1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

“Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 3 viết đúng chính tả.”

13 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 104 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với vấn đề cần giải quyết là vấn đề cũ: Khi các em bắt đầu làm quen với môn học các em ít được thầy cô, chú trọng trong việc kết hợp luyện tập chính tả với luyện cách phát âm, củng cố nghĩa của từ, trau dồi về ngữ pháp Tiếng Việt góp phần phát triển một số thao tác tư duy. Học sinh chưa nắm vững kỹ thuật từ vựng, không hiểu nghĩa của từ trong văn cảnh cụ thể hay hiểu một cách mơ hồ, thái độ học tập còn thờ ơ,... Bên cạnh đó, do bản thân các âm, vần, thanh khó ( khó phát âm, cấu tạo phức tạp ), học sinh không nắm vững quy tắc ghi âm chữ Quốc ngữ và do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương nên dẫn đến việc viết sai lỗi chính tả.

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SÁNG KIẾN

Kính gửi: Hội đồng sáng kiến cơ sở huyện Phú Ninh

Tên sáng kiến:

“Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 3 viết đúng chính tả.”

1 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giúp học sinh lớp 3 viết đúng chính tả.

3 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:

Ngày 15 tháng 9 năm 2019 Năm học 2019 - 2020

4 Mô tả bản chất của sáng kiến:

4.1 Phân tích tình trạng của giải pháp đã biết:

- Ưu điểm:

+ Hiện nay được sự cho phép của Bộ GD&ĐT, giáo viên có thể cắt bỏ những lỗi mà địa phương hoặc lớp mình không mắc phải thay vào đó những lỗi

mà học sinh thường sai

+ Ban giám hiệu và chuyên môn trường luôn quan tâm chỉ đạo, tạo mọi điều kiện về chuyên môn, cũng như cơ sở vật chất

+ Nhà trường tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ giáo viên trong quá trình nghiên cứu

- Nhược điểm:

+ Một số học sinh chưa thực sự tự giác về việc học của mình

+ Một số học sinh là người dân tộc thiểu số (HS ở Trung tâm mồ côi sơ sinh Quảng Nam) mới chuyển về khả năng giao tiếp Tiếng Việt của các em còn hạn chế, các em đọc viết còn chậm

+ Một số em phát âm sai nên dẫn đến viết chính tả sai nhiều

+ Tuổi các em nhỏ nên còn ham chơi, chưa có ý thức tự học

+ Một số em thường viết sai các tiếng có cặp âm đầu s/ x như: xức khỏe (sức khỏe), xung sướng (sung sướng), xản xuất (sản xuất), xung sức (sung sức),

Trang 2

bổ sung (bổ xung),…Các tiếng có cặp âm đầu d/gi như: dã gạo (giã gạo), thú giữ (thú dữ), dữ gìn (giữ gìn),…Điều này, chứng tỏ các em không những phát âm sai

mà còn không hiểu nghĩa của từ Nhiều em chưa phân biệt được cách phát âm của giáo viên, chưa có ý thức tự học cao, chưa chú ý tập trung khi viết chính tả

4.2 Nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm của giải pháp đã biết:

* Đối với vấn đề cần giải quyết là vấn đề cũ:

- Khi các em bắt đầu làm quen với môn học các em ít được thầy cô, chú trọng trong việc kết hợp luyện tập chính tả với luyện cách phát âm, củng cố nghĩa của từ, trau dồi về ngữ pháp Tiếng Việt góp phần phát triển một số thao tác tư duy

- Học sinh chưa nắm vững kỹ thuật từ vựng, không hiểu nghĩa của từ trong văn cảnh cụ thể hay hiểu một cách mơ hồ, thái độ học tập còn thờ ơ,

- Bên cạnh đó, do bản thân các âm, vần, thanh khó ( khó phát âm, cấu tạo phức tạp ), học sinh không nắm vững quy tắc ghi âm chữ Quốc ngữ và do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương nên dẫn đến việc viết sai lỗi chính tả

* Đối với vấn đề cần giải quyết là mới:

- Tập cho học sinh phát âm chuẩn

- Phân tích, so sánh

- Cung cấp một số mẹo luật chính tả học sinh

- Luyện tập làm các bài tập chính tả

- Tổ chức trò chơi lồng vào tiết học

- Sử dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp

- Rèn cho học sinh thói quen, niềm say mê đọc sách

4.3 Các điều kiện, phương tiện cần thiết để thực hiện và áp dụng giải pháp:

- Phương pháp dạy học Tiếng Việt tiểu học ( NXBGD)

- Một số tài liệu hướng dẫn đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt tiểu học ( NXBGD)

- Sách Tâm lý học sinh Tiểu học ( NXBGD)

- Sách HD học Tiếng Việt lớp 3 ( NXBGD)

- Tình hình thực tế của trường, lớp Tình hình học tập của học sinh

Trang 3

- Sự hỗ trợ đắc lực của cha mẹ học sinh, nhà trường Kinh nghiệm dạy học trong nhiều năm

4.4 Các bước thực hiện giải pháp, cách thực hiện giải pháp và áp dụng giải pháp:

4.4.1 Tìm hiểu nguyên nhân và một số lỗi học sinh thường viết sai: a) Lỗi về âm chính:

+ Do sự phức tạp của chữ Quốc ngữ, nguyên âm /ă/ lại được ghi bằng chữ a trong các vần ay, au Các nguyên âm đôi: iê / ươ / uô lại được ghi bằng cá dạng

iê, yê, ia, ya, ươ, ưa, ua (bia- khuya, biên - tuyến, lửa - lương, mua - muôn) + Do cách phát âm lẫn lộn trong phương ngữ nhất là đối với tỉnh Quảng Nam nói chung và một số vùng ở nông thôn nói riêng - nơi tôi đang dạy, vẫn còn học sinh phát âm sai đối với các âm chính của các vần trên (nhất là các em vùng dân tộc thiểu số ở Trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi sơ sinh Quảng Nam hiện đang học tại trường)

b) Lỗi về âm cuối:

+ Học sinh phát âm không phân biệt các vần có âm cuối như: n/ng (ví dụ:

sàn/sàng); uôt/uôc ( ví dụ: buốt/buốc ; y/i (ví dụ: mai/mây), u/o (ví dụ: sau/ sao/sâu);… mà số lượng các từ có âm cuối này lại rất nhiều, do đó các em mắc lỗi khá nhiều và rất khó khắc phục đối với các em

c) Lỗi về âm đầu:

+ Do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương và phát âm sai nên dẫn đến viết sai các phụ âm như: x/s, d/gi/r Các em thường viết sai như: dữ gìn (từ đúng: giữ gìn), ; chim xẻ (từ đúng: chim sẻ), giọt xương (từ đúng: giọt sương),

d) Về chữ cái ghi âm: Học sinh thường viết sai một số chữ cái ghi các âm

đầu sau:

+ g/gh: Ví dụ: cái ghế, con ghẹ, nhà ga, ( Học sinh viết: cái gế, con gẹ, nhà gha, )

+ ng/ngh: Ví dụ: nghỉ hè, nghe nhạc,…( Học sinh viết: ngỉ hè, nge nhạc, ) + s/x: Ví dụ: sa mạc, chim sẻ, xẻ thịt, ( Học sinh viết: xa mạc, chim xẻ,

sẻ thịt, )

Trang 4

+ v/d/gi: Ví dụ: hoa giấy, dải lụa, giống nòi, ra về, giao thừa (Học sinh viết: hoa dấy, giải lụa, dống nòi, ra dề, dao thừa )

- Về âm chính: Học sinh thường mắc lỗi khi viết chữ ghi âm chính trong

các vần sau:

+ ai/ay/ây: Ví dụ: bay lên, dạy học, may vá, gà mái, mái rạ, … (Học sinh viết: bây lên, dậy học, mây vá, gà máy, máy rạ, …)

+ ao/au/âu: Ví dụ: (Học sinh viết: ngôi sâu, hôm sao, cau thấp, trước sao,.) + ui/uôi: Ví dụ: chín muồi, đầu đuôi, tuổi tác,… (Học sinh viết: chín mùi, đầu đui, tủi tác,…)

- Về âm cuối: Một số học sinh viết lẫn lộn các chữ cái ghi âm cuối trong

các vần sau:

- an/ang: Ví dụ: cây bàn, cái bàn, lầm than, thênh thang, bình thản (Học sinh viết: cây bàn, cái bàng, lầm thang, thênh than, bình thảng )

- ăt/ăc: Ví dụ: đánh giặc, mặc áo, rửa mặt, giặt áo…(Học sinh viết: đánh giặt, mặt áo, rửa mặc, giặc áo…)

- uôn/uông: Ví dụ: khuông nhạc, buồng tắm,… (Học sinh viết: khuôn nhạc, buồn tắm,…)

4.4.2 Những biện pháp giúp học sinh khắc phục lỗi chính tả và hứng thú khi học phân môn chính tả:

a) Tập cho học sinh phát âm chuẩn:

+ Để giúp học sinh viết đúng chính tả, tôi chú ý luyện cho học sinh phát

âm đúng, phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm cuối vì chữ Quốc ngữ

là chữ ghi âm - âm thế nào, chữ ghi lại thế ấy

+ Việc rèn phát âm không chỉ được thực hiện trong tiết Tiếng Việt mà cần phải thường xuyên, liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học cũng như trong giao tiếp hằng ngày

* Ví dụ: Khi viết học sinh thường viết sai các từ như: khăn rằn - khen rèn; cây sả - cây xả; bao gạo - bô gạo; chăn trâu - chen trâu với những từ này khi đọc tôi thường đọc chậm, rõ ràng để học sinh viết đúng chính tả Không những thế, trong khi giao tiếp tôi luôn nhắc nhở các em phát âm đúng (nhất là đối với học sinh vùng nông thôn, học sinh dân tộc thiểu số)

Trang 5

b) Phân tích, so sánh:

+ Khi dạy một số bài chính tả nghe viết có các từ khó mà học sinh dễ viết sai tôi thường giúp học sinh phân tích cấu tạo tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau để học sinh ghi nhớ quy tắc chính tả

* Ví dụ:

- Nghe - viết: Đêm trăng trên Hồ Tây (Sách HDHTV tập 1B/ 48), trong bài viết có câu: “Trăng tỏa sáng rọi vào các gợn sóng lăn tăn ” Khi viết học sinh thường viết tiếng “ lăn” thành “lăng” Để giúp học sinh tránh nhầm lẫn hai tiếng này, tôi hướng dẫn học sinh phân tích cấu tạo và phân biệt nghĩa của chúng như sau:

+ Lăn = L + ăn + thanh ngang Ví dụ: lăn kềnh, lăn tay, xe lăn bánh, lăn tăn, lăn xả, lăn lóc,

+ Lăng = L + ăng + thanh ngang Ví dụ: cá lăng, lăng kính, lăng mạ, xâm lăng, lăng mộ, lăng quăng,

- Nghe - viết: Cậu bé thông minh ( Sách HDHTV tập 1A/3,4), trước khi đọc cho học sinh viết, tôi giúp cho học sinh phân tích, so sánh một số từ có tiếng dễ lẫn lộn như: rằn/ rèn Giúp học sinh hiểu nghĩa từ “ rèn” trong câu “….rèn cho tôi chiếc kim này thành một con dao thật sắc để xẻ thịt chim.”, “rèn” trong câu này có nghĩa là làm cho con dao sắc, bén còn “rằn” là rằn ri (khăn rằn, áo rằn ); xẻ/ sẻ: (xẻ: tức là mổ xẻ; sẻ: chia sẻ, san sẻ, )

c) Giúp các em hiểu nghĩa của từ:

- Giải nghĩa là việc làm cần thiết trong tiết Chính tả, đây là biện pháp không những chỉ giúp học sinh khắc phục lỗi chính tả mà giải nghĩa từ còn giúp cho các em nắm vững kiến thức về từ vựng tiếng Việt Đối với những bài có từ khó, nhiều học sinh viết sai, tôi thường giúp học sinh hiểu nghĩa của từ đó bằng nhiều hình thức như: Cho học sinh đọc chú giải, đặt câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa từ), giáo viên miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, mô hình, tranh ảnh… để học sinh dễ ghi nhớ

* Ví dụ:

+ Nghe - viết: Bài tập làm văn (Sách HDHGK /TV3 tập 1A/75): Một số học sinh hay viết: giặc quần áo (từ đúng: giặt quần áo) Tôi thường cho học sinh

Trang 6

tìm từ chứa tiếng có vần ăt (Ví dụ: giặt quần áo, tắm giặt, giặt giũ…) rồi đặt câu

với từ đó để học sinh khi viết không nhầm lẫn giữa: giặt/ giặc

+ Bài: Cậu bé thông minh ( Sách HDHTV tập 1A/ 4): Học sinh viết sai các từ: chim xẻ (từ đúng: chim sẻ); xứ giả (từ đúng: sứ giả) Để giúp học sinh phân biệt s/x, sau khi viết chính tả tôi tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “Ai nhanh, ai đúng”: Tìm các từ có tiếng bắt đầu bằng s/ x (Ví dụ: Từ có tiếng bắt đầu bằng s: dòng sông, cây sả, sung sướng, san sẻ, sẵn sàng, con sên,…; Từ có tiếng bắt đầu bằng x: xa xỉ, xe đạp, xinh đẹp, xin lỗi, xích đu, )

+ Nghe - viết: Bài Ai có lỗi ( Sách HDHTV tập 1A/17: Một số học sinh viết sai từ: lắn xuống ( từ đúng: lắng xuống) Để giúp học sinh ghi nhớ và biết

được những từ có tiếng chứa vần ăng sau khi cho học sinh nghe - viết bài xong tôi tổ chức cho các em thi tìm các từ chứa tiếng có vần ăng và đặt câu với từ vừa

tìm được

+ Nghe - viết: Cuộc chạy đua trong rừng (Sách HDHTV tập 2B/11) Trong bài này có câu: “Vốn khỏe và nhanh nhẹn, chú tin chắc sẽ giành được vòng nguyệt quế” Một số em viết: dành được vòng nguyệt quế (từ đúng:

giành) Để giúp học sinh hiểu nghĩa của từ “ giành trong câu trên, tôi giải nghĩa

cho học sinh hiểu “giành” có nghĩa là tranh giành, giành phần thắng về mình còn

dành là để dành ( Ví dụ: dành dụm, dỗ dành).

- Đối với những bài có từ khó, nhiều học sinh viết sai, tôi giải nghĩa bằng nhiều hình thức như: Cho học sinh đọc chú giải, đặt câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa từ), ngoài ra tôi còn sử dụng vật thật, mô hình, tranh ảnh… để học sinh dễ ghi nhớ

d) Cung cấp một số mẹo luật chính tả học sinh:

- Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối hàng loạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách rất hữu hiệu:

- Ngay từ lớp một, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê, iê, ie Ngoài

ra, tôi còn cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như:

Trang 7

+ Một số từ có vần ênh chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc: gập ghềnh, khấp khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bênh, chếnh choáng, chệnh choạng, lênh khênh,…

+ Hầu hết các từ gợi tả âm thanh có tận cùng là ng hoặc nh: oang oang, đùng đùng, loàng xoàng, đoàng hoàng, sang sảng, sằng sặc, thùng thùng, bình bịch, thình thịch, rập rình, xập xình,…

+ Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu, khuỵu chân; vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ: ngoằn ngoèo, khoèo chân

đ) Luyện tập làm các bài tập chính tả:

Vào những buổi học thứ hai trong ngày, ngoài việc rèn cho học sinh nghe

- viết các bài chính tả Tôi thường đưa ra các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp các em rút ra các quy tắc chính tả để ghi nhớ

* Bài tập giúp học sinh hiểu nghĩa từ:

Đa số học sinh viết sai chính tả là do các em không hiểu nghĩa của từ Để giúp các em hiểu nghĩa từ, mỗi tiết ôn luyện tôi thường cho thực hiện 2 lần, mỗi lần 1 nhóm từ Tôi thường tổ chức cho học sinh thực hành thông qua hình thức tổ chức trò chơi như sau:

Trò chơi: “ Ai nhanh hơn”

+ Thi kể tên các từ chỉ thức ăn chứa tiếng bắt đầu bằng x

+ Thi kể tên các từ chỉ người chứa tiếng bắt đầu bằng s

+ Thi kể tên các từ chỉ đồ vật chứa tiếng bắt đầu bằng s

+ Thi kể tên các từ chỉ cây cối chứa tiếng bắt đầu bằng s

+ Thi kể tên các từ chỉ động vật có tiếng bắt đầu bằng x

- Cách chơi: Tôi chia lớp thành 3 đội; mỗi đội 10 em, các đội chơi hội ý trong vòng 1 phút để tìm từ Cử 1 bạn thư ký ghi các từ tìm được, sau đó mỗi đội cử 1 bạn lên bảng viết, cùng 1 thời gian, đội nào viết được nhiều từ đúng hơn,đội đó thắng cuộc

- Luật chơi: Đội nào nhắc, đội đó phạm quy, hết thời gian không được viết tiếp

Trang 8

Ví dụ:

+ Các từ chỉ thức ăn chứa tiếng bắt đầu bằng x: xôi, xúc xích, xúp, xáo, xương,…

+ Các từ chỉ người chứa tiếng bắt đầu bằng s: học sinh, giáo sư, kĩ sư, tiến

sĩ, luật sư, vệ sĩ, bác sĩ,…

+ Các từ chỉ đồ vật chứa tiếng bắt đầu bằng s: sách vở, cây súng, cây sáo, bát sành, thanh sắt,…

+ Các từ chỉ cây cối chứa tiếng bắt đầu bằng s: cây sim, cây sung, cây sả, cây sen, cây sấu,…

+ Các từ chỉ động vật có tiếng bắt đầu bằng: chim sẻ, con sâu, chim sáo, con sên, con sếu, con sóc, chó sói,…

* Bài tập giúp học sinh củng cố âm, vần:

- Để giúp học sinh viết đúng chính tả các tiếng có âm đầu s/x; d/gi; vần ươn/ ương; iêt/ iêc, Tôi thường cho các em làm các bài tập sau:

Trò chơi: “ Ai nhanh, ai đúng”

- Điền vào chỗ trống:

+ d/gi: …a thịt; nòi …ống; …ao lưu; …anh giá; …ai cấp; …ám định; ải thưởng; …anh từ; …ạo chơi;…

+ s/x: chim ….ẻ; san…ẻ,… ẻ gỗ; xanh….ao; sóng….ánh; …ạch sẽ; …a đà; nhà…àn; chai …ạn; cây ào; ào nấu,…

+ ươn/ương: v….cây; con l ; bốn ph….; nhận th….; th…yêu;… + iêt/iêc: đi biền b…; xanh biêng b ; tr…lí; tr…phá; mải m…; xanh b…; tha th…;…

- Các bước tiến hành: Chia lớp thành 6 nhóm, phát phiếu cho các nhóm, các nhóm thảo luận và cử thư kí viết nhanh các từ cả nhóm vừa tìm được Khi hết thời gian quy định, đại diện các nhóm dán bài lên bảng lớp và đọc kết quả

Cả lớp cùng giáo viên nhận xét, tính điểm thi đua Nhóm nào tìm và viết được nhiều từ đúng, thì nhóm đó thắng cuộc

e) Tổ chức trò chơi lồng vào tiết học:

- Trò chơi giúp học sinh phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần Trò chơi làm cho học sinh phát triển các năng lực một cách tự nhiên, các em có

Trang 9

cơ hội trao đổi kinh nghiệm, tích cực tham gia vào hoạt động thực hành rèn luyện kiến thức, đồng thời tiếp thu kiến thức một cách tự giác và hứng thú Có 3 hình thức bài tập có thể tổ chức cho vui nhộn và sinh động đó là:

+ Tìm tiếng có nghĩa điền vào ô trống trong bảng cho phù hợp

+ Giải câu đố để phân biệt từ ngữ có âm vần thanh dễ lẫn

+ Tìm từ ngữ có âm vần cho trước (dễ lẫn) qua gợi ý nghĩa của từ, qua gợi ý từ đồng âm, từ trái nghĩa, Khi thực hành làm bài tập, tùy theo mỗi dạng bài tập tôi tổ chức cho học sinh thực hiện thông qua các trò chơi phù hợp như: Ai nhanh ai đúng; Tiếp sức; Truyền điện đọc tên chữ cái; Đố vui;

* Ví dụ: Bài tập: Điền chữ và tên chữ cái còn thiếu vào bảng, tôi tổ chức cho học sinh chơi trò chơi: Truyền điện đọc tên chữ cái:

- Chuẩn bị: 2 tờ giấy to kẻ sẵn bảng như SGK, chia lớp thành hai nhóm để chơi trò chơi

- Cách tổ chức:

+ Giáo viên phổ biến cách chơi và luật chơi

+ Tổ chức cho học sinh chơi: Cử một em đọc tên chữ cái cần viết, 2 nhóm

nghe đọc và viết vào ô Tên chư trong bảng đã cho Sau khi hoàn thành bảng 2

nhóm trình bày kết quả lên bảng lớp để kiểm tra nếu nhóm nào viết đúng nhiều hơn nhóm đó thắng

* Ví dụ: Bài tập: Tìm từ có tiếng bắt đầu bằng r, d, gi, tôi tổ chức cho học sinh chơi trò chơi: Đố vui

- Chuẩn bị: Chia học sinh thành từng cặp đôi

- Cách tổ chức:

+ Phổ biến cách chơi và luật chơi

+ Tổ chức cho học sinh chơi: Từng cặp đôi tham gia thi đố nhau: 1 người đọc câu đố, 1 người trả lời, thay đổi nhau hỏi và trả lời lần lượt 3 câu đố Giáo viên đến kiểm tra từng cặp thi đố, bạn nào trả lời sai (hoặc không trả lời được) thì thua cuộc

g) Sử dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp:

- Dạy học chính tả tôi luôn lấy học sinh làm trung tâm, trong đó giáo viên

là người tổ chức hoạt động của học sinh Trong mỗi bài học, mỗi nội dung tôi

Trang 10

cho học sinh hoạt động cá nhân, hoạt động tương tác với bạn bên cạnh và các bạn trong nhóm, mỗi học sinh đều được bộc lộ mình và được phát triển

- Trong giảng dạy, có nhiều phương pháp để chuyển tải nội dung, truyền thụ kiến thức cho học sinh Song không có phương pháp nào là tối ưu nếu giáo viên cứ áp đặt, rập khuôn mãi Do đó, tôi luôn vận dụng trong những tình huống nhất định Tuỳ từng bài học mà tôi có thể lựa chọn và kết hợp hài hoà giữa các phương pháp cho thích hợp Phải truyền đạt kiến thức cơ bản đầy đủ và yêu cầu học sinh nắm vững kiến thức Đặc biệt cần quan tâm nhiều đến các em học yếu

- Cần tạo không khí sôi nổi, gây hứng thú cho học sinh trong giờ học để học sinh ngày càng yêu thích môn học này

h) Rèn cho học sinh thói quen, niềm say mê đọc sách:

- Sách là người bạn đường của chúng ta Sách là nguồn tri thức vô tận của nhân loại lưu truyền lại tới bây giờ và mãi mãi về sau Trong quá trình đọc, tìm hiểu, vốn từ ngữ của các em sẽ không ngững được tích lũy, nâng cao

- Giáo viên nhắc nhở học sinh đọc sách báo ở thư viện trường, có thói quen sử dụng các loại sách như “Từ điển tiếng Việt” Khi gặp từ khó, chưa xác định được thì nên tra từ điển để nắm thêm nghĩa của từ và hạn chế viết sai chính tả

4.5 Khả năng áp dụng của Sáng kiến:

- Đề tài được áp dụng giảng dạy phân môn Chính tả cho học sinh từ lớp 3 đến lớp 5 trường Tiểu học Võ Thị Sáu

5 Những thông tin cần được bảo mật: Không

6 Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả:

* Khi chưa áp dụng các giải pháp:

- Đầu năm học, tôi đã tiến hành khảo sát phân môn Chính tả Kết quả như sau: TSHS

HS viết đúng

toàn bài

HS viết sai 1- 2

lỗi

HS viết sai 3 –

5 lỗi

HS viết sai từ

6 lỗi trở lên

Ngày đăng: 21/09/2020, 19:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w