Hoànthiện công tác này sẽ tạo cơ sở cho việc ra các quyết định cho thuê an toàn,nhanh chóng, nâng cao hiệu quả hoạt động thuê mua tài chính, góp phần thúcđẩy quá trình công nghiệp hoá- h
Trang 1Đề tài "Hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án tại công ty cho thuê tài
chính I - NHNN và PTNT"
Trang 2MỤC LỤC C L C ỤC LỤC
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỰ ÁN VÀ THẨM ĐỊNH 4
DỰ ÁN ĐẦU TƯ 4 1 Dự án đầu tư và thẩm định dự án đầu tư 4
1.1 Khái niệm dự án đầu tư 4
1.2 Thẩm định dự án đầu tư 4
Đánh giá hiệu quả của việc thực thi dự án đối với toàn bộ nền kinh tế là yêu cầu của công đoạn này Có những dự án dù hiệu quả về mặt tài chính cao tới đâu cũng có thể bị loại bỏ nếu vi phạm lớn vào lợi ích kinh tế quốc dân Mặt khác, các quốc gia hiện tại đã chú trọng vào việc phát triển đi kèm với bảo vệ môi trường Vì vậy một tác động xấu đến môi trường cũng có thể làm cho một dự án có hiệu quả cao về mặt tài chính bị loại bỏ 8
2 Hoạt động cho thuê mua tài chính 9
2.1 Sự hình thành và phát triển của nghiệp vụ cho thuê tài chính 9
2.2 Những nội dung cơ bản của cho thuê tài chính 10
2.3 Quy trình cho thuê tài chính 13
2.4 Vai trò, lợi ích của cho thuê tài chính đối với nền kinh tế 14
3 Thẩm định tài chính dự án đầu tư trong công tác thuê mua tài chính 19
3.1 Thẩm định tài chính dự án tại các công ty cho thuê tài chính 19
3.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư 31
CHƯƠNG II 34 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH I - NHNo&PTNT 34
1 Khái quát về công ty cho thuê tài chính 1 - NHNo & PTNT 34
1.1 Giới thiệu chung về Công ty cho thuê tài chính I 34
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 34
1.3 Chức năng, nghiệp vụ hoạt động của Công ty 36
1.4 Sơ đồ tổ chức Công ty 37
1.5 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong những năm gần đây của công ty cho thuê tài chính I 40
2 Thực trạng thẩm định tài chính dự án tại công ty cho thuê tài chính I 44
2.1 Tình hình chung về chất lượng tín dụng liên quan đến tình hình đầu tư tại công ty cho thuê tài chính I 44
2.2 Công tác thẩm định tại chính tại Công ty cho thuê tài chính I 47
2.3 Thẩm định tài chính dự án "Đóng tàu trọng tải 3500 tấn" của Công ty cổ phần thương mại và đầu tư Biển Việt 49
Trang 33 Đánh giá công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại công ty cho thuê tài
chính I 60
3.1 Những kết quả đạt được 60
3.2 Những tồn tại và nguyên nhân 62
CHƯƠNG III 68 GIẢI PHÁP ĐỀ NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN CÔNG TÁC 68
THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TẠI CÔNG TY 68 CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1 - NHNo&PTNT 68 1 Những giải pháp đề nghị 68
1.1 Giải pháp về nghiệp vụ 69
1.2 Những giải pháp gián tiếp 75
2 Những kiến nghị với các cấp hữu quan nhằm hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án 77
2.1 Đối với NHNo&PTNT 77
2.2 Đối với ngân hàng nhà nước 77
2.3 Kiến nghị của Chính phủ 78
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời kỳ hiện nay, đất nước ta đang thực hiện kế hoạch 5 năm (từ
năm 2001 đến năm 2005) thời kỳ phát triển một nền kinh tế công nghiệp hoáhiện đại hoá Nền kinh tế của một đất nước tiếp tục phát triển với tốc độ cao vàđang trên đà đạt được những thành tựu to lớn Góp phần vào thành công đó, làquá trình vận động và phát triển của các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc nhiềulĩnh vực Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng và phát triển đó, đầu tư là phươngpháp hữu hiệu được các nhà kinh doanh lựa chọn Tuy nhiên, đứng trước những
cơ hội đó, khả năng tài chính của những chủ thể kinh tế không phải lúc nào cũngđáp ứng được Đặc biệt là khi hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra ngày càngsôi động, những cơ hội đầu tư xuất hiện ngày càng nhiều, các chủ thể kinh tếcàng phải tiếp cận với các hình thức tài trợ vốn từ bên ngoài Tuy nhiên, cáchình thức tín dụng thông thường có những yêu cầu, ràng buộc nghiêm ngặt màmột số công ty nhỏ khó có thể đáp ứng Cho thuê tài chính ra đời đã giải quyếtđược vấn đề này
Với yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá, hoạt động đầu
tư ngày càng được khuyến khích ở Việt Nam, nhưng cho đến nay, khả năng tàitrợ vốn cho những dự án đầu tư từ các ngân hàng thương mại trong nước và thịtrường chứng khoán còn hạn chế Trong bối cảnh như vậy, cho thuê tài chính
sẽ là một phương thức hữu hiệu giúp các tổ chức kinh tế ở Việt Nam có thể thựchiện những dự án một cách hiệu quả
Đối với các nhà đầu tư thì mong muốn của họ đó là, dự án đầu tư mang lạihiệu quả, hạn chế được rủi ro, làm tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu Còn đốivới hoạt động cho thuê tài chính nói riêng và hoạt động tín dụng nói chung thìmột vấn đề không thể không quan tâm đó là công tác thẩm định dự án đặc biệt là
Trang 5thẩm định tài chính dự án Đây là khâu cơ bản dẫn đến quyết định cho thuê haykhông cho thuê là khâu giảm thiểu rủi ro trong quá trình thực hiện dự án Hoànthiện công tác này sẽ tạo cơ sở cho việc ra các quyết định cho thuê an toàn,nhanh chóng, nâng cao hiệu quả hoạt động thuê mua tài chính, góp phần thúcđẩy quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá nền kinh tế.
Với mong muốn tìm hiểu và đóng góp những đề xuất đối với công tácthẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho thuê tài chính, trong thời gianthực tập tại công ty cho thuê tài chính I - NHN0 & PTNT em đã thực hiện đề tài:
"Hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án tại công ty cho thuê tài chính
I - NHN 0 & PTNT"
Kết cầu đề tài gồm 3 chương
Chương I: Những vấn đề cơ bản về dự án và thẩm định dự án đầu tư
Chương II: Thực trạng thẩm định tài chính dự án tại công ty cho thuê tài chính I -NHN 0 &PTNT.
Chương III: Giải pháp đề nghị góp phần hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án tại công ty cho thuê tài chính 1 - NHN 0 &PTNT.
Đề tài được hoàn thành tại công ty cho thuê tài chính I-NHN0 &PTNTdưới sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn và cán bộ công nhân viêncông ty cho thuê tài chính I-NHN0 &PTNT
Để bài viết được hoàn chỉnh hơn em mong nhận được những ý kiến đónggóp của thầy cô và bạn bè
Em chân thành cảm ơn!
Trang 6CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỰ ÁN VÀ THẨM ĐỊNH
DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1 Dự án đầu tư và thẩm định dự án đầu tư
1.1 Khái niệm dự án đầu tư
Dự án đầu tư là tập hợp những ý tưởng, giải pháp, hành động cụ thể nhằmđạt được một mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định nào đó
Dù được xem xét dưới bất kỳ góc độ nào thì dự án đầu tư cũng bao gồmcác thành phần chính như sau:
- Các mục tiêu cần đạt đựoc khi thực hiện dự án:
Cụ thể là khi thực hiện, dự án sẽ mang lại những lợi ích gì cho chủ đầu tư.Những mục tiêu này cần được biểu hiện bằng kết quả cụ thể, mang tính địnhlượng rõ ràng
- Các hoạt động của dự án:
Dự án phải nêu rõ những hoạt động cụ thể phải tiến hành, địa điểm diễn racác hoạt động của dự án, thời gian cần thiết để hoàn thành, và các bộ phận cótrách nhiệm thực hiện những hoạt động đó Cần lưu ý rằng các hoạt động đó cómối quan hệ với nhau vì tất cả đề hướng tới sự thành công của dự án và các mốiquan hệ đó diễn ra trong một môi trường không chắc chắn Bởi vì môi trường dự
án không phải là môi trường hiện tại mà là môi trường tương lai
- Các nguồn lực:
Hoạt động của dự án không thể thực hiện được nếu thiếu các nguồn lực vềvật chất, tài chính, con người… Vì vậy, phải nêu rõ các nguồn lực cần thiết cho
dự án Tổng hợp các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho dự án Mỗi dự
án bao giờ cũng được xây dựng và thực hiện trong sự giới hạn về nguồn lực
1.2 Thẩm định dự án đầu tư
1.2.1 Khái niệm
Thẩm định tài chính dự án được xem là một nội dung kinh tế quan trọng
Nó nhằm đánh giá tính khả thi về mặt tài chính của dự án và là cơ sở để đánh giá
Trang 7hiệu quả kinh tế, xã hội Vậy thẩm định tài chính dự án đầu tư là gì? Có thể địnhnghĩa một cách tổng quát như sau: "Thẩm định tài chính dự án của doanh nghiệp
là việc xem xét đánh giá các bảng dự trù tài chính, trên cơ sở đó xác định cácluồng lợi ích chi phí tài chính dự án, so sánh các luồng lợi ích tài chính này trên
cơ sở đảm bảo nguyên tắc giá trị thời gian của tiền với chi phí và vốn đầu tư banđầu để đưa ra kết luận về hiệu quả và mức độ rủi ro của dự án để kịp thời khắcphục"
1.2.2 Sự cần thiết của thẩm định dự án
Như vậy, thẩm định tài chính dự án là việc xem xét các chỉ tiêu của dự án
do chủ đầu tư để từ đó kiểm tra các chỉ tiêu này thông qua các phương phápnghiệp vụ thẩm định trên cơ sở đã tính đủ các yếu tố tài chính của dự án
Thẩm định tài chính dự án đầu tư thực chất là tập hợp các hoạt động nhằmxác định luồng tiền của dự án như tổng mức đầu tư, nguồn tài trợ và tính toán,phân tích các chỉ tiêu trên cơ sở các luồng tiền nhằm đưa ra các đánh giá về hiệuquả tài chính của dự án đầu tư
Việc thẩm định tài chính dự án đầu tư có thể được các kết quả phân tíchđánh giá hiệu quả kinh tế, tài chính của dự án chính là một căn cứ trước hết đểđưa ra một quyết định đầu tư
Thẩm định tài chính dự án là cần thiết, có tính quyết định trong việc trảlời dự án có được chấp nhận để đầu tư hay không, nó là một bộ phận của côngtác quản lý nhằm đảm bảo cho hoạt động đầu tư có hiệu quả
Công tác thẩm định tài chính dự án cũng giúp cho chủ đầu tư lường hếtđược những rủi ro có thể xảy ra ảnh hưởng tới quá trình triển khai thực hiện dự
án như yếu tố công nghệ, sự biến động của thị trường, thay đổi về công suất, thịhiếu khách hàng, chi phí sản xuất… Từ đó chủ đầu tư có thể đưa ra các giảipháp hoặc kiến nghị với cơ quan quản lý Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả đầu
tư và giảm tối đa rủi ro có thể xảy ra
Với những vai trò quan trọng trên, khẳng định sự cần thiết của công tácthẩm định tài chính dự án đầu tư - một phần quan trọng trong thẩm định dự án
Trang 8đầu tư, đã và đang trở thành nội dung không thể thiếu được trước khi ra quyếtđịnh đầu tư cho bất kỳ dự án nào.
có thể những rủi ro có nguy cơ mắc phải của dự án và trợ giúp cho việc ra quyếtđịnh đầu tư
1.2.4 Ý nghĩa của việc thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định dự án đầu tư có thể được xem là quá trình thẩm tra, xem xét,đánh giá một cách khoa học, toàn diện những nội dung ảnh hưởng tới hiệu quảkinh tế, xã hội và tính khả thi của dự án; từ đó ra quyết định có đầu tư haykhông
Các dự án kinh tế thường dự tính một thực tế trong tương lai, vì vậythường mang tính phỏng đoán và vì độ chính xác không đạt đến 100% Mặtkhác, các chủ đầu tư khi tiến hành phân tích đánh giá các chỉ tiêu kinh tế thườngkhông lường hết được những thay đổi của thị trường nên những đánh giá đóthường mang tính thời điểm và chủ quan Bên cạnh đó, một quyết định đầu tư làmột quyết định tài chính dài hạn, đòi hỏi lượng vốn không nhỏ, với một thờigian hoàn vốn tương đối dài, chịu ảnh hưởng của những biến động trên thịtrường Hơn nữa, những biến động đó kéo theo những ảnh hưởng về kinh tế, xãhội môi trường đến nhiều phía Vì vậy thẩm định là một công đoạn không thểthiếu, giúp hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực đến các bên
Trang 9Việc thẩm định dự án sẽ giúp loại bỏ những dự án xấu, lựa chọn đượcnhững dự án tốt, hứa hẹn một hiệu quả cao Đứng trên mỗi góc độ, thẩm định dự
án đều đem lại những kết quả nhất định và có ý nghĩa riêng với mỗi bên
- Về phía chủ đầu tư: việc thẩm định dự án sẽ giúp các chủ đầu tư lựachọn được những dự án tối ưu, có tính hả thi cao, phù hợp với điều kiện tự có vàkhả năng huy động các nguồn tài chínhl; tạo điều kiện thực hiện có hiệu quả dự
án, mang lại lợi nhuận lớn trong tương lai
- Về phía các cơ quan chuyên quản; thẩm định dự án sẽ giúp họ đánh giáđược tính cần thiết và phù hợp của dự án đối với tổng thể các kế hoạch chươngtrình kinh tế của nhà nước tại địa phương Xác định được hiệu quả của việc sửdụng các nguồn lực xã hội của dự án, xác định được những tác động có lợi và cóhại của dự án đối với môi trường và những lợi ích khác
- Về phía nhà tài trợ; thẩm định dự án giúp họ đưa ra được quyết định sửdụng tài chính của mình một cách chính xác Thông qua quá trình thẩm định, họ
sẽ nắm được các luồng chi phí và giá trị thu được từ dự án; đánh giá được khảnăng thanh toán của chủ đầu tư trong quá trình thực hiện dự án; đảm bảo an toàntài chính cho mình
1.2.5 Nội dung của thẩm định dự án
Những yếu tố khác nhau làm nên tổng thể một dự án bao gồm các mặt kỹthuật, thị trường, tài chính, luật pháp đều phải được xem xét đánh giá kỹ lưỡngqua quá trình thẩm định dự án đầu tư
- Thẩm định các điều kiện pháp lý và mục tiêu của dự án
Thẩm định tư cách pháp nhân của chủ đầu tư, hồ sơ trình duyệt có đủ theoquy định của pháp luật, có hợp lệ hay không?
Thẩm định mục tiêu của dự án để xem xét tính phù hợp của dự án đối vớicác chương trình kinh tế của địa phương, vùng, ngành Ngành nghề trong dự án
có thuộc nhóm ngành cho phép hoạt động hay ưu tiên không?
- Thẩm định về thị trường của dự án
Cho phép xem xét sản phẩm của dự án sản xuất ra phục vụ cho đối tượngnào, được kinh doanh trên thị trường địa phương, trong nước hay xuất khẩu Sức
Trang 10mạnh của các đối thủ cạnh tranh và ưu thế của dự án… Xem xét thị trường là cơ
sở cho việc lựa chọn quy mô dự án, thiết bị, công nghệ và dự kiến khả năng tiêuthụ Độ chính xác của công đoạn này thường không lớn nhưng có vai trò rấtquan trọng, quyết định mức độ thành công của dự án
- Thẩm định khía cạnh kỹ thuật của dự án
Thông tin về đời sống của dự án và tính phù hợp của công nghệ đối với
dự án là tiêu thức quan trong trong công đoạn này Nắm được thông tin này sẽtrành cho dự án không bị hao mòn vô hình quá nhanh Khía cạnh này thườngđược quan tâm ngay từ khi lập dự án vì các chủ đầu tư phải ra quyết định lựachọn tràng thiết bị máy móc cũng như dây chuyền công nghệ Khâu thẩm địnhnày đòi hỏi sự chính xác trong khâu tính toán thông số kỹ thuật của dự án, kiểmtra sự phù hợp với điều kiện môi trường của các dây chuyền sản xuất
- Thẩm định khía cạnh nhân lực và tổ chức quản lý
Các dự án đầu tư muốn hoạt động hiệu quả không thể không tính đến khíacạnh nhân lực và tổ chức quản lý Rất nhiều dự án dù tính toán chi phí và hiệuquả kinh tế chính xác vẫn thất bại khi thực hiện trong điều kiện quản lý yếukém, thiếu nhân lực có trình độ Hiệu quả về kinh tế và tài chính có đạt đượcnhư dự tính hay không phụ thuộc không nhỏ vào năng lực quản lý của cơ quan
có trách nhiệm triểu khai dự án
- Thẩm định khía cạnh tài chính của dự án
Phân tích tài chính là khâu tối quan trọng của thẩm định dự án, đòi hỏi sựtính toán cùng khả năng tổng hợp và dự đoán chính xác những dòng tiền của dự
án Là khâu cung cấp những dữ liệu cho việc đánh giá hiệu quả kinh tế của dựán
- Thẩm định hiệu quả kinh tế xã hội của dự án
Đánh giá hiệu quả của việc thực thi dự án đối với toàn bộ nền kinh tế làyêu cầu của công đoạn này Có những dự án dù hiệu quả về mặt tài chính cao tớiđâu cũng có thể bị loại bỏ nếu vi phạm lớn vào lợi ích kinh tế quốc dân Mặtkhác, các quốc gia hiện tại đã chú trọng vào việc phát triển đi kèm với bảo vệ
Trang 11môi trường Vì vậy một tác động xấu đến môi trường cũng có thể làm cho một
dự án có hiệu quả cao về mặt tài chính bị loại bỏ
2 Hoạt động cho thuê mua tài chính
2.1 Sự hình thành và phát triển của nghiệp vụ cho thuê tài chính
Hoạt động cho thuê tài sản đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử văn minhnhân loại, đã xuất hiện từ 2000 năm trước công nguyên với việc cho thuê cáccông cụ sản xuất nông nghiệp, súc vật kéo, quyền sử dụng nước, ruộng đất nhàcửa
Đầu thế kỷ XIX do sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nền kinh tếhàng hoá, số lượng và chủng loại tài sản cho thuê đã có sự gia tăng đáng kể
Đến đầu thập kỷ 50 của thế kỷ này, giao dịch thuê mua đã có những bướcnhảy vọt Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn, nghiệp vụ tín dụng thuêmua hay còn gọi là thuê tài chính được sáng tạo ra trước tiên ở Mỹ vào năm
1952 Sau đó nghiệp vụ tín dụng thuê mua phát triển sang Châu Âu và phát triểnmạnh mẽ tại đó từ những năm của thập kỷ 60 Tín dụng thuê mua cũng pháttriển mạnh mẽ ở châu Á và nhiều khu vực khác từ đầu thập kỷ 70 Ngành côngnghiệp thuê mua có giá trị trao đổi chiếm khoảng 350 tỷ USD vào năm 1994.Hiện nay ở Mỹ, ngành thuê mua thiết bị chiếm khoảng 25-30% tổng số tiền tàitrợ cho các giao dịch mua bán thiết bị hàng năm Nguyên nhân chính thúc đẩycác hoạt động cho thuê tài chính phát triển nhanh là do nó thể hiện hình thức tàitrợ có tính chất an toàn cao tiện lợi, và hiệu quả cho các bên giao dịch
Tại Việt Nam nghiệp vụ cho tài chính hay còn gọi là tín dụng thuê mua đãđược NHNN Việt Nam cho áp dụng thí điểm bởi quyết định số: 149/QĐ-NH5ngày 17/5/1995
Đến 9-10-1995 chính phủ ban hành nghị định 64CP "Quy chế tạm thời về
tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam" Ngày
9-2-1996 Thống đốc NHNN-VN có thông tư số 03/TT-NH5 hướng dẫn thực hiệnquy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính tại ViệtNam
Trang 12Theo Nghị định số 16/NĐ-CP ngày 02/05/2001 của chính phủ thì kháiniệm cho thuê tài chính được hiểu như sau:
Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng và dài hạn, thông qua việccho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên
cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê và bên thuê Bên cho thuê cam kếtmua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêucầu của bên mua và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Bên thuê sửdụng tài sản thuê va thanh toán thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bênthoả thuận
2.2.2 Đối tượng cho thuê
Tài sản trong cho thuê tài chính phổ biến là động sản, có thời hạn sử dụngbao gồm:
- Máy móc thiết bị, phương tiện đơn chiếc hoạt động độc lập
- Dây chuyền sản xuất
- Thiết bị lẻ trong dây chuyền sản xuất đồng bộ
- Thiết bị văn phòng, thiết bị điện tử điện toán, viễn thông, y tế và cácđộng sản khác
2.2.3 Mức cho thuê
Trang 13Mức cụ thể do Giám đốc Công ty cho thuê tài chính I quyết định từngtrường hợp cụ thể tuỳ theo:
- Khách hàng có tín nhiệm: Không có nợ quá hạn đối với các tổ chức tàichính, ngân hàng, có quá trình thuê tài sản, thanh toán tiền thuê sòng phẳng, đơn
vị có lãi nhiều năm, thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách đầy đủ
- Dự án sản xuất kinh doanh làm cơ sở cho thuê tài chính có khả năngthực thi, có ảnh hưởng sâu sác về mặt kinh tế và xã hội
2.2.4 Thời hạn thuê
- Thời hạn cho thuê được tính từ khi nhận tài sản thuê cho đến khi thanh
lý hợp đồng
- Thời hạn cho thuê do bên cho thuê và bên thuê thoả thuận trên cơ sở
- Khả năng nguồn vốn của bên cho thuê
- Khả năng nguồn vốn của bên thuê
- Thời gian thuê tối đa đối với tài sản mới (100%) tối thiểu là 1 nămnhưng không quá thời gian khấu hao cần thiết do Bộ Tài chính quy định
- Thời gian thuê đối với tài sản cũ đã qua sử dụng phù hợp với tình trạng
kỹ thuật và công năng thực tế của tài sản đó nhưng không vượt quá thời giankhấu hao của tài sản đó theo quy định của Bộ Tài chính
2.2.5 Lãi suất cho thuê
- Lãi suất cho thuê được xác định trên cơ sở lãi suất cơ bản và biên độ daođộng do Thống đốc NHNN-Việt Nam thông báo cộng tỷ lệ thuê tài chính có liênquan đến tài sản thuê (nếu có)
- Phí cho thuê do bên cho thuê và bên thuê cùng thoả thuận được ghi rõtrong hợp đồng cho thuê
- Phí cho thuê cụ thể đối với từng khách hàng do Giám đốc Công ty chothuê tài chính quyết định nhưng phải đảm bảo nguyên tắc bảo toàn vốn, bù đắpchi phí quản lý, phí rủi ro và có tỷ lệ lãi tích luỹ hợp lý
- Phí phạt nợ quá hạn được xác định theo quy định về cách tính lãi suất nợquá hạn của cho vay cùng loại do NHNo và PTNT Việt Nam quy định tại thời
Trang 14điểm hợp đồng cho thuê và được ghi trong hợp đồng Thông thường thì phí phạt
vì quá hạn bằng 150% phí cho thuê trong hạn
2.2.6 Đồng tiền cho thuê
Mọi giao dịch cho thuê tài chính chủ yếu thực hiện bằng đồng Việt Nam
2.2.7 Giá cho thuê
Giá cho thuê bao gồm
- Số tiền thuê bằng giá mua và các chi phí có liên quan để hình thành tàisản cho thuê bao gồm:
Giá mua tài sản: là giá được ghi trên hoá đơn bán hàng của bên cung ứnghoặc căn cứ vào quyết định của cơ quan có thẩm quyền (trong trường hợp muahàng của các cơ quan quản lý nhà nước thanh lý, đấu giá tài sản)
+ Đối với tài sản mới: Giá mua tài sản không vượt quá giá chào hàng củaBên cung ứng đã được bên thuê chấp nhận hoặc giá bán được cơ quan có thẩmquyền phê duyệt (nếu có) của tài sản đó
+ Đối với tài sản đã qua sử dụng
Căn cứ vào giá trị còn lại trên sổ sách kế toán, thời giá hiện hành trên thịtrường tại thời điểm mua bán hoặc giá do cơ quan giám định hợp pháp xác định(nếu có) để ba bên (Bên cung ứng, Bên cho thuê và Bên thuê) thoả thuận quyếtđịnh
- Các chi phí liên quan đến tài sản thuê như: thuế, chi phí nhập khẩu,chuyển, bốc xếp, giám định, tư vấn kỹ thuật, đăng kiểm
2.2.8 Các bên tham gia quan hệ cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính gồm ba bên: Người cho thuê (bên cho thuê), Người dithuê (Bên cho thuê), và nhà cung ứng
+ Bên cho thuê: Là Công ty cho thuê tài chính, người sẽ thanh toán toàn
bộ giá trị mua tài sản theo thoả thuận giữa người thuê với nhà sản xuất hay nhàcung ứng và là chủ sở hữu về mặt pháp lý của tài sản mà người thuê sử dụng.Trong trường hợp cho thuê tài sản của chính họ thì người cho thuê là nhà cungcấp thiết bị
Trang 15+ Bên thuê: tổ chức và cá nhân hoạt động tại Việt Nam, người có quyền
sử dụng tài sản, hưởng những lợi ích và gánh những rủi ro liên quan đến tài sản
và có nghĩa vụ trả những khoản tiền thuê theo thoả thuận
+ Nhà cung ứng: Là người cung cấp tài sản, thiết bị theo thoả thuận vớingười thuê và theo các điều khoản trong hợp đồng mua bán thiết bị đã ký kết vớingười cho thuê
2.3 Quy trình cho thuê tài chính
Thực hiện nghiệp vụ cho thuê tài chính có sự tham gia ba bên (Công ty tàichính I, khách hàng thuê và nhà cung cấp)
- Thoả thuận về lựa chọn máy móc, thiết bị: Người thuê chọn thiết bị phùhợp với yêu cầu của mình về mẫu, loại và các chỉ tiêu kỹ thuật, đồng thời quyếtđịnh ngày giao hàng, điều kiện bảo dưỡng và phương thức thanh toán và ký biênbản thoả thuận về việc mua tài sản (nội dung giống như hợp đồng mua bánthông thường nhưng phương thức thanh toán qua Công ty cho thuê tài chính I)
- Ký hợp đồng cho thuê tài chính: Sau khi chọn máy móc, thiết bị ngườithuê nộp đơn xin thuê thiết bị đó cho Công ty cho thuê tài chính I Công ty chothuê tài chính I sẽ xem xét đơn và yêu cầu người thuê cung cấp các tài liệu cầnthiết ví dụ như Báo cáo tài chính, dự án sử dụng tài sản thuê, hồ sơ pháp lý khác.Nếu khả năng tín dụng hiện đại của người thuê được công ty cho thuê tài chính Ichấp nhận và bên đi thuê nhất trí với các điều kiện của bên cho thuê tài chính thìhai bên cùng ký hợp đồng cho thuê tài chính
BÊN THUÊ
NHÀ CUNG CẤP MÁY MÓC
TÀI CHÍNH
1 4
3 5
2 6
Trang 16- Hợp đồng mua bán tài sản: Dựa trên các điều kiện đã thoả thuận giữangười thuê và người bán thiết bị, Công ty cho thuê tài chính I ký hợp đồng muabán tài sản cho thuê với người bán.
- Giao hàng, lắp đặt và bảo dưỡng: Người bán giao hàng, lắp đặt tại địađiểm do người thuê chỉ định Người thuê ngay lập tức xem xét thiết bị theo cácđiều kiện đã thoả thuận với người bán để kiểm tra tình trạng thiết bị và quyếtđịnh có chấp nhận tài sản hay không Cùng lúc người thuê nên ký hợp đồng bảodưỡng với người cung cấp
- Thanh toán tiền mua tài sản: Sau khi nhận giấy xác nhận chấp nhận thiết
bị của người thuê Công ty cho thuê tài chính I mới thanh toán tiền mua tài sảncho người bán
- Thanh toán tiền thuê: Người thuê trả tiền thuê (gốc + phí) theo kỳ 30, 60hoặc 90 ngày cho đến khi hết thời hạn thuê hợp đồng thuê tài chính, hợp đồngthuê tài chính không được huỷ bỏ giữa chừng
2.4 Vai trò, lợi ích của cho thuê tài chính đối với nền kinh tế
2.4.1 Lợi ích cho thuê tài chính
Thuê tài chính giúp bạn kịp thời hiện đại hoá sản xuất theo kịp tốc độ pháttriển của công nghệ mới kể cả trong điều kiện thiếu vốn tự có - Giá trị tài sảnthuê có thể được tài trợ 100% mà Bạn không cần phải có tài sản thế chấp.Không ảnh hưởng đến mức tín dụng của bạn - Thanh toán tiền linh hoạt theothoả thuận của hai bên (Tháng, Quý, Năm) phù hợp với chu chuyển vốn của bạn.Nếu bạn đã mua tài sản nhưng lại thiếu vốn lưu động thì bạn có thể bán tài sản
đó cho chúng tôi và chúng tôi sẽ cho các bạn thuê lại, như vậy bạn vẫn có tài sản
để sử dụng mà vãn có vốn lưu động để kinh doanh Hết thời hạn thuê Bạn đượcmua lại tài sản với giá thấp hơn nhiều so với giá trị thực của tài sản và đượcquyền sở hữu tài sản đó hoặc được ưu tiên thuê tiếp tài sản Bạn toàn quyềnquyết định trong việc lựa chọn máy móc thiết bị, nhà cung cấp, giá cả, mẫu mã,chủng loại, phù hợp với yêu cầu của bạn
2.4.2 Vai trò của cho thuê tài chính đối với nền kinh tế quốc dân
Trang 17- Cho thuê tài chính có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường, đặcbiệt trong nền kinh tế Việt Nam, khi yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòihỏi gia tăng mạnh vốn đầu tư.
- Cho thuê tài chính góp phần thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế
Vốn đầu tư của quốc gia được tích luỹ từ 2 nguồn: Tích luỹ nội bộ và vốnhuy động từ nước ngoài Huy động có hiệu quả vốn đầu tư đòi hỏi rất nhiềukênh huy động khác nhau phối hợp đồng thời; bao gồm hệ thống tín dụng; ngânsách nhà nước và thị trường chứng khoán Không thể phủ nhận vai trò tối quantrọng của hệ thống tín dụng trong việc huy động vốn nhàn rỗi và giải ngân vốnđầu tư nước ngoài Là loại hình tín dụng trung dài hạn có nhiều ưu điểm, thểhiện ở sự giảm thiểu rủi ro và phạm vi tài trợ rộng rãi, cho thuê tài chính gópphần không nhỏ vào việc huy động vốn đầu tư trong nước và tìm nguồn tài trợ
từ nước ngoài Với việc quy định của IMF không tính khoản nợ từ tài sản chothuê tài chính quốc tế vào khoản nợ nước ngoài của 1 quốc gia, hoạt động nàycàng có khả năng trở thành 1 kênh thu hút vốn đầu tư nước ngoài hấp dẫn
- Cho thuê tài chính góp phần phát triển hệ thống tài chính
Một hệ thống tài chính hoàn thiện phải tồn tại các kênh dẫn vốn hoạt độnghiệu quả Xét riêng về số lượng, cho thuê tài chính đã đóng góp vào thị trườngtài chính một kênh dẫn vốn trung dài hạn quan trọng Hơn nữa, trong điều kiệncác quốc gia đang phát triển, khi thị trường chứng khoán còn ở dạng sơ khai, sựthiếu hút nghiêm trọng nguồn cung cấp vốn trung dài hạn là không thể phủ nhận,
vì thế, cho thuê tài chính càng có vai trò lớn đối với những nền kinh tế này Vềmặt chất, cho thuê tài chính là một kênh dẫn vốn hấp dẫn, nguyên nhân là ởphạm vi tài trợ rộng lớn, cung ứng đến mọi khu vực, thành phần kinh tế rất cólợi đối với khách hàng, đồng thời giảm bớt rủi ro của người cho thuê, áp dụnghình thức cho thuê tài chính trong nền kinh tế và đặc biệt là việc hình thành cáccong ty cho thuê tài chính chuyên doanh, tách khỏi hoạt động của các ngân hàngthương mại càng tạo điều kiện phát triển hệ thống tài chính quốc gia; Cụ thể, cáccông ty cho thuê tài chính chuyên doanh sẽ cung cấp dịch vụ hữu hiện hơn hẳn
Trang 18những đơn vị trực thuộc, tạo sức cạnh tranh đáng kể trong thị trường tài chính,thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực tiền tệ ngân hàng.
- Cho thuê tài chính góp phần nâng cao năng lực công nghệ đất nướcĐối với các quốc gia đang phát triển, việc lạc hậu về công nghệ luôn luôn
là vấn đề gây đau đầu các nhà quản lý; cho thuê tài chính quốc tế sẽ tạo ra cơ hộilớn cho việc nâng cao năng lực công nghệ quốc gia ngay cả trong điều kiện kinh
tế quốc gia đó gặp khó khăn Cho thuê tài chính cho phép các doanh nghiệp tăngnăng lực kinh doanh bằng việc thay đổi, nâng cấp dây chuyền sản xuất, cải tiến
kĩ thuật, mở rộng quy mô sản xuất Điều này đem lại cho quốc gia đó khả năngbắt kịp với trình độ công nghệ thế giới
Sở dĩ hoạt động này có được những tác động tích cực đó là bởi những ưuđiểm nhất định sau:
+ Về phía người thuê:
- Người thuê có thể được tài trợ toàn bộ giá trị tài sản cố định phục vụ chokinh doanh
Do việc tài trợ cho thuê được bảo đảm bằng chính tài sản thuê và ngườicho thuê có thể chiếm hữu lại tài sản đó khi người thuê vi phạm hợp đồng nênthường người thuê không cần đảm bảo khả năng thanh toán bằng việc đặt cọc 1khoản tiền Tuy nhiên trong trường hợp mức độ rủi ro cao, khách hàng cũng bịyêu cầu đặt cọc rủi ro lớn như vậy cũng không thể đáp ứng tiêu chuẩn tín dụngcủa các ngân hàng Hơn nữa, luật tín dụng không cho phép các ngân hàng tài trợtoàn bộ trong khi các công ty cho thuê tài chính tài trợ 100% nhu cầu tài sảndoanh nghiệp
- Người thuê không bị ràng buộc về hạn mức tín dụng vay ngân hàng Hầu hết các quốc gia đều không hạn chế các doanh nghiệp vay ngân hàngkhi họ đã thuê tài chính, điều này mở rộng cơ hội huy động vốn vào hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Không đòi hỏi uy tín lớn
Để đáp ứng yêu cầu tại các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp phải trìnhbáo cáo tài chính thể hiện 3 năm kinh doanh liên tục có lãi và không có nợ quá
Trang 19hạn Các doanh nghiệp thường gặp khó khăn trong việc thoả mãn các yêu cầunày nhưng sẽ dễ dàng hơn trong trường hợp họ thuê tài chính Hơn nữa, cácdoanh nghiệp nhỏ không thể có mối quan hệ gần gũi sẵn có với các ngân hàng
và các ngân hàng không thể đáp ứng một khoản vay dài hạn đối với nhữngkhách hàng chưa có 1 khoản vay dài hạn nào trong hồ sơ tín dụng Riêng đối vớinhững công ty cho thuê tài chính, những khách hàng mới cũng có thể nhận đượcnhững khoản tài trợ ngắn hạn
- Cơ chế thanh toán tiền thuê linh hoạt
Không như các ngân hàng thương mại bị yêu cầu thanh khoản đòi hỏi sựquản lý chặt chẽ đối với việc thanh toán tiền vay, cho thuê tài chính có thể đưa
ra 1 cơ cấu trả nợ linh hoạt đáp ứng những dòng tiền đặc thù của người thuê Ví
dụ cho thuê trả tăng dần, giảm dần, niên kim cố định; Việc thanh toán diễn ratheo mùa hoặc ngắt quãng; Thời hạn thanh toán cũng linh hoạt, có thể định kỳtheo quý hoặc theo tháng
- Người thuê có thể tiếp cận với công nghệ hiện đại
Các công ty cho thuê tài chính chuyên môn hoá trong lĩnh vực của họ nênthường am hiểu kĩ về thị trường tài sản và thường được phép xuất nhập khẩutrực tiếp Nhờ đó người thuê có thể tiếp cận với nhà sản xuất và những sản phẩmtiên tiến, hiện đại; tạo ra khả năng đổi mới công nghệ nhanh chóng với chi phíthấp - đây là điều đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt hiện nay
- cùng với những dịch vụ đào tạo, hướng dẫn, bảo trì… kèm theo của nhà cungcấp Mặt khác, mối quan hệ kinh doanh cùng với những kinh nghiệm về thịtrường tài sản của công ty cho thuê tài chính cho phép người thuê có thể bán tàisản cũ, tài sản không sử dụng để đổi mới công nghệ
Trang 20+ Về phía người cho thuê
- Cho thuê tài chính có mức độ rủi ro thấp hơn cho vay
Trong suốt thời hạn thuê, người cho thuê vẫn nắm quyền sở hữu tài sảnthuê nên họ có thể nhanh chóng chiếm hữu lại tài sản nếu người thuê không tuânthủ hợp đồng Như vậy, có thể coi tất cả các hợp đồng cho thuê tài chính đều cótài sản thế chấp Mặt khác, khi cơ chế xử lý tài sản đảm bảo tiền vay của nước tacòn chưa đồng bộ, hoạt động cho vay càng trở nên rủi ro hơn so với cho thuê tàichính Tuy nhiên, việc tịch thu tài sản không phải là biện pháp đảm bảo rủi ro
mà các công ty cho thuê tài chính mong muốn, hầu hết các công ty đều trôngchờ vào phẩm chất của người thuê Khả năng giảm thiểu rủi ro đòi hỏi 2 yếu tố,
về pháp luật là những văn bản quy phạm về quyền sở hữu và về thị trường yêu cầu về sự tồn tại một thị trường thiết bị, máy móc cũ - để tài sản cho thuê cóthể dễ dàng được xử lý trong điều kiện rủi ro xảy ra
Tránh được rủi ro đạo đức và sự lựa chọn đối nghịch
Trong các quan hệ tín dụng, rủi ro đạo đức và sự lựa chọn đối nghịch rất
dễ xảy ra; người vay có thể sử dụng sai mục đích cam kết trong hợp đồng cáckhoản tiền vay, vì thế tạo rủi ro lớn hơn đối với khoản vay đó, mặt khác chínhnhững người nay lại có nỗ lực lớn trong việc tìm kiếm nguồn tài trợ, điều nàydẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán các khoản vay Đây là điều nguy hiểmđối với các tổ chức tín dụng Hoạt động cho thuê tài chính tài trợ người thuêbằng tài sản đồng thời không chuyển quyền sở hữu nên giảm được những rủi rotrên
- Phát triển mối quan hệ với khách hàng và thúc đẩy bán hàng
Do sự chủ động tham gia vào các giao dịch mua bán giữa bên thuê và nhàcung cấp, công ty cho thuê tài chính phát triển rộng hơn quan hệ của mình và vìthế có điều kiện phát triển hoạt động của mình Là định chế tài chính, các công
ty này thúc đẩy việc giao dịch hàng hoá thông qua việc giới thiệu, quảng bá…dẫn người mua đến với người bán Là người bán, hình thức thuê tài chính đượcxem như 1 dạng khuyến mãi sản phẩm
Trang 21Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam, các doanh nghiệp vẫn còn e ngại khi raquyết định thuê tài chính; một mặt do hoạt động này còn mới mẻ, mặt khác là donhững bất lợi có thể gặp phải khi tiếp cận hoạt động này:
- Chi phí thuê hiện nay ở Việt Nam thường cao hơn chi phí vay, nguyênnhân là các công ty cho thuê tài chính thường thu lãi trên những khoản vay đểtài trợ cho hoạt động cho thuê
- Doanh nghiệp sẽ không được hưởng khoản chiết khấu bán khi tham giavào giao dịch thuê tài chính
- Những điều khoản về sự cố có thể xảy ra cho tài sản thuê, đặc biệt lànhững sự cố có thể dự tính thường gây khó chịu cho khách hàng, trong trườnghợp này, người cho thuê thường yêu cầu bảo hiểm toàn bộ cho tài sản thuê ngay
cả những khoản tiền nhỏ
- Yêu cầu tín trong thời gian thuê thường cao hơn bất cứ khoản vay nào,nguyên nhân là người thuê muốn chắc chắn về các khoản thanh toán định kìđúng hạn và sự sử dụng quá các tiêu chuẩn kĩ thuật của tài sản thuê
- Đối với các phương tiện vận tải phục vụ sản xuất hoặc vận chuyển hànhkhách, giới hạn về số km di chuyển (Mile-age Limitations) cùng với những điềukhoản tăng phí kèm theo cùng là 1 điểm bất lợi đối với người thuê của các giaodịch thuê tài chính
3 Thẩm định tài chính dự án đầu tư trong công tác thuê mua tài chính 3.1 Thẩm định tài chính dự án tại các công ty cho thuê tài chính
3.1.1 Nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư
a) Thẩm định tổng mức đầu tư
Tổng mức đầu tư: là toàn bộ chi phí đầu tư và xây dựng (kể cả vốn sảnxuất ban đầu) và là giới hạn chi phí tối đa của dự án được xác định trong quyếtđịnh đầu tư
Theo giai đoạn triển khai công tác đầu tư một dự án, tổng mức đầu tư baogồm các thành phận chủ yếu sau:
* Vốn cho chuẩn bị đầu tư: bao gồm các khoản chi phí: điều tra, khảo sát,nghiên cứu phục vụ cho lập báo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả
Trang 22thi; lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi (kể cả tưvấn) hoặc báo cáo đầu tư; chi phí đo đạc, khảo sát đính giá hiện trạng khi lập dự
án đầu tư cải tạo sửa chữa; phí và lệ phí thẩm định;
* Vốn thực hiện đầu tư gồm:
- Chi phí thiết bị bao gồm: chi phí mua sắm thiết bị công nghệ (gồm cảthiết bị phi tiêu chuẩn cần sản xuất, gia công (nếu có) , các trang thiết bị khácphục vụ sản xuất, làm việc, sinh hoạt của công trình (bao gồm thiết bị lắp đặt vàkhông cần lắp đặt); chi phí vận chuyển từ cảng hoặc nơi mua đến công trình, chiphí lưu kho, lưu bãi, lưu container (nếu có) tại cảng Việt Nam (đối với các thiết
bị nhập khẩu), chi phí bảo quản, bảo dưỡng tại kho bãi ở hiện trường;
- Chi phí xây dựng và lắp đặt thiết bị: chi phí san lấp mặt bằng xây dựng;chi phí xây dựng công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công (đường thicông, điện nước, nhà xưởng v.v…), nhà tạm tại hiện trường để ở vf thi công(nếu có); chi phí xây dựng các hạng mục công trình; chi phí lắp đặt thiết bị (đốivới thiết bị cần lắp đặt);
- Các chi phí khác: chi phí đền bù và tổ chức thực hiện trong quá trình đền
bù đất đai hoa màu, di chuyển dân cư và các công trình trên mặt bằng xây dựng,chi phí phục vụ cho công tác tái định cư và phục hồi (đối với công trình xâydựng của dự án đầu tư có yêu cầu tái định cư và phục hồi); tiền thuê đất hoặctiền chuyển quyền sử dụng đất; chi phí khảo sát xây dựng, thiết kế công trình,chi phí mô hình thí nghiệm (nếu có), chi phí lập hồ sơ mời thầu, chi phí cho việcphân tích, đánh giá kết quả đấu thầu xây lắp, mua sắm thiết bị; chi phí giám sátthi công xây dựng và lắp và các chi phí tư vấn khác…
* Vốn đầu tư ở giai đoạn kết thúc đầu tư, đưa dự án vào khai thác sửdụng: chi phí thẩm tra và phê duyệt quyết toán vốn đầu tư; chi phí tháo dỡ côngtrình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công, nhà tạm (trừ đi giá trị thu hồi)
* Lãi vay, vốn lưu động ban đầu cho sản xuất, dự phòng phí
Thẩm định tổng mức đầu tư
Tổng mức đầu tư là một chỉ tiêu quan trọng đầu tiên cần được xem xét khitiến hành thẩm định tài chính dự án Xác định được chính xác tổng mức đầu tư
Trang 23có ý nghĩa quan trọng đối với tính khả thi của dự án Nếu vốn đầu tư quá thấp thì
dự án không thể thực hiện được nhưng ngược lại nếu vốn đầu tư quá lớn cũngdẫn đến kết quả tài chính của dự án không chính xác
Thẩm định tổng mức đầu tư là kiểm tra các hạng mục chi phí có đúngđắn, phù hợp theo các quy định hiện hành của Nhà nước và các quy định, thông
lệ khác
b) Thẩm định nguồn tài trợ của dự án đầu tư
Trên cơ sở nhu cầu vốn đầu tư của dự án, chủ đầu tư xem xét các nguồntài trợ cho dự án, khả năng đảm bảo cung cấp vốn về quy mô và thời gian (tiến
độ giải ngân) Dự án có thể được tài trợ bởi nhiều nguồn vốn khác nhau như vốnchủ sở hữu của doanh nghiệp, vốn huy động từ các cổ đông, vốn vay của các tổchức tài chính v.v…Tuỳ theo khả năng tài chính của chủ đầu tư và tuỳ vào địnhhướng sử dụng vốn của mình mà chủ đầu tư có thể quyết định cơ cấu vốn cho dự
án Tuy nhiên, cơ cấu này cũng ảnh hưởng bởi các quy định của Nhà nước Ví
dụ theo Quy chế cho vay của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định đối vớicác ngân hàng thương mại hoạt động hợp pháp tại Việt Nam thì ngân hàng chovay hoặc tổ chức đồng tài trợ không được cho vay vượt quá 85% tổng mức đầu
tư đối với một dự án Điều đó có nghĩa là chủ đầu tư phải có 15% vốn chủ sởhữu trong cơ cấu vốn đầu tư của dự án
Đối với từng loại nguồn vốn, cần xem xét ở các khía cạnh cơ bản sau:
- Nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp: phải được tiến hành kiểm tra,đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó xác định nguồnvốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Thông thường đó là căn cứ vào các báo cáotài chính của doanh nghiệp trong tối thiểu ba năm liên tiếp tính đến thời điểmlập dự án Các báo cáo tài chính này phải được tổ chức kiểm toán tài chính độclập kiểm toán và xác nhận
- Nguồn vốn vay: xem xét độ tin cậy về khả năng cho vay của các ngânhàng cam kết cho vay Về nguyên tắc, các ngân hàng cũng phải giải trình chochủ đầu tư về tình hình khả năng tài chính của mình, về hoạt động kinh doanhcủa mình thông qua các báo cáo về kết quả kinh doanh của ngân hàng và chứng
Trang 24minh khả năng ngân hàng sẽ cung cấp đủ, kịp thời vốn cho dự án theo đúng camkết với chủ đầu tư Đặc biệt đối với các dự án có tổng mức đầu tư lớn, có nhucầu vay lớn thì việc xem xét khả năng cho vay của các ngân hàng hết sức quantrọng nó đảm bảo khả năng cung cấp vốn cho dự án không làm ảnh hưởng đếntiến độ từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án do có thể làm chậm tiến độ đưa
dự án vào vận hành kinh doanh
Hiện nay, khi tiến hành công tác lập dự án cũng như xác định nguồn tàitrợ cho dự án, do còn nặng về cơ chế "xin-cho" nên chủ yếu là các doanh nghiệpphụ thuộc vào các ngân hàng nên các chủ đầu tư phải giải trình với ngân hàngtheo các yêu cầu của ngân hàng để có được khoản tài trợ cho dự án chứ ngânhàng không phải giải trình hay chứng minh năng lực với chủ đầu tư
Việc xác định nguồn tài trợ cho dự án cũng là xác định một cơ cấu vốn tối
ưu cho dự án nhằm đem lại hiệu quả cao nhất cho chủ đầu tư Do có sự ảnhhưởng của yếu tố đòn bẩy tài chính nên tuỳ theo tình hình tài chính của doanhnghiệp mà chủ đầu tư sẽ đưa ra một cơ cấu vốn tài trợ cho dự án phù hợp
c) Thẩm định dòng tiền của dự án đầu tư
Dòng tiền của một dự án đầu tư được hiểu là các khoản chi phí và thunhập bằng tiền xuất hiện tại các mốc thời gian khác nhau trong suốt chu kỳ của
dự án Chênh lệch giữa toàn bộ thu thập bằng tiền của dự án và toàn bộ chi phíbằng tiền của dự án là dòng tiền ròng tại các mốc khác nhau của dự án Dòngtiền này chính là cơ sở để định giá doanh nghiệp, xác định giá cổ phiếu hay tráiphiếu hay giá trị hiện tại của dự án đầu tư
Khi xem xét dòng tiền của dự án cần phân biệt hai góc độ tài chính và kếtoán:
- Xét trên góc độ kế toán: chi phí của dự án sẽ bao gồm các khoản chi phíhợp lê, bao gồm cả khấu hao Khi tính thu nhập chịu thuế và thuế thu nhậpdoanh nghiệp, khấu hao tài sản cố định được tính vào chi phí Do đó, làm giảmthu nhập chịu thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp cho Nhà nước
Trang 25- Trên góc độ tài chính: Khấu hao TSCĐ không phải là một khoản chibằng tiền, khấu hao chỉ là một yếu tố của chi phí làm giảm thuế thu nhập củadoanh nghiệp Do vậy, khấu hao là một nguồn thu của dự án.
* Vấn đề quan trọng khi xác định dòng tiền đó là cơ cấu vốn tài trợ cho dự
CF k
CF
) 1 (
) 1 ( ) 1
2 1
NPV: giá trị hiện tại ròng
CF0, CF1 … là chênh lệch dòng tiền tại các năm 0,1…
CF1,…CFn = Lợi nhuận sau thuế + khấu hao TSCĐ
CF0: vốn của chủ đầu tưRiêng năm cuối của dự án: CFn cộng thêm hai phần bộ phận:
+ Tiền ròng thu được từ thanh lý TSCĐ
+ Giá trị vốn lưu động ròng thu hồi được
- Trường hợp dự án được tài trợ 100% vốn vay
+ Thanh toán theo niên kim:
Dòng tiền của dự án được xác định bằng:
CF = Lợi nhuận sau thuế + Khấu hao TSCĐ - TRả gốc
Và CF0 = 0
+ Thanh toán theo phương thức: Lãi trả hàng năm, gốc trả vào năm cuối
CF = Lợi nhuận sau thuế + Khấu hao TSCĐ + Lãi vay
Và CF0 = Tổng vốn vay
- Trường hợp, khi vốn đầu tư là hỗn hợp tức bao gồm cả chủ sở hữu vàvốn vay
+ Thanh toán theo niên kim: mỗi năm trả nợ cả gốc và lãi
CF = Lợi nhuận sau thuế + Khấu hao TSCĐ - Trả gốc
CF0: chỉ tính trên vốn chủ sở hữu
Trang 26+ Trường hợp lãi trả hàng năm, vốn trả vào cuối năm đời dự án
CF = Lợi nhuận sau thuế + Khấu hao TSCĐ + Lãi vay
CF0: Tổng vốn đi vay + vốn chủ sở hữu
Vì vậy, khi thẩm định dòng tiền của dự án cần xem xét kỹ phương thức tàitrợ cho dự án, phương thức trả nợ vốn vay để từ đó xác định dòng tiền phù hợp
Từ đó tránh được việc đưa ra được các kết quả dòng tiền quá cao hoặc thấp dẫnđến các kết luận thiếu chính xác
d) Thẩm định tỷ lệ chiết khấu
Tỷ lệ chiết khấu hay lãi suất chiết khấu chính là tỷ lệ sinh lời cần thiết mànhà đầu tư yêu cầu đối với một dự án đầu tư, là cơ sở để chiết khấu các dòngtiền trong việc xác định giá trị hiện tại ròng của dự án
Về bản chất, lãi suất chiết khấu của một dự án chính là chi phí cơ hội của
dự án đó Nếu thực hiện dự án, nhà đầu tư sẽ bỏ qua lợi tức kỳ vọng của các dự
án đầu tư khác hay các tài sản chính khác có cùng mức rủi ro
Có thể hiểu lãi suất chiết khấu của một dự án chính là lợi tức kỳ vọng củamột tài sản tài chính có cùng mức độ rủi ro
Có thể xác định tỷ lệ chiết khấu theo phương thức tài trợ cho dự án nhưsau:
- Khi vốn đầu tư là nợ
Lãi suất chiết khấu chính là chi phí nợ sau thuế = (1 - T)Kinh doanh
Trong đó: T là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
Kd là chi phí nợ trước thuế = Tỷ lệ sinh lời tới thời điểm đáo hạn
- Khi vốn đầu tư là vốn chủ sở hữu
Lãi suất chiết khấu chính là lợi tức kỳ vọng của vốn chủ sở hữu
- Khi vốn đầu tư gồm nợ và vốn chủ sở hữu
Trong trường hợp này, tỷ lệ chiết khấu chính là chi phí vốn bình quân
B S
B xr
B S
Trang 27rB: chi phí nợ là lãi vay của ngân hàng({ eq \f(S;S+B) }): tỷ trọng giá trị của vốn chủ sở hữu
({ eq \f(B;S+B) }): tỷ trọng giá trị của nợ
T: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
e) Thẩm định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án đầu tư
Thẩm định các chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu hiệu quả của dự án được thựchiện dựa trên việc thẩm định dòng tiền và tỷ lệ chiết khấu, thẩm định các chỉtiêu hiệu quả có chính xác và hợp lý hay không
Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng (NPV - Net Present Value)
Giá trị hiện tại dòng của dự án đầu tư là số chênh lệch giữa giá trị hiện tạicủa các luồng tiền ròng kỳ vọng trong tương lai với giá trị hiện tại của vốn đầutư
) 1
CF
i i n
r: tỷ suất chiết khấu
C0: vốn đầu tư ban đầu
CF1: dòng tiền ròng của dự án năm thứ i (dòng tiền sau thuế)Điều kiện chấp thuận dự án khi sử dụng chỉ tiêu NPV để đánh giá:
- Chấp thuận dự án khi NPV > 0 và bác bỏ dự án khi NPV 0
* Ưu điểm của NPV
- Phản ánh được giá trị thời gian của tiền quan việc sử dụng chi phí cơ hộicủa vốn làm tỷ lệ chiết khấu
- NPV đo lường trực tiếp phần lợi nhuận mà dự án đóng góp vào tài sảncủa chủ sở hữu vì đây là dòng tiền sau thuế
- Quyết định chấp nhận, từ chối hay xếp hạng dự án phù hợp với mục tiêutối đa hoá lợi nhuận của chủ sở hữu
* Nhược điểm của chỉ tiêu NPV
Trang 28- Chỉ tiêu này không áp dụng cho dự án có thời điểm khác nhau Do vậy,muốn so sánh được chúng ta phải điều chỉnh cho mỗi dự án lặp lại thời gian chođến khi tuổi thọ dự án của chúng tương đương nhau.
- NPV phụ thuộc vào cách chọn tỷ suất chiết khấu khác nhau
- NPV không phản ánh giá trị lợi ích thu được từ một đồng vốn đầu tư
- NPV là một giá trị tuyệt đối, nó không phản ánh khả năng sinh lời của
dự án trên một đơn vị vốn đầu tư Các dự án có chi phí đầu tư cao thường đemlại NPV lớn hơn các dự án có chi phí đầu tư thấp
Chỉ tiêu tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR: Internal Rate of Return), còn đượcgọi là tỷ suất thu lợi nội tại, tỷ suất nội hoàn hay suất thu hồi nội bộ
Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ IRR là mức lãi suất mà nếu dùng nó làm tỷ suấtchiết khấu để tính các khoản thu, chi của dự án về mặt bằng thời gian hiện tại thìtổng thu bằng tổng chi, hay nói cách khác là tỷ suất chiết khấu mà tại đó NPV =0
Dự án có IRR cao hơn mức lãi suất giới hạn (lãi suất cho vay, tỷ suất chiếtkhấu hay tỷ suất lợi nhuận mong đợi) thì sẽ được lựa chọn Nếu là các dự án loạitrừ nhau thì người ta sẽ chọn dự án căn cứ vào vốn đầu tư củ dự án lớn hay nhỏ
và có thể kết hợp thêm chỉ tiêu NPV để lựa chọn
Để tính toán chỉ tiêu này, chúng ta có thể sử dụng rất nhiều các phần mềm
vi tính chẳng hạn như chương trình EXCEL thuộc phần mềm Microsoft Office.Các phần mềm này đều tự động tính toán được chỉ tiêu này khi nhập dòng tiềncủa dự án vào
Thời gian hoàn vốn (PP: Payback Period)
Thời gian thu hồi vốn là độ dài thời gian dự tính cần thiết để các luồngtiền ròng của dự án bù đắp được chi phí đầu tư của dự án Các nhà ngân hàng vàcác doanh nghiệp sử dụng thời gian hoàn vốn để đánh giá dự án bằng cách thiếtlập chỉ tiêu thời gian hoàn vốn cần thiết và thời gian hoàn vốn tối đa có thể chấpnhận được của dự án Những dự án có thời gian hoàn vốn lớn hơn thời gian chophép tối đa sẽ bị loại bỏ Khi chon trong một số nhiều dự án loại trừ nhau thìchấp nhận dự án có PP nhỏ hơn thời gian quy định và PP nhỏ nhất
Trang 29Thời gian hoàn vốn được xác định như sau:
- Thời gian hoàn vốn không chiết khấu:
PP = Tổng vốn đầu tư/(LN ròng + khấu hao TSCĐ)
- Thời gian hoàn vốn có chiết khấu: t được xác định từ công thức:
) 1 (
- Cách xác định điểm hoà vốn:
x: là sản lượng hoà vốnp: Giá bán đơn vị sản phẩm v: Biến phí đơn vị sản phẩm f: Tổng định phí cả đời dự án
x = { eq \f(f;p – v) }
- Doanh thu hoà vốn:
Trường hợp sản xuất một loại sản phẩm:
D = p* x = p* { eq \f(f;p – v) }=
p v
f
1
Trường hợp sản xuất nhiều loại sản phẩm
Trang 30D =
i i
i i i
i
p x
p x p v f
*
*
* ) ) 1 (
Do đó, để xác định điểm hoà vốn cần tính đến sự biến đổi các yếu tố có liênquan trong cả kỳ vận hành của dự án Trong trường hợp này, điểm hoà vốn cầnxác định theo khả năng thu hồi toàn bộ vốn đầu tư và bù đắp các chi phí vậnhành
* Ưu điểm của chỉ tiêu điểm hoà vốn: Dễ xác định và độ tin cậy tương đốicao do thời gian hoàn vốn là những năm đầu thực hiện dự án Chỉ tiêu này giúpcho doanh nghiệp xác định được với mức sản lượng bao nhiêu thì thu hồi đượcvốn đầu tư
* Nhược điểm: chỉ tiêu này không cho biết thu nhập cụ thể sau khi hoànvốn, đôi khi có dự án đầu tư có thời gian thu hồi vốn dài nhưng thu nhập về saulại cao hơn thì vẫn có thể là dự án tốt
Người ta có thể tính ba loại điểm hoà vốn sau:
- Điểm hoà vốn lý thuyết: được tính theo công thức sản lượng hoà vốnnêu trên chỉ khác là tổng định phí chỉ được tính cho một năm của đời dự án
- Điểm hoà vốn tiền tệ: là điểm mà tại đó, dự án bắt đầu có tiền để trả nợvay (kể cả dùng nguồn vốn khấu hao) Cách tính giống như tính điểm hoà vốn lýthuyết nhưng định phí không tính khấu hao
- Điểm hoà vốn trả nợ: là điểm mà tại đó, dự án có đủ tiền để trả nợ vốnvay, đóng thuế thu nhập Cách tính giống như điểm hoà vốn lý thuyết nhưngđịnh phí tính thêm nợ gốc và thuế thu nhập phải trả trong năm
f) Thẩm định độ nhạy của dự án đầu tư:
Khi tiến hành thẩm định tài chính dự án đầu tư cán bộ thẩm định cần xemxét mức độ tin cậy của các thông tin về dự án như các dòng tiền dự tính, mức
độ rủi ro tối đa có thể xảy ra
Trang 31Việc thẩm định mức độ tin cậy của dự án giúp cho chủ đầu tư không bỏ lỡ
cơ hội đầu tư hay quyết định đầu tư sai, việc làm này giúp cho việc tính tỷ suấtchiết khấu hợp lý của dự án Nếu việc dự tính các dòng tiền là không đáng tincậy thì tất cả các việc tính toán sau đó đều không có ý nghĩa, dẫn đến các quyếtđịnh đầu tư sai làm và ngược lại nếu việc dự tính là đáng tin cậy thì việc raquyết định đầu tư sẽ phù hợp
Việc tính toán các chỉ tiêu NPV, IRR thì phải căn cứ vào các dòng tiền dựtính và các giả định để tính toán được coi là tình huống cơ sở Việc tính toán độnhạy của dự án đựơc thực hiện bằng cách đưa ra các kịch bản: dự báo các rủi ro
có thể xảy ra trong khi thực hiện dự án, thay đổi một hoặc một số thông số đầuvào tăng hay giảm và tính toán các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của dự án Nếuhầu hết các tình huống đưa ra đều cho kết quả NPV > 0 thì có thể tiến hành thựchiện dự án Trường hợp NPV 0 thì tạm kết luận mức rủi ro dự tính cao và cầnxem xét lại trước khi ra quyết định và do đó có thể điều chỉnh lại tỷ lệ chiết khấucủa dự án cho phù hợp
Việc thẩm dịnh mức độ tin cậy của dự án giúp cho chủ đầu tư có cái nhìnchính xác về dự án để từ đó nâng cao hiệu quả đầu tư dự án
3.1.2 Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư
Việc lập dự án hiện nay còn mang tính chủ quan của người lập dự án màđôi khi cố chứng minh hiệu quả dự án để được duyệt, hoặc được vay vốn Trongkhi thẩm định phải đứng trên quan điểm khách quan để xét xem có quyết địnhđầu tư hay tài trợ cho dự án không Muốn thẩm định được tin cậy giúp cho việcquyết định về dự án một cách đúng đắn và chính xác, thì đầu tiên là xem xét các
dữ liệu ban đầu có đáng tin cậy không, cách lập dự toán của dự án có hợp lý vậndụng phù hợp không, nếu không chuyên viên thẩm định phải lập lại dự toán vớicác độ nhạy một cách có cơ sở Thực hiện việc này sẽ tốn rất nhiều công sức,gần như tái lập phương án tài chính dự án
Sơ đồ dưới đây thể hiện quy trình thẩm định theo từng giai đoạn (xem sở
đồ quy trình thẩm định) Qua đó giúp cho các nhân viên tín dụng giải quyết vềvấn đề thời gian và công sức cho việc thẩm định
Trang 32Sơ đồ quy trình thẩm định tài chính dự án
quả theo mức lạc quan
Xây dựng độ nhậy theo
để tính toán
Đề nghị bác dự án
KẾT LUẬN RA QUYẾT ĐỊNH
Không tin cậy
Trang 333.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư
3.2.1 Những nhân tố khách quan:
a) Hành lang pháp lý, cơ chế chính sách nhà nước:
Đây là những nhân tố thuộc về môi trường kinh tế, pháp luật, xã hội, tựnhiên… Những nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến công tác thẩm định tài chính
tổ chức tín dụng Một số bất cập chính do hệ thống pháp luật và cơ chế quản lýcủa Nhà nước thường gặp là:
Với các dự án đầu tư trong và ngoài nước liên quan đến nhiều chính sách
mà các chính sách này chưa được hoàn thiện đầy đủ, ổn định, thường thay đổiliên tục dẫn đến tâm lý không an tâm, tin tưởng của các nhà đầu tư
Hệ thống văn bản pháp luật chưa đầy đủ còn khá nhiều kẽ hở và bất cậplàm phát sinh những rủi ro và hạn chế nguồn thông tin chính xác đến các tổ chứctín dụng
b) Tác động của lạm phát:
Lạm phát là yếu tố bất định có ảnh hưởng tới việc thẩm định tài chính dự
án Lạm phát gây nên sự thay đổi về giá cả theo thời gian Do vậy, nó làm biếnđổi dòng tiền kỳ vọng và tỷ lệ chiết khấu khi đánh giá tài chính dự án đầu tư.Mức lạm phát không thể dự đoán một cách chính xác vì nó phụ thuộc vào rấtnhiều yếu tố như quy luật cung cầu, thu nhập và tâm lý người tiêu dùng, tốc độ
Trang 34tăng trưởng của nền kinh tế Các biến số tài chính trong dự án, các yếu tố đầuvào của các chỉ tiêu như NPV, IRR… đều chịu tác động của lạm phát Do vậy,đánh giá tính hiệu quả của một dự án nào đó, cần phải xác định chính xác, hợp
lý giá cả của các yếu tố cấu thành chi phí hay doanh thu của dự án Việc tínhđến yếu tố lạm phát sẽ làm cho quá trình thực hiện dự án được dễ dàng hơn, hiệuquả thẩm định dự án cao hơn
3.2.2 Những nhân tố chủ quan
- Nhận thức của lãnh đạo các tổ chức tín dụng về công tác thẩm định tàichính dự án: điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng Vì nếu lãnh đạo các tổ chứctín dụng cho rằng công tác thẩm định tài chính dự án là không cần thiết đối vớicác tổ chức tín dụng thì sẽ không có việc thẩm định tài chính dự án trước khi raquyết định đầu tư Công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư chỉ thực sự đượcquan tâm và nâng cao khi các nhà lãnh đạo các tổ chức tín dụng nhận thức được
ý nghĩa của công tác này đối với hoạt động đầu tư
- Trình độ cán bộ thẩm định dự án: năng lực của người tham gia thẩmđịnh dự án có vai trò rất quan trọng vì kết quả thẩm định tài chính được dựa trêncác kết quả nghiên cứu, phân tích về kỹ thuật, thị trường, tổ chức sản xuất,…Năng lực của cán bộ thẩm định dự án ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả mà họđảm trách Do vậy, trong mọi trường hợp, muốn hoàn thiện công tác thẩm địnhtài chính dự án thì trước hết bản thân chất lượng của cán bộ thẩm định phảikhông ngừng được nâng cao Họ phải đáp ứng được những đòi hỏi về chuyênmôn nghiệp vụ, nắm vững các văn bản pháp luật, chế độ chính sách của Nhànước Ngoài ra, tư cách phẩm chất đạo đức của cán bộ thẩm định cũng là điềukiện không thể thiếu
- Quy trình nội dung và phương pháp thẩm định tài chính dự án có ảnhhưởng rất lớn tới công tác thẩm định tài chính dự án Một quy trình, nội dung vàphương pháp phù hợp, khách quan khoa học và đầy đủ là cơ sở đảm bảo thựchiện tốt công tác thẩm định tài chính dự án Ngược lại, một quy trình, nội dung
và phương pháp thẩm định bất hợp lý, sơ sài chắc chắn sẽ dẫn tới kết quả thẩm
Trang 35định tài chính dự án không cao và các tổ chức tín dụng khó có thể dựa vào đó để
ra quyết định đầu tư chính xác
- Thông tin là cơ sở cho những phân tích, đánh giá, là "nguyên liệu" choquá trình tác nghiệp của cán bộ thẩm định Nguồn thông tin quan trọng nhấttrước hết là từ hồ sở dự án Nếu thông tin trong hồ sơ dự án thiếu hoặc không rõràng, cán bộ thẩm định có quyền yêu cầu những người lập dự án cung cấp thêmhoặc giải trình những thông tin đó Bên cạnh các thông tin về dự án, để việcthẩm định được tiến hành một cách chủ đông, có những đánh giá khách quan,chính xác hơn thì khả năng tiếp cận, thu thập các nguồn thông tin khác và khảnăng xử lý thông tin của cán bộ thẩm định đóng vai trò quyết định
- Tổ chức điều hành: Thẩm định tài chính dự án đầu tư là tập hợp nhiềuhoạt động có liên quan chặt chẽ với nhau và với các hoạt động khác Kết quảthẩm định sẽ phụ thuộc nhiều vào công tác tổ chức quản lý điều hành, sự phốihợp nhịp nhàng của cán bộ trong quá trình thẩm định Khác với các nhân tốkhác, việc tổ chức điệu hành tác động một cách gián tiếp tới công tác thẩm định.Công tác tổ chức điều hành được thực hiện một cách chặt chẽ, khoa học và sẽkhai thác tối đa mọi nguốn lực phục vụ hoạt động thẩm định dự án
Trang 36CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH I - NHNo&PTNT
1 Khái quát về công ty cho thuê tài chính 1 - NHNo & PTNT
1.1 Giới thiệu chung về Công ty cho thuê tài chính I
- Tên gọi bằng tiếng Việt Nam: Công ty cho thuê tài chính I - Ngân hàngNông nghiệp
- Tên giao dịch quốc tế: Financial Leasing Company I of Viet Nam Bankfor Agriculture and Rural Development
- Tên viết tắt: ALCI
- Trụ sở chính: Số 141, đường Lê Duẩn, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
- Thành lập: 7/9/1998
- Nhân viên công ty: 55 nhân vien
- Chi nhánh tại: Hải Phòng, Quảng Ninh
- Lĩnh vực hoạt động: cho thuê máy móc, thiết bị và các động sản khác
- Địa bàn hoạt động của Công ty cho thuê tài chính I từ Huế trở ra
- Thời gian hoạt động của Công ty là 70 năm kể từ ngày được cấp giấyphép hoạt động Việc gia hạn thời gian hoạt động của Công ty do Hội đồng quảntrị Ngân hàng Nông nghiệp quyết định và phải được thống đốc Ngân hàng Nhànước chấp thuận bằng văn bản
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Bước vào nền kinh tế thị trường đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải đề ranhững phương hướng, chiến lược cụ thể trước mắt và lâu dài trong công cuộcđổi mới nền kinh tế theo hướng thị trường có sự quản lý của Nhà nước Để làmđược điều này, nhu cầu tiêu dùng của người dân phải tăng lên, đi cùng với nó làsản xuất phát triển Song hiện nay, Việt Nam mới chủ yếu phát triển các doanhnghiệp vừa và nhỏ, nhu cầu vốn tại các doanh nghiệp là rất lớn Trong khi đónguồn vốn từ các ngân hàng không thể đáp ứng đủ nguồn vốn cho các doanhnghiệp và một thực trạng xảy ra là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường sử dụng
Trang 37phương pháp chiếm dụng vốn lẫn nhau Như vậy thì việc giải quyết nguồn vốnchỉ mang tính chất tạm thời, mang tính tình huống Nhiều tài liệu, công trìnhnghiên cứu khoa học đã cho thấy sự cần thiết khách quan và tiềm năng phát triểncủa hoạt động cho thuê tài sản ở Việt Nam Và trên thực tế, hoạt động này đượcthừa nhận chính thức ở nước ta từ năm 1991 (theo Thông tư số 34/TCDN ngày31/7/1991)
Xuất phát từ thực tế trên, NHNo&PTNT Việt Nam đã xúc tiến nghiên cứuhoạt động này và áp dụng vào thực tế Công ty cho thuê mua và tư vấn đầu tưcủa NHNo&PTNT Việt Nam được thành lập theo quyết định số 130/QĐ-NHNongày 28/9/1994 và quy chế tổ chức hoạt động của Công ty cho thuê mua và tưvấn đầu tư cũng được xác định tại quyết định số 501/QĐ-NHNo ngày 4/11/1994của Tổng giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam Các quy định đó như sau:
- Công ty thuê mua và tư vấn đầu tư trực thuộc NHNo&PTNT Việt Nam.Công ty chỉ đại diện pháp nhân và hạch toán kinh tế nội bộ
- Công ty thuê mua và tư vấn đầu tư có các nhiệm vụ sau:
+ Được uỷ quyền tập trung các nguồn vốn đầu tư
+ Góp vốn liên doanh, liên kết theo uỷ quyền của Tổng giám đốcNHNo&PTNT Việt Nam
+ Thực hiện các nghiệp vụ cho thuê
- Mô hình tổ chức bộ máy của công ty bao gồm 2 phòng: Phòng Kế toán
và phòng nghiệp vụ kinh doanh
Sau khi có Nghị định 64/CP của Chính phủ cùng với Thông tư NH5 của Ngân hàng nhà nước và qua kinh nghiệm của một số công ty cho thuêtrong và ngoài nước khác thì công ty cho thuê mua và tư vấn đầu tư phải được tổchức lại để có thể hoạt động kinh doanh có hiệu quả Do đó, NHNo&PTNT ViệtNam đã quyết định thành lập Công ty Cho thuê Tài chính NHNo&PTNT ViệtNam Theo quyết định thành lập số 238/QĐ-NHNN5 ngày 14/7/1998 của Thốngđốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hai công ty cho thuê tài chính củaNHNo&PTNT Việt Nam đặt trụ sở tại thành phố Hà Nội
Trang 3803/TT Công ty cho thuê tài chính I 03/TT NHNo&PTNT Việt Nam đặt trụ sở tạithành phố Hà Nội.
- Công ty cho thuê tài chính II - NHNo&PTNT Việt Nam đặt trụ sở tạithành phố Hồ Chí Minh
Riêng công ty cho thuê tài chính I, theo giấy phép kinh doanh số 112447
do Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội cấp ngày 7/9/1998, công ty hoạt động theocác văn bản về hoạt động cho thuê tài chính trước đó và điều lệ hoạt động theoquy định số 492-QĐ/HĐQT do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyđịnh; tổ chức và hoạt động theo luật doanh nghiệp Nhà nước và các luật về Ngânhàng và cong ty cho thuê tài chính, các quy định của pháp luật hiện hành, điều lệcủa Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam
Công ty cho thuê tài chính I - NHNo&PTNT Việt Nam và các chi nhánh,văn phòng đại diện của công ty là một pháp nhân, có con dấu riêng, có tài khoản
mở tại Ngân hàng Nông nghiệp, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ về tài chính, tựchịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh và những cam kết hoạt độngkinh doanh và những cam kết của mình
1.3 Chức năng, nghiệp vụ hoạt động của Công ty
1.3.1 Chức năng
Chức năng chủ yếu của công ty cho thuê tài chính I bao gồm: cho thuêmáy móc, thiết bị và các động sản khác (gọi chung là tài sản cho thuê) phục vụsản xuất kinh doanh và các dịch vụ của các ngành kinh tế, ưu tiên phục vụ pháttriển kinh tế nội ngành, các ngành nông - lâm - ngư diêm nghiệp, nhất là đối vớikhách hàng truyền thống
1.3.2 Nghiệp vụ hoạt động của Công ty
- Được phép huy động vốn từ các nguồn sau:
+ Được nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhântheo quy định của Ngân hàng Nhà nước
+ Được phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và giấy tờ có giá khác có
kỳ hạn trên một năm để huy động vốn của tổ chức cá nhân trong và ngoài nướckhi được thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp nhận
Trang 39+ Được vay vốn của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước.
+ Được nhận các nguồn vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhànước
+ Cho thuê tài chính đố với khách hàng theo quy định của pháp luật hiệnhành về cho thuê tài chính
+ Tư vấn, nhận bảo hành cho khách hàng về những hoạt động, dịch vụ cóliên quan đến nghiệp vụ cho thuê tài chính Thực hiện các nghiệp vụ khác doTổng giám đốc
Trang 40HỆ THỐNG TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY