1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

48 663 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Ngân hàng thương mại
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 1997
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 111,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật này còn định nghĩa : Tổchức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này vàcác quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch

Trang 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Ngân hàng Thương mại và vai trò của Ngân hàng thương mại

2.1.1 Khái niệm NHTM

Nền kinh tế hàng hoá phát triển tất yếu sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết và đòihỏi sự ra đời của nhiều loại hình Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác Để tăngcường quản lý, hướng dẫn hoạt động của các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác,tạo thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổchức và cá nhân Việc đưa ra khái niệm niệm về NHTM là hết sức cần

Luật tín dụng do Quốc hội khóa X qua vào ngày 12 tháng 12 năm 1997, địnhnghĩa : Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộhoạt động Ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan Luật này còn định nghĩa : Tổchức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này vàcác quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngânhàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch

vụ thanh toán.[1]

Luật tổ chức tín dụng không có định nghĩa hoạt động Ngân hàng vì khái niệmnày đã được định nghĩa trong Luật Ngân hàng Nhà nước, cũng do Quốc hội khóa Xthông qua cùng ngày.Luật Ngân hàng Nhà nước định nghĩa: Hoạt động Ngân hàng làmột hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung thường xuyên lànhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dich vụ thanh toán

2.1.2 Chức năng của NHTM

- Chức năng trung gian tài chính gồm trung gian tín dụng và trung gian thanhtoán

+ Trung gian tín dụng:

Trang 2

Đây là chức năng cơ bản và đặc trưng nhất của NHTM và có ý nghĩa đặc biệtquan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển Một mặt NHTM huy động và tậptrung nguồn vổn trong nền kinh tế như vốn nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế, tiền tiếtkiệm của dân cư để hợp thành nguồn vốn cho vay Mặt khác, trên cơ sở nguồn vốn đãhuy động được, NHTM cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế

Chính với chức năng này NHTM góp phần quan trọng vào việc điều hòa lượngtiền tệ, ổn định sức mua đồng tiền, kiềm chế lạm phát.[1]

+ Trung gian thanh toán:

Ngân hàng làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầucủa khách hàng, như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hoá,dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và cáckhoản thu khác theo lệnh của họ

- Chức năng tạo tiền: từ một số dự trữ ban đầu thông qua quá trình cho vay vàthanh toán bằng chuyển khoản của Ngân hàng thì lượng tiền gửi mới được tạo ra và nólớn hơn rất nhiều so với ban đầu, gọi là quá trình tạo tiền của Ngân hàng Với chứcnăng này, hệ thống NHTM đã làm tăng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đápứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội

- Chức năng “sản xuất” bao gồm việc huy động và sử dụng các nguồn lực đểtạo ra “sản phẩm” và dịch vụ Ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế.[1]

2.1.3 Vai trò của NHTM

Vai trò của NHTM đối với nền kinh tế ngày càng quan trọng nó được thể hiệnqua các vai trò sau:

Thứ nhất: NHTM là nơi tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để cung

cấp cho các nhu cầu của nền kinh tế, qua đó chuyển tiền thành tư bản để phát triển sảnxuất và tăng cường hiệu quả hoạt động của tiền vốn trong xã hội luôn tồn tại tình trạngthừa vốn một cách tạm thời Những cá nhân, tổ chức có tiền nhành rổi thì muốn bảoquản số tiền một cách an toàn nhất và có hiệu quả nhất Trong khi đó những các nhân,

Trang 3

tổ chức có nhu cầu về vốn thì muốn vay được những khoản vốn nhằm phục vụ chohoạt động kinh doanh của mình…

Thứ hai: Hoạt động của các NHTM góp phần tăng cường hiệu quả sản xuất kinh

doanh của các doanh nghiệp, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.Tất cả các hoạt động của Ngân hàng là cơ sở giúp cho việc tăng cường hiệu quả hoạtđộng của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung

Thứ ba: NHTM thông qua những hoạt động của mình góp phần vào việc thực

hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia: ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát,tạo công ăn việc làm, ổn định lãi suất, ổn định thị trường tài chính, thị trường ngoạihối, ổn định và tăng trưởng kinh tế Với các công cụ mà Ngân hàng trung ương dùng

để thực thi chính sách tiền tệ: chính sách chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của NHTWđối với NHTM: lãi suất tín dụng hoặc bằng các nghiệp vụ thị trường tự do Thì cácNgân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc thi hành chính sách tiền tệ quốc gia CácNHTM có thể thay đổi lượng tiền tệ trong lưu thông bằng việc thay đổi lãi suất tíndụng hoặc bằng các nghiệp vụ trên thị trường mở qua đó góp phần chống lại lạm phát

và ổn định sức mua của nội tệ

Thứ tư: NHTM bằng hoạt động của mình đã thực hiện việc phân bổ vốn giữa

các vùng qua đó tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng khácnhau trong một quốc gia Các vùng kinh tế khác nhau thì có sự phát triển khác nhau.Hiện tượng thừa vốn hoặc thiếu vốn một cách tạm thời giữa các vùng diễn ra thườngxuyên Do đó vấn đề đặt ra là làm sao thực hiện tốt nhất hiệu quả huy động của vốn vàchính hoạt động điều tiết chuyển vốn trong nội bộ Ngân hàng đã thực hiện tốt vấn đềnày

Thứ năm: NHTM là cầu nối giữa nền kinh tế các nước và thế giới, tạo điều kiện

cho việc hòa nhập của nền kinh tế trong nước với nền kinh tế trong khu vực và kinh tếthế giới với xu hướng toàn cầu hóa nề kinh tế trong khu vực và nền kinh tế thế giớicùng với chính sách mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về kinh tế xã hội của các quốcgia trên thế giới thì hoạt động của các NHTM được mỡ rộng và thúc đẩy cho việc mởrộng hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp trong nước Với hoạt động rộng khắp

Trang 4

của mình, các Ngân hàng có khả năng được nguồn vốn từ các cá nhân và các tổ chứcnước ngoài góp phần bảo đảm được nguồn vốn cho nền kinh tế trong nước, tạo điềukiện cho các doanh nghiệp trong nước có thể mở rộng hoạt động của họ ra nước ngoàimột cách dễ dàng hơn, hiệu quả hơn nhờ hoạt động thanh toán quốc tế, bảo lãnh.

2.1.4 Các hoạt động chủ yếu của NHTM

- Hoạt động huy động vốn

- Hoạt động tín dụng

- Hoạt động dịch vụ thanh toán

- Hoạt động ngân quỹ

- Các hoạt động khác như góp vốn,mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ,kinh doanh ngoại hối, kinh doanh vàng, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ

và bảo hiểm, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, dịch vụ tư vấn và các dịch vụ khác liên quanđến hoạt động Ngân hàng

2.1.4.1 Hoạt động huy động vốn

- Ngân hàng thương mại được phép huy động vốn dưới các hình thức sau:

+ Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khácdưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác

+ Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huyđộng vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài

+ Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt nam và các

tổ chức tín dụng nước ngoài

+ Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước

+ Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhànước

Trang 5

2.1.4.2 Hoạt động tín dụng

Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức,cá nhân dưới hình thứccho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tàichính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Trong các hoạtđộng cấp tín dụng thì hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớnnhất

- Cho vay: gồm các hình thức sau :

+ Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doa,dịch

vụ và đời sống

+ Cho vay trung hạn, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản

xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống

- Bảo lãnh: NHTM được bảo lãnh cho vay, bão lãnh thanh toán, bão

lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh khác bằng uy tín

và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh Mức bảo lãnh mộtkhách hàng và tổng mức bảo lãnh của một Ngân hàng thương mại không được vượtquá tỷ lệ so với vốn tự có của NHTM

- Chiết khấu: NHTM được phép chiết khấu các thương phiếu và các

giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu cáctương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác

- Cho thuê tài chính: NHTM được hoạt động cho thuê tài chính nhưng

phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng Việc thành lập, tổ chức và hoạt độngcủa công tycho thuê tài chính thực hiện theo nghị định của Chính phủ về tổchức vàhoạt động của công ty cho thuê tài chính

2.1.4.3 Hoạt động dịch vụ và thanh toán ngân quỹ

- Để thực hiện các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông quaNgân hàng, NHTM được mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước Để thực

Trang 6

hiện thanh toán giữa các Ngân hàng với nhau thông qua Ngân hàng Nhà nước, NHTMphải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước nơi NHTM đặt trụ sở chính và duytrì tại đó số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định Ngoài ra, chi nhánh của NHTMđược mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà Nước tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở củachi nhánh Hoạt động dịch vụ thanh toán ngân quỹ của NHTM bao gồm các hoạt độngsau:

+ Cung cấp các phương tiện thanh toán

+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng.

+ Thực hiện các dịch vụ thu hộ và chi hộ.

+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của NHNN.

+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép.

+ Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng.

+ Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên

Ngân hàng trong nước

+ Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép.

2.1.4.4 Các hoạt động khác

- Ngoài các hoạt động chính bao gồm huy động tiền gửi, cấp tín dụng vàcung cấp dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, NHTM còn có thể thực hiện một số hoạtđộng khác, bao gồm:

+ Góp vốn và mua cổ phần – NHTM được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ

để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác trongnước theo quy định của pháp luật Ngoài ra, NHTM còn được góp vốn, mua cổ phần vàliên doanh với Ngân hàng nước ngoài để thành lập Ngân hàng liên doanh

+ Tham gia thị trường tiền tệ - NHTM được tham gia thị trường tiền tệ,

theo quy định của NHNN, thôngqua các hình thức mua bán các công cụ của thị trườngtiền tệ

Trang 7

+ Kinh doanh ngoại hối – NHTM được phép trực tiếp kinh doanh hoặc

thành lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trongnước và thị trường quốc tế

+ Ủy thác và nhận ủy thác – NHTM được ủy thác, nhận ủy thác làm đại lý

trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động Ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốnđầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác, đại lý

+ Cung ứng dịch vụ bảo hiểm – NHTM được cung ứng dịch vụ bảo hiểm,

được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm theo quyđịnh của pháp luật

+ Tư vấn tài chính - NHTM được cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính,

tiền tệ cho khách hàng dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty tư vấntrực thuộc Ngân hàng

+ Bảo quản vật quý giá - NHTM được thực hiện các dịch vụ bảo quản vật

quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác có liên quan theo quyđịnh của pháp luật

2.2 Hoạt động tín dụng Ngân hàng

2.2.1 Khái niệm tín dụng Ngân hàng

Tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hóa Bản chất của tín dụng hàng hóa

là vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyểnnhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng và hai bên cùng có lợi.Trong hoạt động kinh tế hàng hóa có nhiều loại hình tín dụng như tín dụng Ngân hàng,tín dụng thương mại, tín dụng nhà nước

Tín dụng Ngân hàng cũng mang bản chất của quan hệ tín dụng nói chung Đó làquan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ Ngân hàng cho khách hàng trong mộtthời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định

Tín dụng Ngân hàng chứa đựng ba nội dung cơ bản:

Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sửdụng

Trang 8

Sự chuyển nhượng này có thời hạn hay mang tính tạm thời.

Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí

Do đặc điểm riêng của mình tín dụng Ngân hàng đạt được ưu thế hơn các hìnhthức tín dụng khác về khối lượng, thời hạn và phạm vi đầu tư Với đặc điểm tín dụngbằng tiền, vốn tín dụng Ngân hàng có khả năng đầu tư chuyển đổi vào bất cứ lĩnh vựcnào của sản xuất và lưu thông hàng hóa Vì vậy mà tín dụng Ngân hàng ngày càng trởthành hình thức tín dụng quan trọng trong các hình thức tín dụng hiện có

Tín dụng hộ sản xuất là quan hệ tín dụng Ngân hàng giữa một bên là Ngân hàngvới một bên là hộ sản xuất hàng hóa Hộ sản xuất phải được thừa nhận là chủ thể trongquan hệ xã hội, có thừa kế, có quyền sở hữu tài sản, có phương án sản xuất kinh doanhhiệu quả, có tài sản thế chấp thì mới có khả năng và tư cách để tham gia quan hệ tíndụng với Ngân hàng Đây cũng chính là điều kiện để hộ sản xuất đáp ứng được điềukiện vay vốn của Ngân hàng

2.2.2 Đặc điểm của tín dụng Ngân hàng

Chủ thể tham gia gồm một bên là Ngân hàng và bên còn lại là các chủ thể kháctrong nền kinh tế, như các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, vv…

Vốn tín dụng cấp chủ yếu là tiền tệ, cũng có thể là tài sản

Thời hạn của tín dụng Ngân hàng rất linh hoạt, có thể là ngắn hạn, trung hạn,hoặc dài hạn

Công cụ của tín dụng Ngân hàng rất đa dạng, có thể là kỳ phiếu, trái phiếu Ngânhàng, các hợp đồng tín dụng, vv…

Tín dụng Ngân hàng là hình thức tín dụng mang tính chất gián tiếp, trong đóNgân hàng là trung gian tín dụng giữa những người tiết kiệm và những người cần vốn

để sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng

Mục đích của tín dụng Ngân hàng chủ yếu là nhằm phục vụ sản xuất, kinhdoanh hoặc tiêu dùng qua đó thu được lợi nhuận

2.2.3 Nguyên tắc cơ bản của tín dụng Ngân hàng

- Nguyên tắc 1 : Vốn vay phải được hoàn trả nợ gốc và lãi đầy đủ theo đúngthoả thuận Đây là nguyên tắc cơ bản chủ đạo trong quan hệ tín dụng Khi Ngân hàngcấp phát tiền vay, Ngân hàng phải có cơ sở tin rằng khách hàng có khả năng trả nợ một

Trang 9

cách đầy đủ nếu không, hợp đồng tín dụng không thể xảy ra Bởi vậy, để duy trì vàphát triển kinh doanh tiền tệ của Ngân hàng thì đồng vốn bỏ ra phải quay về Ngân hàngvới giá trị cao hơn, điều này không chỉ giúp cho Ngân hàng có thể tái tạo lại nguồn vốn

mà còn có lãi để trang trải chi phí, nếu Ngân hàng không thu hồi đủ nợ thì dẫn đến thua

lỗ và cao hơn nữa là mất khả năng thanh toán

- Nguyên tắc 2 : Vốn vay phải có mục đích, đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mụcđích đã thoả thuận Để đảm bảo nguyên tắc thứ nhất là vốn vay phải được hoàn trả vàđảm bảo cho nền kinh tế phát triển cân đối thì khi cấp tiền vay, Ngân hàng phải biếtvốn vay sử dụng vào việc gì, có khả năng thu hồi vốn tạo ra lợi nhuận để trang trải nợhay không, mức độ mạo hiểm trong việc sử dụng vốn như thế nào, từ đó ảnh hưởngđến khả năng hoàn trả tín dụng ra sao… Do vậy nguyên tắc này là nguyên tắc cơ bản

hỗ trợ cho nguyên tắc thứ nhất

- Nguyên tắc 3 : Vốn vay phải có đảm bảo, việc đảm bảo tiền vay phải thực hiệntheo quy định Trong nền kinh tế thị trường năng động, chúng ta khó có thể dự báotương đối chính xác các sự kiện xảy ra trong tương lai Do vậy, chúng ta cũng khó màxác định một cách chính xác người sử dụng vốn vay có thể trả nợ trong tương lai haykhông Cho nên để đảm bảo nguyên tắc chỉ đạo trong hoạt động tín dụng là nguyên tắchoàn trả thì cần phải có nguyên tắc thứ ba hỗ trợ cho nguyên tắc thứ nhất Đây lànguyên tắc thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất không diễn ra

2.2.4 Phân loại cho vay

2.2.4.1 Dựa vào mục đích của tín dụng

Cho vay phục vụ sản xuất, kinh doanh công thương nghiệp

Cho vay tiêu dùng cá nhân

Cho vay bất động sản

Cho vay nông nghiệp

Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu

2.2.4.2 Dựa vào thời hạn

Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn dưới 12 tháng Mục đích của loạicho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động

Trang 10

Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm, mục đíchcủa loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định.

Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, mục đích của loại chovay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào các dự án đầu tư

2.2.4.3 Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng

Cho vay không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cấm cốhoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn

để quyết định cho vay

Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vaynhư thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác

2.2.4.4 Dựa vào phương thức cho vay

Cho vay theo món vay

Cho vay theo hạn mức tín dụng

2.2.4.5 Dựa vào phương án hoàn trả nợ vay

Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáohạn

Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp

Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy khả năng tàichính của mình, người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào

2.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của NHTM

2.2.5.1 Các nhân tố chủ quan

Hoạt động cho vay Ngân hàng ngày càng tăng cường phụ thuộc phần lớn vàocác nhân tố tạo nên sức mạnh của Ngân hàng

Một Ngân hàng cũng như một doanh nghiệp, muốn tiến hành hoạt động sản xuấtkinh doanh thì phải có vốn Hai nguồn vốn chủ yếu của Ngân hàng là vốn tự có và vốnhuy động

Trang 11

NHTM nằm trong hệ thống Ngân hàng chịu sự tác động của chính sách tiền tệ,chịu sự quản lý của Ngân hàng Trung Ương và tuân thủ các qui định của luật Ngânhàng Một Ngân hàng chỉ được huy động một số vốn gấp 20 lần số vốn tự có Điều đó

có nghĩa là nếu vốn tự có càng lớn, khả năng được phép huy động vốn càng cao, vàNgân hàng càng dễ dàng hơn trong việc thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình

Đặc điểm khác nhau cơ bản trong nguồn vốn của thương mại và các doanhnghiệp phi tài chính là các NHTM kinh doanh chủ yếu bằng nguồn vốn huy động từcác thành phần kinh tế còn các doanh nghiệp khác hoạt động bằng nguồn vốn tự có làchính

Ta biết Ngân hàng cho vay bằng nguồn vốn huy động của mình Mà hoạt độngcho vay của Ngân hàng ngày càng được tăng cường, số lượng và chất lượng cho vaycàng lớn khi mà nguồn vốn của Ngân hàng phải lớn mạnh khi nguồn vốn của Ngânhàng tăng trưởng đều đặn, hợp lý thì Ngân hàng có thêm nhiều tiền cho khách hàngvay, điều đó cũng có nghĩa là hoạt động cho vay của Ngân hàng được tăng cường và

mở rộng Còn nếu lượng vốn ít thì không đủ tiền cho khách hàng vay, Ngân hàng sẽ bỏ

lỡ nhiều cơ hội đầu tư, lợi nhuận của Ngân hàng sẽ không cao và việc tăng cường hoạtđộng cho vay sẽ bị hạn chế Nhưng nếu vốn quá nhiều, Ngân hàng cho vay ít so vớilượng vốn huy động (hệ số sử dụng vốn thấp) thì sẽ gây ra hiện tượng tồn đọng vốn.Lượng vốn tồn đọng này không sinh lời và lãi suất phải trả cho nó sẽ làm giảm lợinhuận của Ngân hàng

Vì vậy việc nghiên cứu tình hình huy động vốn của Ngân hàng là quan trọng khimuốn tăng cường hoạt động cho vay

Chính sách tín dụng bao gồm các yếu tố giới hạn mức cho vay đối với mộtkhách hàng, kỳ hạn của khoản vay, lãi suất cho vay và mức lệ phí, phương thức chovay, hướng giải quyết phần khách hàng vay vượt giới hạn, xử lý các khoản vay có vấnđề tất cả các yếu tố đó có tác dụng trực tiếp và mạnh mẽ đến việc mở rộng cho vaycủa Ngân hàng Nếu như tất cả những yếu tố thuộc chính sách tín dụng đúng đắn, hợp

lý, linh hoạt, đáp ứng được các nhu cầu đa dạng của khách hàng về vốn thì Ngân hàng

đó sẽ thành công trong việc tăng cường hoạt động cho vay, nhưng vẫn đảm bảo được

Trang 12

chất lượng tín dụng Ngược lại, những yếu tố này bất hợp lý, cứng nhắc, không theo sáttình hình thực tế sẽ dẫn đến khó khăn trong việc tăng cường hoạt động cho vay củamình.

Ngân hàng càng đa dạng hoá các mức lãi suất phù hợp với từng loại khách hàng,từng kỳ hạn cho vay và chính sách khách hàng hấp dẫn thì càng thu hút được kháchhàng, thực tốt mục tiêu mở rộng hoạt động cho vay Nhưng nếu lãi suất không phù hợpquá cao hay quá thấp, không có lãi suất ưu đãi thì sẽ không thu hút được nhiều kháchhàng và như vậy sẽ hạn chế hoạt động cho vay của Ngân hàng

Khó có thể tưởng tượng nổi một doanh nghiệp trong môi trường luôn biến động

và cạnh tranh gay gắt như ngày nay mà không cần đến thông tin Thông tin trở thànhvấn đề thiết yếu, không thể thiếu được với mọi doanh nghiệp nói chung và NHTM nóiriêng Trong hoạt động cho vay, Ngân hàng cho vay chủ yếu dựa trên sự tin tưởng đốivới khách hàng Mức độ chính xác của sự tin tưởng này lại phụ thuộc vào chất lượngthông tin mà Ngân hàng có được

Để ngày càng cường hoạt động cho vay đạt hiệu quả, chất lượng cao, NHTMphải nắm bắt những thông tin cả bên trong và bên ngoài của Ngân hàng (những thôngtin bên ngoài gồm có: khách hàng, những biến đổi của môi trường kinh tế, dân số, vănhoá, xã hội, chính trị, luật pháp, tự nhiên công nghệ, đối thủ cạnh trạnh nhu cầu kháchhàng, ) Luồng thông tin bên trong cung cấp cho biết rõ những điểm mạnh, yếu củacác nguồn lực khác nhau trong Ngân hàng mình Yêu cầu thông tin : đầy đủ, chính xác,kịp thời

Nếu một Ngân hàng nắm bắt kip thời những thông tin về kinh tế, xã hội, thịtrường thì Ngân hàng đó sẽ đưa ra những phương hướng hoạt đồng kinh doanh nóichung và hoạt động cho vay nói riêng phù hợp Những thông tin về khách hàng chínhxác thì hoạt động cho vay của Ngân hàng đối với từng khách hàng sẽ hợp lí hơn và chủđộng hơn Điều đó sẽ giúp cho Ngân hàng không bỏ lỡ nhiều cơ hội cho vay tốt, đồngthời hạn chế được những rủi ro cho những khoản cho vay của mình

Ngược lại nếu thông không kịp thời, chính xác thì Ngân hàng sẽ cho vay khônghợp lí Cho vay quá thấp sẽ hạn chế khả năng sản xuất của doanh nghiệp do lượng vốn

Trang 13

đi vay chưa đủ để doanh nghiệp đầu tư toàn diện Nhưng nếu cho vay quá cao so vớinhu cầu và khả năng thanh toán của khách hàng do thông tin về khách hàng này là tốttrong khi thực tế thì không phải như vậy, cho nên khi khách hàng làm ăn thua lỗ sẽkhông có khả năng trả hết nợ

Thực tế ở Việt Nam, tiếp cận thông tin chính xác, kịp thời, đầy đủ là khó khăn

và khả năng cho vay còn nhiều hạn chế

- Năng lực điều hành của ban lãnh đạo Yếu tố này có vai trò kháquan trọng Thực tế chứng minh, nhiều NHTM tuy có được những nguồn lực và giá trị

mà đối thủ cạnh tranh không có như trụ sở khang trang đặt ở vùng tập trung nhiềukhách hàng, vốn tự có lớn, thu nhận được nhiều cán bộ giỏi Song do cán bộ điều hànhlãnh đạo không sắc sảo, nhạy bén, không nắm bắt, điều chỉnh hoạt động Ngân hàngtheo kịp các tín hiệu thông tin, không sử dụng nhân viên đúng sở trường, dẫn đếnlãng phí các nguồn lực Ngân hàng mình có, giảm hiệu quả chi phí, tất nhiên hạ thấp đihoạt động cho vay của Ngân hàng Năng lực lãnh đạo của những người điều hành ảnhhưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nó thể hiện ở các mặt sau:

Khả năng chuyên môn: có được khả năng này, người lãnh đạo sẽ dễ dàng hơntrong công tác quản lý và điều hành, vì kiến thức và kinh nghiện của nhà lãnh đạo luôntạo được uy tín tuyệt đối không chỉ với cấp dưới mà nhiều khi đối với cả đối thủ cạnhtranh

Khả năng phân tích và phán đoán: dự đoán chính xác những thay đổi trong môitrường kinh doanh tương lai từ đó hoạch định chính xác các chiến lược, xác định cácchính sách, kế hoạch kinh doanh phù hợp

Khả năng, nghệ thuật đối nhân xử thế: là khả năng giao tiếp cũng như khả năng

tổ chức nhân sự trong mối quan hệ không chỉ đối với nhân viên, đồng nghiệp, cấp trên,khách hàng Nó còn gồm những kỹ năng khác về lãnh đạo, tổ chức phỏng đoán, quyếttoán công việc

- Chất lượng nhân sự và cơ sở vật chất thiết bị

Trong quá trình giao dịch trực tiếp với khách hàng, nhân viên Ngân hàng chính

là hình ảnh của Ngân hàng Cho nên với những kiến thức, kinh nghiệm, chuyên môn

Trang 14

của mình, nhân viên Ngân hàng có thể làm tăng thêm giá trị dịch vụ Đa số các ý tưởngcải tiến hoạt động kinh doanh được đề xuất bởi nhân viên Ngân hàng.

Nhân viên Ngân hàng là lực lượng chủ yếu truyển thông tin từ khách hàng, từđối thủ cạnh tranh đến các nhà hoạch định chính sách Ngân hàng

Cơ sở vật chất thiết bị cũng ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của Ngân hàng.Nếu cơ sở vật chất thiết bị mà lạc hậu thì các công việc của Ngân hàng sẽ được xử lýkém, chậm chạp; các hoạt động của Ngân hàng được thực hiện khó khăn Điều đó làmcho Ngân hàng tụt hậu, kém phát triển, không thu hút được nhiều khách hàng sẽ làmhạn chế hoạt động cho vay Ngược lại việc trang bị đầy đủ các thiết bị tiến tiến phù hợpvới phạm vi và quy mô hoạt động, phục vụ kịp thời các nhu cầu khách hàng với chi phí

cả hai bên đều có thể chấp nhận được sẽ giúp Ngân hàng tăng cường khả năng cạnhtranh, thực hiện tốt mục tiêu tăng cường hoạt động cho vay

- Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng

Ngân hàng muốn tồn tại, phát triển thì phải có phương hướng, chiến lược kinhdoanh Chiến lược kinh doanh càng phù hợp thì hoạt động cho vay ngày càng được mởrộng Trên cơ sở các quyết định, chính sách của cấp trên, thông tin về khách hàng, vềđối thủ khách hàng, xác định vị thế của Ngân hàng trên địa bàn hoạt động; Ngân hàngphải xác định nên tăng cường hoạt động cho vay hợp lý, nên chú trọng hơn vào nhữnghướng nào có hiệu quả, tìm hiểu thêm những lĩnh vực mới tiềm năng giúp mở rộnghoạt cho vay của Ngân hàng

2.2.5.2 Nhân tố khách quan

Đối thủ cạnh tranh

Các NHTM hoạt động trong môi trường có nhiều đối thủ cạnh tranh Cạnh tranh

là một động lực tốt để Ngân hàng ngày càng hoàn thiện, vì để ngày càng phát triển thìNgân hàng luôn phải cố gắng không để mình tụt hậu so với đối thủ cạnh tranh và phảinâng cao, tăng cường các hoạt động của mình vượt đối thủ cạnh tranh Tuy nhiên,khách hàng có sự lựa chọn của mình khi gửi tiền, sử dụng dịch vụ và vay tiền của Ngânhàng nào có lợi cho họ Nếu như đối thủ cạnh tranh mà chiềm ưu thế hơn so với Ngânhàng thì sẽ thu hút nhiều khách hàng hơn Ngân hàng thậm chí khách hàng của Ngânhàng cũng chuyển sang đối thủ cạnh tranh Do đó để mở rộng hoạt động cho vay thì

Trang 15

việc nghiên cứu tìm hiểu đối thủ cạnh tranh để ngày càng chiếm ưu thế hơn là vô cùngquan trọng.

Quá trình phân tích đối thủ cạnh tranh gồm có: xác định các nguồn thông tin vềđối thủ cạnh tranh, phân tích các thông tin đó, dự đoán chiến lược của các đối thủ cạnhtranh và đánh giá khả năng cạnh tranh của Ngân hàng trong việc mở rộng hoạt độngcho vay

Sự phát triển của nền kinh tế

Sự phát triển của nền kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh củaNgân hàng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng Nó tạo môi trường rất thuận lợi

để mở rộng hoạt động cho vay

Bất cứ một Ngân hàng nào cũng chịu sự chi phối của các chu kỳ kinh tế Tronggiai đoạn nền kinh tế phát triển ổn định, doanh nghiệp làm ăn tốt thì xã hội có nhiềunhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh nên nhu cầu vay vốn tăng Mặt khácnền kinh tế phát triển, thu nhập bình quân đầu người cao, tỷ lệ thất nghiệp thấp sẽ làmtăng nhu cầu tiêu dùng, thay đổi thói quen tiêu dùng của người dân và tạo khả năng tiếtkiệm do đó tạo triển vọng cho vay tiêu dùng Ngược lại nền kinh tế suy thoái, dẫn đếnnền kinh tế giảm khả năng hấp thụ vốn cho nền kinh tế giảm do đó dư thừa ứ đọng vốn,không những hoạt động cho vay không được mở rộng mà còn bị thu hẹp

Hệ thống pháp luật

Trong nền kinh tế thị trường mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự chủ vềhoạt động sản xuất kinh doanh nhưng phải đảm bảo trong khuôn khổ của pháp luật

Nếu những quy định của pháp luật không rõ ràng, không đồng bộ, có nhiều kẽ

hở thì sẽ rất khó khăn cho Ngân hàng trong các hoạt động nói chung và hoạt động chovay nói riêng Với những văn bản pháp luật đầy đủ rõ ràng, đồng bộ sẽ tạo điều kiệncho Ngân hàng yên tâm hoạt động kinh doanh, cạnh tranh trong lĩnh vực cho vay Đây

là cơ sở pháp lý để Ngân hàng khiếu lại, tố cáo khi có tranh chấp xảy ra Điều đó giúpNgân hàng tăng cường hoạt động cho vay

Sự thay đổi những chủ chương chính sách về Ngân hàng cũng gây ảnh hưởngđến khả năng trả nợ của doanh nghiệp Sự thay đổi về cơ cấu kinh tế, chính sách xuấtnhập khẩu một cách đột ngột gây xáo trộn hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

Trang 16

nghiệp Doanh nghiệp không tiêu thụ hết được sản phẩm hay chưa có phương án kinhdoanh mới dẫn đến nợ quá hạn, nợ khó đòi.

Quản lý Nhà Nước đối với các doanh nghiệp còn nhiếu sơ hở Nhà Nước chophép nhiều doanh nghiệp được sản xuất kinh doanh với nhiều chức năng, nhiệm vụvượt quá trình độ, năng lực quản lý dẫn đến rủi ro, thua lỗ, làm giảm chất lượng tíndụng

Do đó hệ thống pháp luật cũng ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của Ngânhàng thương mại

2.3 Hiệu quả tín dụng Ngân hàng đối với kinh tế hộ

2.3.1 Khái niệm hiệu quả tín dụng Ngân hàng

Hiệu quả tín dụng là một trong những biểu hiện của hiệu quả kinh tế trong lĩnhvực Ngân hàng, nó phản ánh chất lượng của các hoạt động tín dụng Ngân hàng Đó làkhả năng cung ứng tín dụng phù hợp với yêu cầu phát triển của các mục tiêu kinh tế xãhội và nhu cầu của khách hàng đảm bảo nguyên tắc hoàn trả nợ vay đúng hạn, mang lạilợi nhuận cao cho Ngân hàng thương mại từ nguồn tích lũy do đầu tư tín dụng và dođạt được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế Trên cơ sở đó đảm bảo sự tồn tại và pháttriển bền vững của Ngân hàng

Vì vậy hiệu quả tín dụng là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh khả năngthích nghi của tín dụng Ngân hàng với sự thay đổi của các nhân tố chủ quan như trình

độ nghiệp vụ, trình độ quản lý của cán bộ tín dụng…, các nhân tố khách quan như mức

độ an toàn tín dụng, lợi nhuận của khách hàng, tình hình phát triển kinh tế xã hội Do

đó hiệu quả tín dụng là kết quả của mối quan hệ biện chứng giữa Ngân hàng kháchhàng vay vốn và nền kinh tế Cho nên khi đánh giá hiệu quả tín dụng phải xem xét trên

cả ba khía cạnh: Ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế

2.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng của NHTM

Việc nâng cao hiệu quả tín dụng Ngân hàng đối cới hộ sản xuất có ý nghĩa rấtlớn đối với Ngân hàng vì nó quyết định đến sự thành bại của Ngân hàng Hiệu quả tíndụng của NHTM chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố bao gồm:

Trang 17

2.3.2.1 Chính sách của Đảng và Nhà nước

Chính sách của Đảng và Nhà nước là những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả

cho vay như:

- Về cơ chế cho vay, về đảm bảo tiền vay, về giao đất giao rừng

- Chấp hành quy chế tín dụng Việc chấp hành quy chế tín dụng của cán bộNgân hàng nói chung và cán bộ làm công tác tín dụng là điều kiện để đánh giá chấtlượng, hiệu quả tín dụng Chấp hành tốt các quy định, các văn bản của luật các tổ chứctín dụng, nguyên tắc của riêng mỗi Ngân hàng khi cho vay cũng là cơ sở quan trọng đểđánh giá hiệu quả tín dụng của Ngân hàng

- Trình độ của cán bộ Ngân hàng trong thẩm định cho vay, trong tiếp thị,

và sự am hiểu về khoa học kỹ thuật cũng như am hiểu về pháp luật (nhất là luật kinh tế)cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng khoản vay

- Kiểm tra, kiểm soát của Ngân hàng được tiến hành một cách kịp thờiđồng bộ cũng khuyến khích khách hàng trả nợ đúng hạn

- Hệ thống thông tin Ngân hàng tạo điều kiện để Ngân hàng nắm bắt đượcthông tin của khách hàng trước khi quyết định một khoản cho vay Yếu tố này cũnggóp phần quan trọng trong ngăn chặn những khoản cho vay có chất lượng không tốtngay từ khi chưa xảy ra

2.3.2.4 Chủ quan của khách hàng vay vốn

Trang 18

- Yếu tố chủ quan của khách hàng vay vốn cũng là những yếu tố cơ bản tácđộng đến hiệu quả cho vay của NHTM Yếu tố này bao gồm:

+ Trình độ, năng lực sản xuất kinh doanh

+ Sự am hiểu về khoa học kỹ thuật

+ Sự am hiểu và nhạy cảm với kinh tế thị trường và thị hiếu

+ Trình độ quản lý và chấp hành pháp luật cũng như sự am hiểu pháp luật

2.3.2.5 Sự tác động của thị trường

Thị trường cũng là nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả cho vay của Ngân hàngthương mại, yếu tố thị trường tác động đến đầu vào đầu ra của sản phẩm, của hàng hoátrong sản xuất kinh doanh Có lúc, nó tác động bất lợi đến tiêu thụ sản phẩm gây khókhăn cho người sản xuất, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của Ngân hàng vìngười sản xuất vay vốn Ngân hàng

Ngoài ra nền kinh tế Việt Nam còn phát triển ở mức thấp, cơ sở hạ tầng cònyếu kém, môi trường pháp lý còn nhiều vấn đề bất cập, hệ thống pháp luật chưa đồng

bộ, hiệu lực pháp chế thấp, các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô chưa ổn định Môitrường pháp lý cho hoạt động Ngân hàng cũng chưa đầy đủ cũng ảnh hưởng nhiềuđến hoạt động kinh doanh nhất là hiệu quả tín dụng của Ngân hàng

2.3.2.6 Sự tác động của thiên nhiên

Trong quá trình sản xuất thì người nông dân vay vốn Ngân hàng thường gặpphải rủi ro như nắng hạn kéo dài, mưa lũ, chăn nuôi bị dịch bệnh không thu hoạchđược hoặc bị mất trắng làm cho các hộ gặp nhiều khó khăn về tài chính dẫn đến chậmtrả nợ hặc không có khả năng trả nợ, gây ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của Ngânhàng thương mại

2.3.3 Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với kinh tế hộ

Để thúc đẩy nông thôn nước ta phát triển, vốn tín dụng Ngân hàng đóng vai tròhết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay và mai sau Nông thôn và nông dân đangrất thiếu vốn để phát triển sản xuất, mở rộng ngành nghề và dịch vụ Vì vậy đối vớiviệc phát triển kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp, tín dụng Ngân hàng có những vai tròchủ yếu sau:

Trang 19

Thứ nhất, tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ sản xuất mở rộngsản xuất, kinh doanh, mở rộng thêm ngành nghề làm tăng sản phẩm cho xã hội, tăngthu nhập cho hộ sản xuất.

Thứ hai, tín dụng Ngân hàng giúp tạo điều kiện cho hộ sản xuất tiếp cận và ápdụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, tiếp cận với cơ chế kinh tếthị trường

Thứ ba, thúc đẩy hộ sản xuất chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuấthàng hoá, góp phần thực hiện CNH - HĐH nông nghiệp và nông thôn

Thứ tư, tín dụng Ngân hàng giúp thúc đẩy các hộ gia đình tính toán, hạch toántrong sản xuất kinh doanh, lựa chọn đối tượng đầu tư để đạt được hiệu quả cao nhất.Tạo nhiều việc làm cho người lao động

Thứ năm, tín dụng Ngân hàng đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho hộ sản xuấtđảm bảo quả trình sản xuất liên tục, góp phần hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi trongnông thôn

2.3.4 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả cho vay đối với hộ sản xuất

Nước ta là một nước đông dân, trong đó hơn 70% lao động sống ở nông thôn vàhoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đặc biệtquan tâm đến chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp nhằm hiện đại hoá nông thôn

Trong thực tế, với sức lao động sẵn có trong mỗi gia đình hộ sản xuất, họ đượcphép kinh doanh, được chyển đổi cây trồng vật nuôi, trồng những cây có giá trị cao,nuôi những con có giá trị để tăng thêm thu nhập, tạo công ăn việc làm cho chính bảnthân gia đình họ Đồng thời đầu tư ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tiễn Để thựchiện được mục đích nêu trên, họ cần có vốn Do vậy, họ cần NHTM hỗ trợ về vốn đểthực hịên những phương án trồng trọt - chăn nuôi hay kinh doanh dịch vụ ngay trênquê hương mình Thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về cho vayvốn đáp ứng nhu cầu vốn đối với nông nghiệp - nông thôn Ngân hàng thương mại đãcho vay tới tận hộ sản xuất, đáp ứng nhu cầu vốn cần thiết để phát triển kinh tế

Xuất phát từ chức năng của NHTM là đi vay để cho vay cho nên vốn cho vayphải hoàn trả đúng hạn gốc và lãi, có như vậy Ngân hàng mới đảm bảo sự hoạt độngbình thường, đáp ứng được nhu cầu vốn đối với hộ sản xuất cũng như nền kinh tế Vì

Trang 20

vậy cần phải nâng cao hiệu quả cho vay đối với hộ sản xuất, có nâng cao hiệu quả chovay mới giúp hộ sản xuất có vốn để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, mang lại hiệu quả,tăng thêm thu nhập cho gia đình, tăng thêm sản phẩm cho xã hội, tạo công ăn việc làmcho chính bản thân gia đình họ Phát huy được mọi nguồn lực ở nông thôn, mở rộng và

đa dạng các mô hình sản xuất, đáp ứng và phù hợp với nhu cầu của thị trường

Tóm lại: Tín dụng Ngân hàng đối với việc mở rộng và phát triển kinh tế hộ ởnông thôn là một chủ trương lớn của Đảng Thông qua việc cho vay trực tiếp đến hộsản xuất, thông qua việc đầu tư vốn đã khuyến khích tạo điều kiện cho hộ thiếu vốn cóvốn sản xuất, phát triển các ngành nghề truyền thống Tín dụng Ngân hàng đã làm thayđổi về cơ cấu sản xuất ở nông thôn thông qua việc đầu tư vốn đã xoá hẳn nạn cho vaynặng lãi, bước đầu đã làm cho nền kinh tế nông thôn phát triển, nâng cao đời sống củanông dân nông thôn

2.4 Hộ nông dân sản xuất và vai trò của kinh tế hộ nông dân sản xuất trong nền kinh tế

2.4.1 Khái niệm và đặc điểm hộ nông dân sản xuất

2.4.1.2 Đặc điểm

Hộ nông dân sản xuất được hình thành theo những đặc điểm tự nhiên rất đadạng Tuỳ thuộc vào hình thức sinh hoạt ở mỗi vùng và địa phương mà hộ sản xuấthình thành một kiểu cách sản xuất, cách tổ chức riêng trong phạm vi gia đình Trong

mô hình sản xuất này, chủ hộ cũng là người lao động trực tiếp, làm việc có trách nhiệm

và hoàn toàn tự giác Sản xuất của hộ khá ổn định, tuy nhiên vốn luân chuyển chậm sovới các ngành khác [6]

Trang 21

Đối tượng sản xuất cũng rất đa dạng, cùng một lúc có thể sản xuất nhiều loạicây trồng, vật nuôi hoặc tiến hành các nghề khác trong lúc nông nhàn, chi phí sản xuấtthường là thấp, đây là yếu tố quan trọng tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triển toàndiện.

Trình độ sản xuất của hộ ở mức thấp, chủ yếu là sản xuất thủ công, việc sản xuấtbằng máy móc còn ít, mang tính tự phát, quy mô nhỏ Hộ sản xuất vẫn mang tính chấttruyền thống, thái độ lao động thường bị chi phối bới tình cảm đạo đức gia đình và nếpsinh hoạt theo phong tục tập quán của làng quê

Quy mô sản xuất của hộ còn nhỏ, hộ có sức lao động, điều kiện về đất đai nhưngthiếu vốn, thiếu hiểu biết về khoa học kĩ thuật, thiếu kiến thức về thị trường nên sảnxuất còn mang tính tự cấp tự túc Nếu không có sự hỗ trợ của nhà nước về cơ chế chínhsách, về vốn thì hộ khó có thể sản xuất hàng hóa và tiếp cận với kinh tế thị trường

2.4.2 Vai trò của kinh tế hộ nông dân sản xuất trong nền kinh tế

2.4.2.1 Kinh tế hộ nông dân sản xuất góp phần phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp và nông thôn

Việc làm là một trong những vấn đề cấp bách đối với toàn xã hội nói chung vàđặc biệt là đối với nông thôn hiện nay Nước ta có trên 70% dân số sống và lao động ởnông thôn, với một đội ngũ lao động dồi dào, kinh tế quốc doanh đã được nhà nước mởrộng, song mới chỉ giải quyết được việc làm cho một số lượng lao động nhỏ Lao độngthủ công và nông nhàn còn nhiều Việc sử dụng và khai thác số lao động này là vấn đềcốt lõi cần được quan tâm giải quyết [6]

Kinh tế hộ sản xuất phát triển đã góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồnnhân lực ở nông thôn, tạo công ăn việc làm cho các lao động nhàn rỗi, góp phần giảiquyết phần nào số lao động đang thất nghiệp

2.4.2.2 Kinh tế hộ nông dân sản xuất có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường thúc đẩy sản xuất hàng hoá, thúc đẩy phân công lao động dẫn tới chuyên môn hoá

Ngày nay, hộ sản xuất đang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự tự do cạnhtranh trong sản xuất hàng hoá Là đơn vị kinh tế độc lập tự chủ, các hộ sản xuất phảiquyết định mục tiêu sản xuất của mình là: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào để đápứng nhu cầu của thị trường? Để đạt được điều này, hộ sản xuất phải không ngừng nâng

Trang 22

cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm cho phù hợp, từ đó mở rộng sản xuất đồng thời đạtđược hiệu quả kinh tế cao nhất.

Sự phát triển lớn mạnh cả về qui mô và trình độ của hộ sản xuất có tác động lớn đếntăng trưởng kinh tế, đến tiêu dùng và sức mua, đến phân công lao động xã hội, đến giảiquyết các vấn đề xã hội

2.4.2.3 Phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất đã góp phần kích thích phát triển toàn diện kinh tế nông nghiệp, nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá

Hộ sản xuất với số lượng hộ lớn và ngày càng trở nên tự chủ trong quyết địnhđầu tư, kinh tế hộ sản xuất đã và đang có vai trò to lớn trong công cuộc đổi mới và pháttriển kinh tế thực hiện CNH–HĐH đất nước

2.4.2.4 Kinh tế hộ nông dân sản xuất đóng góp cho nền kinh tế đất nước một khối lượng lớn hàng hóa dịch vụ phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

Hộ sản xuất là một thành phần kinh tế không thể thiếu được trong quá trìnhCNH-HĐH xây dựng đất nước Kinh tế hộ sản xuất phát triển góp phần thúc đẩy sựphát triển kinh tế trong cả nước nói chung, kinh tế nông thôn nói riêng Đặc biệt vaitrò của kinh tế hộ sản xuất thể hiện nổi bật ở việc cung cấp một khối lượng lớn hànghoá dịch vụ không những đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn phục vụxuất khẩu đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho nền kinh tế., góp phần nâng cao đời sống của

hộ về nhiều mặt

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Chọn điểm nghiên cứu

Dựa vào thực tế hoạt động sản xuất và các địa phương thuộc khu vực phụ tráchcủa NHNo&PTNT Huyện M’Đrăk, nhóm em xin lựa chọn nghiên cứu trên các địa bànsau: xã KrôngJing, xã EaPil, xã CưPrao, xã KrôngÁ, xã EaLai

Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài này, nhóm em đã lựa chọn ngẫu nhiên 30

hộ thuộc địa bàn 5 xã đã nêu trên để thực hiện điều tra lấy ý kiến của các hộ trồng mía

về việc cho vay vốn của Ngân hàng và tình hình sử dụng vốn phục vụ cho việc trồngmía của các hộ

2.5.2 Thu thập và xử lý số liệu

Trang 23

2.5.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp

Tài liệu sử dụng trong đề tài này được thu thập từ NHNo&PTNT huyệnM’Đrăk, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, các công trình đã công bố, các báocáo của các cấp, ban ngành… Ngoài ra, một số thông tin được thu thập từ Internet, cáctrường Đại học, các tạp chí, các báo cáo khoa học đã được công bố…

2.5.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp

Chọn mẫu điều tra

Thực hiện điều tra 30 hộ trồng mía trên địa bàn các xã: KrôngJing, EaPil, CưPrao,KrôngÁ, EaLai của huyện M’Đrăk

Xây dựng phiếu điều tra

- Phiếu điều tra được xây dựng chung cho tất cả các hộ, bao gồm các thông tinchủ yếu sau:

- Điều tra ban đầu: họ và tên chủ hộ, địa chỉ, số nhân khẩu, số lao động

- Nội dung điều tra chính:

+ Tình hình trồng mía của hộ, tổng chi phí trồng mía/năm, thu nhập củamột năm

+ Nhận xét của hộ về thái độ phục vụ của cán bộ tín dụng

+ Thuận lợi, khó khăn trong sản xuất, trong quá trình vay và sử dụng vốnvay Ngân hàng

+ Kiến nghị, dự định, yêu cầu nguyện vọng của hộ…

2.5.2.3 Phương pháp điều tra

Điều tra từng hộ theo mẫu phiếu điều tra có sẵn, phỏng vấn trực tiếp một số hộsau đó hoàn chỉnh mẫu phiếu điều tra và tiến hành điều tra toàn bộ các hộ đã chọn

Trang 24

Toàn bộ số liệu điều tra được xử lý trên máy tính, sử dụng phần mềm MicrosoftExcel 2003 Trong quá trình phân tích số liệu, nhóm em sử dụng các hệ thống chỉ tiêuchủ yếu để phản ánh và đánh giá thực trang sử dụng vốn vay vào hoạt động sản xuấtcủa các hộ trồng mía.

2.5.3 Phương pháp phân tích

2.5.3.1 Thống kê mô tả

- Sử dụng các chỉ tiêu phân tích như:

+ Số tương đối, số tuyệt đối và số bình quân

+ Số tối đa, tối thiểu

+ Lượng tăng giảm tương đối và tuyệt đối…

2.5.3.2 Thống kê so sánh

So sánh về số tương đối, tuyệt đối để để đánh giá sự vật hiện tượng theo khônggian và thời gian

2.5.4 Phương pháp chuyên gia

Do vốn kiến thức còn hạn chế và chưa am hiểu nhiều về lĩnh vực Ngân hàng nêntrong quá trình thực hiện đề tài, nhóm em đã nhờ vào sự hướng dẫn và ý kiến đónggóp của các thầy cô cũng như toàn thể ban lãnh đạo và nhân viên tại chi nhánhNHNo&PTNT huyện M’Đrăk, để có thể làm rõ các vấn đề còn thắc mắc và đánh giácác phần nội dung nghiên cứu

2.5.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

2.5.5.1 Doanh số cho vay

Đây là chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền mà ngân hàng cho khách hàng vay, chỉtiêu này thể hiện quy mô đầu tư của ngân hàng

DSCV trong kỳ = Dư nợ cuối kỳ - Dư nợ đầu kỳ + DSTN trong kỳ

2.5.5.2 Doanh số thu nợ

Đây là chỉ tiêu phản ánh việc thu hồi vốn có tốt hay không? Là một trong nhữngchỉ tiêu quan trọng phản ảnh hiệu quả của hoạt động tín dụng

DSTN trong kỳ = Dư nợ đầu kỳ - Dư nợ cuối kỳ + DSCV trong kỳ

Ngày đăng: 19/10/2013, 11:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Tình hình nhân sự tại Chi nhánh - TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bảng 3.1. Tình hình nhân sự tại Chi nhánh (Trang 28)
Bảng 3.2. Nguồn vốn huy động của Ngân hàng huyện M’Đrăk - TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bảng 3.2. Nguồn vốn huy động của Ngân hàng huyện M’Đrăk (Trang 31)
Bảng 3.3. Hoạt động tín dụng tại chi nhánh qua 3 năm 2007-2009 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bảng 3.3. Hoạt động tín dụng tại chi nhánh qua 3 năm 2007-2009 (Trang 33)
Bảng 3.3  cho thấy tổng doanh số cho vay năm 2007 đạt 20350 triệu đồng, năm - TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bảng 3.3 cho thấy tổng doanh số cho vay năm 2007 đạt 20350 triệu đồng, năm (Trang 34)
Hình nợ xấu năm 2008 có sự tăng lên là do trong năm này, giá phân bón và vật tư nông nghiệp tăng kỷ lục khiến cho các doanh nghiệp không dám ứng trước phân bón cho nông dân, làm hạn chế khả năng đầu tư của nông dân - TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Hình n ợ xấu năm 2008 có sự tăng lên là do trong năm này, giá phân bón và vật tư nông nghiệp tăng kỷ lục khiến cho các doanh nghiệp không dám ứng trước phân bón cho nông dân, làm hạn chế khả năng đầu tư của nông dân (Trang 35)
Bảng 3.5 cho, thấy doanh số cho vay hộ trồng mía năm 2007 đạt 12210 triệu đồng. Sang năm 2008 tăng lên 15873 triệu đồng với tốc độ tăng cao là 30% và năm 2009 lại có tốc độ tăng mạnh với 43% đạt 22698 triệu đồng - TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bảng 3.5 cho, thấy doanh số cho vay hộ trồng mía năm 2007 đạt 12210 triệu đồng. Sang năm 2008 tăng lên 15873 triệu đồng với tốc độ tăng cao là 30% và năm 2009 lại có tốc độ tăng mạnh với 43% đạt 22698 triệu đồng (Trang 37)
Bảng 3.6. Tình hình diện tích đất trồng mía của hộ - TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bảng 3.6. Tình hình diện tích đất trồng mía của hộ (Trang 42)
Bảng 3.7.  Tình hình thu nhập và chi phí trồng mía của các hộ - TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bảng 3.7. Tình hình thu nhập và chi phí trồng mía của các hộ (Trang 42)
Bảng 3.8. Tình hình vốn vay của hộ trồng mía - TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bảng 3.8. Tình hình vốn vay của hộ trồng mía (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w