Còn các NHTM, Ngân hàng chuyên doanh, công ty tài chính, quỹ tín dụng…thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ.Khi mới ra đời, NHTM hoạt động chủ yếu là cho vay đối với lĩnh vựcthương mại,
Trang 1TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng Thương mại
Bắt đầu từ thời trung cổ, một số nhà thương nghiệp đã tách ra chuyên kinhdoanh và đổi tiền đúc Cùng với sự phát triển của thương nghiệp và ngoại thương,
họ còn giúp các thương nhân bảo quản tiền, chuyển tiền và thanh toán và đây làtiền đề cho sự ra đời của nghề Ngân hàng Từ thế kỷ 15 trở về trước, có sự xuấthiện của các Ngân hàng cho vay nặng lãi Bắt đầu từ thế kỷ 16, khi phương thứcsản xuất từ bản chủ nghĩa hình thành ở nhiều nước châu Âu Thương mại bắt đầuphát triển, các Ngân hàng tư bản chủ nghĩa lần lượt ra đời, độc lập với nhau vàthực hiện các chức năng như nhau, đó là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán
và phát hành giấy bạc ngân hàng Thời kỳ này các Ngân hàng chủ yếu áp dụngmức lãi suất vừa phải Đến thế kỷ 19, bắt đầu xuất hiện Ngân hàng Trung ươngthực hiện chức năng phát hành tiền Các Ngân hàng còn lại chỉ làm trung gian tíndụng, trung gian thanh toán trong nền kinh tế, được gọi là Ngân hàng trung gianhay Ngân hàng kinh doanh Sang đến thế kỷ 20, đánh dấu sự ra đời của các Ngânhàng đa năng, Ngân hàng chuyên kinh doanh trong một lĩnh vực và các tổ chức tíndụng (TCTD) Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 đến những năm 80 của thế kỷ 20,
hệ thống Ngân hàng kinh doanh đã hoàn chỉnh và phát triển ở trình độ cao Xuấthiện nhiều Ngân hàng quy mô lớn, xuyên quốc gia như Ngân hàng thế giới (WB),Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS), Ngânhàng Trung ương châu Âu (EUB)…các tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ tiền tệquốc tế (IMF) Như vậy sự ra đời của Ngân hàng Thương mại (NHTM) đã khơithông sự chu chuyển vốn và góp phần tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế
Trang 2Từ lịch sử hình thành hệ thống NHTM cho thấy các Ngân hàng chỉ xuất hiệntrong điều kiện nền kinh tế đã phát triển đến một trình độ nhất định dẫn đến tính tấtyếu khách quan của việc hình thành hệ thống Ngân hàng gắn bó chặt chẽ với sựphát triển kinh tế Trước thế kỷ 19, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu,thương mại kém phát triển vì thế nghề kinh doanh tiền tệ mang nặng tính phân tán,chủ yếu là đổi tiền và cho vay nặng lãi Từ nửa cuối thế kỷ 19, cùng với sự xâmlược và đô hộ của thực dân Pháp, ở Việt Nam đã xuất hiện các Ngân hàng tư bảnchủ nghĩa Ngày 6 tháng 5 năm 1951 Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thànhlập theo sắc lệnh số 15/SL Đến tháng 9 năm 1960 được mang tên là Ngân hàngNhà nước Việt Nam Trong giai đoạn 1951 – 1987, ở Việt Nam chỉ tồn tại hệ thốngNgân hàng một cấp Tuy hệ thống Ngân hàng hai cấp đã xuất hiện ở nước ta từnăm 1955 đến 1975 ở chế độ ngụy quyền Sài Gòn (miền nam Việt Nam) nhưngđến 26/3/1988 thì hệ thống này mới được áp dụng trong toàn quốc Chỉ sau khi haipháp lệnh Ngân hàng năm 1990 và hai Luật Ngân hàng năm 1998 thì hệ thốngNgân hàng hai cấp ở Việt Nam mới thực sự được xây dựng phù hợp với mô hìnhNgân hàng hai cấp của nền kinh tế thị trường Ngân hàng nhà nước Việt Nam thựchiện chức năng phát hành tiền, quản lý Nhà nước về tiền tệ, tín dụng và Ngânhàng Còn các NHTM, Ngân hàng chuyên doanh, công ty tài chính, quỹ tín dụng…thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ.
Khi mới ra đời, NHTM hoạt động chủ yếu là cho vay đối với lĩnh vựcthương mại, nhưng ngày nay nó mang tính tổng hợp và đa năng Các NHTMkhông chỉ có quan hệ rộng rãi với mọi khách hàng thuộc các lĩnh vực và các thànhphần kinh tế khác nhau, mà còn rất nhiều các dịch vụ về tiền tệ – tín dụng Có rấtnhiều cách hiểu khác nhau về NHTM dưới đây là một số quan điểm:
• Theo nhà kinh tế học David Begg: NHTM là trung gian tài chính có giấyphép kinh doanh của Chính phủ để cho vay tiền và mở các tài khoản tiền gửi
Trang 3• Ở Mỹ: NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tàichính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính.
• Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp thường xuyên nhận của công chúngdưới hình thức tiền gửi hay hình thức khác và họ dùng vào nghiệp vụ chiết khấu,tín dụng hay dịch vụ tài chính
• Ở Ấn Độ: NHTM là cơ sở nhận các khoản tiền gửi để cho vay, tài trợ vàđầu tư
Từ các quan điểm khác nhau trên có thể rút ra một định nghĩa cuối cùng vềNHTM như sau:
Ngân hàng Thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền
tệ – tín dụng, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấpcác dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế quốc dân
Các NHTM có các đặc trưng cơ bản sau:
• Là một tổ chức được phép nhận tiền gửi với trách nhiệm hoàn trả
• Sử dụng tiền gửi của khách hàng để cho vay, chiết khấu và đầu tư
• Thực hiện các khoản thanh toán và các dịch vụ Ngân hàng cho khách hàng
Tổ chức tín dụng nào có đầy đủ ba đặc trưng trên mới được coi là NHTM
1.1.2 Các chức năng của Ngân hàng Thương mại
• Chức năng trung gian tín dụng
NHTM huy động các khoản tiền nhàn rỗi của các chủ thể kinh tế trong xãhội rồi dùng nguồn vốn này để cho vay đối với các chủ thể kinh tế thiếu vốn – cónhu cầu bổ sung vốn Như vậy, hoạt động của NHTM là “đi vay để cho vay”, là
“cầu nối” giữa người có vốn dư thừa và người có nhu cầu về vốn Hoạt động nàyđem lại lợi nhuận cho Ngân hàng nhờ chênh lệch giữa lãi suất cho vay với lãi suấthuy động Chức năng trung gian tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng đối với tất cảcác đối tác trong quan hệ tín dụng Người gửi tiền thu được lợi từ vốn tạm thờinhàn rỗi với khoản lãi tiền gửi Người đi vay thỏa mãn được nhu cầu vốn cho sản
Trang 4xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng, mà không phải tốn kém nhiều chi phí và thời giancho việc tìm kiếm nơi cung cấp vốn Còn bản thân NHTM thu được lợi nhuận từchênh lệch về lãi suất Đối với nền kinh tế, chức năng này góp phần thúc đẩy kinh
tế, điều hòa lưu thông tiền tệ, ổn định sức mua đồng tiền và kiềm chế lạm phát Từnhững nội dung trên, có thể kết luận rằng chức năng trung gian tín dụng là chứcnăng cơ bản và quan trọng nhất của NHTM
• Chức năng trung gian thanh toán
Khi làm trung gian thanh toán, NHTM tiến hành một số nghiệp vụ như: Mởtài khoản tiền gửi, nhận vốn tiền gửi vào tài khoản và thanh toán theo yêu cầu củakhách hàng Với sự phát triển ngày càng lớn mạnh của NHTM thì phần lớn cáckhoản thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ của xã hội được thực hiện qua Ngân hàngvới những hình thức thanh toán tiên tiến và thủ tục ngày càng đơn giản Chính vìvậy hoạt động thanh toán trở nên thuận tiện, nhanh chóng, an toàn và tiết kiệm chiphí Điều này góp phần đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa, tốc độ luân chuyểnvốn và hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội NHTM huy động tối đa nguồnvốn trong xã hội, giám sát kỹ luật hợp đồng kinh tế, tài chính và thanh toán theođúng quy định của pháp luật Nhà nước
• Chức năng tạo tiền
Chức năng này chỉ được thực hiện khi hệ thống Ngân hàng hai cấp đã đượchình thành và các chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán đã thựchiện Từ một khoản tiền gửi ban đầu, thông qua cho vay bằng chuyển khoản trong
hệ thống NHTM, số tiền gửi đã tăng lên gấp bội so với lượng tiền gửi ban đầu.Khối lượng tiền do các NHTM tạo ra có ý nghĩa lớn, tạo ra những điều kiện thuậnlợi cho sự phát triển của quá trình sản xuất kinh doanh đáp ứng nhu cầu sử dụngtiền của xã hội Việc tạo ra tiền chuyển khoản để thay thế cho tiền mặt là một sángkiến quan trọng thứ hai của lịch sử hoạt động ngân hàng Chính nhờ phương thức
Trang 5tạo tiền đã tiết kiệm được chi phí lưu thông và Ngân hàng trở thành trung tâm củađời sống kinh tế – xã hội.
1.1.3 Vai trò của Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế thị trường
Vai trò của NHTM là kết quả của việc thực hiện các chức năng và triển khai
cụ thể các hoạt động kinh doanh của nó Trong nền kinh tế vai trò của NHTM đượcthể hiện như sau:
• Thứ nhất: NHTM góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh
• Thứ hai: NHTM góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý theo hướng
công nghiệp, hóa hiện đại hóa
• Thứ ba: NHTM tạo lập môi trường cho việc thực thi chính sách tiền tệ của
Ngân hàng Trung ương (NHTW)
• Thứ tư: NHTM là cầu nối giữa kinh tế quốc gia với kinh tế quốc tế.
1.2 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm về tín dụng trung dài hạn của Ngân hàng Thương mại
Tín dụng trung dài hạn (TDTDH) là: “hoạt động tổ chức tín dụng cho kháchhàng vay vốn trung dài hạn nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuấtkinh doanh, phục vụ đời sống” Tùy theo từng quốc gia, từng thời kỳ mà có nhữngquy định cụ thể của hoạt động TDTDH Ở Việt Nam, về thời hạn cho vay được xácđịnh phù hợp với thời gian thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của kháchhàng và tính chất nguồn vốn cho vay của TCTD Hình thức tín dụng này có một sốđặc trưng sau:
• Thời hạn đáo hạn trên 1 năm Thời hạn cho vay trung hạn: từ 12 đến 60tháng Thời hạn cho vay dài hạn: từ 60 tháng trở lên nhưng không quá thời hạnhoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với phápnhân và không quá 15 năm đối với các dự án phục vụ đời sống
Trang 6• Khoản tín dụng này được trả dần bằng những khoản trả vay theo thời gian(có thể theo quý, nửa năm hoặc thanh toán hàng năm) trong kỳ hạn của khoản vay.
• Chúng thường được đảm bảo bằng tài sản lưu động đem ra thế chấp hoặc
có văn tự cầm cố tài sản cố định
Mục đích của hoạt động TDTDH là để đầu tư dự án, xây dựng mới, muasắm tài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới cải tiến thiết bị côngnghệ, ứng dụng khoa học kỹ thuật nhằm mục tiêu lợi nhuận phù hợp với chínhsách phát triển kinh tế xã hội và pháp luật quy định
1.2.2 Các hình thức tín dụng trung dài hạn
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các hình thức TDTDHngày càng phong phú và hấp dẫn Có thể nêu ra đây một số hình thức TDTDH:
• Hoạt động tín dụng theo dự án đầu tư: Đây là hình thức TDTDH chủ yếu
của các NHTM Việt Nam hiện nay Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất dựatrên cơ sở căn cứ khoa học và thực tiễn về việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng,cải tạo đổi mới kỹ thuật và cộng nghệ những đối tượng là tài sản cố định nhằm đạtđược sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩmhay dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định Dựa vào lĩnh vực tài trợ màngười ta chia hai hình thức phổ biến:
Hình thức TDTDH nhằm cải tạo, khôi phục, mở rộng, thay thế tài sản cố định.Hình thức TDTDH nhằm đầu tư cho các dự án xây dựng mới, đổi mới kỹthuật, ứng dụng khoa học và công nghệ để tiến hành hoạt động sản xuất kinhdoanh
• Cho thuê tài chính: Đây là hoạt động TDTDH trên cơ sở hợp đồng cho
thuê tài sản giữa bên cho thuê là TCTD với khách hàng thuê Khi kết thúc thời hạnthuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê lại tài sản đố theo các điều kiện đã thỏa
Trang 7thuận trong hợp đồng Hoạt động này đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế nóichung và các bên liên quan nói riêng.
• Thấu chi (vượt chi): là hình thức Ngân hàng chấp nhận cho khách hàng
được quyền chi vượt số dư trên tài khoản tiền gửi với những điều kiện nhất định.Chi phí cơ bản đối với người vay là lãi suất đánh vào số dư thấu chi này Ngườivay nói chung chỉ phải trả lãi số tiền đã sử dụng vì không có yêu cầu số dư bồithường và chi trong giai đoạn số tiền bị lấy đi Cho nên, chi phí hữu hiệu của mộtkhoản nợ thấu chi là lãi suất được định ra trên số dư thấu chi
• Bảo lãnh trung dài hạn mua thiết bị trả chậm: Đây là cam kết của Ngân
hàng về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay thế cho chủ đầu tư đứng ra nhập máymóc thiết bị với thời gian ít nhất là một năm trong trường hợp khách hàng khôngthực hiện được nghĩa vụ trả nợ với nhà xuất khẩu Hình thức này được áp dụng khichủ đầu tư muốn nhập máy móc thiết bị của nước ngoài mà không có tiền trả hếtngay một lần Họ ký hợp đồng với bên xuất khẩu xin trả dần giá trị của thiết bịnhập hàng năm dưới sự bảo lãnh của Ngân hàng Việc này rất có lợi cho chủ đầu tư
vì họ không phải bỏ ngay ra một khoản tiền lớn để mua máy móc thiết bị mà khoảntiền này sẽ được trả dần khi chính các máy móc thiết bị đó sinh lời Tuy nhiên, nếuchủ đầu tư không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho bên xuất khẩu thì Ngân hàng
sẽ phải đứng ra trả nợ thay cho chủ đầu tư, lúc này Ngân hàng trở thành chủ nợchính của chủ đầu tư
1.2.3 Vai trò của tín dụng trung dài hạn đối với phát triển kinh tế
1.2.3.1 Vai trò của tín dụng trung dài hạn đối với nền kinh tế
Ở tất cả các quốc gia, nhu cầu vốn trung dài hạn cho đầu tư xây dựng cáccông trình sản xuất kinh doanh mới, hiện đai hóa công nghệ sản xuất, mở rộng cácngành sản xuất vật chất đều rất lớn Nhu cầu này được thỏa mãn một phần bằngvốn ngân sách Nhà nước, vay nước ngoài, một phần huy động dân cư nhưng phầnlớn vẫn bằng TDTDH của NHTM
Trang 8• TDTDH giúp tăng tích lũy vốn để mở rộng sản xuất cho nền kinh tế.
• TDTDH tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật
• TDTDH thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa– hiện đại hóa
• TDTDH thúc đẩy mở rộng kim ngạch xuất nhập khẩu
• TDTDH tạo thị trường sử dụng vốn ngắn hạn
• TDTDH tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
• TDTDH tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại
Như vậy, đầu tư cho vay trung dài hạn trực tiếp hay gián tiếp đều góp phầnphát triển khoa học công nghệ, ổn định lạm phát, nâng cao đời sống của dân cư,phát triển lực lượng lao động, đẩy mạnh tăng trưởng ổn định Chính vì vậy, nângcao hiệu quả hoạt động tín dụng là việc vô cùng cấp bách đối với sự phát triển kinh
tế cả ở hiện tại và tương lai
1.2.3.2 Vai trò của tín dụng trung dài hạn đối với doanh nghiệp
Kinh doanh trong nền kinh tế thị trường có nghĩa là doanh nghiệp phải chấpnhận cạnh tranh khốc liệt, muốn tồn tại và phát triển thì phải thắng trong cạnhtranh Để có thể giành được thắng lợi trong cạnh tranh, doanh nghiệp phải xâydựng cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp với tiềm lực của doanh nghiệp,đồng thời thực hiện tốt chiến lược kinh doanh đó Về dài hạn, các doanh nghiệpluôn chú trọng đến việc mở rộng sản xuất, xây dựng nhà xưởng, mua sắm máymóc, đổi mới công nghệ để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm
và giảm chi phí đến mức tối thiểu Để đáp ứng những nhu cầu trên doanh nghiệpcần một lượng vốn không nhỏ Doanh nghiệp có thể huy động vốn dưới nhiều hìnhthức: tích lũy trong quá trình sản xuất kinh doanh, phát hành cổ phiếu, trái phiếuhoặc vay Ngân hàng Tuy nhiên, với những doanh nghiệp vừa và nhỏ, khả năng tựtích lũy là không đáng kể, phát hành cổ phiếu, trái phiếu liên quan đến sự phânchia quyền lực kiểm soát công ty… Đối với doanh nghiệp, việc vay vốn trung dài
Trang 9hạn nhiều khi mang lại thuận lợi hơn so với huy động vốn trên thị trường chứngkhoán TDTDH tránh được các chi phí phát hành, lệ phí bảo hiểm, lệ phí đăng kýchứng khoán Về mặt kỳ hạn, doanh nghiệp có thể vay vốn Ngân hàng theo kỳ hạnphù hợp với yêu cầu kinh doanh, đồng thời họ có thể điều chỉnh kỳ hạn nợ, có thểtrả sớm hơn khi doanh nghiệp không cần sử dụng vốn đó nữa Việc trả nợ trung dàihạn cũng được xây dựng theo sự phân chia hợp lý và ổn định, do đó doanh nghiệp
có thể chủ động tìm kiếm các nguồn trả nợ một cách dễ dàng hơn TDTDH còngiúp doanh nghiệp trong việc chớp cơ hội kinh doanh Khi có cơ hội, doanh nghiệp
có thể nhanh chóng vay vốn Ngân hàng để mở rộng sản xuất, gia tăng sản lượng đểchiếm lĩnh thị trường TDTDH ngày càng được các doanh nghiệp ưa thích vì nóphù hợp với thực tế của các công ty trách nhiệm hữu hạn và các doanh nghiệp nhỏ
Bên cạnh những thuận lợi mà TDTDH đem lại thì mức lãi suất của nó vẫn làchi phí khá cao đối với doanh nghiệp Nó buộc các doanh nghiệp phải chú trọngđến hiệu quả đầu tư, doanh thu không chỉ đủ để trả lãi và vốn cho Ngân hàng màphải đem lợi tức cho chính mình Do vậy, lãi suất TDTDH của Ngân hàng là đònbẩy thúc đẩy doanh nghiệp khai thác triệt để hiệu quả của đồng vốn, kinh doanh cólãi và thắng lợi trong cạnh tranh
1.2.3.3 Vai trò của tín dụng trung dài hạn đối với Ngân hàng Thương mại
Ngân hàng là tổ chức kinh doanh tiền tệ, nhận tiền gửi và huy động cácnguồn tài chính nhằm mục đích kinh doanh có lời An toàn trong lợi nhuận luôn làmục tiêu tìm kiếm của Ngân hàng Những khoản TDTDH có quy mô lớn, lãi suấtcao, thời hạn dài đã mang lại lợi nhuận chủ yếu cho Ngân hàng Đồng thời mởrộng quy mô TDTDH cả về số lượng và chất lượng còn nâng cao được khả năngcạnh tranh của Ngân hàng Khi Ngân hàng cho khách hàng vay chính là đang tạo ra
và duy trì khách hàng cho mình trong tương lai, tạo điều kiện để Ngân hàng mởrộng phạm vi hoạt động cho mình và ngày càng khẳng định vai trò, vị thế của mình
Trang 10trong nền kinh tế Khi Ngân hàng không đa dạng hóa hoạt động cho vay, đa dạnghóa khách hàng, thời hạn vay thì Ngân hàng sẽ không thể đứng vững trong nềnkinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt của các Ngân hàng khác.
Mặt khác TDTDH còn là cách thức khả thi để giải quyết nguồn vốn huyđộng còn dư thừa tại mỗi Ngân hàng, là cách Ngân hàng gọi vốn từ nền kinh tế đápứng nhu cầu cho các doanh nghiệp Vì vậy mở rộng TDTDH sẽ giúp Ngân hànggiải được “bài toán” khó về huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả, thu được lợinhuận, qua đó phát triển hoạt động Ngân hàng, tăng khả năng cạnh tranh với cácNgân hàng khác
1.3 CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1 Khái niệm chất lượng tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng Thương mại
Đối với các NHTM, cái được biểu hiện ra bên ngoài vừa cụ thể, vừa trừutượng của hoạt động tín dụng chính là chất lượng tín dụng Chỉ khi chất lượng tíndụng tốt thì Ngân hàng mới có nhiều khách hàng, uy tín Ngân hàng được nâng caotạo điều kiện thúc đẩy cho Ngân hàng phát triển Chất lượng tín dụng được hiểu là
sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội vàđảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng
Qua khái niệm này chúng ta thấy: NHTM, khách hàng, nền kinh tế là banhân tố được tính đến khi xem xét chất lượng tín dụng
Thứ nhất: Chất lượng hoạt động tín dụng xét từ giác độ NHTM
Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phùhợp với khả năng, thực lực theo hướng tích cực của bản thân Ngân hàng và phảiđảm bảo được sự cạnh tranh trên thị trường, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn
và có lãi
Thứ hai: Chất lượng hoạt động tín dụng xét từ giác độ khách hàng