1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌNH HÌNH CƠ BẢN VỀ TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ

26 615 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình hình cơ bản về tự nhiên kinh tế xã hội và thực trạng công tác quản lý
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 42,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Địa hình: - Hà Giang có địa hình núi cao chia cắt phức tạp, độ dốc lớn, nhiều dãynúi đá có độ cao trên 2000m, tạo nên nhiều tiểu vùng với các điều kiện về địahình, khí hậu, đất đai, ng

Trang 1

TÌNH HÌNH CƠ BẢN VỀ TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ, SỬ DỤNG NSNN TỈNH HÀ GIANG

I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH HÀ GIANG.

1 Về điều kiện tự nhiên.

* Vị trí địa lý: Hà Giang là tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam, nằm ở

vị trí từ 21023' đến 22010' vĩ bắc và 104025' đến 105034' kinh đông, cách thủ đô

Hà Giang có 10 huyện, thị: Bắc Giang, Vị Xuyên, Bắc Mê, Hoàng Su Phì,

Xí Mần, Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc và thị xã Hà Giang

* Địa hình:

- Hà Giang có địa hình núi cao chia cắt phức tạp, độ dốc lớn, nhiều dãynúi đá có độ cao trên 2000m, tạo nên nhiều tiểu vùng với các điều kiện về địahình, khí hậu, đất đai, nguồn nước và dân cư khác biệt, độc đáo, có điều kiệnthuận lợi để phát triển kinh tế đa dạng theo cơ cấu nông - lâm - công nghiệpvới nhiều sản phẩm phong phú, có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp để phát triển

du lịch, dã ngoại

- Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi trên còn không ít khó khăn do địahình chia cắt mạnh, độ dốc lớn, nhiều dãy núi đá nên không ít khó khăn trongphát triển sản xuất nông nghiệp đặc biệt ở các huyện vùng cao

* Đất đai:

Tổng diện tích tự nhiên là: 788.437 ha (7884,37 km2)

Trong đó:

Trang 2

+ Đất dùng vào chăn nuôi : 1.140,45 ha

+ Đất có mặt nước nuôi thuỷ sản : 683,75 ha

+ Đất có rừng tự nhiên : 229.587,96 ha

Đất có rừng sản xuất : 34.071,03 haĐất có rừng phòng hộ : 177.439,97 haĐất có rừng đặc dụng : 17.191,36 ha+ Đất có rừng trồng : 49.861,09 ha

Đất có rừng sản xuất : 41.030,68 haĐất có rừng phòng hộ : 8.793,46 ha

Đất bằng chưa sử dụng : 1.663,77 haĐất đồi núi chưa sử dụng : 313.165,67 haĐất có mặt nước chưa SD : 10,9 ha

Núi đá không cây : 71.480,88 ha

Trang 3

Đất chưa sử dụng khác : 627,9 haQua số liệu trên thấy được đất đai tự nhiên của Hà Giang rất rộng, tuynhiên việc khai thác và sử dụng vào mục đích sản xuất nông, lâm nghiệp chưađược nhiều, hiện tại vẫn còn trên 314.828 ha đất bằng và đồi núi chưa sử dụng,

đó là nguồn tài nguyên lớn cần phải tập trung đầu tư các nguồn lực nhằm khaithác phục vu chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

* Về đặc điểm khí hậu thuỷ văn:

Do địa bàn rộng, khí hậu thuỷ văn các vùng phân bố không đồng đều:

Ở các huyện vùng cao: Lượng mưa trung bình 2000mm - 2400mm; Nhiệt độtrung bình 15 - 200C, có tháng mùa đông xuống 3- 40C, có tuyết Vùng này khíhậu mang tính ôn đới

Các huyện vùng thấp: Nhiệt độ trung bình 270C; Lượng mưa 4.633mm/năm Ở huyện Bắc Quang là vùng có lượng mưa bình quân cao nhất nước.Thông thường mùa đông Hà Giang chịu ảnh hưởng nhiều của gió mùa đông bắc

Sông suối: Toàn tỉnh có 7 sông lớn nhỏ: Sông Lô, Sông Gâm, Sông Chảy,Sông Nho Quế, Sông Niệm, Sông Con, Sông Bạc, còn lại là suối cạn Lưu lượngnước sông phụ thuộc lớn vào mùa mưa lũ, mùa khô thường cạn kiệt, các dòngsông phân bổ không đều, đặc biệt là vùng cao núi đá, rất ít nước Những thángmùa khô còn trên 100.000 người thiếu nước sinh hoạt

* Về thổ nhưỡng: Trên địa hình tỉnh Hà Giang hình thành các nhóm đất

chính như đất phù sa tập trung ở vùng Bắc Quang, nhóm đất đỏ vàng ( có tácdụng tốt phát triển cây công nghiệp ăn quả) ở Vị Xuyên, Bắc Quang, Thị xã HàGiang, Xín Mần, Hoàng Su Phì, nhóm đất phù sa cổ trên cao nguyên Đồng Văn

và các huyện vùng cao

* Tài nguyên khoáng sản: Qua khảo sát điều tra Hà Giang phát hiện được

28 loại khoáng sản khác nhau như ( Ăngtimon, vàng, chì, kẽm, sắt, Măngan,thuỷ ngân , nước khoáng) với số lượng 149 mỏ và các điểm quặng Hiện nayđang tiến hành thăm dò khai thác các loại khoáng sản như Măngan, Firit, Kẽm,

Trang 4

Thiếc, đồng, chì, sắt, vàng, nước khoáng khoáng sản có nhiều triển vọng nếuđược đầu tư thăm dò khai thác thích hợp.

2 Điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Giang

* Dân số và lao động: Dân số toàn tỉnh tính đến 1/4/1999 có: 60,268 vạn

người với 22 dân tộc, trong đó 90% là đồng bào dân tộc thiểu số Trong đó dântộc Mông chiếm 31,3%; Tày 26,5%; Dao 15,3%; Kinh 11,8% còn lại các dântộc ít người khác

Hà Giang có 9 Huyện và 1 thị xã tỉnh lỵ, trong đó có 7 Huyện vùng caobiên giới thì có 4 huyện đặc biệt khó khăn trong 9 Huyện khó khăn nhất cảnước Hiện nay toàn tỉnh có 128/191 xã thuộc diện xã đặc biệt khó khăn (vùngIII)

* Về sự phân vùng kinh tế:

Xuất phát từ điều kiện, đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Hà Gianghình thành làm 3 vùng kinh tế - xã hội và mỗi vùng có các tiềm năng thế mạnhkhác nhau:

- Vùng cao núi đá gồm 4 huyện phía Bắc là Mèo Vạc, Đồng Văn, YênMinh, Quản Bạ Đây là vùng khó khăn nhất so với cả nước Diện tích toàn vùngnày là 2.353 km2, độ cao trung bình: 1000 - 1600m; Dân số: 203.027 người, khíhậu đất đai phù hợp với trồng cây ôn đới, dược liệu Sản xuất nông nghiệp chủ yếu

là trồng ngô một vụ trên đất hốc đá, chăn nuôi là bò, ngựa, dê, ong và gia cầm.Trong vùng có tiềm năng về khoáng sản

Khó khăn lớn của vùng: Khí hậu khắc nghiệt của mùa đông kéo dài, nhiệt

độ thấp 5 - 100C, có năm tuyết rơi, sương muối ảnh hưởng tới phát triển nôngnghiệp, là vùng cao núi đá tình trạng thiếu nước sinh hoạt, nghiêm trọng nhất làtrong những tháng mùa khô lên tới 10 vạn dân Thu nhập bình quân chỉ đạt 70 -

80 USD/người/năm Tỷ lệ người mù chữ thất học vẫn còn rất cao, địa hình hiểmtrở, diện tích canh tác manh mún, giao thông đi lại khó khăn

- Vùng cao núi đất gồm 2 huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần; diện tíchvùng này là 1460 km2, độ cao trung bình 500 - 900 m; Dân số: 105.083 người,

Trang 5

khí hậu thích hợp với những cây ôn đới, thuận lợi cho phát triển rừng, nuôi ong,trồng cây công nghiệp như chè, thông nhựa, trẩu, đậu tương cây lượng thựcchính là lúa, ngô, chăn nuôi chủ yếu là trâu, bò, ngựa, dê và gia cầm.

Khó khăn lớn nhất của vùng này là độ dốc rất lớn, hệ thống giao thông dễsạt lở và sinh lầy trong mùa mưa lũ Thu thập bình quân 80 -90 USD/người/năm,

về văn hoá xã hội cũng khó khăn tương tự như vùng cao

- Vùng thấp gồm 3 huyện, thị xã: Bắc Quang, Bắc Mê, Vị Xuyên và thị xã

Hà Giang Diện tích tự nhiên là 4071 km2, độ cao trung bình 100 - 500 m; dânsố: 294.574 người Đây là vùng phù hợp với cây nhiệt đới phát triển như cam,quýt, dược liệu, cây công nghiệp như chè, cà phê, quế, dâu tằm, đậu tương, lạc cây lương thực chủ yếu là lúa nước, ngô Chăn nuôi: trâu bò, dê, cá và gia cầm.Trong vùng có cửa khẩu quốc gia Thanh Thuỷ rất thuận lợi cho giao lưu kinh tế,văn hoá với Trung Quốc, có điều kiện về xuất nhập khẩu và phát triển thươngmại, dịch vụ

Đây là vùng thuận lợi nhất của tỉnh, song vẫn là khu vực còn những khókhăn về đời sống kinh tế - xã hội Thu nhập bình quân ở mức 100 - 130USD/người/năm Hầu hết hệ thống thuỷ lợi, kênh mương chưa được kiên cốhoá

* Thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp của tỉnh trong những năm vừa qua:

- Một số kết quả chung về phát triển kinh tế xã hội của tỉnh:

Thực hiện đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước, trong đó vấn

đề quan trọng có tính chiến lược lầu dài là chủ trương phát triển kinh tế nhiềuthành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theođịnh hướng XHCN Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế Tỉnh đã pháthuy được cơ bản các thành phần kinh tế tham gia trong sản xuất kinh doanh,khẳng định hộ nông dân là một đơn vị tự chủ trong kinh tế đồng thời đã thựchiện tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước nhất là Nghị quyết 22 NQ Trungương của Bộ Chính trị, và Nghị quyết 72CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng

về một số chính sách phát triển kinh tế xã hội miền núi, các Quyết định 327CP

về sử dụng đất trống đồi núi trọc, và các chính sách vay vốn, trợ giá trợ cước

Trang 6

vận chuyển và đảm bảo các hàng thiết yếu cho miền núi, chương trình 06CP vềkhông trồng thuốc phiện và cai nghiện ma tuý; chương trình y tế và giáo dụcVHXH đã trực tiếp thúc đẩy kinh tế xã hội ở địa phương.

Về sản xuất: Trong những năm qua nền kinh tế của tỉnh phát triển tăngdần, đã duy trì nhịp độ tăng trưởng GDP từ 9 - 10,0% ( Năm 1994 GDP tăng9,1% thì năm 1999 tăng 10,3%) GDP bình quân đầu người tăng từ 685.000đồng năm 1994 lên 1.535.000 đồng năm 1999, chất lượng và hiệu quả của nềnkinh tế nông lâm nghiệp lạc hậu mang tính tự cấp tự túc của những năm trướcđây thì vài ba năm nay sản xuất hàng hoá đã bắt đầu phát triển, đã hình thànhđược một số vùng sản xuất tập trung Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch đúnghướng

+ Tỷ trọng các ngành nông lâm nghiệp trong GDP giảm từ 63% năm 1994xuống còn 61,8% năm 1995 và đến năm 1998 là 52,60%, năm 1999 là 51,46%.Nông lâm nghiệp phát triển tương đối toàn diện, nhiều giống cây, con có chấtlượng và năng suất cao được đưa vào sản xuất đại trà, việc đưa những tiến bộkhoa học kỹ thuật vào sản xuất tạo nên sự chuyển biến rõ rệt trong sản xuất Sảnlượng lương thực quy thóc tăng từ 14,5 vạn tấn năm 1994 lên 18,4 vạn tấn trongnăm 1999 tăng gần 4 vạn tấn Chăn nuôi phát triển khá năm sau đều tăng hơn nămtrước từ 4 - 5% năm

+ Tỷ trọng ngành công nghiệp + xây dựng từ 17,02% năm 1994 lên21,3% năm 1999 Trong công nghiệp từ chỗ hầu như chưa có gì, sản xuất quy

mô thiết bị nhỏ bé lạc hậu nay đã bắt đầu được mở mang xây dựng phát huy tácdụng như: Nhà máy Xi măng 4 vạn tấn/năm, dây truyền Nhà máy gạch 15 triệuviên/năm, nhiều cơ sở chế biến chè, chế biến nông sản thực phẩm ra đời thuhút sản phẩm nông nghiệp và tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động.Nguồn điện lưới đã tới 10/10 huyện, thị trên toàn tỉnh

+ Tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 19.9% năm 1994 lên 27,13% năm 1999.Các hoạt động lĩnh vực thương mại, dịch vụ, tiền tệ tín dụng cơ bản đáp ứngđược các nhu cầu, phát triển cho các thành phần kinh tế thu ngân sách tăng từ 24

Trang 7

tỷ đồng năm 1994 lên 64 tỷ đồng năm 1999 Giá trị hàng hoá xuất khẩu và cótính chất xuất khẩu đạt 6,1 triệu USD/năm

+ Về xây dựng cơ sở hạ tầng: Đã có bươc phát triển khá về số lượng chấtlượng, góp phần to lớn trong việc phát triển nền kinh tế xã hội theo hướng côngnghiệp hoá, hiện đại hoá Các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ đang từng bước được nângcấp, mở rộng nhựa hoá Đến nay có 232 km đường quốc lộ và 91 km đường tỉnh

lộ được nhựa hoá Đường cửa khẩu quốc gia Thanh Thuỷ, cửa khẩu tiểu ngạchđược khai thông Đặc biệt đến nay có 183/191 xã có đường về đến trung tâmxã

Công tác thuỷ lợi có những chuyển biến mạnh Từ những công trình trướcđây còn tạm bợ, chưa được kiên cố hoá, khả năng tưới 22.000 ha thì đến nay đã

có 215 công trình lớn nhỏ được sửa chữa nâng cấp, cộng với 5283 công trìnhsiêu nhỏ do dân tự làm với năng lực tưới đạt trên 28.000 ha

+ Sự nghiệp y tế - Giáo dục - phát thanh , truyền hình trên địa bàn tỉnh đãtừng bước được phát triển mở rộng, đã xoá được tất cả các xã trắng không cótrạm xá và từng bước xây dựng kiên cố vững chắc Tỉnh được công nhận đạttiêu chuẩn quốc gia về hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữtrên địa bàn toàn tỉnh vào năm 1999 Tỷ lệ phủ sóng phát thanh đạt 67,7%, sóngtruyền hình đạt 61% năm 1999 An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội đượcđảm bảo Từ những kết quả chung nêu trên đã có tác dụng kích thích môi trườngthuận lợi cho sản xuất kinh tế phát triển, có nhu nhập đời sống dần tăng lên Tỷ

lệ đói nghèo giảm từ 35% năm 1998 xuống còn 22% năm 1999, tỷ lệ hộ khágiàu đạt 3-4%, các khoản thu cho NSNN cũng tăng lên

- Thực trạng của cơ cấu ngành và sản xuất nông, lâm nghiệp trong nhữngnăm qua của địa phương:

+ Về nông nghiệp: Là một ngành kinh tế truyền thống đồng thời là ngànhquan trọng hàng đầu trong các ngành kinh tế của tỉnh Trên cơ sở về tiềm năngđất đai, khí hậu, được sự đầu tư giúp đỡ của Chính phủ, sự lãnh đạo, chỉ đạo củaĐảng bộ, Chính quyền tỉnh cộng với sự vượt khó đi lên của nhân dân các dântộc trong những năm gần đây bộ mặt nông thôn và đời sống nhân dân đã có

Trang 8

nhiều chuyển biến phát triển rõ nét Sản xuất nông, lâm nghiệp năm sau đều caohơn năm trước.

Tỉnh đã tập trung chỉ đạo phát triển nông, lâm nghiệp một cách tòan diện,bằng nhiều biện pháp tích cực, như làm thuỷ lợi, cung ứng vật tư kỹ thuật, côngtác khuyến nông, khuyến lâm; có chính sách hỗ trợ sản xuất kịp thời để mở rộngdiện tích thâm canh, thay đổi cơ cấu mùa vụ, đưa giống mới có năng suất caovào sản xuất

Tổng sản lượng quy thóc toàn tỉnh tăng lên đáng kể qua các năm Nếunăm 1995 đạt 15,4 vạn tấn thì đến năm 1999 sản lượng lương thực quy thóc đạt18,4 vạn tấn tăng 3,0 vạn tấn Tăng bình quân mỗi năm 6000 tấn Thể hiện quabiểu sau:

Biểu 1 Sản lượng lương thực quy thóc

Bỉểu 2 Tổng diện tích cây lương thực từ năm 1995 đến 1999

Trang 9

1998 77.880,4 29.684,6 48.205,8

Chỉ số phát triển về diện tích cây lương thực: Năm trước là 100% thì nămsau thường tăng hơn 1,02%- 1,068%

Năng suất lúa ruộng cả năm: nếu năm 1995 đạt 31,3 tạ/ha cả năm thì năm

1999 đạt 38,05 tạ/ha, tăng hơn 7,2 tạ/ha Năng suất ngô cả năm năm 1995 đạt13,64 tạ/ha thì năm 1999 đạt 18-20 tạ/ha

Bên cạnh cây lương thực cây công nghiệp ngắn ngày cũng đuợc phát triểnkhá tạo ra những vùng tập trung có sản lượng hàng hoá trao đổi như huyệnHoàng Su Phì, Bắc Quang, Vị Xuyên đặc biệt là cây đậu tương: Năm 1995 diệntích 3.271 ha đến năm 1999 diện tích 5079,9 ha tăng 1,826 ha, năng suất đạt6,53 tạ/ha Đưa tổng sản lượng năm 1999 lên 3.338 tấn tăng gấp 2 lần so vớinăm 1995 Sản lượng bán ra hàng năm trên 2.500 tấn

Một số cây công nghiệp ăn quả chính dài ngày như cây chè, cà phê, cây

ăn quả cam, quýt đang có chiều hướng tăng lên đáng kể tạo ra hàng hoá lớn trênđịa bàn nâng cao thu nhập và đời sống nhân dân Cây soài, cây lê, cây hồngcũng đã phát triển mở ra hướng chuyển đổi mới về cơ cấu cây trồng cho vùngcao Kết quả thể hiện:

Biểu 3 Diện tích cây công nghiệp lâu năm

Trang 10

Năm 1995 sản lượng chè búp tươi đạt 9,624 nghìn tấn, thì năm 1999 đạt16,2 nghìn tấn, và đã tạo ra trên 2500 tấn chè khô hàng hoá xuất khẩu và tiêuthụ nội địa.

Cây ăn quả: được phát triển mạnh, năm 1995 tổng cây ăn quả đạt 3.395 hađến năm 1999 lên tới 6.345 ha tăng gần gấp 2 lần Trong đó diện tích cam, quýtđạt 4.638 ha, sản lượng quả 12,8 ngàn tấn, cây soài hiện có 354 ha, nhãn, vải,hồng không hạt 103,6 ha, lê 66,28 ha

Ngành trồng trọt phát triển đã thúc đẩy cho ngành chăn nuôi cũng đượcphát triển nhanh, tổng đàn năm sau cao hơn năm trước Đặc biệt tổng đàn trâu

bò, đàn lợn, gia cầm có sản lượng thịt hơi xuất chuồng đều tăng, tốc độ tăngcủa đàn gia súc hàng năm từ 4-5% năm, đàn gia cầm 3-4% Thể hiện qua cácbiểu sau:

Biểu 4 Số lượng gia súc, gia cầm

Trang 11

Năm 1999 diện tích nuôi trồng thuỷ sản có 900 ha, tăng hơn năm 1995 là

120 ha Sản lượng thuỷ sản năm 1999 đạt 820 tấn

Đàn ong năm 1999 có 9.009 tổ, tăng 3% so với năm 1998 cho sản lượng

40 tấn mật

+ Về lâm nghiệp: Là tỉnh có diện tích đất rừng tự nhiên nhiều, nhưng hiệntại phần lớn là đất trống đồi núi trọc, rừng đầu nguồn và rừng phòng hộ Nhữngnăm trước đây do tệ nạn khai thác không có tổ chức, buôn bán trái phép, dân ducanh dư cư nhiều, mặt khác ảnh hưởng chiến tranh thế giới tàn phá, nên đã làmcho rừng ngheo kiệt, làm mất cân bằng hệ sinh thái; Ngoài ra việc giao đất giaorừng chưa hợp lý, người dân chưa thực sự được làm chủ đất rừng, nên ảnhhưởng đến sự phát triển kinh tế -xã hội và nguồn thu của nhân dân

Nhưng những năm gần đây do thực hiện tốt chủ trương giao đất giao rừngđến từng hộ và nguời lao động (đến năm 1998 diện tích đất nông nghiệp đã giaotới xã đạt 93% và 92,4% đất lâm nghiệp) Đặc biệt thông qua chương trình 327,ĐCĐC Rừng Hà Giang đã tái sinh trở lại Công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ,khoanh nuôi được tăng cường rừng đã trở lại mầu xanh, độ che phủ của rừng từ22% năm 1992 nay đã nâng lên 35% năm 1999

Kết quả năm 1995- 1999:

- Diện tích đất rừng được giao tới hộ 126.088 ha, bình quân mỗi hộ 4-5 hađất rừng

- Trồng rừng 17.773 ha, bình quân mỗi năm trồng 3.554 ha

- Chăm sóc rừng trồng 21.218 ha, bình quân mỗi năm 4.243 ha

- Bảo vệ rừng 145.263 ha, bình quân mỗi năm bảo vệ 29.053 ha

- Khoanh nuôi rừng 25.455 ha, bình quân mỗi năm là 5.091 ha

Về sản phẩm lâm nghiệp chủ yếu khai thác hàng năm:

- Gỗ tròn bình quân mỗi năm khai thác 60.200 m3

- Củi khai thác bình quân mỗi năm 103.800 m3

- Tre, vầu, nứa bình quân mỗi năm 2.500 triệu cây

Trang 12

Tổng giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp trên địa bàn bình quân nămđạt 139.00 triệu đồng/năm.

Trong đó: - Trồng và nuôi rừng 23.000 triệu đồng/năm

- Khai thác và thu hoạch 116.000 triệu đồng

+ Về tình hình phát triển kinh tế HTX và kinh tế trang trại:

Theo báo cáo của các huyện, thị đến tháng 9 năm 1998 toàn tỉnh có 693HTX (Trong đó nông nghiệp 680, tiểu thủ công nghiệp có 6, tín dụng 4, thuỷsản 2, vận tải 1)

Đến nay việc triển khai thực hiện Luật HTX trong phạm vi toàn tỉnh đãchuyển đổi và thành lập được 135 HTX mới theo luật (Trong đó có 131 nôngnghiệp, 4 tiểu thủ công nghiệp, 2 tín dụng, 1 vận tải, 1 dịch vụ vật tư xây dựng,

2 thuỷ sản)

Đây là những mô hình tiên tiến có tác dụng tốt trong việc phát triển theohướng sản xuất hàng hoá và làm dịch vụ cho kinh tế hộ gia đình, tạo điều kiệncho họ được quyền tự chủ trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh

- Về kinh tế trang trại, trong những năm gần đây Hà Giang đã có sự quantâm phát triển mô hình này

Tổng số trang trại lớn, nhỏ tính đến năm 1998 toàn tỉnh có trên 2000 hộdân làm kinh tế trang trại, trong đó chính sách 478 hộ kinh doanh nông, lâm,ngư nghiệp theo mô hình trang trại quy mô từ 2 ha trở lên, chiếm 0,48% tổng số

hộ toàn tỉnh Trong số hộ trên riêng huyện Bắc Quang có khoảng 100 hộ, đạtdoanh thu hàng năm từ 100-200 triệu đồng

Đây thực sự là một mô hình mới về phát triển nông, lâm nghiệp hàng hoáđúng hướng có hiệu quả cần được tiếp tục nghiên cứu, tổng kết và tạo điều kiện đểkhuyến khích mở rộng

+ Về đầu tư phát triển:

Được sự hỗ trợ của Chính phủ cộng với tinh thần phát huy nội lực của địaphương trong những năm qua, hướng đầu tư cho nông nghiệp, lâm nghiệp xâydựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các chính sách trợ cước, trợ giá trong chương

Trang 13

trình phát triển nông, lâm nghiệp của tỉnh năm sau để tăng hơn năm trước Đảmbảo cho sản xuất tăng trưởng, phát triển ổn định bền vững.

Trong 6 năm từ 1994-1999, tổng số nguồn vốn đầu tư cho phát triển cáclĩnh vực trên toàn tỉnh là 1424,3 tỷ đồng thì đầu tư cho nông, lâm nghiệp là297,4 tỷ đồng bằng 20,88% Đặc biệt năm 1999 đầu tư cho nông nghiệp lên tới88,2 tỷ đồng/354,6 tỷ đồng chiếm 24,87%

+ Về hoạt động thương mại- du lịch:

Hà Giang có đường biên giới giáp với Trung Quốc dài trên 270 km có cửakhẩu Quốc gia Thanh Thuỷ và Phó Bảng, ngoài ra còn có các cửa khẩu tiểungạch rất thuận tiện cho giao lưu buôn bán với Trung Quốc Có những địa danhđộc đáo như Căng Bắc Mê, Núi Cấm, Cổng Trời, Suối Tiên, Chum vàng chumbạc, Núi Cô Tiên và một số di tích lịch sử được xây dựng từ thế kỷ 19 như ChùaSùng Khánh, Nhà Vương và các hang động, rừng đặc dụng phòng hộ khu bảotồn thiên nhiên khác

Các hoạt động thương mại và du lịch tiếp tục được củng cố và phát triển.Công tác quảnlý hoạt động thương nghiệp quốc doanh được chấn chỉnh do đãhạn chế được thua lỗ trong kinh doanh Đồng thời khuyến khích mạng lướithương nghiệp, dịch vụ ngoài quốc doanh phát triển đúng hướng đã góp phầnlàm đa dạng các mặt hàng phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân

Tổng giá trị hàng xuất khẩu đạt 4,3 triệu USD Trong đó mặt hàng chủyếu là chì, quặng ăng ti môn

Về giá trị du lịch đạt 4,5tỷ đồng, tăng 4% so với năm 1998 Tuy nhiênhoạt động thương mại chưa làm tốt chức năng hướng dẫn sản xuất, tổ chức thumua và tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là đối với hàng nông- lâm sản

Tóm lại, trong những năm qua thực hiện đường lối của Đảng nhất là từNghị quyết VII và VIII của Đảng về CNH, HĐH Trên cơ sở các Nghị quyết cụthể của Trung ương Đảng chỉ đạo trên từng lĩnh vực Được sự quan tâm từTrung ương Đảng, Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương, Đảng bộ và cácdân tộc trong tỉnh đã nhận rõ trách nhiệm của mình, lãnh đạo chỉ đạo sự nghiệpphát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn và đạt được các mục tiêu cơ bản sau đây:

Ngày đăng: 19/10/2013, 14:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w