Khởi phát nguyên thủy của việc hình thành các ngân hàng thương mại không phải là nhucầu về vốn mà là nhu cầu về cất giữ tài sản, tuy nhiên, các dịch vụ ngân hàng sơ khai khôngđơn thuần l
Trang 1NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại.
1.1.1 Một số các vấn đề liên quan.
1.1.1.1 Tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
Ngân hàng thương mại là một trong những định chế tài chính quan trọng nhất của hệthống tài chính1 quốc gia Nếu đối với sự vận hành của nền kinh tế quốc gia, nguồn vốn đượcxem như là máu trong một cơ thể sống thì hệ thống các ngân hàng thương mại là các maomạch chính Hoạt động của các ngân hàng thương mại là những thể hiện sâu sắc nhất nhữngdiễn biến của thị trường tiền tệ2 nói riêng và thị trường tài chính nói chung Ngoài ra, nhìnvào hoạt động của hệ thống các ngân hàng thương mại, chúng ta có thể nhìn thấy sự vận hànhcủa chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia trong từng thời kì cũng như sự hưng thịnh hay trên đàsuy vong của nền kinh tế kinh tế quốc gia đó
Ngân hàng cũng là một loại hình doanh nghiệp, tuy nhiên hoàn toàn khác với các loạihình doanh nghiệp thông thường khác, các ngân hàng thương mại chịu sự điều chỉnh của một
hệ thống pháp luật chuyên ngành3 với những nguyên tắc điều chỉnh hết sức khắc khe Vậynguyên nhân nào tạo nên yêu cầu khác biệt đó? Có thể lí giải từ nhiều góc độ: vị trí, vai tròcủa các ngân hàng thương mại, yêu cầu an toàn cho nền kinh tế, tính chất rủi ro trong bảnchất hoạt động của loại hình doanh nghiệp này,… Tuy nhiên, nhìn nhận một cách kháchquan, các đặc tính trên đều xuất phát từ một yếu tố duy nhất, đó là đối tượng kinh doanh củaloại hình doanh nghiệp này: tiền tệ
Theo khoản 1 điều 9 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam4 “Tiền tệ là phương tiện thanhtoán, bao gồm tiền giấy, tiền kim loại và các giấy tờ có giá như tiền” Xuất phát từ bản chấtcủa tiền tệ là loại tài sản vô hình với giá trị của nó không liên quan gì đến hình thức vật lí của
nó mà dựa vào trái quyền hợp pháp trên một lợi ích tương lai nào đó Tiền tệ, hiều theo nghĩahẹp là đồng tiền được luật pháp quy định để phục vụ trao đổi hàng hóa và dịch vụ của mộtquốc gia hay nền kinh tế, chính vì vậy, tiền tệ còn được gọi là “tiền lưu thông” Từ góc độ
1 Thị trường tài chính (financial market) được đề cập trong đề tài này có thể được định nghĩa: là thị trường giao dịch về các loại tài sản tài chính, vốn tài chính và các sản phẩm tài chính hay công cụ biểu thị vốn phát sinh theo từng phương thức giao dịch trên thị trường thị trường tài chính được hình thành và phát triển trong một nền kinh tế đều dựa trên hai cơ sở chủ yếu là nhu cầu giao lưu vốn cùng với sự xuất hiện các công cụ vốn Thị trường tài chính được hợp thành bởi thị trường vốn và thị trường tiền tệ (Gs.Ts Lê Văn Tư, Pgs.Ts Phạm Văn Năng, Thị Trường Tài Chính, Nxb Thống Kê Hà Nội, năm 2003)
2 Thị trường tiền tệ (money market) là thị trường nơi các công cụ nợ ngắn hạn (thường dưới một năm) được mua bán với số lượng lớn Các công cụ nợ ngắn hạn lưu hành trên thị trường tiền tệ thường do nhà nước, các ngân hàng và các doanh nghiệp lớn phát hành, đặc biệt là có tính thanh khoản cao, và rủi ro không thanh toán thấp (Gs.Ts Lê Văn Tư, Pgs.Ts Phạm Văn Năng, Thị Trường Tài Chính, Nxb Thống Kê Hà Nội, năm 2003)
3 Luật Các tổ chức tín dụng số 07/1997/QHX ngày 12/12/1997 (sắp được thay thế bới Luật Các tổ chức tín dụng mới vào cuối năm 2009 – trong quá trình phân tích các vấn đề liên quan đến các quy định của pháp luật, tác giả cũng sẽ phân tích các quy định mới của dự thảo luật này); Nghị định số 49/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/09/200 về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng thương mại.
4 Đã được sửa đổi bổ sung.
Trang 2này, tiền tệ có thể mang hình thức là tiền giấy hoặc tiền kim loại do nhà nước (Ngân hàngtrung ương, bộ tài chính,…) phát hành Tuy nhiên, theo định nghĩa của Luật Ngân hàng nhànước Việt Nam như được nêu trên và cả nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính đều sử dụngthuật ngữ tiền tệ theo nghĩa rộng hơn rất nhiều Tiền tệ lúc này bao gồm tiền (tiền tệ theonghĩa hẹp) và những loại hình có thể thay thế tiền mặt, chúng còn có tên gọi khác là “near-money” _ công cụ được coi như tiền là các chứng khoán5, bản thân chúng không được gọi làtiền nhưng có thể chuyển thành tiền một cách dễ dàng Để tiền mặt thật sử trở thành tiền tệ,hay nói cách khác muốn nó trở thành một loại hàng hóa có khả năng sinh lợi, các ngân hàngchính là những đầu mối quan trọng để thực hiện chu trình chuyển đổi này Về cơ bản có thể,
có thể diễn đạt cách ngắn gọn như sau, để biến tiềm mặt thành tiền tệ, người ta phải đem tiềnmặt đi đổi dưới các hình thức như mua, kí gởi, cho vay…, và như vậy, nó tạo ra lãi suất (giácủa hàng hóa tiền tệ) mà tiền mặt không làm được Và có thể nói đây là phương thức hìnhthành nguồn vốn quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại, đó chính là bản chất kinh tế
cơ bản của hoạt động ngân hàng nói riêng và toàn thị trường tài chính nói chung Nó chính làkhởi phát của hoạt động huy động vốn hiểu dưới góc độ kinh tế sơ khai trong hoạt động củacác ngân hàng thương mại
Hệ thống tiền tệ hiện nay (các hệ thống tài chính phát triển)6
CUNG
- Tiền gửi không kì hạn
- Đơn vị lớn của tiền gửi có kì hạn
(large-5 Vai trò đầu tiên của chứng khoán chính là các phương tiện huy động vốn, nhưng về sau khi hoạt động kinh doanh tiền tệ phát triển, nó trở thành hàng hóa kinh doanh quan trọng trên thị trường chứng khoán.
6 Pts Lê Vinh Danh, “Chính sách tiền tệ và sự điều tiết vĩ mô của ngân hàng trung ương ở các nước tư bản phát
triển”, Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, năm 1997, trang 31.
Trang 3denomination time deposit jumpo)
- Trái phiều dài hạn được mau lại của ngân hàngthương mại và các hệ thống tài chính khác (RPs)
- Euro đôla lớnL
- Trái phiếu (khoa bạc – công ty – đô thị)
- Cổ phiếu (kho bạc – công ty –đô thị)
- Trái phiếu tiết kiệm (saving bonds)
- Thương phiếu (commercial paper)
1.1.1.2 Vốn trong hoạt động của ngân hàng:
Bản chất của nguồn vốn.
Vốn trong kinh tế học là một phạm trù tương đối phức tạp và khó tìm được một địnhnghĩa thống nhất giữa các quan điểm từ trước đến nay Trong tác phẩm Tư bản luận củamình, Các Mác đã khái quát phạm trù vốn thành phạm trù cơ bản Theo Các Mác, tư bản làgiá trị mang lai giá trị thặng dư Định nghĩa này thể hiện đầy đủ bản chất của vốn: 1) vốnphải đại diện cho một loại tài sản nhất định nào đó; 2) vốn phải luôn luôn vận động, luônluôn sinh lời trong quá trình vận động; 3) vốn là một loại hàng hóa và cũng như những loạihàng hóa khác, nó có chủ đích thực Nói ngắn gọn, vốn là một bộ phận của cãi được dùngvào sản xuất để làm ra của cãi nhiều hơn
Xuất phát từ vai trò trên, vốn là tiền đề của hoạt động kinh doanh trong toàn xã hội nóichung và của mỗi doanh nghiệp nói riêng, mọi doanh nghiệp đều có nhu cầu to lớn về vốn đểvận hành và phát triển Hơn nữa, hoạt động kinh doanh thường xuyên đòi hỏi phải khôngngừng được bổ sung một số lượng vốn nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu về tái sản xuất mởrộng, về thanh toán, về dự trữ,… phát sinh ở mọi thời điểm Trong cơ chế thị trường, lượngvốn kinh doanh biểu hiện thế lực và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, có tầm quan trọng đốivới sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trên thị trường Chính vì vậy mà thị trườngtài chính mà trong đó đóng vai trò chủ chốt là các ngân hàng thương mại luôn có mối quan
hệ khắng khít cho hoạt động sản xuất kinh doanh, là nguồn huyết mạch cung cấp cho doanhnghiệp sức sống để tồn tại và phát triển Đây là căn nguyên làm cho các ngân hàng thươngmại trở thành một trong những định chế tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia Khởi phát nguyên thủy của việc hình thành các ngân hàng thương mại không phải là nhucầu về vốn mà là nhu cầu về cất giữ tài sản, tuy nhiên, các dịch vụ ngân hàng sơ khai khôngđơn thuần là “hệ quả phái sinh” từ việc một số chủ thể (tiền thân của các ngân hàng – các tổchức tín dụng thời sơ khai) nắm giữ một lượng tư bản khổng lồ mà nguyên nhân trực tiếp củahiện tượng này theo quan niệm của tác giả là nhu cầu khách quan của nền kinh tế, nhu cầu vềnhững nguồn vốn với sự đa dạng về thời hạn và quy mô
Quay trở lại với vấn đề nguồn vốn của các ngân hàng thương mại, các ngân hàng thươngmại cũng là một loại hình doanh nghiệp, nguồn vốn cũng đóng vai trò hết sức quan trọng đốivới nó tương tự như đối với các doanh nghiệp khác, tuy nhiên, vốn đối với các ngân hàngkhông đơn thuần chỉ là phục vụ cho nhu cầu mua nguyên vật liệu hay thực hiện các thanhtoán chi trả mà nó là đối tượng trực tiếp của hoạt động ngân hàng, nó là “hàng hóa”, là
Trang 4phương tiện hoạt động của các ngân hàng Chính vì thế, khác với các loại hình doanh nghiệpkhác, nhu cầu về vốn của các ngân hàng nói riêng và các tổ chức tín dụng nói chung là rất lớn
và có thể nói là không hạn chế về lượng Xuất phát từ tính chất đó, loại doanh nghiệp đặc biệtnày chủ yếu dựa vào nguồn vốn vay mượn, phần lớn bắt nguồn từ hoạt động bán các tráiquyền tiền gửi cho các doanh nghiệp, cá nhân… để cung ứng dịch vụ tín dụng và các dịch vụkhác Chính nguồn vốn vay mượn này, chứ không phải vốn sở hữu, đã tạo nguồn lực tàichính chủ yếu cho các hoạt động của ngân hàng Trong giai đoạn đầu của hoạt động ngânhàng, các ngân hàng thường không chủ động trong việc tìm kiếm các nguồn vốn mà thườngphụ thuộc vào người gửi tiền Nhưng kinh tế càng phát triển, các ngân hàng phát hiện rarằng, nguồn vốn truyền thống theo định hướng tiền gửi không đủ đáp ứng mức cầu tín dụngđang gia tăng của các khách hàng doanh nghiệp và gia đình Để thảo mãn nhu cầu tín dụnggia tăng của giới doanh nghiệp và cá nhân cần phải có những nguồn vốn mới: vay trên thịtrường tiền tệ
Thị trường tiền tệ giúp các ngân hàng có đầu óc đổi mới phát triển nguồn vốn quan trọng
và dồi dào có thể vay mượn cấp thời (vài phút hoặc vài giờ) bằng cách thông qua bất cứ công
cụ nào của thị trường tiền tệ (như các chứng chỉ tiền gửi, vay dự trữ, bán lại thương phiếu,
…) Nguồn vốn vay trên thị trường tiền tệ làm cho tính chất của các nguồn vốn của các ngânhàng thêm phong phú, hiện nay người ta phân biệt hai loại nguồn vốn của ngân hàng thương
mại: nguồn vốn thụ động và nguồn vốn đi mua Đối với các ngân hàng, nguồn vốn tiền gửi
chủ yếu là các nguồn vốn thụ động Ngân hàng không phải van nài khách hàng, mà kháchhàng chủ động đến gửi tiền vì muốn có những tiện ích hay các dịch vụ khác được ngân hàngcung ứng (chủ yếu là an toàn và lãi suất) Ngược lại, vay vốn trên thị trường tiền tệ là nguồnvốn phải đi mua Ngân hàng sử dụng nguồn vốn này phải tích cực tìm kiếm bất kì nguồn vốnkhả dụng nào và trả mức giá ít nhất ngang bằng lãi suất thị trường hiện hành để bảo đảm nhucầu sử dụng cảu mình Nét đặc thù của tất cả các nguồn vốn trên thị trường tiền tệ là tínhnhạy cảm với giá cả7 của chúng Các ngân hàng muốn tiếp cận nguồn vốn này cần cung cấpmức lãi suất cạnh tranh, thậm chí trong một số trường hợp, ngân hàng có thể tạm thời nângcao mức lãi suất huy động so với lãi suất thị trường hiện hành cho đến khi đủ vốn đáp ứngnhu cầu tín dụng của nó
Tóm lại, vốn ngân hàng có thể được hiểu là những giá trị tiền tệ ngân hàng tự có, huyđộng và tạo lập được để thực hiện cho vay, đầu tư và thực hiện các dich vụ ngân hàng Việctạo lập và huy động vốn hình thành nên các khoản mục bên tài sản nợ của bảng cân đối tàisản của ngân hàng thương mại Việc sử dụng vốn để cho vay, đầu tư, thực hiện các dịch vụngân hàng hình thành nên các khoản mục bên tài sản có của bảng cân đối tài sản ngân hàngthương mại
Phân loại nguồn vốn.
Về cơ bản nguồn vốn của ngân hàng có thể được phân loại thành các dạng cơ bản sau:
7 Lãi suất là giá cả của việc mua và bán quyền sử dụng vốn hay nói cách khác lãi suất chính là giá cả của tiền, nhưng giá cả bày chỉ có thể xuất hiện khi diễn ra các quan hệ tín dụng và do vậy, người ta còn gọi là giá cả của tín dụng.
Trang 5VỐN TỰ CÓ
CÁC NGUỒN VỐN KHÁC
khách hàng (là vốn do
NHTM tạo lập ra thông qua việc thu hút tiền gửi
và phát hành giấy tờ có giá).
Là nguồn vốn màNHTM có được dựatrên mối quan hệ vaymượn trên thị trườngliên ngân hàng, dựatrên các quỹ cho vay
đã được thiết lập
Là nguồn vốn hìnhthành trong quá trìnhcung cấp dịch vụngân hàng cho kháchhàng
dự trữ)-Chiếm tỷ trọng lớn nhấttrong tổng nguồn vốncủa NHTM
-Là loại nguồn vốn đadạng về: Nguồn gốchình thành, Thời hạn cáckhoản huy động, Giá trịcác khoản huy động,Loại tiền huy động
-Không thuộc sở hữucủa ngân hàng
-Chiếm tỷ trọng kolớn (ko quá lệ thuộcvào nguồn vốn này đểkinh doanh)
-Độ ổn định cao hơnnguồn vốn huy động
-Chi phí cao, lãi suấtnhạy cảm với sự thayđổi của lãi suất thịtrường
-Thời hạn rất ngắn(ngày, tuần)
-Không thuộc sở hữucủa NHTM
-Quy mô nhỏ
-Chi phí ko cao.-Độ ổn định thấp
Vai trò -Bảo đảm an toàn cho hoạt
Có vai trò đặc biệt đốivới việc kinh doanh
của NHTM (giải
quyết nhanh nhu cầu, với khối lượng lớn).
Phục vụ cho các hoạtđộng của ngân hàngthương mại như cácngồn vốn khác
Trang 6doanh của ngân hàng (quy
mô, giá trị tài sản cố định,
cơ cấu tài sản,…)
Vay NHTWVay các NHTM
-Nguồn vốn nhận tàitrợ ủy thác đầu tư -Nguồn vốn trongthanh toán
-Nguồn vốn khác: vaynước ngoài, vay công
ty mẹ (nếu có), …
Cơ cấu nguồn vốn hiện nay của các ngân hàng thương mại Việt Nam
(Thống kê ở mức độ tương đối)
1.1.2 Vai trò của hoạt động huy động vốn đối với hoạt động của các ngân
hàng thương mại.
Như đã được trình bày ở trên, ngân hàng cũng là một doanh nghiệp, vì vậy vai trò của
nguồn vốn đối với các ngân hàng thương mại đầu tiên cũng sẽ Quyết định đến quy mô, thế
lực và khả năng mỏ rộng quy mô của các ngân hàng Nhìn từ góc độ kinh tế, có thể khái quát
hóa các vai trò của nguồn vốn này đối với hoạt động của một ngân hàng thương mại dưới
một vài các khía cạnh sau:
Vốn là cơ sở của hoạt động ngân hàng: NHTM muốn hoạt động kinh doanh được
thì phải có vốn, vốn phản ánh năng lực chủ yếu để Quyết định khả năng kinh doanh
Để có giấy phép thành lập thì NHTM phải có vốn pháp định
Trang 7 Để thực hiện tốt vai trò, chức năng của mình thì NHTM cần phải thường xuyênchăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong suốt hoạt động kinh doanh của mình.
Nếu nguồn vốn lớn NHTM sẽ có uy tín cao trên thị trường khi NHTM thiếu hụttrong thanh toán thì có điều kiện thuận lợi trong việc vay mượn và bù đắp kịp thời thiếu hụttrong thanh khoản, …
Nếu nguồn vốn lớn, NHTM thường được sự trợ giúp từ phía Chính phủ vì nếu nhữngNHTM lớn mà sụp đổ thì sẽ ảnh hưởng nặng nề tới hệ thống tiền tệ quốc gia và nền kinh tế
Vốn của NHTM Quyết định tới khả năng cạnh tranh của NHTM đó Nếu có nguồnvốn lớn thì NHTM sẽ có ưu thế hơn trong cạnh tranh, điều này thể hiện như sau:
Nguồn vốn lớn giúp NHTM có điều kiện giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh cóđiều kiện giảm chi phí bù đắp rủi ro
Trang 8này, có thể nhận thấy vai trò của các nguồn vốn là hoàn toàn không giống nhau và mang đặctính khá khác nhau và đặc biệt trong một số trường hợp việc huy động các nguồn vốn này chiphí lợi nhuận bị tạm thời bỏ qua (lợi nhuận âm) và xuất hiện các chủ thể đặc biệt Mặt khác,việc sử dụng các nguồn vốn này bị ràng buộc khá chặc chẽ bởi các quy định pháp luật.Nguyên nhân sâu xa của hiện tượng này như được trình bày ở trên chính là xuất phát từ việcđối tượng kinh doanh của các ngân hàng thương mại chính là loại hàng hóa đặc biệt – tiền tệ.
Lí giải một cách đơn giản và thực tế hơn đó chính là xuất phát từ vai trò của hệ thống cácngân hàng thương mại trong hệ thống tài chính và nền kinh tế quốc gia, nó là huyết mạch, làđầu tàu nơi các chính sách kinh tế được triển khai nhằm vận hành nền kinh tế theo nhữngchiến lược được định ra từ chính phủ Vì vậy, khác với các doanh nghiệp thông thường khác,ngoài vai trò kinh tế, nguồn vốn trong các ngân hàng thương mại còn đóng những vai tròkhác khá quan trọng được thiết lập từ các quy định của pháp luật Những nhiệm vụ đó có thểđược khái quát như sau:
Đối với nguồn vốn tự có: Khoản 13 Điều 9 Luật Các tổ chức tín dụng quy định: “Vốn tự
có gồm có giá trị thực của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ, một số tài sản nợ khác của tổ chức tín dụng theo quy định của Ngân hàng nhà nước vốn tự có là căn cứ để tính toán các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng” Vốn điều lệ và vốn pháp định cũng là những thể
hiện của nguồn vốn này
Vốn pháp định theo quy định của khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp “là mức vốn tối
thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp”.
Vốn điều lệ là vốn được ghi trong điều lệ của ngân hàng Theo quy định tại khoản 6 Điều
4 của Luật Doanh nghiệp 2005: “Vốn điều lệ là vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc
cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty.”
Vì vậy, vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại thực tế phải luôn lớn hơn hoặc bằngvốn pháp định Có thể nói vốn pháp định là nguồn vốn có vai trò tiên quyết đối với sự hìnhthành và tồn tại của các ngân hàng thương mại8, theo quy định của Quyết định số24/2007/QĐ-NHNN, đến năm 2010, nếu không đủ số vốn điều lệ theo quy định của Quyếtđịnh này, các ngân hàng buộc phải sáp nhập hoặc phải tiến hành giải thể Ngoài ra, nguồnvốn tựu có này còn Quyết định rất lớn hoạt động và các nghiệp vụ của ngân hàng thươngmại.9
Đối với nguồn vốn khác, phương thức điều chỉnh mang tính mềm mỏng hơn và thiên vềtính nghiệp vụ cũng hướng tới mục đích chính là đảm bảo an toàn của hệ thống tín dụng, đảmbảo khả năng thanh toán của các ngân hàng Chẳng hạn, vận dụng nguyên tắc an toàn tíndụng, các khản vốn được huy động ngắn hạn chỉ được dùng để cung cấp tín dụng ngắn hạn,
8 Trước đây, mức vốn điều lệ tối thiểu để xin cấp giấy phép NHTMCP Nông thôn là 5 tỉ đồng và NHTMCP đô thị là 70 tỉ đồng Tuy nhiên, theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước qua Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN những NH nào thành lập từ nay đến trước ngày 31.12.2008 phải có mức VĐL là 1.000 tỉ đồng Đối với các NH thành lập từ 31.12.2008 đến năm 2010, vốn điều lệ tối thiểu là 3.000 tỉ đồng Nguồn vốn góp phải là nguồn hợp pháp; không được sử dụng tiền vay dưới bất cứ hình thức nào để góp vốn thành lập NH.
9 Chẳng hạn, căn cứ vào quy mô của nguồn vốn tự có này, điều chỉnh quy mô hoạt động của ngân hàng thương
mại, cụ thể: (vốn tự có/ tài sản rủi ro) ≥ 8%.; điều chỉnh giá trị tài sản cố định mua sắm, cơ sỏ vật chất kĩ thuật:
tài sản cố định ≤(50% Vốn tự có cấp 1); điều chỉnh đối tượng khách hàng, điều chỉnh cơ cấu tài sản của ngân hàng; điều chỉnh nghiệp vụ góp vốn mua cổ phiếu,…
Trang 9điều 45 Luật Các tổ chức tín dụng quy định chỉ có tổ chức tín dụng là ngân hàng mới cóquyền huy động các nguồn vốn ngắn hạn này Ngoài một số rất ít các quy định mang tínhhành chính mệnh lệnh này, để quản lí phương thức sử dụng các nguồn vốn này, nhà nước ta
sử dụng các phương pháp mềm dẻo và linh hoạt hơn phù hợp với xu thế phát triển của cácnghiệp vụ tài chính trên thế giới một trong những ví dụ điển hình đó chính là các quy định
về bảo hiểm tiền gửi hay các quy định về dự trữ bắt buộc (các vấn đề này sẽ được phân tích
cụ thể ở phấn sau)
1.1.3 Những đặc trưng cơ bản của hoạt động huy động vốn.
1.1.3.1 Nguồn gốc hoạt động huy động vốn.
Huy động vốn có thể được xem là một trong những nghiệp vụ xuất hiện sớm nhất tronghoạt động của các ngân hàng thương mại Trong giai đoạn sơ khai của hoạt động ngân hàng,những nghiệp vụ này chỉ đơn thuần là hoạt động cất giữ các tài sản có giá nhắm mục đíchđảm bảo an toàn, và lúc này, người phải trả phí là người gửi tiền chứ không phải là các ngânhàng, các khoản tiền chỉ được xem đơn thuần là vật được kí gửi chứ hoàn toàn không đóngvai trò là nguồn vốn đối với các ngân hàng thương mại, tiền lúc này không được xem là tiền
tệ theo đúng nghĩa của nó, vì không có khả năng luân chuyển, không sinh ra được lợi nhuận.Khi nhu cầu tín dụng gia tăng, nghiệp vụ ngân hàng phát triển, vị thế đó bị đảo ngược, ngânhàng là người phải trả phí (lãi suất – giá cả của tín dụng), và nguồn tiền được kí gửi thay đổivai trò của nó, trở thành nguồn vốn khả dụng và lớn nhất của các ngân hàng thương mại hiệnnay10 Chính vì vậy, trái ngược với quá khứ, ngân hàng là người phải đi nài nỉ khách hàng gửitiền, nếu trước đây, ngân hàng là người bị động trong quan hệ này thì hiện nay, hầu hết tất cảcác ngân hàng đều có các chính sách, phương thức để lôi kéo nguồn tiền gửi này và chính vìvậy các phương thức huy động vốn ngày càng trở nên quan trọng, phong hú và đa dạng hơn
Có thể nói, hiện nay, hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động hết sức quantrọng và liên quan đến sự sống còn của các ngân hàng thương mại
1.1.3.2 Khái niệm hoạt động huy động vốn.
Xuất hiện khá lâu đời và không ngừng phát triển, thay đổi cùng với sự phát triển của cácngân hàng thương mại, nội hàm của khái niệm hoạt động huy động vốn đã có những thay đổirất đáng kể, cả về quy mô và các hình thức thể hiện Hơn nữa, gần như không tìm được mộtđịnh nghĩa hoàn thiện về hoạt động này cũng như không có được sự thống nhất hoàn toàngiữa các quan điểm Đặc biệt, là sự khác biệt trong cách hiểu khi đề cập vấn đề này dưới cáckhía cạnh khác nhau
Phổ biến nhất là việc sử dụng thuật ngữ này trong các khía cạnh không chuyên, đặc biệt
là ngôn ngữ thường nhật của xã hội và báo chí, khái niệm huy động vốn được sử dụng ở đâyđối với hoạt động của các ngân hàng thương mại có thể nói là hẹp và không rõ ràng nhất,trong nhiều trường hợp có sự không thống nhất trong nội hàm của bản thân khái niệm.Nhưng nhìn chung, phổ biến nhất, khái niệm này được dùng chủ yếu đề cập đến một hoạt
10 Các nguồn tiền kí gửi hay còn gọi là các tài sản nợ của ngân hàng thương mại là nguồn vốn chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng Các ngân hàng trên thế giới tài sản nợ chiếm khoản từ 90% - 95% trên tổng số nguồn vốn của các ngân hàng, đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam, ti lệ này thấp hơn.
Trang 10động đặc trưng nhất của các ngân hàng thương mại, đó là nhận tiền gửi và dưới các hình thức
cơ bản nhất, cụ thể là nhận tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi có và không có kì hạn khác.Một cách không chính thức, dưới khía cạnh kinh tế cũng có khá nhiều cách tiếp cận vớiriêng khái niệm này, tuy cũng khá tương đồng nhau và phạm vi thường rộng hơn khái niệmđược đề cập ở trên nhưng nội hàm của chúng thường không đồng nhất Cách tiếp cận thôngthường nhất hiện nay trong các nghiên cứu của các chuyên ngành kinh tế, tài chính ngânhàng là tiếp cận khái niệm huy động vốn từ nguồn gốc của các nguồn vốn chẳng hạn, nguồnvốn được chia thành vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay, vốn tiếp nhận, vốn khác Chính vìvậy, hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại lúc này bao gồm cả việc khởi tạonguồn vốn ban đầu cho sự hình thành vốn điều lệ và cả việc tạo lập nguồn vốn cấp 2 (một bộphận của nguồn vốn tự có) của ngân hàng thương mại.11
Tuy nhiên, khi nhắc đến nghiệp vụ huy động vốn của các ngân hàng thương mại, một sốtài liệu chuyên ngành đôi lúc cũng có cách tiếp cận hẹp hơn Chẳng hạn, trong một số giáo tàiliệu giảng dạy của các trường khối kinh tế tài chính khi đề cập đến các hình thức của nghiệp
vụ huy động vốn thường chỉ bao gồm: Hình thức tiền gửi thanh toán, hình thức tiền gửi tiếtkiệm, chứng chỉ tiền gửi, các hình thức tiền gửi đặc biệt khác12 Có thể xem đây là một cáchtiếp cận thiên về tính kinh tế và mang nặng tính nghiệp vụ nhưng thiết nghĩ đôi lúc có khảnăng gây tâm lí thiên lệch đối với các chủ thể tiếp nhận Vẫn biết rằng khi tiếp cận từ khíacạnh này, quan điểm của nhà nghiên cứu đang cố nhấn mạnh tính lợi nhuận trong hoạt độngcủa các ngân hàng thương mại Có nghĩa rằng , nếu loại trừ các hình thức khác (ví dụ như cáckhoản vay trong thị trường liên ngân hàng) trong việc đảm bảo nguồn vốn, đảm bảo khả năngthanh khoản của các ngân hàng thương mại, vô hình chung đã bỏ qua một trong những kênhquan trọng nhất trong việc đảm bảo sự hoạt động bình thường, an toàn của các ngân hàng.13Với vai trò là một đề tài nghiên cứu thuộc chuyên ngành khoa học pháp lí, đối với vấn đềnày, tác giả chủ động tiếp cận dưới khía cạnh pháp lí Trong các Giáo trình Luật Ngân hàng
11 Nguồn vốn cấp 2 được hình thành thông qua các thành phần như:
50% giá trị tăng thêm của tài sản cố định.
40% giá trị tăng thêm của các loại chứng khoán đầu tư (kể cả cổ phiếu đầu tư, góp vốn).
Trái phiếu chuyển đổi hoặc cổ phiếu ưu đãi do tổ chức tín dụng phát hành có kì hạn ban đầu, thời hạn còn lại trước khi chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông tối thiểu là 5 năm;
Các công cụ khác thỏa mãn điều kiện có kì hạn ban đầu tối thiểu trên 10 năm;
Dự phòng chung tối đa bằng 1,25% tổng tài sản có rủi ro.
12 Khoa Kế toán – Tài chính – Ngân hàng, Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, Đề cương hướng dẫn nghiệp
vụ ngân hàng thương mại.
13 Tác giả đề cập đến nguồn vốn từ trên thị trường liên ngân hàng (dù đây chỉ là nguồn vốn mang tính cứu cánh
hổ trợ cho các ngân hàng khi gặp những khó khăn vì thiếu tiền mặt thanh toán tạm thời trong một giai đoạn rất ngắn) vì trên thực tế, các ngân hàng muốn đảm bảo được sự ổn định của nguồn vốn này (tức sẽ vay được bất cứ khi nào ngân hàng cần đến – dĩ nhiên là với một lãi suất hợp lí) thì luôn phải có một sự chú trọng thích đáng Trước đây, điều kiện để có thể tiếp cận nguồn vốn này nhanh chóng, thuân lợi thường dựa trên mối quan hệ giao hảo giữa các ngân hàng trong những khoản thời gian nhất định, tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, các ngân hàng khi muốn đảm bảo được sự ổn định của nguồn vốn này cũng như muốn xây dựng một môi trường tài chính an toàn hơn thường kí kết trước các hợp đồng tín dụng tương lai rang buộc đối tác hoặc bản thân mình sẽ cung cấp một nguồn vốn tức thời cho một ngân hàng khi được yêu cầu và với laĩ suất tương thích nào đó Chính
vì vậy, theo quan điểm của tác giả, đảm bảo sự ổn định của nguồn vốn này cũng quan trọng không kém và muốn có sự đảm bảo đó cần có sự đầu tư dài hạn và hợp lí.
Trang 11cũng như các văn bản luật hiện nay đều chưa đưa ra một khái niệm cụ thể về vấn đề nàynhưng thông qua các quy định của pháp luật cũng cho ta phần nào hình dung một cách chínhxác nhất nội hàm của khái niệm này Cụ thể, tại Chương 3 Mục 1 Luật Các tổ chức tín dụngquy định 4 hình thức của hoạt động huy động vốn:
1 Nhận tiền gửi;
2 Phát hành giấy tờ có giá;
3 Vay vốn giữa các tổ chức tín dụng;
4 Vay vốn của Ngân hàng nhà nước
Theo triết học Mác Lê – nin, khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phảnảnh những đặc tính bản chất của sự vật, chính vì vậy, nó là “điểm nút”, là nền tang của hoạtđộng tư duy Hiểu rõ, xác định chính xác khái niệm rất quan trọng Vì thế, trước khi đi vàocác vấn đề cụ thể, tác giả sẽ thử xác định tính hợp lí trong việc xác định nội hàm của kháiniệm hoạt động huy động vốn dưới các hình thức được liệt kê trên, có so sánh với các quanđiểm được đề cập ở trên
Thông thường để xác định một hoạt động nào đó có thuộc một nội hàm khái niệm đượcxác định trước hay không thì về cơ bản hoạt động đó phải thể hiện đầy đủ các thuộc tínhđược thể hiện trong khái niệm đó Cụ thể, trong trường hợp này muốn xác định một hoạtđộng nào đó có nên được xem là một hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại haykhông trước tiên cần xác định được các thuộc tính cơ bản nhất của khái niệm và chúng sẽđược xem như là các tiêu chí để trên đó làm căn cứ cho việc xác định hoạt động đó Rõ ràngviệc liệt kê một loạt các hành vi không thể nói lên bản chất của hoạt động đó, tuy nhiên, đốivới một văn bản pháp lí thì đây lại là cách thể hiện tương đối tiện dụng và không gây tranhcãi Tuy nhiên, yếu điểm của phương pháp này là mang tính khiêng cưỡng và dễ dàng bị lạchậu khi cơ sở hạ tầng có những thay đổi Nếu có thể đưa ra một khái niệm thể hiện chính xácbản chất của hiện tượng rõ ràng tính bền vững của quy định sẽ lâu dài hơn Dù phát sinhnhững nghiệp vụ hiện đại hơn thì nó vẵn luôn thể hiện đúng bản chất của hoạt động đó.Đối với khái niệm này, tác giả tiếp cận dưới các khía cạnh sau:
Thứ nhất, về mặt chủ thể: Vấn đề này đã được xác định khá cụ thể ngay trong tên của
khái niệm, ở đây hành động này đựơc giới hạn ở các chủ thể là các ngân hàng thương mại.Tuy khá rõ ràng nhưng cũng tồn tại khá nhiều những mâu thuẩn Nếu căn cứ vào mặt chủ thểthực hiện hành vi, rõ ràng hành vi này chỉ có thể được xác định khi có sự tồn tại của mộtngân hàng thương mại Vậy căn cứ vào khía cạnh này ta có thể khẳng định hoạt động huyđộng vốn nhằm tạo lập nguồn vốn điều lệ trong giai đoạn hình thành ngân hàng thương mạikhông thuộc nội hàm khái niệm này (vì thực tế trong giai đoạn này, ngân hàng thương mạichưa được hình thành) Tuy nhiên, xét ở khía cạnh này, không thể loại trừ tất cả các hoạtđộng liên quan đến việc tạo lập nguồn vốn tự có của các ngân hàng, vì như đã được trình bày
ở trên, nguồn vốn tự có cấu thành từ rất nhiều thành phần và có thể được hình thành qua
Trang 12nhiều giai đoạn, những nguồn vốn được tạo lập sau khi hình thành ngân hàng thương mại(chẳng hạn nguồn vốn cấp 2) thì không thể bị loại trừ.
Thứ hai, về đối tượng chiụ tác động: Vấn đề không có quá nhiều sự tranh cãi đó chính là
nguồn vốn – tiền tệ, bởi vì đó chính là công cụ hoạt động, là “hàng hóa”, là “phương tiện”kinh doanh của ngân hàng thương mại, cũng giống như máy móc đối với các công xưởng
Tuy nhiên, vấn đề ở đây chính là trước đến nay chưa từng sự phân định trong thành phần
các nguồn vốn này với mục đích xây dựng một khái niệm hoàn thiện về hoạt động huy động
vốn của ngân hàng thương mại Như đã được nhắc đến nhiều lần như ở trên, ngân hàng đầutiên vẫn là một doanh nghiệp, nhưng là một doanh nghiệp có đối tượng kinh doanh là tiền tệ.Cũng giống như mọi doanh nghiệp thông thường khác, nó luôn có một nguồn vốn thuộc sởhữu tự thân của nó (vốn tự có) làm cơ sở cho hoạt động kinh doanh của mình Đây là nguồnvốn của doanh nghiệp, đối với ngân hàng là nguồn vốn tự có, nó là nguồn vốn theo đúng
nghĩa của nó đối với hoạt động của một doanh nghiệp và khi này, thuật ngữ nguồn vốn
đồng nghĩa với tài sản của doanh nghiệp Tuy nhiên thuật ngữ nguồn vốn được để cập ở
đây đối với các ngân hàng thương mại trong trường hợp này nên được hiểu dưới một khíacạnh hoàn toàn khác, nó không phải là nguồn vốn mà chủ doanh nghiệp bỏ ra để kinh doanh.Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, nếu nguồn vốn như được nói ở trên nguồntiền mà chủ doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư vào kinh doanh thì nguồn vốn của ngân hàng ở đây
là “hàng hóa” của ngân hàng thương mại, ngân hàng như một người cung ứng dịch vụ, cụ thểhơn, nó giống như một đại lí, lấy “hàng hóa” – tức nguồn tiền từ nơi này (nơi thừa tiền) đểcung ứng cho nơi có nhu cầu Tuy không có một sự hoạch toán rõ ràng giữa nguồn vốn của
tự có và nguồn vốn này trong hoạt động của các ngân hàng thương mại nhưng trên thực tế cóthể nhận thấy vai trò đó được thể hiện khá rõ ràng Nguồn vốn tự có của ngân hàng chỉ chiếm5% - 10% nguồn vốn của ngân hàng thương mại và chủ yếu dùng vào việc mua tài sản cốđịnh làm cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh, lập các quỹ dự trữ và vai trò chính yếucủa nó là như vật làm tin, tạo lập niềm tin cho sự tồn tại bền vững của ngân hàng đó Việcthuật ngữ nguồn vốn được sử dụng cho cả hai loại nguồn vốn (vốn của doanh nghiệp nóichung và vốn – như một hàng hóa của ngân hàng) vì người ta căn cứ vào vai trò của nó đốivới cả nền kinh tế nói chung, vốn hay tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư và quan trọngnhất là vì nó cùng là tiền tệ mà không quan tâm nhiều đến vai trò thực sự của nó đối với cácchủ thể sử dụng nó (một hệ quy chiếu mới) Tóm lại, khái niệm nguồn vốn được đề cập trong
nội hàm khái niệm này là theo nghĩa thứ hai, tức như là một “hàng hóa” của riêng các tổ
chức tín dụng nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng Lúc này, hoạt động huyđộng vốn của các ngân hàng thương mại có thể được hình dung một cách dễ hiểu hơn là hoạt
động “tìm kiếm các nguồn hàng” cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình
Việc khẳng định lại khái niệm sẽ cho ta thấy rõ vì sao huy động vốn lại được xem nhưmột loại nghiệp vụ của ngân hàng thương mại, cũng giống như các loại hình kinh doanh kháccũng có những nghiệp vụ riêng của mình phục vụ riêng cho hoạt động kinh doanh Hiểu rõkhái niệm nguồn vốn trong hoạt động huy động vốn giúp ta tiến thêm một bước trong việc
Trang 13xác định khái niệm, bản chất của hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại Cóthể khẳng định, một hoạt động chỉ có thể được xem là hoạt động huy động vốn của ngânhàng thương mại khi nhằm mục đích thu hút, tìm kiếm, gia tăng nguồn vốn không thuộc sởhữu của ngân hàng Chính vì vậy, căn cứ vào tiêu chí này, các nổ lực gia tăng nguồn vốn tự
có không thuộc nhóm hành vi huy động vốn của các ngân hàng thương mại được đề cậptrong phạm vi đề tài này
Thứ ba, về khía cạnh khách thể của hành vi, một cách trực tiếp hơn, đó chính là mục
đích, cái mà chủ thể thực hiện hành vi muốn đạt được Mục đích chính của kinh doanh là lợinhuận, vai trò của nguồn vốn ngân hàng – tư bản cũng là lợi nhuận Vì vậy, loại hình doanhnghiệp đặc biệt này – các ngân hàng thương mại cũng hoạt động vì mục tiêu chính là lợinhuận, và chính vì vậy, các hoạt động “tìm kiếm nguồn hàng”, cụ thể là hoạt động huy động
vốn cũng xuất phát vì mục tiêu lợi nhuận, đây vẫn luôn là mục tiêu tiên quyết Tuy nhiên,
không những chịu ràng buộc bởi các quy định của pháp luật, ràng buộc ở bản thân vai trò mà
nó nắm giữ, mà còn vì sự tồn tại của chính nó, khác biệt với các loại hình doanh nghiệp khác,hoạt động của nó còn hướng đến mục tiêu quan trọng không kém chính là sự an toàn, cụ thể
ở đây là đảm bảo khả năng thanh toán, đây là yêu cầu sống còn đối với sự tồn tại của các
ngân hàng thương mại và cả các đối tượng khác hoạt động trong cùng lĩnh vực Chính vìvậy, theo quan điểm của tác giả, xuất phát từ đặc tính của các ngân hàng thương mại, hoạtđộng huy động vốn theo nghĩa rộng cũng đồng thời hướng đến cả 2 mục tiêu trên Như được
đề cập ở trên, một số quan điểm, đặc biệt thuộc chuyên ngành kinh tế, khi đề cập đến nghiệp
vụ huy động vốn chỉ đề cập đến các nghiệp vụ mà mang lại hiệu quả kinh tế còn các hoạtđộng huy động vốn nhằm đảm bảo khả năng thanh toán, đảm bảo tỉ lệ an toàn tín dụng củacác ngân hàng thường không được đề cập Thiết nghĩ, các nghiệp vụ huy động vốn này (vaytrên thị trường liên ngân hàng, vay ngân hàng trung ương,…) tuy không trực tiếp mang lại lợinhuận nhưng thực sự nó cũng đảm bảo nguồn tiền thanh toán cho các ngân hàng, đảm bảocho sự hoạt động bình thường và thông suốt của nó Đối với các nguồn vốn này, trong mộtgiới hạn nhất định về thời gian, nó không mang lại nguồn thu, thậm chí đôi khi còn âm lợinhuận nhưng đó là yêu cầu thiết yếu và là đặc trưng của loại hình hoạt động này Về đặc tính,nguồn tiền này cũng được các ngân hàng sử dụng như một công cụ, một hàng hóa phục vụcho hoạt động kinh doanh của mình Sự khác biệt về chủ thể (cho vay) và vai trò mang tínhtức thời của nó không làm thay đổi bản chất của một nguồn vốn tín dụng
Căn cứ vào tiêu chí này, có thể khẳng định việc xếp các hoạt động huy động vốn khá đặctrưng như: vay vốn của Ngân hàng nhà nước, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác vàonhóm các hoat động huy động vốn của tổ chức tín dụng là hợp lí
Thông quan một số những phân tích trên tác giả chỉ cố xây dựng một số các tiêu chínhằm xác định một hoạt động có được xem là hoạt động huy động vốn của ngân hàng thươngmại hay không Các tiêu chí này được xây dựng dựa trên bản chất của hoạt động, hoàn toànkhông căn cứ trên những thể hiện cụ thể của hành vi Chính vì vậy, với sự phát triển của thị
Trang 14trường tài chính ngày càng đa dạng và phong phú như hiện nay, dù các hình thức thể hiện nó
đa dạng, thay đổi nhanh chóng đến mức nào, vẫn có thể vận dụng làm căn cứ để xác định
Có thể tạm thời đưa ra định nghĩa như sau: “Hoạt động huy động vốn của các ngân hàng
thương mại là hoạt động mà trong đó các ngân hàng này tìm kiếm nguồn vốn khả dụng từ các chủ thể khác nhằm mục đích kinh doanh và đảm bảo sự vận hành bình thường, hiệu quả của bản thân nó theo đúng các quy định pháp luật”.
Theo quan điểm của tác giả, các hình thức huy động vốn được đề cập ở trên là khá đầy đủtrong giai đoạn này, vì vậy, trong phạm vi đề tài này, nội hàm khái niệm huy động vốn sẽđược xác định bao gồm các hành vi được liệt kê ở trên (chương 3 mục 1 Luật Các tổ chức tíndụng)
1.1.4 Phân loại các phương thức huy động vốn của các ngân hàng thương mại.
Như đã được đề cập ở trên, các hình thức huy động vốn cũng đã được đề cập và phân loạikhá cụ thể theo quy định tại Chương 3 Luật Các tổ chức tín dụng, về cơ bản cũng dựa trênnhững phân loại trên, tác giả một lần nữa phân loại các phương thức huy động vốn của các tổchức tín dụng một cách cụ thể hơn Ở mục này, tác giả sẽ chỉ tiến hành phân tích các phươngthức huy động này ở những khía cạnh chung nhất, tức vấn đề sẽ không chỉ được phân tíchdưới khía cạnh luật học mà còn mở rộng ra ở những khía cạnh rộng hơn, đặc biệt là nhữngvấn đề mang tính nghiệp vụ trong hoạt động của một ngân hàng và các vấn đề liên quan đếntính kinh tế trong từng nghiệp vụ được phân tích
Để tiện cho quá trình phân tích cũng như do những đặc tính khá khác biệt về mặt chủ thểcũng như những vấn đề khác liên quan đến các thủ tục thực hiện và vai trò của chúng trongtổng thể hoạt động của một ngân hàng, ở đây, các phương thức huy động vốn sẽ được chiathành hai nhóm: 1) nhóm các phương thức huy động vốn hướng đến mục tiêu lợi nhuận; 2)
và nhóm các phương thức huy động vốn xuất phát từ mục đích đảm bảo an toàn trong hoạtđộng của các ngân hàng thương mại.14
1.1.4.1 Nhóm các phương thức huy động vốn hướng đến mục tiêu lợi nhuận.
Căn cứ vào sự phân loại của Luật Các tổ chức tín dụng, về cơ bản, nhóm các phươngthức huy động vốn này bao gồm 2 hoạt động chính:
Hoạt động nhận tiền gửi: Theo quy định của khoản 1 điều 45 luật này, ngân hàngđược huy động các loại tiền gửi của tổ chức, cá nhân và tổ chức tín dụng khác
Hoạt động phát hành giấy tờ có giá: Cũng theo điều 46 của luật này, quy định: “Tổ
chức tín dụng được phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, và giấy tờ có giá khác để huy
14 Việc phân loại này về cơ bản mang tính tương đối, trên thực tế, mục tiêu kinh tế và mục tiêu lợi nhuận là 2 mục tiêu luôn đặt song hành trong mọi hoạt động của ngân hàng thương mại, đó là đặc trưng lớn nhất của hoạt động ngân hàng Chính vì vậy, mọi hoạt động huy động vốn trên thực tế ít nhiều đều hướng đến hai mục đích này, tuy nhiên, tùy từng loại phương thức huy động khác nhau mà mục tiêu nào được đề cao, và là mục tiêu chính yếu Có thể dễ dàng nhận thấy rõ vấn đề này thông qua việc hoạch toán lợi nhuận của các ngân hàng, và dấu hiệu điển hình nhất đó là lãi suất huy động của ngân hàng so với lãi suất thực trên thị trường vào cùng một thời điểm (dĩ nhiên cũng phải tính đến các vấn đề về chi phí huy động vốn và tính ổn định của nguồn vốn).
Trang 15động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước theo quy định của Ngân hàng nhà nước.”
Đây là những quy định khá chung và toàn diện về nhóm các hoạt động này, dưới đây sẽ
là những phân tích khái quát nhất về những loại hình nghiệp vụ cụ thể:
a) Hoạt động nhận tiền gửi.
Trong các hình thức huy động vốn của tổ chức tín dụng, đây là phương thức huy độngvốn cổ xưa nhất và cho đếm hiện nay nó vẫn là hình thức huy động vốn quan trọng nhất vềmặt kinh tế và chiếm tỉ lệ lớn nhất trong tổng nguồn vốn huy động ở mỗi tổ chức tín dụng.Việc huy động vốn bằng nhận tiền gửi là một hình thức huy động vốn đặc trưng riêng có củacác tổ chức tín dụng và của các tổ chức khác được nhà nước cho phép hoạt động ngân hàng.Tuy nhiên, tùy thuộc vào các loại hình hoạt động mà các tổ chức này được phép thực hiệncác loại hình huy động vốn bằng tiền gửi khác nhau
Tuy pháp luật không có định nghĩa nào về hoạt động nhận tiền gửi của các ngân hàng,nhưng theo quy định tại khoản 9 điều 20 Luật Các tổ chức tín dụng, đã đưa ra một định nghã
khá cụ thể về tiền gửi, cụ thể: “Tiền gửi là số tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại tổ chức tín
dụng hoặc các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng dưới hình thức tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người trả tiền”
Căn cứ vào các loại hình tiền gửi này có thể tạm phân chia thành các hình thức huy độngvốn như sau:
Huy động tiền gửi không kỳ hạn (là loại huy động mà không có sự thỏa thuận
giữa khách hàng và NHTM về thời hạn rút tiền)
Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi được khách hàng gửi vào các tổ chức tín dụng đểthực hiện các khoản chi trả, thanh toán hoặc vì mục đích đảm bảo an toàn cho tài sản của
họ15 Tiền gửi không kì hạn là khoản tiền gửi đang chờ thanh toán hoặc nhằm đáp ứng nhucầu rút tiền tức thời của khách hàng, đây không phải là số tiền mà khách hàng để dành nênkhách hàng có thể rút hoặc sử dụng để thanh toán bất kì lúc nào theo yêu cầu Loại tiền gửinày thường cũng được chia thành 2 loại:
gửi này là tạo ra phương tiện thanh toán cho khách hàng Thường loại tiền gửi này được quản
lí ở các tổ chức tín dụng trên một tài khoản thanh toán16 hoặc tài khoản vãng lai17 Vì tínhkhông ổn định của nó nên tài khoản này thường không được trả lãi hoặc được trả lãi nhưngvới lãi suất rất thấp và cũng chính vì tính không ổn định này mà để đảm bảo an toàn tín dụngcác ngân hàng phải có một tỉ lệ dự trữ khá cao để thực hiện thanh toán Đối với khản tiền gửi
15 Ở mỹ gọi khoản tiền gửi này là tiền gửi theo yêu cầu, ở pháp thì gọi tiền gửi này là tài khoản séc.
16 Tài khoản tiền gởi thanh toán (hay còn gọi là tài khoản giao dịch hặc tài khoản séc), tài khoản này dư có, khách hàng này chỉ được sử dụng trong phạm vi tiền gửi của mình Tài khoản séc hay tài khoản thanh toán hiện nay ở việt nam gồm 2 loại: a) tài khoản thanh toán dùng cho doanh nghiệp; b) tài khoản thanh toán dùng cho cá nhân.
17 Tài khoản này có thể dư có hoặc dư nợ, nghĩa là khách hàng ngoài sử dụng số tiền gửi của mình còn được dùng khoản tiền do ngân hàng cho vay theo sự thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng.
Trang 16này, khách hàng được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả như ủy nhiệm chi, séc và cáclệnh khác,…
mang tính tạm thời Mục đích chính của khoản tiền gửi này là khách hàng gửi tiền để đảmbảo an toàn, thuận tiện cho tài sản của họ mà không nhằm mục đích thực hiện các dịch vụthanh toán của ngân hàng thương mại
Điểm chung của cả 2 loại hình tiền gửi này là chúng đều có mức độ thay đổi rất lớn và do
đó cần có mức dự trữ cao Tuy nhiên, đây là nguồn vốn có chi phí khá thấp, nếu các ngânhàng có một kế hoạch tài chính tốt cùng với những hoạch toán hợp lí thì đây cũng là mộttrong những nguồn vốn khá lớn mang lại lợi ích kinh tế cao đối với hoạt động của các ngânhàng thương mại Các ngân hàng thường không trả lãi cho các khoản tiền gửi này nhưng đểthu hút nguồn vốn này các ngân hàng thường cung cấp cho ngân hàng một số những dịch vụmiễn phí và thậm chí có thể trả một khoản lãi nhỏ Về cơ bản, đây không phải là một nguồnvốn ổn định, tuy nhiên, nếu thu hút được số lượng lớn và có một chu kì ổn định, vẫn có thể làmột nguồn vốn rất khả dụng và lợi nhuận cao hơn hẳn so với các nguồn vốn khác
Tiền gửi có kì hạn là loại huy động tiền gửi có sự thỏa thuận của khách hàng và
ngân hàng về thời hạn rút tiền (bản chất của nó là tiền tích lũy)
Mục đích của khách hàng đối với loại tiền gửi này là đầu tư kiếm lời Về nguyên tắc,người gửi tiền chỉ được rút tiền khi đến hạn thanh toán Tuy nhiên, trên thực tế để thu hútkhách hàng gửi lọai tiền gửi này, các tổ chức tín dụng có thể cho phép khách hàng được rúttiền trước hạn (nếu số tiền rút ra lớn thì phải thông báo trước với tổ chức tín dụng một vàingày) trong trường hợp này người gửi tiền được hưởng mức lãi suất thấp, đôi lúc là lãi suấtphạt Tiền gửi có kì hạn là loại tiển gửi mang tính ổn định, nên các tổ chức tín dụng thườngchú trọng các biện pháp kích thích để huy động loại tiền gửi này Phổ biến nhất vẫn làphương thức làm đa dạng hóa các loại hình tiền gửi này, đặc biệt việc đưa ra nhiều kì hạnthanh toán để đáp ứng nhu cầu khách hàng, đối với mỗi loại kì hạn áp dụng các mức lãi suấtkhác nhau, thường thì kì hạn càng dài, lãi suất càng cao Phương thức thứ hai đó là kèm theocác hợp đồng này là các dịch vụ hậu mãi của các ngân hàng thương mại dành cho kháchhàng, hoặc cũng có thể là các giải thưởng rút thăm,… Phương thức thứ ba thường hạn chếhơn nhưng rất thịnh hành trong giai đoạn gần đây của thị trường tài chính Việt Nam là cạnhtranh về lãi suất huy động vốn Đây là phương thức dễ dàng thu hút sự quan tâm của kháchhàng nhất nhưng cũng khá nguy hiểm và khó khăn cho hoạt động kinh doanh của các ngânhàng thương mại, đặc biệt là trong giai đoạn mà thị trường vốn khan hiếm, vấn đề này sẽđược phân tích cụ thể hơn ở chương 2
Đặc tính quan trọng nhất của khoản tiền gửi này là có tính an toàn cao, tính ổn định khácao do thời gian hoàn vốn đã được xác định trước, các ngân hàng sẽ có cơ sở rất chắc chắncho việc hoạch định chiến lược quản trị nguồn vốn của mình Chính vì vậy, các ngân hàngthương mại thường chủ động hơn khi sử dụng nguồn vốn này, dự trữ thấp, nhiều lợi nhuậnhơn và ngân hàng thương mại có thể dùng khoản tiền này để cấp các hạn mức tín dụng dàihạn hơn,… Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của nó là chi phí cao do sự cạnh tranh lãi suất, lãisuất này cao hơn nhiều so với lãi suất tiền gửi không kì hạn
Trang 17Tiền gửi tiết kiệm.
Theo quy định của khoản 1 Điều 6 Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN về viêc banhành Quy chế về tiền gửi tiết kiệm vào ngày 13 tháng 9 năm 2004 của Thống đốc Ngân hàng
nhà nước Việt Nam: “Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản
tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.”
Nhìn chung, tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi chỉ dành cho cá nhân18, nó là khoản tiền gửichỉ dành cho cá nhân chứ không phải để thanh toán, nó được kí gởi vào tổ chức tín dụngnhằm mục đích cất giữ hộ hoặc hưỡng lãi theo định kì Đây là loại hình kí thác rất đa dạng vàphổ biến trong nền kinh tế trên toàn thế giới
Tiền gửi tiết kiệm được chia thành 2 loại tiền gửi tiết kiệm có kì hạn và tiền gửi tiết kiệnkhông kì hạn
Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút
tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kì ngày giờ làm việc nào của tổ chức nhậntiền gửi tiết kiệm19 Tuy nhiên, tiền gửi tiết kiệm không kì hạn khác với tiền gửi tiết kiệm có
kì hạn ở chổ: tài khoản tiền gửi tiết kiệm không được sử dụng để phát hành séc và thực hiệncác công cụ dịch vụ thanh toán bằng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt để chi trảcho người khác, trừ trường hợp tài khoản tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam của người
cư trú được sử dụng để chuyển khoản thanh toán tiền vay của Chính chủ sở hữu tiền gửi tiếtkiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó; hoặcchuyển khoản sang tài khoản khác do chính chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sởhữu tiền gửi tiết kiệm là chủ tài khoản tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó.20
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền chỉ có thể rút
tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm21.Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn khác với tiền gửi có kì hạn chỉ ở chổ khách hàng gửi tiền gửi tiếtkiệm có kì hạn chỉ có thể là cá nhân
Có thể nói, xét về giá trị, các khoản tiết liệm thường nhỏ hơn so với các tài loại tiền gửikhác nhưng số lượng khá nhiều, vì vậy, nếu xét về tổng thể, đây vẫn là một nguồn vốn khátiềm năng của các ngân hàng thương mại Trên thực tiễn, các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm rấtphong phú và đa dạng, đây là một phương cách thu hút lượng khách hàng của các ngân hàngthương mại, đáp ứng nhu cầu đa dạng và biến đổi thường xuyên của nhóm khách hàng đôngđảo này Nhìn chung, đặc trưng chính của nguồn vốn này là có độ ổn định cao, tuy nhiên,mặt trái kèm theo của nó là chi phí huy động vốn khá cao (chi phí giao dịch bình quân, chiphí trả lãi, chi phí thiết lập mạng lưới chi nhánh,…)
18 Tại điều Điều 3 quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN về viêc ban hành quy chế về tiền gửi tiết kiệm quy định
về Đối tượng gửi tiền gửi tiết kiệm là :
1 Đối tượng gửi tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam là các cá nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
2 Đối tượng gửi tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ là các cá nhân người cư trú.
19 Khoản 8 điều 6 quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN về viêc ban hành quy chế về tiền gửi tiết kiệm.
20 Khoản 2 Điều 11 Quy chế về tiền gửi tiết kiệm ban hành kèm Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN.
21 Khoản 9 Điều 6 Quy chế về tiền gửi tiết kiệm ban hành kèm Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN.