kế thừa các kết quả nghiên cứu về XĐGN, về người Mường ở tỉnh Phú Thọ đã được công bố làm nguồn tư liệu

6 Đóng góp của luận án

- Là công trình đầu tiên nghiên cứu về việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN ở vùng người Mường tỉnh Phú Thọ Luận án nghiên cứu có hệ thống và làm rõ các luận cứ khoa học trong việc bổ sung, hoàn thiện các chủ trương, chính sách XĐGN đối với các DTTS; giúp cho cấp ủy, chính quyền, các ngành, các cấp ở tỉnh Phú Thọ có thêm những kinh nghiệm

để vận dụng các chủ trương, chính sách chung của Đảng và Nhà nước vào điều kiện cụ thể của địa phương mình, tiếp tục thực hiện có hiệu quả công cuộc XĐGN ở vùng người Mường và các tộc người khác trên địa bàn

- Luận án góp phần vào việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về đói nghèo và XĐGN ở Việt Nam hiện nay trên bình diện Dân tộc học

Trang 15

giảm nghèo ở vùng người Mường tỉnh Phú Thọ

Chương 4: Từ kết quả của chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN đến

phương hướng thực hiện chương trình trong tương lai

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU VỀ ĐÓI NGHÈO 1.1 Những vấn đề lý luận

1.1.1 Những vấn đề lý luận chung

Luận án được thực hiện trên cơ sở áp dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin về các vấn đề kinh tế - xã hội; chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề dân tộc, về XĐGN

Áp dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin khi xem xét sự phát triển kinh tế - xã hội của một cộng đồng cư dân: Cần phải đặt sự phát triển đó trong mối liên hệ với phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và của đất nước; đồng thời đặt trong bối cảnh của toàn cầu hoá; mặt khác, sự phát triển đó có mối quan hệ chặt chẽ với đặc điểm lịch sử, truyền thống văn hoá của cư dân Cụ thể, khi xem xét Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo với đời sống kinh tế - xã hội của người Mường ở tỉnh Phú Thọ, cần đặt trong đặc điểm tự nhiên, xã hội; trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của huyện, của tỉnh Phú Thọ và của Việt Nam Sự phát triển đó còn chịu ảnh hưởng của toàn cầu hoá, mà thể hiện trực tiếp là qua tác động của quá trình đô thị hoá, của thị trường tự do, của kinh tế thị trường, của các chương trình, dự án phát triển khác

Xem xét các vấn đề nêu trên, cần phải đặt trong mối quan hệ truyền thống lịch sử và văn hoá của tộc người này Đây là tộc người đã có truyền thống lịch sử hàng ngàn năm, có nền văn hoá đặc sắc, bảo lưu nhiều yếu tố văn hoá Việt cổ, trong đó có những giá trị của nền văn hoá Đông Sơn Tuy nhiên, đến năm 1954 (khi miền Bắc được giải phóng), nền kinh tế của tộc người này chủ yếu vẫn là nông nghiệp, theo lối tự cung tự cấp; chưa xuất hiện đội ngũ thương nhân; trong xã hội, tuy đã phân chia thành quý tộc và bình dân

Trang 17

song sự phân hoá giai cấp chưa sâu sắc Sau khi hoà bình lập lại cho đến trước đổi mới, sự đổi thay trong nông thôn người Mường ở Phú Thọ vẫn diễn ra rất chậm chạp Tất cả những yếu tố trên có ảnh hưởng nhất định tới công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay của người Mường tại vùng này

Khi nghiên cứu Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo với đời sống kinh tế - xã hội của người Mường tỉnh Phú Thọ, cần phải đặt trong bối cảnh của đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn

đề dân tộc và XĐGN

Trong đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về vấn đề dân tộc, trọng tâm là vấn đề đại đoàn kết dân tộc, bình đẳng dân tộc và giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc Đại đoàn kết và bình đẳng dân tộc đảm bảo cơ

sở vững chắc cho sự ổn định để phát triển Mặt khác, giúp đỡ nhau cùng phát triển không chỉ là trách nhiệm hay đạo đức của các tộc người trong một quốc gia

đa dân tộc mà còn tiếp tục vun đắp cho đại đoàn kết và bình đẳng về dân tộc Trên cơ sở các đường lối, chính sách cơ bản nêu trên, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã thực hiện những chính sách XĐGN với các dân tộc, trong đó trọng tâm là các tộc thiểu số Các chính sách này được thể hiện qua rất nhiều những chương trình, dự án Trong bối cảnh hiện nay, đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc phải được khẳng định qua sự phát triển Do đặc thù về xuất phát điểm trước khi tiến hành CNH, HĐH đất nước như đã nêu; do bị nhiều hạn chế

về cơ hội nên đến nay, hầu hết các vùng dân tộc thiểu số của Việt Nam đều trong tình trạng kém phát triển Bởi vậy, để hoà nhịp cùng sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trước hết cần thực hiện công cuộc XĐGN ở các dân tộc thiểu

Trang 18

Tiếp cận Dân tộc học: Đó là xem xét các yếu tố tộc người (cụ thể ở đây là

của người Mường), trong đó tập trung vào yếu tố văn hóa có ảnh hưởng như thế nào đến đói nghèo và cách tiếp nhận các chủ trương chính sách XĐGN của Đảng và Nhà nước cùng hiệu quả của sự tiếp nhận đó ở vùng người Mường tỉnh Phú Thọ Ở đây, văn hoá tộc người được xem xét dưới những khía cạnh như các tập quán canh tác, trợ giúp, trao đổi, mua bán, tiêu dùng

Trong tiếp cận Dân tộc học, Luận án còn chú trọng đến quan hệ tộc

người (gồm quan hệ nội bộ tộc người và quan hệ giữa các tộc người) với đói

nghèo Các huyện Thanh Sơn, Yên Lập của tỉnh Phú Thọ là địa bàn cư trú của

ba tộc người chính (Kinh, Mường và Dao) Trong quá khứ cũng như hiện tại, các tộc người này từng có quan hệ về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội với nhau; cùng đoàn kết, tương trợ lẫn nhau để xây dựng vùng đất này Ngày nay, với sự hỗ trợ của Đảng và Nhà nước, nhân dân các dân tộc đang sát cánh cùng nhau trong công cuộc XĐGN Để thấy được những mặt thuận và không thuận của công cuộc XĐGN tại vùng đồng bào Mường, Luận án xem xét quan hệ giữa người Mường với các tộc người Kinh và Dao trên địa bàn, trong đó tập trung vào mối quan hệ kinh tế

Tiếp cận phát triển con người: Cách tiếp cận này nhằm phân tích và trả

lời các câu hỏi sau:

Khả năng của người Mường tỉnh Phú Thọ trong việc tiếp nhận các chính sách xóa đói giảm nghèo, cụ thể là tiếp nhận các nguồn lực phát triển và các dịch vụ xã hội do công cuộc XĐGN đem lại; có những bất cập gì trong việc tiếp nhận đó; vì sao có hộ gia đình thoát nghèo, vươn lên làm giàu, trong khi một bộ phận khác khó hòa nhập vào tiến trình phát triển của địa phương, của đất nước, khó thoát khỏi đói nghèo hoặc bị tái đói nghèo ?

Các ứng xử của các tổ chức xã hội nhằm giúp đỡ các nhóm hộ nghèo thực hiện được quyền của mình trong các chương trình XĐGN

Trang 19

Tiếp cận hệ thống (gắn với tiếp cận liên ngành): Đặt vấn đề đói nghèo

trong mối liên hệ với nhiều yếu tố, như môi trường sống, lịch sử cư dân, thể chế chính trị - xã hội (nhất là các chủ trương chính sách của Nhà nước ở mỗi thời điểm), với văn hóa, tín ngưỡng và tôn giáo của mỗi cộng đồng dân cư

1.1.2 Những vấn đề lý luận về đói nghèo

1.1.2.1 Khái niệm “Đói nghèo”

Để tìm hiểu thực trạng đói nghèo và tìm ra các nguyên nhân của đói nghèo của mỗi tộc người, mỗi cộng đồng cư dân, cần thiết phải có những quan niệm chung về đói nghèo, từ đó hình thành các chủ trương, chính sách nhằm XĐGN phù hợp với từng tộc người, từng vùng và từng địa phương Tuỳ theo quan niệm và cách tiếp cận mà có những định nghĩa khác nhau

về đói nghèo

Theo quan điểm của UNDP, đói nghèo là tổng hợp của nhiều yếu tố: đói nghèo không chỉ là thiếu thu nhập, mà còn là sức khoẻ yếu, bị mù chữ, thiếu tiếp cận với những dịch vụ xã hội cơ bản, ít cơ hội tham gia vào quá trình ảnh hưởng tới đời sống của con người [104]

Theo Báo cáo Phát triển Việt Nam 2004, “Nghèo đói là tình trạng kiệt

quệ bao gồm nhiều khía cạnh, từ thu nhập hạn chế đến tính dễ bị tổn thương khi gặp phải những tai ương bất ngờ và ít có khả năng tham gia vào quá trình

ra quyết định chung” [105, tr 11] Vẫn trong báo cáo này, ở trang 7, lại có

Trang 20

cách diễn đạt khác: “Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện Thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng những lúc khó khăn, và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới những người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị

sỉ nhục, không được người khác tôn trọng ”

Còn theo Bùi Minh Đạo “ với nghĩa tương đối, nghèo đói là phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hay nhóm dân cư khác trong một quốc gia,

kể cả quốc gia nghèo khó nhất, vì thế, không thể xoá bỏ được tình trạng này Một định nghĩa khác cho rằng nghèo đói là kết quả của tình trạng bất bình đẳng về xã hội và kinh tế trong quá trình phát triển của nhân loại, có thể xoá

bỏ được bằng cách chính phủ và tổ chức quốc tế thực hiện những chính sách

và cơ chế phù hợp nhằm xoá bỏ chính sự bất bình đằng về xã hội và kinh tế

đó Hiểu một cách chung nhất thì nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư

vì những lý do nào đó không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, những nhu cầu mà xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế, xã hội và phong tục tập quán của chính xã hội đó” [15, tr 44 - 45]

Từ những định nghĩa trên đây, có thể khái quát: Đói nghèo là tình trạng

của một cá nhân hay nhóm người không được hưởng thụ những nhu cầu cơ

bản, tối thiểu của cuộc sống đã được xã hội thừa nhận - tùy theo trình độ phát

triển kinh tế ở từng quốc gia, vùng miền, dân tộc

Các nhu cầu cơ bản, tối thiểu của cuộc sống bao gồm:

Nhu cầu về ăn: Thể hiện ở số lượng và chất lượng lương thực, thực

phẩm dùng hằng ngày, trong đó có thể định lượng bằng việc tiêu thụ calo (mức tối thiểu là 2.100 calo/ người/ ngày)

Trang 21

Nhu cầu về mặc: Thể hiện ở số lượng và chất lượng quần áo (cùng các

đồ dùng khác) có khả năng ứng phó với các thay đổi của khí hậu, thời tiết từng mùa

Nhu cầu về ở: Thể hiện ở chất lượng nhà ở cùng các trang thiết bị trong

nhà có khả năng ứng phó với các điều kiện của thời tiết và khả năng chống đỡ trước những thiên tai bất thường (bão, lũ, hạn hán )

Nhu cầu về vệ sinh: Các điều kiện về vệ sinh (nguồn nước sạch cho sinh

hoạt, các trang thiết bị vệ sinh ) bảo đảm cho con người giữ được sức khỏe, có khả năng phòng ngừa bệnh tật hay không bị tác động xấu của bệnh tật Nhu cầu

về vệ sinh có liên quan quan trực tiếp đến các nhu cầu về ăn, ở, mặc và y tế

Nhu cầu y tế: Khả năng được tiếp cận các dịch vụ y tế (khám, chữa bệnh,

sử dụng các loại thuốc) để giữ gìn, phục hồi và nâng cao sức khỏe khi bệnh

tật xảy ra

Nhu cầu về giáo dục đào tạo: Khả năng được học hành cho con em và

bản thân để nâng cao kiến thức về cuộc sống, được trang bị hay nâng cao một lĩnh vực chuyên môn để có thể sống

Nhu cầu về đi lại, giao tiếp: Không có các phương tiện hay không đủ

tiền để thuê các phương tiện cần thiết cho các nhu cầu bình thường của cuộc sống hay để giải quyết các quan hệ riêng, do vậy, những người thuộc tình cảnh này thường có ít các mối quan hệ xã hội

Nhu cầu về giải trí, về văn hóa tinh thần: Khả năng được tiếp cận các

dịch vụ vui chơi giải trí, về văn hóa, thể dục thể thao

Khi nói đến đói nghèo, cần phân biệt hai dạng: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối

Nghèo tuyệt đối là tình trạng không được đáp ứng các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống Trong trường hợp này, nghèo tuyệt đối đồng nghĩa với

tình trạng đói và thiếu đói, tức có mức sống dưới mức tối thiểu, không đảm bảo

Trang 22

nhu cầu vật chất, đặc biệt là nhu cầu về dinh dưỡng và năng lượng để duy trì cuộc sống Đó là những hộ hằng năm thiếu ăn từ 1- 2 tháng, hay bị nợ cộng đồng các khoản khác nhau mà không có khả năng chi trả Nhiều trường hợp thiếu đói

từ 3- 5 tháng trở lên và kéo dài từ năm này qua năm khác, gọi là đói kinh niên

Nghèo tương đối là tình trạng có mức sống dưới trung bình của cộng đồng tại một địa phương được xem xét, khả năng tiếp cận hoặc được đáp ứng các nhu cầu cơ bản và tối thiểu của cuộc sống rất hạn chế

Cả nghèo tuyệt đối và tương đối đều phản ánh sự bất bình đẳng về mức sống Do nhu cầu về vật chất và tinh thần của các tầng lớp cư dân khác nhau

và biến động tùy thuộc vào các nhóm thu nhập, các giai đoạn phát triển, các điều kiện về tự nhiên, lịch sử nên sự đói nghèo cũng tùy thuộc vào các mức

độ mà nhu cầu của cuộc sống được áp dụng

1.1.2.2 Các tiêu chí đánh giá đói nghèo

Đói nghèo chỉ là khái niệm tương đối, vì nó biểu hiện những mức độ khác nhau, theo những tiêu chí khác nhau ở từng quốc gia, dân tộc, vùng miền

và từng giai đoạn lịch sử, tương ứng với biến đổi về sự phát triển kinh tế-xã hội Một người hay một cộng đồng được coi là nghèo ở nước này, vùng này nhưng lại có thể là “trung bình” hay “giàu” ở nước khác, vùng khác; hay các điều kiện ăn, mặc, ở, giáo dục, y tế ở thời điểm này có thể được xem là tiêu chí của sự “giàu”, nhưng ở một giai đoạn sau lại là bình thường của cuộc sống Khi xem xét tình trạng đói nghèo và xác định tiêu chí đói nghèo ở mỗi quốc gia, vùng miền hay cộng đồng cư dân, phải thống nhất một số quan điểm sau:

- Trước hết, phải xem xét điều kiện kinh tế, trong đó, dấu hiệu về mức sống, thể hiện ở các nhu cầu cơ bản, tối thiểu về đời sống vật chất

- Xác định tiêu chí đánh giá thực trạng đói nghèo phải dựa vào thu nhập bình quân tính theo đầu người trong tháng hoặc từng năm của từng vùng

Trang 23

miền, thể hiện ở các khu vực nông thôn và đô thị, miền núi và đồng bằng Tiêu chí này liên hệ mật thiết với tiêu chí về chế độ dinh dưỡng năng lượng (tức số ca lo của mỗi người trong mỗi ngày)

- Cụ thể hóa tiêu chí thành số lượng dùng làm thước đo bằng cách quy ra hiện vật, vật phẩm tiêu dùng, thường được tính bằng lượng lương thực (phổ biến nhất quy ra gạo) bình quân đầu người hằng năm (hoặc hằng tháng); hoặc bằng giá trị tiền bình quân đầu người tương đương với gạo ở từng thời điểm

- Từ chỉ số thu nhập chia ra các khoản tiêu dùng phản ánh mức độ được đáp ứng các yêu cầu tối thiểu của cuộc sống, xem số chi cho ăn uống chiếm tỷ

lệ bao nhiêu trong tổng cơ cấu tiêu dùng của đối tượng cư dân được xem xét,

từ đó thấy được thực trạng đói nghèo và độ chênh có tính chất vùng, khu vực, giữa các đối tượng được nghiên cứu khác nhau

Khi xét vấn đề giàu nghèo trên bình diện kinh tế, các nhà nghiên cứu xác định thước đo giàu nghèo thường bắt đầu từ việc vạch ra giới hạn của nghèo khổ, được biểu hiện bằng thu nhập tính theo đầu người của gia đình Nếu các gia đình có bình quân thu nhập đầu người dưới giới hạn nghèo khổ thì được coi là đói nghèo; còn quy mô của nghèo khổ được tính theo tỷ lệ số hộ nghèo đói trong tổng số hộ của địa phương hay toàn quốc gia

Từ sự phân tích định tính đến phân tích định lượng, các nhà xã hội học

và các nhà kinh tế học đã đưa ra cách tính phổ biến trên thế giới:

- Cách thứ nhất: Giới hạn nghèo khổ được xác định tương đương với

mức thu nhập của những người làm dịch vụ xã hội trong những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ XX

- Cách thứ hai: Lấy số liệu chi lương thực, thực phẩm đủ sống cho một

gia đình nhân với 3 lần sẽ ra mức giới hạn nghèo khổ (còn gọi là thu nhập tối thiểu của đời sống)

Ngoài ra, một số nước còn căn cứ vào lượng ca lo tối thiểu cần thiết cho

Trang 24

cơ thể con người mỗi ngày để tìm giới hạn của sự nghèo khổ Người nào có mức tiêu dùng bình quân một ngày thấp hơn mức calo hấp thụ thì được coi là nghèo đói Tiêu chí về ngưỡng nghèo theo Ngân hàng Thế giới là dưới 2.100 calo/người/ngày (năm 1991)

Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia bằng thu nhập quốc dân tính theo đầu người theo hai cách:

- Phương pháp ATLAS: Tính thu nhập bằng USD và theo tỷ giá hối đoái

- Phương pháp PPP (Purcha sinh Power Padity): Xem xét sức mua của

cư dân theo USD

Việc nhận diện người đói nghèo, hộ đói nghèo và hiện trạng đói nghèo của cư dân nông thôn, nhất là ở các nước nông nghiệp lạc hậu còn có thể xác định ở trạng thái kinh tế tự nhiên của họ

Ở Việt Nam, căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội và hiện trạng đời sống trung bình phổ biến của cư dân, các nhà nghiên cứu và chính sách đã xác lập các chỉ tiêu đánh giá về đói nghèo căn cứ vào thu nhập, nhà ở và các tiện nghi sinh hoạt - tư liệu sản xuất và vốn liếng tích lũy Mỗi yếu tố trong tiêu chí này

và đô thị

Trong khi đó, vào năm 1995, WB đưa ra ngưỡng nghèo của Việt Nam là mức chi tiêu cần thiết cho hộ gia đình đủ mua lương thực, thực phẩm để bảo đảm đủ 2.100 calo/ngày/người Số chi tiêu lương thực, thực phẩm này chiếm

Trang 25

khoảng 70% tổng thu nhập, còn lại 30% để chi về mặc, đi lại, giáo dục và y tế Căn cứ vào điều kiện riêng của đất nước, Việt Nam đã đưa ra chuẩn để xác định nghèo, có điều chỉnh theo từng vùng miền và từng thời điểm Các chuẩn nghèo ở Việt Nam đã qua 3 lần thay đổi:

Lần thứ nhất: Theo quy định tại Thông tư số 1751/LĐTBXH ngày 20

tháng 5 năm 1997 của Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội, hộ đói là hộ không đủ cơm ăn, không đủ áo mặc, con cái thất học, không có tiền để chữa bệnh, nhà ở rách nát; quy đổi bằng gạo thì các hộ này có mức thu bình quân đầu người dưới 13 kg gạo/tháng, quy thành tiền là 45.000 đồng Hộ nghèo là

hộ thiếu ăn nhưng không đứt bữa, không đủ áo lành và áo ấm, không có khả năng phát triển sản xuất; tính theo thu nhập thì ở vùng nông thôn miền núi và hải đảo bằng dưới 15 kg gạo/người/tháng, tương đương với 55.000 đồng; tương tự, đối với vùng nông thôn đồng bằng và trung du là dưới 20 kg gạo và 70.000 đồng; đối với thành thị là dưới 25 kg gạo và 90.000 đồng

Lần thứ hai: Theo quy định tại Quyết định số 1134 - 2000/QĐ -

LĐTBXH ngày 01 tháng 11 năm 2000 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội (áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2001), hộ nghèo ở vùng nông thôn miền núi có thu nhập 80.000 đồng/người/tháng; tương tự, ở vùng đồng bằng là 100.000 đồng và ở đô thị là 150.000 đồng

Lần thứ ba: Quyết định 170/2005/ QĐ- TTg ngày 8/7/2005 của Thủ

tướng Chính phủ quy định hộ nghèo ở khu vực nông thôn có thu nhập đầu người một tháng từ 200.000 đồng trở xuống; ở khu vực thành thị là 260.000 đồng Các văn bản của các ban ngành có liên quan đến XĐGN cũng đưa ra các khái niệm “Xã nghèo” và “Vùng nghèo” Xã nghèo là xã có tỷ lệ số hộ đói nghèo chiếm từ 40% trở lên, thiếu cơ sở hạ tầng (giao thông đi lại khó khăn, không có điện thắp sáng, thiếu nước sạch cho sinh hoạt, không có đủ các công trình dân sinh kinh tế như trường học, trạm y tế, chợ xã hoặc chợ liên xã

Trang 26

Vùng nghèo là một vùng liên hoàn của nhiều làng, xã, huyện có nhiều yếu tố khó khăn, bất lợi cho phát triển của cộng đồng, như địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, thiếu ruộng đất canh tác, đất đai suy kiệt, không đủ nước cho sinh hoạt và sản xuất, không có đủ các công trình hạ tầng cơ sở phục vụ sản xuất, đời sống, trình độ dân trí thấp, sản xuất tự cung tự cấp, mức sống thấp so với mức sống chung của cả nước song trong từng thời điểm

1.1.2.3 Nguồn gốc của đói nghèo

Đói nghèo và phân hóa giàu nghèo là hiện tượng phổ biến ở tất cả các tộc người, các chế độ xã hội, các nước và các thời kỳ lịch sử Có nhiều cách

lý giải về nguồn gốc của đói nghèo, phụ thuộc vào quan điểm chính trị hay nhân sinh quan hoặc thế giới quan của mỗi người, mỗi giai cấp, tầng lớp xã hội Không ít người cho rằng, đói nghèo, giàu nghèo là do “số phận” Các nhà triết học tư sản coi giàu nghèo là một quy luật tất yếu của chế độ tư hữu xuất hiện từ khi có xã hội loài người và là quy luật “bất biến” Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê nin như “Tuyên ngôn Cộng sản”, “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” đã chỉ rõ nguồn gốc sâu xa của đói nghèo là chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và do chế độ người

áp bức bóc lột người, chỉ xuất hiện khi sức sản xuất phát triển, phá tan chế độ công xã nguyên thủy Khi xã hội chuyển sang chủ nghĩa tư bản, sự phân biệt giàu nghèo ngày rõ rệt Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lê nin cũng chỉ rõ, chỉ có xóa bỏ chế độ tư hữu và chế độ bóc lột mới có thể giải phóng giai cấp

vô sản và quần chúng lao động thoát khỏi đói nghèo, làm cho họ trở thành người lao động tự do và làm chủ, tiến tới một xã hội công bằng dân chủ và văn minh

Những lý giải của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lê nin là đúng đắn,

tuy nhiên chưa đầy đủ Đói nghèo còn có nguyên nhân ở sự phát triển không đều giữa các vùng miền đến sự chênh lệch về giàu nghèo như

Trang 27

- Về môi trường sống (điều kiện địa lý tự nhiên): Có những vùng có điều

kiện thuận lợi cho sản xuất (đủ nguồn đất, nguồn nước để trồng trọt, chăn nuôi, khí hậu ôn hòa; đủ nguyên liệu để làm nghề thủ công; điều kiện giao thông đi lại thúc đẩy lưu thông hàng hóa, từ đó lại thúc đẩy trở lại phát triển sản xuất, hình thành các trung tâm công thương nghiệp) Trong khi đó, nhiều vùng, nhất là các vùng miền núi, không thể có được những điều kiện thuận lợi như trên Tại đây, đất đai canh tác ít, lại chịu tác động nặng nề của thiên tai (mưa lũ làm rửa trôi, xói mòn đất…), nguồn nước sinh hoạt và sản xuất không

đủ, nhất là về mùa khô, khí hậu khắc nghiệt với nhiều biến cố bất thường luôn xảy ra (hạn hán, lũ quét, lũ ống, sương muối, dịch bệnh…), ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, mùa màng, gia súc, thậm chí, hủy hoại công trình cơ

sở hạ tầng một cách nghiêm trọng Có thể nêu một số ví dụ liên quan đến người Mường ở tỉnh Phú Thọ Tại xã Mỹ Lung huyện Yên Lập, trận lũ ngày

28 tháng 9 năm 2005 đã phá hỏng toàn bộ các công trình của Chương trình

135 được đầu tư trong 6 năm (1999 - 2005); giao thông đi lại khó khăn không tạo điều kiện thuận lợi để tiêu thụ sản phẩm nên không thúc đẩy trở lại để sản xuất phát triển Tại xã Xuân Viên (huyện Yên Lập), do địa hình dốc nên hàng năm một số diện tích thường bị lũ quét Điển hình nhất gần đây là trận lũ quét ngày 20 - 4 - 2005 ở khu Vai Đạng, làm cả đập tràn bị bật tung, 2 nhà gần suối cùng một số diện tích lúa bị lũ cuốn Cơn bão số 7 (năm 2006) làm vỡ đập tràn giáp ranh Xuân An, gây thiệt hại ước tính hằng trăm triệu đồng, là con số lớn đối với một xã vùng cao Xã Võ Miếu (huyện Thanh Sơn) có sông Dân từ xã Khả Cửu chảy dọc xã và sông Bứa ở phía Tây Bắc, đem lại nguồn nước tưới cho xã, nhưng trong mùa mưa lũ thường ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống Nước lũ lên không chỉ quét lúa và hoa màu ở các chân ruộng ven suối mà còn chia cắt và làm “cô lập” nhiều khu dân cư do ba cầu treo (bắc tạm) bị ngập Nhiều trận nước lũ lên bất ngờ và kéo dài 2 - 3 ngày,

Trang 28

cả cán bộ và một bộ phận đông đảo học sinh các xóm phải ở lại trụ sở hay trường học ở khu trung tâm, UBND xã phải dự trữ và huy động lương thực, thực phẩm để nuôi lượng người ở lại bất đắc dĩ này

- Về lịch sử: Nhiều quốc gia, tộc người hay nhóm cư dân do cư trú tại

những vùng không chịu ảnh hưởng của các cuộc chiến tranh hay các cuộc thiên di (dẫn đến tranh chấp khốc liệt) nên có điều kiện để phát triển kinh tế; trong khi đó, rất nhiều quốc gia, tộc người, nhóm cư dân từ khi tụ cư tại một vùng đất liên tục phải chịu đựng những cuộc chiến tranh xâm lược, các cuộc tranh chấp của các quốc gia, tộc người khác, phải dồn các nguồn lực, thời gian cho việc chống xâm lược, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống, là nhân tố quan trọng tác động đến đói nghèo, lạc hậu Có thể lấy Việt Nam là ví dụ điển hình

- Về cư dân (gắn liền với phương diện văn hóa, nhất là các yếu tố về

phong tục, tín ngưỡng và tôn giáo) cũng là những tác nhân có tác động lớn đến đời sống, đến đói nghèo Các cộng đồng cư dân không có những biểu hiện phức tạp về tín ngưỡng, tôn giáo sẽ dễ ổn định để phát triển sản xuất; các phong tục tập quán “thuần hậu”, hằng năm sẽ không phải dùng một nguồn lớn tiền của để chi vào các việc tế lễ, tang ma, cưới xin mà dành vào phát triển sản xuất để xóa đói giảm nghèo Điều này sẽ là ngược lại đối với các cư dân

có những phức tạp về tín ngưỡng và tôn giáo, phong tục biến thành hủ tục

Có thể thấy rõ sự không đồng đều rõ nhất là giữa châu Âu với các châu lục khác, trong phạm vi hẹp hơn là giữa vùng nông thôn với đô thị, giữa miền núi với đồng bằng ở mỗi nước Ngay cả khi không còn chế độ bóc lột thì ở mọi quốc gia, thể chế xã hội và tộc người, dân tộc, thậm chí trong một khu vực hẹp (một làng xã hay một huyện) vẫn luôn có một bộ phận dân cư vì nhiều lý do khác nhau đã không thể tiếp cận được với các điều kiện chung của

xã hội nên bị lâm vào đói nghèo và khó có cơ hội thoát nghèo hoặc đã thoát nghèo nhưng lại tái nghèo

Trang 29

Theo quan điểm trong “Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010” của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nguyên nhân cơ bản của tình trạng đói nghèo ở nước ta bao gồm: 1 Do thiếu kiến thức, tay nghề và kinh nghiệm làm ăn; 2 Các hộ nghèo chưa tiếp cận được nền sản xuất hàng hoá và còn gặp khó khăn về thị trường; 3 Một số hộ nghèo thiếu vốn cho đầu tư sản xuất, tư liệu sản xuất còn thô sơ; 4 Hạ tầng cơ

sở (trạm y tế, trường học, thuỷ lợi, giao thông, điện ) ở các xã nghèo còn thiếu và chất lượng kém [6, tr.10 - 11]

1.1.2.4 Những yếu tố liên quan đến đói nghèo

Theo quan điểm của UNDP, sự phát triển kinh tế là rất quan trọng cho việc đảm bảo giảm nghèo bền vững, song không phải là tất cả Người nghèo không nên chỉ được hưởng lợi bình đẳng về kinh tế, mà còn phải được tham gia phân phối lợi ích đó Công bằng là vấn đề quan trọng cho phát triển kinh

tế và đảm bảo giảm nghèo có hiệu quả [106]

Nhìn vào điều kiện của Việt Nam, trong Báo cáo Phát triển của Việt Nam năm 2000, nhóm công tác của các chuyên gia Chính phủ - Nhà tài trợ -

Tổ chức phi chính phủ đã cho rằng, tạo cơ hội, đảm bảo sự bình đẳng (trong

đó có bình đẳng giới) và giảm bớt nguy cơ bị tổn thương là những vấn đề liên quan mật thiết tới xoá đói giảm nghèo [107 ]

Khi nghiên cứu kế hoạch chiến lược giảm nghèo ở Việt Nam, các tác giả Rob Swinkels và Carrie Turk đã nêu lên những vấn đề trực tiếp liên quan đến đói nghèo, đó là giáo dục, công bằng giới, y tế, vấn nạn HIV/ AID và sự bền vững của môi trường Bên cạnh đó, các tác giả còn nêu lên các vấn đề gián tiếp liên quan đến đói nghèo, như tính dễ bị tổn thương, sự quản trị, văn hoá

và đa dạng tộc người, sự phát triển cơ sở hạ tầng [108 ] Tuy nhiên, lại có ý kiến cho rằng, việc nhìn nhận các yếu tố liên quan đến đói nghèo phụ thuộc vào quan điểm từng đối tượng, và theo đó, có sự khác biệt giữa quan chức và

Trang 30

người dân Trong khi các quan chức nhấn mạnh vào các yếu tố như nhận thức,

cơ sở hạ tầng, vốn , thì người dân lại quan niệm là an ninh lương thực, những điều kiện cơ bản cho sản xuất và sinh kế, các hoạt động về kinh tế, và điều kiện về giáo dục, sức khoẻ mới có vị trí quan trọng tới giảm nghèo [109 ]

Còn theo Nhóm hành động chống đói nghèo Đánh giá nghèo theo vùng

ở Vùng Miền núi phía Bắc năm 2003, và Vùng đồng bằng sông Hồng năm

2005, vấn đề nghèo đói của các cư dân nông thôn, trong đó có nông thôn dân tộc thiểu số liên quan đến những yếu tố sau đây:

- Việc cung cấp các dịch vụ cơ bản;

- Các trợ cấp có mục tiêu;

- Sự tham gia của người dân trong quá trình quyết định

Cụ thể là:

Việc cung cấp các dịch vụ cơ bản như:

Giáo dục: đây là vấn đề có liên quan mật thiết tới XĐGN Giáo dục được

coi như là chỉ báo cho tình trạng đói nghèo, đồng thời có tác động trực tiếp cũng như sâu xa đến tình trạng đó Khi xem xét vấn đề giáo dục trong bối cảnh nêu trên, cần phân tích tình trạng đến trường và chất lượng của học sinh địa phương, chi phí cho giáo dục của người dân, sự tham gia của cộng đồng trong lĩnh vực giáo dục và tỉ lệ biết chữ của người lớn

Chăm sóc sức khoẻ: điều kiện y tế có liên quan mật thiết đến tình trạng sức

khoẻ của người dân; điều đó cũng có nghĩa liên quan đến điều kiện sản xuất, vấn

đề tài chính của hộ gia đình, cá nhân Khi xem xét vấn đề y tế, cần quan tâm đến việc sử dụng các dịch vụ y tế và chi phí y tế từ tiền túi của người dân

Nước sạch và vệ sinh: nước sạch và vệ sinh có quan hệ với chăm sóc sức

khoẻ của người dân và có ảnh hưởng trực tiếp đến XĐGN Với các dân tộc thiểu số, nước sạch là một vấn đề nghiêm trọng vì tập quán dùng nguồn nước

Trang 31

mạch hay nước giếng vẫn phổ biến; mặt khác, nhiều nơi chưa có nhà vệ sinh hay nhà vệ sinh không đảm bảo Cả hai khía cạnh nêu trên đều ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân

Khuyến nông, khuyến lâm: yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp đến năng

suất và thu nhập của người dân, đặc biệt với người dân mà sinh kế dựa phần lớn vào canh tác nông nghiệp và phát triển lâm nghiệp Tuy nhiên, tiến hành khuyến nông, khuyến lâm cần phù hợp với truyền thống canh tác, đời sống văn hoá và năng lực sản xuất, kinh doanh của người dân

Cơ sở hạ tầng và nhà ở của người dân: cơ sở hạ tầng bao gồm mạng lưới

điện, đường giao thông, trường học, trạm xá Những cơ sở này ảnh hưởng tới sản xuất, truyền thông, tiếp cận thị trường, giáo dục và chăm sóc sức khoẻ của người dân Nhà ở của cư dân không chỉ phản ánh tình trạng đói nghèo mà còn ảnh hưởng đến tình trạng đó: Việc thiếu ổn định nơi cư trú, việc chi phí cho làm nhà cửa có tác động đến vấn đề nghèo đói

Các trợ cấp có mục tiêu

Chương trình XĐGN: đây là các chương trình của Nhà nước có liên quan

trực tiếp hay gián tiếp đến XĐGN Những chương trình này, ngoài đầu tư vào

cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực còn có những hỗ trợ cho người nghèo để nâng cao sinh kế

Chương trình nhà ở: ngoài Chương trình 134, còn có một số những

chương trình trình khác cũng quan tâm đến nhà ở của người nghèo, như việc giúp xây nhà tình nghĩa cho những đối tượng là thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với nước

Tiếp cận tín dụng: Tín dụng có vai trò quan trọng trong XĐGN, vì người

nghèo rất cần vốn để phát triển sản xuất Tuy nhiên, làm thế nào để người nghèo tiếp cận tốt dịch vụ này là một thách thức và có liên quan mật thiết với vai trò của tín dụng

Trang 32

Hỗ trợ khẩn cấp: Người nghèo thường rất dễ bị tổn thương trước những

cú “sốc” như thiên tai, dịch bệnh, thị trường Bởi vậy, Nhà nước cần có hỗ trợ

để giúp họ, và sự hỗ trợ ấy có vai trò nhất định đến XĐGN

Chương trình trợ cấp xã hội: Chương trình này thường trợ cấp cho

những hộ nghèo, đặc biệt là những hộ thuộc đối tượng như người già cô đơn, người tàn tật, người không nơi nương tựa, hộ gia đình gặp rủi ro Với những người nghèo thuộc đối tượng này, trợ cấp xã hội có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo đời sống của họ

Sự tham gia của người dân trong quá trình ra quyết định

Những người nghèo thường ít có tiếng nói trong các tình huống ra quyết định của tập thể hay cộng đồng Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến những hoạt động XĐGN Việc phát huy tiếng nói của người nghèo có liên quan mật thiết đến thực hiện dân chủ ở cơ sở và quá trình thực hiện quyết định của Chính phủ trong thực tế Đảm bảo tiếng nói của người nghèo còn thể hiện sự gia tăng việc tham gia của họ trong những hoạt động kinh tế - xã hội có liên quan

Tóm lại, dù là quan điểm hay cách thể hiện còn có khác biệt, song điểm

chung của các ý kiến nêu trên là việc XĐGN đều có liên quan đến sự phát huy

5 Vốn vật chất (cơ sở hạ tầng, nhà cửa, tiện nghi )

1.2 Các phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo với đời sống kinh tế - xã hội của người Mường tỉnh Phú Thọ, Luận án được thực hiện theo các phương pháp chủ yếu sau đây:

Trang 33

- Phương pháp điền dã dân tộc học Đây là phương pháp truyền thống

trong các công trình nghiên cứu về dân tộc học Trong nghiên cứu về đói nghèo, những công cụ và thao tác sau đây của phương pháp điền dã dân tộc học đã được áp dụng:

+ Quan sát: Việc quan sát được thực hiện tại các cộng đồng mà nghiên cứu đã lựa chọn Đó là quan sát cảnh quan làng bản của người Mường; điều kiện đất đai, canh tác; những hoạt động sản xuất và kinh doanh của người dân; tình trạng nhà cửa và sinh hoạt của các hộ gia đình giàu, trung bình và nghèo; các công trình, kết quả của Chương trình 135 và của những chương trình, dự án XĐGN khác

+ Chụp ảnh: Các ảnh được chụp tập trung vào cảnh quan làng xóm; nhà cửa của một số loại hộ gia đình; các hoạt động sản xuất và sinh hoạt; những công trình công cộng được xây dựng bởi nguồn vốn của Chương trình 135 Qua đó, sẽ xây dựng cơ sở dữ liệu cho phần phụ lục ảnh để phản ánh tác động của chương trình XĐGN với người Mường ở tỉnh Phú Thọ

+ Phỏng vấn sâu( hay trò truyện dân tộc học) : Đây là công cụ chủ chốt của phương pháp nghiên cứu điền dã dân tộc học Phỏng vấn sâu được thực hiện với các đối tượng sau đây:

Phỏng vấn lãnh đạo các cấp tỉnh, huyện, xã và xóm Để thực hiện các cuộc phỏng vấn này, tác giả luận án đã thiết kế các câu hỏi cho phỏng vấn cấu trúc và bán cấu trúc Các câu hỏi cấu trúc chủ yếu tập trung vào việc xác định những đặc điểm trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; những vấn đề của công cuộc XĐGN tại địa bàn được nghiên cứu, như việc thực hiện đường lối, chính sách, chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước; việc xây dựng và triển khai các chính sách xoá đói giảm nghèo Các câu hỏi bán cấu trúc thiết kế cho phỏng vấn liên quan đến đánh giá của người được phỏng vấn về thành tựu cũng như hạn chế của công cuộc XĐGN tại địa

Trang 34

phương

Phỏng vấn hộ gia đình: Bao gồm phỏng vấn các loại hộ giàu, trung bình

và nghèo Để phỏng vấn hộ gia đình, câu hỏi thiết kế cũng bao gồm cả cấu trúc và bán cấu trúc Câu hỏi cấu trúc tập trung vào lịch sử đời sống của hộ gia đình; tình hình kinh tế của hộ gia đình hiện nay Câu hỏi bán cấu trúc chủ yếu xem xét ý kiến của người được phỏng vấn về công cuộc XĐGN ở địa phương; tính công bằng, dân chủ trong thực hiện XĐGN Các đối tượng được phỏng vấn gồm nam giới và nữ giới; chủ hộ cao tuổi và trẻ tuổi, người giữ chức vvị xã hội ở các ngành các cấp và cả người dân bình thường

+ Phỏng vấn ngẫu nhiên: Phỏng vấn này được thực hiện với bất kỳ ai ở địa phương được nghiên cứu, bao gồm cả những người trong và ngoài cộng đồng, già hay trẻ, nam giới hay nữ giới Mục đích của phỏng vấn là nhằm thu thập, bổ sung, kiểm tra các thông tin mà trong các cuộc phỏng vấn trên không thực hiện được hoặc vẫn còn thiếu sót

Liên quan đến phươmg pháp điền dã Dân tộc học là việc chọn điểm nghiên cứu cụ thể Để làm rõ các bước đi, cách làm và đánh giá đúng thành quả, tác động của quá trình thực hiện công cuộc XĐGN ở vùng đồng bào Mường trong toàn tỉnh, cùng với việc xử lý các nguồn tư liệu lưu trữ (các số liệu thống kê, các báo cáo tổng kết của các ban ngành có liên quan ở hai huyện Thanh Sơn và Yên Lập, chúng tôi tiến hành nghiên cứu điểm tại 8 xã

cụ thể, mang tính điển hình ở 2 huyện Đây là những xã mang đủ những “đặc trưng” của xã ĐBKK trên tất cả các mặt (điều kiện địa lý tự nhiên, cơ sở hạ tầng phục vụ dân sinh, kinh tế, thực trạng đói nghèo từ năm 1999 trở về trước) ở vùng người Mường sinh sống, nhưng nhờ Chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN, trong đó, Chương trình 135 là chủ đạo mà đã có những thay đổi toàn diện, sâu sắc trên tất cả các mặt, tạo được niềm tin, niềm phấn khởi lớn trong cán bộ và nhân dân Cụ thể:

Trang 35

- Huyện Thanh Sơn chúng tôi chọn 5 xã, gồm:

+ 3 xã thuộc diện Chương trình 135 là: Lương Nha, Tinh Nhuệ (hai xã vùng thấp ở cuối huyện), Xuân Sơn (xã vùng cao, xa nhất huyện- tính từ trung

tâm huyện lỵ Thanh Sơn, là một trong số ít xã có hai dân tộc Mường và Dao chung sống)

+ 2 xã không thuộc diện Chương trình 135 là Thạch Khoán và Võ Miếu

(nằm ở vùng giữa của huyện Thanh Sơn), song đến năm 1999 vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong XĐGN, thể hiện ở CSHT hết sức thấp kém, phần đông các hộ trong xã đều thuộc diện nghèo, một bộ phận còn thiếu đói trong thời kỳ giáp hạt

- Huyện Yên Lập: trong 17 xã của huyện đều thuộc diện xã ĐBKK, chúng tôi chọn 3 xã, gồm 2 xã ở vùng cao là Xuân Viên và Xuân Thủy (xã Xuân Thủy cũng là xã được đầu tư theo diện “trung tâm cụm xã”), 1 xã ở vùng thấp (xã

Ngọc Lập) - là xã được đầu tư vừa theo diện “trung tâm cụm xã”, vừa theo diện

“xã An toàn khu”

Tuy khác nhau về điều kiện địa lý tự nhiên, các xã trên đều có những đặc

điểm chung đã được nêu trong Chương 2 Đó là:

- Người Mường ở xen lẫn với người Việt, một số xã đồng bào xen lẫn với người Dao (xã Xuân Sơn, xã Võ Miếu cùng thuộc huyện Thanh Sơn) Tỷ lệ người Mường trong cơ cấu dân số toàn xã đạt từ 50% trở lên

- Trước khi Chương trình mục tiêu XĐGN được triển khai, các xã trên mang đầy đủ những “đặc trưng” của các xã nghèo, xã ĐBKK trên tất cả các mặt:

cơ sở hạ tầng, kết cấu kinh tế, mức sống, trình độ dân trí…; với đầy đủ những nguyên nhân chủ quan và khách quan

Song sau 7 năm thực hiện Chương trình mục tiêu XĐGN, các xã trên đã đạt được nhiều thành quả to lớn, làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện bộ mặt của

xã, có tác động lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội - văn hóa trước mắt cũng

Trang 36

như lâu dài

- Phương pháp PRA (Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của

người dân) Công cụ để thực hiện phương pháp này là thảo luận nhóm ở cấp cộng đồng, bao gồm các nhóm cán bộ, nhóm hộ giàu, nhóm hộ trung bình và nhóm hộ nghèo Nội dung của thảo luận nhóm là tìm hiểu những đánh giá, những ý kiến về tình trạng đói nghèo ở địa phương; những thành tựu của XĐGN; những cản trở của công cuộc XĐGN và các biện pháp thực hiện Khi lựa chọn thành viên cho mỗi nhóm thảo luận, tác giả chú ý chọn cả nam và

nữ, người già và người trẻ tuổi

- Phương pháp thống kê Các tài liệu thống kê của tỉnh, huyện, xã và

thôn xóm được thu thập, sau đó, được tổng hợp và phân tích để phục vụ cho mục tiêu và nội dung của luận án

Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp nêu trên được thực hiện một cách linh hoạt, tuỳ theo từng hoàn cảnh và điều kiện trên thực địa Sự linh hoạt còn thể hiện ở việc lồng ghép hay đan xen các phương pháp nghiên cứu trong cùng một thời điểm, với mục đích là đạt hiệu quả nghiên cứu tốt nhất

Nghiên cứu về XĐGN, cần làm rõ những vấn đề cơ bản sau đây:

Thứ nhất, xác định khái niệm về nghèo Tuy có nhiều định nghĩa khác

Trang 37

nhau, song có điểm thống nhất: Đói nghèo là tình trạng của một cá nhân hay

nhóm người không được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản, tối thiểu của cuộc

sống

Thứ hai, làm rõ tiêu chí của đói nghèo Đến nay, có rất nhiều cách đánh

giá đói nghèo, song luận án áp dụng tiêu chí của Nhà nước Việt Nam đang sử dụng: Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân dưới 260.000 đ/ người/ tháng ở

đô thị và dưới 200.000 đ/người/tháng ở nông thôn; xã nghèo là xã có 40 % hộ nghèo cùng với những thiếu thốn về cơ sở hạ tầng, dịch vụ

Thứ ba, tìm hiểu nguyên nhân của đói nghèo, Luận án căn cứ theo định

hướng quan điểm của Nhà nước Việt Nam, đó là: 1 Do thiếu kiến thức, tay nghề và kinh nghiệm làm ăn; 2 Các hộ nghèo chưa tiếp cận được nền sản xuất hàng hoá và còn gặp khó khăn về thị trường; 3 Một số hộ nghèo thiếu vốn cho đầu tư sản xuất, tư liệu sản xuất còn thô sơ; 4 Hạ tầng cơ sở ở các xã nghèo còn thiếu và chất lượng kém

Thứ tư, phải xác định các yếu tố liên quan đến đói nghèo Có thể nêu rất

nhiều yếu tố, song tựu trung, XĐGN đều có liên quan đến sự phát huy 5 nguồn vốn cơ bản: 1 Vốn tài nguyên (đất đai, rừng, nguồn nước, khí hậu), 2 Vốn xã hội (thể chế, chính sách), 3 Vốn con người (trình độ dân trí, giáo dục,

y tế, văn hoá), 4 Vốn tài chính (vốn sản xuất, tín dụng), và 5 Vốn vật chất (cơ sở hạ tầng, nhà cửa, tiện nghi )

Để thực hiện luận án, có một số phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng, trong đó, quan trọng nhất là phương pháp điền dã dân tộc học, với các công cụ chủ yếu như quan sát, chụp ảnh và phỏng vấn sâu Ngoài ra còn áp dụng các phương pháp khác như PRA và phương pháp thống kê Trong quá trình triển khai, các phương pháp này được thực hiện một cách linh hoạt, bổ trợ lẫn nhau để nghiên cứu có hiệu quả

Trang 38

Chương 2 VÀI NÉT VỀ NGƯỜI MƯỜNG Ở TỈNH PHÚ THỌ

VÀ THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO CỦA HỌ

2.1 Người Mường ở tỉnh Phú Thọ

2.1.1 Môi trường sống và dân số

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999, người Mường có 1.137.515

người, là tộc có dân số đông thứ ba trong 53 tộc người thiểu số ở Việt Nam, sau người Tày và người Thái Đồng bào cư trú tập trung đông nhất tại tỉnh Hòa Bình, ngoài ra, còn có ở các tỉnh: Phú Thọ, Thanh Hóa và một phần các tỉnh Yên Bái, Sơn La, Hà Tây cũ và Ninh Bình

Tỉnh Phú Thọ vốn là một phần của trấn Hưng Hóa (từ năm 1831 trở đi là tỉnh) Sau khi đặt ách thống trị lên đất nước ta, thực dân Pháp chia nhỏ tỉnh

này thành các tỉnh: Hòa Bình (3 - 1891) và các Đạo quan binh (tương đương với một tỉnh, về sau chính thức đổi làm tỉnh) là: Lai Châu (1- 1901), Sơn La (8 - 1904), Lào Cai (7 - 1907) Phần đất còn lại của tỉnh Hưng Hóa được gọi

là tỉnh “Phú Thọ” theo Nghị định ngày 5 - 5 - 1903 của Toàn quyền Đông Dương Tỉnh gồm phủ Đoan Hùng, các huyện Tam Nông, Thanh Thủy, Sơn

Vi, Thanh Ba, Phù Ninh, Cẩm Khê, Hạ Hòa, Hạc Trì và các châu: Thanh Sơn, Yên Lập [37, tr 280 - 281]

Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Phú Thọ vẫn là một tỉnh riêng biệt, đơn vị phủ và châu bị bãi bỏ, chỉ còn các huyện Đến tháng 01 - 1968, tỉnh được nhập với tỉnh Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú Tháng 11 - 1996, Phú Thọ lại được tách ra từ tỉnh Vĩnh Phú để trở thành tỉnh riêng [1, tr, 406; 965] Hiện nay, tỉnh Phú Thọ gồm 12 đơn vị hành chính là: thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ và 10 huyện: Cẩm Khê, Đoan Hùng, Hạ Hòa, Lâm Thao, Phù Ninh, Tam Nông, Thanh Ba, Thanh Sơn, Thanh Thủy, Yên Lập [42, tr 20 -

Trang 39

21]

Tỉnh Phú Thọ có địa hình đa dạng, gồm các huyện vùng núi cao (Thanh Sơn, Yên Lập, Đoan Hùng); các huyện mang đặc trưng của vùng trung du (thành phố Việt Trì, Hạ Hòa, Thanh Ba), các huyện có địa hình hỗn hợp (có

cả vùng núi, trung du và đồng bằng hẹp (Lâm Thao, Phù Ninh, Tam Nông, Thanh Thủy), tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 346.502 héc- ta

Khí hậu vùng người Mường tỉnh Phú Thọ sinh sống chịu ảnh hưởng của chế độ bức xạ nhiệt đới nên một năm có hai mùa rõ rệt:

- Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ cao nhất trong tháng 7, nhiều ngày lên đến 39 độ C Trong các tháng: 5, 6, 7 thường ảnh hưởng của các đợt gió Lào nên nóng và khô, gây ra mưa lớn; lượng mưa tập trung vào các tháng: 6, 7, 8 (chiếm trên 70% lượng mưa cả năm, trung bình từ 1100 -

1200 mm), nhiều nhất vào tháng 8 (trên dưới 400 mm), gây xói mòn mạnh, tạo lũ lớn ở các sông, suối

- Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, chịu ảnh hưởng của các đợt gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ thấp (tháng 12 và tháng 1 nhiệt độ trung bình chỉ

12 - 14 độ C, nhiều ngày xuống dưới 10 độ), nhiều mây mù, có sương muối,

độ ẩm thấp, lượng mưa ít, chủ yếu là mưa phùn, nên thường xuyên xảy ra thiếu nước sinh hoạt và sản xuất

Nhìn chung, địa bàn cư trú của người Mường tỉnh Phú Thọ là khu vực trung chuyển giữa miền núi và đồng bằng, giữa khu vực cư trú của người Việt

và người Thái, cả về mặt địa hình và khí hậu Tuy có những điều kiện thuận lợi để phát triển nghề trồng lúa nước, song môi trường thiên nhiên ở đây cũng

có nhiều bất lợi cho sản xuất, như lượng mưa phân phối không đều, những đợt gió mùa Đông Bắc gây rét đậm, sương muối nhiều ngày…

Về dân số, theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999, Phú Thọ có

Trang 40

1.261.589 người, ngoài người Kinh (Việt) chiếm số đông tuyệt đối (1.077

859 người), còn có 5 DTTS thì có số dân từ 500 người trở lên là: Mường (165.748 người), Dao (11 126 người), Sán Chay (2641 người), Tày (1185 người) và Hmông (628 người) [43, tr 39]

Mường là tộc người đông dân thứ hai ở tỉnh Phú Thọ, sau người Kinh,

cư trú tập trung tại 59 xã của 3 huyện: Thanh Sơn (40 xã với 113 515 người, chiếm 63, 5 % dân số toàn huyện), Yên Lập (17 xã với 51.739 người, chiếm 65,04 % dân số toàn huyện (theo Tổng điều tra dân số và Nhà ở năm 1999) và

Thanh Thủy (2 xã Yến Mao, Phượng Mao với 4276 người, bằng 61, 4 % dân số

của hai xã) Mức độ cư trú của người Mường ở Phú Thọ được thể hiện qua Bảng

1

Phân tích từ bảng thống kê về dân số qua Tổng điều tra dân số và nhà ở

năm 1999 cho thấy, người Mường cư trú xen kẽ nhiều nhất với người Kinh,

tiếp đó là người Dao Chẳng hạn, ở huyện Thanh Sơn, có 19/40 xã, thị trấn có

đủ 3 thành phần dân tộc: Mường, Kinh và Dao (số người Dao ở các xã này ít nhất là 91 người - xã Xuân Đài, nhiều nhất là 910 người - xã Xuân Sơn) Tính chất cư trú xen kẽ của người Mường với các tộc khác thể hiện ở các mức độ:

- Cư trú xen kẽ trong nội bộ từng xã, song người Mường và người Kinh sống thành những làng (xóm) riêng Hiện tượng này thường thấy ở các các xã gần huyện lỵ (huyện Thanh Sơn có 9 xã, huyện Yên Lập có 7 xã)

- Cư trú xen kẽ trong mỗi làng, tức một làng có cả ba tộc người: Mường, Dao, Kinh, hoặc hai tộc Mường, Kinh, nhưng mỗi tộc người sống thành từng xóm hoặc chòm riêng [44, tr 29]

Địa bàn cư trú của người Mường là các huyện vùng cao của tỉnh Phú Thọ, song các đồi núi có độ cao không lớn, thường chỉ từ 150 - 700 mét so với mực nước biển, trong đó chỉ có một số ít núi có những đỉnh cao trên

Ngày đăng: 21/09/2020, 19:59

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w