Tháng 5 năm 1990, hai Pháp lệnh ngân hàng pháp lệnh NHNN; pháp lệnhngân hàng, hợp tác xã tín dụng ra đời, được đánh giá là những văn bản pháp quykhá toàn diện, góp phần khẳng định thêm
Trang 1THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2.1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TTCK VIỆT NAM
Nhận thức đúng về vai trò thị trường chứng khoán trong việc thúc đẩy pháttriển nền kinh tế nói chung và việc hoàn thiện thị trường tài chính nói riêng, việcthiết lập và phát triển TTCK đã được đặt ra ngay từ đầu thập niên cuối thế kỷ XX
Sự ra đời của TTCK Việt Nam với việc khai trương và chính thức hoạt độngTTGDCK TPHCM vào ngày 20/7/2000 đã đánh dấu một bước tiến quan trọngtrong lịch sử phát triển thị trường tài chính Việt Nam, tạo ra một kênh mới thu hút
và phân bổ các nguồn vốn trung dài hạn cho công cuộc phát triển kinh tế
Tham gia trên TTCK Việt Nam có các chủ thể: UBCKNN, Trung tâm giaodịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, các CTCK, các tổ chức phát hànhchứng khoán, các nhà đầu tư chứng khoán, các tổ chức phụ trợ khác TTCK mặc
dù chưa phát triển như mong muốn, song hơn 3 năm hoạt động đã đạt được kết quảtương đối, bước đầu tạo điều kiện cho sự phát triển sau này Cho đến ngày20/12/2003, TTGDCK đã tổ chức được 692 phiên giao dịch chứng khoán liên tục,
an toàn với tổng giá trị chứng khoán giao dịch đạt 5189 tỷ đồng
Qua TTCK, đã huy động được một khối lượng vốn cho Nhà nước thông quabảo lãnh phát hành, đấu thầu trên 100 loại trái phiếu chính phủ và niêm yết trênTTGDCK với khối lượng trên 11000 tỷ đồng Đã có 23 công ty cổ phần niêm yếttrên TTCK với tổng giá trị cổ phiếu niêm yết là 1120 tỷ đồng; trong đó có 5 công
ty phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn với tổng giá trị 155 tỷ đồng Tổng giá trịchứng khoán niêm yết trên tính theo mệnh giá là 12.397 tỷ đồng
Trang 2Đã xây dựng được một hệ thống các tổ chức trung gian hoạt động trên TTCKbao gồm 13 CTCK, 1 công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán với tổng số vốnđiều lệ là 573.75 tỷ đồng; các tổ chức lưu ký, ngân hàng lưu ký, ngân hàng chỉđịnh thanh toán đã hình thành Các trung gian tài chính đã làm tốt vai trò môi giớimua bán chứng khoán trên thị trường tập trung, tích cực tham gia bảo lãnh pháthành và tư vấn cho các công ty trong việc niêm yết và cung cấp thông tin cho nhàđầu tư; thực hiện tốt việc thanh toán, bù trừ các giao dịch chứng khoán trên thịtrường.
Công chúng đã dần làm quen với một phương thức đầu tư mới với khoảng trên
20000 tài khoản giao dịch, trong đó có 152 nhà đầu tư có tổ chức và 85 nhà đầu tưnước ngoài Sự tham gia của các nhà đầu tư đã góp phần quan trọng cho sự pháttriển của TTCK Việt Nam
Hoạt động quản lý, vận hành thị trường của UBCKNN và TTGDCK đã cónhiều cải tiến và từng bước hoàn thiện trên cơ sở rút kinh nghiệm từ hoạt độngthực tiễn Trong năm 2003, UBCKNN đã kết hợp với Bộ Tài chính để ban hànhcác quy định mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ nhằm tác động vào thị trường như tăng
số lần khớp lệnh, giảm lô giao dịch, bổ sung thêm lệnh ATO giao dịch tại mức giákhớp lệnh, hạ tỷ lệ ký quỹ giao dịch, cho phép sửa lệnh, cho phép nhà đầu tư nướcngoài được tự do lựa chọn mở tài khoản lưu ký chứng khoán Bên cạnh đó,UBCKNN cũng đã tăng cường thực hiện việc kiểm tra giám sát, xử lý nghiêmnhững vụ việc vi phạm về công bố thông tin của các tổ chức niêm yết nhằm ổnđịnh hoạt động của TTCK
Mặc dù đạt được một số kết quả như trên TTCK Việt Nam còn bộc lộ những hạn chế:
Trang 3Quy mô thị trường còn nhỏ bé, tổng giá trị chứng khoán niêm yết mới chỉchiếm 1.9% GDP, chưa đáp ứng nhu cầu huy động vốn trung và dài hạn cho nềnkinh tế, chưa tổ chức được thị trường thứ cấp hiệu quả đối với trái phiếu, đặc biệt
là Trái phiếu Chính phủ
Hàng hóa trên TTCK tuy đã tăng về số lượng nhưng chưa nhiều, chưa đa dạng
về chủng loại và chất lượng chưa cao Các doanh nghiệp Việt Nam chưa thực sựchủ động huy động vốn qua TTCK, mà trông chờ và ỷ lại vào nguồn vốn vay ưuđãi của nhà nước và vẫn chủ yếu tìm kiếm qua vay ngân hàng Một số công tyniêm yết tỷ lệ vốn thuộc sở hữu Nhà nước còn khá cao do vậy khối lượng cổ phiếuthực sự đưa vào giao dịch rất thấp Các công ty niêm yết cổ phiếu có quy môkhông lớn và chưa phải là những doanh nghiệp hấp dẫn đối với nhà đầu tư Một sốcông ty sau khi niêm yết đã bộc lộ những yếu kém trong quản trị kinh doanh, đầu
tư không có hiệu quả ảnh hưởng lòng tin của giới đầu tư Thêm vào đó, tiến trình
cổ phần hóa DNNN chưa gắn liền với với phát hành chứng khoán ra công chúng đểniêm yết trên TTCK
Về phía các nhà đầu tư, kiến thức và sự hiểu biết về hoạt động đầu tư còn hạnchế, họ chưa thấy được lợi ích của việc tham gia thị trường Số lượng các nhà đầu
tư có tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài với lượng vốn lớn và dài hạn góp phần tăngtính ổn định, chuyên nghiệp cho thị trường chưa nhiều Các nhà đầu tư trên thịtrường hiện nay đến 99% là các nhà đầu tư cá nhân Một bộ phận các nhà đầu tư đãsuy giảm lòng tin và thoái lui do công tác công khai hóa thông tin thị trường nóichung và công ty niêm yết nói riêng còn chưa đáp ứng được mong đợi của họ
Trang 4Hoạt động của các tổ chức trung gian và hỗ trợ thị trường còn nhiều hạn chế.Đặc biệt là sự tham gia của các NHTM trên TTCK còn hạn hẹp về quy mô, phạm
vi và chưa đạt được hiệu quả cao mặc dù đây là những tổ chức có tiềm lực tàichính khá mạnh Các NHTM chưa tham gia niêm yết chứng khoán nhằm tăng sốlượng và chất lượng hàng hóa cho thị trường Các NHTM cũng chưa đóng vai tròtích cực là các nhà đầu tư chuyên nghiệp và tạo lập thị trường Các dịch vụ chứngkhoán được ngân hàng thực hiện thông qua các CTCK nhằm định hướng và ổnđịnh thị trường Các CTCK chưa triển khai đầy đủ các nghiệp vụ luật cho phép,phần lớn chỉ tập trung chủ yếu tại 2 địa bàn Hà Nội và TPHCM Nghiệp vụ thựchiện chủ yếu là môi giới, các nghiệp vụ khác như bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tưcòn hạn chế Hơn thế nữa, do quy mô nhỏ nên các công ty chưa thể sử dụng nghiệp
vụ như một công cụ tăng tính thanh khoản cho giao dịch cổ phiếu niêm yết
Việc quản lý và giám sát thị trường còn nhiều bất cập do sự thiếu chủ động vàkinh nghiệm Đặc biệt là hệ thống pháp lý về TTCK còn thiếu đồng bộ, hiệu lựcpháp lý chưa cao
Trang 52.2 HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM TRÊN TTCK VIỆT NAM
2.2.1 Khái quát về các NHTM Việt Nam
Từ khi thành lập đến cuối những năm cuối thập kỷ 80, hệ thống ngân hàngViệt Nam được tổ chức theo mô hình một cấp, thống nhất từ Trung ương đến địaphương Từ tháng 6/1987, hệ thống ngân hàng Việt Nam mới bắt đầu có những đổimới về tổ chức và hoạt động, mô hình ngân hàng dần được hình thành, thay thếcho mô hình ngân hàng một cấp trước kia
Tháng 5 năm 1990, hai Pháp lệnh ngân hàng ( pháp lệnh NHNN; pháp lệnhngân hàng, hợp tác xã tín dụng) ra đời, được đánh giá là những văn bản pháp quykhá toàn diện, góp phần khẳng định thêm mô hình ngân hàng hai cấp với NHNNđóng vai trò Ngân hàng Trung ương, nằm trong cơ cấu chính phủ; các NHTM làcác doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ; lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm mục tiêu.Đánh giá chung về hoạt động của các NHTM Việt Nam, Bộ chính trị đã có
nhận định “Từ khi chuyển sang chuyên doanh, các NHTM đã huy động một khối lượng vốn đáng kể thúc đẩy đầu tư cho sản xuất của các thành phần kinh tế ” Tuy
nhiên, các NHTM Việt Nam vẫn còn nhiều yếu kém Năm 1997, cuộc khủnghoảng tài chính tiền tệ khu vực đã tác động mạnh tới các NHTM Việt Nam, đặcbiệt là các NHTM cổ phần, có nguy cơ de dọa tới tính an toàn của cả hệ thốngngân hàng Việt Nam
Để tiếp tục cải cách các NHTM ngày 12/12/1997, Quốc hội nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật các tổ chức tín dụng đánh dấu một giaiđoạn phát triển mới và tạo điều kiện cải cách mạnh mẽ các NHTM Việt Nam.Mục tiêu của củng cố và phát triển các NHTM Việt Nam là xây dựng một hệthống ngân hàng vững mạnh, tăng cường huy động vốn và cho vay đối với nềnkinh tế, thực hiện cơ chế an toàn trong hoạt động, cải tiến quản trị ngân hàng theohướng hiện đại, tăng khả năng cạnh tranh của các NHTM, phát triển các dịch vụtheo hướng ngân hàng đa năng
Trang 6Việc triển khai thực hiện Luật các tổ chức tín dụng và cải cách NHTM theohướng đa năng đã tạo điều kiện nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức tíndụng nói chung và các NHTM nói riêng.
Tính đến nay, các NHTM Việt Nam gồm 6 NHTMNN; 36 NHTMCP trong đó
có 24 NHTMCP đô thị và 12 NHTMCP nông thôn
Như vậy, các NHTM Việt Nam đã có những bước phát triển về số lượng, loạihình và khung pháp lý cho hoạt động Tuy nhiên, các NHTM Việt Nam vẫn cònchưa hoàn thiện Những hạn chế này sẽ được phân tích ở phần sau
2.2.2 Hoạt động của các NHTM trên TTCK Việt Nam
ra công chúng và đăng ký lại trái phiếu để niêm yết trên TTGDCK với tổng giá trịđăng ký là 1069 tỷ đồng Thực tế mới niêm yết 157.7 tỷ Việt Nam đồng trái phiếu
vô danh Trái phiếu của NHĐT&PTVN có lãi suất thả nổi tương đối hấp dẫn vàđược người đầu tư cá thể nắm giữ rộng rãi nên giao dịch thường xuyên hơn tráiphiếu Chính phủ Song số lượng giao dịch cũng rất hạn chế Để tăng tính hấp dẫncho các trái phiếu, ngân hàng đã cung cấp các tiện ích cho khách hàng như chophép sử dụng trái phiếu để cầm cố để vay vốn tại NHĐT&PTVN với lãi suất thấphơn lãi suất cho vay cùng loại tối đa đến 0.5% và khách hàng được vay tới 90% giátrị trái phiếu cầm cố Khách hàng cũng có thể sử dụng trái phiếu này để làm đảmbảo mở tài khoản sử dụng thẻ tín dụng, thẻ rút tiền tự động qua máy ATM, được sửdụng thay cho tiền ký quỹ trong thanh toán quốc tế
Trang 7NHNTVN cũng đã thực hiện đợt phát hành trái phiếu ngoại tệ đầu tiên từ24/9/2001 đến ngày 23/11/2001 Đây là trái phiếu có lãi suất thả nổi với thời hạn 5năm và được phát hành theo cả 3 phương thức là trái phiếu đích danh, trái phiếu vôdanh và trái phiếu ghi sổ.
Từ ngày 15/9/2003, NHNN&PTNTVN phát hành 3000 tỷ đồng Trái phiếu, với
kỳ hạn 2-5 năm NHCT, NHĐT&PTVN đang tiếp tục thực hiện phát hành tráiphiếu của mình để tăng quy mô vốn nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong quátrình hội nhập
Theo luật định, các NHTM cổ phần có thể phát hành cổ phiếu lần đầu để thànhlập và phát hành các lần tiếp theo để tăng vốn theo yêu cầu của NHNN hoặc donhu cầu phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng Tuy nhiên, vốn góp củacác NHTM cổ phần chủ yếu là hùn vốn của các NHTM Nhà nước, của các tổngcông ty Nhà nước và một số cổ đông lớn Tất cả các NHTM cổ phần mới chỉ thựchiện phương thức phát hành riêng lẻ Chưa có một loại cổ phiếu nào của cácNHTM được niêm yết trên thị trường tập trung và cũng chưa có ngân hàng nào tổchức phát hành cổ phiếu ra công chúng
Trang 8Như vậy có thể thấy, hoạt động phát hành chứng khoán của các NHTM cònchưa nhiều Điều này là do những nguyên nhân xuất phát từ chính các NHTM cũngnhư từ phía các cơ quan quản lý, sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam.
Thứ nhất là sự yếu kém của các NHTM Các NHTM có quy mô vốn nhỏ, chất
lượng kinh doanh còn thấp khi phát hành chứng khoán, tính thanh khoản trên thịtrường rất thấp Hơn nữa, do sợ bị chia sẻ hoặc bị quyền kiểm soát, các ngân hàng
không muốn phát hành cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn Thứ hai là do thủ
tục quá chặt chẽ khi NHTM phát hành chứng khoán để niêm yết trên TTCK CácNHTM muốn phát hành chứng khoán trên TTCK phải chịu được sự đồng ý của cảNHNN và UBCKNN, mà trên thực tế quan điểm của hai cơ quan này vẫn cònnhiều sự khác nhau Vì vậy, các NHTM vẫn tập trung huy động vốn ngắn hạn qua
phát hành kỳ phiếu và các loại chứng chỉ tiền gửi Thứ ba, do thị trường tài chính
chưa phát triển làm cho các tổ chức phát hành không xác định được yếu tố chi phívốn và khả năng phát hành thành công sẽ không cao Các nhân tố này ảnh hưởngkhông nhỏ, hạn chế khả năng phát hành trái phiếu của các NHTM
Nâng cao năng lực tài chính, mà chủ yếu tăng vốn chủ sở hữu, đó là nội dung
cơ bản để cơ cấu lại hệ thống NHTM Việt Nam trước xu thế hội nhập Theo dựkiến của NHNN Việt Nam, cả 5 NHTM quốc doanh sẽ được cổ phần hóa và niêmyết trên TTCK Trước mắt, trong năm tới, sẽ tiến hành cổ phần hóa đối vớiNHNTVN và Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu long Tuy nhiên,những quy định cụ thể vẫn còn phải chờ như Nhà nước nắm giữ bao nhiêu cổ phầnsau khi cổ phần hóa, cổ phiếu bán cho đối tượng nào, thậm chí đã có những vấn đềrất mới như phát hành trái phiếu chuyển đổi thành một số cổ phiếu sau một thờigian nắm giữ
Cũng trong thời gian sắp tới, hai NHTMCP là ACB và Sacombank sẽ là nhữngngân hàng đầu tiên tiến hành niêm yết cổ phiếu trên TTCK
Trang 9Điều này sẽ là những tiền đề góp phần cho sự phát triển của các NHTM nóiriêng và TTCK nói chung.
2.2.2.2 Hoạt động đầu tư chứng khoán
Hoạt động đầu tư chứng khoán được xem là hoạt động quan trọng của cácNHTM Với tư cách là nhà đầu tư có tổ chức, hoạt động đầu tư chứng khoán củaNHTM cũng là yếu tố trợ giúp cho việc tăng chất lượng và hiệu quả thị trường.Các NHTM thực hiện hoạt động đầu tư chứng khoán trực tiếp hoặc thông qua hoạtđộng tự doanh của các CTCK thuộc ngân hàng
Cho tới nay, chưa có một NHTM nào có chiến lược cụ thể đối với hoạt độngđầu tư chứng khoán Điều này được thể hiện qua danh mục đầu tư
Các NHTM là thành viên quan trọng của thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc.Thị trường đấu thầu Tín phiếu Kho bạc qua NHNN được đưa vào hoạt động từnăm 1994 Đây là một kênh huy động vốn rất quan trọng để đáp ứng kịp thời vốncho Ngân sách Nhà nước nói riêng và cho nền kinh tế nói chung Theo đó, tạo tiền
đề cho phát triển TTCK Đến nay, thị trường đấu thầu Tín phiếu Kho bạc có 44thành viên trong đó có 6 NHTM Nhà nước; 16 NHTM cổ phần Trong năm 2002,NHNN đã tổ chức được 58 phiên đấu thầu Tín phiếu Kho bạc, tổng khối lượngtrúng thầu Tín phiếu kho bạc đạt 7245 tỷ đồng trong đó thành viên tham gia chủyếu vẫn là các NHTMNN, chiếm đến 97,2% tổng lượng trúng thầu Đối với cácNHTM việc đầu tư vào Tín phiếu Kho bạc không chỉ là một hình thức đầu tư đơnthuần mà còn là một hình thức dự phòng đảm bảo khả năng thanh khoản
Các NHTM tham gia đại lý phát hành Trái phiếu Chính phủ và là thành viêncủa thị trường đấu thầu Trái phiếu Chính phủ Trung tâm giao dịch chứng khoán làđầu mối phát hành Trái phiếu Chính phủ thông qua hoạt động đấu thầu Tính đếncuối năm 2003, Trung tâm đã tổ chức được 75 phiên với tổng khối lượng phát hànhđược là 3588 tỷ đồng Tuy nhiên thành viên tham gia chủ yếu là các NHTMNN,các CTCK, NHTMCP
Trang 10Các NHTM còn đầu tư vào trái phiếu công trình, trái phiếu đô thị tuy nhiênhầu như mới chỉ có một số NHTMNN là thực hiện còn các NHTM khác vẫn đứngngoài cuộc Đợt phát hành trái phiếu đô thị của TPHCM bắt đầu thực hiện từ đầutháng 9/2003 với tổng mệnh giá là 1200 tỷ đồng, kỳ hạn 5 năm, lãi suất 9%/ năm.Trong số đó, NHNTVN và NHĐT&PTVN đã đăng ký mua 950 tỷ đồng, số còn lại
250 tỷ đồng do CTCK VCBS bảo lãnh phát hành cũng đã được khách hàng đăng
ký mua hết
Thực hiện Luật các tổ chức tín dụng và chủ trương của Chính phủ, cácNHTMNN đã tham gia đầu tư vào cổ phiếu các doanh nghiệp, trong đó, khoảng70% là đầu tư vào cổ phiếu của các tổ chức tín dụng
Tuy nhiên danh mục đầu tư của các NHTM chưa đa dạng và quy mô đầu tưchưa tương xứng với tiềm năng Một phần là do các NHTM còn tập trung ở các thịtrường truyền thống, chưa chủ động tìm kiếm và đầu tư sang các lĩnh vực khác,mặt khác, tính tự chủ của các NHTM còn chưa cao do sự quản lý chặt chẽ của các
cơ quan quản lý Nhà nước
Ngoài hoạt động đầu tư chứng khoán trực tiếp, các NHTM có thể thực hiện
hoạt động này thông qua nghiệp vụ tự doanh của các CTCK thuộc ngân hàng.
Theo nghị định 144/NĐ-CP, số vốn pháp định tối thiểu để các CTCK có thểhoạt động tự doanh là 12 tỷ đồng, đây là nguồn tài chính cơ bản đảm bảo hoạtđộng tự doanh của công ty
Hiện nay, cả 6 công ty chứng khoán của các NHTM đều được cấp phép thực
hiện nghiệp vụ này Các CTCK mua chứng khoán niêm yết và chứng khoán không
niêm yết Tuy nhiên do hạn chế về vốn, lượng chứng khoán còn hạn chế nên lượngchứng khoán do các CTCK nắm giữ không nhiều Các CTCK chia hoạt động tựdoanh làm hai mảng: tự doanh trái phiếu và tự doanh cổ phiếu
Trang 11Hoạt động tự doanh phổ biến của các CTCK hiện nay là mua chứng khoán
niêm yết lô lẻ dựa trên cơ sở thỏa thuận về giá cả, sau đó tập hợp lại thành lô chẵn
để bán lại trên thị trường Đây là hoạt động mang lại lợi nhuận cao cho các CTCKthuộc ngân hàng
Vào quý I/2001, tổng giá trị tự doanh CTCK ACBS đạt doanh thu trên 5 tỷ.Đến quý II/2001, tổng giá trị tự doanh của các CTCK giảm mạnh còn 50% so vớiquý I, chỉ có VCBS là tăng nhẹ Sang đến quý III, quý IV chỉ tiêu này có tăng, tuynhiên tổng giá trị tự doanh của các CTCK năm 2001 là trên 80 tỷ đồng so vớilượng phí thu được từ hoạt động môi giới là trên 90 nghìn tỷ thì con số này chưathực sự thuyết phục trong khi các CTCK đăng ký nghiệp vụ này đều có tiềm lựcvốn khá lớn ( ít nhất là 20 tỷ đồng)
Trong quý II/2002, nghiệp vụ tự doanh tiếp tục tăng ở các công ty như ARSC,ACBS với tổng giá trị tự doanh của các công ty tăng gấp 2 lần so với quý trước.Đến quý III và quý IV, tuy giá trị tự doanh ở các công ty đều giảm, thậm chí ởARSC qua cả hai quý đều không có một hoạt động giao dịch tự doanh nào nhưngtổng giá trị giao dịch toàn thị trường vẫn tăng gấp 3 lần so với quý II là do nghiệp
vụ này được VCBS khai thác mạnh với giá trị 91 tỷ trong quý III và đặc biệt tháng
11 thì tới 90% giá trị toàn thị trường là hoạt động tự doanh trái phiếu của công tynày
Trong năm 2003, một số thành viên VCBS, BSC, ARSC, IBS đã khai thác tối
đa vốn điều lệ của mình cộng với sự hỗ trợ của ngân hàng mẹ, thực hiện hoạt động
tự doanh mua lại trái phiếu chính phủ, trái phiếu ngân hàng và đã thực hiện bán lạitrên thị trường thứ cấp Trong khi đó, hoạt động tự doanh cổ phiếu chưa thực sựtương xứng với quy mô và tầm hoạt động của các CTCK của NHTM
Trang 12Nhìn chung, do đánh giá, nhận định và chiến lược kinh doanh của từng công ty
là khác nhau nên mức độ và chủng loại chứng khoán được đầu tư giữa các công tycũng khác nhau Hoạt động tự doanh của các công ty chủ yếu tập trung vào muabán lô lẻ, mua bán chứng khoán niêm yết BSC, IBS đã tập trung phần lớn trongtổng giá trị vốn tự doanh cuả mình vào trái phiếu NHĐT&PTVN và Trái phiếuChính phủ Còn ACBS đầu tư vào cổ phiếu chưa niêm yết nhưng chủ yếu là đầu tưchứng khoán dài hạn, trong khi VCBS đầu tư chủ yếu vào Trái phiếu Chính phủ.Việc các CTCK thuộc NHTM tích cực tham gia vào thị trường bằng nghiệp vụ
tự doanh đã góp phần tăng sức cầu đáng kể cho thị trường nhất là trong giai đoạnthị trường giảm sức cầu Tuy nhiên, hoạt động tự doanh của các CTCK tập trungchủ yếu vào đầu tư trái phiếu đã được niêm yết Đây là loại chứng khoán có độ antoàn cao Trên thực tế, chỉ một số ít công ty tiến hành đầu tư vào một vài loại cổphiếu mang tính thí điểm, thực hiện mua cổ phiếu lô lẻ và bán lại cho thị trường
Do vậy, tổng thu từ nghiệp vụ này còn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu của cácCTCK
2.2.2.3 Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán
Khi các doanh nghiệp có nhu cầu vốn, họ có thể tìm cách phát hành chứngkhoán Doanh nghiệp có thể tự đảm nhiệm việc phân phối chứng khoán Tuynhiên, trong trường hợp này, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề, màmột trong các rủi ro là doanh nghiệp không huy động đủ vốn, đáp ứng yêu cầu kinhdoanh Theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp phải thực hiện phát hành quahình thức bảo lãnh hoặc đại lý Bảo lãnh phát hành là điều bắt buộc đối với một đợtphát hành ra công chúng nếu tổng giá trị cổ phiếu phát hành theo mệnh giá lớn hơn
Trang 13- Tổ chức bảo lãnh không có liên quan tới tổ chức phát hành.
- Tổ chức bảo lãnh phát hành không được bảo lãnh phát hành một số lượngchứng khoán có giá trị lớn hơn 30% vốn tự có
- Vốn pháp định cho hoạt động này là 22 tỷ đồng
Nhu cầu vốn của Chính Phủ, các doanh nghiệp, các Quỹ hỗ trợ phát triển vàcác trung gian tài chính Việt Nam rất lớn, mở ra một tiềm năng lớn cho các NHTMthực hiện nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh phát hành
Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, việc các NHTM đứng ra bảo lãnhchứng khoán chưa được phát triển Thực tế này một mặt do nhu cầu bảo lãnh pháthành của các công ty niêm yết trên TTGDCK chưa có Mặt khác, có thể thấy ngaychính các CTCK, NHTM cũng còn dè dặt trước lĩnh vực này
Trong năm 2001, chỉ có IBS là có doanh thu từ hoạt động đại lý, bảo lãnh pháthành Ngân hàng Công thương đã bước đầu thành công trong nghiệp vụ đại lý pháthành chứng khoán thông qua 2 đợt phát hành trái phiếu của công ty tài chính ViệtNam (VIFC) với tổng giá trị đạt 20 tỷ đồng Tháng 10 năm 2001, IBS đại lý pháthành cổ phiếu cho NHTM cổ phần Kỹ thương với tổng mệnh giá lên tới 60 tỷđồng, trong đó có 30 tỷ đồng cổ phiếu được phát hành ra công chúng
Năm 2002, chưa có CTCK nào thuộc ngân hàng thực hiện bảo lãnh phát hành
cổ phiếu Công ty VCBS thực hiện bảo lãnh 6 đợt phát hành Trái phiếu Chính Phủqua Quỹ hỗ trợ phát triển Một số CTCK khác như ARSC, ACBS và VCBS đã làmđại lý phát hành kỳ phiếu của một số tổ chức tín dụng như Ngân hàng Phát triểnnhà đồng bằng Sông Cửu Long, NHNN&PTNTVN hoặc đại lý phát hành cổ phiếucông ty cổ phần bảo hiểm Nhà rồng
Trang 14Trong năm 2003, các công ty VCBS, ARSC, IBS đã thực hiện tham gia bảolãnh và đại lý phát hành hàng ngàn tỷ đồng Trái phiếu chính phủ, trái phiếu đô thị.Các CTCK BSC, ARSC, VCBS đã tham gia và đạt kết quả cao trong đấu thầu Tráiphiếu Chính phủ qua TTGDCK TPHCM Ngoài ra, các công ty còn ký tiếp cáchợp đồng bảo lãnh phát hành trái phiếu cho Quỹ hỗ trợ phát triển Việt Nam.
Một loại trái phiếu doanh nghiệp do tổng công ty dầu khí Việt Nam phát hành,đợt đầu từ tháng 9/2003 với tổng mệnh giá 300 tỷ đồng để huy động vốn cho các
dự án dầu khí, thời hạn 5 năm, lãi suất năm đầu tiên là 8,7%/ năm, doNHĐT&PTVN bảo lãnh phát hành và NHCTVN bảo lãnh thanh toán
Đối với cổ phiếu, lần đầu tiên, VCBS đã thực hiện bảo lãnh phát hành theophương thức cam kết chắc chắn cho một công ty cổ phần với tổng giá trị bảo lãnhgần 6 tỷ đồng vào cuối năm 2003
Hiện nay, theo chủ trương cải cách hệ thống các NHTM của Chính Phủ, đểtăng nguồn vốn đáp ứng nhu cầu hoạt động, các NHTM sẽ phát hành cổ phiếu đểnâng vốn chủ sở hữu, đồng thời các ngân hàng sẽ tăng cường phát hành trái phiếu
để huy động vốn trung và dài hạn Các Tổng công ty cũng đang trong quá trình cổphần hóa và sẽ phát hành trái phiếu, cổ phiếu để huy động vốn Đây là cơ hội đểcác NHTM phát triển nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán
Thực tế cho thấy, các NHTM đang cạnh tranh rất mạnh mẽ trong việc pháthành trái phiếu, cạnh tranh đứng ra làm đại lý phát hành và bảo lãnh thanh toán tráiphiếu đô thị, trái phiếu chính phủ, trái phiếu công trình và trái phiếu của các Tổngcông ty Xu thế cạnh tranh đó sẽ thúc đẩy sự phát triển của TTCK Việt Nam
2.2.2.4 Hoạt động tư vấn chứng khoán
Trang 15Hoạt động tư vấn đã bắt đầu được sự quan tâm phát triển tại các NHTM Tuynhiên, các hoạt động này còn đơn điệu, chưa có chiến lược phát triển rõ ràng Hìnhthức tư vấn còn đơn giản, thông tin còn nghèo nàn và chất lượng chưa cao, chủ yếuqua các tạp chí, chuyên san hoặc các Website Một số các NHTM đã thực hiện tưvấn cổ phần hóa, tư vấn tài chính doanh nghiệp.
Các CTCK của ngân hàng đều tổ chức tư vấn đầu tư chứng khoán cho kháchhàng thông qua việc phát các bản phân tích đánh giá về thị trường và hoạt động củacác công ty niêm yết Đa số các công ty như BSC ,VCBS đã có trang Web cậpnhật các thường xuyên các thông tin để các nhà đầu tư có thể tham khảo
Trước tình hình hoạt động giao dịch kém sôi động, một số thành viên đãchuyển sang thực hiện hoạt động tư vấn cổ phần hóa, tư vấn niêm yết
Tuy nhiên, thành công lớn nhất trong năm 2003 là hoạt động tư vấn và tổ chứcbán cổ phần lần đầu cho các DNNN cổ phần hóa sau khi Nghị định 64/NĐ-CP về
cổ phần hóa DNNN được ban hành thay thế Nghị định 44/NĐ-CP Các CTCK đã
tổ chức tư vấn và tổ chức cổ phần bán lần đầu cho hơn 50 DNNN cổ phần hóa.Cho tới nay, hoạt động tư vấn chứng khoán được hầu hết các CTCK chú trọngbởi vì đây được xem là nghiệp vụ quan trọng và chủ yếu đối với các công ty này.Các công ty đã và đang triển khai hoạt động tư vấn miễn phí cho các nhà đầu tư.Hoạt động này nhằm tạo lòng tin, thu hút khách hàng, hơn thế nữa giúp nhân viêncủa các công ty nâng cao nghiệp vụ, định hướng đầu tư cho khách hàng CácCTCK đã tiến hành hoạt động này qua khá nhiều hình thức phong phú và đa dạngnhư đã đưa ra bản tin chứng khoán hàng tuần cung cấp cho khách hàng và đưa lêntrang Web thông tin về thị trường được khách hàng đánh giá cao Cho đến nay, hầuhết các CTCK của các ngân hàng đã có bản tin cập nhật, phân tích, bình luận chotừng phiên giao dịch Tuy nhiên, hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán của cáccông ty hiện nay vẫn được đánh giá là chưa đáp ứng được nhu cầu nhà đầu tư
2.2.2.5 Hoạt động môi giới chứng khoán
Trang 16Hoạt động môi giới là một đặc quyền của các CTCK Cả 7 CTCK thuộc ngânhàng đều có giấy phép thực hiện nghiệp vụ này, song hoạt động này mới ở giaiđoạn còn đơn giản, tính chủ động chưa cao.
Theo quy định tại điều 30 Nghị định 48/NĐ-CP và điều 66 Nghị định
144/NĐ-CP, một CTCK muốn cung cấp dịch vụ môi giới chứng khoán phải đượcUBCKNN cấp phép, vốn pháp định tối thiểu là 3 tỷ đồng Hoạt động môi giới củacác CTCK thuộc ngân hàng có kết quả như sau:
Hoạt động mở tài khoản giao dịch chứng khoán
Số lượng tài khoản mở tại các CTCK thuộc ngân hàng tăng mạnh qua cácnăm Tính đến cuối năm 2003, số lượng tài khoản mở tại các CTCK của cácNHTM chiếm tới 70% toàn bộ số lượng tài khoản khách hàng mở tại tất cả cácCTCK Trong năm 2003, trước tình hình hoạt động giao dịch giảm sút, các CTCKkhông ngừng nâng cao dịch vụ khách hàng và mở nhiều đại lý nhận lệnh ở cáctỉnh, thành phố do đó số lượng tài khoản tăng ở hầu hết các công ty Trong đó,VCBS là CTCK có số lượng tài khoản tăng cao nhất trong năm nhờ việc phát triểncông nghệ kinh doanh chứng khoán thông qua cung cấp dịch vụ đặt lệnh qua mạngInternet Tuy nhiên, việc tăng số lượng các tài khoản không thể hiện mức độ hoạtđộng môi giới của các thành viên
Trang 17Bảng sau đây sẽ thể hiện mức tăng trưởng số lượng tài khoản mở tại cácCTCK qua các năm 2000- 2003:
Bảng 2.1: Số lượng tài khoản giao dịch mở tại các CTCK từ năm 2000-2003
Đơn vị: Tài khoản
Nguồn: UBCKNN
Về trình độ của các nhà môi giới
Xuất phát từ đặc điểm của nghề môi giới đòi hỏi những người làm nghiệp vụnày phải có những phẩm chất, tư cách đạo đức, kỹ năng mẫn cán trong công việc,cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất Người môi giới phải có kỹ năngtruyền đạt thông tin, tìm kiếm khách hàng và kỹ năng khai thác thông tin
Trang 18Tuy nhiên, nghiệp vụ môi giới của các CTCK hiện nay chưa thực sự đúng vớinghiệp vụ môi giới thường thấy trên TTCK thế giới Các nhà môi giới Việt Namchỉ chủ động chờ và bán hộ, mua hộ khi khách hàng có yêu cầu Trình độ của cácnhà môi giới còn hạn chế Theo Nghị định 144, các nhà môi giới phải có đủ nănglực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, đáp ứng các tiêu chuẩn về đạo đức, cótrình độ chuyên môn Yêu cầu về trình độ chuyên môn là tối thiểu phải có bằngtrung học phổ thông và có đủ các chứng chỉ chuyên môn về chứng khoán doUBCKNN cấp Tuy nhiên, các yêu cầu này là chưa đủ đối với một nghề như nghềmôi giới Mặc dù hiện nay, Việt Nam đã có Hiệp hội môi giới và kinh doanh chứngkhoán nhưng tổ chức này chưa thực sự phát huy được vai trò của mình.
Phí môi giới thu được của các CTCK trong năm 2002 giảm mạnh so với năm
2001 Theo số liệu thống kê của UBCKNN, lượng phí môi giới thu được trong năm
2002 của 6 CTCK này đạt hơn 3.2 tỷ đồng trong khi con số của 2001 là hơn 4.1 tỷđồng Nguyên nhân là năm 2001 các CTCK đồng loạt áp dụng mức phí môi giới là0.5% trên tổng gá trị giao dịch nên tổng phí môi giới thu được khá cao Kể từtháng 4 năm 2002, để nâng cao sức cạnh tranh, các công ty đua nhau giảm phí Dovậy, doanh thu từ phí môi giới của năm 2002 giảm rõ rệt Điều này thể hiện quabảng sau:
Bảng 2.2: Doanh thu từ hoạt động môi giới chứng khoán của các CTCK
Trang 19Nguồn:UBCKNN
2.2.2.6 Hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
Hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán còn chưa phát triển CácCTCK của ngân hàng đều được cấp phép thực hiện nghiệp vụ này Song mới chỉ
có IBS, TSC triển khai thực hiện và doanh thu từ hoạt động này còn khiêm tốn sovới tiềm năng Gần đây nhất là TSC đã ký hợp đồng quản lý danh mục đầu tư vớiNHTM cổ phần Quân đội Tuy nhiên, việc triển khai không được tốt và mang tínhtập dượt Trong quý I/2003, không CTCK nào thực hiện có doanh thu từ hoạt độngquản lý danh mục đầu tư Các công ty vẫn tiếp tục thực hiện các hợp đồng đã kýkết nhưng gặp rất nhiều khó khăn do tình hình thị trường diễn biến không ổn định.Theo luật các tổ chức tín dụng, bản thân các NHTM cũng có thể thực hiệnnghiệp vụ này Tuy nhiên, cho đến nay, các ngân hàng chưa triển khai mạnh hoạtđộng quản lý danh mục đầu tư
Tham gia quản lý quỹ đầu tư, hiện nay mới chỉ có NHTMCP Sacombank thựchiện thông qua liên doanh với công ty Dragon Capital quản lý quỹ VIETFUND.Hai đơn vị này có trách nhiệm đóng góp vốn vào quỹ đầu tư như đã cam kết, trong
đó Sacombank góp 70% vốn pháp đinh của quỹ( 8 tỷ đồng) Quỹ này huy độngkhoảng 300 tỷ đồng để thực hiện việc đầu tư chứng khoán qua danh mục đa dạngnhằm giảm rủi ro và đem lại mức sinh lời cao cho các nhà đầu tư vào quỹ
2.2.2.7 Các hoạt động khác
Hoạt động lưu ký chứng khoán hiện nay do các thành viên lưu ký thực hiện.
Đến nay, có 5 NHTM và các CTCK được cấp giấy phép thực hiện hoạt động này,trong đó có 2 NHTM Việt Nam là NHĐT& PTVN ; NHNTVN và 3 chi nhánhngân hàng nước ngoài là ngân hàng Hồng Kông(HSBC), ngân hàng DeutscheBank, Standard Chartered Bank Sự tham gia của 5 NHTM làm thành viên lưu kýđược xem là sự tham gia trực tiếp của các ngân hàng vào dịch vụ chứng khoán màkhông cần thiết phải thành lập công ty con
Trang 20Hoạt động lưu ký chứng khoán đã được các thành viên lưu ký và các CTCKtích cực triển khai ngay từ những ngày đầu được phép thực hiện Mọi quy định củaUBCKNN và của TTGDCK đều được thực hiện nghiêm túc Nhìn chung, cácthành viên luôn tìm cách thu hút khách hàng vào lưu ký tại công ty mình, song dongày càng có nhiều thành viên được cấp giấy phép hoạt động nên đã diễn ra sựcạnh tranh giữa các thành viên Có thành viên mới được cấp phép hoạt động đãkhẳng định vị thế của mình trên thị trường như VCBS chiếm 5.09% thị phần.
Tuy nhiên, số lượng các tổ chức lưu ký còn thấp, các NHTM chưa quan tâmphát triển đến hoạt động này một cách đúng mức nên chưa có hoạt động tuyêntruyền, vận động về lợi ích các dịch vụ quản lý, bảo quản và thanh toán chứngkhoán Thủ tục thanh toán, quản lý chứng khoán còn phức tạp và chưa thuận lợi,chưa tạo lòng tin của công chúng đầu tư
Ngân hàng chỉ định thanh toán
NHĐT&PTVN được chỉ định là ngân hàng thanh toán vào ngày 26/11/1999.Việc phát triển hệ thống thanh toán và lưu ký đã góp phần quan trọng trong việcđảm bảo các giao dịch của thị trường chính thức NHĐT&PTVN đã xây dựng được
cơ sở vật chất và công nghệ vững mạnh đáp ứng hiệu quả các yêu cầu phục vụthanh toán của TTGDCK Ngân hàng cũng cung ứng ngày càng nhiều dịch vụ liênquan đến hoạt động thanh toán của NHCĐTTCK như mở tài khoản cho các thànhviên tham gia, thực hiện các lệnh thanh toán bù trừ, đối chiếu, kiểm soát, cho vaytạm thời
Bảng 2.3 : Một số chỉ tiêu hoạt động chính của NHCĐTTCK
Đơn vị: triệu đồng
Giá trị thanh toán bù trừ 38.509 396.465 452.182 838.655Doanh số cho vay ứng trước