vốn rất quan trọng đối với hoạt động của ngân hàng, ngân hàng phải biết tận dụng đượcnguồn vốn nhàn rỗi từ nền kinh tế để phục vụ cho mục tiêu kinh doanh của mình.Nhìn chung nguồn vốn hu
Trang 1PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN VÀ SỬ DỤNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN LẤP VÒ
4.1 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN TỪ 2005 ĐẾN 2007
4.1.1 Quy mô huy động vốn
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì nguồn vốn đóng vai trò hếtsức quan trọng, nó quyết định đến khả năng hoạt động cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Nguồn vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu từ hai nguồn: vốn huy động, vốn điều chuyển từ ngân hàng cấp trên
- Đối với nguồn vốn huy động: ngân hàng được toàn quyền sử dụng sau khi đã trích lại một phần theo tỷ lệ đảm bảo do Ngân hàng Nhà nước quy định, đồng thời có trách
nhiệm trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn cho khách hàng
- Đối với nguồn vốn điều chuyển từ ngân hàng cấp trên: ngân hàng chỉ sử dụng
nguồn vốn này khi nguồn vốn huy động - phần vốn được phép sử dụng - không đủ đáp
ứng nhu cầu cho vay tại chi nhánh, khi đó chi nhánh sẽ yêu cầu được điều chuyển vốn
đến và phải chịu lãi suất bằng với lãi suất huy động bình quân tại thời điểm nhận lệnh
Trang 252%
Năm 2005
Vốn huy độngVốn điều chuyển
đó, ngân hàng sẽ giảm đến mức thấp nhất nguồn vốn điều chuyển để gia tăng lợi nhuận.Năm 2005 vốn điều chuyển đến của ngân hàng là 131.636 triệu đồng chiếm 52,25%tổng nguồn vốn Năm 2006 là 148.268 triệu đồng chiếm 54,84% tổng nguồn vốn, so vớinăm 2005 tăng 16.632 triệu đồng tương ứng tăng 12,63% Đến năm 2007 là 169.420 triệuđồng chiếm 52,94% tổng nguồn vốn, so với năm 2006 tăng 21.152 triệu đồng tương ứngtăng 14,27%
Trang 3vốn rất quan trọng đối với hoạt động của ngân hàng, ngân hàng phải biết tận dụng đượcnguồn vốn nhàn rỗi từ nền kinh tế để phục vụ cho mục tiêu kinh doanh của mình.
Nhìn chung nguồn vốn huy động tăng qua các năm, năm 2005 là 120.312 triệu đồngchiếm 47,75% tổng nguồn vốn Năm 2006 là 122.089 triệu đồng chiếm 45,16% tổngnguồn vốn, so với năm 2005 tăng 1.777 triệu đồng tương ứng tăng 1,48% Năm 2007 là150.628 triệu đồng chiếm 47,06% tổng nguồn vốn, so với năm 2006 tăng 28.539 triệuđồng tương ứng tăng 23,38% Mặc dù có tăng nhưng tỷ trọng vốn huy động vẫn chiếm tỷ
lệ tương đối thấp trong tổng nguồn vốn Tuy nhiên, đã thể hiện sự cố gắng của ngân hàngtrong công tác huy động vốn
4.1.2 Cơ cấu các loại tiền gửi:
Mỗi khoản mục nguồn vốn đều có nhu cầu khác nhau về chi phí, tính thanh khoản,thời hạn hoàn trả … Do đó, ngân hàng cần phải quan sát, đánh giá chính xác từng loạinguồn vốn để kịp thời có những chiến lược huy động vốn tốt nhất trong từng thời kỳ nhấtđịnh để hạn chế những rủi ro có thể gặp phải và tối thiểu hóa chi phí đầu vào cho ngânhàng
Tình hình nguồn vốn huy động của ngân hàng qua các năm nhìn chung đều tăng.Hoạt động huy động vốn của ngân hàng có tiến triển tốt, công tác huy động đạt hiệu quảnăm sau cao hơn năm trước Huy động vốn là khâu quan trọng tạo nên vị thế vững chắctrong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Có được kết quả trên là do chi nhánh luôn cóchính sách thu hút vốn đúng đắn, kịp thời để duy trì khách hàng truyền thống, tìm kiếmkhách hàng mới, công tác huy động vốn ngày càng đạt hiệu quả nên nguồn vốn hàng nămtăng lên liên tục Nguồn vốn này bao gồm tiền gởi tiết kiệm của dân cư, tiền gửi của các
tổ chức kinh tế, tiền gửi của kho bạc và phát hành giấy tờ có giá Trong đó huy động từtiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng cao nhất qua các năm
Cơ cấu vốn huy động của ngân hàng được thể hiện trong bảng sau:
Trang 4Bảng 3: TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN QUA 3 NĂM TẠI NGÂN HÀNG
bạc 18.580 15,44 19.313 15,82 14.275 9,48 733 3,95 -5.038 -26,09
4 Giấy tờ có giá 7.400 6,15 6.776 6,89 11.585 7,69 -624 -8,43 4.809 70,97
- Kỳ phiếu 3.500 2,91 6.276 5,14 10.985 7,29 2.776 79,31 4.709 75,03
- Trái phiếu 3.900 3,24 500 0,41 600 0,40 -3.400 -87,18 100 20,00Nguồn vốn huy
Trang 52005 2006 2007 0
Hình 5: TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG QUA 3 NĂM
Ghi chú: - TG: tiền gửi
- TK: tiết kiệm
- TCKT: tổ chức kinh tế
- GTCG: giấy tờ có giá
Để thấy được cụ thể tình hình huy động vốn, ta sẽ đi sâu phân tích từng khoản mục:
4.1.2.1 Tiền gửi tiết kiệm:
Năm 2005 là 55.007 triệu đồng, chiếm 45,72% nguồn vốn huy động Năm 2006 là52.175 triệu đồng, giảm 2.832 triệu đồng so với năm 2005, tương ứng giảm 5,15% và chỉchiếm 41,22% nguồn vốn huy động Nguyên nhân là giá cả hàng hoá dịch vụ tăng, ngườidân làm ăn không hiệu quả - nhất là các hộ sản xuất kinh doanh cá thể, nguồn thu nhậpkhông đủ bù đắp chi phí đầu vào, nên không có tiền nhàn rỗi Mặc dù giảm nhưng đâyvẫn là khoản mục chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn huy động
Năm 2007 là 64.268 triệu đồng, tăng 12.093 triệu đồng so với năm 2006, tương ứngtăng 23,18%, chiếm 42,67% nguồn vốn huy động Nguyên nhân làm cho tiền gửi tiếtkiệm tăng do tình hình kinh tế đã tương đối ổn định, cùng với sự phát triển của khoa họccông nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin các hình thức thanh toán không dùng tiền mặtngày càng được mở rộng và đa dạng đã làm cho loại tiền gửi này tăng Đây cũng là đốitượng huy động chủ yếu nên ngân hàng luôn có chính sách duy trì phương pháp huy độngtruyền thống như tăng lãi suất tiền gửi để giữ chân khách hàng cũ và thu hút khách hàngtiềm năng đến gửi tiền
Trang 6Có 2 loại tiền gửi: không kỳ hạn và có kỳ hạn:
+ Đối với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: khi khách hàng tạm thời có một số tiền
nhàn rỗi trong một thời gian họ gửi vào ngân hàng để hưởng lãi Cụ thể, năm 2005 là8.407 triệu đồng, năm 2006 là 6.594 triệu đồng giảm 1.813 triệu đồng, tương ứng giảm21,57% so với năm 2005 Năm 2007 là 4.190 triệu đồng giảm 2.404 triệu đồng so vớinăm 2005 tương ứng giảm 36,46% Khách hàng chủ yếu là người dân trên địa bàn, khi họ
có khoản tiền dôi ra sẽ gửi vào ngân hàng để sinh lợi Nguyên nhân tiền gửi giảm liên tục
là do lãi suất của loại tiền gửi này thấp hơn so với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn nên thu hútđược khách hàng, mặt khác là do giá vàng trên thị trường tăng khách hàng chuyển sangđầu tư vàng thay vì gửi tiền vào ngân Mặt khác, đây là khoản mục huy động có thể gặprủi ro khi khách hàng rút tiền trước kỳ hạn nên ngân hàng thường chú ý gia tăng tỷ trọngcác khoản huy động khác nhiều hơn
+ Đối với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là khoản tiền gửi đã được xác định thời
gian trả lãi cho khách hàng vì vậy nó có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng, tạo nguồnvốn ổn định giúp ngân hàng có thể chủ động trong đầu tư Vì vậy, tiền gởi tiết kiệm có kỳhạn chiếm tỷ trọng cao hơn tiền gởi tiết kiệm không kỳ hạn, nhưng nguồn huy động nàybiến đổi không đều qua các năm
Cụ thể, năm 2005 là 46.600 triệu đồng, năm 2006 là 45.581 triệu đồng giảm 1.109triệu đồng tương ứng giảm 2,19 % so với năm 2005 Đến năm 2007 là 60.078 triệu đồngtăng 14.497 triệu đồng, tương ứng tăng 31,80% so với năm 2006
Trong đó:
Tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng năm 2005 là 11.650 triệu đồng, năm 2006 là10.028 triệu đồng so với năm 2005 giảm 1.622 triệu đồng, tương ứng giảm 13,92% Năm
2007 là 18.023 triệu đồng tăng 7.996 triệu đồng tức tăng 79,73% so với năm 2006
Tiền gửi có kỳ hạn từ 12 đến 24 tháng – đây là khoản mục chiếm tỷ trọng cao nhấttrong vốn huy động bằng tiền gửi có kỳ hạn Năm 2005 là 32.620 triệu đồng, năm 2006 là31.907 triệu đồng so với năm 2005 giảm 712 triệu đồng, tương ứng giảm 2,18% Năm
2007 là 37.248 triệu đồng tăng 5.342 triệu đồng tức tăng 16,74% so với năm 2006
Trang 7Tiền gửi có kỳ hạn trên 24 tháng – đây là khoản mục chiếm tỷ trọng thấp nhất trongvốn huy động bằng tiền gửi có kỳ hạn Năm 2005 là 2.330 triệu đồng, năm 2006 là 3.646triệu đồng so với năm 2005 tăng 1.316 triệu đồng, tương ứng tăng 56,50% Năm 2007 là4.806 triệu đồng tăng 1.160 triệu đồng tức tăng 61,80% so với năm 2006
Nguyên nhân giảm là do năm 2006 lãi suất huy động của ngân hàng ở loại tiền gửinày thấp hơn so với các ngân hàng khác trên địa bàn nên đã giảm một lượng khách hàngđến gửi tiền Nguồn tiền huy động này đã tăng trở lại là do ngân hàng có chiến lược huyđộng vốn hiệu quả: tăng lãi suất huy động cho phù hợp với các ngân hàng thương mạikhác trên cùng địa bàn, thông tin đến những khách hàng tiềm năng về các tiện ích củaviệc gửi tiền tiết kiệm để thu hút khách hàng
Đây là loại tiền gửi có lãi suất cao hơn tiền gửi không kỳ hạn nên đã huy động đượcmột lượng lớn khách hàng đến gửi tiền qua các năm Tuy nhiên, do lãi suất huy động củaloại hình này cao cho nên ngân hàng cần phải có những chính sách phù hợp để tiếp tụcgiữ vững và phát triển đối với loại hình này, mà vẫn đảm bảo hoạt động kinh doanh cóhiệu quả
4.1.2.2 Tiền gửi của các tổ chức kinh tế :
Đối với loại tiền gửi này, khách hàng gửi tiền là các doanh nghiệp thuộc tất cả cácthành phần trong Huyện Khách hàng gởi tiền vào ngân hàng nhằm đảm bảo cho các dịch
vụ thanh toán từ ngân hàng hoặc khi có lượng tiền nhàn rỗi, khách hàng gửi tiền vào ngânhàng nhằm mục đích sinh lời Đây cũng là khoản mục chiếm một tỷ trọng tương đối caotrong tổng nguồn vốn huy động và tăng đều qua các năm
Năm 2005 là 39.325 triệu đồng, chiếm 32,69% trong nguồn vốn huy động, đến năm
2006 là 43.825 triệu đồng, chiếm 35,90% nguồn vốn huy động, so với năm 2005 tăng4.500 triệu đồng, tương ứng tăng 11,44% Năm 2007 đạt 60.500 triệu đồng chiếm40,17%, so với năm 2006 tăng 16.675 triệu đồng, tức tăng 38,05%
Nguyên nhân của sự tăng lên là do các doanh nghiệp trên địa bàn Huyện làm ănngày càng hiệu quả, cần mở tài khoản để thanh toán trong quá trình kinh doanh Ngânhàng có mối quan hệ tốt với các công ty, doanh nghiệp, tạo được uy tín và cung cấp cácdịch vụ tiện ích nên thu hút được lượng tiền khá lớn từ các đơn vị này
Trang 84.1.2.3 Tiền gửi của kho bạc:
Qua quá trình hình thành và phát triển của mình, kho bạc là khách hàng lâu năm vàquen thuộc của ngân hàng Lượng tiền kho bạc gửi vào là để chi trả lương cho các đơn vịhành chính sự nghiệp trên địa bàn
Cụ thể, năm 2005 đạt 18.580 triệu đồng, chiếm 15,44% nguồn vốn huy động Năm
2006 đạt 19.313 triệu đồng, chiếm 15,82% nguồn vốn huy động, so với năm 2005 tăng
733 triệu đồng, tương đương tăng 3,95% Năm 2007 chỉ còn 14.275 triệu đồng, chiếm9,48% nguồn vốn huy động, so với năm 2006 giảm 5.038 triệu đồng, tương ứng giảm26,09%
Nguyên nhân của sự tăng giảm bất thường này là do kho bạc cần tiền để chi trảlương cho các đơn vị hành chính, chi tiền cho các công trình xây dựng thuỷ lợi, các dự án
có vốn uỷ thác từ cấp trên…Đây là nguồn vốn không ổn định, ngân hàng không nên quáchú trọng quá nhiều
4.1.2.4 Phát hành giấy tờ có giá:
Năm 2005 là 7.400 triệu đồng chỉ chiếm 6,15% nguồn vốn huy động Năm 2006 đạt6.776 triệu đồng, so với năm 2005 giảm 624 triệu đồng, tương đương giảm 8,43%, nhưnglại chiếm đến 6,89% nguồn vốn huy động Năm 2007 là 11.585 triệu đồng, chiếm 7,69%vốn huy động, tăng 4.809 triệu đồng tương đương tăng 70,97%
+ Đối với kỳ phiếu: năm 2005 phát hành 3.500 triệu đồng, chiếm 2,19% tổng vốn
huy động Năm 2006 là 6.276 triệu đồng, chiếm 5,14% tổng vốn huy động, so với năm
2005 tăng 2.776 triệu đồng, tương ứng tăng 79,31% Nguyên nhân là do khoản mục tiềngửi tiết kiệm giảm, vốn huy động giảm nên ngân hàng cần một lượng tiền để đáp ứng nhucầu vốn
Năm 2007 phát hành 10.985 triệu đồng, chiếm 7,19% vốn huy động, so với năm
2006 tăng 4.709 triệu đồng, tương đương tăng 75,03% Thông thường, các loại giấy tờ cógiá có lãi suất cao hơn các loại tiền gửi khác nên thu hút khách hàng hơn Kỳ phiếu năm
2007 tăng là do nhu cầu sử dụng vốn tăng, mặc dù các loại tiền gửi có tăng nhưng vẫnkhông đủ đáp nhu cầu vốn cho vay
Trang 9+ Đối với trái phiếu: năm 2005 là 3.900 triệu đồng, năm 2006 là 500 triệu đồng
giảm 3.400 triệu đồng tương đương giảm 87,18% Nguyên nhân là do ngân hàng khôngphát hành thêm trái phiếu nhưng phải thanh toán cho các trái phiếu đến hạn
Năm 2007 là 600 triệu đồng, so với năm 2006 tăng 100 triệu đồng, tương đươngtăng 20% Trong năm này, ngân hàng phải tăng vốn huy động nên phát hành thêm tráiphiếu mới, đồng thời cũng phải thanh toán các trái phiếu đến hạn nên mức tăng khôngđáng kể
4.1.2.5 Cơ cấu lãi suất huy động qua 3 năm:
Bảng 4: CƠ CẤU LÃI SUẤT HUY ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG
ĐVT: %
1 Tiền gởi dân cư
- Tiền gửi không kỳ hạn 0,25 0,25 0,25
(Nguồn Báo cáo cơ cấu lãi suất 3 năm từ 2005 đến 2007)
Ghi chú: - TCKT: tổ chức kinh tế
Qua bảng trên ta thấy khung lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn ngày một tăng lên,đây là điều kiện thuận lợi để ngân hàng thu hút vốn tiền gửi từ dân cư Mặc dù lãi suấthuy động có thấp hơn so với các ngân hàng khác trên cùng địa bàn, nhưng ngân hàngđược lợi thế là có thời gian hoạt động lâu năm nên có một lượng khách hàng truyền thống
Trang 10đáng kể giúp thu hút một lượng vốn nhàn rỗi nhất định, tăng khả năng cạnh tranh củangân hàng.
4.1.3 Tỷ số vốn huy động trên tổng nguồn vốn
Bảng 5: TỶ SỐ VỐN HUY ĐỘNG TRÊN TỔNG NGUỒN VỐN
Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả huy động vốn của NHNo & PTNT huyện Lấp Vò
Cụ thể năm 2005, vốn huy động trên tổng nguồn vốn chiếm tỷ trọng 47,87% sang năm
2006 tỷ trọng này giảm xuống còn 45,16%.Đến năm 2007 chỉ tiêu này là 47,06% Qua đócho thấy hiệu quả huy động vốn của ngân hàng tuy tăng đều qua các năm nhưng nhìnchung chưa cao so với tiềm năng và còn lệ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn điều chuyển.Nguyên nhân là do nguồn thu nhập của người dân chưa cao nên lượng tiền nhàn rỗi rất ít,
họ chưa có thói quen gửi tiền vào ngân hàng mà chỉ thích đầu tư vào sản xuất hay kinhdoanh vàng Tuy nguồn vốn huy động đạt được với tỷ trọng chưa cao nhưng điều đángkhích lệ là doanh số huy động vẫn tiếp tục tăng, điều này có thể nói ngân hàng cũng dầndần phát huy được bước phát triển của mình trong xu thế hội nhập
Nhìn chung, công tác huy động vốn của ngân hàng qua 3 năm thực hiện rất tốt, luônđạt kế hoạch đề ra Có được kết quả như vậy là do chi nhánh luôn phấn đấu nỗ lực tìmmọi biện pháp tăng nguồn vốn huy động Tuy nhiên, trên địa bàn có nhiều tổ chức tíndụng với phương thức huy động vốn với lãi suất hấp dẫn, nên ngân hàng cần tăng cườngcông tác huy động vốn và gia tăng các dịch vụ tiền gửi để giữ chân khách hàng truyền
Trang 11thống và thu hút khách hàng mới, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vốn cho các thànhphần kinh tế trong Huyện.
Trong xu thế hội nhập hiện nay, công tác huy động vốn là vấn đề sống còn tronghoạt động của ngân hàng, vì vậy ngân hàng nên chủ động về nguồn vốn để đảm bảo hoạtđộng, tránh bị động về vốn gây ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng
4.1.4 Khả năng đáp ứng nhu cầu vốn vay
Bảng 6: KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU VỐN VAY
- Vốn điều chuyển dự kiến (DN-VHĐ) 117.060 131.925 160.636
(Nguồn Bảng cân đối tài khoản chi tiết năm từ 2005 đến 2007)
Ghi chú: - VHĐ: vốn huy động
Trang 12- DN: dư nợ
4.1.4.1 Vốn huy động ngắn hạn trên dư nợ trung hạn
Theo khoản 1 điều 15 quyết định 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19 tháng 4 năm 2005của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: “Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn tổ chức tíndụng được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn:
a Ngân hàng thương mại: 40%
b Tổ chức tín dụng khác: 30%”
Tại NHNo & PTNT Huyện Lấp Vò tỷ số này qua 3 đều dưới 40%, cụ thể năm 2005
là 28,75%; năm 2006 là 24,26%; năm 2007 là 17,89% không vượt quá quy định củaThống đốc Ngân hàng Nhà nước
4.1.4.2 Khả năng đáp ứng nhu cầu vay của vốn điều chuyển:
Vốn điều chuyển dự kiến năm 2005 là 117.060 triệu đồng, trong khi đó điều chuyểnđến tại ngân hàng là 131.636 triệu đồng, lượng vốn điều chuyển thừa là 14.576 triệuđồng Năm 2006 vốn điều chuyển dự kiến là 131.925 triệu đồng, vốn điều chuyển tạingân hàng là 148.268 triệu đồng Thừa 16.343 triệu đồng Năm 2007 vốn điều chuyển dựkiến là 160.636 triệu đồng, vốn điều chuyển tại ngân hàng là 169.420 triệu đồng, thừa8.748 triệu đồng
Qua 3 năm ngân hàng đều sử dụng vốn điều chuyển thừa, nhu cầu vay vốn của xãhội thấp hơn nguồn vốn tại ngân hàng, nói cách khác ngân hàng thừa khả năng đáp ứngnhu cầu vốn Tuy nhiên, vốn điều chuyển thừa làm ngân hàng tốn thêm một phần chi phí
từ việc trả lãi, do đó ngân hàng cần cân đối nguồn vốn hợp lý hơn để có lượng vốn điềuchuyển vừa đủ đáp ứng nhu cầu mà hạn chế được chi phí, góp phần tăng nguồn doanhthu
4.2 PHÂN TÍCH TÌNH SỬ DỤNG VỐN
Những năm qua, cùng với công tác huy động vốn ngân hàng không ngừng đẩymạnh công tác cho vay đến các thành phần kinh tế nhưng vẫn đặt hiệu quả, an toàn là
Trang 13mục tiêu hàng đầu Với phương châm “Mang sự phồn vinh đến với khách hàng”, “tăngtrưởng tín dụng đi đôi với chất lượng tín dụng”,…trong các năm qua NHNo & PTNTHuyện Lấp Vò đã đạt được những kết quả đáng kể:
Bảng 7: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
347.714
-(Nguồn Bảng cân đối tài khoản tổng hợp năm tại ngân hàng từ 2005 đến 2007)
Ghi chú: - DS: doanh số
0100000
Ghi chú: DS: doanh số
Trang 14 Doanh số cho vay:
Doanh số cho vay là số tiền mà ngân hàng đã giải ngân dưới hình thức tiền mặt haychuyển khoản trong một thời gian nhất định, sự tăng giảm của doanh số cho vay cũngđánh giá được quy mô tín dụng
Nhìn chung doanh số cho vay không ngừng tăng trưởng qua các năm, năm 2005doanh số cho vay đạt 326.529 triệu đồng Đến năm 2006 là 347.714 triệu đồng tăng21.185 triệu đồng so với năm 2005, tương đương tăng 6,49% Năm 2007 đạt 471.241triệu đồng, so với năm 2006 tăng 123.527 triệu đồng, tương ứng tăng 35,53%
Đạt được sự tăng trưởng đáng kể trên là nền kinh tế địa phương phát triển, cácdoanh nghiệp làm ăn ngày càng hiệu quả nên muốn mở rộng việc kinh doanh, ngân hàngluôn sẵn sàng hỗ trợ vốn kịp thời cho người vay Bên cạnh đó, theo chủ trương của Tỉnhkhuyến khích người trong độ tuổi lao động đi xuất khẩu lao động nên doanh số cho vaycác đối tượng này cũng tăng đáng kể
Nhìn chung, doanh số cho vay của ngân hàng đã không ngừng tăng lên qua cácnăm Đây là kết quả của việc nỗ lực không ngừng của Ban lãnh đạo và toàn thể nhân viênphòng Tín dụng, thực hiện các biện pháp mở rộng tín dụng, cũng như chú trọng hơn nữaphong cách giao dịch của cán bộ tín dụng Điều đó cho thấy qui mô tín dụng của ngânhàng ngày càng mở rộng
Doanh số thu nợ:
Doanh số thu nợ là một chỉ tiêu cần phải phân tích đến trong hoạt động tín dụng ởmỗi thời kỳ vì nó phản ánh hiệu quả hoạt động tín dụng Việc thu nợ góp phần tái đầu tưtín dụng và đẩy nhanh tốc độ luân chuyển trong lưu thông Khi doanh số thu nợ tăng đó
là điều đáng mừng vì vốn vay được thu hồi nhanh và dấu hiệu tốt cho sự an toàn củanguồn vốn tín dụng
Trang 15Năm 2005 doanh số thu nợ đạt 297.270 triệu đồng, đến năm 2006 đạt 331.072 triệuđồng tăng 33.802 triệu đồng, tức tăng 11,37% so với năm 2005 Năm 2007 đạt 413.99triệu đồng so với năm 2006 tăng 82.919 triệu đồng tương ứng tăng 25,05%.
Doanh số thu nợ tăng là do doanh số cho vay tăng, ngân hàng luôn coi trọng côngtác thẩm định trước khi cho vay, thường xuyên theo dõi việc sử dụng vốn vay của kháchhàng, đôn đốc khách hàng trả nợ đúng hạn Ngoài ra còn do ý thức của khách hàng muốnduy trì mối quan hệ lâu dài với ngân hàng nên họ chú trọng đến việc trả nợ đúng hạn
Dư nợ:
Dư nợ là số tiền ngân hàng giải ngân nhưng chưa đến hạn thu hồi, chỉ tiêu này đánhgiá xác thực quy mô tín dụng của ngân hàng tại một thời điểm nhất định Dư nợ phản ánhmức đầu tư vốn và liên quan trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng.Với cơ cấu nguồn vốnngày một tăng kết hợp với việc mở rộng quy mô tín dụng góp phần làm tăng tổng dư nợ
Cụ thể, năm 2005 dư nợ là 237.372 triệu đồng, năm 2006 là 254.014 triệu đồng, sovới năm 2005 tăng 16.642 triệu đồng tương ứng tăng 7,01% Đến năm 2007 là 311.264triệu đồng, so với năm 2006 tăng 57.250 triệu đồng, tương ứng tăng 22,54%
Với phương châm mở rộng hoạt động tín dụng, tăng dư nợ nhằm thúc đẩy nền kinh tếđịa phương phát triển, trong những năm qua doanh số cho vay của ngân hàng liên tục tănggóp phần làm cho tổng dư nợ có sự gia tăng đáng kể Đạt được kết quả như trên là do ngânhàng chú trọng công tác mở rộng thị phần, nâng cao chất lượng tín dụng
Nợ quá hạn:
Nhìn chung, nợ quá hạn của ngân hàng qua các năm liên tục tăng lên Cụ thể, nợquá hạn đã tăng lên từ 1.843 triệu đồng trong năm 2005 lên đến 4543 triệu đồng trongnăm 2006 So với cùng kỳ năm 2005, nợ quá hạn năm 2006 đã tăng 2.700 triệu đồng vớitốc độ đến 146,50% Nguyên nhân nợ quá hạn tăng với tỷ lệ cao như vậy là do tình hìnhkhách quan như ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh trên vật nuôi, sự biến động về giá cácmặt hàng vật tư đầu vào trong quá trình sản xuất, chăn nuôi…làm cho việc sản xuất kinhdoanh của ngưòi vay gặp nhiều khó khăn, thậm chí thua lỗ dẫn đến việc không có nguồn