Như vậy hiện nay, hoạtđộng tín dụng vẫn mang lại nguồn thu nhập chính cho SCB.Với hoạt động tín dụnghiệu quả, SCB đã thể hiện tốt vai trò trung gian tài chính góp phần phân bổ và khaithá
Trang 1THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHTMCP SÀI
GÒN
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NHTMCP SÀI GÒN
2.1.1.Khái quát về NHTMCP Sài Gòn
Xuất thân từ Ngân hàng TMCP Quế Đô được thành lập năm 1992, sau 5năm đổi tên thương hiệu và phát triển, từ 8/4/2003 đến nay, Ngân hàng TMCP SàiGòn – SCB đã khẳng định vị trí của mình trên thị trường tài chính Việt Nam, thểhiện qua sự tăng trưởng không ngừng về lợi nhuận hàng năm, chất lượng sản phẩmdịch vụ ngày càng được nâng cao cũng như sự định hình rõ nét thương hiệu SCBtrong cộng đồng Hiện SCB đang đứng hàng thứ 4 về tổng tài sản và đứng hàngthứ 3 về dư nợ tín dụng so với các ngân hàng TMCP khu vực TPHCM Mạng lướihoạt động trải dài từ Nam chí Bắc, đến nay là hơn 40 điểm tại khu vực phía Bắc,miền Trung, TPHCM, khu vực Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long Hiện tại vốn điều lệ và các quỹ của SCB đạt hơn 2.000 tỷ đồng Sau khiđược sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ủy ban chứng khoánViệt Nam, tháng 12/2007, SCB phát hành trái phiếu chuyển đổi với tổng mệnh giáphát hành là 1.399.999.500.000 đồng Theo đó thì đến đầu năm 2009 vốn điều lệSCB sẽ đạt hơn 3.000 tỷ đồng Như vậy SCB đạt trước hạn mức vốn điều lệ tốithiểu cho một ngân hàng theo quy định của nhà nước
Ngoài ra, SCB còn tạo dựng thế mạnh của mình bằng việc liên minh, liênkết với các ngân hàng NH quốc doanh Cụ thể, SCB ký thỏa thuận hợp tác toàndiện với NH Đầu tư và Phát triển VN (BIDV), NH Ngoại thương (Vietcombank)
và NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn VN (Agribank) Nhờ đó, SCB đã cóđược thế chủ động cần thiết trong kinh doanh, góp phần nâng cao năng lực tàichính trong giai đoạn cạnh tranh và phát triển
Gia nhập WTO mở ra cơ hội cho các ngân hàng trong nước tăng cường
Trang 2học hỏi kinh nghiệm, nâng cao trình độ công nghệ và quản trị ngân hàng Với nhậnthức đó, SCB đang từng bước thực hiện đổi mới công nghệ và hiện đại hoá ngânhàng Bên cạnh việc ra mắt dịch vụ Ngân hàng hiện đại SCB-Ebanking nhằm tiếtkiệm thời gian và gia tăng tiện ích cho khách hàng, SCB xúc tiến trang bị hệ thốngngân hàng lõi (Core Banking System) tiên tiến với công nghệ Temenos T24 và hợptác với tập đoàn IBM nhằm cập nhật và ứng dụng các công nghệ tiên phong trongcác dự án công nghệ thông tin
Với phương châm “ SCB luôn hướng đến sự hoàn thiện vì khách hàng ”, cùng
với khát khao vươn lên của tập thể SCB, chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng SCB
sẽ trở thành một trong những ngân hàng TMCP hiện đại đa năng tại VN, tiến lênkhẳng định uy tín và vị thế cạnh tranh trong tiến trình hội nhập với thị trường tàichính trong nước và quốc tế
2.1.2 Khái quát về khối quản trị rủi ro của NHTMCP Sài Gòn
Khối quản trị rủi ro của NHTMCP Sài Gòn gồm:
- Phòng quản lý rủi ro tín dụng
+Tham mưu trong ban điều hành trong viếc ra quyết định tín dụng đối với các khoản vay vượt mức phán quyết của các chi nhánh
+Quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng của toàn ngân hàng
+Xây dựng, quản lý và kiểm soát danh mục cho vay trong việc nhận dạng, quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng
+Trung tâm thông tin tín dụng của SCB
-Phòng quản lý rủi ro thị trường: chịu trách nhiệm quản lý rủi ro thị trường của ngân hàng và tham mưu cho các cấp phê duyệt, ra quyết định kinh doanh đúng đắn, an toàn hiệu quả
-Phòng quản lý rủi ro vận hành: chịu trách nhiệm quản lý rủi ro vận hành
Trang 3của ngân hàng và tham mưu cho các cấp phê duyệt ra quyết định đảm bảo hoạt động kinh doanh an toàn ,hiệu quả và tuân thủ.
2.1.3 Tình hình tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn
Trong các năm gần đây, kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng với tốc độ cao
Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO là một cơ hội tạo đà đưa nền kinh tế Việt Namphát triển nhanh Trong điều kiện nền kinh tế phát triển nhanh như vậy thì nhu cầuvốn cho nền kinh tế cũng tăng mạnh là một tất yếu
Để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, NHTMCP Sài Gòn đã không ngừngnâng cao năng lực, tái cơ cấu và chấn chỉnh lại bộ máy hoạt động, hoàn thiện quytrình nghiệp vụ cũng như quy trình quản lý Bằng cách tung ra các sản phẩm tácdụng hấp dẫn, linh hoạt, phù hợp với từng vùng, từng nhóm đối tượng cụ thể, SCB
đã cải thiện tình hình, nâng cao hiệu quả kinh doanh với tốc độ nhanh
Nét nổi bật của hoạt động đầu tư tín dụng của SCB là có sự tăng trưởng cao,tiếp tục duy trì các khách hàng truyền thống, đồng thời mở rộng đối tượng kháchhàng vay mới Các sản phẩm của SCB đáp ứng nhu cầu đa dạng của các thànhphần kinh tế, đặc biệt là kinh tế ngoài quốc doanh
SCB áp dụng chính sách sử dụng vốn một cách hiệu quả và phân tán rủi ro.Tổng dư nợ cho vay thường chiếm tỷ lệ trên 80% tổng số vốn huy động Ngoàihoạt động tín dụng, vốn còn được gửi vào các tổ chức tín dụng khác hoặc góp vốnliên doanh, mua cổ phần tại các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế Các hoạt động nàynhằm đa dạng hóa danh mục đầu tư, phân tán rủi ro trong sử dụng vốn, tiến tới tối
đa hóa lợi nhuận
*Tình hình sử dụng vốn và chất lượng tín dụng trong 3 năm
Tình hình sử dụng vốn
Bảng 1: Tình hình sử dụng vốn
ĐVT: tỷ đồng
Trang 4Sử dụng vốn 2005 2006 30/9/2007
Cho vay
Đến 31/12/2006, tổng dư nợ tín dụng – đầu tư SCB đạt 8.790 tỷ đồng, tăng5.433 tỷ (162%) so với năm 2005 Đến 30/9/2007, đạt 17.323 tỷ đông, tăng 8.533
tỷ, tương ứng 97% so với đầu năm
Dư nợ cho vay:
- Tổng dư nợ cho vay: năm 2006 dư nợ cho vay là 8.207 tỷ đồng, tăng 4.850
tỷ tương ứng với 144,5% so với năm 2005 Đến 30/9/2007, tổng dư nợ cho vay là15.690 tỷ , tăng 7.483 tỷ, tương ứng với 91,1% so với đầu năm
- Dư nợ cho vay ngắn hạn: năm 2006 dư nợ cho vay ngắn hạn là 6.557 tỉđồng, tăng 4.046 tỉ (gấp 2,6 lần) so với năm 2005 Đến 30/9/2007 dư nợ cho vayngắn hạn là 13.182 tỉ, tăng 6.625 tỉ tương ưng với 101% so với đầu năm
- Dư nợ cho vay trung và dài hạn: năm 2006 dư nợ cho vay trung va dài hạn là1.650 tỉ đồng, tăng 804 tỉ tương ứng với 95% so với năm 2005 Đến 30/9/2007, dư
nợ cho vay trung và dài hạn là 2.508 tỉ, tăng 858 tỉ tương ưng với 52% so với đầunăm
Chiết khấu cầm cố giấy tờ có giá: năm 2006 đạt 2,6 tỉ đồng, đến 30/9/2007 đạt
5,2 tỉ đồng
Về chất lượng tín dụng:
Dù mức độ tăng trưởng nhanh nhưng hoạt động tín dụng của SCB vẫn đượcđảm bảo về chất lượng Tỉ trọng nợ quá hạn nợ xấu trên tổng dư nợ ngày càngthấp Đó là kết quả của việc áp dụng va két hợp nhiều biện pháp nhăm nâng cao
Trang 5chất lượng tín dụng, kiểm soát và thu hồi nợ quá hạn.
Tình hình chất lượng tín dụng các năm qua như sau:
( Nguồn: Báo cáo tài chính đã kiểm toán năm 2005,2006 và quý 3 năm 2007).
Tổng dư nợ xấu năm 2006 (bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ ghi ngờ, nợ có khảnăng mát vốn) chiếm 0,84% trên tổng dư nợ,giảm 0,32% so với năm 2005.Đến30/9/2007 dư nợ xấu là 93,2 tỉ, chiếm 0,59% trên tổng dư nợ, giảm 0,25% so vớiđầu năm
Trong 9 tháng đầu năm 2007, chỉ tiêu nợ đủ tiêu chuẩn tăng đáng kể trong khi
đa phần các chỉ tiêu nơ khác đều có xu hướng giảm,đăc biệt là chỉ tiêu dư nợ cầnchú ý và nợ dưới tiêu chuẩn giảm đáng kể so với 2006.Mặc dù tỉ lệ nợ xấu và các
Trang 6chỉ tiêu nợ khác của SCB hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát, chưa đạt mức 1%trong tổng dư nợ, nhưng SCB vẫn rất chú trọng và tuân thủ thực hiện việc trích lậpquỹ dự phòng rủi ro tín dụng Cụ thể mức trích lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng từnăm 2004 đến cuối quý 3/2007 như sau:
(Nguồn: Báo cáo tài chính đã kiểm toán năm 2005, 2006 và 9 tháng đầu năm 2007)
* Tình hình cho vay và chất lượng tín dụng năm 2007
Dư nợ tín dụng của SCB tăng trưởng đều qua các tháng.Tỷ lệ sử dụng vốn
Trang 7cho vay trên số dư vốn huy động đến 31/12/2007 là 85,6% Như vậy hiện nay, hoạtđộng tín dụng vẫn mang lại nguồn thu nhập chính cho SCB.Với hoạt động tín dụnghiệu quả, SCB đã thể hiện tốt vai trò trung gian tài chính góp phần phân bổ và khaithác hợp lý nguồn lực tiết kiệm của dân cư vào các hoạt động phát triển kinh tế - xãhội quốc gia.
Ở mảng tín dụng, Sở giao dịch là đơn vị kinh doanh có đóng góp nhiều nhất,trung bình số dư cho vay của SGD chiếm hơn 60% dư nợ của toàn ngân hàng Cácđơn vị khác, hầu hết đều có bước tăng trưởng về quy mô và thị phần tín dụng sovới năm trước Trong đó, chi nhánh An Đông có tốc độ tăng trưởng là 31,25%,chậm hợn so với tất cả các đơn vị còn lại Ngoại trừ đối với chi nhánh Nhà Rồng,
số dư cho vay đến cuối năm 2007 chỉ còn 412,88 tỷ, giảm 22,54% so với dư nợ đạtđược cuối năm 2006 (532,99 tỷ)
Xuất phát điểm từ một ngân hàng truyền thống với đặc thù huy động và chovay, SCB khó có thể vững bước trên con đường phát triển hiện đại và đa năng.Vìvậy mà tăng trưởng tín dụng ổn định là một trong những yêu cầu cơ bản để SCB đadạng hóa hoạt dộng,củng cố sức mạnh và hội nhập theo chiều sâu
Chất lượng tín dụng
Cùng với việc tăng trưởng dư nợ tín dụng, chất lượng tín dụng tại SCB luônđược kiểm soát và cải thiện Đến 31/12/2007, tổng dư nợ xấu của SCB là 65,86 tỷđồng, chiếm 0,34% so với tổng dư nợ Nếu đầu năm, tỷ lệ nợ xấu là 0,85% thì đếncuối năm 2007, tỷ lệ này chỉ còn 0,34% tức là chỉ bằng 1/3 so với đầu năm dù quy
mô tín dụng đã tăng gấp 2,37 lần
Chất lượng tín dụng ngày một nâng cao không chỉ phản ánh chật lượngnguồn nhân lực của SCB ,mà còn là tín hiệu cho một sự tăng trưởng bền vững,vàgóp phần nâng cao vị thế của SCB trên thị trường tài chính
Để quản lí được chất lượng tín dụng,SCB đã duy trì 100%quy trình cho cácsản phẩm tín dụng được triển khai, vấn đề tuân thủ quy trình được hệ thống kiểm
Trang 8soát giám sát một cách nghiêm ngặt (thực hiện kiểm tra trước, trong và sau khi chovay) đồng thời SCB đã thiết lập một sợi chỉ xuyên suốt trong công tác tín dụngtoàn hệ thông qua việc phân cấp phán quyết và xét duyệt thông qua HĐTD các cấptrước khi cho vay SCB cũng đảm bảo trên 70% hồ sơ được duyệt thông qua Hộiđồng tín dụng, 100% hồ sơ duyệt có 2 chữ ký hoặc có chữ ký của thường trựcHĐQT thông qua.
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHTMCP SÀI GÒN
Rủi ro tín dụng có thể xảy ra khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ đãđược SCB bảo lãnh, hoặc khách hàng không thanh toán đầy đủ và đúng hạn gốc vàlãi các khoản vay được SCB cấp Tuy nhiên, để tối thiểu hóa rủi ro tín dụng, SCB
đã sử dụng các công cụ quản trị rủi ro tín dụng bao gồm:
- Ban hành quy định về chính sách tín dụng và quy chế cho vay đối với kháchhàng
- Ban hành quy trình tín dụng ngắn hạn, quy trình tín dụng trung và dài hạn
- Ban hành quy trình chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng doanhnghiệp
2.2.1 chính sách tín dụng và quy chế cho vay đối với khách hàng
2.2.1.1 Chính sách tín dụng
*Khái niệm:
Chính sách Tín dụng là hệ thống các chủ trương, giải pháp, cơ chế và quytrình, quy tắc tiến hành hoạt động kinh doanh Tín dụng của Ngân hàng TMCP SàiGòn (SCB), nhằm thực hiện chức năng quan trọng nhất của định chế ngân hàngthương mại theo luật pháp Việt Nam và thông lệ quốc tế là “đi vay để cho vay”,phục vụ các yêu cầu về vốn phát triển kinh tế
*Nội dung chính sách
- Đa dạng hóa danh mục đầu tư:
SCB thực hiện chính sách “đa dạng hóa danh mục đầu tư”, trên cơ sở đảm
Trang 9bảo an toàn vốn, thu lợi nhuận hiệu quả tối đa, góp phần phát triển kinh tế- xã hộitheo đúng chính sách, mục tiêu chung của Nhà nước, trong nền kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN ở nước ta Hoạt động đầu tư Tín dụng của SCB thực hiện theocác loại hình sau:
+ SCB thực hiện nghiệp vụ cho vay ( đầu tư tín dụng) là giải pháp kinhdoanh chủ yếu nhất Để đảm bảo an toàn hoạt động, đảm bảo khả năng thanhkhoản theo luật pháp và trong mối quan hệ với khách hàng gửi tiền, các chỉ số hoạtđộng tín dụng sau đây phải được duy trì bắt buộc trong toàn hệ thống SCB:
Phải đảm bảo duy trì hệ số CAR tối thiểu là 8,5%
Tỷ lệ tổng dư nợ cho vay trên tổng số dư tiền gửi của khác hàng ( cả 2 khuvực ) không được vượt quá 90% tính trong mọi thời điểm hoạt động kinh doanh.Trường hợp cần thiết tỷ lệ này vượt mức quy đinh trên, Tổng Giám đốc sẽ trìnhChủ Tịch Hội đồng quản trị quyết định
Mức dư nợ Tín dụng trung dài hạn không quá 42% trong tổng dư nợ chung
Về đối tượng đầu tư tín dụng, đối với pháp nhân, SCB ưu tiên bố trí trên65% tổng mức dư nợ cho vay và bảo lãnh, các đối tượng khác không phải là đơn vịpháp nhân theo luật định, thì tổng mức vốn cho vay và bảo lãnh chỉ giới hạn tỷ lệđến 35%
SCB thực hiện chính sách khách hàng trong hoạt động đầu tư Tín dụng có
sự phân biệt khách hàng quan hệ truyền thống, loại được tín nhiệm cao cần đượchưởng cơ chế cho vay và bảo lãnh theo Tín chấp
+ Khi đầu tư vào trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, trái phiếu côngtrình đô thị, tổng mức dư nợ đầu tư trái phiếu không vượt quá 10% tổng dư nợ đầu
tư tín dụng của SCB, việc đầu tư này chỉ thực hiện tại Hội sở và do Thường trựcHĐQT quyết định theo đề nghị của Tổng giám đốc
+ SCB cũng tiến hành đầu tư thương mại ( góp vốn liên doanh, mua cổ phầntại các doanh nghiệp, công ty cổ phần) Tuy nhiên để đảm bảo an toàn hoạt động
Trang 10và an toàn vốn, tổng mức góp vốn liên doanh của SCB chỉ được thực hiện tối đađến 25% vốn tự có, việc cử người vào các cơ quan quản trị là HĐQT của các tổchức kinh tế SCB góp vốn do HĐQT SCB quyết định.
+ SCB cũng tích cực chuẩn bị thành lập công ty cho thuê tài chính trựcthuộc để triển khai hoạt động kinh doanh đầu tư tín dụng dưới hình thức cho thuêtài chính
+ SCB thực hiện các hoạt động đầu tư tín dụng hỗ trợ xuất khẩu theophương thức “bao thanh toán”
+ Các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
+ Các doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp
+ Các doanh nghiệp xây lắp
+ Các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh bất động sản: tỷ lệ nợ loại này khôngvượt quá 40% tổng dư nợ chung của SCB
Trang 11đảm bảo.
+ Tất cả các khoản cho vay trung dài hạn từ 36 tháng trở lên ( trừ cho vaymua xe ô tô, mua nhà, xây nhà,… với số tiền nằm trong mức ủy quyền cho từngđơn vị) đều do Hội Sở quyết định, thông qua Hội đồng tín dụng và Tổng giám đốcxét duyệt, nếu vượt mức phán quyết thì do thường trực HĐQT xét duyệt
+ Lãi suất tín dụng nợ quá hạn áp dụng tỷ lệ từ 120% đến mức tối đa bằng150% mức lãi suất trong hạn
+ SCB tiến hành thu nợ lãi hàng tháng Trong các hợp đồng tín dụng trungdài hạn, việc trả lãi vay có thể ấn định theo phân kỳ 3 tháng Các khoản phát sinhtrên 3 tháng chỉ phát sinh cá biệt và do Tổng giám đốc và thường trực HĐQT SCBxem xét quyết định
+ HĐQT quyết định mức trần lãi suất tín dụng, Tổng giám đốc được ủyquyền ấn định mức lãi suất cụ thể theo từng tính chất loại vay, thời hạn vay cụ thể
- Về cơ chế đảm bảo tiền vay:
SCB áp dụng chế độ đảm bảo tiền vay phù hợp với các quy định hiện hành củaChính phủ, Ngân hàng Nhà nước
- Về cơ chế kiểm tra, giám sát tín dụng:Từng cơ sở kinh doanh của SCB cótrách nhiệm thực hiện việc kiểm tra, giám sát tín dụng đối với từng khoản vay theotừng khách hàng vay vốn Trách nhiệm kiểm tra, giám sát tín dụng thuộc cán bộ tín
Trang 12dụng va cơ sở kinh doanh SCB nơi trực tiếp quản lý tín dụng đối với khách hàng.Phòng Kiểm tra Kiểm soát Nội bộ SCB có trách nhiệm kiểm tra, phúc tra lại từngkhoản vay theo từng khách hàng, kịp thời có ý kiến đánh giá tình hình chất lượngtín dụng của mỗi khoản vay và theo từng khách hàng tại tất cả các cơ sở SCB Báocác tổng hợp kiểm tra, kiểm soát này hàng quý Tổng Giám đốc phải gửi trìnhHĐQT để xem xét, có chủ trương giải pháp chỉ đạo, xử lý những vấn đề phát sinh
có rủi ro tiềm ẩn gây tổn thất về vốn của SCB
- Quy chuẩn đạo đức trong hoạt động kinh doanh tín dụng
+ Hiểu và chấp hành đúng đắn, đày đủ nội dung chính sách tín dụng củangân hàng; nghiêm chỉnh thực thi những quyu định của pháp luật, quy tắcquy trìnhnghiệp vụ tín dụng; ận tình truyền đạt, hướng dẫn khách hàng nắm vững và cùngthực hiện đúng chính sách, quy chế, quy trính tín dụng với tư cách là 1 chủ thểtrong quan hệ tín dụng
+ Tuyệt đối không được vụ lợi cá nhân dẫn đến hậu quả là làm sai lệch việcđánh giá thẩm đinh dự án đầu tư tín dụng…
+ Không được làm việc với thái độ qua loa, thiếu sâu sát, lười đi cơ sở kiểmtra, giám sát theo quy định của quy chế cho vay
+ Che dấu những sai trái, tình hình bất lợi gây tiềm ẩn rủi ro tín dụng, khôngbáo cáo đầu đủ kịp thời về những phát sinh tiêu cực của khách hàng vay vốn chocác cấp lãnh đạo SCB để có chủ trương giải pháp thích hợp thu hồi, bảo toàn vốncũng là một vi phạm nghiệm trọng về quy chuẩn đạo đức tín dụng
2.1.1.2 Quy chế cho vay đối với khách hàng
* Căn cứ xây dựng quy chế:
Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngânhàng Nhà nước Việt Nam và Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi, bổ sung một sốĐiều của quy chế cho vay của Tổ chức Tín dụng đối với khách hàng ban hành theo
Trang 13Quyết định 1627 nói trên, cùng các chỉ thị, văn bản hướng dẫn khác của Ngân hàngNhà nước liên quan chính sách, quy chế Tín dụng.
* Một số nguyên tắc chủ yếu:
- Về giới hạn cho vay và bảo lãnh đối với 1 khách hàng: TGĐ điều hànhđược quyền quyết định cho vay đối với 1 khách hàng đến mức 10% vón tự có củaSCB, tổng mức cho vay và bảo lãnh đối với 1 khách hàng là 20% Vượt các giớihạn này, TGĐ đề nghị thường trực HĐQT SCB quyết định
- Một khách hàng không quan hệ vay vốn tại nhiều cơ sở kinh doanh củaSCB
- Giải ngân tín dụng: chủ yếu bằng chuyển khoản Bên vay trong những nhucầu hợp lý, cũng được SCB giải ngân bằng tiền mặt, tuy nhiên bên vay phải camkết sau khi sử dụng tiền vay phải đảm bảo cung cấp đầy đủ chứng từ chứng minh
sử dụng vốn vay
- Về tài sản đảm bảo tiền vay:
+ Cho vay, bảo lãnh không có đảm bảo bằng tài sản: thực hiên theo quy chếriêng cho vay không có tài sản đảm bảo do Chủ tịch HĐQT ban hành
+ Cho vay, bảo lãnh có đảm bảo bằng tài sản: tài sản đảm bảo phải đượccông chứng và đăng ký giao dịch đảm bảo theo quy định của pháp luật hiện hành
- Về phương thức cho vay: tùy thuộc vào nhu cầu vốn của từng đối tượngkhách hàng mà SCB có thể áp dụng các phương thức cho vay như sau:
+ Phương thức cho vay từng lần