TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH ---O--- NGUYỄN THỊ THU TRANG MỐI QUAN HỆ GIỮA KIỂM SOÁT LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM LUẬN ÁN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH -O -
NGUYỄN THỊ THU TRANG
MỐI QUAN HỆ GIỮA KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TRONG ĐIỀU HÀNH
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
TP Hồ Chí Minh, Năm 2020
Trang 2NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH -O -
NGUYỄN THỊ THU TRANG
MỐI QUAN HỆ GIỮA KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TRONG ĐIỀU HÀNH
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Chuyên ngành: Tài chính, ngân hàng
Mã số : 9.34.02.01 Hướng dẫn khoa học: PGS.,TS Hà Quang Đào
TP Hồ Chí Minh, Năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: Nguyễn Thị Thu Trang
Sinh ngày: 03/08/1986 Nơi sinh: Hà Nội
Hiện đang công tác tại Trường Đại học ngân hàng Tp.HCM
Là Nghiên cứu sinh khóa 17 của Trường Đại học ngân hàng Tp.HCM
Tên luận án: Mối quan hệ giữa kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: PGS.,TS Hà Quang Đào
Tôi xin cam đoan luận án này chưa từng được trình nộp để lấy học vị tiến sĩ tại bất cứ một
cơ sở đào tạo nào Luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, kết quả nghiên cứu
là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung
do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong luận án
Tp.HCM, ngày tháng năm
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận án, Nghiên cứu sinh đã nhận được sự giúp đỡ to lớn,
hướng dẫn tận tình và đầy tâm huyết của PGS.,TS Hà Quang Đào- Người hướng dẫn khoa học, các quý thầy cô trường Đại học Ngân Hàng TP.HCM, và các đồng nghiệp khoa Ngân Hàng trường Đại học Ngân Hàng TP.HCM Nghiên cứu sinh cũng đã nhận được sự giúp đỡ bằng cách trả lời phiếu khảo sát từ các cá nhân, đơn vị và các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng NCS xin gửi lời cảm ơn sâu sắc, lòng biết ơn chân thành tới quý Thầy hướng dẫn, quý thầy cô đồng nghiệp trường Đại học Ngân Hàng TP.HCM, các quý anh/chị, quý tổ chức, và các chuyên gia đã trả lời khảo sát
Trang 5Nghiên cứu sinh: Nguyễn Thị Thu Trang
Người hướng dẫn khoa học: PGS., TS Hà Quang Đào
Cơ sở đào tạo: Trường đại học Ngân Hàng TP.HCM
Dựa trên 4 mục tiêu cụ thể là :
- Hệ thống hóa lý luận có chọn lọc về CSTT, lạm phát, tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ giữa kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong điều hành chính sách tiền tệ;
- Xác định các nhân tố tác động đến mối quan hệ kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam;
- Thực trạng mối quan hệ kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam;
- Giải pháp điều hành chính sách tiền tệ tác động vào mối quan hệ kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Luận án sử dụng phương pháp định tính bằng cách thu thập các nguồn dữ liệu thứ cấp như: khảo sát, sách, báo, tạo chí, luận văn luận án, luật, báo cáo tổng kết của NHNN, các bộ ngành có liên quan, Tổng cục Thống kê, …từ đó tổng hợp, phân tích, đánh giá so sánh Và nghiên cứu định lượng thông qua việc gửi bảng khảo sát tới các chuyên gia am hiểu về lĩnh vực tài chính, tiền tệ và các cơ quan làm chính sách Thu thập và xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS Với phương pháp này để đánh giá độ tin cậy và mức độ phù hợp của các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam Trên số liệu thứ cấp của tổng cục thống kê,
Trang 6NHNN về điều hành CSTT, lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn
2004-2018, qua đó tác giả đã thực hiện được:
Thứ nhất, luận án hệ thống hóa lý thuyết về lạm phát, tăng trưởng kinh tế và chính sách tiền tệ Đặc biệt sử dụng mô hình để chỉ ra mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Thứ hai, đánh giá được tổng thể mối quan hệ giữa kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong điều hành chính sách tiền tệ từ lý thuyết cho tới thực tiễn tại Việt Nam
Thứ ba, tìm ra những nhân tố tác động đến mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Thứ tư, luận án nghiên cứu được cách thức để chính phủ có thể đạt được mục tiêu kép kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong điều hành chính sách tiền tệ dựa trên nghiên cứu có luận cứ khoa học Cụ thể là rút ra hai nhóm giải pháp cơ bản và những kiến nghị nhằm điều hành CSTT đạt mục tiêu kép kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Trang 7DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC TỪ VIẾT TẮT
CPI: Chỉ số lạm phát CSTT: Chính sách tiền tệ DNNN: Doanh nghiệp nhà nước DTBB Dự trữ bắt buộc
FDI: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài GDP: Tổng sản phẩm trong nước
GTCG: Giấy tờ có giá HMTD : Hạn mức tín dụng KLGD: Khối lượng giao dịch LSCB: Lãi suất cơ bản LSTCK: Lãi suất tái chiết khấu LSTCV: Lãi suất tái cấp vốn NHTM CP: Ngân hàng thương mại cổ phần NHTM NN: Ngân hàng thương mại Nhà nước NHNN: Ngân hàng nhà nước
NHTM: Ngân hàng thương mại NHTW Ngân hàng Trung ương NSNN: Ngân sách nhà nước ODA: Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
Trang 8OMOs: Nghiệp vụ thị trường mở SXKD: Sản xuất kinh doanh TCTD: Tổ chức tín dụng TDH: Trung dài hạn TPTTT Tổng phương tiện thanh toán WTO: Tổ chức thương mại thế giới USD Đô la Mỹ
VND Đồng Việt Nam VNH: Vay ngắn hạn VKD: Vốn kinh doanh
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ iii
DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU xi
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH xii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4
6 Các công trình nghiên cứu liên quan 4
7 Điểm mới của luận án 8
8 Kết cấu của luận án 8
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ, ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ, MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 9
Trang 101.1 Cơ sở lý luận về chính sách tiền tệ 9
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của chính sách tiền tệ 9
1.1.2 Mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ 11
1.1.3 Các công cụ điều hành chính sách tiền tệ 16
1.2 Cơ sở lý luận về lạm phát và tăng trưởng kinh tế 23
1.2.1 Cơ sở lý luận về lạm phát 23
1.2.2 Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế 35
1.2.3 Luận cứ khoa học về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong điều hành chính sách tiền tệ 45
1.3 Kinh nghiệm điều hành CSTT nhằm kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh tế của một số nước và bài học rút ra cho Việt Nam 51
1.3.1 Kinh nghiệm điều hành CSTT nhằm kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh tế của một số nước 51
1.3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 63
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 65
CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 66
2.1 Mô hình nghiên cứu 66
2.1.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 66
2.1.2 Diễn giải các biến trong mô hình nghiên cứu 68
2.1.3 Các giả thuyết 69
2.2 Phương pháp nghiên cứu 70
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 70
2.2.2 Xây dựng thang đo 73
2.3 Nghiên cứu định lượng 75
Trang 112.3.1 Phương pháp xử lý số liệu 75
2.3.2 Dữ liệu nghiên cứu 78
2.3.3 Thiết kế mẫu 79
2.3.4 Kỹ thuật phân tích dữ liệu 79
2.4 Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ lạm phát và tăng trưởng kinh tế 82
2.4.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 83
2.4.2 Kiểm định thang đo 84
2.5 Mô hình nghiên cứu chính thức 88
2.5.1 Mô hình hồi qui 88
2.5.2 Kiểm định ma trận tương quan giữa các biến 89
2.5.3 Phân tích hồi quy 91
2.5.4 Thảo luận kết quả hồi quy 93
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 95
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA KIỂM SOÁT LẠM PHÁT VÀ THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM 96
3.1 Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam 96
3.1.1 Thực trạng điều hành công cụ chính sách tiền tệ ở Việt Nam 96
3.1.2 Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 111
3.2 Thực trạng lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 125
3.2.1 Thực trạng lạm phát ở Việt Nam 125
3.2.2 Thực trạng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 137
3.2.3 Đánh giá thực trạng điều hành chính sách tiền tệ giải quyết mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 149
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 161
Trang 12CHƯƠNG 4: GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA KIỂM SOÁT LẠM PHÁT VÀ THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH
TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM 162
4.1 Định hướng điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam 162
4.2 Giải pháp điều hành chính sách tiền tệ giải quyết mối quan hệ giữa kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 166
4.2.1 Nhóm giải pháp chiến lược 166
4.2.2 Nhóm giải pháp cụ thể 171
4.3 Một số kiến nghị 183
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 185
KẾT LUẬN CHUNG 186
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO i
PHỤ LỤC iv
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ xxxi
Trang 13DANH MỤC BẢNG Trang
Bảng 1.1: Mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát 47
Bảng 2.1: Thang đo yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ Lạm phát và Tăng trưởng kinh tế 73
Bảng 2.2: Đặc điểm mẫu khảo sát 83
Bảng 2.3: Đánh giá độ tin cậy của thang đo thành phần 84
Bảng 2.4: Hệ số KMO và Bartlett’s các yếu tố ảnh hưởng 87
Bảng 2.5: Bảng phương sai trích 87
Bảng 2.6: Ma trận tương quan giữa các biến 90
Bảng 2.7: Tóm tắt hồi quy 91
Bảng 2.8: Số thống kê trong phương trình hồi quy 92
Bảng 2.9: Mức độ quan trọng của các biến độc lập 93
Bảng 3.1: Mục tiêu và kết quả thực hiện tỷ lệ lạm phát giai đoạn 2004-2018 112
Bảng 3.2: Diễn biến cung tiền và tăng trưởng tín dụng 2004-2018 112
Bảng 3.3: Tăng trưởng kinh tế mục tiêu và thực hiện giai đoạn từ 2004-2018 121
Bảng 3.4: Chỉ số lạm phát từ 2004-2018 127
Bảng 3.5: Tăng trưởng kinh tế giai đoạn từ 2004-2018 138
Trang 14DANH MỤC SƠ ĐỒ Trang
Sơ đồ 1.1: Định nghĩa chính sách tiền tệ 10
Sơ đồ 1.2: Mô hình mục tiêu của chính sách tiền tệ 16
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Trang
Biểu đồ 1.1: Đường cong Phillips dốc xuống phía phải 12 Biểu đồ 1.2: Đường cong Philips ngắn hạn và Đường cong Phillips dài hạn 13
DANH MỤC HÌNH Trang
Hình 2.1: Mô hình các yếu tố tác động Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh
tế 68 Hình 2.2: Qui trình nghiên cứu 71
Trang 15PHẦN MỞ ĐẦU
1- TÍNH CẤP THIẾT VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Tăng trưởng kinh tế và lạm phát là hai vấn đề lớn của bất kỳ một nền kinh tế nào Trong phát triển kinh tế, thách thức cũng như khó khăn nhất chính là sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát Vì vậy, một trong những mục tiêu quan trọng của các nhà quản lý và điều hành nền kinh tế ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới bao gồm cả Việt Nam là tạo dựng môi trường kinh tế vĩ mô ổn định với mức tăng trưởng kinh
Tăng trưởng kinh tế càng có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết hơn đối với các nước kém phát triển, bởi vì đây là con đường duy nhất để các nước này có thể thu hẹp khoảng cách và tiến tới đuổi kịp các nướcphát triển Tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao và ổn định
là một nhiệm vụ quan trọng của một quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao cho phép giải quyết những nhiệm vụ cơ bản của đất nước như bảo đảm sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, nâng cao mức sống nhân dân, tăng cường an ninh quốc phòng và khẳng định vị thế của đất nước trong quan hệ quốc tế Điều này giải thích tại sao tăng trưởng kinh tế luôn là vấn đề trung tâm trong các chính sách kinh
tế và chiến lược phát triển của mọi quốc gia
Cả vấn đề lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong thời gian gần đây, sự bất ổn của kinh tế thế giới sau thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động làm giảm tốc độ tăng
Trang 16trưởng và gia tăng lạm phát ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam Ở nhiều quốc gia để có được mức tăng trưởng cao phải đánh đổi với mức lạm phát cao Liệu Việt Nam có cần đánh đổi như vậy không ? Để trả lời câu hỏi đó, cần nghiên cứu một cách sâu sắc sự tác động qua lại giữa tăng trưởng và lạm phát trong điều hành chính sách tiền tệ, từ đó tìm ra biện phát nhằm đạt được mục tiêu kép đó là kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng , từ đó nền kinh tế Việt Nam hội đủ các điều kiện để phát triển bền vững
Trong nhiều yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, cần tìm ra yếu tố nào có tác động mạnh nhất để có được biện pháp thực thi nhằm giải bài toán kép: kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng Đặc biệt trong bối cảnh nguồn lực quốc gia có hạn thì bài toán của chúng ta đặt ra là kết hợp các nguồn lực đó với trọng số như thế nào để đạt hiệu quả tối ưu Sự tác động qua lại giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát hết sức phức tạp, không phải lúc nào cũng tuân theo quy tắc kinh tế Ở mỗi giai đoạn của nền kinh tế có mức tăng trưởng kinh tế khác nhau, sẽ có mức lạm phát phù hợp riêng Do vậy, vấn đề mối quan hệ giữa tang trưởng kinh tế và lạm phát thật sự hấp dẫn, đặc biệt hơn
cả trong bối cảnh hội nhập kinh tế như hiện nay, thì việc nghiên cứu mối quan hệ ấy thật
sự cần thiết hơn bao giờ hết
Đó cũng là lý do tôi chọn đề tài “Mối quan hệ giữa kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu
2- MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu tổng quát:
Phân tích đánh giá thực trạng và các yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa kiểm soát lạm phát và TTKT trong điều hành CSTT ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2018; từ đó đề xuất giải pháp điều hành chính sách tiền tệ tác động vào mối quan hệ này nhằm thực hiện để đạt được mục tiêu kép: vừa kiểm soát lạm phát, vừa tăng trưởng kinh
tế Để thực hiện mục tiêu trên, cần thực hiện các mục tiêu cụ thể sau
Trang 173- CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Để làm thực hiện các mục tiêu trên, nghiên cứu sẽ trả lời các câu hỏi sau:
1 Mối quan hệ kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam là gì?
2 Những yếu tố nào tác động đến mối quan hệ kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam?
3 Giải pháp nào tác động vào mối quan hệ kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam?
4- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nhằm đạt được mục tiêu đề ra đối với đề tài nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài: phương pháp định tính là chủ yếu có kết hợp với phương pháp định lượng Cụ thể như sau:
Phương pháp nghiên cứu định tính:
Với phương pháp này sử dụng bằng cách thu thập các nguồn dữ liệu thứ cấp như: khảo sát, sách, báo, tạo chí, luận văn luận án, luật, báo cáo tổng kết của NHNN, các bộ ngành có liên quan, Tổng cục Thống kê, …từ đó tổng hợp, phân tích, đánh giá so sánh
Trang 18Phương pháp nghiên cứu định lượng:
Nghiên cứu định lượng thông qua việc gửi bảng khảo sát tới các chuyên gia am hiểu
về linh vực tài chính, tiền tệ và các cơ quan làm chính sách Thu thập và xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS Với phương pháp này để đánh giá độ tin cậy và mức độ phù hợp của các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam
5- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Tác giả nghiên cứu vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: số liệu thứ cấp của tổng cục thống kê, NHNN về điều hành CSTT, lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2004-2018
6- CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
6.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Có nhiều công trình nghiên cứu: luận án, luận văn, bài báo, bài tham luận hội thảo viết về CSTT, lạm phát, tăng trưởng kinh tế cũng như mối quan hệ giữa chúng Những luận án tập trung phân tích về mối liên hệ giữa CSTT và các chính sách kinh tế vĩ mô, kinh nghiệm sau khủng hoảng và giải pháp hoàn thiện CSTT có thể kể đến :
Luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Thị Kim Thanh “Hoàn thiện cơ chế truyền tải CSTT của NHNN Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” năm 2008 của học viện Ngân Hàng Hà Nội Luận án này phân tích đánh giá về hệ thống mục tiêu , các công
cụ chính sách tiền tệ và cơ chế truyền tải tác động của CSTT đến nền kinh tế Việt Nam, qua đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện cơ chế truyền tải CSTT trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Luận án tiến sĩ của NCS Khuất Duy Tuấn “Điều hành CSTT nhằm kiểm soát lạm phát trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế ở Việt Nam” năm 2012 của trường Đại học
Trang 19Kinh tế quốc dân Hà Nội Nghiên cứu điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát trong bối cảnh một nền kinh tế chuyển đổi, luận án đã chỉ ra ba đặc điểm bổ sung trong việc điều hành chính sách tiền tệ đối với một nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam, liên quan đến (i) năng lực và vị trí của ngân hàng Trung Ương; (ii) Các công cụ của chính sách tiền tệ (iii) Hệ thống các tổ chức tín dụng nơi chuyển tải chính sách tiền tệ Luận
án đã phân tích và đưa ra phương pháp tiếp cận lấy lạm phát làm mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế tìm ra ngưỡng lạm phát hợp lý với điều kiện nền kinh tế Việt Nam và các nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi tương tự như Việt Nam
Luận án tiến sĩ của NCS Phạm Thái Hà “Giải pháp kiểm soát lạm phát ở Việt Nam” năm 2012 của học viện Ngân Hàng Hà Nội Luận án trình bày những lý luận cơ bản về lạm phát và kiểm soát lạm phát Phân tích thực trạng và giải pháp kiểm soát lạm phát ở Việt Nam
Luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Thị Phương Nhung “ Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thị trường chứng khoán tại Việt Nam” năm 2012 của Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM Luận án đã nghiên cứu: Thứ nhất, lượng hoá mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của thị trường chứng khoán trong nền kinh tế thông qua hệ thống những biến được chọn trong mô hình vectơ hiệu chỉnh sai số VECM và kiểm định nhân quả Granger Thứ hai, phân tích và đánh giá mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giữa tăng trưởng kinh tế và thị trường chứng khoán ở Việt Nam Đánh giá được thực trạng của tăng trưởng kinh tế và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam trong giai đoạn 2000- 2013 Thứ ba, đề xuất hệ thống các giải pháp thúc đẩy sự phát triển thị trường chứng khoán gắn kết với tăng trưởng kinh tế trong tiến trình phát triển kinh tế- xã hội ở Việt Nam đến năm 2020
Luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Thị Vân Anh “ Nghiên cứu tác động của CSTT đến kinh tế vĩ mô Việt Nam” năm 2018 của trường Đại học Thương Mại Luận án thông qua khảo sát và phân tích thực trạng CSTT Việt Nam giai đoạn 2005-2017, đã chỉ ra được (i) Những khó khăn trong điều hành CSTT trong giai đoạn 2005- 2011, đặc biệt sau hậu
Trang 20khủng hoảng tài chính 2008; (ii) Những thành công trong điều hành CSTT khi CSTT hướng đến mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô giai đoạn 2012-217; (iii) Đồng thời, luận án cũng chỉ
ra những vấn đề cần tiếp tục giải quyết trong điều hành CSTT giai đoạn tới Kết quả nghiên cứu tác động của CSTT đến kinh tế vĩ mô bằng cả nghiên cứu định tính và định lượng đã chỉ ra: (i) CPI phản ứng tương đối giống như chúng ta kỳ vọng sau cú sốc về CSTT bao gồm cung tiền, lãi suất và tỷ giá Ở Việt Nam lạm phát trong quá khứ đóng vai trò quan trọng trong việc xác định lạm phát hiện tại Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy vai trò của CSTT với tư cách quan trọng để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam; (ii) Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có những tác động nhất dịnh từ CSTT đến sản lượng; lãi suất trong nền kinh
tế ở mức thấp sẽ hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế có thể tiếp cận với dòng vốn rẻ, hỗ trợ ổn định kinh doanh tăng mức sản lượng Cần kiểm soát quy mô tín dụng phù hợp với chỉ tiêu định hướng, tiếp tục phương châm mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn, nâng cao chất lượng, hiệu quả, đảm bảo an toàn hệ thống và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hợp lý; (iii) Kết quả cho thấy giá tăng chậm không có nghĩa là tổng cầu tăng chậm, hay nền kinh tế trì trệ, hay kiểm soát lạm phát, duy trì nền kinh tế vĩ mô sẽ góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, đảm bảo phát triển bền vững
Các nghiên cứu định lượng thường sử dụng các mô hình họ VAR để đánh giá về hiệu lực tác động của CSTT qua các kênh:
Bài báo của ThS Hà Thị Hương Lan : “Tăng trưởng và lạm phát ở Việt Nam” Ngày 18/7/2012 đăng trên website của trường bồi dưỡng cán bộ tài chính mục nghiên cứu trao đổi đã sử dụng Phương pháp hồi quy đồng liên kết, Mô hình sai số hiệu chỉnh (ECM) và Phương pháp phân tích phương sai (Mô hình VAR) phân tích chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và tổng thu nhập quốc nội (GDP) (số liệu do Tổng cục Thống kê Việt Nam công bố) để đưa
ra được kết luận : “… mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát ở Việt Nam (trong dài hạn
và ngắn hạn) về cơ bản thống nhất với lý thuyết và kết quả kiểm nghiệm trên thế giới của Tobin (1965), Mallik và Chowdhury (2001), Frria và Carneiro (2001) đã công bố Có thể khẳng định: mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát của nền kinh tế Việt Nam tuân theo quy luật chung”.Bài báo của Nguyễn Thị Thúy Vinh “ Nghiên cứu vai trò của các kênh
Trang 21truyền dẫn CSTT tới tăng trưởng và lạm phát ở Việt Nam tạp chí Kinh tế và Phát triển tháng 4/2015.Le và Pfau (2008) xây dựng mô hình VAR và kết luận kênh lãi suất không
có tác động đáng kể, cung tiền tác động mạnh đến sản lượng Camen (2006) dùng một mô hình Baysian VAR gốc để kiểm định hiệu lực CSTT Bhattacharya và Duma (2012) nghiên cứu CSTT của Việt Nam giai đoạn 2004-2012 bằng mô hình SVAR và cho thấy lãi suất chỉ tác động đến lạm phát trong thời gian ngắn; Nguyễn Thị Liên Hoa và Đặng Trần Dũng (2013) cũng sử dụng phương pháp SVAR và đi đến kết luận là tỷ giá và lãi suất tác động yếu; M2 tác động mạnh với độ trễ 6 tháng đến lạm phát Bùi Quốc Dũng (2017) sử dụng
mô hình VAR cho thấy, LSCS có tác dụng tốt trong việc kiềm chế lạm phát cho giai đoạn
kể từ năm 2011 trở lại đây Phạm Chí Quang (2019) nghiên cứu về cơ chế truyền tải CSTT giai đoạn 2006-2016 bằng mô hình VARs và các dạng biến thể VEC, mô hình hồi qui Engel-Granger
6.2 Hạn chế và khoảng trống nghiên cứu
Qua rà soát cho thấy các nghiên cứu đi trước vẫn còn một số giới hạn nhất định, cụ thể: (i) Chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về CSTT, lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn từ 2004-2018; (ii) Phần lớn các nghiên cứu đi sâu đánh giá mối quan hệ về lạm phát và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam mà chưa đánh giá những nhân tố tác động đến mối quan hệ giữa chúng, để có thể tìm ra căn nguyên, giải quyết triệt để mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế; (iii) Phần lớn các nghiên cứu đi sâu đánh giá mối quan hệ
về lạm phát và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam mà chưa gắn với điều hành CSTT
Từ những hạn chế trên cho thấy, khoảng trống nghiên cứu cần được quan tâm, đó
là cần có một nghiên cứu riêng về lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong điều hành chính của CSTT trong giai đoạn từ 2004-2018; đồng thời, nghiên cứu về kinh nghiệm các nước và bài học liên quan đến giải quyết mối quan
hệ này Từ đó, đi sâu phân tích để xác định các nhân tố tác động đến mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế nhằm đạt được tối đa mục tiêu của CSTT: vừa kiểm soát lạm
Trang 22phát, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mà giải pháp đi từ căn nguyên là những nhân tố tác động đến mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
7- ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN
Thứ nhất, luận án hệ thống hóa lý thuyết về lạm phát, tăng trưởng kinh tế và chính sách tiền tệ Đặc biệt sử dụng mô hình để chỉ ra mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Thứ hai, đánh giá được tổng thể mối quan hệ giữa kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong điều hành chính sách tiền tệ từ lý thuyết cho tới thực tiễn tại Việt Nam
Thứ ba, tìm ra những nhân tố tác động đến mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Thứ tư, luận án nghiên cứu được cách thức để chính phủ điều hành CSTT có thể đạt được mục tiêu kép kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên nghiên cứu
có luận cứ khoa học
8- KẾT CẤU LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án kết cấu gồm 4 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách tiền tệ, điều hành chính sách tiền tệ, mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Chương 2: Mô hình, phương pháp nghiên cứu những nhân tố tác động đến mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Chương 3: Thực trạng mối quan hệ giữa kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Chương 4: Giải quyết mối quan hệ giữa kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Trang 23CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ, ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ, MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ 1.1 Cơ sở lý luận về chính sách tiền tệ
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của chính sách tiền tệ
1.1.1.1 Khái niệm
Chính sách tiền tệ (Monetary Policy) là một bộ phận trong tổng thể hệ thống chính sách kinh tế của nhà nước để thực hiện việc quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế-xã hội trong từng giai đoạn nhất định
Chính sách tiền tệ có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa thông thường Theo nghĩa rộng thì chính sách tiền tệ là chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân nhằm tác động đến bốn mục tiêu lớn của kinh tế vĩ mô, trên cơ sở đó đạt mục tiêu cơ bản là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả hàng hóa Theo nghĩa thông thường là chính sách quan tâm đến khối lượng tiền cung ứng tăng thêm trong thời kì tới (thường là một năm) phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế dự kiến
và chỉ số lạm phát nếu có, tất nhiên cũng nhằm ổn định tiền tệ và ổn định giá cả hàng hóa
Chính sách tiền tệ quốc gia là tổng thể các biện pháp của Nhà Nước pháp quyền nhằm cung ứng đầy đủ các phương tiện thanh toán cho nền kinh tế phát triển, trên cơ sở đó
ổn định giá trị đồng tiền quốc gia
Chính sách tiền tệ của NHTW là tổng thể tất cả các biện pháp mà NHTW sử dụng nhằm điều tiết khối lượng tiền tệ, tín dụng, ổn định tiền tệ, góp phần đạt được các mục tiêu của chính sách kinh tế
Dù quan niệm theo nghĩa nào, chính sách tiền tệ đều nhằm mục đích ổn định giá trị tiền tệ, góp phần thực hiện các mục tiêu của các chính sách kinh tế, chính sách tiền tệ là một bộ phận các chính sách kinh tế Nhà Nước để thực hiện vai trò quản lí vĩ mô với nền kinh tế
Nói tóm lại chính sách tiền tệ là tổng hòa những phương thức mà ngân hàng trung ương thông qua các hoạt động của mình tác động đến khối lượng tiền tệ trong lưu thông, nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước trong một thời kỳ nhất định
Trang 24Nó là bộ phận quan trọng trong hệ thống các chính sách kinh tế - tài chính vĩ mô của chính phủ
Sơ đồ 1.1: Định nghĩa chính sách tiền tệ
Điều 2, luật ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định: “Chính sách tiền tệ quốc gia
là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính của Nhà Nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng,
an ninh và nâng cao đời sống của nhân dân”
tệ đã thâm nhập và trở thành một yếu tố hết sức quan trong trong mọi nền kinh tế Chính
vì vậy, chính sách tiền tệ phải là một bộ phận trung tâm của mọi chính sách kinh tế - tài chính quốc gia Luật NHNN Việt Nam khẳng định: “chính sách tiền tệ là một bộ phận của chính sách kinh tế – tài chính của Nhà Nước Với chính sách tài chính quốc gia, bên cạnh chính sách tài chính tiền tệ, còn có các chính sách khác như chính sách ngân sách, chính sách tài chính doanh nghiệp, chính sách kinh tế đối ngoại, chính sách thu nhập
Chính sách tiền tệ là công cụ kinh tế vĩ mô: Để đạt được các mục tiêu kinh tế đã hoạch định, chính phủ cần sử dụng một hệ thống công cụ Trong chính sách kinh tế có 4 chính sách thông dụng được sử dụng là: chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sách kinh tế đối ngoại và chính sách thu nhập
Chính sách tiền tệ dùng để thay đổi lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế, từ đó tác động đến lãi suất, tác động đến đầu tư và ảnh hưởng đến sản xuất, lưu thông hàng hóa, và
do vậy chính sách tiền tệ là một chính sách thuộc tầm vĩ mô
Chính sách
Tiền tệ
Mục đích kinh tế Chính sách tiền
Trang 25NHTW là cơ quan đề ra và vận hành chính sách tiền tệ: Do chính sách tiền tệ luôn hướng vào việc thay đổi lượng tiền cung ứng nên chủ thể nào thực hiện chức năng phát hành tiền và điều hòa lưu thông tiền tệ thì chính chủ thể đó phải trực tiếp vạch ra và thực thi chính sách tiền tệ Chủ thể đó không ai khác là NHTW Đối với Việt Nam, mặc dù thẩm quyền quyết định dự án chính sách tiền tệ là Quốc Hội, nhưng NHNN có trách nhiệm xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia để chính phủ xem xét trình Quốc Hội và là cơ quan trực tiếp tổ chức thực hiện dự án chính sách tiền tệ sau khi được phê duyệt
Mục tiêu tổng quát của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng tiền và góp phần thực hiện một số mục tiêu kinh tế vĩ mô khác: Bất kì một nền kinh tế nào, vai trò ổn định của tiền tệ và nâng cao sức mua của đồng tiền trong nước cũng luôn được coi là mục tiêu
có tính chất dài hạn Trên cơ sở thực thi chính sách tiền tệ, nhằm tác động đến lượng tiền cung ứng để từ đó tác động đến hàng loạt các yếu tố khác trong nền kinh tế như lãi suất, lạm phát, đầu tư, việc làm ổn định giá trị đồng tiền là mục tiêu trọng tâm của chính sách tiền tệ Có ổn định được tiền tệ thì mới khuyến khích tiết kiệm, có tiết kiệm mới có đầu tư,
và có đầu tư mới có tăng trưởng kinh tế, giảm thất nghiệp
1.1.2 Mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ
Mục tiêu CSTT được coi là vấn đề quan trọng nhất và khó khăn nhất trong quá trình xây dựng và thực thi CSTT, bởi nó quyết định tính hiệu quả hay không hiệu quả của CSTT
Có thể nói, việc lựa chọn các mục tiêu chính sách tiền tệ phù hợp được quyết định bởi tính cấp thiết của mục tiêu, mức độ đánh đổi giữa các mục tiêu (vì tính đa mục tiêu của CSTT)
và khả năng đạt được các mục tiêu Ngân hàng Trung ương các quốc gia có nhiệm vụ thiết lập và thực thi CSTT thông qua các công cụ Ngân hàng Trung ương căn cứ vào mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản và trạng thái kinh tế của quốc gia từng thời kỳ mà xác định mục tiêu chính của CSTT
CSTT là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô mà trong đó NHTW, thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng (hoặc lãi suất) căn cứ vào nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế, nhằm đạt được các mục tiêu về giá cả, tăng trưởng kinh
tế và công ăn việc làm
Trang 261.1.2.1 Mục tiêu cuối cùng của CSTT
Mục tiêu cuối cùng của CSTT nhiều nước trên thế giới đó là ổn định giá trị tiền tệ, trên cơ sở đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm cao
Ngoài các mục tiêu vĩ mô trên, một số nước còn tập trung giải quyết các mục tiêu
cụ thể, tuỳ thuộc vào đặc điểm phát triển kinh tế đặc thù của họ
Mối quan hệ giữa các mục tiêu:
Lý luận của trường phái kinh tế học vĩ mô tổng hợp:
Biểu đồ 1.1: Đường cong Phillips dốc xuống phía phải
Kinh tế Mỹ thập niên 1960 có hiện tượng tỷ lệ lạm phát khá cao mặc dù tốc độ tăng trưởng GDP cũng cao Để giải thích hiện tượng đó, các nhà kinh tế của trường phái kinh tế học vĩ mô tổng hợp đã sử dụng kết quả nghiên cứu của Phillips và dựng nên đường cong Phillips dốc xuống phía phải trên một đồ thị hai chiều với trục hoành phản ánh tỷ lệ thất nghiệp và trục tung phản ánh tỷ lệ lạm phát Đường cong này là kết hợp giữa tỷ lệ lạm phát
và tỷ lệ thất nghiệp Dọc theo đường cong Phillips, khi tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống thì tỷ
lệ lạm phát sẽ tăng lên; và ngược lại
Từ đó, trường phái kinh tế học vĩ mô tổng hợp lý luận rằng để giảm tỷ lệ thất nghiệp, Chính phủ đã sử dụng chính sách quản lý tổng cầu, song do tỷ lệ thất nghiệp có quan hệ ngược chiều bền vững với tỷ lệ lạm phát, nên tăng trưởng kinh tế cao đương nhiên gây ra lạm phát Lạm phát là cái giá phải trả để giảm tỷ lệ thất nghiệp
Trang 27Lý luận của chủ nghĩa tiền tệ:
Biểu đồ 1.2: Đường cong Philips ngắn hạn và Đường cong Phillips dài hạn
Chủ nghĩa tiền tệ đã bác bỏ lý luận nói trên của trường phái kinh tế học vĩ mô tổng hợp Họ cho rằng đường cong Phillips như trên chỉ là đường cong Phillips ngắn hạn Friedman đã đưa ra khái niệm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, theo đó khi thị trường lao động ở trạng thái cân bằng vẫn có thất nghiệp Đây là dạng thất nghiệp tự nguyện Vì thế,
ở trạng thái cân bằng, tỷ lệ thất nghiệp vẫn là một số dương Và khi nền kinh tế cân bằng, thì lạm phát không xảy ra Đường cong Phillips ngắn hạn dốc xuống phía phải và cắt trục hoành ở giá trị của tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Khi chính phủ áp dụng các biện pháp nhằm đưa tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới mức này, thì giá cả sẽ tăng lên, và có sự dịch chuyển lên phía trái dọc theo đường cong Phillips ngắn hạn
Sau khi lạm phát tăng cao, các cá nhân sẽ dự tính lạm phát tiếp tục tăng lên hơn nữa Trong khi tiền công danh nghĩa không đổi, lạm phát tăng nghĩa là tiền công thực tế trả cho
họ giảm đi Họ sẽ giảm cung cấp lao động, thậm chí tự nguyện thất nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp lại tăng lên đến mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, trong khi tỷ lệ lạm phát vẫn giữ ở mức cao
Nếu nhà nước vẫn cố gắng giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới mức tự nhiên, cơ chế như trên lại xảy ra Hậu quả là, trong dài hạn, tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức tự nhiên mà tỷ
lệ lạm phát lại bị nâng lên liên tục Chính sách của nhà nước như vậy là chỉ có tác dụng trong ngắn hạn, còn về dài hạn là không thành công
Trang 28Tập hợp các điểm tương ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và các mức tỷ lệ lạm phát liên tục bị đẩy lên cao tạo thành một đường thẳng đứng Đường này được gọi là đường Phillips dài hạn
Về mặt dài hạn, đường cong Philips trở nên thẳng đứng, ngụ ý rằng sẽ không có mâu thuẫn giữa các mục tiêu của CSTT nếu xét về dài hạn Tuy nhiên, hình dạng đường cong Philip ngắn hạn chỉ rõ sự mâu thuẫn giữa lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp
Thứ nhất, việc giảm tỷ lệ lạm phát đồng nghĩa với việc thực hiện một CSTT thắt chặt, lãi suất tăng lên làm giảm các nhân tố cấu thành tổng cầu và do đó đến tổng cầu của nền kinh tế Thất nghiệp, vì thế có xu hướng tăng lên Mặt khác, việc duy trì một tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn thường kéo theo việc thực hiện CSTT mở rộng và dẫn tới sự tăng giá
Thứ hai, mục tiêu công ăn việc làm mâu thuẫn với mục tiêu ổn định giá cả còn thể hiện thông qua sự phản ứng của NHTW đối với các cú sốc cung nhằm đảm bảo mức cầu tiền thực tế, kết quả là giá cả tăng lên
Thứ ba, mâu thuẫn này còn được thể hiện thông qua định hướng điều chỉnh tỷ giá; Bằng việc hạ giá đồng bản tệ, các ngành công nghiệp xuất khẩu có khả năng mở rộng Tỷ
lệ thất nghiệp vì thế giảm thấp kèm theo sự tăng lên của mức giá chung Như vậy, việc duy trì một mức tỷ giá ổn định và thích hợp sẽ làm giảm tỷ lệ công ăn việc làm, trong khi một mức tỷ giá cao hơn sẽ góp phần giảm tỷ lệ lạm phát
Thất nghiệp và tăng trưởng không có sự mâu thuẫn cả trong ngắn và dài hạn Công
ăn việc làm cao sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển và ngược lại Tuy nhiên mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và ổn định giá cả lại tương đối phức tạp; chúng mâu thuẫn nhau trong ngắn hạn nhưng lại bổ sung nhau trong dài hạn
Như vậy trong ngắn hạn, NHTW không thể đạt được tất cả các mục tiêu trên Phần lớn NHTW các nước coi sự ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu và dài hạn của CSTT, nhưng trong ngắn hạn đôi khi họ phải tạm thời từ bỏ mục tiêu chủ yếu để khắc phục tình trạng thất nghiệp cao đột ngột hoặc các ảnh hưởng của các cú shock cung đối với sản lượng NHTW được coi là có quyền lực làm việc này vì nó nắm trong tay các công cụ điều chỉnh
Trang 29lượng tiền cung ứng Có thể nói NHTW theo đuổi một mục tiêu về dài hạn và đa mục tiêu trong ngắn hạn
1.1.2.2 Mục tiêu trung gian
Bằng việc sử dụng các công cụ CSTT, NHTW không thể tác động trực tiếp và ngay lập tức đến các mục tiêu cuối cùng của nền kinh tế như: giá cả, sản lượng và công ăn việc làm Ảnh hưởng của CSTT chỉ xuất hiện sau một khoảng thời gian nhất định từ 6 tháng thậm chí đến 2 năm Sẽ là quá muộn và không hiệu quả nếu NHTW đợi các dấu hiệu về giá cả, tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp mới điều chỉnh các công cụ CSTT Để khắc phục hạn chế này, NHTW của tất cả các nước thường xác định các chỉ tiêu cần đạt được trước khi đạt được mục tiêu cuối cùng Các chỉ tiêu này trở thành mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động của CSTT
Mục tiêu trung gian bao gồm các chỉ tiêu được NHTW lựa chọn để đạt được mục đích cuối cùng của CSTT Các chỉ tiêu thường được sử dụng làm mục tiêu trung gian là tổng khối lượng tiền cung ứng (M1, M2, hoặc M3) hoặc mức lãi suất thị trường (lãi suất ngắn và dài hạn)
Ngoài hai mục tiêu trên còn có một số các chỉ tiêu khác là ứng cử viên của vai trò mục tiêu trung gian như tổng khối lượng tín dụng, tỷ giá Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của các chỉ tiêu này là mối quan hệ của chúng với các mục tiêu cuối cùng rất phức tạp và không
rõ ràng Vì thế NHTW các nước ít khi sử dụng nó làm một mục tiêu độc lập, mà thường có thể được sử dụng cùng với các mục tiêu khác như tổng lượng tiền cung ứng hoặc lãi suất thị trường
Mục tiêu cuối cùng của CSTT hầu như thống nhất ở các nước đó là ổn định giá trị tiền tệ, trên cơ sở đó góp phần tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm
Ngoài các mục tiêu vĩ mô trên, một số nước còn tập trung vào các mục tiêu cụ thể, tuỳ thuộc vào đặc điểm phát triển kinh tế đặc thù của họ
Mục tiêu trung gian bao gồm các chỉ tiêu được NHTW lựa chọn để đạt được mục đích cuối cùng của CSTT Các chỉ tiêu thường được sử dụng làm mục tiêu trung gian là
Trang 30tổng khối lượng tiền cung ứng (M1, M2, hoặc M3) hoặc mức lãi suất thị trường (ngắn và dài hạn)
Ngoài hai mục tiêu trên còn có một số các chỉ tiêu khác là ứng cử viên của vai trò mục tiêu trung gian như tổng khối lượng tín dụng, tỷ giá
Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của các chỉ tiêu này là mối quan hệ của chúng với các mục tiêu cuối cùng rất phức tạp và không rõ ràng Vì thế ít khi nó được sử dụng làm một mục tiêu độc lập, mà thường có thể được sử dụng cùng với các mục tiêu khác như tổng lượng tiền cung ứng hoặc lãi suất
1.1.2.3 Mục tiêu hoạt động
Là các chỉ tiêu có phản ứng tức thời với sự điều chỉnh của các công cụ CSTT Tổng kết lại thì chính sách tiền tệ giúp cho nhà nước thực thi một số mục tiêu cơ bản sau: (1) Phát triển kinh tế (2) Tạo việc làm (3) Ổn định thị trường tài chính (4) Ổn định lãi suất đầu
tư (5) Ổn định thị trường ngoại hối (6) Ổn định giá cả (mục tiêu cơ bản nhất)
Sơ đồ 1.2: Mô hình mục tiêu của chính sách tiền tệ
1.1.3 Các công cụ điều hành chính sách tiền tệ
Giá cả năm trước = năm sau
Giá trị hànghóa
Sản lượng (GDP) Phát triển kinh
Trang 31Khái niệm: Nghiệp vụ mở là nghiệp vụ mà trong đó NHNN “thực hiện nghiệp vụ thị trường mở thông qua việc mua, bán ngắn hạn tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu NHNN và các loại giấy tờ có giá khác trên thị trường tiền tệ để thực hiện CSTTQG”
Cơ chế vận hành: Các hoạt động của NHNN trên thị trường sẽ gây ra những tác động gián tiếp tới lượng tiền cung ứng và lãi suất theo cơ chế sau:
Thứ nhất, khi NHNN mua (hoặc bán) các chứng khoán, nó sẽ tăng (hoặc giảm) ngay lập tức dự trữ của các ngân hàng trung gian (dù người bán là ngân hàng trung gian hay khách hàng của ngân hàng này) Khả năng tạo tiền gửi thông qua cung ứng tín dụng của hệ thống ngân hàng vì thế mà bị ảnh hưởng, dẫn đến làm tăng (hoặc giảm) lượng tiền cung ứng
Thứ hai, khi vốn khả dụng của từng ngân hàng tăng (hoặc giảm) do tác động của nghiệp vụ thị trường mở, mức cung vốn trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng tăng lên (hoặc giảm xuống) Trong điều kiện các yếu tố liên quan không thay đổi, lãi suất thị trường liên ngân hàng sẽ giảm xuống (hoặc tăng lên) Thông qua các hoạt động arbitrage về lãi suất, ảnh hưởng này được truyền đến các mức lãi suất khác trong hệ thống ngân hàng
Thứ ba, nghiệp vụ thị trường mở còn ảnh hưởng đến cung cầu và do đó đến giá cả các chứng khoán mà NHNN sử dụng trong nghiệp vụ này Những thay đổi về giá cả này
sẽ tạo ra những thay đổi về mức sinh lời của các chứng khoán (lãi suất của chúng sẽ bị tăng lên hoặc giảm xuống), từ đó, ảnh hưởng tới lãi suất thị trường
Ưu nhược điểm của công cụ
- Nghiệp vụ thị trường mở được tiến hành theo sáng kiến của NHNN NHNN
có thể kiểm soát hoàn toàn khối lượng của nghiệp vụ thì trường mở mà không chịu ảnh hưởng của bất kì nhân tố nào khác
- Nghiệp vụ thị trường mở rất linh hoạt và chính xác Điều này thể hiện ở chỗ
dù NHNN muốn thay đổi một mức rất nhỏ hay rất lớn của lượng cung tiền, nghiệp vụ thị trường mở đều có thể đáp ứng được Hơn nữa, nghiệp vụ thị trường mở có thể dễ dàng đảo ngược lại khi có một sai lầm xảy ra trong lúc tiến hành nghiệp vụ
Trang 32- Nghiệp vụ thị trường mở được hoàn thành nhanh chóng mà không vướng phải những chậm trễ về hành chính và do đó có thể gây tác động tức thì đến lượng cung tiền tệ
- Nghiệp vụ thị trường mở tác động thông qua cơ chế thị trường nên các đối tượng chịu sự tác động của thường khó chống đỡ hoặc đảo ngược chiều hướng điều chỉnh của NHNN Mặc dù nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, những nhà kinh doanh chứng khoán không bị bắt buộc mua hay bạn theo mức giá do NHNN
ấn định nhưng NHNN có thể thực hiện được yêu cầu của mình bằng việc điều chỉnh giá sao cho nó trở nên hấp dẫn đối tác
Nhờ những ưu điểm trên mà nghiệp vụ thị trường mở được coi là công cụ hữu hiệu nhất trong các công cụ của CSTTQG Tuy nhiên, việc thực hiện công cụ này đòi hỏi sự phát triển của thị trường tài chính chính thứ cấp nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng Ngoài ra, NHNN phải có khả năng dự đoán và kiểm soát sự biến động của lượng vốn khả dụng trong hệ thống ngân hàng Tại nước ta, nghiệp vụ này đã được NHNN chính thức đưa vào sử dụng từ tháng 7/2000
Dự trữ bắt buộc
Khái niệm: Dự trữ bắt buộc là số tiền mà TCTD phải gửi tại NHNN để thực hiện CSTTQG NHNN quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình TCTD và từng loại tiền gửi với mức từ 0% đến 20% tổng số dư tiền gửi tại mỗi TCTD trong từng thời kỳ
Cơ chế vận hành: Việc thay đổi tỉ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng theo ba cách:
Thứ nhất, khi NHNN quyết định tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc, bộ phận dự trữ dư thừa trước đây của các TCTD chuyển thành dự trữ bắt buộc, làm giảm khả năng cho vay của các TCTD
Thứ hai, tỷ lệ dự trả bắt buộc là một thành phần trong mẫu số của hệ số mở rộng tiền gửi Vì thế sự tăng lên của tỉ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm giảm hệ số mở rộng tiền gửi và khả năng mở rộng tiền gửi của TCTD
Thứ ba, tỉ lệ dự trữ bắt buộc tăng lên làm giảm mức cung vốn của các TCTD trên thị trường Trong điều kiện nhu cầu vốn khả dụng không thay đổi, sự giảm sút này làm
Trang 33tăng lãi suất TCTD, từ đó dẫn đến tăng các mức lãi suất dài hạn và giảm bớt khối lượng tiền cung
Ưu nhược điểm của công cụ:
- Lợi thế chủ yếu của công cụ dự trữ bắt buộc trong việc kiểm soát lượng tiền cung ứng là sự thay đổi tỉ lệ sự trữ bắt buộc sẽ ảnh hưởng một cách bình đẳng đến tất cả TCTD
- Ngoài ra đây là công cụ có quyền lực ảnh hưởng rất mạnh đến lượng tiền cung ứng Chỉ cần một thay đổi nhỏ tỉ lệ dự trữ bắt buộc cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi đáng
kể khối lượng tiền cung ứng
- Tuy nhiên, đây cũng chính là điều làm cho công cụ dự trữ bắt buộc thiếu linh hoạt NHNN rất khó có thể thực hiện được những thay đổi nhỏ trong cung ứng tiền tệ bằng cách thay đổi dự trữ bắt buộc
- Một bất lợi khác là việc tăng dự trữ bắt buộc có thể gây nên vấn đề mất “khả năng thanh toán ngay đối với những TCTD có dự trữ bắt buộc thấp
- Cuối cùng, việc thay đổi liên tục dự trữ bắt buộc sẽ gây ra tình trạng không
ổn định cho hoạt động của TCTD và làm cho việc quản lý khả năng thanh khoản của các TCTD khó khăn và tốn kém hơn
Công cụ tỉ giá hối đoái
Khái niệm: Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ giữa giá trị của đồng Việt Nam với giá trị của đồng tiền nước ngoài Trong điều kiện mở cửa kinh tế, các hoạt động kinh tế đối ngoại với những luồng hàng hóa và vốn vào ra một quốc gia có ảnh hưởng to lớn tới các biểu số kinh
tế vĩ mô của quốc gia Để thực hiện CSTTQG, NHNN căn cứ vào cung cầu ngoại tệ trên thị trường và nhu cầu điều tiết của nhà nước xác định và công bố tỉ giá hối đoái đồng Việt Nam
Cơ chế vận hành: Sự can thiệp nhằm tác động tới tỉ giá hối đoái được thực hiện thông qua các hoạt động mua vào hoặc bán ra ngoại tệ của NHNN vào sự hình thành tỉ giá hối đoái trên thị trường phụ thuộc vào chế độ tỉ giá hối đoái mà quốc gia áp dụng Đó là:
Trang 34Chế độ tỉ giá cố định: là chế độ tỉ giá hối đoái trong đó NHNN buộc phải can thiệp trên thị trường ngoại hối để duy trì tỉ giá biến động xung quanh một mức tỉ giá cố định trong một biên độ hẹp đã được định trước Như vậy, trong chế độ tỉ giá có định, NHNN buộc phải mua vào hay bán ra đồng nội tệ nhằm giới hạn sự biến động của tỉ giá trong biên
độ đã định
Chế độ tỉ giá thả nổi hoàn toàn: là chế độ tỉ giá hối đoái, trong đó tỉ giá được xác định hoàn toàn tự do theo quy luật cung cầu trên thị trường ngoại hối mà không có bất cứ
sự can thiệp nào của NHNN
Chế độ tỉ giá thả nổi có điều kiện: là chế độ tỉ giá hối đoái trong đó NHNN thực hiện nghiệp vụ mua bán ngoại tệ để điều tiết thị trường ngoại hối, song can thiệp của NHNN không nhằm mục đích để cố định tỉ giá như đối với chế độ tỉ giá cố định
Ưu nhược điểm của công cụ:
Chế độ tỉ giá cố định làm giảm bớt rủi ro của việc chuyển đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác do tỉ giá được cố định nhưng lại gây ra vấn đề phụ thuộc của CSTTQG vào cáo biến động của bên ngoài và cán cân thanh toán không thể tự động cân bằng Hơn nữa,
để tiến hành can thiệp trên thị trường ngoại hối đòi hỏi NHNN phải có sẵn nguồn dự trữ ngoại hối dồi dào
Chế độ tỉ giá thả nổi được đánh giá là giúp cho CSTTQG được độc lập, ít chịu ảnh hưởng của những biến động từ bên ngoài và cán cân thanh toán quốc tế được tự động điều chỉnh để cân bằng Tuy nhiên, chế độ này lại gây ta sự biến động thường xuyên của tỉ giá hối đoái, khiến cho các hoạt động chuyển đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác luôn hàm chứa rủi ro
Chế độ tỉ giá thả nổi có điều tiết đã dung hòa cả hai chế độ tỉ giá cố định và chế độ
tỉ giá thả nổi, khắc phục được những hạn chế của hai chế động tỉ giá nêu trên
Hạn mức tín dụng
Khái niệm: Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHNN buộc các TCTD phải tuân thủ khi cấp tín dụng cho nền kinh tế Mức dư nợ được quy định cho từng ngân hàng căn cứ vào đặc điểm kinh doanh của từng ngân hàng (cơ cấu khách hàng, mức rủi ro), định
Trang 35hướng cơ cấu kinh tế tổng thể, nhu cầu tài trợ các đối tượng chính sách và nó phải nằm trong giới hạn của tổng dư nợ tín dụng dự tính của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời nhất định
Cơ chế vận hành: Công cụ này được áp dụng phổ biến ở các nước trong thời kì hoạt động tài chính được điều tiết chặt chẽ như trong trường hợp lạm phát cao, hạn mức tín dụng được sử dụng nhằm khống chế trực tiếp và ngay lập tức lượng tín dụng cung ứng
Ưu nhược điểm của công cụ:
Trong trường hợp khi các công cụ gián tiếp không phát huy hiệu quả do thị trường tiền tệ chưa phát triển hoặc do mức cầu tiền tệ không nhạy cảm với sự biến động của lãi suất hay NHNN không có khả năng không chế và kiểm soát được sự biến động của lượng vốn khả dụng của TCTD thì công cụ này được xem là cứu cánh của NHNN trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng
Tuy nhiên, hiệu quả điều tiết của công cụ này không cao bởi nó thiếu tính linh hoạt
và đôi khi đi ngược lại chiều hướng biến động của thị trường tín dụng, do đó đẩy lãi suất lên cao hoặc làm suy giảm khả năng cạnh tranh của các TCTD
Khung lãi suất
Khái niệm: Khung lãi suất biên độ mức lãi suất sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tới mức lãi suất thị trường, bao gồm mức lãi suất trần (mức lãi suất tối đa mà các ngân hàng được phép ấn định khi đi vay hoặc cho vay) và lãi suất sàn (mức lãi suất tối thiểu mà các ngân hàng được phép ấn định khi cho vay hoặc đi vay
Cơ chế vận hành: Công cụ lãi suất được NHNN thực hiện dưới hình thức công bố lãi suất cơ bản làm cơ sở cho các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh hoặc dưới hình thức
áp dụng lãi suất đối với tái cấp vốn
Ưu nhược điểm của công cụ:
Đây là một công cụ cứng nhắc, dễ gây tác động xấu tới hoạt động tiết kiệm và đầu
tư Vì vậy, công cụ này thường chỉ được sử dụng trong điều kiện sự ổn định kinh tế chưa được thiết lập hoặc các yếu tố thị trường chưa phát triển hoàn chỉnh
Công cụ tái chiết khấu
Trang 36Khái niệm: Chính sách tái chiết khấu bao gồm các quy định về việc cho vay tổ chức tín dụng (TCTD) NHNN thường cho các TCTD vay dưới hình thức chiết khấu lại các giấy
tờ có giá ngắn hạn (chủ yếu là tín phiếu kho bạc và thương phiếu) do các TCTD đưa đến, bởi vậy, chính sách cho vay của NHNN đối với TCTD được gọi là chính sách tái chiết khấu
Cơ chế vận hành: NHNN thông qua việc thay đổi các quy định về hạn mức tái chiết khấu, lãi suất chiết khấu và các điều kiện tái chiết khấu sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động đi vay chiết khấu từ NHNN của các TCTD trên hai phương diện: khối lượng và giá
Khối lượng vốn tín dụng được bổ sung từ NHNN có thể bị giới hạn hoặc nới rộng căn cứ vào hạn mức tái chiết khấu và các điều kiện tái chiết khấu, từ đó ảnh hưởng đến khả năng tạo tiền của TCTD, là cho lượng tiền cung ứng bị thay đổi Mặt khác, khi lượng vốn khả dụng thay đổi, nó làm cho quan hệ cung cầu vốn và lãi suất trên thị trường thay đổi
Sự thay đổi mức lãi suất tái chiết khấu tác động trước hết vào chi phí đầu vào của các TCTD, vì thế các TCTD dần dân tăng (hoặc giảm) lãi suất cho vay, từ đó làm giảm (hoặc tăng) nhu cầu tín dụng Bên cạnh đó, khi lãi suất chiết khấu tăng lên (hoặc giảm), các TCTD không thể vay NHNN một cách dễ dàng Điều này buộc các TCTD phải giảm bớt khả năng cung ứng tín dụng để hồi phục dự trữ
Ưu nhược điểm của công cụ:
- Ưu điểm của công cụ này là các khoản cho vay của NHNN đều được đảm bảo bằng các giấy tờ có giá Do đó các khoản cho vay sẽ chắc chắn được thu hồi khi đến hạn
- Tuy nhiên, tác dụng của chính sách chỉ có thể phát huy khi các TCTD có nhu cầu vay từ NHNN Với sự phát triển của thị trường tài chính, các TCTD có thể tìm kiếm được các nguồn vay khác ngoài NHNN làm cho sự phụ thuộc của chúng vào NHNN giảm đi, do
đó làm giảm mức độ phát huy hiệu quả của công cụ này
- Thêm vào đó NHNN khó kiểm soát được hoàn toàn những tác động của công cụ này bởi NHNN chỉ có thể thay đổi mức lãi suất chiết khấu và các điều kiện chiết khấu mà không thể bắt các TCTD vay từ mình
- Cuối cùng, công cụ này cũng không dễ đảo ngược như nghiệp vụ thị trường mở
Trang 371.2 Cơ sở lý luận về lạm phát và tăng trưởng kinh tế
1.2.1 Cơ sở lý luận về lạm phát
1.2.1.1 Khái niệm và đo lường
Lạm phát (Inflation) là một hiện tượng khó định nghĩa Khi nghiên cứu về lạm phát, trong lịch sử đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát, mỗi quan điểm đều có sự chắc chắn về luận điểm và các lý luận của mình
Theo nghĩa nguyên gốc “lạm phát” là việc lạm dụng phát hành tiền tệ (in nhiều giấy bạc hơn mức cần thiết) làm cho khối lượng tiền tệ trong lưu thông thừa tương đối, dẫn đến giá cả một đơn vị hàng hoá tăng lên tương ứng và do đó, làm suy giảm sức mua của đồng tiền Đây có thể coi là khái niệm nguyên bản về lạm phát Tuy nhiên, việc xác định khối lượng “đúng” của tiền tệ cần thiết cho lưu thông là bất khả thi vì tổng lượng hàng hoá, dịch
vụ luân chuyển luôn biến động, vòng quay của đồng tiền không ổn định, mục đích sử dụng tiền cũng luôn luôn thay đổi Do đó, người ta chỉ có thể nhận diện được lạm phát khi có dấu hiệu giá cả hàng hoá dịch vụ gia tăng một cách có hệ thống mà song song với nó là sự suy giảm sức mua của đồng tiền Cũng vì lý do này mà nhiều người (kể cả giới học thuật)
đã đồng nhất tỷ lệ lạm phát với tỷ lệ tăng giá Có thể lấy một ví dụ điển hình: Nhà kinh tế học Samuelson cho rằng lạm phát có thể xuất phát từ các nguyên nhân cầu kéo (do các cơn sốc về nhu cầu hàng hoá tiêu dùng) hoặc phí phí đẩy (do các cơn sốc về phía cung) hoặc xuất phát từ những nguyên nhân không ổn định về tâm lý (kỳ vọng) về tình trạng lạm phát
có thể xảy ra trong tương lai làm cho giá cả gia tăng Tuy nhiên, theo quan điểm của trường phái tiền tệ (Friedman) và Keynes thì lạm phát chỉ xuất hiện do nguyên nhân tiền tệ (chính sách tiền tệ nới lỏng) vì các nguyên nhân “cầu kéo” hoặc “chi phí đẩy” đối với hàng hoá không thể xảy ra lâu dài, thường xuyên mà chỉ có tính chất tạm thời Sự khác biệt quan điểm về các nguyên nhân gây ra lạm phát cũng đã phần nào cho thấy sự khác biệt về khái niệm lạm phát của hai trường phái nói trên Trường phái Samuelson cho rằng giá cả hàng hoá gia tăng dù là tạm thời cũng có thể coi là có lạm phát, còn trường phái tiền tệ thì cho rằng chỉ khi mức giá chung tăng lên liên tục trong một quá trình kéo dài có tính quy luật thì mới gọi là lạm phát Lạm phát theo quan điểm của phái tiền tệ là sự gia tăng của mức
Trang 38giá trung bình theo thời gian không tính đến những biến động có tính chất tạm thời vì nguyên nhân gây ra sự tăng giá có tính hệ thống đó là do tiền phát hành vào lưu thông bị thừa tương đối Cũng như nhiều khái niệm kinh tế khác, lạm phát có thể được khái niệm theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo các trường phái kinh tế căn cứ theo lập luận của mỗi trường phái về đặc trưng, nguyên nhân và hậu quả của lạm phát Lạm phát có những đặc trưng sau:
- Hiện tượng gia tăng quá mức của lượng tiền có trong lưu thông dẫn đến đồng tiền mất giá
- Mức giá cả chung tăng lên
Theo tác giả, lạm phát có thể được khái niệm như sau: “Lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế, do đó làm cho giá trị của đồng tiền giảm xuống” Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá thị trường hay sự giảm sức mua của đồng tiền Ngược lại với lạm phát là giảm phát Tốc độ lạm phát được xác định bởi tốc độ thay đổi mứcgiá cả.Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ được người ta gọi là sự ổn định giá cả
Theo khái niệm lạm phát nêu trên, việc đo lường lạm phát đặt ra ba vấn đề cần giải quyết:
(i) Vấn đề chọn chỉ số giá đại diện cho "mặt bằng giá chung";
(ii) Vấn đề đo lường thay đổi tốc độ chuyển động đi lên tại từng thời kỳ cụ thể của chỉ tiêu vừa chọn;
(iii) Phương pháp tính chỉ số giá
Việc chọn chỉ số giá đại diện cho mặt bằng giá chung rất khác nhau giữa các nước Một
số chỉ tiêu sau thường được đưa ra để phân tích, lựa chọn:
(i) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
(ii) Một vài thành phần của CPI; ví dụ chọn một số nhóm hàng tiêu biểu nhất; (iii) Chỉ số giá bán buôn (WPI) hoặc một vài thành phần của nó;
(iv) Chỉ số giá GNP (deflator of GNP);
(v) Chỉ số giá GDP (deflator of GDP);
Trang 39(vi) Chỉ số giá của một nhóm các hàng hoá và dịch vụ đưa vào tính tổng chi tiêu quốc gia (Gross national expenditure - GNE);
Mỗi một chỉ tiêu nêu trên đều có ưu, nhược điểm trong việc đại diện cho mặt bằng giá chung; do đó trong nghiên cứu kinh tế, người ta phải sử dụng đồng thời nhiều loại chỉ
số giá Tuy nhiên, đối với một chỉ tiêu lý tưởng, để có cơ sở cho sự lựa chọn, gần đây, người ta đã đề ra một số tiêu chuẩn, trong đó 4 tiêu chuẩn quan trọng nhất là:
Một là, chỉ tiêu đó chỉ phản ánh những hàng hoá sản xuất trong nền kinh tế; do vậy, các chỉ số giá có chứa giá hàng hoá nhập khẩu không phải là chỉ số lý tưởng dùng để đo lường lạm phát;
Hai là, chỉ số giá lý tưởng phải mang tính toàn diện, tức là chứa đựng giá tất cả các hàng hoá và dịch vụ sản xuất trong nền kinh tế Như vậy, chỉ số giá hàng hoá bán lẻ chưa phải là chỉ tiêu lý tưởng vì nó chỉ chứa đựng giá các hàng hoá do người tiêu dùng mua sắm trên thị trường;
Ba là, chỉ số giá lý tưởng phải phản ảnh được việc cải tiến chất lượng hàng hoá và dịch
vụ, tức là với chỉ số giá này, ít nhất sau 10 đến 15 năm sự tăng lên danh nghĩa của giá của hàng hoá và dịch vụ không vượt quá tình trạng tăng lên thực sự của giá Thực tế giá nhiều hàng hoá tăng lên nhưng chất lượng của nó cũng tăng lên tương ứng; trường hợp đó không phải là lạm phát;
Bốn là, chỉ số giá lý tưởng phải đảm bảo không bị tác động bởi những đợt tăng giá tạm thời và lại quay về giá ban đầu khi tình hình thay đổi Ví dụ sự tăng giá do điều kiện thời tiết không thuận hoặc tăng giá do thay đổi chính sách thuế của chính phủ
1.2.1.2 Quan điểm khác nhau về lạm phát
Lý thuyết chi phí cho rằng lạm phát nảy sinh do mức tăng các chi phí sản xuất, kinh doanh đã nhanh hơn mức tăng năng suất lao động Nguyên nhân của hiện tượng này là
do tiền lương tăng lên, giá nguyên nhiên vật liệu tăng lên, công nghệ cũ kỹ không được đổi mới, thể chế cũng như cơ cấu kinh tế lạc hậu không được đổi mới… Giá dầu mỏ tăng cao trong những năm 70 đẩy lạm phát ở rất nhiều nước gia tăng là một minh chứng rõ ràng nhất Vậy là khi chi phí tăng lên đến mức mà mức tăng năng suất lao động không bù đắp
Trang 40được mức tăng chi phí khiến cho giá cả tăng cao thì lạm phát xuất hiện Thực ra giá cả đồng loạt tăng lên chỉ là một biểu hiện của lạm phát mà thôi
Lý thuyết cơ cấu được phổ biến ở nhiều nước đang phát triển Theo lý thuyết này thì lạm phát nảy sinh do sự mất cân đối sâu sắc trong chính cơ cấu nền kinh tế, bao gồm mất cân đối giữa tích luỹ và tiêu dùng, giữa công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa sản xuất và dịch vụ… Chính sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế đã làm cho nền kinh tế phát triển không hiệu quả, khuyến khích các lĩnh vực đòi hỏi chi phí tăng cao phát triển Xét về mặt này lý thuyết cơ cấu trùng hợp với lý thuyết chi phí
Quan niệm tĩnh về lạm phát cho rằng lạm phát là sự mất cân đối giữa tiền và hàng trong nền kinh tế Đây là quan niệm được sử dụng phổ biến sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ I kể từ khủng hoảng kinh tế 1929-1933 Người ta so sánh khối lượng hàng hóa và dịch vụ có thể đem bán trên thị trường và khối tiền tệ mà nhân dân có thể sử dụng để mua hàng Có thể tóm tắt trong phương trình Fisher: MV=PY Nếu tổng khối lượng tiền lưu hành (M) tăng thêm trong khi tổng lượng hàng hóa dịch vụ trao đổi (Y) không đổi, mức giá trung bình (P) phải tăng Nếu thêm vào đó tốc độ lưu thông tiền tệ (V) tăng thì P lại tăng rất nhanh và vô giới hạn Quan niệm này chỉ cho chúng ta biết về hiện tượng lạm phát, nhưng không chỉ ra nguyên nhân của lạm phát Quan niệm tĩnh về lạm phát có một số điểm hạn chế sau: (i) không chỉ ra nguyên nhân vì sao khối lượng tiền lưu hành (M) tăng lên, (ii) không giải thích tại sao khi tiền tăng lên thì làm giá cả tăng chứ không phải là sản xuất, (iii) Dĩ nhiên việc bơm thêm tiền có thể gây lạm phát khi chúng ta đang ở trong tình trạng toàn dụng các năng lực sản xuất, nhưng nếu không phải như vậy thì làm sao có thể giải thích được việc bơm thêm một lượng tiền nhất định lại có thể làm tăng thêm lạm phát chứ không phải làm tăng thêm sản xuất
Lý thuyết cầu do nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes đề xướng Ông cho rằng nguyên nhân cơ bản của lạm phát là sự biến động cung cầu Phân tích của Keynes chỉ ra rằng sự gia tăng liên tục của cung tiền sẽ tác động tới đường tổng cầu và đường tổng cung Khi mức cung đã đạt đến tột đỉnh vượt quá mức cầu, dẫn đến đình đốn sản xuất thì