1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Giáo trình Quản lý và khai thác đường ô tô: Phần 2

76 50 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(NB) Giáo trình Quản lý và khai thác đường ô tô: Phần 2 được nối tiếp phần 1 gồm 3 chương với các nội dung thiết bị của đường; công tác bảo dưỡng thường xuyên đường ô tô; điều kiện đường và an toàn giao thông.

Trang 1

5.1.1 Yêu cầu đối với việc trồng cây

Cây trồng hai bên đường ôtô phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Không gây ảnh hưởng xấu đối với kết cấu nền mặt đường (rễ cây phát triển có thể gây

nứt vỡ mặt đường nếu trồng quá gần đường), không ảnh hưởng đến tầm nhìn, bảo đảm an toàn cho xe chạy với tốc độ thiết kế, an toàn cho người đi lại trên đường;

- Không ảnh hưởng tới đến việc xây dựng và bảo vệ các công trình có liên quan (đường

điện cao thế, đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đường cáp điện lực, đường ống cấp nước…), không làm hư hại kênh mương thủy lợi, không làm tắc rãnh thoát nước dọc đường;

- Đảm bảo cho việc duy tu bảo dưỡng và sửa chữa đường bằng cơ giới tiến hành thuận

lợi, việc chăm sóc cây được dễ dàng

Vì vậy phải căn cứ vào cấp đường, địa hình, thổ nhưỡng của từng địa phương, quy hoạch của từng nơi đường đi qua để thiết kế hàng cây và chọn loại cây trồng thích hợp

5.1.2 Những quy định về cách trồng cây hai bên đường ôtô

- Trên cự ly ngang, phải trồng cây cách vai đường trên 2m Nếu có rãnh dọc thì phải trồng

cây cách mép ngoài rãnh dọc trên 2m

- Trên cự ly dọc, cây phải trồng cách nhau 15m Để tiện cho việc cơ giới hóa công tác duy

tu bảo dưỡng đường, áp dụng sơ đồ trồng cây theo kiểu song song và so le

- Ở những nơi không có điều kiện trồng cây liên tục như trên các đoạn đường đào sâu,

đường đèo dốc quanh co liên tục, đường có lưu lượng xe thô sơ, khách bộ hành rất ít thì trồng thành cụm ở những vị trí có điều kiện dùng làm nơi nghỉ chân của khách bộ hành Các cụm cây này không cách xa nhau quá 15km

- Trên những đường thường xuyên có xe buýt chạy, ngoài hàng cây ven đường còn phải

trồng cây ở những trạm đỗ xe để tạo bóng mát cho hành khách chờ đợi xe

Trang 2

81

- Những đoạn đường qua thành phố, thị xã, thị trấn, khu du lịch việc trông cây ven đường

còn phải thống nhất với quy định trồng cây của quy hoạch thành phố, thị xã, thị trấn và khu du lịch

- Không trồng cây trong những trường hợp sau:

 Ở những đoạn nền đường đào sâu trên 1m, trên đoạn đường cách mố cầu 10m;

 Những đoạn đường ôtô chạy song song với đường sắt mà vai đường ôtô cách chân nền đường sắt dưới 7m và các đoạn đường có đủ khoảng cách ngang 7m nhưng không đủ chiều dài trên 200m;

 Ở bụng đường cong nằm mà do trồng cây sẽ không bảo đảm tầm nhìn theo quy định của cấp đường;

 Dưới các đường dây điện cao thế chạy song song sát đường ôtô;

 Trên các đường ống dẫn dầu, nước, khí, điện thoại ngầm, cáp thông tin, cáp điện lực (nếu trồng thì phải đảm bảo cách hành lang bảo vệ các công trình này trên 2m);

 Trên các đường vừa là đường vừa là đê

5.1.3 Loại cây trồng

- Cây trồng hai bên đường ôtô nên chọn các loại cây có bộ rễ cọc cắm thẳng, ít phát triển

ngang, rễ không ăn nổi, thân thẳng, cành cao trên 3m, tán lá xanh tốt, hoa lá quả rụng không gây trơn lầy, hôi thối mất vệ sinh cho đường Nên chọn loại cây phát triển nhanh, dễ chăm sóc đồng thời có chú ý khả năng khai thác của cây trồng

- Không nên trồng cây ăn quả dọc đường (khó bảo quản, chăm sóc, dễ gây mất an toàn)

Trên một đoạn đường nhất định nên chỉ trồng một loại cây để dễ chăm sóc và đảm bảo mỹ quan cho đường

- Đường qua thị xã, thị trấn, thành phố, khu danh lam thắng cảnh, khu du lịch nên trồng

các loại cây có hoa thơm, đẹp

- Trên các giải phân cách nên trồng các loại cây cỏ dễ trồng, dễ phát triển, dễ cắt tỉa và

những loại cây bụi thân mềm, không phát triển chiều cao, dễ tu sửa Cây bụi có thể trồng thành hàng rào hoặc điểm thành từng cụm cách đều nhau Cụm cây bụi hoặc hàng rào cây bụi không được cao quá 1,0m

Trang 3

82

Hình 5.1 – Trồng cây tạo cảnh quan trên phố đi bộ

5.2 Biển báo hiệu trên đường ôtô

Đặt các biển báo hiệu trên đường là một biện pháp quan trọng nhằm hướng dẫn cho người điều khiển các phương tiện tham gia giao thông có thể biết được điều kiện, đặc điểm của đường

để bảo đảm đi cho đúng và an toàn

Biển báo hiệu đường ôtô có rất nhiều loại, có ý nghĩa và cấu tạo khác nhau Từ năm 1926 ở Giơnevơ (Thụy Sỹ) đã có hội nghị quy ước các dấu hiệu quốc tế trên đường ôtô Đến năm 1968 tại Viên (Áo) các nước đã thỏa thuận một công ước quốc tế về dấu hiệu và biển báo hiệu trên đường ôtô Tuy nhiên, ở mỗi nước, ngoài những dấu hiệu mà công ước quốc tế đã quy định, còn có những sửa đổi thêm bớt để thích hợp với hoàn cảnh cụ thể của nước mình

Hệ thống biển báo hiệu trên đường ôtô của nước ta cũng tuân thủ theo những nguyên tắc chung là:

- Có hình dạng đơn giản: tam giác, hình tròn, hình chữ nhật;

- Các hình vẽ trên biển báo hiệu có màu đậm và phân biệt với màu nhạt của nền;

- Các chữ và con số trên biển báo hiệu có chiều cao, chiều rộng, chiều dày nhất định,

- Khoảng cách giữa các chữ thích hợp để người lái xe có thể nhìn thấy rõ ở một khoảng

cách và với một tốc độ xe quy định trước có thể xử lý một cách thuận lợi, an toàn

Hệ thống biển báo hiệu đường ôtô ở nước ta hiện nay được thực hiện theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về báo hiệu đường bộ QCVN 41:2012/BGTVT

5.2.1 Phân loại biển báo hiệu

Theo QCVN 41:2012/BGTVT, hệ thống biển báo hiệu đường ôtô ở nước ta hiện nay được thực hiện như sau:

Trang 4

83

5.2.1.1 Nhóm biển báo cấm:

- Là hình tròn (trừ biển số 122 "Dừng lại" có hình 8 cạnh đều

- hình bát giác) nhằm báo điều cấm hoặc hạn chế mà người sử dụng

đường phải tuyệt đối tuân theo Hầu hết các biển đều có viền đỏ,

nền màu trắng, trên nền có hình vẽ màu đen đặc trưng cho điều cấm

hoặc hạn chế sự đi lại của các phương tiện cơ giới, thô sơ và người

đi bộ

- Nhóm biển báo cấm gồm có 40 kiểu được đánh số thứ tự từ

biển số 101 đến số 140

5.2.1.2 Nhóm biển báo nguy hiểm:

- Là hình tam giác đều, viền đỏ, nền màu vàng, trên có hình vẽ

màu đen mô tả sự việc báo hiệu nhằm báo cho người sử dụng đường

biết trước tính chất các sự nguy hiểm trên đường để có biện pháp

phòng ngừa, xử trí

- Nhóm biển báo nguy hiểm gồm có 47 kiểu được đánh số thứ

tự từ biển số 201 đến biển số 247

5.2.1.3 Nhóm biển hiệu lệnh:

- Là hình tròn, nền màu xanh lam (trừ biển số 310 là hình chữ

nhật, nền màu trắng), trên nền có hình vẽ màu trắng đặc trưng cho

hiệu lệnh nhằm báo cho người sử dụng đường biết điều lệnh phải thi

đầu, để báo cho người sử dụng đường biết những định hướng cần thiết

hoặc những điều có ích khác trong hành trình, nền màu xanh lam

- Nhóm biển chỉ dẫn gồm có 47 kiểu được đánh số thứ tự từ biển

Trang 5

84

biển báo nguy hiểm, báo cấm, biển hiệu lệnh và biển chỉ dẫn

nhằm thuyết minh bổ sung nội dung biển chính hoặc được sử

dụng độc lập

- Nhóm biển phụ gồm có 9 kiểu được đánh số thứ tự từ biển

số 501 đến biển số 509

5.2.1.6 Nhóm biển sử dụng trên các tuyến đường đối ngoại và các biển khác:

- Nhóm biển này tuân thủ theo các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là

thành viên

- Đối với các tuyến đường đối ngoại, các biển bằng chữ đều phải viết thêm chữ tiếng Anh

ở bên dưới chữ tiếng Việt, kích cỡ chữ bằng kích cỡ chữ tiếng Việt

- Ngoài 6 nhóm biển báo hiệu trên, Quy chuẩn này còn có loại biển viết bằng chữ có dạng

hình chữ nhật nền màu xanh lam chữ màu trắng dùng để chỉ dẫn hoặc hiệu lệnh đối với xe thô

sơ và người đi bộ

5.2.2 Kích thước của biển báo hiệu

- Kích thước của biển báo hiệu được quy định theo tốc độ thiết kế Tương ứng với từng

loại biển báo phải nhân với hệ số ghi trong bảng sau:

Bảng 5.1

Bảng 5.2

Hình 5.6 - Biển phụ

Trang 6

85

Hình 5.7 - Kích thước cơ bản biển báo hiệu hệ số 1

- Các thông số về kích thước biển, hình vẽ trong biển và chữ viết ứng với tốc độ V≤

60km/h có hệ số là 1; các đường có tốc độ lớn hơn phải nhân với hệ số tương ứng, kích thước biển được làm tròn theo nguyên tắc:

 Hàng đơn vị ≤ 5 thì lấy bằng 5;

 Hàng đơn vị > 5 thì lấy là 0 và tăng số hàng chục lên 1 đơn vị

- Đối với đường đô thị: căn cứ vào tốc độ khai thác để lựa chọn kích thước biển báo hiệu

- Tuỳ theo điều kiện thực tế kích thước các biển chỉ dẫn có thể tăng lên khi được cơ quan

có thẩm quyền cho phép

- Biển di động, tạm thời trong thời gian ngắn được phép dùng kích thước bằng 0,7 lần

kích thước biển có kích thước hệ số 1

- Đối với các tuyến đường đối ngoại thì biển bằng chữ được điều chỉnh kích thước biển để

bố trí đủ chữ viết trên cơ sở quy định của Quy chuẩn này

Trang 7

86

5.2.3 Hiệu lực của biển báo theo chiều ngang đường

- Hiệu lực của các loại biển báo nguy hiểm và chỉ dẫn có giá trị trên tất cả các làn đường

của một chiều xe chạy

- Hiệu lực của các loại biển báo cấm và biển hiệu lệnh có thể có giá trị trên tất cả các làn

đường hoặc chỉ có giá trị trên một hoặc một số làn của một chiều xe chạy Nếu hiệu lực của biển báo cấm, biển hiệu lệnh chỉ hạn chế trên một hoặc một số làn đường thì nhất thiết phải treo biển ở phía trên làn đường (trên giá long môn) Mỗi làn đường treo riêng biệt một biển và biển số 504 "Làn đường" đặt ngay bên dưới biển chính

5.2.4 Vị trí đặt biển báo theo chiều ngang đường

- Biển báo hiệu phải đặt ở vị trí để người sử dụng đường dễ nhìn thấy và có đủ thời gian

để chuẩn bị đề phòng, thay đổi tốc độ hoặc thay đổi hướng nhưng không được làm cản trở sự đi lại của người sử dụng đường;

- Trường hợp không tính toán xác định cự ly nhìn thấy biển, cho phép lấy cự ly đảm bảo

người sử dụng đường nhìn thấy biển báo hiệu là 150m trên những đường xe chạy với tốc độ cao và có nhiều làn đường, là 100m trên những đường ngoài phạm vi khu đông dân cư và 50m trên những đường trong phạm vi khu đông dân cư;

- Biển được đặt về phía tay phải và mặt biển vuông góc với chiều đi, biển phải đặt thẳng

đứng Trong các trường hợp cần thiết cho phép lắp đặt thêm biển báo phía bên trái để nhắc lại biển đã lắp đặt phia bên phải;

- Biển viết bằng chữ áp dụng riêng đối với xe thô sơ và người đi bộ, trong trường hợp hạn

chế được phép đặt mặt biển song song với chiều đi

- Mép ngoài cùng của biển phía chiều đi phải cách mép phần đường xe chạy là 0,5m

Trường hợp có khó khăn như không có lề đường, vỉa hè, khuất tầm nhìn mới được phép xê dịch và không cách xa điểm quy định quá 1,7m để đảm bảo góc nhìn của người lái xe vừa quan sát được biển, vừa quan sát được các tình huống xảy ra trên đường

- Ở trong khu dân cư hoặc trên các đoạn đường có hè đường cao hơn phần xe chạy thì cho

phép đặt biển trên hè đường nhưng mặt biển không được nhô ra quá hè đường và không choán quá nửa bề rộng hè đường Nếu không đảm bảo được nguyên tắc đó thì phải treo biển ở phía trên phần xe chạy;

- Trên những đoạn đường có phần đường thô sơ đi riêng, phân biệt bằng dải phân cách thì

cho phép đặt biển trên dải phân cách;

- Trên những đường xe chạy với tốc độ cao và có nhiều làn đường thì biển có thể treo ở

phía trên phần xe chạy; có thể đặt biển hướng dẫn cho từng làn đường và biển được treo trên

Trang 8

87

giá long môn

Hình 5.8 - biển được treo trên giá long môn

5.2.5 Giá long môn

- Giá long môn là kết cấu thép chịu được trọng lượng bản thân, trọng lượng biển báo và

chịu được gió bão cấp 12;

- Chân trụ giá long môn đặt ở lề đường, vỉa hè, phải cách mép ngoài mặt đường kể cả

những nơi bố trí làn đường dừng xe khẩn cấp, làn đường tăng, giảm tốc ít nhất là 0,5m Nếu chân trụ giá long môn đặt ở trong phạm vi dải phân cách, phải cách mép ngoài của dải phân cách ít nhất 0,5m;

- Tĩnh không tính từ mép dưới của biển (nếu treo biển phía dưới) hoặc điểm thấp nhất của

dầm ngang giá long môn (nếu treo biển phía trên) xuống mặt đường ít nhất là 5m

Hình 5.9 – Giá long môn

Trang 9

88

5.2.6 Độ cao đặt biển

- Biển phải được đặt chắc chắn cố định trên cột riêng biệt Tuy nhiên ở khu đô thị, khu

dân cư có thể cho phép kết hợp đặt biển trên cột điện hoặc những vật kiến trúc vĩnh cửu nhưng phải đảm bảo những tiêu chuẩn kỹ thuật đặt biển về vị trí, độ cao, khoảng cách nhìn thấy biển theo Quy chuẩn này;

- Trường hợp treo biển trên cột: Độ cao đặt biển tính từ mép dưới của biển đến mép phần

xe chạy là 1,8m đối với đường ngoài phạm vi khu đông dân cư và 2m đối với đường trong phạm vi khu đông dân cư Biển số 507 “Hướng rẽ” đặt cao từ 1m đến 1,5m Loại biển viết bằng chữ áp dụng riêng cho xe thô sơ và người đi bộ đặt cao hơn mặt lề đường hoặc hè đường là 1,8m;

- Trường hợp biển treo ở phía trên phần xe chạy thì cạnh dưới của biển phải cao hơn tim

phần xe chạy từ 5m đến 5,5m;

- Nếu có nhiều biển cần đặt cùng một vị trí, cho phép đặt kết hợp trên cùng một cột nhưng

không quá 3 biển và theo thứ tự ưu tiên như sau: biển cấm (1), biển báo nguy hiểm (2), biển hiệu lệnh (3), biển chỉ dẫn (4) như hình vẽ dưới đây :

Hình 5.10 - Thứ tự bố trí các nhóm biển trên cùng 1 cột đỡ

- Khoảng cách giữa các mép biển với nhau là 5cm, độ cao từ điểm trung tâm phần có biển

đến mép phần xe chạy là 1,80m đối với đường ngoài phạm vi khu đông dân cư và 2m đối với đường trong phạm vi khu đông dân cư

5.3 Vạch kẻ đường

5.3.1 Ý nghĩa, tác dụng của vạch kẻ đường

- Vạch kẻ đường là một dạng báo hiệu để hướng dẫn, tổ chức, điều khiển giao thông

nhằm nâng cao an toàn và khả năng thông xe;

- Vạch kẻ đường có thể dùng độc lập và có thể kết hợp với các loại biển báo hiệu đường

bộ hoặc đèn tín hiệu chỉ huy giao thông;

- Vạch kẻ đường bao gồm các loại vạch, chữ viết ở trên mặt đường xe chạy, trên thành vỉa

hè, trên các công trình giao thông và một số bộ phận khác của đường để quy định trật tự giao

Trang 10

89

thông, chỉ rõ khổ giới hạn của các công trình giao thông, chỉ hướng đi quy định của làn đường

xe chạy

5.3.2 Phân loại vạch kẻ đường

- Vạch kẻ đường chia làm hai loại: Vạch nằm ngang (bao gồm vạch trên mặt đường: vạch

dọc đường, ngang đường và những loại vạch tương tự khác) và vạch đứng;

 Vạch nằm ngang dùng để quy định phần đường xe chạy có màu trắng trừ một số vạch quy định ở Phụ lục G, Phụ lục H có màu vàng (QCVN 41:2012/BGTVT);

 Vạch đứng kẻ trên thành vỉa hè các công trình giao thông và một số bộ phận khác của đường Loại vạch này kết hợp giữa vạch trắng và vạch đen

- Vạch tín hiệu trên đường được thiết kế phụ thuộc vào vận tốc thiết kế:

 Vạch tín hiệu giao thông trên các đường có tốc độ > 60km/h (xem Phụ lục G, QCVN 41:2012/BGTVT);

 Vạch tín hiệu giao thông trên các đường có tốc độ ≤ 60km/h (xem Phụ lục H, QCVN 41:2012/BGTVT)

5.3.3 Hiệu lực của vạch kẻ đường

- Vạch kẻ đường khi sử dụng độc lập thì mọi người tham gia giao thông phải tuân theo ý

nghĩa của vạch kẻ đường

- Vạch kẻ đường khi sử dụng kết hợp với đèn tín hiệu, biển báo hiệu thì mọi người tham

gia giao thông phải tuân theo ý nghĩa, hiệu lệnh của cả vạch kẻ đường và đèn tín hiệu, biển báo hiệu theo thứ tự quy định tại Điều 3 của QCVN 41:2012/BGTVT

5.3.4 Thứ tự hiệu lực của hệ thống báo hiệu

Thứ tự hiệu lực của hệ thống báo hiệu được quy định tại Điều 3 của QCVN 41:2012/BGTVT

- Khi đồng thời bố trí các hình thức báo hiệu cùng ở một khu vực có ý nghĩa khác nhau,

người tham gia giao thông phải chấp hành loại hiệu lệnh theo thứ tự như sau:

 Hiệu lệnh của người điều khiển giao thông;

 Tín hiệu đèn hoặc cờ;

 Hiệu lệnh của biển báo hiệu;

 Vạch kẻ đường và các dấu hiệu khác trên mặt đường

- Khi ở một vị trí đã có biển báo hiệu đặt cố định lại có biển báo hiệu khác đặt có tính chất

tạm thời mà hai biển có ý nghĩa khác nhau thì người sử dụng đường phải chấp hành hiệu lệnh của biển báo hiệu có tính chất tạm thời

Trang 11

90

5.4 Cọc tiêu

5.4.1 Tác dụng của cọc tiêu hoặc tường bảo vệ

- Cọc tiêu hoặc tường bảo vệ đặt ở lề đường các đoạn đường nguy hiểm có tác dụng

hướng dẫn cho người sử dụng đường biết phạm vi phần đường an toàn và hướng đi của tuyến đường

5.4.2 Hình dạng và kích thước cọc tiêu

- Cọc tiêu có tiết diện là hình vuông, cạnh 15cm;

- Chiều cao cọc tiêu tính từ vai đường đến đỉnh cọc là 70cm;

- Ở những đoạn đường cong, có thể trồng cọc tiêu thay đổi chiều cao cọc, cao dần từ

40cm tại tiếp đầu, tiếp cuối đến 70cm tại phân giác;

- Phần cọc trên mặt đất được sơn trắng, đoạn 10cm ở đầu trên cùng sơn màu đỏ bằng chất

liệu phản quang

5.4.3 Các trường hợp cắm cọc tiêu

Những trường hợp sau đều phải cắm cọc tiêu:

- Phía lưng các đường cong từ tiếp đầu đến tiếp cuối;

- Trên đường hai đầu cầu Trường hợp bề rộng cầu hẹp hơn bề rộng nền đường thì những

cọc tiêu ở sát đầu cầu phải liên kết thành hàng rào chắn hoặc xây tường bảo vệ Khoảng cách giữa hai cọc tiêu trong trường hợp này là 3m;

- Hai đầu cống nơi chiều dài cống hẹp hơn bề rộng nền đường Các cọc tiêu phải liên kết

thành hàng rào chắc chắn hoặc xây tường bảo vệ, khoảng cách giữa hai cọc tiêu trong trường hợp này từ 2m - 3m;

- Các đoạn nền đường bị thắt hẹp;

- Các đoạn nền đường đắp cao từ 2m trở lên;

- Các đoạn đường men theo sông, suối, đầm, hồ, ao;

- Các đoạn đường bộ giao nhau với đường sắt cùng mức;

- Dọc hai bên những đoạn đường bị ngập nước thường xuyên hoặc chỉ ngập theo mùa và

hai bên thân đường ngầm;

- Các đoạn đường qua bãi cát, đồng lầy, đồi cỏ mà khó phân biệt mặt đường phần xe chạy

với dải đất hai bên đường

5.4.4 Kỹ thuật cắm cọc tiêu

- Đường mới xây dựng hoặc nâng cấp cải tạo, cọc tiêu cắm sát vai đường và phải cách

mép phần xe chạy tối thiểu 0,5m;

- Đường đang sử dụng, lề đường không đủ rộng thì cọc tiêu cắm sát vai đường;

Trang 12

91

- Nếu đường đã có hàng cây xanh trồng ở trên vai đường hoặc lề đường, cho phép cọc

tiêu cắm ở sát mép hàng cây nhưng bảo đảm quan sát thấy rõ hàng cọc, nhưng không lấn vào phía tim đường làm thu hẹp phạm vi sử dụng của đường;

- Nếu ở vị trí theo quy định phải cắm cọc tiêu đã có tường xây hoặc rào chắn bê tông cao

trên 0,40m thì không phải cắm cọc tiêu;

- Lề đường ở trong hàng cọc tiêu phải bằng phẳng chắc chắn, không gây nguy hiểm cho

xe khi đi ra sát hàng cọc tiêu và không có vật chướng ngại che khuất hàng cọc tiêu;

- Đối với đường đang sử dụng, nếu nền và mái đường không bảo đảm được nguyên tắc

cắm cọc tiêu thì tạm thời cho phép cắm cọc tiêu lấn vào trong lề đường đến phạm vi an toàn;

- Cọc tiêu phải cắm thẳng hàng trên đường thẳng và lượn cong dần trong đường cong:

 Khoảng cách giữa hai cọc tiêu (S) trên đường thẳng là S= 10m;

 Khoảng cách giữa hai cọc tiêu trên đường cong:

 Nếu đường cong có bán kính R=10m đến 30m thì khoảng cách giữa hai cọc tiêu S= 3m;

 Nếu đường cong có bán kính R: 30m<R≤100m thì khoảng cách giữa hai cọc tiêu S= 4m÷6m;

 Nếu đường cong có bán kính R> 100m thì S = 8m÷10m;

 Khoảng cách giữa hai cọc tiêu ở tiếp đầu và tiếp cuối có thể bố trí rộng hơn 3m so với khoảng cách của hai cọc tiêu trong phạm vi đường cong

 Khoảng cách giữa hai cọc tiêu trên đoạn đường dốc (cong đứng) (không áp dụng đối với đường đầu cầu và đầu cống):

 Nếu đường dốc ≥ 3% khoảng cách giữa hai cọc tiêu là 5m;

 Nếu đường dốc < 3% khoảng cách giữa hai cọc tiêu là 10m

- Mỗi hàng cọc tiêu cắm ít nhất là 6 cọc

5.4.5 Hàng cây thay thế cọc tiêu

Trên những đoạn đường thẳng, nếu hàng cây có đủ điều kiện như sau thì được phép sử dụng thay thế cọc tiêu:

- Khoảng cách giữa hai cây khoảng 10m và tương đối bằng nhau (đường kính 0,15m trở

lên) thẳng hàng;

- Hàng cây trồng ở ngay vai đường hoặc trên lề đường;

- Thân cây được thường xuyên quét vôi trắng từ độ cao trên vai đường 1,5m trở xuống

Trang 13

5.5.1.1 Các yêu cầu đối với thiết bị phòng hộ:

- Giới hạn vùng nguy hiểm thị giác cùng những đặc điểm của nó phải cho phép người lái

xe nhìn thấy một cách đồng thời

- Ngăn ngừa được ô tô đi vào khu vực này

- Khi ô tô va chạm vào thiết bị phòng hộ thì không phải một bộ phận mà một vài đoạn của

chúng cùng chống đỡ lại Do đó, các cột của chúng phải uốn cong và xoay chiều được, phải có

độ cứng theo hướng chạy xe nhỏ hơn độ cứng theo hướng ngang

- Làm cho tốc độ xe chạy chậm lại một cách đều đặn để không gây nguy hiểm cho hành

khách

- Có thể uốn cong và khi biến dạng có khả năng chịu được năng lượng lớn của xe và vào

nó, biến dạng và phá hủy của thiết bị phòng hộ khi xe đâm vào phải ở trong phạm vi không cho phép xe lao vào vùng nguy hiểm

- Ô tô đi nghiêng dọc theo thiết bị phòng hộ không bị lật vào dòng xe đang chạy, gia tốc

của xe lúc đó phải an toàn cho hành khách

- Giới hạn tiếp xúc của ô tô với thiết bị phòng hộ là các bộ phận dầm, không cho phép ô

tô đụng vào các cột trụ

- Có chiều cao cho phép để giữ các xe du lịch thấp không bị hư hỏng nặng, không để các

ô tô cao bị lật nhào

- Không gây ra hư hỏng đánh kể cho các xe va phải chúng, và khi đó chính bản than thiết

bị cũng chỉ bị hư hỏng ít nhất

- Thiết bị phải là những bộ phận dễ vận chuyển và dễ khôi phục

- Kết cấu của thiết bị không được gây ra những hư hỏng nguy hiểm, đặc biệt là hệ thống

treo bánh xe trước, hệ thống hãm và điều khiển tay lái khi xe đâm phải

Những thiết bị thỏa mãn được các yêu cầu trên thường đắt tiền nên việc sử dụng chúng chỉ

có thể là hợp lý khi cường độ vận chuyển rất đáng kể hoặc khi có những chỗ đặc biệt nguy

Trang 14

93

hiểm cho lưu thông

5.5.1.2 Những khu vực cần bố trí thiết bị phòng hộ:

- Cầu và nền đắp có tường chắn cao hơn 1m

- Các đường cong có bán kính nhỏ hơn bán kính cho phép với tốc độ tính toán, các đường

cong làm thay đổi đánh kể hướng đều đặn mà xe đã chạy qua trước đó

- Nền đất đắp với taluy 1:1,5 hoặc dốc hơn, khi chiều cao lớn hơn 3m

- Các trụ cầu vượt trên dải phân cách, mố cầu đặt bên cạnh phần xe chạy, cửa các đường

hầm

- Phần cuối của các đoạn dốc xuống kéo dài

Chiều dài bố trí thiết bị phòng hộ trên các đoạn không ngắn hơn 50m để đảm bảo cho việc phỏng đoán quang học được tốt

Mặt khác, cũng cần cân nhắc đến giá thành sửa chữa vì những thiết bị này thường bị tổn hại sau mỗi lần bị xe đâm vào Đôi khi ở những đường ít quan trọng có cấp hạng kỹ thuật thấp, việc phòng hộ này có thể được thực hiện rẻ hơn bằng cách làm một đê chắn bằng đất cao khoảng 40 – 50cm

5.5.2 Thiết bị gờ trượt bằng kim loại

Loại thiết bị này giữ được ô tô lại trong điều kiện an toàn được đảm bảo tốt Loại này được thử nghiệm với 1 ô tô 1250kg đâm vào gờ trượt theo góc 30o với tốc độ 80km/h hoặc theo góc

20o với tốc độ 100km/h

Kiểu thường được sử dụng là loại thiết bị gờ trượt bằng thép mạ có chiều dài hữu ích 4m, được nối với nhau bằng bu long và cố định trên cột đỡ thông qua các khối đệm

Hình 5.11 – Cấu tạo gờ trượt kim loại

Cự ly giữa các cột đỡ thay đổi từ 2 – 4m Các cột đỡ làm bằng thép hình C hoặc U100 hay

Trang 15

94

C125 Độ mềm của thiết bị gờ trượt sẽ tăng lên khi cự ly giữa các cột đỡ tăng lên

5.5.2.1 Sự làm việc của các thiết bị gờ trượt bằng kim loại:

Gờ trượt bằng kim loại chỉ có thể làm việc tốt nếu đảm bảo được đúng các điều kiện sau:

- Bảo đảm được tính liên tục về sức kéo dọc của các gờ trượt liên tiếp (lực kéo dọc sẽ phát

dinh khi có một xung lực tác động)

- Bảo đảm gờ trượt được đặt đúng cao độ

- Bảo đảm neo giữ tốt chân cột đỡ, đặc biệt là ở gần các đoạn đầu dãy

- Bảo đảm liên kết “mềm” giữ gờ trượt và cột đỡ (bằng các khối đệm)

5.5.2.2 Lắp đặt các thiết bị gờ trượt bằng thép:

- Gờ trượt không được đặt quá gần mép mặt đường để khỏi ảnh hưởng đến giao thông Ở

đoạn bình thường, tối thiểu phải đặt cách mép mặt đường 70cm Mặt khác, cần phải dành lối đi

đủ cho người đi bộ bên cạnh phía ngoài mặt đường, và vì thế có thể cần phải mở rộng lề đường

- Nền đất phải cho phép neo ngàm được cột đỡ và phải chịu được những lực lan truyền

khi xảy ra va chạm

- Chiều dài của cột đỡ bình thường là 2m, nhưng có thể giảm xuống 1,50m nếu nền đất rất

vững chắc Các cột đỡ này thường được đóng xuống đất, sau đó các gờ trượt được lắp và bắt bulong Việc lắp đặt được tiến hành ngược với chiều xe chạy để tránh xe đâm từ phía sau Các

lỗ đục hình thuôn dài trên cột đỡ cho phép điều chỉnh chính xác độ cao của gờ trượt

- Các đoạn ở đầu phải bảo đảm nhiệm vụ neo dọc các dãy gờ trượt Trong phạm vi có thế,

đoạn đầu dãy phải bố trí mở xa dần mép mặt đường (mở theo kiểu loa kèn) đến mức tối đa Giải pháp tốt nhất là neo đoạn đầu dãy gờ trượt vào sườn taluy Nếu không thể làm được như vậy thì cho hạ thấp dần đoạn đầu dãy đến mặt đất trên một chiều dài 12m

Trang 16

95

Hình 5.12 – Sơ đồ lắp đặt gờ trượt

Hình 5.13 – Bố trí thiết bị gờ trượt kim loại bên đường

5.5.3 Tường phân cách bằng bê tông

- Đây là một loại tường thấp liên tục làm bằng bê tong cốt thép lắp ráp hoặc đúc liền tại

chỗ Hình dáng của loại này có tác dụng kéo dài thời gian va chạm của bánh xe lên tường, bảo đảm cho bánh xe trượt dọc theo tường sau khi va chạm và làm giảm lực va chạm và gia tốc xe

- Đây là loại thiết bị phòng hộ kiểu cứng, nó chỉ bị hư hỏng nhẹ khi có va chạm Khi thử

Trang 17

Hình 5.14 - Tường phân cách bằng bê tông

5.5.4 Gương cầu lồi

Gương cầu lồi có tác dụng cải thiện tầm nhìn cho người tham gia giao thông ở các đường cong có bán kính nhỏ, tầm nhìn bị che khuất Qua gương cầu lồi người điều khiển phương tiện

có thể quan sát được từ xa phương tiện chạy ngược chiều để điều chỉnh tốc độ cho phù hợp

Vị trí gương cầu lồi đặt ở sát vai nền đường phía lưng trên đường phân giác của góc đỉnh đường cong, gương phải đặt vuông góc với mặt phẳng nằm ngang và mép dưới gương phải cao hơn cao độ vai đường là 1,2m

 Cấu tạo gương cầu lồi:

- Gương cầu lồi gồm các bộ phận: gương, giá đỡ, cột và biển báo phụ

- Gương: được sản xuất bằng vật liệu kính thông thường, kính pha lê hoặc inox, đường

kính từ 80cm đến 100cm (chọn tùy theo cấp hạng đường) Đây là bộ phận quan trọng nhất của

Trang 18

97

gương cầu lồi

- Giá đỡ và đế gương dùng chất liệu thép xây dựng bao gồm đế gương kể cả lưới chắn bảo

vệ phía trên, bộ phận điều chỉnh gương và bộ phận liên kết vào cột

- Cột bằng thép ống tròn đường kính 80 – 100mm, chiều dài cột ≥ 2,8m tùy thuộc vào vị

trí đặt gương cầu lồi Chân cột được chon sâu ít nhất 50cm so với mặt đất tại vị trí đặt gương và được gia cố bằng bê tông xi măng M200 với kích thước 20cm x 20cm x H (H là chiều sâu chôn cột)

- Biển phụ là biển phản quang màu xanh lam, chữ trắng với nội dung “gương cầu lồi an

toàn giao thông”

Hình 5.15 – Cấu tạo gương cầu lồi

Trang 19

5.5.5.2 Phạm vi áp dụng:

- Đường cứu nạn được thiết kế và thi công ở những đoạn đèo cao, dốc lớn, đường cong có

bán kính nhỏ, nhất là những đoạn kết hợp giữa độ dốc lớn và đường cong có bán kính nhỏ (thường phải phanh và chuyển số cấp tốc)

- Đường cứu nạn được áp dụng trên cả đường cũ cải tạo nâng cấp cũng như trên đường

mới xây dựng

5.5.5.3 Bình đồ đường cứu nạn:

- Vị trí đường cứu nạn được nghiên cứu đặt ở những nơi thường xảy ra tai nạn, dốc lớn,

đường cong bán kính nhỏ, vận tốc tích lũy vượt qua vận tốc cho phép 100 – 120km/h

- Đường cứu nạn thường được bố trí bên phải tuyến chính theo hướng xuống dốc, chỉ

trường hợp do địa hình không cho phép người ta mới phải bố trí bên trái (điều này bất lợi vì có thể va chạm với xe đang lên dốc)

- Đường cứu nạn thường bố trí theo dạng tiếp tuyến của đường cong chính hoặc dạng của

đường cong chuyển tiếp để lái xe dễ dàng điều khiển cho xe vào đường cứu nạn

Trang 20

99

Hình 5.17 – Sơ đồ các dạng đường cứu nạn

- Tầm nhìn trong đường cứu nạn được xác định trong tình huống: xe không phanh được

(hỏng phanh) và chỉ dừng lại khi tiêu hao hết năng lượng trong đường cứu nạn:

Ltn = Lcn + 1/2K + 10 Trong đó: Ltn – chiều dài tầm nhìn cần thiết, m

Lcn – chiều dài đường cứu nạn, m

K – đường cong bắt vào đường cứu nạn, m

Trang 21

100

đó, điều quan trọng là phải cấu tạo mặt đường có sức cản lăn lớn để làm giảm tốc độ xe và phải

bố trí đủ chiều dài để đảm bảo an toàn cho xe bị nạn dừng lại trước khi đi hết đường

 Cấu tạo dốc dọc tổng thể của đường cứu nạn như sau:

- Đầu tiên là một đoạn ngắn cùng độ dốc với đường chính, đến khi trắc ngang của đường

cứu nạn tách khỏi đường chính mới thay đổi độ dốc

- Tiếp theo bố trí một đường cong lõm chuyển tiếp giữa độ dốc của đường chính và độ

dốc của đường cứu nạn

- Sau đường cong lõm là độ dốc chính thức của đường cứu nạn, tranh thủ địa hình để bố

trí độ dốc tối đa, có thể bố trí đến 15% (nhưng không vượt quá hệ số sức cản lăn của vật liệu làm mặt đường cứu nạn) và đủ chiều dài để giảm hết tốc độ của xe

- Sau độ dốc tối đa, bố trí một đoạn bằng có chiều dài 10 – 20m kết hợp bố trí hố cát cho

xe dừng lại an toàn

- Cuối hố cát, đổ một đống cát cao 1,0 – 1,2m tựa lưng vào một tường phòng hộ cao 1,5 –

2,0m để đảm bảo an toàn khi xe bị nạn có tốc độ vượt quá xa tốc độ tính toán cho đường cứu nạn (tốc độ tối đa tính toán là 120km/h)

Trang 22

101

Hình 5.18 – Các dạng trắc dọc đường cứu nạn

Trang 23

102

Hình 5.19 - Cấu tạo đường cứu nạn điển hình

- Chiều dài đường cứu nạn xác định như sau:

2

V L

g i f

Trong đó: L – chiều dài đường cứu nạn, m

V – tốc độ tính toán của xe khi vào đường cứu nạn, m/s

G – gia tốc trọng trường, g = 10m/s2

i – độ dốc dọc bình quân của đường cứu nạn (i nhận giá trị dương nếu dốc hướng lên, giá trị âm nếu dốc xuống)

f – hệ số sức cản lăn của mặt đường cứu nạn

5.5.5.5 Trắc ngang đường cứu nạn:

- Bề rộng của đường cứu nạn rẽ từ đường cấp I – III là 12m (chưa kể mở rộng trong

đường cong), mặt rộng 7,0m (chưa kể mở rộng)

- Bề rộng đường cứu nạn rẽ từ đường cấp IV – V là 9,0m (chưa kể mở rộng trong đường

cong), mặt rộng 5,50m (chưa kể mở rộng)

- Kết cấu mặt đường: khoảng 5 – 10m đầu tiên kết cấu gần giống như mặt đường tuyến

Trang 24

103

chính, sau đó tăng dần lực cản lên

- Kết cấu chính của mặt đường cứu nạn có chiều dày 20 – 25cm làm bằng vật liệu rời rạc

để tăng lực cản lăn Các vật liệu này có kích thước tương đối đồng đều để tránh bị nén chặt, thường dùng sỏi cuội đều hạt hoặc đá dăm 4x6 không lu lèn

- Đoạn 10 – 20m đi bằng ở cuối đường dùng cát thô tạo thành hố dày 30 – 40cm có tác

dụng như một bẫy hãm xe

- Đống cát cuối cao 1,0 – 1,2m có taluy 1/1, bên ngoài phun 1 lớp nhựa giữ cho cát khỏi

bay, trôi đồng thời giữ độ xốp để khi xe đụng vào bị tiêu hao năng lượng nhanh chóng

Hình 5.20 - Mặt cắt ngang đệm giảm tốc

Trang 25

104

Hình 5.21 – Đường cứu nạn trên đèo Cù Mông – Phú Yên

Trang 26

6.1.1 BDTX nền đường không gia cố

6.1.1.1 Đắp phụ nền đường:

Những bị trí nền đường bị thu hẹp, bề rộng nền đường không còn đủ như thiết kế ban đầu (đặc biệt tại các đầu cầu, đầu cống) hoặc thu hẹp quá 0,3m về một phía, phải đắp lại bằng vật liệu đá cấp phối đầm lèn K>0,90 và vỗ mái taluy

Trình tự tiến hành:

- Dùng nhân lực phát dọn sạch cây cỏ xung quanh khu vực nền cần đắp phụ thêm;

- Đánh cấp, chiều rộng và chiều cao mỗi cấp 50cm;

- Đổ vật liệu (đất, đá cấp phối,…) thành từng lớp dày không quá 30cm, san phẳng;

- Dùng đầm thủ công (đầm chân voi) hoặc máy đầm MISAKA đầm 5-7 lượt/điểm cho

đến khi đạt độ chặt yêu cầu xong mới đắp tiếp lớp khác;

- Bạt và vỗ mái taluy (trồng cỏ nếu thấy cần thiết) và hoàn thiện

6.1.1.2 Hót đất sụt:

Khi có khối đất đá sụt xuống lấp tắc rãnh dọc, sử dụng nhân lực hót sạch, hoàn trả lại mái taluy và kích thước ban đầu của rãnh dọc đảm bảo thoát nước

Lưu ý: phải sử dụng xe tải nhẹ vận chuyển đất đá đến nơi đổ quy định Không san gạt lề

đường làm tôn cao lề đường, gây đọng nước trên mặt đường

6.1.1.3 Phát cây, rãy cỏ, tỉa cành:

Phát cây cỏ để đảm bảo tầm nhìn, không che khuất cọc tiêu, biển báo hiệu, cột KM và ảnh hưởng thoát nước:

- Trên lề đường, mái đường đắp, trên taluy đường đào (taluy dương) từ độ cao 4m trở

xuống, cây cỏ không được cao quá 20cm;

- Từ độ cao 4m trở lên, không để cây to có đường kính D>5cm và xõa cành xuống dưới

Nếu có cây lâu năm có thể đổ gãy gây ách tắc giao thông thì phải chặt hạ;

- Khi có cây đổ ngang đường phải nhanh chóng thu dọn ra khỏi lòng đường

- Trên taluy đường đắp (taluy âm), trong phạm vi 1,0m từ vai đường trở ra và trong bụng

Trang 27

106

đường cong, cây cỏ không được cao quá 20cm và không làm mất tầm nhìn;

- Sử dụng nhân lực với dao phát hoặc máy cắt cỏ để thực hiện

- Với mái dốc nền đường đào (taluy dương) bị xói lở nhiều cần gia cố chống xói

Hình 6.1 - Gia cố mái dốc

6.1.2 BDTX nền đường có gia cố

Khi mái taluy nền đường được gia cố bằng đá hộc lát khan hay xây ốp mái bằng đá học vữa

xi măng cát vàng, công tác BDTX phải làm là:

- Chân khay phần gia cố nếu bị xói, hư hỏng cần xây lại hoặc đắp phụ bằng đá hộc;

- Những vị trí bị khuyết, vỡ phải chit trát bằng vữa xi măng cát vàng mác 100 chêm chèn

đá hộc vào những vị trí mất đá

6.2 Lề đường

Yêu cầu lề đường phải luôn đảm bảo bằng phẳng, ổn định, có độ dốc ngang thoát nước hướng ra phía ngoài để thoát nước nhanh Phạm vi gần mép mặt đường không được lồi lõm, đọng nước trên lề đường hoặc dọc theo mép mặt đường gây ra hiện tượng vỡ mép mặt đường (hiện tượng “cóc gặm”)

Trang 28

- Vệ sinh, tạo nhám diện tích cần bù phụ;

- Rải vật liệu và san gạt (bằng thủ công hoặc bằng máy san) đảm bảo kích thước và độ

6.2.2 BDTX lề đường có gia cố (bằng đá dăm láng nhựa hoặc bê tông xi măng)

Cách BDTX giống như đối với loại mặt đường tương ứng

6.3 Hàng cây hai bên đường và ở giải phân cách trung tâm

6.3.1 Hàng cây hai bên đường

Trên những đường có cây trồng hai bên đường thì hàng cây có tác dụng thay thế cọc tiêu Công tác BDTX là chăm sóc và gìn giữ hàng cây hai bên đường vừa đảm bảo bóng mát, mỹ quan, vừa đảm bảo ATGT, gồm các việc sau:

- Xén tỉa cành cây: thực hiện vào mùa mưa;

- Quét vôi: quét 2 nước vôi trắng quanh gốc cây, chiều cao quét 1,50m tính từ vai đường

Việc làm này nhằm tránh sâu bọ bò lên phá hoại Sâu bọ thường làm kén dưới đất và khi chúng

ra khỏi kén sẽ bò lên cây

6.3.2 Hàng cây ở dải phân cách trung tâm

Hàng cây trồng trên dải phân cách trung tâm có tác dụng ngăn cản ánh sáng của đèn pha của các xe đi ngược chiều và tạo cảnh quan Cây được trồng thường là cây cảnh dạng cây bụi Công tác BDTX gồm:

- Tưới nước chăm sóc cây và trồng bổ sung những cây chết;

- Khi cây tốt phải xén tỉa cây tạo mỹ quan

6.4 Rãnh thoát nước

Hệ thống rãnh thoát nước của đường ô tô bao gồm rãnh dọc, rãnh ngang, rãnh đỉnh Công

Trang 29

108

tác BDTX rãnh thoát nước gồm các việc sau:

6.4.1 Vét rãnh

- Nhằm nạo vét bùn đất, cỏ rác trong lòng rãnh, trả lại kích thước hình học và độ dốc dọc

thoát nước ban đầu của rãnh, không để đọng nước trong lòng rãnh làm suy yếu nền, lề đường

- Công tác vét rãnh được thực hiện thủ công hoặc bằng máy san

Lưu ý: Phải sử dụng xe tải nhẹ vận chuyển đất đá đến nơi đổ quy định Không san gạt ra lề

đường làm tôn cao lề đường, gây đọng nước trên mặt đường

6.4.2 Khơi rãnh khi mưa

- Khi mưa to phải khơi rãnh, loại bỏ đất đá, cây cỏ rơi vào trong lòng rãnh gây tắc dòng

chảy, làm cho nước chảy tràn trên lề đường, dọc theo mặt đường hoặc tràn qua đường sẽ làm xói lề, xói mặt đường, gây sạt lở taluy âm nền đường

- Công tác khơi rãnh khi mưa sử dụng nhân lực thủ công là chủ yếu

6.4.3 Đào rãnh

Với các đoạn rãnh đất, hàng năm thường hay bị đất bồi lấp đầy, gây nên hiện tượng “rãnh treo” làm đọng nước trong lòng rãnh (đặc biệt đối với các rãnh đỉnh) Cần đào trả lại kích thước hình học của rãnh như cũ

Công tác đào rãnh sử dụng nhân lực đào thủ công hoặc thi công bằng máy

Trình tự công việc:

- Nếu đào thủ công: phải lên ga, cắm cọc xác định vị trí mép rãnh sao cho thẳng hàng

(nếu trên đường thẳng) hay cong đều (nếu trên đường cong) Sử dụng thước hình thang bằng đúng kích thước của rãnh thiết kế cũ để đảm bảo kích thước lòng rãnh và độ dốc dọc đáy rãnh;

- Nếu đào bằng máy san: cần điều chỉnh sao cho lưỡi máy san đúng vị trí cần đào và chiều

sâu đào

Lưu ý: phải sử dụng xe tải nhẹ vận chuyển đất đá đến nơi đổ quy định Không san gạt ra lề

đường làm tôn cao lề đường, gây đọng nước trên mặt đường

6.4.4 Sửa chữa rãnh xây (hoặc rãnh BTXM) bị vỡ, tấm đan bị hư hỏng hoặc mất

Công việc bao gồm:

- Sửa chữa lại, xây lại bằng kết cấu như ban đầu;

- Kê kích, chèn vữa đảm bảo tấm đan không bị cập kênh;

- Thay thế các tấm đan bị hư hỏng

6.5 Cống thoát nước

Cống thoát nước là công trình thoát nước có khẩu độ ≤ 3,0m Những công trình có khẩu độ

từ 3 – 6m nhưng có bề dày đất đắp trên 0,5m cũng gọi là cống

Trang 30

109

Cống bao gồm nhiều loại Nhìn chung có 3 bộ phận chính: cửa thu nước thượng lưu, thân cống và cửa thoát nước hạ lưu

Công tác BDTX cống thoát nước gồm những hạng mục công việc sau:

6.5.1 Đối với các cống xây dựng vĩnh cửu bằng BTCT hay đá xây

Các cống xây dựng vĩnh cửu bằng BTCT hay đá xây: cống tròn, cống bản, cống hộp, cống vòm

- Thông cống: nạo vét đất đá lắng đọng trong hố thu nước thượng lưu, trong lòng cống và

hạ lưu cống để thông thoát nước cho cống Công tác này thường làm thủ công

- Sửa chữa lặt vặt bằng xi măng cát vàng mác 100: các khe nối cống, tường đầu, tường

cánh, sân thượng hạ lưu, mái vòm cống bằng đá xây bị bong, nứt dùng vữa xi măng cát vàng mác 100 trát chit lại Nếu vỡ cần xây lại (hoặc đổ bê tông) như ban đầu Công tác này được tiến hành thủ công

- Thanh thải dòng chảy thượng và hạ lưu cống: nạo vét đất, cát lắng đọng trong dòng

chảy, phát quang cây cỏ hai bên dòng chảy, hai đầu cống đảm bảo thoát nước tốt Công tác này được tiến hành thủ công

- Quét vôi tường đầu cống: quét 2 nước vôi trắng quanh tường đầu cống Công tác này

tiến hành thủ công

6.5.2 Đối với các cống tạm bằng tôn cuốn hoặc đá xếp khan

Công tác BDTX loại cống này chủ yếu là khơi dòng chảy thượng hạ lưu cống và không để bùn đất lấp bịt vào các khe hở giữa các viên đá xếp khan hay trong lòng cống tôn để đảm bảo khả năng thoát nước tối đa của cống

Bao gồm các công việc sau:

- Phát quang không để cây cỏ mọc lấp kè;

- Bổ sung thêm đá học vào các vị trí bị mất, thay thế các dây thép bị đứt;

- Khơi thông nước, không cho chảy vào khu vực có tường chắn đất;

- Thường xuyên kiểm tra theo dõi tình trạng của tường

6.6.2 Tường chắn đất bằng bê tông (có hoặc không có cốt thép) và đá xây

Bao gồm các công việc sau:

Trang 31

110

- Trát chit các khe nứt bằng vữa xi măng cát vàng mác 100;

- Xây lại các vị trí bị vỡ bằng đá hộc xây vữa xi măng cát vàng mác 100 (hoặc đổ bê tông

xi măng mác 200);

- Phát quang không để cây cỏ mọc lấp tường chắn;

- Thường xuyên kiểm tra theo dõi

Hình 6.2 - Sửa chữa tường chắn đất

6.7 Đường tràn và đường ngầm

Công tác BDTX gồm các công việc sau:

- Trát chit lại các chỗ nứt bằng vữa xi măng cát vàng mác 100 và xây lại các vị trí bị vỡ

bằng đá hộc xây vữa xi măng cát vàng mác 100 trên mái dốc;

- Thay thế hoặc kê kích lại các tấm bê tông lát mặt đường cho bằng phẳng;

- Sơn kẻ cột thủy chí và cọc tiêu, biển báo để dễ quan sát mực nước;

- Sửa chữa thay thế các cọc tiêu bị gãy, mất;

- Thông cống, vét dọn sạch đất đá, cành cây, bùn rác trong lòng cống và thượng hạ lưu

ngầm, tràn;

- Bổ sung đá hộc vào phần gia cố chống xói chân mái dốc đường tràn và đường ngầm;

- Bổ sung đá vào phần mặt đường ngầm, đường tràn sau mỗi lần ngầm, tràn bị nước ngập

(đối với đường ngầm, tràn có mặt đường là đá hộc xếp khan)

6.8 Đường hầm

Đường hầm là một công trình giao thông tổng hợp, hiện đại bao gồm một loạt các công trình như hầm giao thông, hầm thông gió, hầm thoát hiểm,…trong đó có bố trí các trang thiết bị phục vụ cho giao thông như hệ thống đèn chiếu sáng, hệ thống thông tin, thông gió, hệ thống thoát nước,…

Công tác BDTX đường hầm gồm các hạng mục công việc sau:

Trang 32

- Đối với rãnh ngầm, nếu phát hiện khả năng tiêu thoát nước kém cần tìm hiểunguyên

nhân và sửa chữa kịp thời;

- Các bộ phận của hệ thống thoát nước bằng bê tông, đá xây nếu có hư hỏng phải sửa

chữa lại Rãnh dọc trong hầm có nắp bằng các tấm bê tông, nếu nắp bị hư hỏng phải thay thế ngay để đảm bảo an toàn cho người đi bộ;

- Các đường ống dẫn nước nếu bị ha rỉ nặng hoặc không đảm bảo hoạt động tốt cần phải

- Cột đèn, chao đèn: nếu bị rỉ phải được sơn lại (định kỳ 3 – 5 năm sơn lại 1 lần)

- Nếu bị hư hỏng phải thay thế ngay

- Các thiết bị điện như máy phát điện, trạm biến áp, cầu dao, tủ điện, dây dẫn… phải được

bảo trì, sửa chữa theo quy định của ngành điện

6.8.3 Vỏ hầm

Vỏ hầm thường được xây dựng bằng các loại vật liệu chủ yếu sau: BTXM (có hoặc không

có cốt thép), đá xây hoặc vữa phun Hiện nay ở nước ta đang tồn tại loại vỏ hầm bằng đá tự nhiên (được xây dựng từ trước CMT8 trên các đường ô tô cấp thấp)

Công tác BXTD gồm các công việc sau:

- Đối với vỏ hầm bằng đá tự nhiên: thường xuyên kiểm tra, nếu phát hiện có vị trí đã bị

vỡ, bị phong hóa hoặc có nước từ trên ngấm xuống thì báo cáo cấp trên tiến hành kiểm tra, lập

kế hoạch sửa chữa

- Đối với vỏ hầm bằng BTXM (có hoặc không có cốt thép), đá xây hoặc vữa phun được

xây dựng trong những năm gần đây theo tiêu chuẩn vĩnh cửu có độ bền cấp I:

 Thường xuyên kiểm tra, nếu phát hiện vỏ hầm có vết nứt cần đánh dấu bằng “tem”

Trang 33

112

vữa xi măng cát để theo dõi và báo cáo cấp trên;

 Nếu có nước từ phía trên thấm xuống cần tìm hiểu nguyên nhân, kiểm tra hệ thống thoát nước ở phía trên nếu bị hỏng, tắc phải sửa chữa ngay, đồng thời báo cấp trên và đề xuất biện pháp khắc phục;

 Các vị trí bê tông, đá xây bị hư hỏng nhỏ phải sửa chữa lại như ban đầu, đảm bảo

mỹ quan

6.9 Bảo dưỡng thường xuyên hệ thống báo hiệu đường bộ

Hệ thống báo hiệu đường bộ là tất cả những phương tiện dùng để báo hiệu, chỉ dẫn, báo lệnh,…dùng cho xe cơ giới, thô sơ và người đi trên đường để đảm bảo trật tự và ATGT

Yêu cầu của công tác BDTX hệ thống báo hiệu đường bộ là phải luôn sáng sủa, sạch, các

ký hiệu rõ ràng, không bị mờ bẩn

6.9.1 BDTX biển báo hiệu

- Sơn: sơn cột biển báo và mặt sau của biển báo bằng sơn thường bằng phương pháp thủ

công;

- Dán lại lớp phản quang mặt biển báo bằng phương pháp thủ công;

- Thay thế, bổ sung biển báo bị gãy, mất;

- Nắn chỉnh, tu sửa, dựng lại các biển báo bị nghiêng lệch chon gay ngắn, đúng vị trí và

vệ sinh mặt đảm bảo sáng sủa, rõ ràng;

- Phát cành, thu dọn các chướng ngại vật không để che lấp biển báo

Hình 6.3 - Vệ sinh biển báo

Trang 34

113

6.9.2 BDTX vạch kẻ đường

Yêu cầu vạch kẻ đường phải sáng rõ, không được để cát bụi lấp, nếu mờ phải sơn kẻ lại Công tác BDTX vạch kẻ đường là sơn kẻ các vệt bị mờ:

- Sơn bằng sơn thường: 3 – 6 tháng/lần;

- Sơn nóng phản quang (sơn dẻo nhiệt): 4 – 5 năm/lần

6.9.3 BDTX dải cưỡng bức giảm tốc

Công tác BDTX gồm: sửa chữa các vị trí sứt vỡ bằng vật liệu đá dăm đen hoặc BTN nguội như vá ổ gà; sơn kẻ lại các vệt sơn bị mờ

6.9.4 BDTX dải giảm tốc

Các dải giảm tốc được xác định bằng các vạch sơn nóng phản quang, được sơn cao hơn mặt đường khoảng 0,3 – 1,2cm, cách đều nhau từ 0,5 – 0,8m có tác dụng báo hiệu cho người lái xe biết để giảm tốc độ đảm bảo ATGT

Công tác BDTX dải giảm tốc là sơn lại các vị trí bị mòn, tác dụng kém bằng sơn nóng phản quang (sơn dẻo nhiệt): 4 – 5 năm/lần

6.9.5 BDTX đinh phản quang

Công tác BDTX gồm: thay thế các đinh phản quang bị mất, hỏng; lau chùi mặt đinh phản quang

6.9.6 BDTX gương cầu lồi

Gương cầu lồi là một thiết bị phục vụ cho ATGT, giúp cho lái xe có thể quan sát được từ các phương tiện chạy ngược chiều để điều chỉnh tốc độ cho phù hợp

Công tác BDTX gồm: sơn kẻ lại cột, bệ cột; thay thế các tấm bán cầu bị mờ hay vỡ, mất; phát quang bảo đảm tầm nhìn của gương

6.9.7 BDTX đảo giao thông

Công tác bảo dưỡng bao gồm: chăm sóc cây cỏ cho tươi tốt, mỹ quan; sửa chữa các tấm biển gắn mũi tên chỉ đường; sửa chữa các vị trí mép đảo bị hư hỏng do xe va quệt

6.9.8 BDTX đường cứu nạn

Đường cứu nạn được thiết kế và thi công trên các đoạn đèo dốc nhằm cứu các xe khi xuống dốc không điều khiển được do hỏng phanh, không sang được số,… Khi gặp sự cố, xe

có thể rẽ khỏi đường chính vào đường cứu nạn, dừng lại để sửa chữa

 Công tác BDTX đường cứu nạn gồm:

- Sơn và dán lại lớp phản quang cho các biển báo hiệu luôn sáng sủa, rõ ràng, giúplái

xe dễ nhận ra và bình tĩnh đưa xe vào đường cứu nạn dễ dàng khi gặp sự cố

- Dọn sạch các chướng ngại vật (đất bùn, đá rơi,…) trên mặt đường cứu nạn, nhất là

đoạn tiếp giáp giữa đường chính với đường cứu nạn

- Khơi thông rãnh thoát nước

- Bổ sung đầy đủ cát, dá, sỏi vào đường cứu nạn

- Xáo xới lại mặt đường cứu nạn (đặc biệt sau mỗi đợt mưa lớp cát mặt đường thường

Trang 35

Công tác BDTX tường hộ lan bằng tôn lượn sóng gồm có:

- Nắn sửa và thay thế các đoạn bị hư hỏng do xe va quệt;

- Sơn lại các đoạn tôn lượn sóng bị mờ bẩn (nếu các tấm tôn mạ kẽm thì không sơn);

- Lau chùi sạch sẽ các mắt phản quang; thay thế các mắt bị hỏng;

- Xiết lại các bu long bị hỏng, hoặc bổ sung các cái bị mất

Hình 6.4 - Sửa chữa thay thế thiết bị phòng hộ

6.9.10 BDTX dải phân cách mềm

Dải phân cách mềm được tạo bởi các trụ BT cao 0,8m có các ống thép 40 – 50mm xuyên qua tạo thành hệ thống lan can trên mặt đường để chia làn xe hoặc phân cách giữa đường cho xe thô sơ và đường cho xe cơ giới Loại này có thể di chuyển một cách linh hoạt tùy theo yêu cầu sử dụng

Trang 36

115

Công tác BDTX bao gồm:

- Sơn kẻ lại các trụ bê tông và ống thép (2 năm/lần);

- Thay thế các trụ bê tông bị vỡ, ống thép bị cong vênh;

- Nắn chỉnh lại các đoạn dải phân cách bị xô lệch chon gay ngắn, đúng vị trí, đảm bảo

mỹ quan

6.9.11 BDTX dải phân cách cứng bằng BTXM

Công tác BDTX bao gồm:

- Sơn kẻ lại bằng sơn trắng – đỏ ở các đầu dải phân cách (2 năm/lần);

- Lau chùi sạch sẽ các mắt phản quang (nếu có)

6.9.12 BDTX cọc tiêu, cọc mốc lộ giới, cọc H

Công tác BDTX bao gồm:

- Nắn sửa cho ngay ngắn;

- Sơn lại 1 lần/năm; quét vôi 2 lần/năm

- Bổ sung thay thế những cọc bị gãy, mất;

- Phát quang không để cây cỏ che lấp

6.9.13 BDTX cột Km

Cột Km dùng để xác định lý trình con đường, chỉ dẫn cho người sử dụng đườngbiết khoảng cách trên hướng đi Cột km được đúc bằng bê tông xi măng hoặc bằng théptấm Chân cột bằng BTXM, đá xây hoặc ống thép

Cột thủy chí là một loại cột báo hiệu được đặt ở các vị trí sau:

- Mố trụ cầu: để báo chiều cao mực nước và chiều cao tính không thông thuyền;

- Hai đầu đường tràn, đường ngầm và các đoạn đường ngập nước do lũ lụt để báo

chiều sâu mức nước ngập;

Cột thủy chí được làm bằng tôn phẳng, ống thép hoặc đổ BTCT, trên đó có sơn các khoang vàng đen theo quy định

Công tác BDTX cột thủy chí là sơn kẻ lại các khoang cho sáng sủa, dễ nhìn, dễ đọc (1 lần/năm)

6.10 Bảo dưỡng thường xuyên mặt đường BTXM

6.10.1 Sửa chữa khe co dãn

Công tác BDTX bao gồm:

- Dùng chổi rễ hoặc hơi ép làm sạch đất cát trong khe co dãn và xì khô đảm bảo khô,

sạch

Trang 37

116

- Trét hỗn hợp matit nhựa ở nhiệt độ thích hợp theo hướng dẫn của nhà sản xuất vào

khe co giãn, miết chặt đảm bảo hỗn hợp dính bám tốt với tấm be tông Chiều cao phần matit bằng với tấm bê tông

6.10.2 Sửa chữa vết nứt

6.10.2.1 Sửa chữa vết nứt ngang:

- Nếu vết nứt nhỏ và nhiều, bề rộng vết nứt ≤ 5mm thì dùng nhựa đặc đun nóng pha

dầu hỏa, dùng ở nhiệt độ 70 – 80oC, hoặc dùng nhựa nhũ tương đổ vào vết nứt, sau đó rải cát vàng, đá mạt vào

- Nếu vết nứt có bề rộng > 5mm thì làm sạch vết nứt, sau đó trét matit nhựa tương tự

như đối với các khe co giãn

- Nếu các tấm BTXM bị sứt, vỡ với diện tích nhỏ thì trám lại các vị trí này bằng hỗn

hợp matit nhựa hoặc hỗn hợp BTN nguội hạt mịn

6.10.2.2 Sửa chữa các vết nứt dọc:

- Dùng máy cắt bê tông cắt các khe ngang vuông góc với vết nứt có kích thước:

 Chiều rộng khe 2,5 – 3,0cm;

 Chiều dài 47cm;

 Chiều sâu bằng 1/2 chiều dày tấm bản;

 Tại 2 đầu mỗi khe khoan lỗ thẳng đứng sâu hơn đáy vết cắt 5cm;

 Các khe ngang cách đều nhau 60cm dọc theo vết nứt và kéo dài hơn 1,0 – 1,5m

về hai đầu của vết nứt

- Dọn dẹp sạch sẽ các khe mới cắt bằng máy nén khí;

- Láng một lớp chất dẻo mỏng lên đáy khe và lỗ khoan hai đầu;

- Đặt thanh thép gai 16 có uốn móc hai đầu vào khe, sau đó phủ một lớp vữa tổng hợp

epoxy lên trên;

- Lấp trả khe bằng vữa bê tông mịn đến cao độ mặt đường và bảo dưỡng

Trang 38

117

Hình 6.5 - Máy cắt vết nứt bê tông xi măng

Hình 6.6 - Mặt cắt vá mặt đường

Hình 6.7 - Mặt bằng vá vết nứt dọc

6.10.2.3 Sửa chữa vết nứt dẻo:

Các vết nứt dẻo qua quan trắc theo dõi thấy hiểm khi có hướng về phía một thanh cốt thép nào đó và thường tự khép lại Để bảo vệ thép trong bê tông, có thể bịt các vết nứt dẻo bằng nhũ tương và phải thực hiện ngay sau khi phát hiện, nếu không nó sẽ bị các vật liệu nhỏ lấp vào và cản trở tác dụng của nhũ tương

Ngày đăng: 21/09/2020, 12:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w