1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đảng bộ thị xã Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế từ năm 1996 đến năm 2012 : Luận văn ThS. Lịch sử: 60 22 56

153 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiên đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ và nhân dân các địa phương đã phát huy thế mạnh, khắc phục khó khăn thách thức, từng bước thực hiện quá trình phát triển theo hướng công ngh

Trang 1

Đại học quốc gia hà nội tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

Lại Thu Thủy

ĐảNG Bộ THị Xã CẩM PHả (QUảNG NINH) LãNH ĐạO PHáT TRIểN KINH Tế Từ NĂM 1996 ĐếN NĂM 2012

luận văn thạc sĩ lịch sử

Hà Nội, 2014

Trang 2

Đại học quốc gia hà nội tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

Lại Thu Thủy

ĐảNG Bộ THị Xã CẩM PHả (QUảNG NINH) LãNH ĐạO PHáT TRIểN KINH Tế Từ NĂM 1996 ĐếN NĂM 2012

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 60 22 56

luận văn thạc sĩ lịch sử

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Quang Hiển

Hà Nội, 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Quang Hiển

Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực

và có nguồn gốc rõ ràng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn Thạc sĩ của mình, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ của quý thầy cô trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trước hết, tôi xin được gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Vũ Quang Hiển – người đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu

và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp Nhờ sự giúp đỡ của thầy, tôi không chỉ tích lũy thêm được những kiến thức chuyên môn, mà còn học được

ở thầy thái độ làm việc nghiêm túc và khoa học đối với công việc nghiên cứu

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô Khoa Lịch sử, Phòng tư liệu khoa Lịch sử, trung tâm thư viện Trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, trung tâm thư viện Quốc gia Hà Nội

Tôi xin chân thành cảm ơn các quý cơ quan: Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Cẩm Phả, Chi cục thống

kê thành phố Cẩm Phả đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong công tác sưu tầm, thu thập tài liệu

Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình và những người bạn của tôi, đã động viên, tạo mọi điều kiện trong suốt quá trình tôi hoàn thành luận văn

Mặc dù đã cố gắng song luận văn vẫn còn những thiếu sót Kính mong quý thầy cô và các bạn đóng góp quý báu, để tác giả có thể hoàn thiện hơn luận văn của mình

Tôi xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Lại Thu Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THỊ XÃ CẨM PHẢ NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000 16

1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế ở thị xã Cẩm Phả và tình hình kinh tế của thị xã trước năm 1996 16

1.1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế ở thị xã Cẩm Phả 16

1.1.2 Tình hình kinh tế thị xã Cẩm Phả trước năm 1996 23

1.2 Chủ trương và sự lãnh đạo của Đảng bộ 32

1.2.1 Chủ trương phát triển kinh tế của Đảng bộ 32

1.2.2 Sự chỉ đạo thực hiện và kết quả 39

* Tiểu kết chương 1 49

Chương 2 ĐẢNG BỘ THỊ XÃ CẨM PHẢ LÃNH ĐẠO TĂNG CƯỜNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2012 51

2.1 Yêu cầu mới đối với phát triển kinh tế và chủ trương mới của Đảng bộ 51

2.1.1 Yêu cầu mới đối với sự phát triển kinh tế của thị xã Cẩm Phả 51

2.1.2 Chủ trương mới của Đảng bộ 56

2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện và một số kết quả 82

* Tiểu kết chương 2 102

Chương 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 104

3.1 Nhận xét về sự lãnh đạo của Đảng bộ 104

3.1.1 Ưu điểm 104

3.1.2 Hạn chế 122

3.2 Một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả 127

* Tiểu kết chương 3 132

KẾT LUẬN 133

TÀI LIỆU THAM KHẢO 136

PHỤ LỤC 142

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Nxb : Nhà xuất bản HĐND : Hội đồng nhân dân UBND : Ủy ban nhân dân TKV : Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam XDCB : Xây dựng cơ bản

MTTQ : Mặt trận Tổ quốc BTV : Ban thường vụ ĐHQG : Đại học Quốc gia

Trang 7

(Nguồn: Lịch sử Đảng bộ thị xã Cẩm Phả)

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thành tựu của công cuộc đổi mới trong những năm qua đã và đang tạo

ra những thế và lực mới cả bên trong lẫn bên ngoài để Việt Nam bước vào một thời kỳ phát triển mới Vị thế Việt Nam ngày càng được củng cố và khẳng định trên chính trường quốc tế và cũng là tiền đề cần thiết cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Mặt khác, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành mục tiêu hàng đầu đối với sự phát triển của Việt Nam Muốn đạt được những mục tiêu trên thì phát triển kinh tế là yếu tố quan trọng nhất và đóng vai trò quyết định Đây là chủ trương lớn của Đảng, một trong những vấn đề cốt lõi của quá trình phát triển đất nước, để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ của khoa học công nghệ và xu hướng toàn cầu hóa, của hội nhập quốc tế, đất nước Việt Nam có nhiều thuận lợi và những thử thách lớn

Từ năm 1996 đến năm 2012, Đảng và Nhà nước Việt Nam có nhiều chủ trương, chính sách mới nhằm phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tăng cường hội nhập quốc tế Nhờ đó nền kinh tế Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao, cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch theo hướng tích cực

Thực hiên đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ và nhân dân các địa phương đã phát huy thế mạnh, khắc phục khó khăn thách thức, từng bước thực hiện quá trình phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đạt được những kết quả quan trọng góp phần làm thay đổi bộ mặt địa phương và cuộc sống của nhân dân, góp phần củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chế

độ xã hội chủ nghĩa

Cẩm Phả là một thị xã thuộc tỉnh Quảng Ninh (từ ngày 21 – 02 – 2012

là thành phố Cẩm Phả theo Nghị quyết số 04/NQ-CP của Chính phủ), thuộc vùng Đông Bắc, một khu vực có vị trí quan trọng về địa – chính trị và an ninh

Trang 9

quốc phòng, đồng thời cũng là một đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Thị xã Cẩm Phả có những thuận lợi về vị trí địa lý, giao thông và đặc biệt có nhiều tiềm năng để phát triển đa dạng các ngành Đây là một trong những điều kiện thuận lợi để thị xã Cẩm Phả phát triển mạnh về kinh tế, góp phần đưa Quảng Ninh trở thành một khu vực phát triển đa năng có vị trí đặc biệt quan trọng ở phía Bắc

Thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, Đảng bộ thị xã Cẩm Phả đã lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh phát triển kinh tế, đạt được những thành quả quan trọng, nhưng cũng còn gặp nhiều khó khăn và còn những hạn chế nhất định

Việc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với quá trình phát triển kinh tế của thị xã, đánh giá những thành công và chưa thành công, từ đó rút ra những kinh nghiệm lịch sử là yêu cầu cần thiết, nhất là vào lúc thị xã vừa được nâng cấp lên thành một thành phố của tỉnh Quảng Ninh ở vùng Đông Bắc của Tổ quốc

Vì lý do trên, tôi chọn đề tài: Đảng bộ thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh) lãnh đạo phát triển kinh tế từ năm 1996 đến năm 2012 làm luận văn thạc sĩ

lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Khái quát các công trình nghiên cứu

2.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế

Đã có nhiều đề tài khoa học nghiên cứu về sự phát triển kinh tế ở nước

ta với những mức độ và cách tiếp cận khác nhau Tiêu biểu là nhóm các công trình khoa học:

Nhóm chuyên khảo của các nhà khoa học liên quan đến đề tài có:

GS Đỗ Đình Giao, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994 Tác giả đã

luận giải về vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công

Trang 10

nghiệp hóa trong nền kinh tế quốc dân ở nước ta nói chung với những thành tựu và những bài học kinh nghiệm

PGS Đỗ Hoài Nam, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển mũi nhọn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996 Với tác phẩm này tác giả đã

đi sâu vào nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành chi tiết hơn Cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành thì phải phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn phù hợp với tiềm năng và lợi thế sẵn có của từng vùng

TS Đặng Văn Thắng, TS Phạm Ngọc Dũng, Chuyển dịch cơ cấu kinh

tế công – nông nghiệp ở đồng bằng Sông Hồng, thực trạng và triển vọng, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003 Tác phẩm đã đề cập đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp phù hợp với một vùng trong điểm kinh tế là đồng bằng sông Hồng, nêu lên những thực trạng kinh tế hiện tại và triển vọng phát triển trong tương lai

Ngoài ra, một số tác giả cũng đề cập đến vấn đề tương tự như: PGS.TS

Phan Thanh Phố, Những vấn đề cơ bản về kinh tế và đổi mới kinh tế ở Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996; PGS.TS Nguyễn Văn Khanh, Biến đổi cơ cấu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở vùng châu thổ sông Hồng trong thời

kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003; Ban tư tưởng – văn hóa Trung ương và Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, 2003…

Bên cạnh đó, còn có các công trình khoa học đề cập đến các vấn đề

phát triển kinh tế – xã hội: TS Vũ Hồng Tiến, Một số vấn đề kinh tế -– xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Đại học sư phạm

Hà Nội, Hà Nội, 2005; Kinh tế – xã hội Việt Nam hướng tới chất lượng tăng trưởng, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2004; Nguyễn Xuân Oánh, Đổi mới – Vài nét lớn của một chính sách kinh tế Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh;…

Các công trình đã đề cập tập trung, trực tiếp đến các vấn đề kinh tế – xã hội trên cả nước với nhiều cách tiếp cận khác nhau như vấn đề chuyển dịch cơ chế quản lý, chuyển dịch cơ cấu, các vấn đề xã hội nhằm thúc đẩy nhanh sự

Trang 11

phát triển kinh tế, khẳng định trong thực tế chủ trương của Đảng trong đổi mới là đúng đắn

Nhóm các đề tài nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở phạm vi cấp tỉnh, cấp huyện… Nhóm nghiên cứu này nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở cấp độ thấp, qua đó chỉ ra những vấn đề cụ thể của từng địa phương

Các bài báo và các công trình khoa học đăng trên báo Trung ương và địa

phương: Luận án tiến sĩ Địa lý của Hoàng Minh Quang, Cơ cấu kinh tế lãnh thổ Quảng Ninh, Đại học sư phạm Hà Nội; Luận án tiến sĩ của Trần Văn Lâm, Hoàn thiện quản lý ngân sách Nhà nước nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh ), Học viện tài chính, Hà Nội; bài viết “Để công nghiệp Quảng

Ninh tiếp tục tăng trưởng” của Trần Đăng Niên, Giám đốc Sở Công thương, trả lời phỏng vấn báo Quảng Ninh… Đây là những nghiên cứu quan trọng trong việc tổ chức, phân vùng kinh tế lãnh thổ ở Quảng Ninh cũng như cơ chế chính sách để thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội ở vùng đất giàu tiềm năng này

2.1.2 Các công trình nghiên cứu sự phát triển kinh tế của thị xã Cẩm Phả

Cho đến nay có rất ít các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả về các vấn đề kinh tế - xã hội Đáng chú ý nhất là công trình nghiên cứu bảo vệ luận văn Thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Hải

Ninh tại trường Đại học Mỏ về đề tài “Nghiên cứu một số giải pháp phát triển kinh tế xã hội thành phố Cẩm Phả đến năm 2020” Luận văn đã giới

thiệu khái quát về thị xã Cẩm Phả, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế – xã hội của Cẩm Phả giai đoạn 2008 – 2012 và đưa ra một số giải pháp phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2020

Bài báo “Cẩm Phả tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư”, đây là bài phỏng vấn của Tạp chí Môi trường với chủ tịch UBND thị xã Cẩm Phả về tiềm năng, thế mạnh của thị xã, vấn đề phát triển bền vững bảo vệ môi trường

và mục tiêu trở thành một thành phố công nghiệp cảng biển, hiện đại trong tương lai

Trang 12

Bài báo “Cẩm Phả tiếp tục khẳng định và bứt phá” của báo Đầu tư với

Bí thư thị ủy Cẩm Phả về những kết quả năm 2012, nguyên nhân đạt được những kết quả đó và những hướng đi, mục tiêu trong tương lai

2.2 Những vấn đề mà các công trình nghiên cứu chưa làm sáng tỏ

Có thể thấy rằng, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về sự phát triển kinh tế

ở Việt Nam với những mức độ và cách tiếp cận khác nhau về quá trình phát triển kinh tế Các công trình nghiên cứu này chủ yếu đề cập về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nền kinh tế quốc dân, cơ cấu kinh tế ở đồng bằng sông Hồng, hoặc

cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta Ở tỉnh Quảng Ninh cũng đã có công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế nhưng chủ yếu là phân vùng kinh tế lãnh thổ, hay các chính sách của địa phương để phát triển kinh tế Còn đối với thị xã Cẩm Phả, cho đến nay mới chỉ có công trình nghiên cứu về lịch sử Đảng bộ thị xã Cẩm Phả từ năm 1930 đến năm 2005 là mang tính chất khát quát và hệ thống Một công trình khác là công trình nghiên cứu bảo vệ luận văn Thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Hải Ninh về đề tài “Nghiên cứu một

số giải pháp phát triển kinh tế xã hội thành phố Cẩm Phả đến năm 2020” Còn lại chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến sự lãnh đạo của Đảng

bộ thị xã Cẩm Phả về các vấn đề kinh tế - xã hội Một số bài viết trên các tạp chí nghiên cứu, tạp chí cộng sản, các trang báo mạng chủ yếu mang tính chất giới thiệu, quảng bá hoặc những bài viết ngắn về thị xã Hơn hết, chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và hệ thống về quá trình Đảng bộ thị xã Cẩm Phả lãnh đạo phát triển kinh tế từ năm 1996 đến năm 2012 Vấn đề chủ yếu phản ánh trong các báo cáo tình hình Đại hội Đảng bộ thị xã, các chuyên

đề, kế hoạch là những tư liệu chưa được phổ biến rộng rãi

Vì vậy, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính khái quát và chuyên môn về quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả từ năm 1996 đến 2012

Trang 13

3 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ quá trình Đảng bộ thị xã Cẩm Phả lãnh đạo phát triển kinh tế trên địa bàn thị xã từ năm 1996 đến năm 2012 Từ những thực tiễn và những đánh giá về sự lãnh đạo của Đảng bộ, luận văn bước đầu rút ra một số kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ trong những năm tiếp theo

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trình bày và phân tích những chủ trương của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả

để lãnh đạo phát triển kinh tế thị xã từ năm 1996 đến năm 2012

- Trình bày và phân tích quá trình tổ chức thực hiện những chủ trương, biện pháp của Đảng bộ về phát triển kinh tế, gắn với những kết quả cụ thể

- Đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng bộ, từ

đó tổng kết một số kinh nghiệm

5 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

- Những chủ trương, biện pháp của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế của thị xã từ năm 1996 đến năm 2012

- Quá trình thực hiện những chủ trương và biện pháp thông qua hoạt động

cụ thể của các cấp bộ đảng, chính quyền, đoàn thể và quần chúng nhân dân

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 1996 đến năm 2012 Năm 1996 là lúc bắt đầu thực hiện chủ trương của Đảng về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Năm 2012 là thời điểm thị xã Cẩm Phả được nâng cấp thành một thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Ninh Tuy nhiên, luận văn cũng đề cập đến một số nét chủ yếu về sự lãnh đạo của đảng bộ thị xã trong lĩnh vực kinh tế trước năm 1996, xem đó như một yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sau

- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn thị xã Cẩm Phả thuộc tỉnh Quảng Ninh Tuy nhiên, luận văn có so sánh với một số thị xã trong khu vực

để làm rõ nét riêng của sự phát triển kinh tế ở thị xã Cẩm Phả

Trang 14

- Về nội dung: Để làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả, phạm vi nghiên cứu có liên quan đến đối tượng nghiên cứu là:

+ Đường lối kinh tế của Đảng, chủ trương phát triển kinh tế của Đảng

+ Kết quả cụ thể trên từng lĩnh vực kinh tế

6 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

6.1 Nguồn tài liệu

- Những văn kiện Đảng, Nhà nước, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển kinh tế

- Các nghị quyết, chỉ thị của Đảng bộ thị xã, các kế hoạch, đề án, báo cáo tổng kết về tình hình phát triển kinh tế của Đảng bộ, chính quyền thị xã

- Các số liệu thống kê hàng năm, thường kỳ, niên giám thống kê của Chi cục Thống kê Cẩm Phả

- Những báo cáo khoa học, sách đã công bố có liên quan đến sự phát triển kinh tế của thị xã Cẩm Phả

6.2 Phương pháp nghiên cứu

- Chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn

- Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê,

Trang 15

8 Kết cấu luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả nhằm phát triển kinh tế từ năm 1996 đến năm 2000

Chương 2: Đảng bộ thị xã Cẩm Phả lãnh đạo tăng cường phát triển kinh

tế từ năm 2000 đến năm 2012

Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm

Trang 16

1883 chúng đánh chiếm Hòn Gai, Cẩm Phả và bắt đầu công cuộc khai thác than tại khu mỏ Cẩm Phả Cùng với Hòn Gai, Cẩm Phả là nơi tập trung sớm nhất, đông đảo nhất những thanh niên nông dân ra làm phu mỏ; đây là cái nôi

ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam với những phong trào đấu tranh sôi nổi mà đỉnh cao là cuộc tổng bãi công của hơn 3 vạn thợ mỏ, khởi đầu tại Cẩm Phả vào ngày 12 – 11 – 1936 với truyền thống “Kỷ luật và đồng tâm”

Cẩm Phả là đơn vị hành chính đông dân thứ hai của tỉnh Quảng Ninh (195.800 người) Là một trong ba trung tâm công nghiệp chính, tổng diện tích

tự nhiên 48.645,0 ha, lớn thứ 2 của tỉnh Nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với

sự phát triển năng động của các vùng, miền đó là liền kề khu kinh tế Vân Đồn, với các thành phố Hạ Long, Móng Cái, Uông Bí Quá trình phát triển kinh tế – văn hoá – xã hội – quốc phòng an ninh của thị xã luôn gắn bó hữu

cơ với sự phát triển của các vùng miền và sự phát triển của ngành công nghiệp khai thác mỏ

Cẩm Phả có nguồn tài nguyên phong phú (trữ lượng than lớn nhất cả nước, có đá vôi, đất sét ) để phát triển công nghiệp khai thác , chế biến than; sản xuất xi măng, nhiê ̣t điê ̣n; sản xuất vật liệu xây dựng; phát triển trồng rừng gắn với công nghiê ̣p chế biến gỗ Với đường bờ biển dài 73km rất thuâ ̣n lợi

Trang 17

cho phát triển cảng biển ; có 02 cảng biển Quốc gia (Cửa Ông, Hòn Nét) và

mô ̣t số cu ̣m cảng nội địa ; Vịnh Bái Tử Long xinh đẹp liền kề với Vịnh Hạ

Long – Di sản thiên nhiên Thế giới ; có nguồn nước khoáng nóng quý hiếm

(Quang Hanh, Cẩm Thạch); Khu di tích li ̣ch sử – văn hoá Đền Cửa Ông cấp Quốc gia, Khu Vũng Đu ̣c để phát triển du li ̣ch, biển đảo; du li ̣ch tâm linh; du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh bằng khoáng nóng ; dịch vụ phục vụ cho phát triển công nghiê ̣p và nuôi trồng chế biến thủy sản

Về địa giới hành chính:

Cẩm Phả (toạ độ 20o58'10 – 21o12' vĩ độ bắc, 107o10' – 107o23'50 kinh

độ đông) cách thành phố Hạ Long 30km, phía Bắc giáp huyện Ba Chẽ , phía Đông giáp huyện Vân Đồn, phía Tây giáp huyện Hoành Bồ – vùng vịnh thuộc thị xã là vịnh Bái Tử Long

Cẩm Phả có diện tích tự nhiên 48.633 ha Địa hình núi non , diện tích núi chiếm 55,4% diện tích (trong đó núi đá chiếm tới 2590 ha, núi cao nhất ở Quang Hanh ), vùng trung du 16,29%, đồng bằng 15,1% và vùng ven biển chiếm 13,3%, có Quốc lộ 18A đoạn chạy qua thành phố dài gần 70km, với chiều dài bờ biển dài 73km Lợi thế này giúp cho địa phương có thể phát triển thành một thành phố Công nghiệp – Cảng biển – Dịch vụ văn minh hiện đại Tài nguyên lớn nhất ở Cẩm Phả là than đá Tổng tiềm năng ước tính trên 3 tỷ tấn, trữ lượng có thể khai thác 2,5 tỷ tấn (trong tổng số 8,4 tỷ tấn trữ lượng than Quảng Ninh ) Ngoài than, antimon ở Khe Sim – Dương Huy, đá vôi ở Quang Hanh, nước khoáng đều là những tài nguyên quý hiếm Ngoài các mỏ than lớn như Cọc Sáu , Đèo Nai, Cao Sơn, Mông Dương, Khe Chàm, Thống Nhất còn có những nhà máy cơ khí lớn, nhà máy sàng tuyển than và bến cảng, công ty địa chất và các xí nghiệp xây lắp, vận tải Tất cả tạo nên một hệ thống sản xuất liên hoàn , một vùng công nghiệp sôi động , hàng năm cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu 7 – 8 triệu tấn than Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp thuộc kinh tế địa phương chiếm tỷ trọng nhỏ so với than nhưng lại

là những hậu cần tại chỗ rất quan trọng

Trang 18

Phía Đông tiếp giáp với Huyện Vân Đồn, là huyện có tiềm năng về biển đảo, huyện đang được tỉnh chỉ đạo xây dựng phát triển trở thành trung tâm sinh thái Biển – Đảo chất lượng cao; Phía Tây giáp với huyện Hoành Bồ, thành phố Hạ Long – nơi có vịnh Hạ Long được hai lần tổ chức UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới và đến ngày 12/11/2011 được tổ chức New Open World chọn vào danh sách 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới; phía Nam tiếp giáp với biển đảo của Huyện Vân Đồn, có vịnh Bái Tử Long, nơi có hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ cùng hệ sinh thái đa dạng và phong phú, đặc trưng, hệ thống các hang động (hang Dơi, hang Quan,…), những dãy đảo đất (hòn Một, hòn Hai, hòn Rều…) trong không gian biển đảo vịnh Hạ Long – vịnh Bái Tử Long – vườn quốc gia Ba Mùn và các quần thể các hòn đảo của huyện Vân Đồn; Phía Bắc tiếp giáp với các huyện Ba Chẽ, Tiên Yên, nằm trên trục đường Quốc lộ 18 nối liền với khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Móng Cái đang phát triển và đầy tiềm năng

Thị xã Cẩm Phả ngày nay là một đơn vị hành chính gộp chung của thị

xã Cẩm Phả mỏ và thị xã Cẩm Phả bến trước kia (còn gọi là Cửa Ông) cùng các phố than Mông Dương, Cọc Sáu xưa Vì lí do đó các đơn vị hành chính nằm dọc và kéo dài theo một dải với độ dài 70km với các khu dân cư được ghép nối thành một dải tạo nên một hình dáng đô thị đặc biệt

Tính từ tây sang đông, 13 phường của thị xã nằm dọc trên quốc lộ 18A là: Quang Hanh, Cẩm Thạch, Cẩm Thuỷ, Cẩm Trung, Cẩm Thành, Cẩm Tây, Cẩm Bình, Cẩm Ðông, Cẩm Sơn, Cẩm Phú, Cẩm Thịnh, Cửa Ông, Mông Dương và 3 xã Dương Huy, Cộng Hoà, Cẩm Hải

Cẩm Phả có trên 182.000 người (2012) với mật độ dân cư: 517 người/km² Hầu hết là người Kinh (95,2%), còn lại đáng kể là người Sán Dìu (3,9%) Người Sán Dìu là những cư dân định cư đầu tiên ở Cẩm Phả, vào thế

kỉ XIX khi Pháp tiến hành khai thác than ở đây, một lượng lớn thanh niên từ khắp nơi ở vùng đồng bằng Bắc Bộ được đưa đến sinh sống và làm việc trong những mỏ của người Pháp, họ cũng chính là giai cấp công nhân đầu tiên ở

Trang 19

Việt Nam Vì thế hiện tại người Cẩm Phả phần lớn là công nhân ngành than,

có gốc từ vùng đồng bằng Bắc Bộ

Cẩm Phả chính thức được Chính phủ công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Ninh từ ngày 21/02/2012 và thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TƯ, ngày 30/8/2011 của BTV thị ủy về một số chủ trương, giải pháp lớn xây dựng Cẩm Phả trở thành thành phố vào năm 2012 và phát triển những năm tiếptheo, phấn đấu để trở thành thành phố theo định hướng thành phố công nghiệp, cảng biển văn minh và hiện đại

Địa hình: Khu đất có địa hình tương đối bằng phẳng, cao độ từ 2,5 m đến 4,3 m, có hướng dốc về phía Nam ra biển với độ dốc 0,2 – 0,4%

Hải văn: Khu vực ven biển thị xã Cẩm Phả thuộc chế độ nhật triều thuần nhất, hàng tháng có trên dưới 25 ngày nước lên và xuống với biên độ trung bình là 2,19 mét, cao nhất là 4,1 mét vào các tháng 6,11,12 và thấp nhất là 0,7 mét

Thuỷ văn: Trên địa bàn Cẩm Phả có 3 con sông chính chảy qua, trong

đó lớn nhất là sông Diễn Vọng Ngoài ra trong khu vực Cẩm Phả còn có một

số ao, hồ và nhiều con suối nhỏ khác có tác dụng tiêu thoát nước cho thị xã

Khu vực nghiên cứu thiết kế chịu tác động của 03 con suối chính đó là suối Cầu 1, Cầu 2 và Cầu 3 Các con suối này đền bắt nguồn từ khu vực núi cao phía Bắc chảy qua đường 18 thông qua Cầu 1, 2 và 3 sau đó qua khu vực thiết kế và đổ ra biển Về mùa mưa các con suối đều có lưu lượng lớn mang theo đất đá bùn và than gây ô nhiễm khu vực ven biển

Khí hậu: Khí hậu của Cẩm Phả thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịu

ảnh hưởng của khí hậu biển nên khá ôn hòa Hàng năm có 2 mùa rõ rệt Mùa

hè từ tháng 5 đến tháng 10 với đặc trưng là nóng ẩm, mưa nhiều và mùa đông lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

Tài nguyên thiên nhiên:

- Công nghiệp: Tài nguyên lớn nhất ở Cẩm Phả là than đá Tổng tiềm năng ước tính trên 3 tỷ tấn trong tổng số 8,4 tỷ tấn trữ lượng than Quảng Ninh Chất lượng than tốt, tiện đường chuyên chở ra cảng nước sâu Chính vì

Trang 20

vậy mà kinh tế chủ yếu ở thị xã Cẩm Phả là sản xuất than Ðây là trung tâm sản xuất than của Quảng Ninh và của cả nước Cẩm Phả có hệ thống đường sắt dùng chuyên chở than chạy dọc thành phố chở than đến nhà máy Tuyển than Cửa Ông Các mỏ than lớn như Cọc Sáu, Ðèo Nai, Cao Sơn, Mông Dương, Khe Chàm, Dương Huy, Thống Nhất

Ngoài than, antimon ở Khe Sim – Dương Huy, đá vôi ở Quang Hanh, nước khoáng đều là những tài nguyên quý hiếm

Cẩm Phả có vùng núi đá vôi rộng lớn, là nguồn nguyên liệu dồi dào cho việc phát triển các ngành sản xuất xi măng, nhiệt điện và vật liệu xây dựng Có những nhà máy cơ khí lớn, nhà máy sàng tuyển than và bến cảng, công ty địa chất và các xí nghiệp xây lắp, nhà máy chế tạo thiết bị điện, cơ khí trung tâm và nhà máy chế tạo máy than Việt Nam là các trung tâm cơ khí sản xuất, sửa chữa thiết bị phục vụ cho ngành than và công nghiệp chung cho cả nước

Cảng Cửa Ông là cảng nước sâu và có thể tiếp nhận các tàu có sức chứa

5 – 7 vạn tấn vào cảng tiếp nhận hàng Ngoài biển, Cẩm Phả còn có cảng nổi như Hòn Nét, là điểm bốc rót hàng triệu tấn than hàng năm phục vụ cho xuất khẩu Ngoài ra còn có các cảng lẻ như Km6, 10 – 10, Đá Bàn, Khe Dây, Cẩm Y cũng là các cảng lẻ phục vụ cho việc bốc rót than cho nội địa và vật liệu xây dựng như cát, đá, xi măng

Nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả: Trong tương lai Cẩm Phả sẽ trở hành một khu công nghiệp điện Tổng công suất đạt trên 3.000 MW Hiện nay, nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả (khu vực Cầu 20, phường Cẩm Thịnh) có công suất

600 MW đã được đưa vào vận hành từ năm 2010 Ngoài ra, tại phường Mông Dương sẽ xây dựng 02 nhà máy điện khác có tổng công suất 2.400MW và dự

án nhà máy điện Cẩm Phả 3 với công suất 350MW

Nhà máy xi măng Cẩm Phả được xây dựng tại Km6, đây là nhà máy có công suất lớn nhất trong nước hiện nay Nhà máy này sẽ sản xuất Clanh ke phục vụ sản xuất xi măng tại Cẩm Phả và tại Vũng Tàu để phục vụ nhu cầu xây dựng trong nước

Trang 21

Nông – lâm – thủy sản: Thị xã Cẩm Phả còn có đất nông nghiệp khoảng 1.196 ha, trong đó đất trồng rau màu và cấy lúa 434 ha, đất có mặt nước có thể nuôi trồng thuỷ sản 315 ha Ðất lâm nghiệp khá rộng, trong đó rừng tự nhiên 12.094 ha

Tài nguyên nhân văn:

- Nhóm các di tích lịch sử văn hóa: Cho đến nay, theo thống kê toàn thị

xã Cẩm Phả có 24 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 03 di tích cấp Quốc gia: Khu di tích lịch sử – văn hóa Đền Cửa Ông; Ngã tư đường lên mỏ Đèo Nai; Cụm di tích xí nghiệp Tuyển than Cửa Ông; 03 di tích cấp Tỉnh: hang núi Đá Chồng, cụm di tích Vũng Đục; Lò Giếng đứng Mông Dương và 18 di tích đã kiểm kê, phân loại

- Nhóm các công trình kiến trúc nghệ thuật: Tượng đài công nhân vùng

mỏ ở Quảng trường 12/11, Đền Cửa Ông, Tượng đài liệt sỹ Vũng Đục, Công viên Bến Do, Cao Sơn lưu thủy

- Lễ hội văn hoá dân gian:

Lễ hội Đền Cửa Ông là điểm đến thường xuyên của du khách mọi miền đất nước và bà con kiều bào Nơi đây là một trong những di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia được xếp hạng năm 1981 Là một ngôi Đền hiếm thấy bởi nơi đây thờ khá đầy đủ gia thất của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và các tướng lĩnh thời Trần có công trong ba cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII Vị chủ thần Đền là Đức Ông Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng (con trai thứ ba của Trần Hưng Đạo) – Người đã gắn

bó cả cuộc đời với những chiến công hiển hách trên miền Đông Bắc của Tổ quốc, Người viên tịch tại Cửa Suốt (nay là Cửa Ông) được nhân dân địa phương xây lăng và lập đền thờ trên một quả đồi phía trước là biển, bao quanh là những dãy núi đá Thời gian trôi đi cùng với những biến thiên của lịch sử, ngôi đền vẫn tồn tại cùng năm tháng cho đến ngày nay khi đất nước hoà bình, đổi mới, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên, đời sống tâm linh được tôn trọng, mọi giá trị truyền thống được giữ gìn và

Trang 22

phát huy do đó những năm qua Đền Cửa Ông được tôn tạo tu bổ ngày càng khang trang, sạch đẹp Cùng với việc tôn tạo tu bổ di tích, phường Cửa Ông

đã tiến hành cho khôi phục lễ hội dân gian Lễ hội được tổ chức vào 2 ngày mồng 3 và mồng 4 tháng 2 âm lịch, cứ 2 năm một lần được tổ chức với quy

mô lớn Trong dịp này hàng năm có trên 20 vạn lượt người đến tham quan, tượng niệm và dự hội

Lễ hội Đình Cẩm Hải: được diễn ra từ ngày 30/6 đến ngày 02/7 (ngày 29/5 đến 02/6 âm lịch) tại xã Cẩm Hải (thị xã Cẩm Phả) Đình làng do những người dân Trà Cổ (Móng Cái) di cư về xã Cẩm Hải xây dựng từ năm 1980 và lễ hội được tổ chức hàng năm nhằm tôn vinh và tưởng nhớ công lao của 6 vị thành hoàng là những người đã có công khai sinh ra đất Trà Cổ (thành phố Móng Cái)

Lễ hội đình làng Cẩm Hải cũng thể hiện mong muốn của người dân trong xã về một năm mưa thuận gió hòa, cuộc sống bình yên, no ấm

Giao thông

Đường bộ: Quốc lộ 18A nằm ở phía Đông Nam dọc chiều dài thị xã, dài gần 70km; tỉnh lộ 326, 329 nằm ở phía Bắc thị xã dài 40km đã và đang được đầu tư cải tạo, nâng cấp đáp ứng yêu cầu giao thông vận tải đối nội và

đối ngoại

Đường sắt chuyên dùng dài 40km phục vụ vận tải than;

Đường thuỷ: Diện tích mặt biển (vùng vịnh Bái Tử Long) khoảng 14.322,3 ha; 01 cảng cấp quốc gia – Cảng Cửa Ông (tàu trọng tải 6 – 7 vạn tấn cập bến) cảng Hòn Nét (tàu trọng tải 10 vạn tấn cập bến) và 6 cảng nội địa (Km6, Vũng Đục, Cửa Suốt 10 – 10, Khe Dây, Cẩm Hải) phục vụ xuất than, trung chuyển vật liệu xây dựng, vật tư thiết bị và các loại hàng hoá khác

Tóm lại, với vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên và nhân văn tương đối phong phú, nguồn nhân lực dồi dào, hệ thống cơ sở vật chất, cơ sở

hạ tầng đã và đang hoàn thiện… Cẩm Phả có những điều kiện thuận lợi để phát triển một nền kinh tế hiện đại Nhiệm vụ của Đảng bộ thị xã là làm thế nào để lãnh đạo phát triển nền kinh tế địa phương cho tương xứng với tiềm

Trang 23

năng hiện có, góp phần vào sự phát triển của tỉnh Quảng Ninh và sự phát triển chung của đất nước

1.1.2 Tình hình kinh tế thị xã Cẩm Phả trước năm 1996

Sau nhiều năm chiến tranh, thị xã Cẩm Phả bước vào thời kỳ xây dựng

và phát triển kinh tế – xã hội Ngành than và các ngành kinh tế địa phương đều mở rộng quy mô, phát triển sản xuất Nhu cầu về thực phẩm trong công nhân và nhân dân ngày càng tăng Trước tình hình hình đó, Đảng bộ thị xã Cẩm Phả đã xác định nhiệm vụ hàng đầu là đẩy mạnh sản xuất thực phẩm Đại hội lần thứ XII đã nhấn mạnh phương hướng của giai đoạn 1976 – 1980 là: “Tập trung sức phát triển sản xuất thực phẩm với tốc độ nhanh, phát triển mạnh mẽ tiểu thủ công nghiệp, trước hết là vật liệu xây dựng”

Từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 10 năm 1979, Đại hội đại biểu Đảng bộ thị

xã lần thứ XIII được tổ chức Đại hội đã đề cao phương hướng “Đẩy mạnh sản xuất thực phẩm hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu” Việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XIII gặp nhiều khó khăn, lạm phát ngày càng tăng làm cho giá cả thị trường mất ổn định Ngân sách của thị xã thiếu hụt nghiêm trọng Đời sống nhân dân ngày càng giảm sút Ngày 25 tháng 3 năm 1980, Ủy ban nhân dân thị xã ra thông báo về chủ trương thu nhặt than địa phương, xác định rõ tiềm năng, thế mạnh cần được khai thác Đồng thời,

để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, thị xã đẩy mạnh thủy lợi hóa ở các xã mới sát nhập Với những cố gắng và biện pháp cụ thể, sản xuất nông nghiệp tổng thể vẫn đạt 102,1% kế hoạch, tăng 10% so với năm 1979 [2, tr.122]

Trong những năm 1981 – 1986, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân thị xã đã giành được những thành tựu trong việc tháo gỡ khó khăn của tình hình sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm; đầu

tư xây dựng, mở mang cơ sở sản xuất than địa phương, tạo điều kiện thúc đẩy

sự phát triển kinh tế của thị xã Nhưng về cơ bản vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng kinh tế

Trang 24

Đứng trước tình hình đó, Đại hội đại biểu Đảng bộ thị xã Cẩm Phả lần thứ

XV đã được tổ chức Nghị quyết Đại hội nhấn mạnh: “Khai thác tốt các nguồn, các khả năng nhằm phục vụ phát triển kinh tế địa phương như sản xuất rau, thực phẩm, sản xuất các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp, trong đó chú trọng các mặt hàng xuất khẩu và hàng tiêu dùng, gắn liền với giải quyết việc làm trên địa bàn, phục vụ đời sống công nhân và nhân dân thị xã” Về sản xuất công nghiệp, Nghị quyết Đại hội chỉ rõ: “Tập trung đẩy mạnh khai thác than địa phương, bao gồm than lộ vỉa, than bùn biển, và than thu nhặt… đầu tư thêm phương tiện vận tải, máy xúc, sàng tuyển cho Công trường than Đá Mài” [2, tr.131]

Nghị quyết Đại hội đã xác định được hướng đi đúng đắn và chỉ rõ những biện pháp cụ thể cho việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương Trong nông nghiệp, năm 1986, thị xã đã bỏ cơ chế “đối lưu” cho người trồng rau, thực hiện cơ chế giá thị trường linh hoạt theo hợp đồng kinh

tế hai bên cùng có lợi để khuyến khích nông dân; hạn chế sự bao cấp của Nhà nước đối với sản phẩm nông nghiệp, đồng thời đẩy mạnh công tác phòng chống dịch bệnh và dịch vụ bảo hiểm vật nuôi, cây trồng

Thực hiện Nghị quyết Trung ương VIII (Khóa V), Nghị quyết 28, Nghị quyết 31 của Bộ chính trị và Chỉ thị 117 của Hội đồng Bộ trưởng, thị xã đã từng bước thực hiện cơ chế một giá, tăng cường quản lý, tổ chức lại thị trường nhằm tạo ra các điều kiện thuận lợi để thu hút hàng hóa phục vụ đời sống nhân dân Thị xã đầu tư vốn kỹ thuật một cách thích đáng cho sản xuất Năm

1986, ngành ngư nghiệp được đầu tư, mua sắm hàng chục thuyền máy lớn, nhỏ và phương tiện đánh bắt quan trọng, như: lưới, đèn Công trường than thị

xã được đầu tư thêm hệ thống điện phục vụ sản xuất

Năm 1987 – 1988, thị xã đã xác định sản xuất than địa phương là một mũi nhọn kinh tế quan trọng để tạo ra nguồn hàng xuất khẩu và tăng thu ngân sách, vì vậy đã giành 76% số ngoại tệ đầu tư mua thiết bị, mở rộng công trường than và cảng Vũng Đục Cùng với sản xuất than, thị xã đã mở rộng sản xuất các mặt hàng tiêu dùng khác Vận dụng Quyết định 384 của UBND tỉnh và

Trang 25

Nghị quyết 16/NQ-TƯ về các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, thị xã đã phát triển thêm 47 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thu hút trên 2.600 lao động, tạo ra 26 mặt hàng mới Hai năm liền, Cẩm Phả được tỉnh công nhận là đơn vị dẫn đầu các thị xã về sản xuất tiểu thủ công nghiệp [2, tr.133]

Sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp đươc coi là một nhiệm vụ quan trọng, Đảng bộ thị xã đã vận dụng chỉ thị 100 của Ban bí thư Trung ương và Nghị quyết 10 của Bộ chính trị thực hện chế độ khoán đến hộ và người lao động Từ quý II năm 1988, các hợp tác xã trồng rau đã chuyển sang tự hạch toán, chủ động bố trí vật nuôi, cây trồng theo hướng kinh doanh tổng hợp Cơ chế mới đã kích thích năng suất lao động ngày một tăng Các hợp tác xã trồng rau đã tự lo được 450 tấn lương thực Đời sống xã viên được nâng lên Thị xã giảm được 250 triệu đồng vào khoản bù lỗ gạo và vật tư nông nghiệp đối lưu [2, tr.128]

Thị xã thực hiện cơ chế khuyến khích, tạo điều kiện cho ngư dân phát huy hết thế mạnh về vốn, kinh nghiệm đánh bắt hải sản Lượng cá, tôm đạt

500 tấn/năm Mỗi năm thị trường thu mua được 30 tấn đặc sản xuất khẩu Qua

2 năm phát triển theo phương hướng mới, ngành nông – lâm – ngư nghiệp đã góp phần tích cực vào việc ổn định đời sống nhân dân Thị xã đã lập quy hoạch tổng thể đáp ứng nhu cầu giao lưu hàng hóa và kiến thiết đô thị, mở các tuyến đường nhánh xuống biển, trang bị thêm 350 tấn phương tiện thủy, mở rộng bến cảng Cẩm Phả

Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng bộ thị xã Cẩm Phả tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ XVI, đề ra phương hướng nhiệm vụ chủ yếu năm 1989 – 1990 là: “Triệt để xóa bỏ bao cấp chuyển mạnh sang hạch toán kinh doanh…, khuyến khích phát triển sản xuất ở 5 thành phần kinh tế” Về sản xuất công nghiệp, Đại hội chỉ rõ: “Tiếp tục lấy việc sản xuất than làm mũi nhọn kinh tế chủ yếu, từ đó có kế hoạch đầu tư vốn, tăng cường chỉ đạo về công tác cán bộ” nhằm khai thác thế mạnh của địa phương, đẩy nhanh quá trình đổi mới, ổn định kinh tế [2, tr.135]

Thị xã đã mạnh dạn giải thể Hợp tác xã đánh cá, hướng dẫn và giúp đỡ ngư dân tự mua sắm thiết bị, ngư cụ, 180 hộ ngư dân có thuyền máy, sản

Trang 26

lượng cá ước tính 450 tấn/năm Mặt khác, qua những năm tìm tòi, thể nghiệm, Đảng bộ thị xã ngày càng xác định rõ hơn sản xuất than là mũi nhọn chủ yếu Theo phương hướng đó, thị xã chỉ đạo các cơ sở phường xã, xí nghiệp tập trung vào nhiệm vụ sản xuất tận thu than xuất khẩu Thị xã đã đầu tư mở rộng công trường khai thác than Đá Mài, nâng cấp thành xí nghiệp than cảng Cẩm Phả, thành lập xí nghiệp than Thanh niên và 9 đội thanh niên làm kinh tế ở các phường xã, đầu tư thêm cho liên doanh khai thác than bùn; tiếp tục đầu tư nâng cấp cảng Vũng Đục, cảng Vũng Hoa tạo ra hệ thống sản xuất và tiêu thụ than Nhờ đó năm 1990 tiêu thụ 102.200 tấn; 6 tháng đầu năm 1991 tiêu thụ được 73.500 tấn Lượng than xuất khẩu và số ngoại tệ thu được đã tăng từ 15% đến 25% so cùng thời kỳ Sản xuất than địa phương đã tạo ra công ăn việc làm cho hàng vạn người lao động Các phường, xã trong thị xã đã tự trang trải được kinh phí, một phần là do nguồn thu từ làm than [2, tr.136]

Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, từ ngày 24 đến ngày 25 tháng 9 năm 1991, Đảng bộ thị xã Cẩm Phả đã tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ XVII Đây là Đại hội đầu tiên có nhiệm kỳ 5 năm Đại hội đã xác định phương hướng chung về kinh tế của Đảng bộ thị xã 5 năm tới là: “Phát triển nhanh hơn kinh tế… Phát huy tinh thần tự lực, tự cường, năng động sáng tạo để khai thác có hiệu quả tiềm năng lao động, tài nguyên trên địa bàn, coi trọng và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển Khuyến khích và đẩy mạnh hơn nữa kinh tế hộ gia đình, coi đây là một nhiệm vụ rất quan trọng của Đảng bộ và nhân dân, vừa góp phần tạo ra sản phẩm hàng hóa dịch vụ cho xã hội, vừa tự giải quyết việc làm, có thu nhập để ổn định đời sống Thiết lập và phát triển mối quan hệ hữu

cơ giữa kinh tế thị xã với các đơn vị kinh tế cấp tỉnh và Trung ương Huy động

và sử dụng hiệu quả mọi nguồn vốn, kể cả vốn nhàn rỗi trong nhân dân và vốn đầu tư của nước ngoài, vốn viện trợ… Tạo môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển sản xuất, kinh doanh…” Đại hội đã xác định cụ thể hơn

cơ cấu kinh tế của thị xã là: “Công nghiệp – Nông nghiệp, lâm nghiệp – Thương mại và dịch vụ” Từ đó, Đại hội nhấn mạnh phương hướng phát triển:

Trang 27

“Đẩy mạnh sản xuất than và làm than xuất khẩu, mở rộng cơ chế thị trường trên địa bàn toàn thị xã và ở trong từng phường, xã, tập trung xây dựng cơ bản, chú trọng đầu tư các thiết bị kỹ thuật quan trọng trong dây chuyền sản xuất và

cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, đời sống, đẩy mạnh việc giao đất, giao rừng, khuyến khích và giúp đỡ nhân dân nuôi trồng cây, con xuất khẩu” [2, tr.140]

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XVII, thị xã Cẩm Phả đã tập trung lực lượng khai thác than mỏ nhỏ, tổ chức lao động chế biến than bãi thải, tận thu than trôi và than bùn ven biển, nâng cao quy mô sản xuất, đầu tư thêm vốn cho xí nghiệp Than cảng, công ty Ngoại thương, xí nghiệp than Thanh niên

Mở rộng tận thu than trôi, than nhặt ở các phường, đẩy mạnh quá trình hợp tác liên doanh giữa các cơ sở sản xuất than của thị xã với các đơn vị sản xuất than của Trung ương đóng trên địa bàn Tổng sản lượng tăng bình quân tăng 18,4% một năm, vượt 3,4% so với chỉ tiêu Đại hội đề ra Than xuất khẩu năm

1994 tăng 65% so với năm 1991, sản xuất than thu hút hàng ngàn lao động Các đơn vị làm than đã đóng góp đáng kể vào ngân sách Nhà nước [2, tr.141]

Từ cuối năm 1994, thực hiện Quyết định 381/CP của Chính Phủ “về việc lập lại trật tự trong khai thác, tiêu thụ than”, các doanh nghiệp thuộc thị

xã quản lý không được khai thác than mỏ và xuất khẩu Hầu hết các doanh nghiệp gặp khó khăn do phải chuyển hướng sản xuất song cũng nhanh chóng tìm việc làm mới và dần đi vào ổn định

Từ năm 1991 đến năm 1995 là thời kỳ thử thách gay gắt đối với công nghiệp ngoài quốc doanh Cùng với việc xóa bỏ bao cấp, thị trường truyền thống ở Liên Xô và Đông Âu bị cắt, việc mở cửa biên giới Việt – Trung, hàng ngoại lai đẹp và rẻ tràn vào làm cho các cơ sở tiểu thủ công nghiệp của thị xã vốn đã nhỏ bé về quy mô, lại lạc hậu về kĩ thuật đã không đủ sức cạnh tranh, nhiều hợp tác xã và tổ hợp thua lỗ phải giải thể

Để khắc phục, lãnh đạo thị xã đã đề ra một số chủ trương nhằm khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế, tạo hành lang pháp lý và đơn giản hóa các thủ tục hành chính, khuyến khích các hộ tư nhân bỏ vốn vào sản xuất kinh

Trang 28

doanh, thành lập các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, tổ hợp tác… Vì vậy, giá trị tiểu thủ công nghiệp được duy trì ổn định

Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp cũng có tiến bộ đáng kể Về lâm nghiệp, thị xã đã xác định được các giống cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu ở địa phương như thông, keo, tràm Trong 5 năm đã trồng rừng tập trung đạt 1.075 ha và hàng chục vạn cây phân tán Nhiều hộ ở Quang Hanh và Cộng Hòa đã thực hiện việc kinh doanh vườn rừng có kết quả

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 và cơ chế khoán 10, thị xã đã chỉ đạo các hợp tác xã áp dụng khoán đến từng hộ xã viên Mỗi năm huy động từ

150 đến 400 triệu đồng vốn đầu tư vào thủy lợi, áp dụng các biện pháp kỹ thuật, giống mới năng suất cao vào cả vùng lúa và rau Sản lượng lương thực (quy thóc) năm 1995 đạt 1.766 tấn, tăng 40,7% so với năm 1991 đã giải quyết

đủ nhu cầu lương thực và chăn nuôi cho dân cư các xã trồng lúa Kinh tế hộ gia đình được khuyến khích phát triển, hàng năm có trên 1 vạn gia đình chăn nuôi gia súc, gia cầm, mỗi năm sản xuất trên 2.000 tấn thịt hơi các loại, đáp ứng một phần nhu cầu tiêu dùng thường xuyên trên địa bàn [2, tr.142]

Hoạt động tích cực của các ngành Ngân hàng, Kho bạc đã chủ động khai thác nguồn vốn cho các doanh nghiệp và nhân dân trên 550 triệu đồng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và thực hiện chủ trương xóa đói, giảm nghèo

Nhìn chung lại, nhiệm vụ phát triển kinh tế do Đại hội đại biểu lần thứ XVII của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả đề ra cho 5 năm 1991 – 1995 đã đạt được những thành tựu quan trọng Đây là thắng lợi của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả nói riêng, của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh nói chung, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế và tạo điều kiện tiền đề cần thiết để chuyển sang giai đoạn phát triển mới

Thành tựu kinh tế của thị xã Cẩm Phả thời kỳ trước năm 1996 đã có ý nghĩa rất quan trọng trong bối cảnh kinh tế cả nước còn gặp nhiều khó khăn Nền kinh tế thị xã Cẩm Phả giữ được sự phát triển ổn định, góp phần giữ vững sự ổn định kinh tế – xã hội của toàn tỉnh, đảm bảo đời sống cho nhân dân

Trang 29

Trên cơ sở định hướng phát triển dài hạn nhằm thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiệm vụ tổng quát về kinh tế của toàn Đảng, toàn dân ta trong 5 năm 1996 – 2000 là: “Phấn đấu tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, hiệu quả cao hơn và vững chắc hơn, tiếp tục phát triển nền kinh tế

nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa…” [24, tr.470]

Nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu:

- Tập trung sức cho mục tiêu phát triển để đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm 9 – 10 %; đến năm 2000, GDP bình quân đầu người ít nhất gấp đôi năm 1990, trong chỉ đạo thực hiện phấn đấu đạt cao hơn Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp; công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn

Phát triển các ngành công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 14 – 15% chú trọng trước hết công nghiệp chế biến, công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng về dầu khí, than, xi măng, cơ khí, điện tử, thép, phân bón, hóa chất, một

số cơ sở công nghiệp quốc phòng

Cải tạo nâng cấp và xây dựng mới có trọng điểm các cơ sở hạ tầng, trước hết ở những khâu ách tắc và yếu kém nhất đang cản trở sự phát triển

Phát triển các ngành dịch vụ, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 12 – 13% tập trung vào các lĩnh vực vận tải, thông tin liên lạc, thương mại, du lịch, các dịch vụ tài chính, ngân hàng…

Tăng nhanh đầu tư phát triển toàn xã hội Chú trọng tăng cả tích lũy và đầu tư trong nước thông qua ngân sách, cũng như của doanh nghiệp và nhân dân Giải quyết tốt quan hệ tích lũy – tiêu dùng theo hướng cần kiệm để công nghiệp hóa, hiện đại hóa, không tiêu dùng quá khả năng nền kinh tế cho phép; tăng năng suất và hiệu quả để vừa cải thiện được đời sống, vừa có tích lũy ngày càng nhiều cho đầu tư phát triển Huy động mọi nguồn lực trong nước, đồng thời thu hút mạnh các nguồn vốn bên ngoài để đưa tỉ lệ đầu tư phát triển

Trang 30

trong toàn xã hội trong 5 năm lên tới khoảng 30% GDP, bảo đảm nhu cầu đầu

tư theo mục tiêu và định hướng

Khai thác thế mạnh của cả nước, của mỗi vùng, mỗi ngành tạo ra sự phát triển hài hòa giữa các vùng lãnh thổ, tập trung thích đáng nguồn lực cho các lĩnh vực, các địa bàn trọng điểm có điều kiện sớm đưa lại hiệu quả cao; đồng thời giành nguồn vốn để giải quyết những nhu cầu bức xúc của các vùng khác, tạo điều kiện để những vùng còn kém phát triển, các vùng nông thôn, miền núi có thể phát triển nhanh hơn, không chênh lệch quá lớn về trình độ phát triển kinh tế – xã hội giữa các vùng

Đến năm 2000 tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng chiếm khoảng

34 – 35% trong GDP, nông, lâm, ngư nghiệp chiếm khoảng 19 – 20%, dịch

vụ chiếm khảng 45 – 46%

- Tăng nhanh khả năng và tiềm lực tài chính của đất nước, lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia Huy động 21 – 22% GDP vào ngân sách thông qua thuế và phí; kiềm chế bội chi ngân sách không quá 4,5% GDP; thực hiện cam kết trả nợ Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiềm chế và kiểm soát lạm phát, loại trừ các nguy cơ tái lạm phát cao Phát triển thị trường tiền tệ và thị trường vốn, hình thành thị trường chứng khoán và mở rộng khả năng hoạt động của chúng cả ở trong và ngoài nước Tăng khả năng chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam, ổn định tỷ giá hối đoái phù hợp với sức mua thực tế của đồng tiền

- Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, tăng khả năng xuất khẩu các mặt hàng đã qua chế biến sâu; tăng sức cạnh tranh hàng hóa và dịch vụ Kim ngạch xuất khẩu bình quân hàng năm tăng 24 – 28%, nâng mức xuất khẩu bình quân đầu người năm 2000 lên 170 USD, phát triển mạnh du lịch và các dịch vụ cho khách nước ngoài Kim ngạch nhập khẩu tăng bình quân hằng năm 22 – 24% Kim ngạch xuất khẩu đáp ứng trên 90% nhu cầu nhập khẩu Tăng khả năng tiếp nhận vốn đầu

tư và công nghệ từ bên ngoài

Trang 31

Quán triệt tinh thần của Đại hội VIII về chỉ đạo phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế dựa vào điều kiện cụ thể ở địa phương, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ X (năm 1996) xác định nhiệm vụ: “Tranh thủ thời cơ, mở rộng quan hệ hợp tác trong và ngoài nước, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp và du lịch, phát triển và tăng cường nguồn lực kinh tế, giải quyết những vấn đề bức xúc xã hội; đổi mới và hoàn thiện quan hệ sản xuất, tăng cường công tác quản lý của các cấp chính quyền về kinh tế – xã hội, đảm bảo

an ninh quốc phòng, giữ vững ổn định chính trị, từng bước nâng cao đời sống nhân dân và tạo điều kiện cho bước phát triển sau những năm 2000” Phấn đấu: (1) Nhịp độ tăng trưởng GDP là 12 – 13%/năm; giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng 13 – 14%/năm, nông nghiệp tăng 5%/năm; (2) Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân hàng năm 18 đến 20%; tỷ trọng công nghiệp và du lịch, dịch vụ trong cơ cấu kinh tế đạt mức 85 – 90%; (3) Thu nhập sản phẩm

xã hội GDP bình quân theo đầu người tăng gấp 2 lần so với hiện nay (thời điểm năm 1996), khoảng 550 – 600 USD/người

Mục tiêu chiến lược lâu dài theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

là công nghiệp và du lịch hiện đại, cơ cấu hợp lý, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống nhân dân Trong 5 năm (1996 – 2000) tập trung phát triển toàn diện các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ – du lịch, lấy ngành công nghiệp và du lịch làm trọng tâm

Để thực hiện được phương hướng, nhiệm vụ và các mục tiêu trên, Đại hội đã đề ra các biện pháp cụ thể trên từng ngành, từng lĩnh vực, từng bước định hướng cho cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng: Công nghiệp – Du lịch, dịch vụ – Nông, lâm, ngư, nghiệp Quá trình nhận thức chỉ đạo thực hiện phát triển kinh tế được dựa trên quan điểm, đường lối của Đảng nhưng vận dụng linh hoạt vào thực tế và đặc điểm của địa phương

Trang 32

1.2 Chủ trương và sự lãnh đạo của Đảng bộ

1.2.1 Chủ trương phát triển kinh tế của Đảng bộ

Đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XVII, báo cáo chính trị nêu rõ: “Quán triệt Nghị quyết Đại hội VII của Đảng, các Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, Đảng bộ thị xã Cẩm Phả đã vận dụng đúng cơ chế chính sách mới vào điều kiện cụ thể của địa phương, đề ra các chủ trương, biện pháp và lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch được giao, tạo tiền đề cho bước phát triển tiếp theo” [2, tr.153]

Phát huy thế mạnh và những kết quả đạt được trong năm 1995 về kinh tế – xã hội, Đảng bộ thị xã phải vượt qua những khó khăn do cơ chế chính sách chưa ổn định, tình trạng mất cân đối giữa nhu cầu chi thường xuyên, chi xây dựng cơ sở hạ tầng với nguồn ngân sách có hạn, phải tạo môi trường thuận lợi, phát triển mạnh các thành phần kinh tế, cả kinh tế quốc doanh, ngoài quốc doanh

và kinh tế gia đình, tăng thu ngân sách địa phương Tập trung vấn đề xây dựng

cơ sở hạ tầng, an ninh quốc phòng giữ vững, ổn định chính trị

Đại hội đề ra phương hướng chung của Đảng bộ thị xã nhiệm kỳ 1996 – 2000 là: “Quán triệt và vận dụng Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X, tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới, tạo ra sự chuyển biến thiết thực trên tất cả các mặt; tăng cường sự ổn định về chính trị, giữ vững an ninh, quốc phòng, phát triển kinh tế, xã hội, khai thác thế mạnh về lao động và tài nguyên, tiền vốn, gắn liền với nhiệm vụ quản lý đô thị, góp phần bảo vệ tài nguyên và phát triển ngành than…”, “… tạo môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế cùng phát triển Khuyến khích và đẩy mạnh phát

triển kinh tế gia đình để từng bước thực hiện xóa đói, giảm nghèo” [2, tr 154]

Cơ cấu kinh tế của thị xã cũng được Đại hội xác định là: “Công nghiệp – Lâm, ngư nghiệp – Thương mại, dịch vụ và du lịch; từng bước công nghiệp hóa và hiện đại hóa quá trình sản xuất, phấn đấu tăng trưởng kinh tế trên 10% một năm Trong đó công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại tăng từ

10 đến 12% trở lên” [2, tr.154]

Trang 33

Mục tiêu chủ yếu về kinh tế cho năm 1996 như sau: Tăng trưởng kinh

tế đạt 10%; sản lượng than tận thu đạt 85.000 tấn; giá trị sản lượng tiểu thủ công nghiệp đạt 8 tỷ đồng; sản lượng lương thực quy thóc đạt 1.700 tấn, sản lượng rau quả là 8.500 tấn, đánh bắt hải sản đạt 570 tấn

Để thực hiện được phương hướng, nhiệm vụ và các mục tiêu trên, Đại hội đã đề ra nhiệm vụ cụ thể như sau:

Phát triển kinh tế, tăng thu ngân sách, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: Tạo điều kiện và môi trường thuận lợi, phát triển mạnh các thành phần kinh tế trên các lĩnh vực: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nông lâm ngư nghiêp, dịch vụ du lịch, khuyến khích kinh tế gia đình phát triển, giải quyết việc làm,

ổn định và nâng cao hơn nữa đời sống nhân dân Đề nghị tỉnh cho chuyển hướng xí nghiệp than cầu 20 sang hình thức công trường than nhân dân, tận thu than, ổn định sản xuất Đồng thời, tận thu các nguồn than trôi, bãi thải và kinh doanh than mỏ, giải quyết việc làm cho nhân dân Tiếp tục củng cố và đa dạng hóa mô hình kinh tế ngoài quốc doanh Các ngành chức năng hướng dẫn sản xuất, kinh doanh, quản lý và kiểm tra giám sát các doanh nghiệp hoạt động đúng pháp luật, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ thuế với nhà nước

Tiếp tục thực hiện nghị quyết Trung ương V về nông nghiệp và nông thôn Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, thực hiện công tác khuyến nông , đưa kĩ thuật, giống mới vào sản xuất Tiếp tục triển khai dự án 327, h́ình thành các vùng trồng cây ăn quả, đưa chương trình rau sạch và các hợp tác xã trồng rau Đẩy mạnh đánh bắt hải sản Huy động mọi nguồn vốn để trồng rừng và phát triển nghề rừng theo hướng nông lâm kết hợp Mở rộng mô hình kinh doanh vườn rừng

Củng cố nâng cao năng lực kinh doanh của thương nghiệp quốc doanh Phát triển kinh tế chợ, tạo điều kiện cho các hộ tư doanh buôn bán, trao đổi, giao lưu hàng hóa Thực hiện có kết quả các chương trình cho vay vốn phát triển sản xuất nhất là với kinh tế ngoài quốc doanh, chương trình giải quyết việc làm quốc gia, giải quyết việc làm tại chỗ, tăng thu nhập cho người lao động

Trang 34

Chủ động khai thác mọi nguồn thu được phân cấp Tích cực nuôi dưỡng nguồn thu, chống buôn lậu, chống thất thu thuế Hoàn thành chỉ tiêu thu, chi ngân sách

Bước sang năm 1997, Đảng bộ và nhân dân thị xã Cẩm Phả tiếp tục công cuộc xây dựng và phát triển công nghiệp đã được đề ra từ năm 1996, bổ sung các mục tiêu đã được đề ra trước đó Tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để phát triển thành phần kinh tế Từng bước sắp xếp ổn định nhiệm vụ sản xuất và đẩy mạnh kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước và các loại hình kinh tế ngoài quốc doanh phù hợp với điều kiện và thế mạnh của địa phương Khuyến khích phát triển kinh tế gia đình theo hướng sản xuất hàng hóa, kinh doanh thương mại và dịch vụ, nhằm chủ động giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, từng bước cải thiện đời sống nhân dân

Vận dụng luật hợp tác xã và Nghị quyết Trung ương V về nông nghiệp, nông thôn để cải tiến quản lý hợp tác xã, đầu tư thủy lợi và khoa học kĩ thuật, làm tốt công tác khuyến nông, đưa giống lúa mới, giống cây trồng, gia súc, gia cầm có giá trị kinh tế cao phù hợp với điều kiện vào từng vùng, Tiếp tục thực hiện dự án 327 và huy động các nguồn vốn khác để trồng rừng, trồng cây

ăn quả gắn liền với việc chăm sóc, bảo vệ tài nguyên rừng Củng cố và phát triển nuôi trồng và đánh bắt hải sản Đồng thời, Đảng bộ cũng chỉ đạo xuống các cấp chính quyền, các đoàn thể, các đơn vị ngân hàng, các phòng ban chức năng cần chủ động khai thác các nguồn vốn, tạo điều kiện, giúp các cơ sở sản xuất, các hộ gia đình đầu tư sản xuất, kinh doanh sao cho có hiệu quả và bảo tồn vốn

Năm 1997 là năm đầu thực hiện luật Ngân sách, đòi hỏi cấp ủy và chính quyền từ thị xã đến xã, phường phải quan tâm nhiều hơn đến việc nuôi dưỡng nguồn và chống thất thu các loại thuế Phấn đấu thực hiện kế hoạch tạm giao và thu các loại thuế năm 1997 là 29.850 triệu đồng, tăng 3,1% so với năm 1996 Trong đó thuế môn bài Nhà nước quy định tăng 30% so với bậc cũ, và tăng 20% doanh số bình quân Đây là một nhiệm vụ rất nặng nề, và quan trọng của

Trang 35

Đảng bộ, chính quyền và của các ngành, các cấp, đòi hỏi sự chỉ đạo phối hợp chặt chẽ sao cho vừa phát triển sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện tăng nguồn thu, vừa thu đúng, thu đủ theo sự phân cấp thu ngân sách [34, tr.12]

Quan điểm lãnh đạo của Thị ủy là phải phấn đấu hoàn thành vượt mức

kế hoạch được giao Đảm bảo tự cân đối thu – chi thường xuyên giành từ 12 đến 17% tổng chi cho xây dựng cơ bản Tiếp tục tranh thủ các nguồn vốn cùng với vốn ngân sách để đầu tư hoàn thành các công trình chuyển tiếp: Bãi tắm A, Rạp công nhân, cải tạo nâng cấp nhà văn hóa; xây dựng UBND xã Cẩm Hải, trường trọng điểm; thi công các tuyến đường vào khu dân cư…

Năm 1998, bên cạnh những thuận lợi chung của cả nước do quá trình đổi mới tạo ra Song cũng sẽ còn nhiều khó khăn thử thách về kinh tế – xã hội Đối với thị xã Cẩm Phả: nhiều nguồn thu ngân sách bị thu hẹp, cơ chế điều tiết và thu tiết chưa đáp ứng yêu cầu Những vấn đề bức xúc về việc làm,

tệ nạn xã hội, môi trường, cơ sở hạ tầng và an ninh trật tự… đòi hỏi Đảng bộ phải tập trung lãnh đạo, triển khai đồng bộ, giải quyết từng bước Vì vậy, cần lãnh đạo thực hiện cho được những nhiệm vụ mục tiêu chủ yếu sau:

Tiếp tục phát huy cơ sở vật chất kĩ thuật, năng lực lao động kinh nghiệm quản lý hiện có, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh dịch vụ trong các doanh nghiệp, các đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh và hộ gia đình, nhằm mở rộng sản xuất, giải quyết việc làm, tạo sản phẩm xã hội Chú trọng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt mức tăng trưởng kinh tế về giá trị sản lượng, doanh số từ 5% trở lên Quan tâm đầu tư từng bước giải quyết vấn đề nông nghiệp – nông thôn và nông dân, rút ngắn khoảng cách các mặt đời sống – văn hóa với vùng công nghiệp đô thị Cùng với đó, huy động, quản lý, sử dụng tốt các nguồn vốn “xóa đói, giảm nghèo” để giảm hộ diện đói – nghèo xuống dưới 5% Khuyến khích phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa – mở rộng các mô hình nông – lâm kết hợp, vườn – ao – chuồng, kinh doanh vườn – rừng… gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ tài nguyên môi trường và bảo vệ rừng [45, tr.9]

Trang 36

Trong công nghiệp – dịch vụ: Phát huy thế mạnh của kinh tế chợ, tạo thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, chống buôn lậu, chống làm hàng giả, chống thất thu thuế để bảo đảm vệ sinh thực phẩm

Phấn đấu hoàn thành kế hoạch thu – chi ngân sách Nhà nước giao Trong đó cố gắng thu ngân sách thị xã vượt 10% trở lên so với kế hoạch, đảm bảo chi thường xuyên và giành đầu tư cho xây dựng cơ bản Tiếp tục huy động sự đóng góp của các cơ quan, doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế và các ngành, cùng với sự đóng góp của nhân dân để xây dựng công trình phúc lợi,

cơ sở hạ tầng… Quản lý và sử dụng tốt các nguồn vốn, công trình hiện có

Một mục tiêu khác cũng rất quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm

vụ là vấn đề về xây dựng cơ bản Mục tiêu của Đảng bộ thị xã đặt ra là đến năm 2000, mỗi năm xây dựng được 2 trường học cao tầng, các tuyến đường chính vào khu dân cư được bê tông hóa, hoặc nhựa hóa, các trạm xá được cải tạo nâng cấp, hệ thống rãnh thoát nước và vệ sinh môi trường được cải thiện một bước, theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm Ở đâu huy động nhân dân góp vốn thì ưu tiên đầu tư xây dựng ở đó trước Đồng thời, tăng cường quản lý quy hoạch xây dựng Tạo điều kiện cho các xí nghiệp có năng lực đổ đất lấn biển để phát triển các khu dân cư mới Quan tâm giải quyết dứt điểm các vụ đất đai, nhà cửa tồn đọng

Với đường lối và những chính sách của Đảng và Nhà nước, những mục tiêu cụ thể trong từng ngành, Đảng bộ và nhân dân thị xã Cẩm Phả đã nỗ lực phấn đấu khai thác tiềm năng, phát huy các nguồn lực, thực hiện các mục tiêu

đề ra và có những bước phát triển khá Tuy nhiên, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Đông Nam Á; ngành than tiêu thụ sản phẩm chậm, lương bình quân giảm, lao động trong các dây chuyền sản xuất chính bị giảm bớt; ngành cơ khí tiếp tục khó khăn hơn Trong khi đó, nguồn thu ngân sách bị thu hẹp, một số luật thuế mới bắt đầu thực hiện Những khó khăn đó đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền các cấp, ban ngành, đoàn thể, các đơn vị sản xuất kinh

Trang 37

doanh cần phải tập trung chỉ đạo ngay từ đầu năm để phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của thị xã Đứng trước tình hình đó, Đảng bộ thị xã đã đề

ra những phương hướng cụ thể cho năm 1999 như sau:

Cần tiếp tục tạo môi trường và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các thành phần kinh tế Các doanh nghiệp Nhà nước từng bước ổn định và mở rộng nhiệm vụ sản xuất, phát huy cơ sở vật chất, năng lực lao động hiện có để

mở rộng sản xuất kinh doanh Đẩy mạnh phát triển các loại hình kinh tế ngoài quốc doanh phù hợp với điều kiện và thế mạnh của địa phương, với điều kiện năng lực quản lý của doanh nghiệp Khuyến khích phát triển kinh tế gia đình theo hướng sản xuất hàng hóa, kinh doanh thương mại và dịch vụ, mở rộng các mô hình kinh tế vườn rừng, kinh tế trang trại, củng cố và đầu tư cho việc nuôi trồng và đánh bắt hải sản, nhằm chủ động giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, từng bước ổn định và cải thiện đời sống các tầng lớp dân cư

Đảng bộ thị xã cũng rất quan tâm đến vấn đề phát triển nông nghiệp, trồng rừng và phát triển vốn rừng Đảng bộ chỉ đạo cần ổn định mô hình sản xuất ở các vùng lúa, các hợp tác xã vùng rau theo luật hợp tác xã Từng bước giải quyết vấn đề nông nghiệp – nông thôn theo tinh thần Nghị quyết 06 của

Bộ chính trị, đẩy mạnh công tác thủy lợi dịch vụ phục vụ nông nghiệp, công tác khuyến nông, đưa giống cây, con mới có năng suất cao phù hợp với điều kiện của địa phương vào sản xuất Huy động mọi nguồn lực để trồng rừng và phát triển vốn rừng Gắn liền việc phát triển mô hình kinh tế vườn rừng, kinh

tế trang trại với việc bảo vệ tài nguyên rừng, phòng chống cháy rừng

Đảng bộ thị xã cũng chỉ đạo tới các cấp chính quyền, các ban ngành, đoàn thể, các ngành ngân hàng chủ động khai thác nguồn vốn, tạo điều kiện giúp đỡ các cơ sở sản xuất, các hộ gia đình đầu tư sản xuất kinh doanh có hiệu quả và bảo toàn được vốn:

- Về thu chi ngân sách: Năm 1998 một số khoản thu không còn và bị thu hẹp, đòi hỏi cấp ủy, chính quyền từ thị xã đến các phường xã phải quan tâm nhiều hơn đến nuôi dưỡng, tạo nguồn thu, chống thất thu các loại thuế Phấn

Trang 38

đấu thu ngânsách vượt từ 8 – 10% trở lên so với kế hoạch, đảm bảo chi thường xuyên và đầu tư thỏa đáng cho xây dựng cơ bản Tăng cường công tác quản lý kinh tế tài chính, thu chi ngân sách các xã phường, các cơ sở [36, tr.14]

- Về xây dựng cơ bản: Tiếp tục huy động các nguồn vốn với vốn ngân sách để đầu tư hoàn thành các công trình chuyển tiếp như: Bãi tắm Bến Do, trường Phổ thông trung học Lê Quý Đôn, trường Trung học cơ sở Bái Tử Long, Mông Dương… Triển khai thi công nhà văn hóa thiếu nhi, trường Trung học cơ sở Lý Tự Trọng, trường Nam Hải, điện xã Cẩm Phả, Hoàn thành thủ tục và góp vốn xây dựng 15 tuyến đường tiểu mạch; đôn đốc ngành than tiếp tục đầu tư cải tạo các con suối… sử dụng hiệu quả các nguồn vốn huy động, các công trình hiện có

Với sự chỉ đạo cụ thể, thiết thực trong từng lĩnh vực kinh tế của Đảng

bộ thị xã Cẩm Phả nên mặc dù năm 1999, ngành than có những biến động lớn ảnh hưởng nhiều mặt đến tình hình kinh tế xã hội của địa phương Song cấp

ủy, chính quyền, đoàn thể từ thị xã đến các phường xã, các phòng ban chuyên môn, các đơn vị sản xuất kinh doanh đã vượt qua khó khăn, thử thách triển khai thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công tác một cách tích cực chủ động, đạt kết quả khá toàn diện Thu ngân sách đạt cao, huy động được nhiều nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng… từng bước được giải quyết có hiệu quả

Năm 2000 là năm có nhiều sự kiện quan trọng của đất nước, chuẩn bị bước sang thế kỷ XXI, cũng là năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XVIII Tuy có những thuận lợi mới, nhưng cũng còn nhiều khó khăn phức tạp, nhất là ngành than Ngành cơ khí đang bị giảm sút, sẽ có tác động về nhiều mặt đến tình hình kinh tế – xã hội ở địa phương Vì vậy, Đảng

bộ thị xã phải chủ động quán triệt, vận dụng đúng đắn các Nghị quyết của Đảng, chính sách và sự chỉ đạo của Tỉnh ủy vào điều kiện cụ thể ở địa phương Phương hướng lãnh đạo là phải phát huy nội lực và các điều kiện tại chỗ để phát triển kinh tế xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng Phấn đấu thực hiện một số chỉ tiêu cơ bản về kinh tế: Tăng trưởng kinh tế 5% trở lên so với năm 1999, trong

Trang 39

đó nông nghiệp tăng 33%; Hoàn thành kế hoạch tổng thu ngân sách Nhà nước được giao, trong đó thu ngân sách thị xã tăng 10% trở lên [37, tr.13]

Nhiệm vụ chủ yếu là tạo môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh

tế cùng phát triển Tăng cường chức năng quản lý Nhà nước trên địa bàn, cùng với ngành than duy trì trật tự trong khai thác, vận chuyển, kinh doanh than Chú trọng chỉ đạo phát triển kinh tế ngoài quốc doanh và kinh tế hộ gia đình vì đây là hai khu vực góp phần lớn để giải quyết việc làm, có thu nhập,

ổn định đời sống nhân dân hiện nay Với phương châm đa dạng hóa ngành nghề và sản phẩm để tạo nhiều sản phẩm hàng hóa, dịch vụ

Biện pháp để thực hiện mục tiêu trên là tiếp tục huy động, quản lý các nguồn vốn của ngân sách cấp, vay ngân hàng, từ các đoàn thể, vốn giúp đỡ lẫn nhau từ nội bộ ngân sách… Quan tâm đến công tác khuyến nông, giúp người sản xuất sử dụng nguồn vốn có hiệu quả Đồng thời, chỉ đạo cho các ngành chức năng có trách nhiệm cung cấp thông tin, hướng dẫn kĩ thuật, giống cây, con có năng suất cao và tạo điều kiện giải quyết khâu tiêu thụ sản phẩm nhất là gỗ trồng, gia súc, gia cầm, quả, củ…

1.2.2 Sự chỉ đạo thực hiện và kết quả

Trong những năm 1996 – 2000, chính sách phát triển kinh tế địa phương cùng với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong thị xã, đã thu được nhiều kết quả quan trọng Tình hình kinh tế tiếp tục ổn định và có bước phát triển Các chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế – xã hội đều đạt và vượt so với mục tiêu đã đề ra ở Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XVIII

Về sản xuất kinh doanh:

Công nghiệp: Thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng, Nghị quyết

Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ X và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XVIII, cán bộ, đảng viên và nhân dân thị xã đã không ngừng phấn đấu đẩy mạnh sản xuất

Các doanh nghiệp thuộc thị xã quản lý khắc phục khó khăn do phải chuyển từ sản xuất than sang hợp đồng dịch vụ vận tải, chế biến, tiêu thụ than

Trang 40

cho các mỏ, nhưng đều cố gắng hoàn thành các chỉ tiêu Năm 1996, các doanh nghiệp thị xã quản lý bị thu hẹp, không được chế biến và kinh doanh than, nên gặp nhiều khó khăn, lao động thiếu việc làm, ảnh hưởng đến chỉ tiêu nộp ngân sách của khối doanh nghiệp địa phương Đến cuối năm 1996, nộp ngân sách chỉ đạt 78,02 % kế hoạch năm Các doanh nghiệp tỉnh, Trung ương sinh hoạt tại Đảng bộ thị xã, tuy đã có nhiều cố gắng duy trì sản xuất kinh doanh, nhưng chỉ có một số đơn vị hoạt động tương đối ổn định Các đơn vị khác vẫn thiếu việc làm, hoạt động sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn đình trệ, thu nhập chủ yếu từ hoạt động kinh doanh phụ

Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh do chịu ảnh hưởng của tình hình sản xuất trên địa bàn, sức cạnh tranh với hàng hóa từ bên ngoài kém, trong khi đó sức mua của nhân dân lại hạn chế Vì thế sản xuất của hầu hết các đơn vị gặp khó khăn, nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh không hiệu quả, nợ đọng thuế phải giải thể Theo điều tra khảo sát trên địa bàn thị xã thì trong năm 1996 đã có 24

cơ sở bị giải thể Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn tồn đọng 23,6% số thuế phải nộp đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu thu ngân sách của thị xã [34, tr 1]

Năm 1997, tuy Đảng bộ thị xã tích cực huy động các nguồn lực tháo gỡ khó khăn, thích nghi dần với cơ chế thị trường Tuy nhiên tình trạng thiếu vốn, thiếu việc làm, tiêu thụ sản phẩm và hàng hóa chậm của các công ty – xí nghiệp quốc doanh đã đặt ra những thử thách cho địa phương Công nghiệp địa phương không còn nguyên vẹn theo đúng nghĩa của nó, mà thực chất là gia công, làm thuê Riêng đối với 4 đơn vị do thị xã quản lý, tỉnh giao số thuế phải nộp khá cao nhưng các xí nghiệp đều đã cố gắng thực hiện và vượt kế hoạch Ngành công nhiệp ngoài quốc doanh đến năm 1997 chỉ còn 48 cơ sở hoạt động Tuy sản xuất có ổn định và hiệu quả hơn, song khối lượng hàng hóa nhỏ bé và chất lượng sản phẩm còn thấp Giá trị tổng sản lượng đạt hơn

40 tỷ đồng, tăng 13% so với năm 1996, thu hút trên 2000 lao động Đối với những đơn vị không hoạt động hoặc hoạt động không có hiệu quả, thị xã giải quyết cho giải thể hoặc chuyển hướng sản xuất kinh doanh [35, tr.1]

Ngày đăng: 21/09/2020, 19:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w