1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TỈNH PHÚ THỌ

40 372 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng chất lượng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại ngân hàng công thương tỉnh phú thọ
Trường học Ngân Hàng Công Thương Tỉnh Phú Thọ
Thể loại tiểu luận
Thành phố phú thọ
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 92,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi mới thành lập, chi nhánh bộ máy của chi nhánh gồm 01 Hội sở chính và 02 chi nhánh trực thuộc đó là chi nhánh NHCT thị xã Phú Thọ và chi nhánh NHCT thị xã Vĩnh Yên, hoạt động kinh doa

Trang 1

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TỈNH PHÚ THỌ

2.1 Giới thiệu về ngân hàng công thương tỉnh Phú Thọ:

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển:

Chi nhánh NHCT Phú Thọ được thành lập từ năm 1988 (trước đây là Chi nhánh NHCT Vĩnh Phú) Khi mới thành lập, chi nhánh bộ máy của chi nhánh gồm

01 Hội sở chính và 02 chi nhánh trực thuộc đó là chi nhánh NHCT thị xã Phú Thọ

và chi nhánh NHCT thị xã Vĩnh Yên, hoạt động kinh doanh vừa mới ra khỏi thời

kỳ bao cấp, do đó còn phiến diện, các dịch vụ ngân hàng hạn hẹp, quy mô kinh doanh nhỏ bé, đối tượng phục vụ chủ yếu là các xí nghiệp quốc doanh; công nghệ ngân hàng còn ở trình độ sơ khai, thủ công là chủ yếu

Trong thời gian hoạt động từ năm 1988 tới 1996, ngân hàng đã mở rộng mạng lưới hoạt động, từ 2 chi nhánh năm 1988 lên tới 5 chi nhánh năm 1996 với cơ cấu

tổ chức ngày càng được chuyên môn hóa, hoạt động liên tục đạt hiệu quả cao Bắt đầu từ năm 1997, sau khi tỉnh Vĩnh Phú tách ra thành 2 tỉnh là tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ, NHCT Vĩnh Phú cũng được tách ra thành NHCT Vĩnh Phúc và NHCT Phú Thọ Từ thời điểm này NHCT Phú Thọ hoạt động độc lập với 4 chi nhánh: Hội sở NHCT tỉnh đặt tại thành phố Việt Trì, chi nhánh NHCT thị xã Phú Thọ, chi nhánh NHCT Đền Hùng, chi nhánh Nam Việt Trì cùng với các phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm đặt khắp nơi trên địa bàn tỉnh nhằm mở rộng mạng lưới hoạt động và thu hút khách hàng

Năm 2005, theo chỉ thị của NHCT Việt Nam, NHCT tỉnh Phú Thọ đã thực hiện phân cấp lại, lúc này chi nhánh thị xã Phú Thọ, chi nhánh Đền Hùng và chi nhánh Nam Việt Trì hoạt động độc lập với Hội sở NHCT tỉnh, còn Hội sở NHCT tỉnh chính thức đổi thành NHCT Phú Thọ, tự hạch toán và chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình

Trang 2

Năm 2006, theo chủ trương hiện đại hóa ngân hàng của NHCT Việt Nam, chi nhánh NHCT tỉnh Phú Thọ đã thực hiện việc nâng cấp các chi nhánh trực thuộc thành chi nhánh cấp 1 (chi nhánh NHCT Đền Hùng - tháng 1/2006, chi nhánh NHCT Nam Việt Trì - tháng 3/2006, chi nhánh NHCT thị xã Phú Thọ - tháng 7/2006).

Cho tới nay, chi nhánh NHCT Phú Thọ đã triển khai ứng dụng có hiệu quả rất nhiều dịch vụ ngân hàng theo hướng kinh doanh đa năng, điển hình là: dịch vụ thanh toán trong nước qua hệ thống máy vi tính với chương trình thanh toán hiện đại kết nối Internet, dịch vụ thanh toán kiều hối, dịch vụ thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT, dịch vụ mua bán ngoại tệ, chăm sóc và tư vấn khách hàng

Công nghệ của ngân hàng đã có sự đổi mới, ngày càng hiện đại, đáp ứng được yêu cầu kinh doanh trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển Hiện nay, công nghệ tin học đã được ứng dụng vào tất cả các lĩnh vực hoạt động của chi nhánh như: thanh toán, hạch toán, kế toán, quản lý hoạt động cho vay, nhận tiền gửi của khách hàng, thông tin tín dụng và phòng ngừa rủi ro, quản lý nhân sự, tổ chức hành chính Ngoài ra, hệ thống máy rút tiền tự đông ATM cũng được lắp đặt tại nhiều địa điểm, đặc biệt tại thành phố, thị xã, những nơi tập trung nhiều dân cư sinh sống

Ngân hàng luôn quan tâm đào tạo, bồi dưỡng phẩm chất, nâng cao năng lực cho cán bộ, nhân viên làm việc tại chi nhánh để phát huy tối đa hiệu quả hoạt động của chi nhánh, giúp chi nhánh có thể tự tin vào sự phát triển mạnh mẽ của mình trong tương lai

Là một chi nhánh của NHCT Việt Nam –NHTM cổ phần (NHCT Việt Nam vừa cổ phần hoá cuối tháng 12 năm 2008) –là một tổ chức tín dụng, chi nhánh NHCT Phú Thọ có các chức năng sau:

- Xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh doanh của chi nhánh sao cho phù hợp với từng thời kỳ

Trang 3

- Cấp tín dụng và cấp các dịch vụ ngân hàng khác đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng trong lĩnh vực công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế.

- Chịu sự quản lý và điều tiết của UBND tỉnh Phú Thọ và NHNN tỉnh Phú Thọ

- Hoạt động theo luật các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2003

- Được nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác bằng VND và ngoại tệ phù hợp với Luật ngân hàng hiện hành; phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu; tiếp nhận vốn tài trợ, vốn uỷ thác đầu tư từ NHNN

và các tổ chức quốc tế, quốc gia và các cá nhân khác có các chương trình phát triển kinh tế văn hoá-xã hội vay vốn NHNN, các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng các phòng ban của chi nhánh NHCT Phú Thọ:

Sơ đồ 1: Mô hình tổ chức bộ máy kinh doanh NHCT Phú Thọ

Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức NHCT Phú Thọ:

NHCT t nh Phú Thỉ ọ

PDGGia C mẩ

Phòng k toán giao d chế ị

Trang 4

Theo quyết định của Giám đốc NHCT Phú Thọ ngày 5/9/2006 quy định lại nhiệm vụ, chức năng của các phòng ban trong ngân hàng thì NHCT Phú Thọ bao gồm 8 phòng với các chức năng cụ thể của các phòng như sau:

* Phòng khách hàng doanh nghiệp:

Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các doanh nghiệp lớn, khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ, thực hiện các nghiệp vụ liên quan tới tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ thể lệ hiện hành và hướng dẫn của NHCT Việt Nam; trực tiếp quảng cáo, tư vấn, tiếp thị và giới thiệu sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho các doanh nghiệp

Ngoài ra, phòng khách hàng doanh nghiệp còn có chức năng tham mưu cho Giám đốc chi nhánh dự kiến kế hoạch kinh doanh, tổng hợp, phân tích đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh, thực hiện báo cáo hoạt động hàng năm của chi nhánh

Trang 5

* Phòng quản lý rủi ro:

Phòng quản lý rủi ro thực hiện chức năng đánh giá, quản lý rủi ro trong toàn

bộ các hoạt động kinh doanh của ngân hàng theo chỉ đạo của NHCT Việt Nam; tham mưu cho Giám đốc chi nhánh về công tác quản lý rủi ro của chi nhánh, bao gồm: rủi ro rín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro kinh doanh, rủi ro thanh toán ; quản

lý, giám sát thực hiện danh mục cho vay, đầu tư phải đảm bảo tuân thủ theo đúng các hạn mức tín dụng cấp cho từng khách hàng Một nhiệm vụ nữa rất quan trọng của phòng quản lý rủi ro chính là thẩm định và tái thẩm định khác hàng về dự án kinh doanh đối với khách hàng vay vốn theo dự án đầu tư hay phương án kinh doanh đối với khách hàng vay vốn lưu động

Phòng Quản lý rủi ro chịu trách nhiệm vè quản lý và xử lý các khoản nợ có vấn đề (bao gồm các khoản nợ: thay đổi thời hạn nợ, nợ xấu, nợ quá hạn); quản lý, khai thác và xử lý tài sản đảm bảo nợ vay theo quy định của nhà nước nhằm thu hồi các khoản nợ gốc và lãi vay; quản lý và theo dõi các khoản nợ đã được xử lý

* Phòng kế toán giao dịch:

Là phòng nghiệp vụ thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng, các nghiệp vụ và các công việc liên quan đến công tác quản lý tài chính, chỉ tiêu nội bộ tại chi nhánh; cung cấp dịch vụ ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh toán, xử

lý hạch toán giao dịch; quản lý và chịu trách nhiệm đối với hệ thống giao dịch trên máy, quản lý tiền mặt đến từng giao dịch viên theo đúng quy định của Nhà nước và NHCT Việt Nam Ngoài ra, phòng kế toán giao dịch còn có chức năng tư vấn cho khách hàng về việc sử dụng các sản phẩm ngân hàng

*Phòng thanh toán xuất nhập khẩu (phòng tài trợ thương mại):

Là phòng nghiệp vụ thực hiện các nghiệp vụ thanh toán xuất nhập khẩu và kinh doanh ngoại tệ tại chi nhánh theo quy định của NHCT Việt Nam, các nghiệp

vụ cụ thể là:

- Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán xuất nhập khẩu theo hạn mức được cấp;

Trang 6

- Thực hiện nghiệp vụ về mua bán ngoại tệ;

- Hỗ trợ phòng kế toán thực hiện chuyển tiền nước ngoài, nếu cần kiểm tra

HĐ ngoại thương hoặc thủ tục của các khoản tiền khác

*Phòng tiền tệ, kho quỹ:

Là phòng nghiệp vụ quản lý an toàn kho quỹ, quản lý tiền mặt theo quy định của NHNN và NHCT Việt Nam, ứng và thu tiền cho các quỹ tiết kiệm, các điểm giao dịch trong và ngoài quầy, thu chi tiềm mặt cho các doanh nghiệp có giao dịch lớn

*Phòng tổ chức hành chính:

Là phòng nghiệp vụ thực hiện công tác tổ chức cán bộ và đào tạo tại chi nhánh theo đúng chủ trương chính sách của Nhà nước và quy định của NHCT Việt Nam; thực hiện công tác quản trị và văn phòng phục vụ hoạt động kinh doanh tại chi nhánh; thực hiện công tác bảo vệ anh ninh và an toàn cho chi nhánh

2.1.3 Hoạt động kinh doanh của chi nhánh NHCT Phú Thọ trong một vài năm gần đây:

2.1.3.1 Huy động vốn

Trong hoàn cảnh kinh tế cả nước cũng như kinh tế địa phương ngày càng phát triển, lượng vốn cần thiết để đáp ứng nhu cầu đầu tư, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân ngày càng tăng nên NHCT Phú Thọ luôn quan tâm tới hoạt động huy động vốn và coi đây là nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động kinh doanh tiền tệ

Với phương châm hoạt động “Vì sự thành đạt của mọi người, mọi nhà, mọi doanh nghiệp”, NHCT Phú Thọ luôn cố gắng áp dụng nhiều hình thức huy động vốn đa dạng, sáng tạo như:

Trang 7

- Nhận tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn;

- Nhận tiền gửi tiết kiệm với nhiều kỳ hạn;

- Phát hành kỳ phiếu ngân hàng;

- Phát hành trái phiếu NHCT có kèm quà tặng;

- Phát hành thẻ ATM song song với việc lắp đặt hệ thống máy ATM

Trên cơ sở các phương thức huy động vốn phong phú và đa dạng, NHCT Phú Thọ đã khá thành công với kết quả là lượng vốn huy động tăng ổn định qua các năm, hơn thế chỗ đứng của ngân hàng trong lòng dân cư ngày càng được củng cố

Bảng 1: Tình hình huy động vốn của NHCT Phú Thọ giai đoạn 2006-2008:

Chỉ tiêu

31/12/2006 31/12/2007 31/12/2008

Số tiền (tỷ)

Tỷ trọng (%)

Số tiền (tỷ)

Tỷ trọng (%)

Số tiền (%)

Tỷ trọng (%)

Trang 8

Nguồn: Báo cáo tài chính của ngân hàng từ năm 2006 đến 2008

Nhìn vào bảng 1 và bảng 2, ta thấy rằng nguồn vốn huy động tại chỗ của ngân hàng được tăng lên qua các năm cả về nguồn VND và nguồn ngoại tệ Tuy nhiên,

so với năm 2006, nguồn vốn huy động tại chỗ năm 2007 là 736.904 tỷ đồng, tăng gần 55.404 tỷ tương đương 8.13%, chủ yếu do nguồn tiền gửi của doanh nghiệp tăng 44.067 tỷ đồng, tương ứng với tăng 26% Cuối năm 2007, một số doanh nghiệp có số dư tiền gửi tăng do chưa phải chuyển để thanh toán với các đơn vị chủ quản

Bảng 2: So sánh tăng trưởng vốn huy động giữa các năm

Số tuyệt đối (tỷ)

Số tương đối (%)

Số tuyệt đối (tỷ)

Số tương đối (%)

Trang 9

Nguồn: Báo cáo tài chính của ngân hàng từ 2006 – 2008

Còn so với năm 2007, nguồn vốn huy động tại chỗ của ngân hàng năm 2008 là 927.83 tỷ đồng tăng hơn 90 tỷ tương đương với 25.91% Cũng như năm 2007, nguồn vốn huy động tăng trưởng đồng đều giữa hai nguồn tiền gửi các TCKT và tiền gửi dân cư nhưng khác ở chỗ, nguồn vốn huy động tập trung chủ yếu vào tiền gửi ngắn hạn, chiếm 64.08% nguồn vốn huy động tại chỗ, tăng 50.16% so với

2007, lượng tiền gửi trung và dài hạn giảm đáng kể, chỉ chiếm 35.92% không nằm ngoài xu thế chung của toàn hệ thống NHTM ở Việt Nam Mức tiền gửi bằng VND

và ngoại tệ vẫn tăng trưởng ổn định qua các năm Công tác huy động vốn từ các tổ chức đã được ngân hàng đặc biệt quan tâm, với nhiều hình thức khuyến mại, chăm sóc khách hàng đã thu hút được một số khách hàng mới có số dư tiền gửi bình quân lớn Tuy đây là nguồn vốn có lãi suất huy động thấp, tính ổn định không cao nhưng đã góp phần không nhỏ vào hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Nguồn vốn huy động tiền gửi dân cư giữ ở mức ổn định ở mức 68.7% tổng nguồn huy động do

đó lãi suất huy động của bộ phận này có ảnh hưởng rất lớn đến lãi suất đầu vào của ngân hàng

2.1.3.2 Tình hình sử dụng vốn:

Trong hoạt động sử dụng vốn thì hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn, vì thế, ngân hàng luôn chú trong phát triển quan hệ với các khách hàng truyền thống, vay vốn với số lượng lớn, nhóm khách hàng này thường là các doanh nghiệp Nhưng không vì thế mà ngân hàng thiếu đi sự quan tâm tới nhóm khách hàng cá nhân, hộ gia đình, một nguồn huy động chiếm tỷ trọng khá lớn cho ngân hàng Với nhóm khách hàng này, ngân hàng khuyến khích họ vay vốn đầu tư phát triển kinh

tế với sự đảm bảo bằng các loại tài sản hợp lý và phương án sử dụng vốn thích hợp

để thực hiện xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế địa phương

Trang 10

Bảng 3: Tình hình cho vay của NHCT Phú Thọ giai đoạn 2006-2008:

Chỉ tiêu

31/12/200

Số tiền (tỷ)

Tỷ trọng (%)

Số tiền (tỷ)

Tỷ trọng (%)

Số tiền (tỷ)

Tỷ trọn

g (%)

Theo loại tiền vay 824.170 100 939.073 100.0

Trang 11

Nguồn: Báo cáo tài chính của ngân hàng từ năm 2006 đến 2008

*Về quy mô hoạt động cho vay:

Tính tới 31/12/2007, tổng dư nợ cho vay nền kinh tế là 939.073 tỷ đồng, tăng

115 tỷ so với năm 2006 và bằng 106,7% kế hoạch được giao Dư nợ cho vay của NHCT Phú Thọ chiếm thị phần 11,5%, tốc độ tăng trưởng 13,9%, còn ở mức tăng trưởng thấp so với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung là 25,3% trên địa bàn Cũng tại thời điểm này, tổng số khách hàng có quan hệ tín dụng với chi nhánh là 1331, tăng so với năm 2006 là 189 khách hàng; khách hàng doanh nghiệp là 137 giảm 4 đơn vị so với đầu năm, trong đó: DNNN có 3 đơn vị, công ty CP có 57 đơn vị, công ty TNNH có 64 đơn vị, hầu hết các khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ, tình hình tài chính lành mạnh

Năm 2008, tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 1206.086 tỷ đồng, tăng gần

267 tỷ so với năm 2007, tốc độ tăng trưởng 28% và đạt 102,6% kế hoạch được giao Đầu tư tín dụng của ngân hàng chiếm 11,09% thị phần Hoạt động tín dụng

Trang 12

của năm 2008 tập trung vào củng cố và nâng cao chất lượng tín dụng, chọn lọc khách hàng, tập trung cho vay ngắn hạn, hạn chế đầu tư trung và dài hạn Cũng như năm 2007, ngân hàng bám sát các ngành, các doanh nghiệp là thế mạnh của kinh tế tỉnh, tăng cường cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hộ sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng, đồng thời giữ vững dư nợ đối với các doanh nghiệp lớn sản xuất kinh doanh có hiệu quả, các khách hàng chiến lược Tính tới 31/12/2008, ngân hàng có mối quan hệ tín dụng với 1117 khách hàng là tổ chức và

cá nhân, hộ gia đình, giảm hơn 200 khách hàng so với năm 2007, trong đó có 137 khách hàng doanh nghiệp (2 DNNN, 61 công ty CP, 64 công ty TNHH, 2 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, 8 doanh nghiệp loại hình khác) Có 980 khách hàng

cá nhân vay tiêu dùng, hộ gia đình sản xuất kinh doanh Tổng số khách hàng có quan hệ giao dịch với ngân hàng là 16000 tổ chức, cá nhân

*Về cơ cấu tín dụng:

So với năm 2006, dư nợ cho vay ngắn hạn của năm 2007 là 644,029 tỷ, tăng gần 92 tỷ tương đương với tăng 17%; dư nợ cho vay trung dài hạn là 295.044 tỷ đồng, tăng 23 tỷ so với 2006 tương đương với 8,5% Như vậy, tốc độ tăng cho vay ngắn hạn cao hơn cho vay trung dài hạn Theo cơ cấu loại tiền cho vay: cho vay bằng VND đạt 690 tỷ tăng 82 tỷ so với 2006, đạt 109,5% kế hoạch được giao; dư

nợ cho vay bằng ngoại tệ quy đổi đạt 249 tỷ, tăng 33 tỷ so với năm 2006, đạt 99,7% kế hoạch Tuy nhiên, cho vay DNQD của ngân hàng đã vượt quá chỉ tiêu được giao là 23,8% mà lên tới 29,67% tổng dư nợ

Đối với năm 2008, dư nợ cho vay ngắn hạn là 953,127 tỷ đồng, tăng 309 tỷ so với 2007 tương đương với tăng 48%; dư nợ cho vay trung dài hạn là 252,959 tỷ đồng giảm 42 tỷ đồng tương đương với giảm 17% Như vậy năm 2008, dư nợ cho vay của ngân hàng tăng hoàn toàn là do tăng dư nợ cho vay ngắn hạn, qua đây có thể thấy rõ năm 2008 ngân hàng tập trung vào việc cho vay ngắn hạn, hạn chế cho vay trung và dài hạn, đảm bảo mục tiêu sinh lời và an toàn của ngân hàng Theo cơ

Trang 13

cấu loại tiền cho vay, cho vay bằng VND đạt 849,542 tỷ, tăng 160 tỷ so với 2007 tương đương với tăng 23%, đạt 118% kế hoạch được giao; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ quy đổi là 356 tỷ, tăng 107 tỷ tương đương 48%, đạt 78,4% kế hoạch Khác với năm 2007, tỷ lệ cho vay DNNN của ngân hàng là 35,5% tổng dư nợ, cao hơn tỷ lệ được giao là 15,5% Cho vay không có TSĐB chiếm 35,5% tổng dư nợ, cao hơn tỷ lệ được giao là 9,5%, chủ yếu tập trung vào DNNN TW, đây là khách hàng được ngân hàng đánh giá là một trong những doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, đảm bảo khả năng trả nợ.

*Về chất lượng tín dụng:

Bảng 4: Trạng thái các khoản vay

Chỉ tiêu 31/12/2006 31/12/2007 31/12/2008

Số tiền (tỷ)

Tỷ trọng (%)

Số tiền (tỷ)

Tỷ trọng (%)

Số tiền (tỷ)

Tỷ trọng (%)

Trang 14

Tổng cộng 824.170 100.00 939.073 100.00

1206.08

6 100.00

Nguồn: Báo cáo tài chính của ngân hàng từ năm 2006 đến 2008

Tính đến 31/12/2007, nợ nhóm 2 của ngân hàng là 77,023 tỷ đồng, giảm 47,345 tỷ so với 2006 và bằng 88% kế hoạch; nợ xấu là 18,992 tỷ tăng 9,6 tỷ so với năm trước, chủ yếu là nhóm 3 với số tiền 10,114 tỷ và nhóm 5 là 8,738 tỷ Nguyên nhân của việc giảm nợ nhóm 2 một phần là do ngân hàng đã bám sát các khoản vay, đôn đốc thu nợ gốc lãi đến hạn Mặt khác do thay đổi trong quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo quyết định số 18 của NHNN, các khoản ngắn hạn được gia hạn nợ sẽ bị chuyển nhóm 3 (nợ xấu) không được phân loại nhóm 2 như trước đây nên làm cho nợ xấu của ngân hàng tăng thêm 9.6 tỷ so với năm trước

Tính tới 31/12/2008, nợ nhóm 2 chỉ còn 10.6 tỷ đồng, giảm so với năm 2007

là 67 tỷ, trong đó: nợ nhóm 2 chuyển sang nợ nhóm 1 là 39 tỷ do thu hết nợ quá hạn, 34.5 tỷ được chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn là 34.4 tỷ Nợ xấu là 33 tỷ tăng 14 tỷ so với năm 2007, trong đó: 3,492 tỷ nợ nhóm 3; 20.296 tỷ nợ nhóm 4; 8.678 tỷ nợ nhóm 5 và 17.3 tỷ nợ đã xử lý trong năm

Như vậy, việc thực hiện thu nợ xấu của ngân hàng chưa đạt kế hoạch do NHCT Việt Nam giao, xuất phát từ nguyên nhân khách quan của nền kinh tế mang lại Lãi suất tăng gần 2 lần so với 2007 đã làm cho các doanh nghiệp gặp khó khăn

về tài chính, khả năng trả nợ ngân hàng bị suy giảm, nhiều doanh nghiệp chỉ còn khả năng trả lãi, không trả được nợ gốc dẫn đến nợ quá hạn, thậm chí nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ ngừng hoạt động có thể bị phá sản

*Về thu hồi nợ ngoại bảng:

Ngay từ đầu năm 2008, ngân hàng đã có những biện pháp tích cực đôn đốc khách hàng có nợ đã XLRR trả nợ ngân hàng Các đơn vị có thoả thuận, cam kết trả nợ đã cố gắng thực hiện theo cam kết Kết quả là thu nợ đã được XLRR là

Trang 15

18,14 tỷ, đạt 87% kế hoạch năm; thu nợ được chính phủ cấp nguồn xử lý là 1,36 tỷ gấp 11,3 lần kế hoạch được giao.

Tuy nhiên, nợ ngoại bảng vẫn còn lớn, với dự báo tình hình kinh tế 2009 và thực trạng sản xuất kinh doanh của đơn vị thì khả năng giảm dư nợ XLRR của ngân hàng còn nhiều khó khăn

2.1.3 Hoạt động tài trợ thương mại và kinh doanh mua bán ngoại tệ:

Hoạt động tài trợ thương mại của chi nhánh đã đáp ứng tốt nhu cầu bảo lãnh, nhu cầu mở và thanh toán L/C của khách hàng, đạt kết quả cao nhất trong những năm qua cả về doanh số hoạt động và hiệu quả; đã góp phần hỗ trợ đắc lực cho hoạt động kinh doanh chung của chi nhánh, nâng cao uy tín của NHCT Phú Thọ

*Hoạt động bảo lãnh: Trong năm 2008, ngân hàng đã thực hiện phát hành

356 món bảo lãnh trong nước với tổng số tiền là trên 67 tỷ đồng, giảm 19 món nhưng tăng về mặt giá trị gần 11 tỷ đồng so với năm 2007; thanh toán bảo lãnh 338 món, trị giá 55 tỷ, tăng 7 món tương ứng với số tiền là hơn 12 tỷ so với năm trước Đặc biệt là ngân hàng phát hành 1 món bảo lãnh nước ngoài trị giá 12000 USD

*Hoạt động mở và thanh toán L/C: Năm 2008, ngân hàng đã phát hành 118

L/C nhập khẩu, trị giá 62.726 triệu USD, giảm về số lượng 42 L/C nhưng giá trị tăng 17.249 triệu USD so với năm trước tương đương với 38% Đã thanh toán 163 món trả nước ngoài với 62.158 triệu USD, tăng 17.137 triệu USD, tương đương với tỷ lệ 37.06% Số L/C chưa đến hạn thanh toán gồm 10 món trị giá 2.742 triệu USD

Trong năm vừa qua, lượng L/C nhập giảm chủ yếu là do khách hàng thay đổi hình thức thanh toán từ L/C sang hình thức nhờ thu trả chậm (D/A) nhằm tiết kiệm chi phí dịch vụ và giảm lãi vay do lãi suất nước ngoài thấp hơn trong nước

*Thanh toán nhờ thu:

-Nhờ thu đến: Nhận thông báo 109 bộ chứng từ thu, trị giá 5.451 triệu USD, tăng 93 bộ so với 2007; đã thanh toán trả nước ngoài 58 món tương ứng với số tiền

Trang 16

2.6 triệu USD, tăng so với 2007 là 42 món Số bộ chứng từ nhờ thu trả chậm chưa tới hạn thanh toán là 46 bộ, trị giá 2.655 triệu USD.

-Nhờ thu đi: Chứng từ nhờ thu đi gồm 3 bộ đã được ngân hàng nước ngoài thanh toán 100% trị giá 63 ngàn USD, uy tín của ngân hàng trong hoạt động thanh toán XNK ngày càng được nâng lên

*Kinh doanh ngoại tệ: Năm 2008, diễn biến tỷ giá ngoại tệ cũng như

cung-cầu ngoại tệ USD trên thị trường hết sức phức tạp và khó dự báo Đã có lúc cung USD dư thừa, ngân hàng hạn chế mua vào, quy định phí đổi USD ra VND, nhưng sau đó nhu cầu ngoại tệ thanh toán xuất khẩu tăng đột biến dẫn đến sự khan hiếm USD, tỷ giá tăng cao Tuy nhiên công tác kinh doanh ngoại tệ vẫn đạt được kết quả đáng kể

Kết quả là: thu từ hoạt động tài trợ thương mại và kinh doanh ngoại tệ là 4,873 tỷ tăng 1,576 tỷ so với 2007

2.1.3.4 Các hoạt động khác:

Các hoạt động kế toán giao dịch, thủ quỹ tiền tệ và công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ luôn được chú trọng và nâng cao thường xuyên nhằm mục đích hỗ trợ

và nâng cao hiệu quả cho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng

2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng:

Bảng 5: Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng qua các năm

Chỉ tiêu Số tiền

(tỷ)

Tỷ trọng (%)

Số tiền (tỷ)

Tỷ trọng (%)

Số tiền (tỷ)

Tỷ trọn

g (%)

Trang 17

Tổng chi 113.1 76.21 143 87.57

187.14

5 84.41 Lợi nhuận 35.3 23.79 20.3 12.43 34.555 15.59

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng từ 2006 đến 2008

Cho vay là hoạt động chủ yếu của ngân hàng, do vậy, thu nhập từ hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu nhập của ngân hàng Một điều đáng chú ý ở đây là, lợi nhuận của ngân hàng giảm đáng kể vào năm 2007 và đã được cải thiện một chút vào năm 2008 Việc giảm lợi nhuận bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan Nguyên nhân khách quan và cũng là nguyên nhân gây ảnh hưởng lớn đó chính là do diễn biến chung của nền kinh tế, khiến cho không chỉ các ngân hàng mà còn các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh

2.2 Thực trạng hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại chi nhánh ngân hàng công thương tỉnh Phú Thọ

2.2.1 Cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại ngân hàng

Cho vay ngắn hạn luôn là hoạt động chủ yếu trong hoạt động cho vay và hoạt động tín dụng nói chung của ngân hàng Dự nợ cho vay ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ cho vay, từ 66,99% năm 2006, tăng nhẹ lên 68,58% năm 2007 và tăng cao lên 79,09% vào năm 2008 Số lượng khách hàng doanh nghiệp ổn định qua các năm, chủ yếu là dựa trên mối quan hệ lâu dài và quen thuộc với ngân hàng, vì ngân hàng công thương tỉnh Phú Thọ là một trong những ngân hàng lâu đời và uy tín tại địa bàn tỉnh Phú Thọ

Bảng 6: Dư nợ ngắn hạn đối với DNQD và DNNQD:

Chỉ tiêu

31/12/2006 31/12/2007 31/12/2008

Số tiền (tỷ)

Tỷ trọng (%)

Số tiền (tỷ)

Tỷ trọng (%)

Số tiền (tỷ)

Tỷ trọng (%)

Trang 18

Nguồn: Báo cáo tài chính của ngân hàng từ năm 2006 đến 2008

So với năm 2006, dư nợ ngắn hạn năm 2007 của ngân hàng tăng gần 16.65% trong đó dư nợ ngắn hạn của khối doanh nghiệp tăng 18.61%, dư nợ ngắn hạn của năm 2008 tăng 72.63% trong đó dư nợ ngắn hạn của khối doanh nghiệp tăng 69.59% Như vậy, quy mô dư nợ cho vay ngắn hạn nói chung và dư nợ ngắn hạn đối với khối doanh nghiệp của ngân hàng tăng trưởng cao qua các năm đặc biệt là

từ 2007 sang 2008, nhưng sau giai đoạn tình hình tài chính tiền tệ gặp sóng gió năm 2008, xu hướng của các ngân hàng là đẩy mạnh dịch vụ bán lẻ, mà đối tượng chính là khách hàng cá nhân, vì thế ngân hàng công thương tỉnh Phú Thọ cũng có chiến lược nâng cao chất lượng và đẩy mạnh cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp kết hợp với mở rộng cho vay ngắn hạn đối với cá nhân

Biểu đồ 1: Cơ cấu dư nợ cho vay ngắn hạn theo thành phần kinh tế

Trang 19

Nguồn: Báo cáo tài chính của ngân hàng từ năm 2006 đến 2008

Dư nợ ngắn hạn của doanh nghiệp chiếm tới 83,08% tổng dư nợ ngắn hạn năm 2006, tăng nhẹ 84,47% năm 2007 và giảm xuống còn 81,61% năm 2008 Có

sự biến động này là do giai đoạn cuối năm 2006 đầu năm 2007, thời kỳ lên ngôi của thị trường tài chính Việt Nam nói chung và của thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng, là động lực cho sự tăng trưởng của các doanh nghiệp cả về số lượng và doanh thu Các doanh nghiệp tăng cường vay vốn dài hạn để mở rộng quy

mô tài sản và vay vốn ngắn hạn nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh Tình hình này kéo dài cho tới 3 tháng cuối năm 2007, thị trường chứng khoán giảm nhanh, tạo ra tâm lý hoang mang cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp, họ chuyển tư kênh huy động vốn từ thị trường chứng khoán sang huy động vốn từ ngân hàng Tuy nhiên, sự sụt giảm của thị trường chứng khoán có tác động hai chiều tới khả năng huy động vốn của doanh nghiệp Sự biến động của thị trường chứng khoán tác

Trang 20

động tới cung cầu của thị trường, tới giá cả nguyên liệu, hàng hóa tiêu dùng và các dịch vụ, gây ảnh hưởng trong đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp các tác động này diễn ra trong ngắn hạn sẽ khiến cho các doanh nghiệp vay vốn thêm nhưng trong dài hạn, nó làm tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp khó khăn, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Vì thế, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh gặp khó khăn hơn trong việc vay vốn ngân hàng so với doanh nghiệp quốc doanh về điều kiện vay vốn, và đây chính là nguyên nhân chính dẫn tới việc tại thời điển 31/12/2007, dư nợ ngắn hạn của doanh nghiệp quốc doanh tăng lên 37.33% so với tổng dư nợ ngắn hạn của ngân hàng còn của doanh nghiệp ngoài quốc doanh lại giảm còn 47.14%

2.2.2 Cho vay ngắn hạn đối với khối doanh nghiệp quốc doanh tại NHCT Phú Thọ:

Tham gia việc vay vốn ngắn hạn tại ngân hàng có 51 doanh nghiệp quốc doanh, trong đó: 1 DNNN TW hoạt động trên lĩnh vực công nghiệp, 1 DNNN địa phương hoạt động trên lĩnh vực xây dựng và dịch vụ (dịch vụ tư vấn xây dựng), 38 công ty cổ phần Nhà nước hoạt động trên các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp

và xây dựng, 11 công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước hoạt động trên lĩnh vực công nghiệp, thương mại –dịch vụ

Bảng 7: Cơ cấu cho vay ngắn hạn đối với thành phần DNQD

Chỉ tiêu

31/12/2006 31/12/2007 31/12/2008

Số tiền (tỷ)

Tỷ trọng (%)

Số tiền (tỷ)

Tỷ trọng (%)

Số tiền (tỷ)

Tỷ trọng (%)

Ngày đăng: 19/10/2013, 11:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Mô hình tổ chức bộ máy kinh doanh NHCT Phú Thọ - THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TỈNH PHÚ THỌ
Sơ đồ 1 Mô hình tổ chức bộ máy kinh doanh NHCT Phú Thọ (Trang 3)
Bảng 1: Tình hình huy động vốn của NHCT Phú Thọ giai đoạn 2006-2008: - THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TỈNH PHÚ THỌ
Bảng 1 Tình hình huy động vốn của NHCT Phú Thọ giai đoạn 2006-2008: (Trang 7)
Bảng 2: So sánh tăng trưởng vốn huy động giữa các năm - THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TỈNH PHÚ THỌ
Bảng 2 So sánh tăng trưởng vốn huy động giữa các năm (Trang 8)
Bảng 4: Trạng thái các khoản vay - THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TỈNH PHÚ THỌ
Bảng 4 Trạng thái các khoản vay (Trang 13)
Bảng 5: Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng qua các năm - THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TỈNH PHÚ THỌ
Bảng 5 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng qua các năm (Trang 16)
Bảng 6: Dư nợ ngắn hạn đối với DNQD và DNNQD: - THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TỈNH PHÚ THỌ
Bảng 6 Dư nợ ngắn hạn đối với DNQD và DNNQD: (Trang 17)
Bảng 7: Cơ cấu cho vay ngắn hạn đối với thành phần DNQD - THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TỈNH PHÚ THỌ
Bảng 7 Cơ cấu cho vay ngắn hạn đối với thành phần DNQD (Trang 20)
Bảng 10: Vòng quay vốn ngắn hạn của ngân hàng - THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TỈNH PHÚ THỌ
Bảng 10 Vòng quay vốn ngắn hạn của ngân hàng (Trang 29)
Bảng 11: Dư nợ ngắn hạn  quá hạn đối với doanh nghiệp từ 2006 – 2008: - THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TỈNH PHÚ THỌ
Bảng 11 Dư nợ ngắn hạn quá hạn đối với doanh nghiệp từ 2006 – 2008: (Trang 30)
Bảng 12: Nợ xấu ngắn hạn đối với doanh nghiệp năm 2006-2008 - THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TỈNH PHÚ THỌ
Bảng 12 Nợ xấu ngắn hạn đối với doanh nghiệp năm 2006-2008 (Trang 31)
Bảng 14: Tỷ lệ thu nhập tư cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp so với tổng   thu nhập của ngân hàng từ 2006 – 2008: - THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TỈNH PHÚ THỌ
Bảng 14 Tỷ lệ thu nhập tư cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp so với tổng thu nhập của ngân hàng từ 2006 – 2008: (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w