Chính những món nợ quá hạn cũ chưa được xử lý dứt điểm đã dẫn đến việc ngân hàng đã mất một khoản lợi nhuận không nhỏ cho việc trích lập dự phòng và trong giai đoạn khó khăn như hiện nay
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HCM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS., TS NGÔ HƯỚNG
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Nguyễn Thị Như Ý
16 tháng 05 năm 1988 - Quảng Ngãi
Q : Đức Lân, Mộ Đức, Quảng Ngãi
Quân Đội Chi nhánh An Phú
.HCM
: 020113110287
: “Xử lý nợ quá hạn tại Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Quân Đội Chi nhánh An Phú”
: PGS., TS Ngô Hướng
TP.Hồ Chí Minh
Đề tài này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chưa được công bố toàn bộ nội dung này bất kỳ ở đâu, các số liệu, các nguồn trích dẫn trong luận văn được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi
08 10 năm 2013
Nguyễn Thị Như Ý
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG, BIỂU VÀ SƠ ĐỒ vii
LỜI MỞ ĐẦU viii
CHƯƠNG 1 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN TẠI CÁC NGÂN HÀNG 1
1.1 TỔNG QUAN VỀ NỢ QUÁ HẠN 1
1.1.1 Khái niệm nợ quá hạn, tỷ lệ nợ quá hạn 1
1.1.1.1 Khái niệm nợ quá hạn 1
1.1.1.2 Khái niệm tỷ lệ nợ quá hạn 1
1.1.2 Phân loại nợ quá hạn 2
1.1.2.1 Phân loại nợ quá hạn theo nhóm nợ 2
1.1.2.2 Phân loại nợ quá hạn theo hình thức đảm bảo 3
1.1.2.3 Một số hình thức phân loại khác 4
1.1.3 Các nguyên nhân phát sinh nợ quá hạn 5
1.1.3.1 Nhóm nguyên nhân khách quan 5
1.1.3.2 Nhóm nguyên nhân chủ quan từ phía khách hàng 6
1.1.3.3 Nhóm nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng 8
1.1.4 Ảnh hưởng của nợ quá hạn 10
1.1.4.1 Ảnh hưởng đến ngân hàng 11
1.1.4.2 Ảnh hưởng đến khách hàng 12
1.1.4.3 Ảnh hưởng đến nền kinh tế 13
1.2 XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN TẠI CÁC NGÂN HÀNG 14
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và nguyên tắc xử lý nợ quá hạn 14
1.2.1.1 Khái niệm 14
1.2.1.2 Đặc điểm của xử lý nợ quá hạn 14
1.2.1.3 Các nguyên tắc xử lý nợ quá hạn 15
1.2.2 Các biện pháp xử lý nợ quá hạn 17
Trang 51.2.2.1 Cơ cấu lại thời hạn trả nợ 17
1.2.2.2 Xử lý tài sản đảm bảo 17
1.2.2.3 Xử lý nợ qua AMC 18
1.2.2.4 Khởi kiện 19
1.2.2.5 Một số hình thức khác 19
1.3 KINH NGHIỆM XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN CỦA MỘT SỐ NƯỚC 20
1.3.1 Kinh nghiệm xử lý NQH tại Hàn Quốc 20
1.3.2 Kinh nghiệm xử lý NQH tại Trung Quốc 21
1.3.3 Kinh nghiệm xử lý nợ của một số ngân hàng thương mại Việt Nam 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2 25
THỰC TRẠNG XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI CHI NHÁNH AN PHÚ 25
2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI CN AN PHÚ 25
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 25
2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Quân Đội 25
2.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của MB An Phú 26
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 27
2.1.2.1 Bộ máy tổ chức 27
2.1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban 27
2.1.3 Sơ lược tình hình hoạt động của MB An Phú 29
2.1.3.1 Các hoạt động chính của MB An Phú 29
2.1.3.2 Một số kết quả kinh doanh đạt được 29
2.2 THỰC TRẠNG XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI CHI NHÁNH AN PHÚ 33
2.2.1 Thực trạng nợ quá hạn 33
2.2.1.1 Tổng nợ quá hạn 33
2.2.1.2 NQH phân theo nhóm nợ 34
2.2.1.3 NQH phân theo tài sản đảm bảo 37
2.2.1.4 NQH phân theo chủ thể vay vốn 39
2.2.1.5 NQH phân theo thời hạn vay 42
Trang 62.2.2 Nguyên nhân phát sinh nợ quá hạn 44
2.2.2.1 Nguyên nhân từ bên ngoài 44
2.2.2.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng 45
2.2.2.3 Nguyên nhân từ nội bộ ngân hàng 48
2.2.3 Ảnh hưởng của NQH đến MB An Phú 51
2.2.3.1 Giảm lợi nhuận của ngân hàng 51
2.2.3.2 Ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng 52
2.2.3.3 Ảnh hưởng đến vị thế và uy tín của ngân hàng 52
2.2.3.4 Ảnh hưởng đến đời sống, tâm lý cán bộ nhân viên 53
2.2.4 Các biện pháp xử lý NQH được áp dụng tại MB An Phú 53
2.2.4.1 Cơ cấu lại thời hạn trả nợ 53
2.2.4.2 Xử lý tài sản đảm bảo 57
2.2.4.3 Xử lý nợ thông qua MBAMC 61
2.2.4.4 Khởi kiện 64
2.2.5 Đánh giá hoạt động xử lý NQH tại MB An Phú 66
2.2.5.1 Những mặt tích cực 66
2.2.5.2 Những mặt hạn chế 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 70
CHƯƠNG 3 71
KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO KẾT QUẢ XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI CHI NHÁNH AN PHÚ 71
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI CHI NHÁNH AN PHÚ 71
3.1.1 Định hướng về hoạt động kinh doanh 71
3.1.2 Định hướng về xử lý nợ quá hạn 72
3.2 KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT 73
3.2.1 Đối với nhà nước 73
3.2.1.1 Tạo môi trường kinh tế ổn định, lành mạnh 73
3.2.1.2 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lý nợ quá hạn 74
3.2.1.3 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm soát của NHNN 77
3.2.2 Đối với hệ thống MB 78
Trang 73.2.2.1 Hoàn thiện các quy định của MB về xử lý nợ quá hạn 78
3.2.2.2 Tăng cường kiểm tra, kiểm soát nội bộ 79
3.2.2.3 Nâng cao vai trò của bộ phận pháp chế trong xử lý nợ quá hạn 80
3.2.2.4 Tăng cường vai trò của MBAMC 81
3.3.3 Đối với chi nhánh An Phú 82
3.3.3.1 Thực hiện đào tạo kiến thức xử lý nợ cho nhân viên 82
3.3.3.2 Nâng cao chất lượng hoạt động của ban xử lý nợ 84
3.3.3.3 Nâng cao phẩm chất, đạo đức của cán bộ tín dụng 85
3.3.3.4 Nâng cao năng lực thẩm định của nhân viên 86
3.3.3.5 Cung cấp dịch vụ tư vấn kinh doanh cho khách hàng 87
3.3.3.5 Đa dạng hóa các biện pháp xử lý nợ 88
3.3.3.6 Nâng cao chất lượng thông tin tín dụng 90
3.3.3.7 Tăng cường phân tích, phân loại NQH theo định kỳ 92
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 94
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 1 100
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CHỌN LỰA PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN 100
PHỤ LỤC 2 101
CƠ CHẾ HỖ TRỢ CỦA MB KHI XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN 101
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
14 VAMC Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Quản lý
tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
Trang 9DANH MỤC BẢNG, BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
1 Bảng 2.1: Một số kết quả kinh doanh của MB An Phú từ năm 2010
2 Bảng 2.2: Tổng quan về NQH của MB An Phú từ 2010 – 2012 33
5 Bảng 2.5: cơ cấu NQH phân theo chủ thể vay vốn 40
7 Bảng 2.7: Xử lý NQH theo phương án cơ cấu nợ 55
8 Biểu đồ 2.1: Tổng NQH tại MB An Phú từ năm 2010 – 2012 34
9 Biểu đồ 2.2: Diễn biến tình hình NQH theo nhóm nợ tại MB An Phú 36
10 Biểu đồ 2.3: Cơ cấu NQH theo tài sản đảm bảo 38
11 Biểu đồ 2.4: Cơ cấu TSĐB của các khoản NQH năm 2012 39
12 Biểu đồ 2.5: Cơ cấu NQH phân theo thời hạn vay 43
13 Biểu đồ 2.6: Xử lý NQH theo phương án cơ cấu thời hạn trả nợ 55
14 Biểu đồ 2.7: Tỷ lệ thu hồi nợ từ xử lý các TSĐB 59
16 Sơ đồ 2.2: Quy trình cơ cấu thời hạn trả nợ tại MB An Phú 54
19 Sơ đồ 2.5: Quy trình xử lý nợ bằng hình thức khởi kiện 64
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2012 có lẽ là năm mà ngành ngân hàng được báo chí quan tâm và nhắc đến nhiều nhất bởi những biến động liên tục của các ngân hàng Từ sự thay đổi nhân sự cấp cao của những ngân hàng lớn đến việc sa thải nhân viên hàng loạt của các ngân hàng nhỏ, hay vấn đề lương thưởng, các vụ bê bối về đạo đức tín dụng… Tất cả sự biến động này tạo nên một bức tranh toàn cảnh về hoạt động của ngân hàng với những khó khăn và thách thức Trong đó, nợ quá hạn là một trong những thách thức lớn nhất hiện nay mà các ngân hàng phải đối mặt
Cũng trong năm 2012, khi nhà nước có quy định về chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng làm cho không ít ngân hàng xôn xao và lo lắng sự tăng trưởng tín dụng của ngân hàng mình sẽ vượt trần tăng trưởng mà nhà nước giao cho Tuy nhiên, đến năm 2013 dù chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng nhà nước giao thấp hơn so với năm 2012 nhưng các ngân hàng lại rất bàng quan với chỉ tiêu này Bởi rất nhiều ngân hàng muốn phát triển hoạt động tín dụng nhưng dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước trong yêu cầu về phân loại nợ, trích lập dự phòng đối với các khoản nợ quá hạn đã khiến các ngân hàng trở nên thận trọng hơn trước khi cho vay Chính những món
nợ quá hạn cũ chưa được xử lý dứt điểm đã dẫn đến việc ngân hàng đã mất một khoản lợi nhuận không nhỏ cho việc trích lập dự phòng và trong giai đoạn khó khăn như hiện nay nếu tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng sẽ dễ có phát sinh
nợ quá hạn mới và dự phòng trích lập lại phải tăng thêm, làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng
Tuy nhiên, cho vay là một trong những hoạt động chính mang lại lợi nhuận cho ngân hàng nên khi ngân hàng không có sự tăng trưởng tín dụng hoặc tăng trưởng thấp thì lợi nhuận của ngân hàng cũng sẽ thấp Đây có lẽ là một vòng tròn
bế tắc cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng nếu như vấn đề về nợ quá hạn không được giải quyết
Do đó, xuất phát từ thực tế cấp bách trong việc xử lý nợ quá hạn của các ngân
hàng, tôi đã chọn đề tài “Xử lý nợ quá hạn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội – Chi nhánh An Phú” làm đề tài nghiên cứu
Trang 112 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Nợ quá hạn là đề tài đã được nghiên cứu ở nhiều luận văn, đồ án trong thời gian qua như đề tài “Giải pháp xử lý và ngăn ngừa nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tình Trà Vinh” của tác giả Trần Thị Hồng Thắm công bố vào năm 2012 đã chỉ ra những nguyên nhân gây ra nợ quá hạn và biện pháp xử lý cũng như phòng ngừa chung đối với nợ quá hạn [11]
Trong nghiên cứu khoa học của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương về đề tài
“Pháp luật về xử lý nợ quá hạn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
ở Việt Nam” đã chỉ rõ những bất cập khi áp dụng pháp luật về xử lý nợ quá hạn trong hoạt động cho vay của các ngân hàng và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lý nợ quá hạn [5]
Như vậy, có thể thấy các công trình nghiên cứu đã có những đóng góp quan trọng vào việc nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của vấn đề nợ quá hạn Ngoài những nghiên cứu này còn có rất nhiều bài viết, các nghiên cứu khác làm rõ tình hình nợ quá hạn đang diễn ra ở các ngân hàng Tuy nhiên, việc nghiên cứu hầu hết tập trung vào thực trạng của nợ quá hạn để đưa ra biện pháp xử lý mà chưa thực sự nghiên cứu sâu về những phương pháp xử lý nợ quá hạn mà các ngân đang áp dụng
để thấy được những tích cực và hạn chế của những giải pháp này Và Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần (TMCP) Quân Đội là một trong những ngân hàng thực hiện việc phòng ngừa cũng như xử lý nợ quá hạn khá tốt nhưng chưa có đề tài nào thực hiện nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này Do đó, đây là đề tài đầu tiên thực hiện việc nghiên cứu về hoạt động xử lý nợ tại một chi nhánh của Ngân hàng TMCP Quân Đội
3 Mục tiêu nghiên cứu và tính mới của đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu các lý luận cơ bản về xử lý nợ quá hạn của ngân hàng, kinh nghiệm xử lý nợ quá hạn của các nước khác cũng như thực trạng
xử lý nợ quá hạn đang phát sinh tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh An Phú nhằm làm rõ những mặt tích cực và những điểm còn hạn chế trong việc xử lý
nợ quá hạn hiện nay của ngân hàng Trên cơ sở đó đề ra các giải pháp và kiến nghị
để việc xử lý nợ quá hạn của ngân hàng đạt kết quả tốt hơn
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những lý luận về nợ quá hạn và xử lý nợ quá hạn cũng như thực tiễn xử lý nợ quá hạn của Ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh (CN) An Phú
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động xử lý nợ quá hạn của Ngân hàng TMCP Quân Đội – CN An Phú trong giai đoạn 2010 - 2012
5 Phương pháp nghiên cứu
Từ việc thu thập thông tin và dữ liệu từ các nguồn khác nhau luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, diễn dịch, quy nạp…
6 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và các tài liệu tham khảo thì luận văn được kết cấu bao gồm 3 chương như sau:
Chương 1 Lý luận chung về xử lý nợ quá hạn tại các ngân hàng
Chương 2 Thực trạng xử lý nợ quá hạn của Ngân hàng TMCP Quân Đội Chi nhánh
An Phú
Chương 3 Kiến nghị và đề xuất nâng cao kết quả xử lý nợ quá hạn của Ngân hàng
TMCP Quân Đội Chi nhánh An Phú
Trang 13CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN TẠI CÁC
NGÂN HÀNG
1.1 TỔNG QUAN VỀ NỢ QUÁ HẠN
1.1.1 Khái niệm nợ quá hạn, tỷ lệ nợ quá hạn
1.1.1.1 Khái niệm nợ quá hạn
Trong cụm từ “nợ quá hạn” thì “hạn” được hiểu là thời hạn, thời gian trả nợ,
“quá” nghĩa là vượt qua định mức, quy định, thỏa thuận ban đầu và “nợ” là số tiền gốc hoặc lãi hoặc cả gốc và lãi phát sinh giữa người cho vay và người đi vay Do đó
nợ quá hạn (NQH) là số tiền gốc hoặc lãi hoặc cả gốc lẫn lãi đã vượt qua thời gian trả nợ theo thỏa thuận ban đầu giữa người đi vay và người cho vay
Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN thì NQH được định nghĩa là khoản
nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc hoặc lãi hoặc cả gốc và lãi đã quá hạn [19] Cụ thể hơn thì NQH chính là các khoản nợ mà khi đến kỳ hạn trả nợ gốc hoặc lãi, nếu khách hàng không trả nợ đúng hạn và không được điều chỉnh kỳ hạn nợ gốc hoặc lãi hoặc không được gia hạn nợ gốc hoặc lãi thì số nợ đến hạn phải chuyển sang NQH và người đi vay phải chịu lãi phạt quá hạn với số tiền chậm trả
Như vậy, NQH trong hoạt động kinh doanh (HĐKD) của ngân hàng chính là khoản nợ mà người đi vay đến hạn phải thanh toán cho ngân hàng, tuy nhiên vì lý
do nào đó mà người đi vay không thể thực hiện được nghĩa vụ đã cam kết
1.1.1.2 Khái niệm tỷ lệ nợ quá hạn
Tỷ lệ NQH là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa tổng số NQH so với tổng
dư nợ của ngân hàng Cụ thể:
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng nợ quá hạn
x 100 Tổng dư nợ
Ý nghĩa chỉ tiêu này: Trong 100 đồng nợ vay của ngân hàng thì có bao nhiêu đồng nợ quá hạn Đây là chỉ tiêu phản ánh tình hình NQH tại ngân hàng, đồng thời phản ánh trình độ quản lý của ngân hàng trong quá trình từ lúc cho vay đến khi thu hồi nợ Theo quy định hiện nay của Ngân hàng Nhà Nước (NHNN) khi tỷ lệ nợ xấu,
Trang 14NQH thuộc nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 – của ngân hàng trên 3% thì ngân hàng đó bắt buộc phải thực hiện xử lý nợ qua Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) [15]
Tỷ lệ NQH càng cao thì đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng đó càng kém, vì vậy tỷ lệ NQH là một trong những chỉ tiêu được dùng để đánh giá chất lượng tín dụng của mỗi ngân hàng Nhưng chỉ tiêu này chỉ mang tính tương đối vì NQH và tổng dư nợ của ngân hàng được xác định tại một thời điểm nào đó nên chỉ tiêu này là chỉ tiêu thời điểm, không phản ánh hết bản chất tín dụng của ngân hàng
Nếu xét về bản chất của NQH thì ta có thể tính NQH theo công thức trên, tuy nhiên tổng nợ quá hạn lúc này được tính là tổng giá trị của tất cả các khoản nợ đã phát sinh quá hạn trong khoảng thời gian nghiên cứu, kể cả khi khoản nợ đó đã được tất toán và tổng dư nợ là các khoản dư nợ đã tồn tại hoặc phát sinh trong khoản thời gian nghiên cứu
Tuy nhiên, cách tính toán này khá phức tạp nên người ta không sử dụng để tính tỷ lệ NQH trong các ngân hàng thương mại
1.1.2 Phân loại nợ quá hạn
Có nhiều cách thức phân loại NQH khác nhau và tùy theo từng trường hợp
mà các ngân hàng có thể phân loại NQH theo các tiêu chí nhất định Trong đó, một
số tiêu chí phân loại nợ phổ biến hiện nay đó là phân loại nợ theo thời gian vay vốn, theo hình thức đảm bảo, thời gian quá hạn, chủ thể vay vốn…
1.1.2.1 Phân loại nợ quá hạn theo nhóm nợ
Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005 đã hướng dẫn cụ thể việc phân loại nợ vào các nhóm nợ theo thời gian quá hạn và những tiêu chí định tính khác [19] Cụ thể:
- Nợ nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ trong hạn được đánh giá có khả năng thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn; các khoản nợ có thể phát sinh trong tương lai như các khoản bảo lãnh, cam kết cho vay, chấp nhận thanh toán; các khoản nợ được đánh giá là có khả năng thu hồi nợ gốc, lãi đúng hạn theo thời hạn đã được cơ cấu lại
Trang 15- Nợ nhóm 2: Nợ cần chú ý, bao gồm NQH dưới 90 ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ Nợ nhóm 2 còn bao gồm các khoản nợ được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ
- Nợ nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm các khoản nợ có thời gian quá hạn dưới 180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả NQH dưới 90 ngày và các khoản nợ được đánh giá là không có khả năng thu hồi gốc và lãi khi đến hạn
- Nợ nhóm 4: Nợ nghi ngờ, bao gồm các khoản nợ có thời gian quá hạn dưới
360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả NQH dưới 180 ngày và các khoản nợ được đánh giá là có khả năng tổn thất cao
- Nợ nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn, bao gồm NQH trên 360 ngày; nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trên 180 ngày; nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý và các khoản
nợ được đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn
Phân loại nợ theo từng nhóm nợ là yêu cầu bắt buộc của NHNN vì vậy đây được xem là hình thức phân loại nợ phổ biến nhất ở các ngân hàng
1.1.2.2 Phân loại nợ quá hạn theo hình thức đảm bảo
Phân loại NQH theo hình thức đảm bảo cũng một trong những hình thức phân loại nợ phổ biến tại các ngân hàng nhằm đánh giá khả năng thu hồi nợ vay khi rủi ro tín dụng xảy ra Theo tiêu chí này, NQH được phân vào hai nhóm chính là nợ
có tài sản đảm bảo (TSĐB) và nợ không có tài sản đảm bảo
Nợ quá hạn có TSĐB là những khoản NQH mà ban đầu khi cho vay thì người đi vay có sử dụng tài sản (của chính người vay hoặc của bên thứ ba) thế chấp, cầm cố để đảm bảo cho khoản vay đó Trong trường hợp xảy ra NQH và cần xử lý TSĐB để thu hồi nợ vay thì ngân hàng có quyền phát mãi những TSĐB này để thu hồi nợ
Nợ quá hạn không có TSĐB là những khoản NQH mà ban đầu khi cho vay ngân hàng không yêu cầu người đi vay phải dùng tài sản để đảm bảo cho món vay Các món nợ này thường được áp dụng cho các khách hàng lớn, uy tín tốt, khả năng tài chính đảm bảo Do mức độ rủi ro mất vốn khá cao nên các ngân hàng thường thận trọng và hạn chế hình thức cấp tín dụng này
Trang 161.1.2.3 Một số hình thức phân loại khác
Ngoài các hình thức phân loại trên thì NQH còn có thể phân theo nhiều hình thức khác nhau như khả năng thu hồi vốn, theo chủ thể vay vốn hoặc theo loại tiền cho vay…
Trong đó, NQH phân theo khả năng thu hồi vốn sẽ được chia vào ba nhóm là NQH có khả năng thu hồi, NQH khó đòi và NQH có khả năng mất vốn NQH có khả năng thu hồi là những khoản nợ mà tại thời điểm phải thanh toán vì một lý do nào đó mà người vay vốn tạm thời chưa thể thanh toán được và việc chưa thanh toán này chỉ mang tính chất tạm thời, trong thời gian ngắn, người đi vay hoàn toàn
có khả năng thanh toán hết khoản nợ cho ngân hàng ngay sau đó NQH khó đòi là những khoản nợ mà người vay vốn đã không thanh toán gốc, lãi trong một thời gian dài và khả năng thu hồi nợ trong trường hợp này thường rất thấp, quá trình thu hồi
nợ phức tạp và gặp nhiều khó khăn Riêng các khoản nợ được xếp vào nhóm NQH
có khả năng mất vốn là những khoản nợ mà ngân hàng đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để thu hồi nợ nhưng vẫn không thể thu hồi một phần hoặc hoàn toàn bộ khoản nợ Khi đó ngân hàng sẽ đánh giá đây là những khoản nợ không có khả năng thu hồi và ngân hàng sẽ mất khoản vốn đã bỏ ra
Nếu phân theo chủ thể vay vốn thì NQH có thể được phân theo nhiều loại khác nhau do chủ thể vay vốn có nhiều loại chẳng hạn các cá nhân, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các hợp tác xã… Thông thường, khi phân loại NQH theo hình thức này các ngân hàng sẽ chia NQH theo hai chủ thể vay vốn là nợ quá hạn của khách hàng cá nhân (KHCN) và nợ quá hạn của khách hàng doanh nghiệp (KHDN) Xét về số lượng khách hàng quá hạn thì KHCN phát sinh NQH tại các ngân hàng thường nhiều hơn so với KHDN Tuy nhiên xét về tổng giá trị NQH thì NQH của các khách hàng doanh nghiệp cao hơn giá trị quá hạn của khách hàng
cá nhân (do giá trị vay vốn của khách hàng cá nhân thường không cao)
Ngoài ra, các ngân hàng cũng có thể phân loại NQH theo thời gian vay vốn
Có ba thời hạn vay chính là vay ngắn hạn, vay trung hạn và vay dài hạn Vay ngắn hạn là khoản vay có kỳ hạn nhỏ hơn hoặc bằng 12 tháng, vay trung hạn là khoản nợ vay có kỳ hạn từ 12 tháng đến 60 tháng và trên 60 tháng được xem là nợ vay dài
Trang 17hạn Theo đó, NQH sẽ được chia thành các nhóm là NQH các khoản vay ngắn hạn, NQH các khoản vay trung hạn và NQH các khoản vay dài hạn
Một hình thức phân loại nợ khác đó là phân loại NQH theo nguyên tệ cho vay Nghĩa là ngân hàng sẽ phân loại NQH dựa vào loại tiền cho vay là đồng Việt Nam hay là đồng ngoại tệ Do quy định của nhà nước về việc hạn chế cho vay bằng đồng ngoại tệ nên các ngân hàng hiện nay chủ yếu cho vay bằng đồng Việt Nam, do
đó NQH thường phát sinh chủ yếu ở loại tiền này
1.1.3 Các nguyên nhân phát sinh nợ quá hạn
NQH phát sinh có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân khác nhau và các ngân hàng thường xem xét nguyên nhân dẫn đến NQH là xuất phát từ sự ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan hay các yếu tố khách quan
1.1.3.1 Nhóm nguyên nhân khách quan
Trước hết, xét về sự biến động của nền kinh tế thì mỗi doanh nghiệp là một
tế bào của nền kinh tế, vì vậy những biến động của nền kinh tế sẽ ảnh hưởng ít hoặc nhiều đến các thành phần kinh tế trong xã hội đó Thực tiễn đã chứng minh những biến động về vàng, xăng dầu, giá cả… của kinh tế thế giới đã ảnh hưởng đến không
ít đơn vị kinh doanh ở Việt Nam Những cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, 2012
đã gây ra nhiều khó khăn cho HĐKD của các doanh nghiệp, cá nhân vay vốn thậm chí nhiều doanh nghiệp có khả năng phá sản, mất khả năng thanh toán cho ngân hàng Và NQH phát sinh trong những năm khủng hoảng này cao hơn rất nhiều lần
sự phát triển của nền kinh tế nước đó Bởi khi chế độ chính trị của một nước thay đổi thì các chủ trương, đường lối, chính sách quản lý của nước đó có thể thay đổi và các cuộc biểu tình, bạo loạn, đình công, khủng hoảng… cũng thường xảy ra Khi
Trang 18môi trường chính trị - xã hội không ổn định thì HĐKD trở nên khó khăn hơn, NQH phát sinh nhiều hơn
Bên cạnh đó, những quy định của pháp luật cũng có thể là nguyên nhân gây
ra NQH Quy định của pháp luật là cơ sở cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thực hiện, vì vậy nếu pháp luật quy định rõ ràng, cụ thể và phù hợp thì sẽ góp phần làm minh bạch hoạt động tín dụng ngân hàng, hạn chế được các rủi ro tín dụng có thể phát sinh Ngược lại, nếu quy định pháp luật không rõ ràng, nhiều vướng mắc, bất cập dễ dẫn đến tình trạng doanh nghiệp hoạt động không lành mạnh, lách luật…
và hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng có những khuất tất, tiềm ẩn nhiều rủi ro
Ngoài ra, sự thanh tra, giám sát của NHNN là một trong những nguyên nhân
có ảnh hưởng đến việc phát sinh NQH Trên thực tế công tác thanh tra, giám sát của NHNN là cơ sở để bắt buộc các ngân hàng phải hoạt động theo đúng quy định của pháp luật Do đó, nếu việc kiểm tra, kiểm soát của NHNN đối với hoạt động tín dụng tại các ngân hàng diễn ra thường xuyên, chủ động, minh bạch và đáp ứng được các yêu cầu đã đặt ra thì sẽ góp phần ngăn ngừa và xử lý tốt các khoản NQH phát sinh Ngược lại, khi việc thanh tra, giám sát không tuân thủ theo đúng quy định, năng lực của cán bộ thanh tra còn hạn chế, phương pháp kiểm tra, giám sát còn bất cập… dễ dẫn đến tình trạng các ngân hàng có sai phạm nhưng không được cảnh bảo và khi rủi ro xảy ra thì để lại hậu quả nặng nề cho chính ngân hàng
NQH phát sinh còn có thể do sự ảnh hưởng của các yếu tố bất khả kháng như chiến tranh, lũ lụt, mưa bão, hạn hán, hỏa hoạn, dịch bệnh… Những yếu tố này khó
có thể lường trước được và thường mang lại những hậu quả nặng nề cho cá nhân, doanh nghiệp khi gặp phải Một khi khách hàng bị thiệt hại từ những yếu tố trên thì gần như mất hoàn toàn khả năng thanh toán cho ngân hàng, do đó các yếu tố này có thể gây ra nợ quá hạn, nợ xấu ngoài tầm dự đoán của các ngân hàng
1.1.3.2 Nhóm nguyên nhân chủ quan từ phía khách hàng
Đối với NQH phát sinh mà nguyên nhân từ phía khách hàng thường rơi vào một số nguyên nhân như năng lực tài chính khách hàng không tốt, khách hàng không có thiện chí trả nợ hoặc cố tình lừa đảo, chiếm dụng vốn của ngân hàng, khách hàng sử dụng vốn sai mục đích…
Trang 19Năng lực tài chính của khách hàng là yếu tố hàng đầu mà khi cho vay ngân hàng thực hiện xem xét đến Tuy nhiên, trong quá trình vay vốn năng lực tài chính của khách hàng có thể thay đổi mà nguyên nhân là việc đầu tư, định hướng kinh doanh không đúng, trình độ, năng lực quản lý kinh doanh của khách hàng kém Nhiều doanh nghiệp vay vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh nhưng lại không tiêu thụ được hàng hóa Hoặc khi HĐKD chính đã phát triển tốt thì khách hàng chuyển vốn sang đầu tư ở lĩnh vực khác, đây là thực trạng phổ biến ở nhiều doanh nghiệp Việt Nam khi sử dụng vốn để đầu tư vào bất động sản (BĐS) Chính việc
mở rộng kinh doanh không hiệu quả, đầu tư tràn lan, quản lý kém dẫn đến kinh doanh thua lỗ, thất thoát vốn, năng lực tài chính suy giảm và không có khả năng trả
nợ vay
Công nợ cao, nợ khó đòi từ các đối tác đầu ra cũng là một trong những nguyên nhân khiên khách hàng vay vốn mất khả năng thanh toán đối với khách hàng Đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng, sự khó khăn bao trùm chung lên nền kinh tế khiến không ít cá nhân, doanh nghiệp có đối tác đầu ra khó khăn trong HĐKD dẫn đến thua lỗ, phá sản, giải thể, chủ doanh nghiệp chiếm đoạt công nợ và
bỏ trốn… khiến cho các doanh nghiệp, cá nhân vay vốn ngân hàng bị chiếm đoạt vốn và mất khả năng thanh toán với ngân hàng
Một số trường hợp phát sinh NQH xuất phát từ nguyên nhân khách hàng sử dụng vốn sai mục đích Nhiều khách hàng sử dụng tiền vay vốn từ ngân hàng không đúng với mục đích ban đầu đã cam kết, chẳng hạn ngân hàng giải ngân để mua nguyên vật liệu sử dụng trong thi công công trình A nhưng sau khi mua xong lại sử dụng để xây cho công trình B hoặc xử lý vốn vay ngắn hạn để mua sắm các tài sản dài hạn… Chính vì sử dụng vốn sai mục đích nên việc kiểm soát vốn sẽ khó khăn, phương án kinh doanh mà khách hàng cung cấp với ngân hàng không hiệu quả dễ dẫn đến tình trạng mất nguồn thanh toán khi nợ đến hạn trả
Bên cạnh đó, một số khách hàng sau khi được ngân hàng cho vay thì cố tình chây ỳ, không muốn trả nợ cho ngân hàng dẫn đến việc ngân hàng sau khi giải ngân thì không thu hồi được vốn hoặc gặp khó khăn khi thu nợ và NQH phát sinh là điều không thể tránh khỏi Thậm chí có những khách hàng cố tình ngụy tạo những hồ sơ,
Trang 20chứng từ giả mạo để chiếm đoạt vốn của ngân hàng Hoặc có khi khách hàng cố tình chiếm dụng vốn vay của ngân hàng để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh Đây là tình trạng khi khách hàng có nguồn trả nợ nhưng không ưu tiên cho việc trả nợ ngân hàng mà ưu tiên cho việc đầu tư mở rộng sản xuất Khi khoản nợ vay đến hạn trả thì lại không có nguồn trả nợ, dẫn đến phát sinh NQH
1.1.3.3 Nhóm nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng
Có rất nhiều món NQH phát sinh mà nguyên nhân là do sự chủ quan của ngân hàng, những yếu kém trong công tác thẩm định khách hàng, chồng chéo trong quy trình tín dụng cũng như những vấn đề về đạo đức của nhân viên ngân hàng
Công tác thẩm định khách hàng là khâu đầu tiên và rất quan trọng trong việc quyết định có đồng ý cho khách hàng vay vốn hay không Việc thẩm định khách hàng được thực hiện dựa trên nhiều nguồn thông tin khác nhau và nhiều phương pháp đánh giá khác nhau tùy theo mỗi ngân hàng Ngoài ra, thẩm định khách hàng
là công việc đòi hỏi cán bộ thẩm định phải có những năng lực chuyên môn nhất định thì mới có thể xem xét, đánh giá đúng về khách hàng Nếu thông tin cung cấp không chính xác hoặc ngân hàng sử dụng các phương pháp thẩm định lạc hậu, trình
độ chuyên môn của cán bộ thẩm định còn nhiều hạn chế thì có thể dẫn đến việc thẩm định, đánh giá khách hàng không đúng với bản chất thực tế của khách hàng dễ dẫn đến nguy cơ phát sinh nợ quá hạn Do đó, nếu cán bộ thẩm định càng thận trọng trong việc nhận xét, đánh giá khách hàng, nắm rõ thông tin về tình hình hoạt động, khả năng quản lý, mức độ uy tín… của khách hàng thì sẽ càng hạn chế được việc NQH gia tăng
Một số trường hợp phát sinh NQH do sự ảnh hưởng của chính các quy trình tín dụng, chính sách tín dụng của ngân hàng Quy trình tín dụng là những quy định hướng dẫn cụ thể công việc của các bộ phận có liên quan từ những khâu đầu tiên khi tiếp nhận hồ sơ khách hàng đến khâu cuối cùng sau khi cho vay Chính sách tín dụng là các thông tin cơ bản về định hướng tín dụng của mỗi ngân hàng bao gồm các ngành nghề, đối tượng, chương trình… ngân hàng khuyến khích phát triển hoặc hạn chế [7] Quy trình tín dụng của ngân hàng có thể được sử dụng trong nhiều năm còn chính sách tín dụng của ngân hàng thường được thay đổi theo từng thời kỳ (một
Trang 21năm, nửa năm, theo quý…) cho phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế Việc chấp nhận cho vay đối với mỗi khách hàng phụ thuộc nhiều vào vấn đề khách hàng có thể đáp ứng được các yêu cầu tín dụng theo quy trình tín dụng, chính sách tín dụng của ngân hàng hay không Do đó, quy trình tín dụng, chính sách tín dụng là cơ sở để ngân hàng sàn lọc và chọn lựa đối tượng cho vay Một ngân hàng có quy trình tín dụng rõ ràng, chặt chẽ, chính sách tín dụng phù hợp thì sẽ càng hạn chế được NQH phát sinh Ngược lại, nếu ngân hàng không có quy trình tín dụng rõ ràng, dễ dàng cấp tín dụng cho khách hàng hoặc chính sách tín dụng không phù hợp với thực tiễn thì rủi ro phát sinh NQH càng cao
Bên cạnh đó, việc kiểm tra giám sát vốn vay không chặt chẽ là một trong những nguyên nhân gây ra NQH của các ngân hàng Hầu hết các ngân hàng khi cho vay đều có yêu cầu về việc kiểm tra, kiểm soát vốn vay của khách hàng sau khi cho vay Việc giám sát nguồn vốn sau cho vay không chỉ đảm bảo việc sử dụng vốn của khách hàng tuân thủ theo đúng mục đích vay vốn ban đầu mà còn là giúp ngân hàng bám sát được khách hàng, nắm bắt được các thông tin liên quan đến hoạt động của khách hàng Đây là cơ sở để ngân hàng nhận biết các dấu hiệu khách hàng có thể phát sinh NQH từ đó nhanh chóng có biện pháp thích hợp trong vấn đề xử lý nợ quá hạn Rất nhiều trường hợp phát sinh NQH là do ngân hàng không kịp thời nắm bắt những khó khăn của khách hàng để đưa đưa ra các biện pháp hỗ trợ khách hàng đúng lúc Chẳng hạn khi khách hàng bị đối tác chiếểm dụng vốn khiến cho vòng quay vốn chậm từ 3 vòng/năm xuống còn 2 vòng/năm, nếu ngân hàng kịp thời nắm bắt thông tin của khách hàng và điều chỉnh tăng thêm thời gian cho vay từ 4 tháng lên thành 6 tháng thì sẽ phù hợp với khách hàng Nhưng nếu ngân hàng không có điều chỉnh thì áp lực trả nợ của khách hàng càng cao, dễ dẫn đến khách hàng không trả được nợ đúng hạn
Ngoài ra, đạo đức tín dụng của nhân viên ngân hàng là nguyên nhân phát sinh NQH và thậm chí gây thất thoát nghiêm trọng cho ngân hàng Không ít trường hợp khách hàng vay vốn và cán bộ tín dụng thỏa thuận với nhau về việc chi từ 1% – 5% “hoa hồng” trên tổng giá trị vốn được giải ngân để việc xử lý hồ sơ được thực hiện nhanh chóng và dễ dàng Phần lớn hồ sơ khách hàng trong những trường hợp
Trang 22này thường không minh bạch về tài chính hoặc sử dụng vốn… là nguy cơ tiềm ẩn rủi ro tín dụng cao khi ngân hàng cho vay Vấn đề đạo đức của nhân viên ngân hàng càng trở nên nghiêm trọng hơn khi thực tế trong những năm vừa qua có rất nhiều trường hợp nhân viên ngân hàng cố tình cấu kết với khách hàng để giả mạo hồ sơ vay vốn, chiếm đoạt vốn của ngân hàng Chẳng hạn vụ án của Huỳnh Thị Huyền Như, Trưởng phòng giao dịch Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh cấu kết cùng 9 cán bộ ngân hàng khác lừa đảo chiếm đoạt gần 4.000 tỷ đồng của nhiều ngân hàng và doanh nghiệp khác nhau; vụ án lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ xảy ra tại Công ty cho thuê tài chính
II – Ngân hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam, ước tính thiệt hại 3.600 tỷ đồng liên quan đến nhiều cán bộ của ngân hàng… [3] Thực tế đã chứng minh đạo đức cán bộ nhân viên của ngân hàng càng kém thì NQH của ngân hàng phát sinh càng cao
Một trong những nguyên nhân khác có thể gây ra NQH từ chính các ngân hàng đó là phương thức cấp tín dụng Hầu hết các khoản tín dụng được cấp từ các ngân hàng Việt Nam là cấp theo phương thức cho vay theo phương án sản xuất klinh doanh hoặc theo dự án đầu tư Việc cấp tín dụng theo phương thức sản xuất kinh doanh như vậy được diễn ra bằng việc các doanh nghiệp, cá nhân muốn vay vốn phải lập một số phương án sản xuất kinh doanh kèm theo tài sản đảm bảo để ngân hàng xem xét có hay không việc cấp tín dụng cho khách hàng Tuy nhiên, các phương án này được hầu hết cán bộ tín dụng thực hiện theo mẫu có sẵn, không phản ánh đầy đủ và chính xác thực tế vay vốn của khách hàng mà chỉ mang tính chất đối phó, tạm thời Chính điều này rất dễ dấn đến tình trạng ngân hàng không thể kiểm soát được việc sử dụng tiền vay như thế nào và phương án kinh doanh đó có thực sự mang lại hiệu quả hay không
1.1.4 Ảnh hưởng của nợ quá hạn
NQH làm không chỉ ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh, hình ảnh của ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến khách hàng và rộng hơn là nền kinh tế của một đất nước
Trang 231.1.4.1 Ảnh hưởng đến ngân hàng
Giảm lợi nhuận của ngân hàng là một trong những ảnh hưởng rõ ràng và cụ thể nhất khi có NQH phát sinh Nguồn lợi nhuận của ngân hàng được hình thành từ hai hoạt động chính là huy động và cho vay Trong đó, cho vay mang lại phần lớn lợi nhuận của ngân hàng và nguồn vốn để sử dụng cho hoạt động này được lấy từ việc huy động vốn của khách hàng Như vậy, khi phát sinh NQH thì ngân hàng không thu được lãi cũng không thu hồi được nguồn vốn đã cho vay, do đó ngân hàng vừa giảm lợi nhuận do không thu được lãi vay đồng thời phải trả chi phí cho nguồn vốn huy động bị ứ đọng Mặc khác, khi phát sinh NQH thì ngân hàng có thể phải thực hiện trích lập dự phòng theo quy định và số tiền sử dụng cho việc trích lập
dự phòng được xem là chi phí hoạt động của ngân hàng Chính vì vậy, khi NQH phát sinh thì lợi nhuận sẽ sụt giảm mạnh do chi phí gia tăng trong khi nguồn thu nhập giảm Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến các ngân hàng hiện nay rất thận trọng trong việc cho vay
Bên cạnh đó, NQH còn gây ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng Trên thực tế, các ngân hàng thường sử dụng các nguồn huy động vốn có kỳ hạn tương ứng với thời hạn cho vay để làm nguồn vốn đối với hoạt động cho vay
Do đó, khi khoản vay đến hạn thanh toán mà không thể thu hồi vốn trong khi ngân hàng vẫn phải hoàn trả nguồn huy động cho khách hàng sẽ tạo lỗ hổng thanh toán trong ngân hàng Lúc đó ngân hàng sẽ sử dụng nguồn vốn khác để thanh toán cho nguồn huy động đã đến hạn, khi nguồn vốn đã sử dụng để thanh toán đến hạn phải hoàn trả mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi được NQH thì ngân hàng lại phải tìm một nguồn vốn khác để bù đắp Như vậy, vòng quay đáo hạn, thanh toán liên tục diễn ra
và ngân hàng sẽ không thoát khỏi vòng tròn luẩn quẩn về việc thanh toán nếu NQH không được thu hồi NQH được xem như sự chiếm dụng vốn đối với ngân hàng mà việc chiếm dụng càng cao trong khi khả năng thu hồi nợ càng thấp thì khả năng thanh toán của ngân hàng càng giảm
Ngoài ra, NQH còn làm ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng trong hệ thống ngân hàng cũng như trong khi vực hoạt động của ngân hàng Thực tế đã chứng minh ngân hàng NQH có ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngân hàng Trước đây
Trang 24các ngân hàng lớn như Ngân hàng TMCP Á Châu, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam… luôn nằm trong vị trí các ngân hàng dẫn đầu về mức độ uy tín, lợi nhuận thu được Tuy nhiên, sau khi có
sự thanh tra của NHNN về việc trích lập dự phòng thì lợi nhuận các ngân hàng sụt giảm nghiêm trọng, hình ảnh của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng khi nhiều chi nhánh, phòng giao dịch hoạt động thua lỗ (do việc trích lập dự phòng) Các ngân hàng bị đánh giá chất lượng tín dụng không tốt, khả năng thanh toán bị ảnh hưởng làm mất lòng tin của khách hàng Đồng thời với những ngân hàng thực hiện tốt việc trích lập
dự phòng NQH thì đây là cơ hội để khẳng định về chất lượng tín dụng cũng như khả năng thanh khoản của ngân hàng, do đó nâng cao được uy tín với khách hàng
NQH làm cho vốn của ngân hàng bị tồn đọng và ngân hàng không thể tiếp tục sử dụng nguồn vốn này để cho vay hay cơ hội đâu tư vào những dự án khác dẫn đến vòng quay vốn ngân hàng giảm, hiệu quả sử dụng vốn không cao
Nguy cơ phá sản làm ảnh hưởng nghiêm trọng nhất mà NQH có thể gây ra cho ngân hàng Điều này xảy ra khi ngân hàng tồn tại những khoản NQH lớn, khả năng thu hồi vốn thấp hoặc không có Khi đó ngân hàng bắt buộc phải sử dụng các nguồn vốn tự có của chính ngân hàng để bù đắp, trường hợp vốn tự có của ngân hàng không đủ để bù đắp khoản vốn bị mất thì khả năng phá sản của ngân hàng là rất lớn Đây là ảnh hưởng không thường xảy ra đối với các ngân hàng nhưng là ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đối với các ngân hàng
1.1.4.2 Ảnh hưởng đến khách hàng
Khi doanh nghiệp, cá nhân phát sinh NQH thì luôn phải chịu mức lãi quá hạn rất cao, thường là 150% lãi suất cho vay ban đầu [16] Ngoài ra ngân hàng còn có thể thu thêm nhiều loại phí phạt quá hạn khác với mức phí khá cao Vì vậy, khách hàng sẽ phải gồng gánh thêm những khoản chi phí khác làm gia tăng chi phí hoạt động của khách hàng Khi đó nếu ngân hàng không có những hỗ trợ kịp thời, đúng lúc thì việc khách hàng ngưng hoạt động, phá sản và mất khả năng thanh toán cho ngân hàng là hoàn toàn có thể xảy ra Do đó NQH phát sinh khiến chi phí hoạt động của khách hàng cao hơn
Trang 25Đồng thời, uy tín khách hàng cũng bị giảm sút khi khách hàng có NQH phát sinh Hiện nay tất cả thông tin về tình hình tín dụng của khách hàng đều được cập nhật trên một hệ thống thông tin chung là Trung tâm thông tin tín dụng Khi khách hàng phát sinh NQH tại bất kỳ tổ chức tín dụng nào thì các tổ chức tín dụng khác vẫn có thể có được thông tin quá hạn của khách hàng đó thông qua việc tra cứu thông tin của khách hàng tại Trung tâm thông tin tín dụng Các ngân hàng thường e ngại những khách hàng đã từng phát sinh NQH và khách hàng phải giải trình đầy
đủ, thuyết phục ngân hàng về nguyên nhân quá hạn thì mới có thể vay vốn
1.1.4.3 Ảnh hưởng đến nền kinh tế
Thực tiễn cho thấy khi NQH phát sinh càng cao thì ngân hàng lẫn khách hàng đều e ngại trong vấn đề vay vốn, dẫn đến vốn bị ứ đọng, sản xuất hàng hóa bị đình trệ, số lượng lao động thất nghiệp tăng cao, xã hội không ổn định… NQH làm ảnh hưởng đến khả năng mở rộng quy mô sản xuất, khả năng về vốn bị ảnh hưởng, giảm sức cạnh tranh trên thị trường làm cho nền kinh tế không phát triển được, đời sống người lao động gặp khó khăn Có thể nói rằng sự phát sinh NQH sẽ kìm hãm
sự phát triển của nền kinh tế và có thể dẫn đến sự bùng nổ của khủng hoảng tài chính
Do đặc trưng của hoạt động ngân hàng là kinh doanh tiền tệ, mang tính nhạy cảm cao và hoạt động có tính dây chuyền Vì vậy, nếu một ngân hàng có NQH cao dẫn đến phá sản có thể dẫn đến hiệu ứng khủng hoảng dây chuyền đến các ngân hàng khác khi không xử lý tốt Chẳng hạn, khi một ngân hàng phá sản khiến cho khách hàng không thực sự tin tưởng ngân hàng lúc đó các khách hàng đều ào ạt rút tiền (không gửi lại một ngân hàng khác mà đem đi đầu tư vàng, ngoại tệ, bất động sản…) sẽ dễ dẫn đến tình trạng các ngân hàng mất khả năng thanh khoản và khủng hoảng hệ thống tài chính ngân hàng là điều không tránh khỏi và khủng hoảng toàn
bộ nền kinh tế sẽ là hệ lụy tiếp theo diễn ra
Trang 261.2 XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN TẠI CÁC NGÂN HÀNG
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và nguyên tắc xử lý nợ quá hạn
1.2.1.1 Khái niệm
Các ngân hàng dù cố gắng kiểm soát tốt các khoản vay thì vẫn không thể tránh khỏi trường hợp có NQH phát sinh, đặc biệt là khi nền kinh tế vừa trải qua những giai đoạn thăng trầm thì NQH càng cao Chính vì vậy, xử lý NQH trở thành vấn đề cần thiết và cấp bách tại hầu hết các ngân hàng
Xử lý NQH là một quá trình phức tạp đòi hỏi có sự phối hợp của các cá nhân, đơn vị trong ngân hàng và thậm chí là sự can thiệp hỗ trợ của các cơ quan nhà nước có chức năng nhằm thu hồi số nợ mà khách hàng không trả đúng hạn hoặc mất khả năng thanh toán
Để thực hiện được việc xử lý NQH thì ngân hàng phải sử dụng các biện pháp, công cụ khác nhau nhằm thu hồi gốc, lãi của các món nợ đã bị quá hạn Có một số trường hợp đặc biệt thì xử lý NQH là cách thức mà ngân hàng thực hiện các thủ tục nhằm xóa nợ cho khách hàng Vì cách thức xử lý nợ này khá đơn giản và chỉ
áp dụng với một số trường hợp đặc biệt khi yêu cầu từ các đơn vị có chức năng như NHNN, tòa án… nên nội dung đề tài sẽ không nghiên cứu sâu về vấn đề này
1.2.1.2 Đặc điểm của xử lý nợ quá hạn
Xử lý NQH là vấn đề chung của ngân hàng nhưng không phải bất kỳ ai cũng
có thẩm quyền xử lý NQH mà chỉ có những cá nhân, đơn vị, phòng ban có liên quan hoặc những người được ủy quyền để xử lý nợ thì mới được tham gia vào quá trình
xử lý nợ quá hạn Tùy thuộc vào mức độ phức tạp của việc xử lý NQH mà yêu cầu
về thẩm quyền xử lý NQH sẽ khác nhau, chẳng hạn đối với các món NQH mới phát sinh, khả năng thu hồi cao thì nhân viên tín dụng quản lý khách hàng này sẽ là người có thẩm quyền trực tiếp xử lý nợ Tuy nhiên, với những món NQH mà cách thức xử lý phức tạp, phải thực hiện khởi kiện, phối hợp với các cơ quan chức năng của nhà nước… thì đòi hỏi những người tham gia xử lý nợ phải là người có cấp thẩm quyền chẳng hạn như giám đốc, phó giám đốc chi nhánh hoặc người có ủy quyền đặc biệt từ ngân hàng Đối với khách hàng thì người tham gia xử lý nợ phải
là người có liên quan việc vay vốn như chủ thể vay vốn, người bảo lãnh - chủ sở
Trang 27hữu của TSĐB - hoặc những người được ủy quyền hợp pháp Do đó, đặc điểm đầu tiên của xử lý NQH là người xử lý NQH phải có thẩm quyền
Mục đích việc xử lý NQH là thu hồi được nợ gốc, lãi cho ngân hàng Một khi khách hàng đã phát sinh NQH thì sẽ phát sinh thêm nhiều loại phí khác nhau như phí phạt quá hạn, lãi quá hạn… Tuy nhiên, khi thực hiện xử lý NQH thì mục đích trước tiên của ngân hàng là có thể thu hồi được toàn bộ dư nợ gốc của khách hàng, bao gồm nợ gốc đã bị quá hạn và nợ gốc trong hạn (nếu có) sau đó là các khoản tiền lãi phát sinh căn cứ trên hợp đồng và các khế ước nhận nợ mà khách hàng đã ký kết với ngân hàng Do đó, trường hợp ngân hàng xử lý NQH bằng cách xử lý tài sản mà khách hàng đã sử dụng để đảm bảo cho khoản vay thì ngân hàng chỉ được phép thu hồi gốc lãi theo đúng thỏa thuận giữa hai bên, phần giá trị còn lại của TSĐB sau khi
xử lý phải được hoàn trả cho khách hàng Chẳng hạn, khách hàng sử dụng một khoản phải thu trị giá 3 tỷ đồng để đảm bảo cho món vay 2 tỷ đồng tại ngân hàng, khi khách hàng phát sinh NQH với tổng số tiền gốc, lãi và các chi phí là 2,1 tỷ đồng thì ngân hàng được phép thu 2,1 tỷ đồng từ việc xử lý TSĐB là khoản phải thu trị giá 3 tỷ đồng nêu trên, 900 triệu đồng còn lại phải được hoàn trả cho khách hàng
Ngoài ra, việc xử lý NQH phải được thực hiện ngay khi khách hàng vi phạm các nghĩa vụ đã cam kết với ngân hàng Trong quan hệ tín dụng với ngân hàng thì nghĩa vụ của khách hàng bao gồm nhiều nghĩa vụ khác nhau như nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn, nghĩa vụ sử dụng vốn đúng mục đích, nghĩa vụ cung cấp thông tin
về việc sử dụng vốn và nghĩa vụ thực hiện các cam kết khác Vì vậy, thời điểm phát sinh xử lý NQH sẽ được thực hiện khi đến hạn trả nợ mà khách hàng vi phạm các nghĩa vụ trả nợ hoặc khi khách hàng vay vi phạm các cam kết khác về việc sử dụng vốn
1.2.1.3 Các nguyên tắc xử lý nợ quá hạn
Bản chất của việc vay vốn ngân hàng là sự thỏa thuận giữa bên cho vay là ngân hàng và bên đi vay là khách hàng về các nội dung vay vốn như số tiền vay, thời hạn vay, phương thức đảm bảo, phương thức trả nợ, cách xử lý khi có vi phạm… Sự thỏa thuận này sẽ được thể hiện cụ thể trong hợp đồng vay vốn, hợp đồng bảo đảm tiền vay (hay được gọi là hợp đồng thế chấp)… Do đó, nguyên tắc xử
Trang 28lý NQH đầu tiên chính là sự thỏa thuận giữa hai bên, thông thường việc thỏa thuận
về xử lý NQH được thiết lập ngay khi khách hàng thực hiện ký kết các hợp đồng tín dụng, thế chấp với ngân hàng Đây chính là cơ sở pháp lý để ngân hàng xử lý NQH khi có phát sinh Nguyên tắc thỏa thuận còn được áp dụng tại thời điểm xử lý nợ quá hạn Điều này có nghĩa là tại thời điểm phát sinh xử lý NQH thì ngân hàng và khách hàng có thể thỏa thuận các biện pháp xử lý khác với thỏa thuận ban đầu chỉ cần đảm bảo các biện pháp này có thể thu hồi được nợ gốc, lãi quá hạn
Nguyên tắc đảm bảo quyền và lợi ích của các bên tham gia hợp đồng tín dụng Khi có NQH phát sinh nghĩa là khách hàng đã có sự vi phạm nghĩa vụ cam kết với ngân hàng nên ngân hàng hoàn toàn có quyền sử dụng các biện pháp, công
cụ thích hợp để thu hồi nợ quá hạn, đảm bảo quyền và lợi ích của mình Các thỏa thuận tín dụng là cơ sở để ngân hàng thực hiện điều này Tuy nhiên, trên thực tế các thỏa thuận tín dụng thường là văn bản do ngân hàng soạn thảo với các nội dung bảo
vệ quyền và lợi ích của ngân hàng nhiều hơn là người đi vay Hoặc một số trường hợp các thỏa thuận tín dụng có lợi đối với khách hàng và gây ra những bất lợi cho ngân hàng Khi việc xử lý NQH không thể thực hiện dựa trên các thỏa thuận tín dụng hoặc các bên không thống nhất về việc xử lý NQH thì đòi hỏi phải có một bên thứ ba đứng ra xử lý để tránh trường hợp ngân hàng hoặc khách hàng có những hành động gây bất lợi cho bên còn lại Thông thường trọng tài hoặc tòa án sẽ là đơn
vị chịu trách nhiệm về vấn đề này
Nguyên tắc xử lý công khai và khách quan Nguyên tắc này nhằm đảm bảo rằng việc xử lý NQH phải được thực hiện công khai, minh bạch và khách quan Các thông tin liên quan đến việc xử lý NQH phải được thông báo đến các cá nhân, đơn
vị có liên quan tránh trường hợp ngân hàng hay khách hàng cố tình che giấu thông tin hoặc cung cấp các thông tin có sự sai lệch so với thực tế gây ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các bên khi tham gia xử lý nợ quá hạn Việc xử lý nợ cũng đòi hỏi phải xem xét toàn diện và đánh giá khách quan về các yếu tố liên quan đến món NQH phát sinh để có thể xử lý NQH một cách nhanh chóng và hiệu quả
Trang 291.2.2 Các biện pháp xử lý nợ quá hạn
Tùy thuộc vào đặc điểm riêng của từng món NQH mà ngân hàng sẽ phối hợp với khách hàng để chọn lựa phương pháp xử lý NQH thích hợp Thông thường, việc chọn lựa phương thức xử lý NQH phụ thuộc vào một số yếu tố như mức độ tổn thất
do khoản NQH gây ra, thiện chí trả nợ, tình hình tài chính của khách hàng… (phụ lục 1)
Các biện pháp xử lý NQH thường được áp dụng: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ,
xử lý TSĐB, xử lý qua AMC, khởi kiện
1.2.2.1 Cơ cấu lại thời hạn trả nợ
Cơ cấu thời hạn trả nợ là hình thức mà ngân hàng chấp thuận điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc thực hiện gia hạn nợ cho khách hàng do ngân hàng đánh giá khách hàng có suy giảm khả năng trả nợ gốc, lãi theo đúng thời hạn quy định trong hợp đồng tín dụng nhưng có khả năng trả đầy đủ gốc lãi theo thời hạn nợ đã được cơ cấu lại Có hai hình thức cơ cấu thời hạn trả nợ đó là:
- Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ: Đây là hình thức cơ cấu nợ mà không làm thay đổi ngày đáo hạn cuối cùng của khoản vay Theo đó, ngân hàng sẽ chấp thuận việc điều chỉnh thời hạn trả nợ lãi hoặc nợ gốc (khi nợ gốc được trả thành nhiều lần) trong phạm vi thời hạn cho vay đã thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng đã ký kết mà không làm thay đổi ngày đáo hạn cuối cùng của khoản vay
- Gia hạn nợ: Là hình thức cơ cấu nợ làm thay đổi ngày đáo hạn cuối cùng của khoản vay Việc gia hạn nợ nghĩa là ngân hàng sẽ kéo dài thêm một khoản thời gian trả nợ gốc hoặc lãi vay hoặc cả gốc và lãi vay so với thời gian thỏa thuận ban đầu của hợp đồng tín dụng đã ký kết Gia hạn nợ có thể là việc kéo dài thời hạn vay mà không có điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc vừa kéo dài thời gian trả nợ vừa điều chỉnh
kỳ hạn trả nợ [17]
1.2.2.2 Xử lý tài sản đảm bảo
Phần lớn các khoản vay của ngân hàng hiện nay là vay có bảo đảm với các hình thức như cầm cố, thế chấp, bảo đảm bằng bảo lãnh của bên thứ ba, bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay… và tài sản được dùng để đảm bảo cho khoản vay thường là các bất động sản, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, hàng tồn
Trang 30kho, khoản phải thu… Khi các khoản vay đến hạn thanh toán mà khách hàng không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng như đã cam kết thì ngân hàng có quyền xử
lý các TSĐB của khoản vay để thu hồi nợ gốc, lãi đã quá hạn
Xử lý TSĐB ở đây được hiểu là xử lý các tài sản dùng để đảm bảo cho khoản vay theo hình thức thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng Theo đó, ngân hàng
có thể cho phép khách hàng được chủ động trong việc rao bán các TSĐB hoặc ngân hàng chủ động thực hiện các biện pháp xử lý TSĐB để thu hồi vốn
Tuy nhiên, việc xử lý được các TSĐB khá phức tạp và các ngân hàng thường mất rất nhiều thời gian, công sức trong vấn đề này Đặc biệt là với các TSĐB là BĐS thì việc xử lý càng khó khăn hơn
1.2.2.3 Xử lý nợ qua AMC
Mua, bán nợ là việc chuyển nhượng khoản nợ, theo đó, bên bán nợ chuyển giao quyền chủ nợ của khoản nợ cho bên mua nợ và nhận thanh toán từ bên mua nợ [20] Theo đó, các ngân hàng sẽ trao quyền chủ nợ cho các bên mua nợ và nhận lại thanh toán từ bên mua nợ Hiện nay, việc bán nợ có thể diễn ra theo hình thức ngân hàng này bán lại NQH cho ngân hàng khác hoặc ngân hàng bán nợ cho công ty mua bán nợ chuyên nghiệp Thông thường, việc mua bán nợ chỉ dừng ở mức độ các ngân hàng thương mại thành lập “công ty quản lý nợ và khai thác tài sản” với mục đích chủ yếu để xử lý nợ nội bộ ngân hàng mình và khai thác tài sản có liên quan đến tín dụng của ngân hàng
Ngoài ra, việc thành lập Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Quản
lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) cũng là một trong những công cụ hỗ trợ cho vấn đề xử lý nợ quá hạn, nợ xấu của các ngân hàng thông qua hình thức bán nợ, xử lý tài sản bảo đảm, đặc biệt là với các ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu trên 3% thì bắt buộc phải bán nợ cho VAMC Tuy nhiên, phương thức xử lý NQH qua VAMC vẫn còn đang gặp nhiều vướng mắc và khó khăn, vì vậy phần lớn hoạt động xử lý NQH bằng hình thức bán nợ được thực hiện thông qua các công ty quản lý và khai thác tài sản do chính ngân hàng thành lập
Trang 311.2.2.4 Khởi kiện
Khởi kiện là hình thức xử lý NQH mà ngân hàng nhờ đến sự can thiệp của các cơ quan có chức năng như tòa án, chi cục thi hành án… nhằm thu hồi nợ, gốc lãi quá hạn Các vấn đề liên quan đến thủ tục khởi kiện khá rườm rà, phức tạp và tốn nhiều thời gian, chi phí Mặt khác, một số trường hợp NQH phát sinh nhưng vì ngân hàng khi cho vay không thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của pháp luật (như mức lãi suất vượt quá mức cho phép của NHNN, không thực hiện đăng ký giao dịch đảm bảo đối với tài sản cầm cố, thế chấp…) thì việc khởi kiện không những không thể thu hồi NQH mà ngân hàng còn phải chịu tổn thất các chi phí liên quan đến việc khởi kiện hoặc thậm chí bị xử phạt vì vi phạm quy định của pháp luật
Do đó, hầu hết các ngân hàng xem khởi kiện là cứu cánh cuối cùng trong việc xử lý nợ quá hạn Một số trường hợp ngân hàng thường chọn lựa phương thức khởi kiện như khi thời gian xử lý NQH kéo dài; ngân hàng đã sử dụng nhiều biện pháp xử lý mà vẫn không thể thu hồi được nợ gốc, lãi quá hạn; khách hàng có dấu hiệu lừa đảo, chiếm đoạt vốn của ngân hàng; không có thiện chí trong việc trả nợ cho ngân hàng hoặc sử dụng vốn sai mục đích, gây ra những tổn thất nặng nề cho tổ chức tín dụng… Trong những trường hợp này, ngân hàng chỉ khởi kiện khi có thể cung cấp đầy đủ các thông tin và đảm bảo việc ngân hàng cho vay là đúng với các quy định của pháp luật và người đi vay đã có sự vi phạm cam kết với ngân hàng
1.2.2.5 Một số hình thức khác
Ngân hàng có thể xử lý NQH theo một số hình thức khác như:
- Hỗ trợ khách hàng bằng cách cho vay mới để khách hàng thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh mới, khôi phục HĐKD của khách hàng từ đó có nguồn để thanh toán NQH cho ngân hàng
- Hỗ trợ các đối tác đầu ra của khách hàng Hình thức này được áp dụng khi ngân hàng đánh giá các đối tác này có tình hình tài chính đáp ứng được các yêu cầu
về vay vốn của ngân hàng, khi đó ngân hàng sẽ tài trợ vốn cho các phương án mà doanh thu từ các phương án này được dùng để thanh toán cho khách hàng
Trang 32- Hỗ trợ tư vấn cho khách hàng về tái cấu trúc doanh nghiệp, quản lý ngân quỹ… Ngân hàng có thể tư vấn cho khách hàng phương thức quản lý chặt chẽ ngân quỹ, có thể bán bớt một số tài sản có giá mà ít ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, giảm lượng hàng tồn kho, thanh lý bớt các tài sản không sử dụng, thay đổi cấu trúc doanh nghiệp
- Xử lý NQH bằng các quỹ dự trữ phòng ngừa rủi ro Đây là hình thức xử lý
nợ mà ngân hàng dùng chính các khoản tiền của ngân hàng dành cho việc trích lập
dự phòng (khi phát sinh NQH ngân hàng sẽ trích dự phòng theo tỷ lệ theo quy định của Ngân hàng nhà nước tương ứng với nhóm nợ mà khoản NQH đó được phân loại) để xử lý các khoản nợ mà ngân hàng đánh giá không có khả năng thu hồi Chẳng hạn các trường hợp mà chủ nợ mất hoàn toàn khả năng chi trả, khi tài sản đảm bảo đã được thanh lý nhưng vẫn không đủ đáp ứng việc thu hồi gốc lãi của ngân hàng, khi doanh nghiệp đã bị tuyên bố phá sản, giải thể, không tìm được nguồn trả nợ thay…
1.3 KINH NGHIỆM XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN CỦA MỘT SỐ NƯỚC
Tình trạng nợ quá hạn, nợ xấu đã diễn ra ở nhiều nước trên thế giới và những nước này đã có nhiều biện pháp hữu hiệu để giải quyết tình trạng nợ xấu phát sinh (nợ xấu được hiểu là các món NQH thuộc nhóm 3, 4, 5 theo quy định về phân loại
nợ của NHNN) Chính vì vậy, ở các ngân hàng của Việt Nam có thể học hỏi những kinh nghiệm thực tế từ các nước này để hỗ trợ cho vấn đề xử lý NQH
1.3.1 Kinh nghiệm xử lý NQH tại Hàn Quốc
Hàn Quốc là nước có thành công trong việc xử lý nợ xấu bằng hình thức mua bán nợ qua công ty mua bán nợ quốc gia (chiều hướng xử lý nợ mà Việt Nam đang tiến hành)
Tính đến năm 1998, nợ xấu của toàn bộ hệ thống tài chính Hàn Quốc lên tới
118 ngàn tỉ won, bằng 18% tổng dư nợ (tương đương khoảng 27% tổng sản phẩm quốc dân của Hàn Quốc năm 1998), trong đó có 42% là NQH từ 3 – 6 tháng, và 58% là NQH trên 6 tháng Trước tình hình NQH tăng cao làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế của đất nước, Chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra hai biện pháp mạnh mẽ nhằm xử lý cấp bách vấn đề trên:
Trang 33- Buộc các tổ chức tín dụng của Hàn Quốc phải tự xử lý phân nửa giá trị các NQH bằng cách yêu cầu khách hàng trả nợ hoặc bán tài sản thế chấp;
- Một nửa các khoản NQH sẽ do Công ty quản lý tài sản Hàn Quốc (Korean Asset Management Corporation- KAMCO) mua lại Tiền thân KAMCO là một công ty quản lý tài sản nợ thuộc Ngân hàng phát triển Hàn Quốc được chính phủ Hàn Quốc cải tiến lại chức năng và nhiệm vụ thành cơ quan chuyên giải quyết nợ xấu
Để thực hiện quá trình xử lý NQH thì Chính phủ Hàn Quốc đã áp dụng tiêu chí phân loại nợ theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm đánh giá đúng thực trạng nợ quá hạn,
nợ xấu đang diễn ra tại các tổ chức tài chính
KAMCO sẽ chịu trách nhiệm trong việc mua lại các khoản nợ xấu và các khoản nợ này sẽ được định giá dựa trên khả năng thu hồi nợ, tài sản bảo đảm và phương pháp định giá được thay đổi tùy theo từng thời kỳ Sau khi mua lại, KAM-
CO sẽ nhóm các khoản nợ xấu theo từng nhóm và bán cho các nhà đầu tư thông qua đấu giá quốc tế hoặc KAMCO sẽ phát hành các chứng khoán có đảm bảo bằng tài sản dựa trên các khoản nợ xấu đã mua KAMCO cũng có thể tịch thu thế chấp của các tài sản có đảm bảo Đôi khi, KAMCO nắm giữ các khoản nợ xấu và cố gắng tái
cơ cấu nợ, tái tài trợ hay chuyển đổi nợ nếu KAMCO cho rằng công ty đó có khả năng hồi phục Kết quả của việc xử lý nợ là Hàn Quốc đã giảm mạnh nợ xấu từ 17% trên tổng dư nợ vào tháng 3.1998 xuống còn 2,3% vào cuối năm 2002[4]
Ngoài ra, để hỗ trợ việc xử lý NQH Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành những luật thuế đặc biệt với những chủ thể trên thị trường nợ xấu hay luật chứng khoán có bảo đảm bằng tài sản… Chính những can thiệp kịp thời, nhanh chóng và toàn diện này đã góp phần mạnh mẽ trong việc xử lý NQH đưa nền kinh tế Hàn Quốc thoát khỏi khủng hoảng
1.3.2 Kinh nghiệm xử lý NQH tại Trung Quốc
Đặc điểm về NQH của Việt Nam khá tương đồng với Trung Quốc khi mà phần lớn NQH tập trung vào các doanh nghiệp nhà nước
NQH của Trung Quốc tập trung vào bốn ngân hàng thương mại nhà nước, được gọi là “Big Four”: Ngân hàng Trung Quốc, Ngân hàng Công Thương Trung
Trang 34Quốc; Ngân hàng Xây Dựng Trung Quốc và Ngân hàng Nông Nghiệp Trung Quốc Bốn ngân hàng này chịu trách nhiệm chính trong việc cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc (chiếm khoảng 70% tổng dư nợ của Trung Quốc) trong khi hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này vốn rất kém, thậm chí thua lỗ dẫn đến tình trạng nợ xấu ngày càng cao Để xử lý tình trạng trên, Trung Quốc đã thực hiện 03 giai đoạn chính:
Thứ nhất: Tái cấu trúc tài chính nhằm chuyển đổi hệ thống ngân hàng, tách bạch giữa việc cho vay chính sách ra khỏi cho vay thương mại bằng cách thành lập các ngân hàng chính sách riêng
Thứ hai: Thành lập bốn công ty quản lý tài sản tương ứng với bốn ngân hàng lớn nêu trên nhằm mục đích xử lý các khoản nợ xấu của các ngân hàng này
Thứ ba: Tập trung tái cấu trúc ngân hàng thương mại nhà nước bằng cách kêu gọi đầu tư từ nước ngoài, niêm yết ra công chúng nhằm tăng tính minh bạch và nâng cao hiệu quả quản lý của các ngân hàng
Trong các giai đoạn trên thì việc thành lập bốn công ty quản lý tài sản được xem là cột mốc quan trọng trong việc xử lý nợ xấu của Trung Quốc Chính nhờ các công ty quản lý tài sản (AMC) này đã mua lại các khoản nợ xấu khổng lồ của các ngân hàng, nguồn vốn để AMC hoạt động được vay từ ngân hàng Trung ương Trung Quốc (khoảng 40%), phần còn lại được các AMC phát hành trái phiếu trực tiếp cho các ngân hàng Phương pháp chính mà các AMC giải quyết nợ là tập hợp chúng lại, sau đó lên danh mục đầu tư, bán đấu giá, chuyển đổi thành cổ phiếu hoặc đưa chúng ra khỏi Trung Quốc bằng cách liên kết, liên doanh với nước ngoài hay với các công ty chứng khoán trong nước Phương thức xử lý nợ bằng cách bán đấu giá nợ trên thị trường quốc tế đã được các AMC áp dụng khá hiệu quả Công ty Hu-arong một trong những công ty thành công trong việc thực hiện các thương vụ như vậy nhờ sức hút tiềm năng của thị trường Trung Quốc đối với giới đầu tư quốc tế
Các AMC đã tích cực thực hiện các biện pháp xử lý nợ xấu như thanh lý tài sản, bán tài sản trực tiếp cho các nhà đầu tư và chứng khoán hóa những khoản nợ xấu; tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước thông qua các biện pháp hoán đổi nợ thành
cổ phần và tái cấu trúc doanh nghiệp… Kết quả là Trung Quốc đã xử lý được tỷ lệ
Trang 35trung bình các khoản nợ/tài sản trong doanh nghiệp nhà nước tái cấu trúc giảm xuống từ 73% năm 1999 xuống dưới 50% năm 2000 Mặc dù bốn AMC này chỉ thu hồi được 675 tỷ Nhân dân tệ, chưa đến 40% giá trị nợ xấu được chuyển giao từ năm
1999 Tỷ lệ thu hồi tiền mặt tại các AMC tính đến tháng 12/2004 đạt khoảng 20%, thấp hơn nhiều so với mức thu hồi của các nước khác nhưng việc xử lý nợ của bốn AMC đã góp phần cải thiện đáng kể chất lượng tài sản tại bốn NHNN và các ngân hàng này đã tiến hành niêm yết ra công chúng sau khi được tái cơ cấu vốn [4]
1.3.3 Kinh nghiệm xử lý nợ của một số ngân hàng thương mại Việt Nam
Để việc xử lý NQH thành công thì phải nắm bắt được tận gốc nguyên nhân gây ra nợ quá hạn, từ đó mới đưa ra các biện pháp phù hợp, giải quyết triệt để nợ quá hạn Thông qua việc nghiên cứu kinh nghiệm xử lý NQH của các nước, Việt Nam có thể học hỏi một số kinh nghiệm trong việc xử lý NQH như:
- Xử lý NQH thông qua công ty xử lý nợ chuyên nghiệp trực thuộc nhà nước
Từ sự thành công của các nước trong việc thành lập một công ty hoạt động chuyên biệt cho vấn đề xử lý NQH thì Việt Nam cũng đã thành lập một công ty có chức năng như vậy là VAMC Để VAMC có thể thực hiện đúng các chức năng như kỳ vọng ban đầu của nhà nước thì cần xem xét kỹ cách thức vận hành, tổ chức và hoạt động thu mua xử lý nợ của các nước trên thế giới như Hàn Quốc, Malaysia… trong
đó nên ưu tiên vấn đề xử lý trước các khoản nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước
- Xử lý NQH thông qua công ty xử lý nợ của các ngân hàng thương mại Trên thực tế Việt Nam có hơn 14 tổ chức xử lý nợ do chính các ngân hàng thương mại thành lập Vì vậy, việc xử lý nợ xấu của các ngân hàng đòi hỏi phải có sự kết hợp và khai thác triệt để nguồn lực xử lý nợ từ chính các AMC của các ngân hàng
Cần sự phối hợp và hỗ trợ về các chính sách, các quy định pháp luật của nhà nước liên quan đến vấn đề xử lý NQH như chính sách về thuế đối với việc mua bán sang nhượng các BĐS là TSĐB của các khoản nợ xấu được ngân hàng xử lý; hành lang pháp lý rõ ràng, cụ thể…
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Kết thúc chương 1 đề tài đã nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản nhất về NQH như khái niệm NQH, tỷ lệ NQH, cách thức phân loại nợ quá hạn… Đồng thời nêu lên các tác động của NQH đến ngân hàng, khách hàng và cả nền kinh tế Qua
đó cho thấy được NQH không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, lợi nhuận, uy tín của ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến tình hình tài chính, uy tín của doanh nghiệp và rộng hơn thì NQH còn ảnh hưởng đến nền kinh tế của một đất nước
Do đó, để xử lý được vấn đề NQH đề tài đã thực hiện nghiên cứu về những nguyên nhân gây ra NQH từ nguyên nhân khách quan như môi trường pháp lý, kinh
tế xã hội… những biến động bên ngoài cho đến các yếu tố bên trong của ngân hàng như quy trình tín dụng chưa chặt chẽ, chính sách tín dụng chưa hiệu quả hay sự sơ sài trong vấn đề thẩm định khách hàng và thậm chí là những biến chất của cán bộ ngân hàng Ngoài ra, còn có các nguyên nhân xuất phát từ phía khách hàng như việc
sử dụng vốn sai mục đích, năng lực quản lý kém hoặc vấn đề lừa đảo…
Tất cả các yếu tố trên cần được xem xét trên nhiều khía cạnh để có thể chọn lựa phương pháp xử lý NQH thích hợp và đề tài có nghiên cứu về một số phương pháp xử lý NQH là cơ cấu thời hạn trả nợ, gia hạn nợ, xử lý TSĐB, bán nợ và khởi kiện Dù xử lý nợ theo phương pháp nào thì việc xử lý nợ vẫn phải tuân thủ một số nguyên tắc trong việc xử lý nợ như khách quan, đảm bảo quyền lợi các bên
Chương 1 cũng đồng thời đề cập đến các kinh nghiệm xử lý NQH của một số nước như Hàn Quốc và Trung Quốc để từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc xử
lý NQH ở Việt Nam Trong đó, Hàn Quốc có thể xem như bài học về xử lý NQH thông qua công ty xử lý nợ và Trung Quốc là những kinh nghiệm về giải quyết NQH của các doanh nghiệp nhà nước Đây chính là hai vấn đề lớn trong xử lý NQH
mà Việt Nam quan tâm
Những cơ sở lý thuyết được trình bày trong chương I chính là nền tảng để đề tài thực hiện nghiên cứu một cách chuyên sâu về tình hình xử lý NQH tại MB An Phú trong chương 2
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN TẠI NGÂN HÀNG
TMCP QUÂN ĐỘI CHI NHÁNH AN PHÚ
2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI CN AN PHÚ
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Quân Đội
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội với tên gọi quốc tế là Military Commercial JointStock Bank viết tắt là Military Bank hay MB
Ngân hàng TMCP Quân Đội được thành lập vào ngày 04/11/1994 với số vốn điều lệ ban đầu 20 tỷ đồng, nhân sự chỉ có 25 cán bộ nhân viên và mục đích thành lập là phục vụ cho các doanh nghiệp quân đội Tuy nhiên, sau gần 19 năm thành lập
và phát triển thì MB đã trở thành một trong số các thương hiệu ngân hàng mạnh tại Việt Nam Đặc biệt, trong giai đoạn nền kinh tế khủng hoảng như thời gian qua khi
mà chất lượng tín dụng của các ngân hàng có sự sụt giảm nghiêm trọng thì MB đã nắm bắt cơ hội vươn lên, chứng tỏ sự trưởng thành và phát triển của mình bằng việc tăng trưởng an toàn trong hoạt động tín dụng, điều này được NHNN và các tổ chức thế giới công nhận
MB đã được vinh danh với nhiều phần thưởng, danh hiệu cao quí như: Huân chương Lao động hạng Ba, Cờ thi đua của Chính phủ, được Moody’s đánh giá và xếp hạng E+; giải thưởng: Sao Vàng Đất Việt, Tin và Dùng, Thương hiệu nổi tiếng Asean… Đặc biệt là được NHNN xếp loại Tập thể lao động xuất sắc, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia xếp hạng là Tổ chức tín dụng có chất lượng hoạt động tốt, top
5 ngân hàng TMCP tốt nhất Việt Nam…
Tính đến hết tháng 06/2013 thì MB có khoảng 84 chi nhánh trong nước và
02 chi nhánh ở nước ngoài (Chi nhánh ở Lào và Campuchia) hoạt động có hiệu quả cao Ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh An Phú (MB An Phú) là một trong
số các chi nhánh ra đời đầu tiên ở khu vực phía Nam của hệ thống MB [28]
Trang 38ốc An Phú thuộc khu đô thị An Phú – An Khánh, Quận 2 và chính thức lấy tên là
MB An Phú Xét về quy mô chi nhánh thì MB An Phú hiện là chi nhánh cấp II trong hệ thống MB với 1 chi nhánh chính, 2 phòng giao dịch và 1 điểm giao dịch Nhân sự của chi nhánh đã tăng từ 07 nhân viên lên thành 85 nhân viên
So với các ngân hàng khác thì sự ra đời của MB đã là khá muộn, vì vậy MB
An Phú cũng chỉ là một thành viên non trẻ gia nhập vào hệ thống tài chính của các ngân hàng trong khu vực phía Nam Mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng MB An Phú vẫn nắm bắt kịp thời các nhu cầu phát triển của kinh tế thị trường và góp phần tạo nên một thương hiệu MB vững mạnh như ngày hôm nay
Sau hơn 6 năm thành lập, MB An Phú đã có những thành tích đáng kể không chỉ trong HĐKD ngân hàng mà còn trong các phong trào thi đua thể thao, văn nghệ
và các công tác xã hội do hệ thống MB hay các đơn vị khác tổ chức Một trong các thành tích được hệ thống MB ghi nhận đó là sự cố gắng của MB An Phú trong việc tích cực xử lý NQH đồng thời tăng cường, giám sát quá trình trước, trong và sau cho vay để hạn chế NQH phát sinh làm ảnh hưởng tiêu cực đến chi nhánh Nhờ vậy, trong đợt đánh giá hoạt động 6 tháng đầu năm của toàn hệ thông, MB An Phú đã trở thành một trong ba chi nhánh hoạt động có hiệu quả tín dụng tốt nhất tại khu vực phía Nam Ngoài ra, chi nhánh còn đạt được những thành tích khác như 2 năm liên tiếp giữ chức vô địch bóng đá nam, vô địch cầu lông đôi nam nữ, đơn ca đạt giải nhất toàn hệ thống MB, bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre trong việc quyên góp xây cầu từ thiện…
Trang 39Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của MB An Phú
Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh MB An Phú năm 2012 [30]
2.1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban
Ban lãnh đạo ngân hàng bao gồm một giám đốc chi nhánh và hai phó giám đốc Trong đó giám đốc chi nhánh chịu trách nhiệm chung về hoạt động của chi nhánh bao gồm việc thành lập và triển khai có hiệu quả các kế hoạch kinh doanh của chi nhánh, đồng thời đảm bảo các yếu tố vận hành được thực hiện trôi chảy và các vấn đề về nhân sự cấp dưới như điều chuyển tạm thời, đào tạo… Phó giám đốc kinh doanh chịu trách nhiệm chính về HĐKD của chi nhánh, thực hiện lên kế hoạch
và triển khai các chương trình thúc đẩy HĐKD phát triển Phó giám đốc vận hành
Giám đốc chi nhánh
Phó giám đốc kinh doanh
Phòng hành chính tổng hợp
Điểm giao dịch Lê Phụng Hiểu
Phòng giao dịch Cát Lái
Trang 40chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện các hoạt động hỗ trợ kinh doanh và vận hành chi nhánh hoạt động trơn tru
Chi nhánh có hai phòng giao dịch hoạt động như một chi nhánh ngân hàng với quy mô thu nhỏ Tuy nhiên, ngoài hoạt động huy động và cho vay thì các chức năng còn lại của ngân hàng như phát hành bảo lãnh, mở thư tín dụng, mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế… đều phải được sự đồng ý của giám đốc chi nhánh và thực hiện hạch toán tại chi nhánh Ngoài ra, chi nhánh còn có 01 điểm giao dịch tên gọi là Lê Phụng Hiểu có quy mô nhỏ hơn với chức năng chính là huy động vốn và thực hiện thu chi cho cục Hải Quan Cát Lái…
Bộ phận hành chính tổng hợp thực hiện các công việc liên quan đến công tác văn thư, thu xếp các vấn đề về văn phòng phẩm cho chi nhánh, các công tác liên quan đến an sinh, phúc lợi cho nhân viên…
Phòng thẩm định có chức năng thẩm định khách hàng, cùng với các chuyên viên quan hệ khách hàng thực hiện giám sát chặt chẽ vấn đề trước, trong và sau khi cho vay Hỗ trợ chuyên viên quan hệ khách hàng xử lý NQH khi có phát sinh
Phòng kế toán và dịch vụ khách hàng có chức năng thực thi các vấn đề liên quan đến kế toán như chuyển tiền, rút tiền, làm sổ tiết kiệm… và hỗ trợ các dịch vụ liên quan tới khách hàng, xử lý các phát sinh ngoài tín dụng cho khách hàng
Phòng hỗ trợ thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng như soạn thảo hợp đồng, giải ngân, phát hành bảo lãnh, phát hành thư tín dụng, các thủ tục về cầm
cố, thế chấp… Đây còn được gọi là bộ phận “back office” của ngân hàng Do MB thực hiện cơ chế hỗ trợ tập trung, theo đó mọi công tác sau khi hồ sơ được phê duyệt thì bộ phận hỗ trợ sẽ chịu trách nhiệm phối hợp với chuyên viên quan hệ khách hàng để thực hiện
Phòng quan hệ KHCN và phòng quan hệ KHDN là hai phòng ban chủ chốt trong HĐKD của chi nhánh, hơn 50% giá trị các chỉ tiêu chính như huy động, dư
nợ, lợi nhuận… được tạo ra từ hai phòng ban này Nhiệm vụ chính của hai phòng ban này là thực hiện tìm kiếm và phát triển khách hàng, chăm sóc và quản lý khách hàng sau cho vay