1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG GIẢI NGÂN NGUỒN VỐN ODA Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1993-1999

30 738 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Giải Ngân Nguồn Vốn Oda Ở Việt Nam Giai Đoạn 1993-1999
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 1999
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 45,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THỰC TRẠNG GIẢI NGÂN NGUỒN VỐN ODA Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1993 1999-1-Đánh giá chung về tình hình giải ngân ODA 1.1-Tình hình cam kết Có thể nói các biện pháp cải cách kinh tế của Việt Nam

Trang 1

THỰC TRẠNG GIẢI NGÂN NGUỒN VỐN ODA Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1993 1999

-1-Đánh giá chung về tình hình giải ngân ODA

1.1-Tình hình cam kết

Có thể nói các biện pháp cải cách kinh tế của Việt Nam trong hơn 10 năm qua

đã giúp cho mức cam kết viện trợ tăng lên đáng kể Nhìn chung, chúng ta đã tạođược lòng tin và xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp với các nhà tài trợ

Tính đến hết năm 1999, qua 7 hội nghị nhóm tư vấn của các nhà tài trợ (CG)dành cho Việt Nam, tổng số vốn ODA mà các nhà tài trợ đã cam kết dành cho ViệtNam là 15,14 tỷ USD, cụ thể là:

Bảng 1: Khối lượng vốn ODA cam kết giai đoạn 1993-1999

(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Dấu * , ** trong số liệu cam kết của hai năm 1998 và 1999 có nghĩa là:

(*) Chưa kể 0,5 tỷ USD hỗ trợ cải cách kinh tế.

(**) Chưa kể 0,7 tỷ USD hỗ trợ cải cách kinh tế

Số vốn ODA mà các nhà tài trợ đã cam kết dành cho Việt Nam nói trên được

sử dụng trong một số năm để thực hiện các chương trình và dự án Qua bảng sốliệu có thể thấy được là nguồn vốn ODA cam kết dành cho Việt Nam liên tục tănglên từ năm 1993 đến năm 1996, năm 1993 mới chỉ là 1,81 tỷ USD nhưng đến năm

1996 đã là 2,43 tỷ USD Đây là giai đoạn nền kinh tế nước ta tăng trưởng cao vàliên tục, đồng thời kinh tế thế giới không có những biến động lớn Tuy nhiên, năm

1997, số ODA cam kết chững lại và giảm dần Nguyên nhân của sự sút giảm trên

Trang 2

là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực ĐôngNam Á, tác động tiêu cực đến kinh tế Việt Nam và các nhà tài trợ Lượng vốnODA tuy có giảm, nhưng thể hiện một sự cố gắng, quan tâm rất lớn của các nhà tàitrợ đối với nước ta trong bối cảnh kinh tế của họ cũng gặp không ít khó khăn.

1.2- Tình hình ký kết các Hiệp định

Muốn sử dụng được nguồn vốn ODA đã cam kết, Việt Nam và các nhà tài trợphải ký các Hiệp định (Nghị định thư, Bản ghi nhớ (MOR), văn kiện dự án ) đểthực hiện các chương trình, dự án được hai bên thỏa thuận

Tính đến hết năm 1999, cam kết ODA được hợp thức hoá thành các Hiệp định

có giá trị 10.894 triệu USD, bằng 72% tổng nguồn ODA được cam kết trong thời

kỳ 1993 - 1999

Trong tổng giá trị các Hiệp định đã ký kết, ba nhà tài trợ chủ yếu là Nhật Bản,Ngân hàng thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) có giá trị cácHiệp định đã ký kết là 8.373 triệu USD, chiếm 76,8% tổng giá trị các Hiệp định đã

Về cơ cấu nguồn vốn theo hình thức cung cấp, (ODA vốn vay và ODA khônghoàn lại) của các Hiệp định đã ký kết, ODA vốn vay có giá trị 9.167,7 triệu USD,

Trang 3

chiếm 84,1% tổng giá trị các Hiệp định đã ký kết vốn ODA viện trợ có hoàn lại là1.726,8 triệu USD chiếm 15,9% giá trị các Hiệp định đã ký.

Trong số các nhà tài trợ, hiện chỉ có một vài nhà tài trợ cung cấp thuần túyviện trợ không hoàn lại như Úc (bình quân hàng năm khoảng 50 triệu đôla Úc),Canađa (bình quân hàng năm khoảng 20 triệu đô la Canađa) Đại bộ phận các nhàtài trợ cung cấp cả ODA vốn vay và ODA không hoàn lại

Riêng ODA vốn vay cũng có nhiều hình thức khác nhau Có nhà tài trợ chỉcung cấp một hình thức vốn vay ưu đãi, thí dụ Nhật Bản Có nhà tài trợ cung cấpvốn vay hỗn hợp, một phần vốn vay ưu đãi kết hợp với một phần vốn vay thươngmại từ các ngân hàng, thí dụ như Tây Ban Nha

Việc cung cấp ODA thường được thực hiện dưới hai hình thức: có điều kiệnràng buộc (do các công ty nước ngoài thực hiện thông qua đấu thầu hoặc chỉ địnhthầu); không có điều kiện ràng buộc (đấu thầu quốc tế rộng rãi hoặc hạn chế)

Bảng 2: Tổng giá trị các Hiệp định đã ký kết phân theo ngành

giai đoạn 1993-1999

Tổng số

Trong đó:

1. Năng lượng điện

2. Giao thông vận tải

3. Tín dụng và điều chỉnh cơ cấu

4. Nông, lâm, thủy sản bao gồm cả thủy lợi

100

251916131179

Trang 4

5. Y tế, xã hội, giáo dục- đào tạo

6. cấp thoát nước

7. Các ngành khác

(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

1.3 Khái quát về tình hình giải ngân

Trong thời kỳ từ năm 1993 đến hết năm 1999, tổng số vốn ODA đã được giảingân là 6,367 tỷ USD bằng 58 % tổng giá trị các Hiệp định đã ký kết và chiếm41,6% tổng số vốn ODA được cam kết Con số này cho thấy, hiện nay vẫn còn mộtkhối lượng lớn vốn ODA chưa được đưa vào thực hiện, đây là sự lãng phí lớntrong khi nền kinh tế Việt Nam đang rất cần vốn cho sự nghiệp CNH, HĐH đấtnước Một tỷ lệ giải ngân thấp sẽ làm cho tính hiệu quả trong việc sử dụng nguồnvốn này bị hạn chế và làm giảm lòng tin của các nhà tài trợ đối với nước ta

Bảng 3: Giải ngân vốn ODA giai đoạn 1993-1999

Trang 5

(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Nhìn chung, về lượng tuyệt đối thì giá trị giải ngân tăng đều qua các năm.Năm đầu tiên chúng ta tiếp nhận ODA, lượng giải ngân mới chỉ là 0,413 tỷ USD,nhưng đến năm 1999, giải ngân đã đạt mức 1,866 tỷ USD Điều đó chứng tỏ cốgắng của Việt Nam về mọi mặt, từ tiếp cận, phối hợp với các nhà tài trợ đến khắcphục, giải quyết những tồn tại để tranh thủ tối đa nguồn ngoại lực quan trọng này.Năm 2000, thực hiện thêm khoảng 1,69 tỷ USD và như vậy, thời kỳ 1996-2000,tổng vốn ODA thực hiện được là 6,2 tỷ USD, tương đương với 78% chỉ tiêu kếhoạch

Tuy nhiên, nếu xét về tỷ trọng giải ngân so với ODA mà các nhà tài trợ camkết dành cho Việt Nam còn thấp, tính chung cho cả thời kỳ 1993-1999 thì con sốnày chỉ là 41%, thấp hơn so với mức bình quân trong khu vực Sự chênh lệch lớn

về giải ngân ODA so với cam kết cho thấy tình trạng chúng ta đã chú trọng nhiềuđến vận động ODA mà không quan tâm thích đáng đến quá trình thực hiện, sửdụng nguồn vốn này

Tình hình giải ngân không đồng đều giữa các nhà tài trợ và tuỳ thuộc vào loạihình dự án là đặc điểm nổi bật nhất của tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốnODA thời gian qua Các dự án hỗ trợ kỹ thuật thường đạt hoặc vượt mức kế hoạchgiải ngân hàng năm, thí dụ các dự án hỗ trợ kỹ thuật do Úc, Đan Mạch, Na Uy, tài trợ Tuy nhiên, các dự án hỗ trợ kỹ thuật thường có chi phí chuyên gia rất cao(tới 60-70% giá trị dự án), hơn nữa chi phí này thường ở ngoài Việt Nam

Các dự án xây dựng cơ bản tập trung và giải ngân nhanh của WB và ADB cómức giải ngân tương đối khá Thí dụ, tính đến năm tài chính 1999, mức giải ngânđối với các dự án của WB đạt 24,7% trên tổng giá trị các Hiệp định đã ký kết (mứctrung bình của khu vực là 21%) Tuy nhiên, nếu chỉ tính riêng các dự án xây dựng

cơ bản tập trung của WB thì chỉ đạt mức 19% Đối với các dự án của ADB, mức

Trang 6

giải ngân cho cả giai đoạn 1993- 1999 đạt 15,3%, được đánh giá gần sát với mứcbình quân của ADB nhưng thấp hơn một số nước khác trong khu vực.

Các dự án sử dụng nguồn vốn JBIC (Nhật Bản) đạt mức giải ngân thấp,khoảng 10,7 % trên tổng giá trị các Hiệp định đã ký cho cả giai đoạn 1993-1999(mức trung bình là 11,9%) Tuy nhiên, nếu so sánh mức giải ngân qua các năm thìthấy đã có những tiến bộ trong việc giải ngân nguồn vốn này, ví dụ năm 1996 chỉđạt 2% , năm 1997 đã đạt 6,4%

Mặt khác, xét theo ngành đối với riêng các dự án của ba nhà tài trợ lớn (WB,ADB và Nhật Bản) thì các dự án thuộc ngành công nghiệp và năng lượng có mứcgiải ngân khá hơn cả, đạt 17% tổng giá trị ký kết và các dự án cấp nước đô thị kémhơn cả, chỉ đạt 5,8% giá trị ký kết Các dự án giao thông, bưu điện đạt 13,6% giátrị ký kết Đây là những con số cho thấy mức giải ngân của các ngành còn rất thấpcần sớm được khắc phục

So với các dự án của ba nhà tài trợ lớn (WB, ADB, Nhật Bản) thì quy mô dự

án của các nhà tài trợ song phương thường nhỏ hơn và đa phần là các dự án hỗ trợ

kỹ thuật (TA), không có xây dựng cơ bản tập trung có tốc độ giải ngân nhanh hơn(ví dụ các dự án của các nhà tài trợ song phương như Pháp, Đức, Bỉ, Hà Lan, ThụyĐiển, )

Trong tình hình thế giới gặp nhiều khó khăn, một số nhà tài trợ tập trungnguồn lực để đối phó với những khó khăn trong nước nên đã cắt giảm nguồn ODAcho những nước đang phát triển Cuộc khủng hoảng tiền tệ tại các nước Đông Nam

Á lan sang một số nước châu Á khác vốn là các nền kinh tế mạnh của châu lụccũng đã có tác động nhất định đến tình hình cung cấp viện trợ cho Việt Nam Khốilượng vốn ODA giải ngân đều được quy ra đồng đô la Mĩ nên trong bối cảnh cácđồng ngoại tệ mạnh giảm giá so với đồng đô la Mĩ thì mức giải ngân trong nhữngnăm gần đây là có tích cực Mặc dù vậy cũng không thể phủ nhận được tốc độ giải

Trang 7

ngân trong những năm qua còn nhiều hạn chế, không có sự chuyển biến đáng kể,đây chính là những yếu kém mang tính hệ thống trong quá trình thực hiện vốnODA của Việt Nam

1.4-Tình hình giải ngân nguồn vốn ODA ở Việt Nam giai đoạn

1993-1999 theo các tiêu thức khác nhau

1.4.1-Giải ngân ODA theo ngành

Từ năm 1993, cơ sở hạ tầng ngày càng trở thành lĩnh vực nhận được nhiều

ODA nhất Chiều hướng này diễn ra đồng thời với sự gia tăng danh mục đầu tư của

ba nhà tài trợ lớn nhất, đó là Nhật Bản, Ngân hàng Thế giới và ADB cũng như sự giatăng các dự án sử dụng vốn vay ODA Trong những năm qua , nguồn vốn ODA dànhcho phát triển con người tăng dần về giá trị tuyệt đối, nhưng hiện nay tỷ trọng đầu tưcho lĩnh vực này trong tổng vốn ODA bị giảm dần Để phục vụ cho những ưu tiên củaViệt Nam, các nhà tài trợ cũng đã cam kết đầu tư cho phát triển nông thôn và xoá đóigiảm nghèo Từ năm 1997, các khoản vay giải ngân nhanh chủ yếu chỉ để cho vay lạiphục vụ các quỹ tín dụng nông thôn, trong khi mức giải ngân nhanh hỗ trợ cán cânthanh toán và điều chỉnh cơ cấu là không đáng kể do không có các chương trình tíndụng điều chỉnh cơ cấu của Ngân hàng thế giới và Qũy tiền tệ quốc tế

*)Giải ngân ODA cho cơ sở hạ tầng:

Trong những năm qua, ngành năng lượng đã có mức giải ngân lớn nhất, doxuất phát từ tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ của nó Các dự án ODA tập trung chủ yếuvào xây dựng nhà máy phát điện Hỗ trợ kỹ thuật nhằm tăng cường năng lực quản

lý hệ thống cấp điện cũng đi kèm với các dự án đầu tư này Hầu như toàn bộ mứctăng giải ngân trong năm 1997 và 1998 xuất phát từ việc thực hiện ba dự án lớn doJBIC hỗ trợ nhằm xây dựng và mở rộng ba nhà máy phát điện Tuy nhiên, vẫn còn40% dân số chưa có điện Có thể nhanh chóng giải quyết nhu cầu điện ở nông thônthông qua các phương án mở rộng mạng lưới điện, ví dụ như áp dụng các hệ thống

Trang 8

phân cấp quản lý các hệ thống cấp điện hay sử dụng các nguồn năng lượng tái sinh.

Biểu 1: Giải ngân ODA cho cơ sở hạ tầng

Năng lượng Đường giao thông Nước sạch, vệ sinh

Phát triển đô thị (Nguồn: Điều tra của UNDP)

Trong hai năm qua mức giải ngân cho ngành giao thông vận tải đã tăng lêngấp đôi từ 110 triệu USD trong năm 1996 lên 212 triệu USD trong năm 1998 Cácchương trình tập trung vào một số ít các nhà tài trợ (JBIC Ngân hàng thế giới vàADB) Đáng chú ý là 10 dự án đường giao thông lớn nhất chiếm khoảng 90% tổngvốn viện trợ dành cho mục đích này từ năm 1993, trong khi đó hệ thống đườnggiao thông nông thôn rất kém phát triển, làm khó khăn cho việc tiêu thụ sản phẩm

và giảm khả năng tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản

Các chương trình khôi phục hệ thống cấp nước và phát triển đô thị: Năm

1998, mức giải ngân cho các chương trình này đạt 45 triệu USD Con số này đãđược duy trì khá ổn định từ năm 1994 đến nay Hệ thống nước sạch và vệ sinh môitrường có ý nghĩa hết sức quan trọng việc nâng cao sức khỏe cho người dân, đặc

Trang 9

biệt ở các vùng nông thôn Trong những thập kỷ qua, chính phủ đã phát động cácchương trình hằm cải thiện hệ thống nước sạch và vệ sinh môi trường Tuy nhiên

số liệu điều tra chính thức cho thấy chưa đến một nửa số dân được cung cấp nượcsạch và có điệu kiện vệ sinh thực sự

*)Giải ngân ODA cho phát triển nông thôn:

Các chương trình ODA ngày càng tập trung nhiều hơn cho công tác phát triểnnông thôn, phù hợp với việc Chính phủ khẳng định dành ưu tiên cho lĩnh vực này

Chương trình thông thường Chương trình giải ngân nhanh

(Nguồn: Điều tra của UNDP)

Năm 1993, mức giải ngân ODA mới chỉ là 73 triệu USD, chiếm tỷ lệ 17,6%trong tổng số ODA đã giải ngân của năm Năm 1999, giải ngân ODA cho pháttriển nông thôn đã là 240 triệu USD, chiếm 17,7% Như vậy, lượng tuyệt đối cótăng lên, nhưng về tỷ trọng giải ngân ODA cho phát triển nông thôn trên tổng sốthì vẫn không có thay đổi nhiều

Trang 10

Vài năm gần đây, các chương trình giải ngân nhanh ngày càng chiếm tỷ lệ lớntrong tổng số ODA giải ngân cho phát triển nông thôn Các chương trình này đãgóp phần làm cho mức giải ngân ODA cho lĩnh vực này tăng nhanh Các khoảnODA dùng để cho vay lại phục vụ tín dụng nông thôn cũng như đầu tư vào cáccông trình hạ tầng cơ sở nông thôn đều tăng Dự kiến mức đầu tư ODA cho pháttriển nông thôn sẽ tiếp tục tăng thông qua một số chương trình hỗ trợ (Chươngtrình xoá đói giảm nghèo, Chương trình hỗ trợ 1.715 xã nghèo và Chương trình 5triệu ha rừng)

*)Giải ngân ODA cho phát triển con người:

Trong khuôn khổ "sáng kiến 20/20" được công bố năm1995 tại Hội nghị

Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển xã hội ở Copenhagen, cả Chính phủ và cộngđồng tài trợ đều cam kết dành 20% ngân sách của mỗi bên cho các dịch vụ xã hội

cơ bản (DVXHCB) Theo định nghĩa của Hội nghị Copenhagen, DVXHCB baogồm giáo dục tiểu học và mẫu giáo, xoá mù chữ cho người lớn, chăm sóc sức khoẻban đầu, các chương trình tiêm chủng, kế hoạch hoá gia đình, bệnh viện cấp huyện

và xã, cứu trợ thiên tai, nước sạch và vệ sinh nông thôn

Biểu đồ 3: Giải ngân ODA cho phát triển con người

Trang 11

(Nguồn: Điều tra của UNDP)

Qua biểu đồ cho thấy, nguồn vốn ODA đã giải ngân dành cho phát triển con

người có sự tăng dần kể từ năm 1993 đến 1999 Năm 1993 mới chỉ là 68 triệuUSD, nhưng đến năm 1999 đã giải ngân được 210 triệu USD

-Giải ngân ODA cho giáo dục có bước tăng trưởng khá Thông qua cácchương trình hợp tác giữa các trường đại học và cơ sở giáo dục trong và ngoàinước cũng như các chương trình đào tạo và học bổng Một khoản 30 triệu USDđược chi cho các chương trình giáo dục tiểu học Tỷ lệ nhập học ở các cấp tiểu họctrên toàn quốc rất cao Tuy nhiên, việc đảm bảo khả năng tiếp cận bình đẳng (vềgiới, dân tộc và vùng lãnh thổ) cũng như chất lượng giáo dục là những thách thứccần giải quyết

-Mức giải ngân cho ngành y tế cũng tăng đáng kể Chiều hướng tăng mứcgiải ngân cho lĩnh vực này là rất đáng hoan nghênh vì tình trạng sức khỏe sinh sản

ở Việt Nam hiện nay là rất đáng lo ngại Hiện nay, các dịch vụ kế hoạch hoá giađình đang được triển khai với phạm vi và mức độ sử dụng cao, song tỷ lệ nạo pháthai và tỷ lệ tử vong cao ở trẻ sơ sinh chứng tỏ khả năng sử dụng các biện pháptránh thai vẫn còn hạn chế và khả năng chăm sóc sức khoẻ bà mẹ còn yếu kém

Về phía các nhà tài trợ, mức viện trợ cho các lĩnh vực xã hội nói chung vẫntăng thường xuyên Tuy nhiên mức chi tiêu cho các DVXHCB vẫn tăng chậm sovới yêu cầu Khoảng 50% nguồn vốn ODA dành cho các DVXHCB được chi chocác dịch vụ chăm sóc sức khỏe, bao gồm an toàn thực phẩm và dinh dưỡng, chămsóc bà mẹ và trẻ em, sức khỏe sinh sản Giáo dục tiểu học chiếm 30% nguồn vốnODA dành cho các DVXHCB thông qua một số chương trình khôi phục trườnghọc và nâng cấp trang thiết bị, cũng như nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cậnvới giáo dục cho tất cả trẻ em

Trang 12

1.4.2-Giải ngân ODA theo loại hình viện trợ

Nguồn vốn ODA cung cấp cho Việt Nam trong những năm qua luôn tồn tạidưới hai hình thức là viện trợ không hoàn lại và cho vay ưu đãi Kể từ năm 1993đến 1999, tỷ lệ giữa hai loại hình viện trợ này đã có những thay đổi, thể hiện quabiểu đồ dưới đây

Viện trợ không hoàn lại Cho vay

(Nguồn: Điều tra của UNDP)

Xu hướng giải ngân nguồn vốn ODA theo các điều kiện tài chính trong

những năm qua là tăng ODA cho vay và giảm ODA viện trợ không hoàn lại Năm

1993, các nhà tài trợ cung cấp cho Việt Nam chủ yếu dưới dạng viện trợ khônghoàn lại, ODA cho vay chiếm tỷ lệ nhỏ Nhưng năm 1999, tỷ lệ giữa ODA vốn vay

và ODA viện trợ không hoàn lại đã rất lớn Vì vậy, nếu không sử dụng có hiệu quả

Trang 13

nguồn vốn này thì ODA sẽ trở thành gánh nặng nợ nần mà thế hệ sau phải gánhchịu

1.4.3-Giải ngân ODA của một số nhà tài trợ chủ yếu

Hiện nay, Việt Nam đã có quan hệ hợp tác phát triển với hầu hết các nhà tàitrợ song phương và đa phương trên thế giới Trong số này, thời gian qua, nổi trội

ba tài trợ thường chiếm trên 70% tổng số cam kết ODA là Nhật Bản, Ngân hàngPhát triển Châu Á và Ngân hàng thế giới

*)Nhật Bản

Tỷ lệ giải ngân ODA Nhật Bản giai đoạn 1993-1999 là 23,01% không cao sovới các nguồn ODA khác Ba năm 1994-1996 tỷ lệ giải ngân thấp do nhiều đề xuấtkhông được Chính phủ Nhật Bản chấp thuận, tốc độ giải ngân các dự án đã ký rấtchậm

Nhìn tổng thể thời gian qua, hình thức viện trợ không hoàn lại chung và hỗ trợ

kỹ thuật có chất lượng tương đối cao, giải ngân khá tốt Do nguyên tắc của Chínhphủ Nhật Bản là "viện trợ theo chương trình" chứ không phải theo "lượng tiền rótvào" Cũng chính do nguyên nhân này, các dự án thường có giá thành cao hơn mặtbằng chung ở Việt Nam, gây khó khăn cho khâu xét duyệt dự án Một số dự án còn

bị thay đổi nội dung sau khi đã ký Công hàm trao đổi (E/N) Điều này làm cản trởtiến độ giải ngân ODA

Vốn vay là hình thức tài trợ có tỷ lệ giải ngân thấp nhất Thời gian đầu, tìnhhình giải ngân ODA vốn vay rất thấp, năm 1994 chỉ đạt xấp xỉ 2,3% lượng vốncam kết Có rất nhiều nguên nhân làm cho việc giải ngân vốn vay kém, nhưngnguyên nhân lớn nhất vẫn là công tác chuẩn bị chưa tốt, không đáp ứng được yêucầu của phía Nhật Bản Trong những năm gần đây, công tác giải ngân vốn vayđược cải thiện rất nhiều Năm 1999, tỷ lệ giải ngân đạt cao nhất là 13,9% Vốn vayđược tập trung vào hai lĩnh vực: năng lượng và giao thông Tuy tỷ lệ giải ngân của

Trang 14

vốn vay rất thấp so với các hình thức tài trợ khác của Chính phủ Nhật Bản nhưngcũng có những dự án làm tốt công tác này Điển hình là nhà máy nhiệt điện PhảLại 2 bắt đầu tổ chức đấu thầu tháng 11-1996 và hoàn thành vào đầu năm 2001.Tổng số vốn đầu tư là 653,33 triệu USD (trong đó vốn vay của Nhật Bản là 590,03triệu USD) Tính đến hết năm 1999 đã giải ngân được 386,91 triệu USD Riêngtrong năm 1999, lượng vốn giải ngân là 253,38 triệu USD và năm 2000 giải ngânđược 172,1 triệu USD Tốc độ giải ngân một số dự án thuộc lĩnh vực giao thôngvận tải khá tốt Như dự án xây dựng 42 cầu trên Quốc lộ 1 giai đoạn 1 có thời gianthực hiện là 5 năm thì đến hết năm 1999 đã giải ngân được trên 70% và đã đưa vào

sử dụng trong năm 2000 Dự án Quốc lộ 18 đoạn Chí Linh- Bãi Cháy có thời gianthực hiện là 3 năm, trong 2 năm 1998-1999 đã giải ngân được 456,9 tỷ đồng, bằng60% tổng giá trị dự án Dự án đã hoàn thành và đưa vào sử dụng đúng tiến độtrong năm 2000

Vốn đối ứng trong nước chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ, tuy nhiên là điều kiện bắt buộctrong đa số các dự án thuộc lĩnh vực giao thông Bởi vì theo quan điểm của Chínhphủ Nhật Bản thì việc bỏ tiền ra sẽ nâng cao chất lượng của công trình Đây chính

là thiện chí của phía Nhật Bản Ngoài ra, còn cho phép Việt Nam chọn hình thứcgóp vốn thuận lợi nhất (đa số là quyền sử dụng đất)

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn khá nhiều dự án giải ngân rất chậm do một sốkhâu như chuẩn bị vốn đối ứng chưa kịp thời và đúng với điều ước đã ký, thủ tụcphê duyệt các dự án còn rườm rà, công tác giải phóng mặt bằng còn khó khăn domức đền bù chưa thoả đáng

Dự án nâng cấp Quốc lộ 10 có thời gian thực hiện là 3 năm 1998-2000, nhưngđến hết năm 1999 mới giải ngân được 231,9 tỷ đồng, bằng 6% tổng giá trị dự án

Dự án xây dựng 19 cầu trên Quốc lộ 1 giai đoạn 3 theo đúng dự kiến ban đầu thì sẽhoàn thành trong năm 2000, nhưng đến hết năm 1999 mới chỉ giải ngân được 38%

Trang 15

tổng giá trị dự án.

Nhìn chung, công tác giải ngân trong những năm qua chưa tốt, nhiều dự ánkhông được Chính phủ Nhật Bản chấp thuận, tốc độ giải ngân nói chung vẫn cònchậm Cam kết vẫn chỉ là lời hứa Sẽ rất lãng phí nguồn lực nếu chúng ta khôngbiết cách tận dụng những cam kết đó Trong những năm tới, chúng ta cần nỗ lựchơn nữa để nâng cao số vốn ODA được giải ngân

*)Ngân hàng thế giới (WB)

Kể từ năm 1993 đến năm 1999, thông qua 7 Hội nghị của các nhà tài trợ, WB

đã cam kết cung cấp một lượng ODA trị giá 3.253 triệu USD cho Việt Nam Tínhđến hết năm 1999, WB đã ký kết các Hiệp định vay với tổng số vốn là 2.366 triệuUSD theo các điều kiện tín dụng là lãi suất 0%, dịch vụ phí 0,75%/năm; thời hạnvay là 40 năm, trong đó có 10 năm ân hạn Các dự án giải ngân bằng vốn vay của

WB Sẽ được thực hiện thông qua đấu thầu quốc tế Ngoài ra, Việt Nam đã đàmphán 3 dự án với tổng số vốn vay 245,5 triệu USD, hiện đang hoàn tất các thủ tục

để ký kết

Nguồn vốn đã ký vay này tập trung vào các dự án thuộc cơ sở hạ tầng kinh tế- xãhội như giao thông (Quốc lộ 1, giao thông nông thôn, giao thông đường sông ởNam Bộ), truyền tải điện, tín dụng điều chỉnh cơ cấu (SAC), dịch vụ khuyến nông,thủy lợi, lâm nghiệp, các dự án thuộc hạ tầng cơ sở xã hội như giáo dục, dân số, ytế

Ngân hàng thế giới dành 50% nguồn viện trợ của mình cho các dự án cơ sở

hạ tầng qui mô lớn, 23% cho tín dụng nông thôn và cơ sở hạ tầng qui mô nhỏ ởnông thôn, 14% cho viện trợ trả nợ và 12% cho chương trình phát triển con người.Phương thức phân bổ này được phản ánh trong các loại hình trợ giúp của Ngânhàng thế giới: 2/3 nguồn vốn ODA của ngân hàng được giải ngân cho các dự ánđầu tư, phần còn lại cho các dự án giải ngân nhanh

Ngày đăng: 19/10/2013, 15:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2:   Tổng giá trị các Hiệp định đã ký kết phân theo ngành - THỰC TRẠNG GIẢI NGÂN NGUỒN VỐN ODA Ở VIỆT NAM GIAI   ĐOẠN 1993-1999
Bảng 2 Tổng giá trị các Hiệp định đã ký kết phân theo ngành (Trang 3)
Bảng 3: Giải ngân vốn ODA giai đoạn 1993-1999 - THỰC TRẠNG GIẢI NGÂN NGUỒN VỐN ODA Ở VIỆT NAM GIAI   ĐOẠN 1993-1999
Bảng 3 Giải ngân vốn ODA giai đoạn 1993-1999 (Trang 4)
Bảng 4: Nguồn vốn ODA thuộc các vùng - THỰC TRẠNG GIẢI NGÂN NGUỒN VỐN ODA Ở VIỆT NAM GIAI   ĐOẠN 1993-1999
Bảng 4 Nguồn vốn ODA thuộc các vùng (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w