1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức trong giá trị kinh doanh của công nghệ thông tin

87 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 2,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Từ AIS Accounting Information System Hệ thống thông tin kế toán CNTT Information Technology Công nghệ thông tin COGS Cost Of Goods Sold Giá vốn hàng bán CRM Custom

Trang 1

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH

-

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

VAI TRÕ CỦA HỆ THỐNG HOẠCH ĐỊNH NGUỒN LỰC

TỔ CHỨC TRONG GIÁ TRỊ KINH DOANH CỦA

CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Sinh viên thực hiện: CAO THỊ THU UYÊN Lớp: DH30DN01

Khóa học: 30 GVHD: Th.S NGUYỄN DUY THANH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp đại học với tên đề tài “Vai trò của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức trong giá trị kinh doanh của công nghệ thông tin” là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Duy Thanh Các

số liệu thống kê và trích dẫn trong khóa luận đều trung thực, được trích dẫn từ những nguồn gốc rõ ràng và kết quả của nghiên cứu khóa luận này chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào cho tới thời điểm hiện tại

Tác giả

Cao Thị Thu Uyên

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong Khoa Hệ thống thông tin quản lý,

Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt kiến thức trong

những năm tôi học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không

chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khoá luận mà còn là hành trang quý báu để

tôi bước vào đời một cách vững chắc và tự tin

Tôi chân thành cảm ơn các anh/chị, các bạn đã giúp đỡ tôi thực hiện đánh giá khảo

sát này Để hoàn thành khoá luận, tôi cũng xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Th.S

Nguyễn Duy Thanh, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình viết báo

cáo khoá luận

Cuối cùng tôi kính chúc quý thầy, cô dồi dào sức khoẻ và thành công trong sự

nghiệp cao quý Đồng kính chúc các anh, chị, các bạn sức khỏe và ngày càng phát

triển trong sự nghiệp của mình

Xin chân thành cám ơn

Sinh viên

Cao Thị Thu Uyên

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH vii

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Phát biểu vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.4.1 Đối tượng 4

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu 4

Tóm tắt chương 1 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

2.1 Cơ sở lý thuyết 5

2.1.1 Hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức 5

2.1.2 Lý thuyết giá trị kinh doanh của CNTT 8

2.1.2.1 Giá trị kinh doanh và quan điểm nền tảng nguồn lực 9

2.1.2.2 Hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức và giá trị kinh doanh 10

2.1.2.3 Thành quả tổ chức của giá trị kinh doanh 11

2.1.3 Các nghiên cứu liên quan 13

2.2 Mô hình nghiên cứu 17

2.2.1 Giá trị kinh doanh của CNTT 17

2.2.2 Hệ thống ERP 18

2.2.3 Tích hợp hệ thống 19

2.2.4 Tích hợp quy trình 20

2.2.5 Thành quả tổ chức 21

Tóm tắt chương 2 22

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 Quy trình nghiên cứu 23

Trang 5

3.1.1 Nghiên cứu sơ bộ 23

3.1.2 Nghiên cứu chính thức 23

3.1.3 Xây dựng thang đo và bộ câu hỏi 25

3.1.4 Kích thước mẫu 28

3.1.5 Đối tượng lấy mẫu 28

3.1.6 Phương pháp lấy mẫu 28

Tóm tắt chương 3 28

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

4.1 Thống kê mô tả 29

4.2 Xử lý thang đo và mô hình 31

4.2.1 Nghiên cứu sơ bộ 31

4.2.2 Nghiên cứu chính thức 33

4.2.2.1 Phân tích độ tin cậy (Cronbach’s Alpha) 33

4.2.2.2 Phân tích nhân tố khám phá các biến độc lập 35

4.2.2.3 Phân tích nhân tố khám phá của biến trung gian và biến phụ thuộc 36

4.2.2.4 Phân tích tương quan 37

4.2.2.5 Kiểm định mô hình và giả thuyết – Hồi quy đa biến 39

4.3 Thảo luận kết quả phân tích dữ liệu 42

Tóm tắt chương 4 44

CHƯƠNG 5: KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT 45

5.1 Kết luận và đóng góp của đề tài nghiên cứu 45

5.1.1 Kết luận 45

5.1.2 Đóng góp của đề tài nghiên cứu 45

5.2 Kiến nghị 46

5.3 Hạn chế và nghiên cứu tiếp theo 47

Tóm tắt chương 5 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

PHỤC LỤC viii

Phụ lục 1 PHIẾU KHẢO SÁT viii

Phụ lục 2 PHÂN TÍCH ĐỘ TIN CẬY Ở NGHIÊN CỨU SƠ BỘ x

Phụ lục 3 KẾT QUẢ THỐNG KÊ MÔ TẢ xiii

Trang 6

Phụ lục 4 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ĐỘ TIN CẬY CHÍNH THỨC xv

Phụ lục 5 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ xvii

Phụ lục 6 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH HỆ SỐ TƯƠNG QUAN xx

Phụ lục 7 KẾT QUẢ HỒI QUY ĐA BIẾN xxi

Phụ lục 8 MÔ HÌNH VỚI HỆ SỐ CẮT xxviii

Phụ lục 9 CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN xxxiii

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Từ

AIS Accounting Information System Hệ thống thông tin kế toán

CNTT Information Technology Công nghệ thông tin

COGS Cost Of Goods Sold Giá vốn hàng bán

CRM Customer Relationship Management Quản lý quan hệ khách hàng

ERP Enterprise Resource Planning Hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức FIP Firm Performance Thành quả tổ chức

ITB IT Business Value Giá trị kinh doanh của CNTT

MRP Material Requirement Planning Hoạch định yêu cầu vật liệu

MRPII Manufacturing Resouce Planning Hoạch định nguồn lực sản xuất

PRI Process Integration Tích hợp quy trình

RBV Resource Based View Quan điểm nền tảng nguồn lực

ROA Return On Total Assets Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản

ROE Return On Equity Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu ROI Return On Investment Tỷ suất hoàn vốn

ROS Return On Sales Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu

SAP System Applications Products Sản phẩm ứng dụng hệ thống

SYI Systems Integration Tích hợp hệ thống

VIF Variance Inflation Factor Hệ số phóng đại phương sai

Trang 8

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH

Bảng 2.1 Các nghiên cứu liên quan 13

Bảng 3.1 Các khái niệm và tham chiếu mô hình nghiên cứu đề xuất 26

Bảng 3.2 Biến đo lường và mã biến 27

Bảng 4.1 Bảng mô tả thông tin mẫu khảo sát 30

Bảng 4.2 Kết quả phân tích độ tin cậy nghiên cứu sơ bộ 32

Bảng 4.3 Kết quả phân tích độ tin cậy nghiên cứu chính thức 34

Bảng 4.4 Kết quả phân tích nhân tố khám phá 36

Bảng 4.5 Kết quả phân tích nhân tố khám phá biến trung gian 37

Bảng 4.6 Kết quả phân tích nhân tố khám phá biến phụ thuộc 37

Bảng 4.7 Kết quả phân tích tương quan giữa biến độc lập và biến trung gian 38

Bảng 4.8 Kết quả phân tích tương quan giữa ITB và FIP 38

Bảng 4.9 Kết quả hồi quy giữa biến độc lập và biến trung gian 40

Bảng 4.10 Kết quả hồi quy giữa biến trung gian và biến phụ thuộc 41

Hình 2.1 Mô hình cấu trúc của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức 7

Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu 22

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 24

Hình 4.1 Kết quả kiểm định mô hình 42

Trang 9

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

Chương 1 trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu chính mà tác giả đặt ra, ý nghĩa, phạm vi và câu hỏi để thực hiện nghiên cứu Qua đó giúp tiếp cận nghiên cứu được dễ dàng

1.1 Phát biểu vấn đề nghiên cứu

Từ những năm 1990, hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức (ERP) được tin rằng là

“sự phát triển quan trọng nhất trong tổ chức sử dụng CNTT ” (Davenport, 1998, p 122) Ngày ngay, hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức được áp dụng bởi nhiều tổ chức lớn nhỏ trên khắp thế giới như một phần quan trọng trong cấu trúc tổ chức của

họ Hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức hỗ trợ hằng ngày cho hoạt động của tổ chức và quá trình ra quyết định của các nhà lãnh đạo (Gattiker và Goodhue, 2005) Theo PC World (2018), giá trị của thị trường phần mềm hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức toàn cầu sẽ vượt mức 41 tỷ USD tính đến năm 2020 Thế giới hiện có rất nhiều đơn vị cung cấp giải pháp hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức như SAP, Microsoft Dynamic, Oracle, Infor,…Trong khi đó tại Việt Nam cũng có một

số tổ chức cung cấp giải pháp hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức như SS4U, FPT, Fast, Lạc Việt,… Tuy nhiên, chỉ có khoảng 1,1% tổ chức Việt Nam sử dụng

hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức (Nguyễn và Nguyễn, 2014) Những năm gần đây, nhiều tổ chức ý thức được hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức là công cụ quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh, giúp tiếp cận tốt hơn các chuẩn quốc tế (Nguyễn và Nguyễn, 2014) Các tổ chức thấy rằng nếu ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức ở quy mô nhỏ sẽ dễ triển khai hơn và sớm đi vào hoạt động

ổn định, nếu tổ chức nào chậm trễ ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức

sẽ tự gây khó khăn cho mình và tạo lợi thế cạnh tranh cho đối thủ Do đó, số lượng các tổ chức ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức ở Việt Nam cũng đang tăng rõ rệt (Nguyễn và Nguyễn, 2014)

Về mặt nghiên cứu, có một số tài liệu đang phát triển theo hướng nghiên cứu ảnh hưởng của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức Phần lớn các nghiên cứu này là

Trang 10

sát ngành công nghiệp khác nhau (Davenport, 1998) Bên cạnh đó, McAfee (1999)

đã nghiên cứu tác động của các hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức lên thành quả tổ chức dựa trên một cuộc khảo sát từ 101 người thực hiện gói SAP R/3 của Hoa Kỳ Các tổ chức tham gia đã phản hồi sự cải thiện thành quả tổ chức đáng kể khi thực hiện hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức bao gồm khả năng cung cấp thông tin cho khách hàng, thời gian chu kỳ và tỷ lệ hoàn thành đúng thời hạn Đồng thời các nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra những lợi ích từ quá trình tự động hóa, thiết kế lại quy trình, tăng tính kịp thời hoặc chất lượng đầu ra liên quan đến việc triển khai hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức thành công (Brynjolfsson cộng sự, 2000) Điều này chứng minh rằng, đầu tư CNTT nói chung cũng như hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức nói riêng có ảnh hưởng đến năng suất và giá trị kinh doanh của tổ chức (Brynjolfsson và cộng sự, 2000)

Mối quan hệ giữa hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức và giá trị kinh doanh của CNTT cũng được các nhà nghiên cứu hệ thống thông tin tập trung phát triển, chúng được phân làm ba cụm nghiên cứu như sau: (1) Các nghiên cứu tìm hiểu về khu vực hữu hình của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức trong thành quả tổ chức theo

mô hình “nghịch lý năng suất CNTT” (Dedrick và cộng sự, 2003) Việc đo lường chi phí truyền thống như chi phí hoạt động trực tiếp (ROA, ROE, COGS, và lợi ích biên), mức tồn kho và sự quản lý tiền mặt (Brynjolfsson và cộng sự, 2000) đều được nghiên cứu (2) Các nghiên cứu hầu hết về giá trị kinh doanh của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức trong khu vực vô hình như giảm tương tác trên toàn

tổ chức, thời gian phản hồi thông tin nhanh, thông tin luôn sẵn sàng và chất lượng, cải tiến trong truyền thông, sự hài lòng của người dùng và điều khiển quản lý, cải tiến trong việc phối hợp giữa các đơn vị khác nhau, hiệu quả chi phí, và sự phân biệt, hiệu quả, tăng cường tích hợp quy trình, sự tự động và tối ưu hóa (Roh và Hong, 2015) (3) Cụm nghiên cứu về sự kết hợp giữa mối quan hệ vô hình và hữu hình, điều tra mối quan hệ tích cực giữa hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức và giá trị kinh doanh (Ruivo và cộng sự, 2017)

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức và giá trị kinh doanh nhưng có ít nghiên cứu đánh giá vai trò của hệ thống

Trang 11

các tiền tố tích hợp hệ thống và tích hợp quy trình cùng hậu tố thành quả tổ chức Nhận thấy được điều đó, tác giả đã chọn đề tài “Vai trò của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức trong giá trị kinh doanh của CNTT” nhằm làm rõ vai trò của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức đối với giá trị kinh doanh từ đó thấy được tầm quan trọng đối với thành quả tổ chức, mặc khác đưa ra giải pháp giúp các tổ chức Việt Nam có thêm cơ sở để ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức một cách tối ưu nhất có thể Theo Uwizeyemungu và Raymond (2012), ba hướng nghiên cứu về mối quan hệ giữa hệ thống hoạch định nguồn lực và thành quả tổ chức: (1)

hệ thống hoạch định nguồn lực ảnh hưởng tới thành quả tổ chức trên nhiều khía cạnh khác nhau, (2) đóng góp của hệ thống hoạch định nguồn lực vào giá trị kinh doanh của CNTT, (3) đề xuất mô hình đo lường đóng góp của hệ thống hoạch định nguồn lực đến thành quả tổ chức Trong nghiên cứu nói về vai trò của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức trong giá trị kinh doanh của CNTT và thành quả tổ chức nên chú trọng vào nhóm số hai và số ba

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xem xét vai trò của của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức trong giá trị kinh doanh của CNTT

- Kiểm định các mối quan hệ giữa các thành phần mở rộng của lý thuyết giá trị kinh doanh của CNTT

- Đề xuất giải pháp nâng cao giá trị kinh doanh của CNTT để tăng lợi thế cạnh tranh trong các tổ chức

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Vai trò của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức trong giá trị kinh doanh của CNTT được thể hiện như thế nào?

- Mối quan hệ giữa các thành phần mở rộng của lý thuyết giá trị kinh doanh của CNTT được thể hiện như thế nào?

- Có những giải pháp nào để nâng cao giá trị kinh doanh của CNTT nhằm tăng lợi thế cạnh tranh?

Trang 12

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu

Nghiên cứu cung cấp nguồn tri thức cần thiết để bổ sung vào cơ sở lý thuyết về hệ thống thông tin (các lý thuyết: hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức, giá trị kinh doanh của CNTT, nền tảng nguồn lực,…) Bên cạnh đó, nghiên cứu còn cung cấp các kiến thức cần thiết cho các tổ chức trong việc nâng cao giá trị kinh doanh của CNTT để tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường

Tóm tắt chương 1

Chương 1 đã trình bày được tính cấp thiết và ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu, nêu ra các mục tiêu mà nghiên cứu sẽ đạt được Bên cạnh đó, chương 1 cũng cung cấp các thông tin về phạm vi, ý nghĩa nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Trang 13

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương 2 nêu lên các lý thuyết là cơ sở nền tảng cho nghiên cứu bao gồm các khái niệm về hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức, giá trị kinh doanh của CNTT và quan điểm nền tảng nguồn lực, tích hợp hệ thống, tích hợp quy trình, thành quả tổ chức, tất cả sẽ được thể hiện rõ trong chương 2 cùng với mô hình nghiên cứu

2.1 Cơ sở lý thuyết

2.1.1 Hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức

Môi trường kinh doanh đang ngày một thay đổi đáng kể, ngày nay các tổ chức phải đối mặt với thách thức của sự cạnh tranh ngày càng gia tăng, mở rộng thị trường và làm tăng sự kỳ vọng của khách hàng (Shankarnarayanan, 2000) Áp lực gia tăng khiến các tổ chức buộc phải giảm tổng chi phí trong toàn bộ chuỗi cung ứng, giảm thời gian chuyển giao vật liệu, giảm đáng kể lượng hàng tồn kho, mở rộng lựa chọn sản phẩm, giao hàng chính xác và dịch vụ khách hàng tốt hơn, cải tiến chất lượng và phối hợp hiệu quả toàn bộ nhu cầu, cung ứng và sản xuất (Shankarnarayanan, 2000) Hơn nữa, khi thế giới kinh doanh di chuyển gần hơn đến một mô hình hoàn toàn hợp tác và các đối thủ cạnh tranh nâng cấp khả năng của mình, để duy trì tính cạnh tranh, các tổ chức phải cải thiện thói quen và thủ tục kinh doanh của riêng họ Các tổ chức cũng phải ngày càng chia sẻ với các nhà cung cấp, nhà phân phối và khách hàng của họ những thông tin nội bộ quan trọng mà trước đây họ bảo vệ một cách tích cực (Loizos, 1998) Các chức năng trong tổ chức phải nâng cấp khả năng của mình để tạo ra và truyền đạt thông tin kịp thời và chính xác Để hoàn thành các mục tiêu này, các tổ chức đang ngày càng chuyển sang các hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức (Elisabeth và cộng sự, 2002)

Giống như nhiều lĩnh vực mới trong hệ thống thông tin, phần mềm hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức, các từ đồng nghĩa là các gói phần mềm tiêu chuẩn tích hợp,

hệ thống tổ chức, hệ thống tổ chức rộng, phần mềm tích hợp nhà cung cấp và hệ thống ứng dụng tổ chức (Gable, 1998), đã được xác định bởi các tác giả khác nhau nhưng không có nhiều điểm khác biệt Nhà nghiên cứu Rosemann (1999) xác định

Trang 14

hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức như một phần mềm ứng dụng tiêu chuẩn có thể tùy chỉnh bao gồm các giải pháp kinh doanh tích hợp cho các quy trình cốt lõi (ví dụ: lập kế hoạch sản xuất và kiểm soát, quản lý kho hàng) và các chức năng quản trị chính (ví dụ, kế toán, quản lý nguồn nhân lực) cho một tổ chức Tuy nhiên, Gable (1998) lại coi đó là một giải pháp phần mềm trọn gói, tích hợp đầy đủ các quy trình và chức năng kinh doanh nhằm trình bày quan điểm tổng thể về tổ chức từ một thông tin và cấu trúc CNTT

Vì trọng tâm của các hệ thống sản xuất trong những năm 1960 là các khái niệm kiểm soát hàng tồn kho truyền thống, nhìn chung, hầu hết các gói phần mềm bị giới hạn đối với hàng tồn kho dựa trên các quy trình kiểm kê truyền thống (Gumaer, 1996) Kể từ năm 1975, hệ thống MRP đã được mở rộng từ một công cụ MRP đơn giản để trở thành phần mềm hoạch định nguồn lực sản xuất chuẩn (MRPII) (Chung

và Snyder, 1999) Tuy nhiên, những thiếu sót của MRPII trong việc quản lý đơn đặt hàng, kế hoạch sản xuất và hàng tồn kho của cơ sở sản xuất và sự cần thiết phải tích hợp các kỹ thuật mới này lại cùng nhau để phát triển một giải pháp tích hợp hơn được gọi là hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức (Chung và Snyder, 1999) Hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức chủ yếu tích hợp dữ liệu hàng tồn kho với dữ liệu tài chính, bán hàng và nhân lực, cho phép các tổ chức định giá sản phẩm, lập báo cáo tài chính và quản lý hiệu quả nguồn lực của con người, vật liệu và tiền bạc (Markus và cộng sự, 2000)

Sự xuất hiện của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức vào đầu những năm 1990

đã dẫn đến việc bao gồm các chức năng khác như quản lý kế toán và bán hàng (Gupta, 2000) Trên thực tế, những người ủng hộ hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức tin rằng hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức có thể kết hợp cả quy trình kinh doanh trong tổ chức và CNTT thành một giải pháp tích hợp điều mà MRP và MRPII không thể cung cấp điều đó (Chung và Snyder, 1999)

Một tính năng quan trọng của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức đó là phương pháp đầu tiên kết hợp giữa quản lý kinh doanh và các khái niệm CNTT (Slooten và Yap, 1999) Sức mạnh của nó xuất phát từ khả năng cung cấp chức năng kinh doanh toàn diện theo cách tích hợp sử dụng cơ sở hạ tầng CNTT hiện đại (Waston và cộng

Trang 15

sự, 1999) Thật vậy, hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức đã cải thiện thông tin tổ chức thông qua chuỗi cung ứng đến mức độ mà hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức đã trở thành một tiêu chuẩn cho hoạt động hiệu quả (Davenport, 1998) Một đặc điểm đáng chú ý của phần mềm hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức là các hoạt động cốt lõi của tổ chức như sản xuất, nhân sự, quản trị chuỗi cung ứng được

tự động hóa và cải thiện đáng kể bằng cách kết hợp các phương pháp hay nhất để tạo điều kiện quản lý tốt hơn, đưa ra quyết định nhanh chóng và giảm một lượng lớn chi phí hoạt động kinh doanh (Holland and Light, 1999)

Cấu trúc cơ bản của một hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức được xây dựng dựa trên một cơ sở dữ liệu, một ứng dụng và một giao diện thống nhất trên toàn bộ tổ chức Do đó, toàn bộ tổ chức có thể hoạt động theo một tiêu chuẩn ứng dụng, nơi tất

cả các ứng dụng phục vụ nguồn nhân lực, kế toán, bán hàng, sản xuất, phân phối và các khía cạnh quản lý chuỗi cung ứng đều được tích hợp hoàn toàn Phần mềm hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức cũng có thể giúp tăng tốc độ ra quyết định, giảm chi phí và cung cấp cho các nhà quản lý kiểm soát hoạt động kinh doanh phân tán trên toàn cầu (Gibson và cộng sự, 1999) Cấu trúc của một hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức được trình bày chi tiết trong hình 2.1

Hình 2.1 Mô hình cấu trúc của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức

Nguồn: Laudon và Laudon (2018)

Cấu trúc của một hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức bao gồm các phân hệ sản

Trang 16

này hoạt động theo một quy trình kinh doanh trên toàn bộ tổ chức, các phân hệ tác động đến quy trình kinh doanh tạo nên sự thuận lợi trong việc vận hành quy trình Các phân hệ nằm hoàn toàn trong ranh giới của tổ chức nhưng có mối quan hệ tương tác lẫn nhau với bên ngoài là nhà cung cấp và khách hàng

Hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức cung cấp hai lợi ích chính mà các hệ thống phòng ban truyền thống không hề có đó là: (1) hoạt động kinh doanh thống nhất của

tổ chức là bao gồm tất cả chức năng và bộ phận; (2) cơ sở dữ liệu tổ chức nơi tất cả các giao dịch kinh doanh được nhập, ghi lại, xử lý, theo dõi, và báo cáo Việc thống nhất cơ sở dữ liệu và các hoạt động của tổ chức làm tăng thêm yêu cầu, sự mở rộng cho việc hợp tác và sắp xếp giữa các bộ phận khác nhau (Dillon, 1999)

2.1.2 Lý thuyết giá trị kinh doanh của CNTT

Mặc dù được biết đến nhiều về hiệu quả chung của công nghệ thông tin về thành quả tổ chức nhưng có ít sự hiểu biết về giá trị của các ứng dụng công nghệ thông tin

cụ thể và các yếu tố làm cho một dự án hoặc hệ thống cụ thể hiệu quả hơn (Lorin và cộng sự, 2002) Các nghiên cứu trước đây cho thấy tự động hóa CNTT về phân loại bưu chính và thu phí có ảnh hưởng đáng kể đến thành quả tổ chức (Mukhopadhyay

và cộng sự, 1997) Các lợi ích cũng được tìm thấy trong nghiên cứu cấp độ nhà máy cho các máy móc tự động và "công nghệ sản xuất tiên tiến", hầu hết đều liên quan đến máy tính (Doms và cộng sự, 1997) Nhà nghiên cứu Brynjolfsson và cộng sự (2000) đã phát hiện ra rằng một số hoạt động tổ chức nhất định như việc tăng cường

sử dụng lao động lành nghề, cơ cấu tổ chức phi tập trung và theo nhóm làm tăng giá trị của sự đầu tư CNTT Bằng dữ liệu khảo sát của mình, Brynjolfsson và cộng sự (2000) nhận thấy rằng các tổ chức đầu tư nhiều hơn vào thiết kế lại quy trình kinh doanh và dành nhiều nguồn lực CNTT hơn để tăng giá trị khách hàng (ví dụ: chất lượng, kịp thời, tiện lợi) có thành quả tổ chức cao hơn Tất cả các nghiên cứu này cho thấy rằng có thể có lợi ích từ tự động hóa, thiết kế lại quy trình và tăng tính kịp thời hoặc chất lượng đầu ra liên quan đến triển khai hệ thống hoạch định nguồn lực

tổ chức thành công mặc dù những hiệu ứng này trong bối cảnh cụ thể của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức ít được nghiên cứu tại Việt Nam trước đây

Trang 17

2.1.2.1 Giá trị kinh doanh và quan điểm nền tảng nguồn lực

Quan điểm nền tảng nguồn lực (RBV) được sử dụng để xem xét tính hiệu quả và các lợi thế cạnh tranh của nguồn lực cụ thể trong tổ chức như văn hóa (Barney, 1991), công việc thường ngày của tổ chức Quan điểm này cũng phù hợp khi xem xét nguồn lực CNTT, nó là cơ sở vững chắc cho việc phân tích vấn đề liệu CNTT

có thể liên kết với lợi thế cạnh tranh hay không và làm thế nào nó thực hiện được điều đó Các nhà nghiên cứu chiến lược đã áp dụng quan điểm nền tảng nguồn lực

để phân tích về mặt lý thuyết những lợi thế cạnh tranh của CNTT và đánh giá sự bổ sung giữa CNTT và các nguồn lực khác của tổ chức (Powell và Micallef, 1997) Các nhà nghiên cứu hệ thống thông tin cũng bắt đầu sử dụng quan điểm nền tảng nguồn lực để mở rộng sự hiểu biết về giá trị kinh doanh Như vậy, vì bản chất của quan điểm nền tảng nguồn lực là tập trung vào các thuộc tính của nguồn lực đồng thời nhận thấy tính hữu dụng của nó trong việc kiểm tra nguồn lực CNTT nói chung cũng như hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức nói riêng, tác giả quyết định chọn quan điểm nền tảng nguồn lực làm nền tảng cơ sở lý thuyết chính cho nghiên cứu

Có nguồn gốc từ tài liệu chiến lược quản lý, quan điểm dựa trên góc nhìn nguồn lực của tổ chức cho rằng các tổ chức cạnh tranh trên cơ sở nguồn lực tổ chức “độc đáo”

có giá trị, hiếm, khó bắt chước và không thay thế được bởi các nguồn lực khác (Barney, 1991) Lý thuyết quan điểm nền tảng nguồn lực hoạt động theo các giả định rằng các nguồn lực cần được hình thành ý tưởng, lựa chọn và thực hiện các chiến lược được phân phối không đồng đều giữa các tổ chức làm cho sự khác biệt của tổ chức vẫn ổn định theo thời gian (Barney, 1991) Mặc dù những người ủng hộ quan điểm nền tảng nguồn lực thường có xu hướng xác định nguồn lực khá rộng, bao gồm tài sản, kiến thức, khả năng và quy trình tổ chức, Grant (1991) lại phân biệt giữa nguồn lực với khả năng và phân loại nguồn lực thành hữu hình, vô hình và nhân sự

Nguồn lực hữu hình bao gồm vốn tài chính và tài sản vật chất của tổ chức như nhà máy, thiết bị và nguyên liệu thô trong kho Nguồn lực vô hình bao gồm các tài sản như danh tiếng, hình ảnh thương hiệu và chất lượng sản phẩm,…Trong khi nguồn lực nhân sự bao gồm bí quyết kỹ thuật và tài sản tri thức khác bao gồm các thứ như

Trang 18

văn hóa tổ chức, đào tạo nhân viên, lòng trung thành,…Trong khi các nguồn lực phục vụ như các đơn vị phân tích cơ bản, các tổ chức tạo ra lợi thế cạnh tranh bằng cách tập hợp các nguồn lực làm việc cùng nhau để tạo ra các khả khác nhau của tổ chức Vì vậy, khả năng của một tổ chức là để tập hợp, thống nhất và khai thác giá trị nguồn lực (Russo và Fouts, 1997)

Khi mà nguồn lực tổ chức có giá trị, không bắt chước được và không thể thay thế,

họ có thể giải thích sự khác biệt trong giá trị kinh doanh Quan điểm nền tảng nguồn lực đã được sử dụng trong tài liệu về hệ thống thông tin để giải thích giá trị kinh doanh của CNTT, trong đó tập hợp cụ thể về nguồn lực tổ chức xác định thành quả của tổ chức (Ruivo và cộng sự, 2017)

Sau khi xem xét các luồng nghiên cứu trước đó, tác giả kết luận rằng mặc dù các nghiên cứu được công bố đã mở rộng giá trị kinh doanh của ERP nhưng kết quả nhìn vào hệ thống này một cách riêng lẻ, không có nghiên cứu nào được tìm thấy đánh giá giá trị chung của ERP dựa vào lý thuyết quan điểm nền tảng nguồn lực Nghiên cứu này sử dụng quan điểm nền tảng nguồn lực làm một khung tham khảo phát triển một mô hình lý thuyết để hiểu được mức độ tích hợp ERP đóng góp vào giá trị kinh doanh của CNTT

2.1.2.2 Hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức và giá trị kinh doanh

Trong lĩnh vực nghiên cứu về hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức, có một số nghiên cứu đã xem xét hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức từ quan điểm nền tảng nguồn lực Trong nghiên cứu của Kalling (2003), quan điểm nền tảng nguồn lực được sử dụng để mô tả các quy trình mà các tổ chức và người quản lý trải qua trong công việc của họ để tạo và duy trì lợi thế cạnh tranh dựa trên hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức Trong khi đó Lengnick – Hall và cộng sự (2004) đã tuyên

bố rằng hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức là cực kỳ hữu ích trong việc tận dụng các nguồn lực khác của tổ chức và việc đề cao tính cạnh tranh của nó đã được xem là một sự nói quá Khi đề cập đến quan điểm nền tảng nguồn lực, Laframboise

và Reyes (2005) thấy rằng ảnh hưởng của các hệ thống hoạch định nguồn lực tổ

Trang 19

chức về lợi thế cạnh tranh và thành quả tổ chức chỉ là gián tiếp tức là thông qua tương tác với các nguồn lực khác

Trong các nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức và thành quả tổ chức trong đó có ba nhóm nghiên cứu nổi bật (Uwizeyemungu

và Raymond, 2012) Nhóm đầu tiên điều tra nghiên cứu vấn đề liệu hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức có ảnh hưởng đến thành quả tổ chức trên nhiều khía cạnh khác nhau hay không Nhóm thứ hai là các nghiên cứu về công nghệ tổ chức và điều kiện mà theo đó hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức đóng góp vào giá trị kinh doanh Nhóm thứ ba bao gồm các nghiên cứu về việc đề xuất các mô hình, phương pháp đo lường sự đóng góp của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức đến thành quả tổ chức Do đó nghiên cứu hiện tại liên quan đến nhóm thứ hai và thứ ba, vì sử dụng lý thuyết giá trị kinh doanh của CNTT như một khung tham chiếu để hiểu được vai trò của hệ thống hoạch định nguồn lực tới giá trị kinh doanh và thành quả

tổ chức

2.1.2.3 Thành quả tổ chức của giá trị kinh doanh

Thành quả tổ chức đề cập đến hiệu quả hoạt động tài chính và hoạt động của tổ chức đó (Venkatraman và Ramanujam, 1986) Nghiên cứu trước đây đã sử dụng một số chỉ số để đo lường thành quả của tổ chức Các chỉ số này rơi vào ba danh mục chung: tài chính, hiệu quả và các loại khác Các chỉ tiêu tài chính bao gồm các đơn vị thường được sử dụng như lợi tức đầu tư (ROI), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, ROS, doanh thu (Rai và cộng sự, 2006) và bán hàng Các chỉ số này thường có thể cho thấy khả năng của tổ chức trong việc tạo ra lợi nhuận Ngoài các chỉ số tài chính, nghiên cứu hiện nay cũng sử dụng các chỉ số liên quan đến hiệu quả để kiểm tra tác động của hệ thống thông tin đối với hiệu quả hoạt động như năng suất, giảm chi phí bao gồm giá vốn hàng bán (COG/S),… (Wang và cộng sự, 2006)

Sự ảnh hưởng của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức đến thành quả tổ chức cũng là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Theo điều tra của Poston

và Grabski (2001) về sự ảnh hưởng của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức trên thành quả tổ chức Họ đã kiểm tra thành quả triển khai của 50 tổ chức áp dụng hệ

Trang 20

thống hoạch định nguồn lực tổ chức sau ba năm triển khai, sau khi kiểm soát thành quả tổ chức của họ trước khi triển khai Họ không tìm thấy cải thiện đáng kể nào trong lợi nhuận còn lại hoặc tỷ lệ bán hàng, chi phí quản lý chung và doanh thu trong suốt thời gian ba năm Tuy nhiên, họ đã tìm thấy sự sụt giảm đáng kể tỷ lệ nhân viên trên doanh thu trong mỗi ba năm đó và sự cải thiện đáng kể chi phí bán hàng trong ba năm Nhìn chung, họ nhận thấy rằng các tổ chức sử dụng hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức thể hiện sự gia tăng hiệu quả trong một số khu vực, nhưng chi phí tăng lên ở các nơi khác có vẻ như bù đắp những gia tăng đó Các nhà nghiên cứu khác cũng chỉ ra ít hoặc không có mối quan hệ giữa đầu tư CNTT và hiệu quả tài chính, thường được gọi là nghịch lý về năng suất (Harris, 1994) Tuy nhiên, theo đề xuất của Dos Santos và cộng sự (1993), việc phân định giữa sử dụng sáng tạo và không sáng tạo của CNTT có thể cung cấp sự rõ ràng trong vấn đề này Câu hỏi đặt ra lúc bấy giờ là làm thế nào mà Poston và Grabski (2001) kiểm tra thành quả của các tổ chức chấp nhận đầu tư CNTT sáng tạo là hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức nhưng không tìm thấy lợi ích đáng kể trong hoạt động tài chính? Trong khi có nhiều câu trả lời cho câu hỏi này, một giải thích có thể được đề xuất bởi Brynjolfsson và cộng sự (2000) là bất kỳ lợi ích tài chính nào liên quan đến việc

áp dụng hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức được chuyển cho khách hàng dưới dạng giá thấp hơn Nhà nghiên cứu Robertson và Gatignon (1986) cũng đã đưa ra một lời giải thích tương tự khi họ xem xét tác động của các yếu tố cạnh tranh đến sự phổ biến của công nghệ tiên tiến Thông qua mô hình phân tích, Eliashberg và Chatterjee (1986) đã thảo luận và chứng minh rằng giá giảm ngay lập tức sau khi áp dụng các công nghệ tiên tiến và nhu cầu tăng do sự thay đổi về giá Họ cũng chỉ ra rằng hiệu quả tài chính của người áp dụng có thể hoặc không cải thiện đáng kể tùy thuộc vào một loạt các yếu tố ngoại sinh như cường độ cạnh tranh, tính không đồng nhất của ngành, sự không chắc chắn về nhu cầu và tỷ lệ chấp nhận của các tổ chức cạnh tranh; tuy nhiên, thành quả của các tổ chức không sử dụng hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức sẽ được dự đoán sẽ xấu đi khi so sánh trong một thị trường cạnh tranh Như vậy, từ khi hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức còn mới được

sử dụng, các nhà nghiên cứu đã tìm ra được mối quan hệ giữa hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức và hiệu quả tài chính của tổ chức thông qua giá cả của sản phẩm,

Trang 21

đây là một bước tiến lớn sau khi có nhiều nhận định về việc hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức không tạo ra thành quả cho tổ chức

2.1.3 Các nghiên cứu liên quan

Các nghiên cứu liên quan là những cơ sở lý luận quan trọng cho tác giả tìm hiểu về vai trò của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức trong giá trị kinh doanh của CNTT, cả năm nghiên cứu đều được trình bày tóm tắt trong bảng 2.1

Bảng 2.1 Các nghiên cứu liên quan

Trang 22

chức Nguồn lực CNTT của tổ chức được phân loại thành cơ sở hạ tầng CNTT, nguồn lực CNTT về con người và các nguồn lực vô hình hỗ trợ CNTT Phương pháp so sánh nhóm mẫu phù hợp và xếp hạng công khai có sẵn được sử dụng để đánh giá khả năng CNTT và thành quả tổ chức Kết quả cho thấy rằng các tổ chức

có khả năng CNTT cao có khuynh hướng hoạt động tốt hơn các mẫu kiểm tra khác của tổ chức về mặt lợi nhuận và chí phí

Nghiên cứu của Liang và cộng sự (2010) là tổng hợp các nghiên cứu có sử dụng quan điểm nền tảng nguồn lực trước đây để kiểm tra xem CNTT và các nguồn lực

tổ chức có ảnh hưởng đáng kể đến thành quả tổ chức hay không Một mô hình trực tiếp và gián tiếp có hiệu lực được đề xuất trong nghiên cứu xoay quanh các khả năng, nguồn lực và thành quả tổ chức Một phân tích meta được thực hiện trên 42 nghiên cứu thực nghiệm được công bố để kiểm tra các yếu tố khác nhau trong quan điểm nền tảng nguồn lực ảnh hưởng như thế nào đến thành quả Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng mô hình gián tiếp bao gồm khả năng của tổ chức như một biến trung gian giữa nguồn lực tổ chức và thành quả tổ chức có thể giải thích rõ hơn giá trị của CNTT so với mô hình hiệu quả trực tiếp mà không có khả năng của tổ chức Thêm nữa, nguồn lực công nghệ có thể cải thiện hiệu quả thành quả nhưng có thể không tạo nên tăng trưởng hiệu quả tài chính một cách trực tiếp Cuối cùng là khả năng nội bộ ảnh hưởng có ảnh hưởng đến thành quả nhưng chỉ có khả năng bên ngoài mới ảnh hưởng tới thành quả tài chính Nghiên cứu của Liang và cộng sự (2010) đã chỉ ra được rằng các tổ chức nên tập trung vào việc làm thế nào để nguồn lực CNTT có thể nâng cao khả năng của nó, điều này sẽ mang lại thành quả tốt hơn Theo nghiên cứu của Ruivo và cộng sự (2014) có sự quan tâm rất lớn giữa các nhà nghiên cứu về giá trị hệ thống thông tin kế toán (AIS) Điều này đặc biệt quan trọng trong các trường hợp của hệ thống như hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức Nghiên cứu này đo lường thực nghiệm và phân tích các yếu tố quyết định sử dụng

và giá trị của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức trong một nền tảng duy nhất, cũng như cung cấp các bằng chứng thực nghiệm từ các tổ chức vừa và nhỏ ở Bồ Đào Nha Dựa trên lý thuyết về quy trình và bối cảnh của công nghệ thông tin, Ruivo và cộng sự (2014) đã đề xuất chín giả thuyết Sử dụng khung tham chiếu

Trang 23

công nghệ – tổ chức – môi trường để đưa ra giả thuyết về tính tương thích, phức tạp, hiệu quả, thực tiễn tốt nhất, đào tạo và áp lực cạnh tranh giải thích việc sử dụng

hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức

Thông qua mô hình phương trình cấu trúc, một bộ dữ liệu được thu thập từ các khảo sát trên 134 website được sử dụng để kiểm tra các giả thuyết Sau khi phân tích thực nghiệm, nghiên cứu dẫn đến sáu vấn đề chính như sau: (1) Tính tương thích, phức tạp, thực hành tốt nhất và hiệu quả là yếu tố quyết định quan trọng đối với việc sử dụng hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức cũng như đào tạo và áp lực cạnh tranh, cho thấy đặc điểm công nghệ, tổ chức và môi trường là động lực chính của việc sử dụng hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức giữa các tổ chức vừa và nhỏ (2) Tương tự như vậy, sự hợp tác và phân tích quan trọng hơn đối với giá trị hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức khi sử dụng điều này cho thấy rằng các đặc tính về khả năng của hệ thống là những trình điều khiển chính của giá trị hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức (3) Những lợi ích của giá trị hệ thống hoạch định nguồn lực

tổ chức là từ việc cải tiến hệ thống đến quy trình kinh doanh của tổ chức trong các giai đoạn sau triển khai (4) Đối với các tổ chức vừa và nhỏ, số liệu có giá trị chủ yếu đạt được thông qua hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức là kiểm soát quản

lý (5) Tổ chức vừa và nhỏ đang sử dụng hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức làm hệ thống kế toán để quản lý, kế toán tài chính và thuế (6) Tổ chức vừa và nhỏ đầu tư hơn 70% ngân sách CNTT hàng năm của họ vào sử dụng hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức Tóm lại, những điều này cung cấp những hiểu biết sâu sắc

về cách các tổ chức vừa và nhỏ sử dụng, trích xuất giá trị từ hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức và làm thế nào cải tiến tích cực tác động đến giá trị của hệ thống Ruvio và cộng sự (2017) đã tiến hành nghiên cứu giá trị của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức và quản trị quan hệ khách hàng nhằm mục đích nhằm mục đích phát triển và kiểm tra mô hình lý thuyết để đo lường ảnh hưởng của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức, hệ thống quản trị quan hệ khách hàng (CRM) đồng thời kiểm duyệt các mối quan hệ của tích hợp hệ thống và quy trình về giá trị kinh doanh Hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức và quản lý quan hệ khách hàng được phân tích dựa trên quan điểm nền tảng nguồn lực và được đo lường bởi sự ảnh

Trang 24

hưởng đến giá trị kinh doanh của chúng song song đó là kiểm định mối quan hệ điều tiết giữa hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức, quản lý quan hệ khách hàng với tích hợp hệ thống và tích hợp quy trình Mô hình và dữ liệu được phân tích với

dữ liệu thu thập được bởi Microsoft từ những tổ chức có ứng dụng cả hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức và quản lý quan hệ khách hàng trong tổ chức của họ Kết quả của nghiên cứu cho thấy hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức là một tài sản quan trọng trong việc tạo ra giá trị kinh doanh trong khi đó tác động của hệ thống quản lý quan hệ khách hàng đến giá trị kinh doanh là không đáng kể Mối quan hệ điều tiết giữa tích hợp hệ thống đối với quản lý quan hệ khách hàng và hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức là không đáng kể nhưng tích hợp hệ thống được nhận định rằng có ảnh hưởng tích cực và đáng kể đến giá trị kinh doanh Đối với tích hợp quy trình, nghiên cứu thấy rằng nó chỉ có ý nghĩa khi kiểm duyệt biến

hệ thống CRM, ngoài ra không có ảnh hưởng đáng kể đến giá trị kinh doanh Mô hình của Ruvio và cộng sự (2017) đã cho thấy được hiệu ứng kiểm duyệt của tích hợp hệ thống và tích hợp quy trình là các biến quan trọng để hiểu được giá trị kinh doanh chung của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức và hệ thống quản lý quan

hệ khách hàng

Nghiên cứu của Wamba và cộng sự (2018) khám phá các động lực chất lượng thông tin trong môi trường dữ liệu lớn liên kết với giá trị kinh doanh, sự hài lòng của người dùng và thành quả tổ chức Họ đã đề xuất một lý thuyết về động lực chất lượng thông tin giúp đạt được giá trị kinh doanh, sự hài lòng của người dùng và thành quả vững chắc với chiến lược và sự triển khai dữ liệu lớn Chất lượng thông tin từ phân tích dữ liệu lớn được xem là tiền đề cho phản ứng cảm xúc (ví dụ: giá trị

và sự hài lòng) và đối phó (thành quả) Động lực chất lượng thông tin được đề xuất được kiểm tra từ dữ liệu thu thập được từ 302 nhà phân tích kinh doanh trên các tổ chức khác nhau ở Pháp và Hoa Kỳ

Những phát hiện cho thấy rằng chất lượng thông tin từ phân tích dữ liệu lớn phản ánh bốn khía cạnh quan trọng: đầy đủ, tiền tệ, định dạng và độ chính xác Chất lượng thông tin tổng thể có ý nghĩa tích cực, đáng kể đến thành quả của tổ chức có biến trung gian là giá trị kinh doanh và sự hài lòng của người dùng Nghiên cứu đưa

Trang 25

ra một tập hợp các yếu tố quyết định chất lượng thông tin và giá trị kinh doanh trong các dự án phân tích dữ liệu lớn nhằm hỗ trợ các nhà quản lý trong quyết định

nâng cao sự hài lòng của người dùng và thành quả tổ chức

2.2 Mô hình nghiên cứu

Dựa vào cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan nêu trên, tác giả tiến hành kiểm định một mô hình với năm yếu tố: tích hợp quy trình, hệ thống ERP, tích hợp

hệ thống, giá trị kinh doanh của CNTT và thành quả tổ chức Trong đó, giá trị kinh doanh của CNTT bị tác động bởi ba yếu tố đó là tích hợp quy trình, hệ thống ERP, tích hợp hệ thống, còn giá trị kinh doanh của CNTT lại tác động lên thành quả tổ chức Mô hình nghiên cứu được trình bày trong hình 2.2 Trong mục này, tác giả sẽ trình bày khái niệm của các yếu tố trong mô hình đồng thời đưa ra các giả thiết nghiên cứu

2.2.1 Giá trị kinh doanh của CNTT

Giá trị kinh doanh của CNTT (ITB) đề cập đến sự ảnh hưởng của CNTT đến thành quả tổ chức bao gồm việc nâng cao thành quả, cải thiện lợi nhuận, giảm chi phí, tăng lợi thế cạnh tranh, giảm lượng tồn kho và các yếu tố khác (Devaraj và Kohli, 2003) Có một số nghiên cứu điều tra mở rộng giá trị kinh doanh của CNTT bằng cách sử dụng nhiều phương pháp và các mức phân tích khác nhau Nghiên cứu ở cấp độ tổ chức đã chứng minh rằng đầu tư công nghệ thông tin có ảnh hưởng đáng

kể đến mức năng suất, tăng năng suất và giá trị thị trường chứng khoán của các tổ chức (Brynjolfsson và cộng sự, 2000) Nghiên cứu khác cũng đã tìm thấy một số tác động tích cực đến các chỉ số thành quả nội bộ như doanh thu hàng tồn kho (Barua

và cộng sự, 2004) Chi tiết hơn, Ruvio và cộng sự (2017) đã đi vào tìm hiểu giá trị kinh doanh của CNTT mà cụ thể ở đây là của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức và quản lý quan hệ khách hàng cùng các yếu tố liên quan khác, kết quả cho thấy rằng hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức có ảnh hưởng đáng kể đến giá trị kinh doanh

Trang 26

2.2.2 Hệ thống ERP

Hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức (ERP) là một sản phẩm ở dạng phần mềm ứng dụng tiêu chuẩn, hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức có thể sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp với các đặc điểm khác nhau, nhiệm vụ của nó là kết nối các quy trình kinh doanh và dữ liệu của tổ chức vào một cấu trúc tích hợp toàn diện đồng thời mang lại giải pháp cho thành quả tổ chức (Klaus và cộng sự, 2000) Hệ thống hoạch định nguồn lực hỗ trợ các quy trình kinh doanh định kỳ như quy trình mua sắm, xử lý đơn đặt hàng hoặc thanh toán và không tập trung vào các quy trình không được cấu trúc, không thường xuyên như tiếp thị, phát triển sản phẩm hoặc quản lý dự án (Klaus và cộng sự, 2000)

Trong lĩnh vực nghiên cứu về hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức, có một số nghiên cứu đã xem xét hệ thống hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức từ quan điểm nền tảng nguồn lực Trong nghiên cứu của Kalling (2003), quan điểm nền tảng nguồn lực được sử dụng để mô tả các quy trình mà các tổ chức và người quản lý trải qua trong công việc của họ để tạo và duy trì lợi thế cạnh tranh dựa trên hệ thống hoạch định nguồn lực Trong khi đó Lengnick-Hall và cộng sự (2004) đã tuyên bố rằng hệ thống hoạch định nguồn lực là cực kỳ hữu ích trong việc tận dụng các nguồn lực khác của tổ chức và đề cao tính cạnh tranh của nó đã được coi là một sự nói quá Khi đề cập đến quan điểm nền tảng nguồn lực, Laframboise và Reyes (2005) thấy rằng ảnh hưởng của các hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức về lợi thế cạnh tranh và thành quả tổ chức chỉ là gián tiếp tức là thông qua tương tác với các nguồn lực khác

Các nghiên cứu liên quan đến hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức như: Đầu tư

hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức và giá trị thị trường của các tổ chức: hướng tới sự hiểu biết về các biến dự án hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức có ảnh hưởng (Ranganathan và Brown, 2006), giá trị của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức và quản lý quan hệ khách hàng (Ruvio và cộng sự, 2017)

Trang 27

Trong nghiên cứu này, quan điểm nền tảng nguồn lực là nền tảng để giải thích tầm ảnh hưởng của hệ thống ERP đến giá trị kinh doanh cũng như thành quả tổ chức Vì vậy, ta có giả thuyết H1:

Giả thuyết H1+: Hệ thống ERP có tác động tích cực đến giá trị kinh doanh của

CNTT trong tổ chức

Bên cạnh đó, theo một số nhà nghiên cứu (Hsu, 2013), những lợi ích của việc tích hợp CNTT của các ứng dụng kinh doanh như hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức có thể đạt được trên hai cấp độ: tích hợp hệ thống và tích hợp quy trình

2.2.3 Tích hợp hệ thống

Tích hợp hệ thống (SYI) đề cập đến mức độ mà một tổ chức tích hợp các hệ thống CNTT khác nhau của nó để tạo nên sự rõ ràng rành mạch cho dữ liệu khách hàng và nhà cung cấp, cho phép chia sẻ thông tin trực tuyến và thực hiện giao dịch trên chuỗi giá trị Nó đạt được bằng cách giải quyết kiểu dữ liệu và sự khác biệt ngữ nghĩa giữa nhiều cơ sở dữ liệu và tích hợp nhiều nền tảng phần cứng, công nghệ truyền thông và ứng dụng để làm việc liên tục (Broadbent và cộng sự 1999) Một tổ chức có mức tích hợp hệ thống cao có thể truyền, kết hợp và xử lý dữ liệu từ khách hàng và nhà cung cấp Các hệ thống bên ngoài và bên trong của nó có thể theo dõi trạng thái đơn đặt hàng ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình (ví dụ: sản xuất, giao hàng) và tự động phản ánh các thay đổi về thứ tự trong các quy trình hoặc hệ thống (ví dụ: hệ thống kiểm kê và sản xuất) Hơn nữa, tích hợp hệ thống cao sẽ mang lại sự dễ dàng chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống nội bộ khác nhau (ví dụ: dự báo, sản xuất, giao hàng, kế toán, ) và lấy thông tin từ nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau để hỗ trợ quyết định (ví dụ: thông tin chi phí, công cụ báo cáo) (Sikora và Shaw, 1998) Tất cả những yếu tố này góp phần trực tiếp vào khả năng trao đổi thông tin trực tuyến

Các nghiên cứu liên quan đến tích hợp hệ thống như: Mô hình tích hợp của tổ chức,

nỗ lực triển khai và thành quả (Barki và Pinsonneault, 2005), một cơ cấu tổ chức đa tác nhân cho sự phối hợp và tích hợp hệ thống thông tin, (Sikora và Shaw, 1998),

Trang 28

giá trị của hệ thống hoạch định nguôn lực tổ chức và quản lý quan hệ khách hàng (Ruvio và cộng sự, 2017).

Giá trị kinh doanh của tích hợp hệ thống là chất lượng dữ liệu và tích hợp dữ liệu Các tổ chức có thể làm việc thông minh hơn với dữ liệu vì nó loại bỏ việc nhập dữ liệu hai lần, tăng độ chính xác của dữ liệu, và dữ liệu sẽ hiển thị trên toàn tổ chức (Hsu, 2013) Vì vậy ta có giả thuyết H2:

Giả thuyết H2+: Tích hợp hệ thống có tác động tích cực đến giá trị kinh doanh của CNTT trong tổ chức

2.2.4 Tích hợp quy trình

Tích hợp quy trình (PRI) đại diện cho mức độ mà các quá trình kinh doanh của hai phòng ban được điều phối chặt chẽ và được chuẩn hóa thông qua hệ thống thông tin của tổ chức (Francalanci và Morabito, 2008) Các tổ chức có thể đưa ra quyết định nhanh hơn với ít hơn sai sót và hiểu biết sâu sắc hơn; hơn nữa, tự động hóa quy trình kinh doanh thông thường như liên hệ và tích hợp tài khoản, sản phẩm tích hợp, quản lý đặt hàng và báo giá, theo dõi hóa đơn (Roh và Hong, 2015) Tích hợp hệ thống là điều kiện tiên quyết và hỗ trợ quá trình tích hợp quy trình kinh doanh Tuy nhiên, hai phòng ban hoặc tổ chức con có thể đạt được mức độ cao của tích hợp hệ thống, nhưng mức độ tích hợp quy trình của họ có thể khác nhau do sự miễn cưỡng chia sẻ thông tin (Hsu, 2013) Các nghiên cứu cho thấy rằng chỉ khi tích hợp hệ thống và quy trình được đo lường kết hợp với nguồn lực CNTT của tổ chức thì chúng sẽ có tác động tích cực đến giá trị kinh doanh (Hsu, 2013)

Các nghiên cứu liên quan tới tích hợp quy trình như: Những tác động đến thành quả

tổ chức của khả năng tích hợp chuỗi cung ứng bằng kỹ thuật số (Rai và cộng sự (2006), giá trị của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức và quản lý quan hệ khách hàng (Ruvio và cộng sự, 2017)

Sự liên quan của quan điểm nền tảng nguồn lực đối với việc tích hợp quy trình chuỗi cung ứng trở nên rõ ràng do sự tham gia của cả các nguồn lực nội bộ và bên ngoài (Haozhe Chen và cộng sự, 2009) Vì vậy, ta có giả thuyết H3:

Trang 29

Giả thuyết H3+: Tích hợp quy trình có tác động tích cực đến giá trị kinh doanh của CNTT trong tổ chức

2.2.5 Thành quả tổ chức

Thành quả tổ chức (FIP) đề cập đến hiệu quả hoạt động tài chính và hoạt động của

tổ chức đó (Venkatraman và Ramanujam, 1986) Nghiên cứu trước đây đã sử dụng một số chỉ số để đo lường thành quả của tổ chức Các chỉ số này rơi vào ba danh mục chung: tài chính, hiệu quả và các loại khác Các chỉ tiêu tài chính bao gồm các đơn vị thường được sử dụng như lợi tức đầu tư (ROI), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, ROS, doanh thu (Rai và cộng sự, 2006) và bán hàng Các chỉ số này thường có thể cho thấy khả năng của tổ chức trong việc tạo ra lợi nhuận Ngoài các chỉ số tài chính, nghiên cứu hiện nay cũng sử dụng các chỉ số liên quan đến hiệu quả để kiểm tra tác động của hệ thống thông tin đối với hiệu quả hoạt động như năng suất, giảm chi phí bao gồm giá vốn hàng bán (COG/S),… (Wang và cộng sự, 2006)

Các nghiên cứu liên quan đến thành quả tổ chức như: Những tác động đến thành quả tổ chức của khả năng tích hợp chuỗi cung ứng bằng kỹ thuật số (Rai và cộng sự (2006), mô hình tích hợp của tổ chức, nỗ lực triển khai và thành quả (Barki và cộng

sự, 2005)

Để mở rộng cho mối quan hệ giữa hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức và thành quả tổ chức, theo Agarwal và Dhar (2014) mối quan hệ giữa giá trị kinh doanh và thành quả tổ chức cũng là một trong những vấn đề then chốt cho sự điều tra tiềm năng Nghiên cứu ban đầu về giá trị kinh doanh của CNTT tập trung vào tác động đến thành quả tổ chức, bao gồm giảm chi phí, tăng lợi nhuận, năng suất cao hơn và lợi thế cạnh tranh (Kiron, 2017) Vì vậy, ta có giả thuyết H4:

Giả thuyết H4+: Giá trị kinh doanh của CNTT trong tổ chức có tác động tích cực tới thành quả tổ chức

Trang 30

Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu Tóm tắt chương 2

Chương 2 đã trình bày các cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu này, đó là các khái niệm

về hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức, giá trị kinh doanh của CNTT, quan điểm nền tảng nguồn lực, tích hợp hệ thống, tích hợp quy trình, thành quả tổ chức Đồng thời trình bày khái quát một số nghiên cứu liên quan và đề xuất mô hình nghiên cứu Các nội dung này là cơ sở nền tảng hỗ trợ cho việc hình thành thang đo và phương pháp thực hiện nghiên cứu trong chương 3

Trang 31

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu thực hiện Mục đích làm rõ trình tự thực hiện nghiên cứu, đưa ra phương pháp xử lý dữ liệu thu thập được và các tiêu chí để đánh giá kết quả khảo sát

3.1 Quy trình nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu được mô tả trong hình Nghiên cứu được tiến hành đầu tiên bằng việc xác định vấn đề nghiên cứu, đưa ra cơ sở lý thuyết để đề xuất mô hình nghiên cứu Thang đo thử nghiên cứu sơ bộ với 60 mẫu Mục đích là kiểm tra sự phù hợp của thang đo đối với nghiên cứu này

3.1.1 Nghiên cứu sơ bộ

Trong nghiên cứu sơ bộ, trên cơ sở nghiên cứu mô hình lý thuyết và dựa trên mô hình nghiên cứu đề xuất, tác giả hình thành thang đo sơ bộ cho nghiên cứu và tiến hành khảo sát sơ bộ với số lượng mẫu là 60 mẫu

Trong năm biến quan sát, mỗi biến sẽ được nêu thành từ năm đến sáu phát biểu tương ứng để người thực hiện khảo sát thể hiện ý kiến đánh giá của mình Dữ liệu sau khi thu thập được sẽ được làm sạch bằng phần mềm SPSS 20, thực hiện kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng kỹ thuật phân tích Cronbach’s Alpha với tiêu chuẩn các biến có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0,3 được đánh giá là không

có giá trị đo lường và bị loại ra khỏi mô hình Thang đo có hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,6 sẽ được chấp nhận (Gerbing và Anderson, 1988)

Trang 32

Bước 2: Tất cả dữ liệu được thu thập sẽ được làm sạch, loại bỏ những dữ liệu không đạt yêu cầu, sau đó đưa vào phần mềm SPSS 20.0 để tiến hành phân tích, kiểm định

mô hình

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu

Bước 3: Sử dụng phần mềm SPSS để phân tích hệ số tin cậy nhằm đánh giá sơ bộ thang đo, loại bỏ những biến quan sát không đạt yêu cầu Hệ số Cronbach’s Alpha

là một hệ số kiểm định thống kê về mức độ tin cậy và tương quan giữa các biến trong thang đo, những biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0,3 được đánh giá là không có giá trị đo lường và loại ra khỏi mô hình (Gerbing và Anderson, 1988) Thang đo có hệ số Cronbach’s Alpha hơn 0,6 sẽ được chấp nhận (Hair và cộng sự, 2018)

Trang 33

Bước 4: Sau khi loại đi các biến không đảm bảo độ tin cậy bằng kỹ thuật phân tích Cronbach’s Alpha, tiếp tục thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA để thu nhỏ

và tóm tắt các dữ liệu Phương pháp phân tích này rất hữu ích cho việc xác định tập hợp các biến cần thiết cho vấn đề nghiên cứu và tìm mối quan hệ giữa các biến với nhau Để có thể sử dụng phương pháp này đạt hiệu quả, trước tiên phải kiểm tra sự phù hợp của phương pháp này đối với đề tài nghiên cứu Theo Hair và cộng sự (2018), giá trị KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) nằm giữa 0,5 đến 1 có nghĩa là đề tài sử dụng phương pháp này là phù hợp, còn nếu trị số này nhỏ hơn 0,5 thì phương pháp phân tích này có khả năng không phù hợp với dữ liệu

Bước 5: Tiến hành phân tích hệ số tương quan giữa các biến sau khi đã thực hiện phân tích nhân tố khám phá ở bước bốn Hệ số tương quan là một chỉ số thống kê

đo lường mối liên hệ tương quan giữa hai biến số Hệ số tương quan có giá trị từ -1 đến 1 Hệ số tương quan bằng 0 (hay gần 0) có nghĩa là hai biến số không có liên hệ

gì với nhau, ngược lại nếu hệ số bằng -1 hay 1 có nghĩa là hai biến số có một mối liên hệ tuyệt đối Nếu giá trị của hệ số tương quan là âm (r < 0) có nghĩa là khi giá trị của biến này tăng cao thì giá trị của biến kia giảm (và ngược lại, khi giá trị của biến này giảm thì giá trị của biến kia tăng); nếu giá trị hệ tương quan là dương (r > 0) có nghĩa là khi giá trị của biến này tăng cao thì giá trị của biến kia cũng tăng, và ngược lại khi giá trị của biến này giảm thì giá trị của biến kia cũng giảm theo Bước 6: Sau khi phân tích hệ số tương quan, dữ liệu sẽ được đưa vào phân tích hồi quy đa biến với mức ý nghĩa là 5% nhằm kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu, bao gồm kiểm định các giả thuyết để xác định mức độ ảnh hưởng của từng biến độc lập tác động đến biến trung gian và kiểm định giả thuyết để xác định mức

độ ảnh hưởng của biến trung gian đến biến kết quả trong mô hình nghiên cứu

3.1.3 Xây dựng thang đo và bộ câu hỏi

Thang đo đầy đủ được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây Các khái niệm và tham chiếu mô hình nghiên cứu đề xuất được thể hiện trong bảng 3.1

Trang 34

Bảng 3.1 Các khái niệm và tham chiếu mô hình nghiên cứu đề xuất

dự kiến Diễn giải tham chiếu

1 Tích hợp quy trình 5 Rai và cộng sự (2006); Ruvio và cộng sự

đo Likert năm mức độ và các biến quan sát được thể hiện như trong bảng 3.2

Bảng câu hỏi được xây dựng trên thang đo nghiên cứu và sử dụng làm phiếu khảo sát Mỗi phiếu khảo sát có hai phần:

- Phần một là thông tin cá nhân, về các yếu tố nhân khẩu học, bao gồm: giới tính,

độ tuổi, trình độ học vấn, bộ phận, chức vụ, kinh nghiệm, phân hệ ERP sử dụng, nhà cung cấp ERP

- Phần hai là đánh giá, hỏi về những những yếu tố liên quan đến nghiên cứu Trong đó các mức độ đồng ý được thể hiện như sau: [1] Hoàn toàn không đồng ý; [2] Không đồng ý; [3] Không có ý kiến; [4] Đồng ý; [5] Hoàn toàn đồng ý

Trang 35

Bảng 3.2 Biến đo lường và mã biến

Tổ chức chia sẻ thông tin về nhu cầu và đưa ra dự báo đến các bên liên quan PRI3

Hệ thống

ERP

(ERP)

Tích hợp

hệ thống

(SYI)

Giá trị

kinh doanh

của CNTT

(ITB)

Thành quả

tổ chức

(FIP)

Trang 36

3.1.4 Kích thước mẫu

Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện Kích thước mẫu áp dụng trong nghiên cứu này dựa theo yêu cầu của phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích hồi quy

đa biến, cụ thể như sau:

Đối với phân tích nhân tố khám phá EFA, theo Hair và cộng sự (2018), cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được tính theo công thức N = 5n (n là số biến quan sát) Đối với phân tích hồi quy đa biến, theo Tabachnick và Fidell (2012), cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được tính theo công thức là N = 50 + 8m (m là số thành phần độc lập)

3.1.5 Đối tượng lấy mẫu

Nhà quản lý các cấp của tổ chức và tổ chức có sử dụng phần mềm ERP tại Việt Nam

3.1.6 Phương pháp lấy mẫu

Phiếu khảo sát được gửi trực tiếp thông qua biểu mẫu của google tới các tổ chức có

sử dụng ERP

Tóm tắt chương 3

Chương 3 đã đưa ra thang đo dự kiến sử dụng trong nghiên cứu này Chương này cũng đã cho biết quy trình thực hiện nghiên cứu Phương pháp thực hiện nghiên cứu được sử dụng là phân tích độ tin cậy, phân tích nhân tố khám phá, phân tích tương quan, phân tích hồi quy đa biến

Trang 37

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 4 sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để xử lý dữ liệu thu thập được theo quy trình nghiên cứu đã đưa ra ở chương 3 Sau đó đưa ra kết quả và thảo luận kết quả đạt được

4.1 Thống kê mô tả

Số mẫu khảo sát hợp lệ là 162 mẫu trên 185 mẫu thu được Như kết quả thống kê

mô tả trong bảng 4.1, tỷ lệ nam và nữ không quá chênh lệch là 51,2% và 48,8% cho thấy tỷ lệ tiếp xúc với ERP của cả hai giới là tương đương nhau Độ tuổi của các đối tượng khảo sát nằm trong khoảng từ 22 đến 25 tuổi là nhiều nhất với 61,7%, tiếp theo là từ 26 đến 30 tuổi chiếm 21%, từ 31 đến 40 tuổi chiếm 17,3%, không có đối tượng nào trên 40 tuổi Qua đó thấy được rằng đối tượng tiếp cận khảo sát đa số là những người trẻ dưới 30 tuổi có khả năng học hỏi, tiếp thu công nghệ thông tin cao Trình độ học vấn của số người tham gia khảo sát chủ yếu là đại học với 84,6%, cao thứ hai là sau đại học chiếm tỷ lệ 13%, trung cấp chiếm 2,5%, không có đối tượng nào có trình độ cao đẳng Khảo sát về trình độ học vấn chỉ ra được rằng đối tượng phần lớn là người có trình độ chuyên môn, có đầy đủ khả năng và kiến thức để đánh giá mô hình nghiên cứu

Bộ phận công nghệ thông tin chiếm tỷ lệ cao nhất là 49,4% trong tất cả các bộ phận được khảo sát, tiếp theo là tiếp thị/bán hàng chiếm 27,2%, tài chính/kế toán chiếm 14,8%, sản xuất/sản phẩm chỉ chiếm 8,6%, không có đối tượng nào thuộc các bộ phận khác Có thể thấy được bộ phận khảo sát nằm hầu hết ở các khâu có khả năng

sử dụng công nghệ cao phục vụ cho công việc của nhân viên

Đối với chức vụ, quản lý cấp thấp chiếm tỷ lệ cao nhất với 59,3%, cấp trung chiếm 37,7%, cấp cao chỉ chiếm 3,1% Vì độ tuổi của đối tượng khảo sát đa số còn khá trẻ nên tỷ lệ quản lý cấp thấp và trung chiếm phần lớn trong khảo sát nghiên cứu

Đối với kinh nghiệm, người có kinh nghiệm từ 1 đến 3 năm chiếm tỷ lệ cao nhất với 67,9% phần trăm, tỷ lệ người có kinh nghiệm trên 9 năm chiếm 16,7%, từ 4 đến 6

Trang 38

năm là 15,4%, không có đối tượng nào có kinh nghiệm từ 7 đến 9 năm Như vậy, khảo sát đa số được thực hiện bởi những người có kinh nghiệm từ 1 đến 3 năm

Bảng 4.1 Bảng mô tả thông tin mẫu khảo sát

Trang 39

Phân hệ ERP sử dụng trong các tổ chức được khảo sát nhiều nhất là tài chính/kế toán chiếm 41,1%, phân hệ sản xuất chiếm 29,3%, chuỗi cung ứng chiếm 26,4%, ít nhất là phân hệ nhân sự với 3,3% Đối tượng khảo sát đa số sử dụng các phân hệ ERP phổ biến như tài chính/kế toán, chuỗi cung ứng, sản xuất,…

Nhà cung cấp ERP chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các nhà cung cấp hiện nay với 33,1% là SAP, được lựa chọn nhiều thứ hai là các nhà cung cấp trong nước như: FPT, Lạc Việt, Fast, Misa, SS4U,… với 30,9% , cao thứ ba là Microsoft Dynamic với 16,3%, Oracle chiếm 10,1% , Odoo chiếm 5,6%, còn lại là các nhà cung cấp khác với 3,9% Từ đó có thể thấy được các phần mềm ERP từ SAP đang được ưa chuộng nhất trong số các tổ chức được khảo sát, tiếp đến là phần mềm của các nhà cung cấp trong nước với tỷ lệ không chênh lệch nhiều so với SAP, còn lại là các phần mềm đến từ các nhà cung cấp khác với tỷ lệ không cao

4.2 Xử lý thang đo và mô hình

4.2.1 Nghiên cứu sơ bộ

Như quy trình đưa ra, trong nghiên cứu sơ bộ, nghiên cứu này chỉ thực hiện độ tin cậy trên 60 mẫu thử để kiểm tra sự phù hợp của thang đo đối với nghiên cứu Kết quả nghiên cứu sơ bộ được tổng hợp trong bảng 4.2

Tích hợp quy trình (PRI) gồm có năm biến (PRI1, PRI2, PRI3, PRI4, PRI5) Phân tích độ tin cậy thì bốn biến quan sát của PRI (PRI1, PRI2, PRI3, PRI4) đều có hệ số tương quan biến tổng đạt yêu cầu (> 0,3) nên được chấp nhận, chỉ có biến quan sát PRI5 có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0,3 (0,266) nên loại biến PRI5 Sau khi loại bỏ PRI5, theo bảng 4.2, phân tích độ tin cậy với bốn biến quan sát (PRI1, PRI2, PRI3, PRI4) khi này hệ số Cronbach’s Alpha là 0,803 (> 0,6) nên thang đo đạt yêu cầu, được đưa vào các phân tích tiếp theo

Hệ thống ERP (ERP) gồm có ba biến (ERP1, ERP2, ERP3) Phân tích độ tin cậy thì

ba biến quan sát của ERP (ERP1, ERP2, ERP3) đều có hệ số tương quan biến tổng đạt yêu cầu (> 0,3) nên được chấp nhận Theo bảng 4.2, phân tích độ tin cậy với ba

Trang 40

biến quan sát (ERP1, ERP2, ERP3) khi này hệ số Cronbach’s Alpha là 0,849 (> 0,6) nên thang đo đạt yêu cầu, được đưa vào các phân tích tiếp theo

Bảng 4.2 Kết quả phân tích độ tin cậy nghiên cứu sơ bộ

Biến quan sát

Giá trị trung bình nếu loại biến

Phương sai nếu loại biến

Tương quan biến tổng

Cronbach’s Alpha nếu loại biến

Cronbach’s Alpha

Ngày đăng: 20/09/2020, 12:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w