1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NHĐT TRONG CÁC NHTM Ở BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY

27 390 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng về việc phát triển dịch vụ NHĐT trong các NHTM ở Bình Dương hiện nay
Chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 704,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã trình Chính phủ ban hành và ban hành hệ thống văn bản pháp lý khá đồng bộ liên quan đến công tác bảo mật thông tin trong hoạt động ngân hàng: - Thông t

Trang 1

THỰC TRẠNG VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NHĐT TRONG CÁC NHTM Ở BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY

2.1 Các yếu tố cần thiết cho sự phát triển dịch vụ NHĐT tại Bình

Dương:

Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đặc biệt là ngành CNTT, đã tác động mạnh đến mọi mặt hoạt động của đời sống, kinh tế - xã hội, làm thay đổi nhận thức và phương pháp sản xuất kinh doanh của nhiều lĩnh vực, nhiều ngành kinh tế khác nhau, trong

đó có lĩnh vực hoạt động ngân hàng

Phát triển các dịch vụ của NHĐT là xu hướng tất yếu, mang tính khách quan trong nền kinh tế hiện đại, trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế Lợi ích đem lại của NHĐT là rất lớn cho khách hàng, ngân hàng và cho nền kinh tế, nhờ tính tiện ích, tiện lợi, nhanh chóng, chính xác và bảo mật Các yếu tố nền tảng cho sự ra đời của dịch vụ NHĐT tại Việt Nam nói chung và ở tỉnh Bình Dương nói riêng bao gồm:

2.1.1 Cơ sở pháp lý:

Dịch vụ NHĐT với việc sử dụng công nghệ mới đòi hỏi khuôn khổ pháp lý mới Các dịch vụ NHĐT chỉ có thể triển khai được hiệu quả và an toàn khi các dịch vụ này được công nhận về mặt pháp lý

Chữ ký điện tử đã được ứng dụng và biết đến từ khá lâu Việt Nam cũng đã triển khai Theo

quyết định 44/2002/QĐ-TTg của Thủ tưởng Chính phủ, từ năm 2002 đã thừa nhận các yếu tố của chứng từ điện tử và chữ ký điện tử trong thanh toán của hệ thống ngân hàng

Ngày 29/11/2005, Quốc hội đã thông qua Luật giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 Luật

này đã chính thức được áp dụng vào ngày 1/3/2006 sau hai năm soạn thảo Tốc độ ra đời của một bộ luật như vậy phần nào nói lên nhu cầu của thực tiễn Luật giao dịch điện tử ra đời đã giúp giảm các hoạt động thủ công trong ngành ngân hàng và giảm lượng tiền mặt trên thị trường, vì đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho các giao dịch điện tử Về cơ bản, bộ Luật gồm 8 chương, 54 điều bao gồm hầu hết các yếu tố, bên liên quan đến 1 giao dịch điện tử Việc ra đời

bộ Luật với nội dung về cơ bản giống như các điều của bộ Luật thương mại điện tử mẫu do UNICTRAL (The United Nations' Commission on International Trade Law) biên soạn - Luật giao dịch điện tử của một số nước như Úc và Singapor đã dựa trên đó - thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc đẩy mạnh các giao dịch điện tử cũng như việc hội nhập với nền kinh tế tri thức khu vực và thế giới

Trang 2

- Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007 quy định chi tiết thi hành luật giao dịch

điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số

- Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23/02/2007 quy định chi tiết thi hành luật giao dịch

điện tử trong hoạt động tài chính

- Nghị định số 35/2007/NĐ-CP ngày 08/03/2007 quy định về giao dịch điện tử trong hoạt

động Ngân hàng

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã trình Chính phủ ban hành và ban hành hệ thống văn bản pháp lý khá đồng bộ liên quan đến công tác bảo mật thông tin trong hoạt động ngân hàng:

- Thông tư số 09/2003/TT-NHNN ngày 5/8/2003 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thực hiện một số quy định tại Nghị định 55/2003/NĐ-CP ngày 23/8/2003 của Chính phủ về quản

Sáng 17-9- 2009, tại trường Chính trị tỉnh, Sở Tư pháp phối hợp với Sở Thông tin

và Truyền thông tỉnh Bình Dương đã tổ chức Hội nghị triển khai Luật Giao dịch điện tử và các văn bản hướng dẫn thi hành cho lãnh đạo các Sở, Ủy ban, ban, ngành, các trường đại học, cao đẳng, doanh nghiệp, cán bộ tư pháp các huyện thị, xã phường trên địa bàn tỉnh Qua đó thấy được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo trong việc nâng cao sự hiểu biết của mọi người đối với các giao dịch điện tử cũng như đưa các văn bản pháp luật phổ biến đến mọi người hơn

2.1.2 Điều kiện công nghệ kỹ thuật:

Với tính chất đặc thù, hoạt động ngân hàng gắn bó chặt chẽ với CNTT; CNTT là nền tảng kỹ thuật quan trọng để thực hiện các mặt hoạt động nghiệp vụ ngân hàng Thực tế cho thấy, ứng dụng nhanh công nghệ hiện đại vào hoạt động ngân hàng được xem là chìa khóa để các t

- Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 09/06/2006 hướng dẫn thi hành Luật giao dịch

Trang 3

đứng vững trong cạnh tranh Với phương châm từng bước ứng dụng và đổi mới công nghệ theo

hướng hiện đại, tự động hóa phục vụ sự nghiệp đổi mới hoạt động ngân hàng, các ngân hàng đã cung cấp được những sản phẩm, dịch vụ vừa đa dạng vừa đáp ứng sự nhanh chóng, tiện lợi cho khách hàng Đến nay, hơn 80% nghiệp vụ ngân hàng được xử lý trên máy tính ở các mức độ khác nhau Hầu hết các nghệp vụ đã được chuyển từ xử lý trên máy tính đơn lẻ sang phương thức

xử lý trên mạng Nhiều giao dịch ngân hàng (chuyển tiền điện tử, thẻ thanh toán và rút tiền

tự động ATM, Mobile banking, Home banking, Internet banking…) được xử lý trực tuyến trên môi trường máy tính và mạng internet, và đang từng bước được triển khai trên diện rộng.Được như trên chính là nhờ sự phát triển nhanh chóng cùng chất lượng ngày càng nâng cao của hệ thống CNTT và truyền thông ở nước ta Theo ông Houlin Zhao, Phó Tổng thư ký Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) tại Diễn đàn CNTT Thế giới 2009 (WITFOR 2009) diễn ra vào ngày 26 - 28/8/2009 tại Hà Nội thì 5 năm trước đây, Việt Nam thua xa các nước trong khu vực về phát triển CNTT nhưng nay Việt Nam đã thu hẹp khoảng cách và trong một số lĩnh vực như truy cập Internet và sử dụng CNTT, Việt Nam thậm chí còn vượt cả Phillippines, “Sự phát triển CNTT-TT (gồm điện thoại di động, cố định và Internet, băng rộng) ở Việt Nam

đã vượt qua nhiều nước châu Á khác”

Theo số liệu chính thức cung cấp tại Diễn đàn WITFOR 2009, năm 2008, doanh thu ngành CNTT-TT Việt Nam đạt trên 10 tỷ USD, tỷ lệ sử dụng Internet đạt khoảng 25% và phổ cập điện thoại ở mức độ cao Trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã có những động thái khuyến khích cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông – yếu tố quyết định giúp giảm giá cả dịch vụ Thực tế, xu hướng giá viễn thông, Internet tại Việt Nam liên tục giảm, ngày càng tạo điều kiện truy cập cho mọi người dân Người dân ở các vùng nông thôn có thể dễ dàng truy cập Internet và các dịch vụ viễn thông khác với giá cả phải chăng

2.1.3 Điều kiện con người:

2.1.3.1 Trình độ và mức sống của người dân:

Mức sống của người dân là một trong những yếu tố quan trọng trong việc xem xét và phát triển dịch NHĐT Nếu người dân có mức thu nhập thấp hay nói cách khác là có ít tiền thì họ sẽ không quan tâm đến các dịch vụ ngân hàng, họ sẽ dùng tiền mặt để thanh toán thay vì dùng các phương thức giao dịch tự động Do vậy, phát triển kinh tế và nâng cao mức sống của ngừời dân luôn là yếu tố tiên quyết cho sự phát triển NHĐT

Hiện nay, mức sống của người dân trên địa bàn tỉnh Bình Dương cũng đã được nâng

Trang 4

cá nhân có nhu cầu về giao dịch, thanh tóan ngày càng tăng, điều này đòi hỏi các ngân hàng phải

hoàn thiện hệ thống của mình, trong đó NHĐT là một mảng rất quan trọng và mang lại nhiều lợi ích cho ngân hàng

Bên cạnh đó, mức độ nhu cầu về dịch vụ NHĐT còn phụ thuộc vào số lượng người sử dụng thường xuyên và thành thạo internet, chi phí và tốc độ truy cập internet cũng như các mạng di động, sự hiểu biết và tin tưởng của người tiêu dùng về chất lượng dịch vụ ngân hàng… “Với 86 triệu dân trong đó giới trẻ có độ tuổi dưới 35 chiếm trên 65% dân số và số người

sử dụng internet hiện đã vượt 20 triệu người, số thuê bao di động đạt gần 60 triệu, Việt Nam luôn được đánh giá là thị trường mới nổi giàu tiềm năng cho các dịch vụ trực tuyến và di động Số chủ thẻ và chủ tài khoản tiền gửi thanh toán ở Việt Nam đạt trên 15 triệu và có tốc độ tăng trưởng lên đến 200% hàng năm trong 3 năm (2006, 2007, 2008) Tuy nhiên, việc thanh toán trong lĩnh vực bán lẻ và TMĐT của người dân vẫn chủ yếu bằng tiền mặt” (Nguyễn Chiến Thắng, 2009)

2.1.3.2 Sự hiểu biết và chấp nhận dịch vụ NHĐT:

Hiện nay, thói quen sử dụng tiền mặt và tính “ì” của khách hàng trong việc sử dụng các dịch vụ mới chính là một trở ngại lớn trong sự phát triển của dịch vụ NHĐT Sự phổ biến của các dịch vụ NHĐT liên quan chặt chẽ tới sự chấp nhận của khách hàng hơn là những gì mà phía mời chào cung ứng dịch vụ đưa ra Vì thế, sự hiểu biết của đông đảo khách hàng về các dịch vụ NHĐT và ích lợi của các dịch vụ này là hết sức cần thiết Rõ ràng, các dịch vụ NHĐT là các dịch vụ hiện đại và tốt Tuy vậy, chúng ta không thể cho rằng có các dịch vụ tốt là

đủ Để xúc tiến các dịch vụ NHĐT các Ngân hàng cung cấp các dịch vụ này cần phải làm cho khách hàng biết rằng có những dịch vụ như vậy và hướng dẫn họ sử dụng các dịch vụ đó

2.1.3.3 Nguồn nhân lực của ngân hàng:

Các hệ thống thanh toán điện tử đòi hỏi một lượng lớn lao động được đào tạo tốt về CNTT-

TT để cung cấp các ứng dụng cần thiết, đáp ứng yêu cầu hỗ trợ và chuyển giao các tri thức

kỹ thuật thích hợp Thiếu các kỹ năng để làm việc trên Internet và làm việc với các phương tiện hiện đại khác, hạn chế về khả năng sử dụng tiếng Anh - ngôn ngữ căn bản của Internet cũng là những trở ngại cho việc phát triển các dịch vụ thanh toán điện tử

Hiện nay, đáp ứng nhu cầu của xã hội đối với nguồn nhân lực về TMĐT, nhiều trường cũng đã đưa TMĐT vào giảng dạy Theo kết quả điều tra “Tình hình đào tạo TMĐT tại các trường đại học và cao đẳng năm 2008” của Cục thương mại điện tử và Công nghệ thông tin

Trang 5

từ mốc năm 2003 Tuy nhiên, số lượng giảng viên giảng dạy vừa thiếu về số lượng vừa chưa đáp

ứng được nhu cầu đào tạo, giảng dạy thiếu sự gắn kết giữa học và hành, có sự khác biệt đáng

kể về nội dung và chất lượng của giáo trình giảng dạy giữa các trường… Kết quả của cuộc điều tra trên cũng chỉ ra rằng chỉ có 15% trường đại học và cao đẳng có giảng viên được đào tạo chuyên ngành TMĐT; 45% có giảng viên khác được bồi dưỡng thêm về TMĐT, 50% trường

có giảng viên tự nghiên cứu để giảng dạy; Về giáo trình, có 13 trường đại học và cao đẳng

có quy định thống nhất, 36 trường do giảng viên tự biên soạn…

Bên cạnh đó, nhân viên của ngân hàng cũng cần được trang bị tốt những kiến thức

về nghiệp vụ để đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao trong lĩnh vực phát triển nhanh chóng là ngân hàng, tạo sự đa dạng, nhanh chóng, tiện lợi của những sản phẩm, dịch vụ Đồng thời, sự năng động, thân thiện của nhân viên cũng rất cần thiết để đưa những sản phẩm, dịch vụ mới đến với khách hàng, để những sản phẩm, dịch vụ này ngày càng phổ biến hơn

2.2 Tình hình phát triển dịch vụ NHĐT trong các NHTM ở Bình Dương hiện

nay:

Bình Dương hiện nay đang là một trong những tỉnh thành có tốc độ phát triển cao nhất cả nước, do đó nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng của người dân ở đây cũng ngày càng nhiều hơn Nắm bắt được điều đó hiện nay các ngân hàng ở Bình Dương cũng đang ra sức thúc đẩy, phát triển các dịch vụ của ngân hàng mình, và dịch vụ NHĐT là một trong những dịch vụ đang được chú ý phát triển đặc biệt trong những năm gần đây:

2.2.1 Dịch vụ Call Centre:

Call Centre là một dịch vụ khá đơn giản, khách hàng khi có những thắc mắc chỉ cần điện thoại đến tổng đài chung của ngân hàng sẽ được giải đáp Và do sự đơn giản này nên nhiều ngân hàng hiện nay đã phát triển dịch vụ này từ rất sớm và đạt được những thành quả nhất định trong những năm qua:

- Ở ngân hàng Á Châu (ACB), khi khách hàng phát sinh yêu cầu sử dụng một số dịch

vụ của Ngân hàng, truy vấn thông tin hoặc yêu cầu giải đáp thắc mắc sẽ thực hiện gọi đến số điện thoại của tổng đài 083.8247247 hoặc 1800.577.775 (miễn phí cuộc gọi) để đặt lệnh thực hiện dịch vụ hoặc yêu cầu được tư vấn, hướng dẫn Dịch vụ này được ngân hàng ACB phát triển từ năm 2003 và đến nay nó đã trở nên phổ biến đối với người dân, đem lại những lợi ích nhất định cho ngân hàng và khách hàng

- Với ngân hàng Ngoại thương (VCB), trung tâm dịch vụ khách hàng 24x7

(Vietcombank

Trang 6

Phone B @ n k i ng , trung tâm còn đảm nhiệm một chức năng rất quan trọng là tư vấn trực tiếp khi

khách hàng gọi tới nhằm giải đáp, ghi nhận những thắc mắc của khách hàng liên quan tới sản phẩm, dịch vụ và chất lượng phục vụ của Vietcombank Đồng thời, dựa trên ứng dụng công nghệ hiện đại, Trung tâm Dịch vụ khách hàng 24x7 của Vietcombank còn chủ động liên hệ với khách hàng nhằm thông báo tình hình tài chính, ngày đến hạn các khoản tiền hoặc các chương trình khuyến mại, sản phẩm, dịch vụ mới

- Ngoài 2 ngân hàng lớn kể trên, hiện nay cũng đã có thêm rất nhiều ngân hàng triển khai dịch vụ Call Centre như: ngân hàng An Bình với tổng đài 08.38365.365 hoặc 1900.571.581; ngân hàng Đông Á tổng đài 1900.545464… với những cải tiến quan trọng, đáp ứng nhu cầu phục

vụ khách hàng ngày một tốt hơn

2.2.2 Dịch vụ Phone Banking:

Song song với dịch vụ Call Centre thì dịch vụ Phone Banking cũng đã có những bước phát triển rất tốt trong những năm gần đây khi mà các ngân hàng đã triển khai dịch vụ này từ rất sớm và liên tục có những bước cải tiến

- Một trong những ngân hàng triển khai dịch vụ Phone Banking khá tốt ở Bình Dương

mà ta có thể kể đến đó là VCB với Dịch vụ ngân hàng 24 x7 qua điện thoại VCB–Phone

B

khoản, thực hiện một số giao dịch thẻ, thực hiện một số giao dịch điện tử… Sau nhiều lần nâng cấp, cải tiến và lần gần đây nhất là vào năm 2009, dịch vụ VCB – Phone B @ n k i n g đã đáp ứng được hầu hết các nhu cầu và đem lại sự hài lòng cho khách hàng, đưa VCB trở thành một trong những ngân hàng phát triển dịch vụ Phone Banking tốt nhất hiện nay

- Ngoài ra cũng có thể kể đến một số ngân hàng khác ở Bình Dương đã phát triển dịch vụ

Phone Banking khá tốt như là Ngân hàng Sài Gòn thương tín (SCB) với tổng đài tự động

1900.5555.88, giúp khách hàng có thể truy vấn thông tin tỷ giá vàng, ngoại tệ, lãi suất tiền gửi hiện hành, truy vấn thông tin địa chỉ các điểm đặt máy ATM của SCB, truy vấn thông tin 05 giao dịch sau cùng và số dư trên các tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tài khoản tiền vay mà khách hàng sở hữu…; hay ACB với tổng đài khu vực TP HCM (08) 8.279.999 giúp khách hàng truy cập các thông tin về tỷ giá hối đoái, thông tin về lãi suất các

Trang 7

(nguồn: ngân hàng Ngoại thương Bình Dương)

- Bên cạnh VCB, vào tháng 6/2009 HD Bank triển khai gói dịch vụ SMS Banking cho phép khách hàng tra cứu, nhận thông tin tài khoản ngân hàng qua điện thoại di động, bằng cách dùng điện thoại di động nhắn tin theo cú pháp quy định của HD Bank, gửi tới số 8049 Với dịch vụ này, ngân hàng sẽ thông báo khi có biến động số dư tài khoản hoặc người sử dụng có

2.2.3 Dịch vụ Mobie Banking – SMS Banking:

Trong các dịch vụ của NHĐT thì dịch vụ Mobie Banking – SMS Banking được nhiều người tiêu dùng biết đến và sử dụng nhiều nhất do những tính năng tiện ích của nó, bạn chỉ cần 1 chiếc điện thoại di động và có thể giao dịch với ngân hàng qua chiếc điện thoại đó Dịch

vụ này hiện nay đang được các ngân hàng ở Bình Dương ra sức phát triển và đã đạt được những bước tiến đáng kể trong những năm vừa qua

- Vào năm 2005, VCB đã cho ra đời gói dịch vụ ngân hàng qua tin nhắn VCB-SMS

B

xem chi tiết các giao dịch gần nhất, nhận trợ giúp từ ngân hàng đối với các thông tin về tỉ giá, lãi suất, điểm giao dịch của VCB, nạp tiền điện thoại di động từ tài khoản tại ngân hàng,…

Từ khi ra đời đến nay tốc độ phát triển của dịch vụ này đã tăng trung bình trên 50%/năm, cụ thể vào năm 2009 đã tăng thêm 6706 khách hàng sử dụng dịch vụ (tương đương 75,05%) đạt

15641 khách hàng, và dự kiến vào năm 2010 sẽ tăng thêm 9385 khách hàng sử dụng tương ứng với tốc độ tăng trưởng 60% (nguồn: kế hoạch dịch vụ bán lẻ năm 2010 ngân hàng Ngoại thương Bình Dương)

Trang 8

- Bên cạnh ACB thì Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) cũng đã phát triển dịch vụ Home Banking khá tốt, với Techcombank HomeBanking, giờ đây khách hàng không phải trực tiếp đến Ngân hàng mà vẫn quản lý được giao dịch của mình mọi lúc, mọi nơi thông qua nhiều phương tiện Tuy không có nhiều tiện ích bằng dịch vụ Home Banking của ACB nhưng Techcombank HomeBanking cũng đã thu hút được rất nhiều khách hàng, đem lại

websitqudịcgia

cáhiệthự

vkđănviệ

vAC

2.2.4 Dịch vụ Home Banking:

Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Dương dịch vụ Home Banking còn là một dịch vụ tương đối mới mẻ đối với các ngân hàng, chưa có nhiều ngân hàng thực hiện triển khai dịch vụ này, vì vậy nó chưa được phổ biến lắm đối với người dân, tuy nhiên trong những năm gần cũng đã có một số ngân hàng chú trọng phát triển dịch vụ này, đem lại một số đột phá nhất định:

Trang 9

Gần đây, vào ngày 8/3/2010 ACB đã nâng cấp dịch vụ Internet Banking của mình với 2

chức năng vượt trội: Thêm phương thức bảo mật mới và thêm tiện ích cho phép khách hàng

tự tạo tài khoản tiền gửi Đầu tư trực tuyến với lãi suất cực hấp dẫn, đã đem lại cho khách hàng nhiều sự lựa chọn hơn

ACB đã áp dụng công nghệ bảo mật đường truyền SSL và firewall đem lại sự an tâm

Thông tin về biểu phí, lãi suất tiết kiệm, tỷ giá hối đoái

Thông tin về giá chứng khoán

Bảng giá vàng trực tuyến của sàn giao dịch vàng

sẽ có nhiều hơn các ngân hàng thực hiện triển khai và phổ biến dịch vụ này, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng

2.2.5 Dịch vụ Internet Banking:

Internet Banking là một dịch vụ mà hiện nay hầu hết các ngân hàng đều đã triển khai

và đang phát triển Với những tiện ích rõ nét mà nó đem lại, Internet Banking đã được người dân tin dùng và ngày càng phổ biến hơn Trang web của các ngân hàng hiện đã được quan tâm cải thiện với gần như đầy đủ thông tin cùng những tiện ích cần thiết

- ACB là một trong những ngân hàng đầu tiên triển khai dịch vụ Internet Banking ở Việt Nam vào năm 2003 Với dịch vụ này, khách hàng có thể truy cập vào website

www a c b c o m vn để lấy các thông tin và thực hiện các giao dịch sau:

+ Thông tin sản phẩm, dịch vụ mới của Ngân hàng một các nhanh chóng (sản phẩm tiền gửi thanh toán, sản phẩm tiền gửi tiết kiệm, sản phẩm tín dụng, sản phẩm NHĐT, thanh

Trang 10

dụng dịch vụ Internet Banking của ngân hàng tăng vọt trong những năm gần đây, đem lại một

doanh thu to lớn cho ngân hàng

- Cũng cùng phát triển dịch vụ Intenet Banking vào năm 2003 nhưng ngân hàng Techcombank lại không đạt được nhiều thành công như ngân hàng ACB do cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế nên dịch vụ chưa đem lại nhiều tiện ích Tuy nhiên vào năm 2007, Techcombank bỏ ra hơn 1 triệu USD để phát triển dịch vụ ngân hàng trực tuyến Điển hình là việc triển khai gói dịch vụ F @ s t i-bank cho phép khách hàng có thể thực hiện các giao dịch ngân hàng như: Chuyển khoản giữa các tài khoản trong và ngoài hệ thống Techcombank (có thể chuyển khoản lên tới 500 triệu đồng/giao dịch); Tra cứu số dư và các giao dịch tài khoản; Quản lý và tra cứu các khoản vay, khoản tiết kiệm; Thanh toán hàng hóa và dịch vụ (vé máy bay, các loại thẻ nạp tiền tại ht t p s : / / v c a r d v n … ), Hơn thế nữa, khách hàng còn có thể đặt lệnh thanh toán tự động hay đăng ký các sản phẩm, dịch vụ khác của ngân hàng

F

với sự hỗ trợ của hệ thống corebanking thế hệ mới nhất T24.R6 do nhà cung ứng hàng đầu thế giới Temenos (Thuỵ Sĩ) thực hiện Công nghệ này được kiểm nghiệm về tính an toàn, hiệu quả đáp ứng nhu cầu khắt khe về sử dụng dịch vụ tài chính, ngân hàng tại các ngân hàng hàng đầu thế giới nên đã đem lại sự an tâm cho khách hàng

Với những tính năng đầy tiện ích, F@ s t i-bank đã đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về một phương thức sử dụng dịch vụ ngân hàng hiện đại, tiện lợi và an toàn, phù hợp với xu hướng “số hoá” của cuộc sống Kể từ khi ra mắt từ tháng 8/2007, lượng khách hàng sử dụng sản phẩm này liên tục gia tăng, từ 1.226 năm 2008 (tính gộp cả mấy tháng cuối năm 2007) lên 3.278 năm

2009 và dự kiến đến hết năm 2010, Techcombank sẽ có trên 4.500 khách hàng (theo ht t p : / / w w w vn ec on o m y v n )

- Một ngân hàng nữa cũng rất chú trọng đến trang web của ngân hàng mình đó chính

là ngân hàng Đông Á Vừa qua, trang web của Ngân hàng Đông Á vừa được người tiêu dùng bình chọn hai giải nhất, một của website TMĐT mô hình B2C (doanh nghiệp - người tiêu dùng) và một của dịch vụ hỗ trợ hoạt động TMĐT trong chương trình bình chọn “Website

và dịch vụ TMĐT được người tiêu dùng ưa thích nhất năm 2009” do Sở Công Thương TPHCM phối hợp với Văn phòng phía Nam của Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam tổ chức (Nguồn: http://ww w th e s a i g ont i m e s v n )

Trang 11

vấn số dư, in sao kê tài khoản, thanh toán chuyển khoản, thanh toán hóa đơn, kiểm soát tình hình

chi tiêu thẻ tín dụng, truy vấn về tỉ giá, lãi suất, mạng lưới điểm giao dịch, các thông tin về sản phẩm, dịch vụ, v.v tại bất cứ nơi đâu có kết nối Internet Ngoài tên và mật khẩu truy cập tĩnh

để sử dụng ngân hàng trực tuyến qua Internet V C B - iB @ nk i n g , VCB còn cung cấp mật khẩu một lần sinh ngẫu nhiên OTP giúp khách hàng có thể an tâm tuyệt đối khi thực hiện giao dịch chuyển khoản, thanh toán qua Internet

VCB là một trong những ngân hàng phát triển dịch vụ Internet Banking rất tốt, điều này thể hiện qua việc gia tăng số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ này trong những năm gần đây Số khách hàng sử dụng dịch vụ Internet Banking tính đến năm 2009 của VCB là 4210 khách hàng, trong đó chỉ tính riêng năm 2009 là 2042 khách hàng, và kế hoạch vào năm 2010 con số này sẽ tăng thêm 2374 khách hàng (nguồn: kế hoạch dịch vụ bán lẻ năm 2010 ngân hàng Ngoại thương Bình Dương)

- Ở ngân hàng Công Thương (Vietinbank), với mục đích đem đến những tiện ích đa dạng, các giá trị gia tăng mới trên nền tảng công nghệ hiện đại cho khách hàng, sau một thời gian thử nghiệm, bắt đầu từ năm 2006 VietinBank đã chính thức triển khai dịch vụ vấn tin tài khoản ATM qua Internet Trải qua quá trình tìm tòi, cải tiến, từ tháng 01/2010, VietinBank chính thức triển khai dịch vụ đăng ký SMS Banking qua Internet Với tiện ích này, VietinBank là ngân hàng đầu tiên ở Việt Nam triển khai dịch vụ đăng ký vấn tin ATM qua Internet Ngoài ngân hàng công thương, hầu hết các ngân hàng khác khi muốn đăng ký truy vấn tài khoản trên trang web của ngân hàng đều phải đến phòng giao dịch của ngân hàng thực hiện

- Riêng đối với các ngân hàng có yếu tố nước ngoài thì dịch vụ Internet Banking là một trong những điểm mạnh của họ, với điều kiện về cơ sở vật chất, công nghệ kỹ thuật rất tốt, khối NHTM có yếu tố nước ngoài thực hiện dịch vụ Internet Banking với các tiện ích và chất lượng vượt trội so với NHTM Việt Nam, điển hình là việc HSBC Việt Nam được Global Finance bình chọn là ngân hàng có dịch vụ Inernet banking tốt nhất Việt Nam năm 2009

- Ngoài các ngân hàng trên, còn rất nhiều ngân hàng khác cũng đã triển khai dịch

vụ Internet Banking, ta có thể kể đến như là Ngân hàng Đông Á bằng cách truy cập vào trang web: t p s : / / e b a nkht i n g do n g a b a nk c o m v n đ ể thực hiện các giao dịch, hay ngân hàng HD với trang web: www h d b a n k c o m v n , An Bình Bank với trang web: ht t p s : / / e b a nk i n g a b b a n k v n Nhìn

Trang 12

NH Ngoại Thương

4

NH Quốc tế (VIB)25

NH Công Thương

45

NH Phương Đông50

NH Đông Á

34

NH BIDV2

NH An Bình

24

NH Techcombank7

NH Á Châu

(Nguồn: tự tổng hợp của nhóm tác giả)

Tuy nhiên, hiện nay một số ngân hàng ở Bình Dương vẫn chưa có máy ATM riêng

mà dùng chung hệ thống ATM của ngân hàng khác (như ngân hàng thương mai cổ phần Sài

Gòn-Hà Hội, Tiên phong bank…) hoặc có ít máy ATM và dùng máy ATM của ngân hàng khác kết nối ngân hàng mình (như trường hợp HSBC, 7 máy ATM của Techcombank kết nối HSBC).Bên cạnh đó, việc thanh toán hàng hóa, dịch vụ…tại các điểm chấp nhận thẻ dường như chưa được phát triển Số lượng máy POS tại địa bàn tỉnh Bình Dương hiện nay vẫn còn khá thấp, trong đó phần lớn lại nằm tại các trụ sở, phòng giao dịch của các ngân hàng

Từ tháng 5/2008, hệ thống thanh toán của 2 liên minh thẻ lớn nhất cả nước là Banknetvn

và Smartlink với trên 90% thị trường thẻ toàn quốc đã được kết nối liên thông Đây là một bước ngoặt đối với thị trường thẻ và đánh dấu việc ứng dụng CNTT theo chiều sâu trong ngành ngân

2.2.6 Dịch vụ thanh toán thẻ:

Phát triển thẻ là một tiền đề để phát triển dịch vụ NHĐT, khi đã sử dụng thẻ khách hàng sẽ phát sinh những nhu cầu về những tiện ích, những dịch vụ liên quan đến thẻ, mà NHĐT là một dịch vụ như thế Vì vậy muốn dịch vụ NHĐT phát triển thì các ngân hàng phải làm cho việc sử dụng thẻ trở nên phổ biến

Hiện nay, các ngân hàng ở Bình Dương vẫn đang đua nhau trong việc lôi cuốn khách hàng sử dụng thẻ của ngân hàng mình thông qua nhiều ưu đãi và cách tiếp cận khách hàng Đơn cử như ngân hàng Đông Á, nhân viên ngân hàng không ngần ngại đến từng hộ gia đình

để tuyên truyền đồng thời những cộng tác viên nhiệt tình đến các trường học đã thu hút một lượng lớn khách hàng sử dụng thẻ của ngân hàng này

Bảng 2: Số lượng máy ATM của một số ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bình Dương: (tính đến tháng 4/ 2010)

Đvt: chiếc

Trang 13

2.3 Khảo sát tình hình sử dụng dịch vụ NHĐT của khách hàng ở Bình Dương:

Để tìm hiểu về sự hiểu biết cũng như tình hình sử dụng dịch vụ NHĐT của người dân trên địa bàn tỉnh Bình Dương, nhóm nghiên cứu đã tiến hành 2 cuộc khảo sát Một là khảo sát các nhân viên ngân hàng, hai là khảo sát các khách hàng Nhóm tiến hành điều tra bằng cách xây dựng bảng hỏi, chọn mẫu, phát phiếu điều tra

- Nội dung bảng câu hỏi (phụ lục đính kèm): gồm bảng câu hỏi dành cho nhân viên ngân hàng và bảng câu hỏi dành cho khách hàng

Ngày đăng: 19/10/2013, 13:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Khung pháp lý cho TMĐT mới hình thành ở mức cơ bản, thiếu một văn bản pháp lý điều chỉnh  các  quan  hệ  trong  giao  dịch  điện  tử - THỰC TRẠNG VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NHĐT TRONG CÁC NHTM Ở BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY
hung pháp lý cho TMĐT mới hình thành ở mức cơ bản, thiếu một văn bản pháp lý điều chỉnh các quan hệ trong giao dịch điện tử (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w