Tuy nhiên bên cạnh những tiện ích đó là những hạn chế mà kinh doanh thẻ ngân hàng tất yếu phải đối mặt như gian lận về thẻ, đánh cắp thông tin để chiếm đoạt giá trị trong thẻ của người k
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRẦN VĂN SUỐT
QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Chuyên ngành Kinh tế tài chính, ngân hàng
Mã số: 60 31 12
Người hướng dẫn khoa học: Giảng viên cao cấp; TS LÊ HÙNG
TP Hồ Chí Minh – Năm 2013
Trang 2Sinh ngày : 25/12/1974 - Tại: An Giang
Quê quán : Hội An - Chợ Mới – An Giang
Hiện công tác tại: Ngân hàng TMCP Ngoại thương CN TP Hồ Chí Minh
Là học viên cao học khóa 12 của Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh
Cam đoan đề tài: “Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam”
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính, ngân hàng Mã số: 60.31.12
Người hướng dẫn khoa học: Giảng viên cao cấp; TS Lê Hùng
Luận văn được thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh
Đề tài này là công trình nghiên cứu riêng của tôi, các kết quả nghiên cứu
có tính độc lập riêng, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chưa được công bố toàn bộ nội dung này bất kỳ ở đâu; các số liệu, các nguồn trích dẫn trong luận văn được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi
TP.HCM, ngày 13 tháng 12 năm 2013
Tác giả
Trần Văn Suốt
Trang 31.1.1 Sự phát triển của thẻ ngân hàng và những tác động đối với quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ 1 1.1.2 Những vấn đề cơ bản về thẻ ngân hàng - nhận dạng những vấn đề đặt ra đối với quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ 3
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI RO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ NGÂN HÀNG 10
1.2.1 Hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng 10 1.2.2 Rủi ro và tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng 12 1.2.3 Sự cần thiết tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng 17
1.3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI RO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ NGÂN HÀNG TỪ MỘT SỐ NƯỚC 18
1.3.1 Bài học kinh nghiệm từ một số tổ chức kinh doanh thẻ ngân hàng 18 1.3.2 Bài học kinh nghiệm tăng cường quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng đối với Việt Nam 21
Kết luận chương 1 21 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO VÀ TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI
RO 23 HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ NGÂN HÀNG TẠI VIETCOMBANK 23 2.1 VÀI NÉT VỀ VIETCOMBANK 23
2.1.1 Tình hình hoạt động chung 23 2.1.2 Kết quả kinh doanh 25
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM QUA CÁC NĂM 2008 - 2012 26
2.2.1 Hoạt động kinh doanh thẻ và những vấn đề đặt ra đối với quản lý rủi ro kinh doanh thẻ 26 2.2.2 Thực trạng rủi ro kinh doanh thẻ tại Vietcombank 32 2.2.3 Thực trạng quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ tại Vietcombank 43
Trang 42.3.2 Những hạn chế trong quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ 48
2.3.3 Những nguyên nhân hạn chế quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ 51
Kết luận chương 2 54
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI RO 56
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ TẠI VIETCOMBANK 56
3.1 ĐỊNH HƯỚNG VĨ MÔ VÀ CHIẾN LƯỢC HOẠT ĐỘNG CỦA VIETCOMBANK 56
3.1.1 Định hướng chung của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam liên quan đến hoạt động thẻ ngân hàng 56
3.1.2 Định hướng của Hội thẻ Việt Nam 56
3.1.3 Chiến lược của Vietcombank 57
3.2 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI RO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ CỦA VIETCOMBANK 57
3.2.1 Đối với Vietcombank 57
3.3 NHỮNG KHUYẾN NGHỊ 68
3.3.1 Đối với khách hàng 68
3.3.2 Đối với Chính phủ 69
3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 70
3.3.3 Đối với Hiệp hội thẻ ngân hàng 70
Kết luận chương 3 71
KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT CHỮ VIẾT TẮT NGHĨA CỦA CHỮ VIẾT TẮT
02 NHNNVN Ngân hàng nhà nước Việt Nam
03 NHTM Ngân hàng thương mại
08 Vietcombank Ngân hàng Thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam
09 POS Point of sale (Máy chấp nhận thanh toán thẻ)
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
SỐ THỨ
TỰ
TÊN BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ Trang
Bảng 2.1 Nguồn vốn của Vietcombank từ 2008 đến 2012 23Bảng 2.2 Tổng dư nợ tín dụng và nợ xấu của Vietcombank từ 2008 -
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình phát triển của ngân hàng, một trong những sản phẩm dịch vụ hiện đại xuất hiện đó là thẻ ngân hàng Thẻ ngân hàng mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng và cho cả ngân hàng Tuy nhiên bên cạnh những tiện ích là những rủi
ro kèm theo như là một mặt trái của sản phẩm mới, đòi hỏi phải có phương cách quản lý nhằm hạn chế những rủi ro, giảm thiểu những thiệt hại xảy ra
Quản lý hoạt động kinh doanh nói chung, quản lý rủi ro nói riêng của ngân hàng thương mại (NHTM) là nội dung vừa mang tính chiến lược vừa mang tính thời sự luôn đặt ra mà các NHTM luôn phải tập trung để hoàn thiện phương thực quản lý
Trong đó vấn đề quản lý trong hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng, nhất
là khi tội phạm về thẻ ngày càng tinh vi và có xu hướng tăng Quản lý tủi ro thẻ là một vấn đề có tính cấp thiết nhằm đảm bảo an ninh thẻ và an toàn cho cả khách hàng, ngân hàng và xã hội
Nghiên cứu về quản lý rủi ro trong kinh doanh thẻ có ý nghĩa quan trọng đối
cả lý thuyết và thực tế đang đặt ra Về lý thuyết cần làm rõ thêm khái niệm rủi ro
và quản lý rủi ro kinh doanh thẻ, làm rõ sự cần thiết tăng cường quản lý rủi ro kinh doanh thẻ Về thực tế quản lý rủi ro kinh doanh thẻ là vấn đề có tính bức xúc cao, đòi hỏi có giải pháp tháo gỡ nhằm bảo vệ lợi ích cho khách hàng, ngân hàng, xã hội Với lý do đó em chọn nghiên cứu về:
"Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam" làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ kinh tế của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Hiện có nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực thẻ ngân hàng Cụ thể một số công trình nghiên cứu sau:
Trang 8Vương Anh Tuấn: Phát triển thẻ ngân hàng tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Tân Thuận, (2003), luận văn thạc sỹ kinh tế - Học viện Ngân hàng, đề tài tập trung nhiên cứu về phát triển các loại thẻ ngân hàng một tiện ích mới của dịch vụ ngân hàng
Nguyễn Thị Kim Thoa: Bàn về sự liên kết hệ thống ATM của các ngân hàng thương mại Việt Nam, (2006), đề tài nghiên cứu – Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng, đề tài tập trung đánh giá về sự rời rạc, chia cắt và kiến nghị các giải pháp liên kết về ATM đối với các NHTM Việt Nam
Trần Thùy Dung: Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử trong hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam, (2009), đề tài nghiên cứu – Trường Đại học Kinh tế
Đà Nẵng, đề tài tập trung nghiên cứu và đề xuất giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử nhằm hiện đại hóa hoạt động ngân hàng
Lê Hoàng Duy: Đánh giá chất lượng dịch vụ thẻ ATM của ngân hàng thương
mại cổ phần Ngoại thương - chi nhánh Thành Phố Hồ Chí Minh, (2009), luận văn
thạc sỹ kinh tế - Trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, đề tài tập trung nghiên cứu, đề xuất giải pháp đánh giá chất lượng thẻ ATM tại Vietcombank Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh
Hoàng An Quốc: Tiềm năng và giải pháp phát triển một số lĩnh vực dịch vụ cao trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 – 2020, (2012), đề tài nghiên cứu – Trường Đại học Kinh tế - Luật thành phố Hồ Chí Minh, đề tài nghiên cứu và đề xuất phát triển một số dịch vụ lĩnh vực cao, trong đó có đề cập phát triển dịch vụ thẻ ngân hàng
Nguyễn Thị Ngọc Hân: Phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam, (2013), luận văn thạc sỹ kinh tế - Trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh, đề tài tập trung nghiên cứu và đề xuất giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại một ngân hàng cụ thể là NHTM cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
Từ đó việc nghiên cứu của đề tài "Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam" là đề tài nghiên
Trang 9cứu chuyên sâu về quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ nên không trùng lắp với các đề tài đã được công bố
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn: Đưa ra những giải pháp tăng cường quản
lý rủi ro kinh doanh thẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn: Từ mục đích nghiên cứu của luận văn, nhiệm vụ của nghiên cứu tập trung vào những nội dung là tổng hợp, bổ sung những lý luận cơ bản về thẻ và những đặc điểm thẻ ngân hàng; lý luận về rủi ro trong kinh doanh thẻ ngân hàng; những vấn đề đặt ra đòi hỏi tăng cường quản lý rủi ro trong kinh doanh thẻ ngân hàng, những tác động, những yêu cầu về quản lý thẻ ngân hàng; sự cần thiết tăng cường quản lý rủi ro kinh doanh thẻ ngân hàng Nghiên cứu liên hệ thực tế về những bài học kinh nghiệm trong quản lý rủi ro kinh doanh thể của một số NHTM khác
Sưu tầm những số liệu (số liệu thứ cấp) có liên quan đối với kinh doanh thẻ ngân hàng, những rủi ro đã xảy ra trong kinh doanh thẻ và những cách thức xử lý
về những rủi ro đó Những số liệu được chọn lọc từ những nguồn chính thức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN), từ Vietcombank, từ tài liệu thống kê,
từ các báo cáo chính thức của những cơ quan hữu quan khác
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là vấn đề quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ tại Vietcombank
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào thẻ ngân hàng, hoạt động kinh doanh, rủi ro
và quản lý rủi ro kinh doanh thẻ tại Vietcombank từ 2008 đến hết 2013; khi cần luận văn có thể đề cập một số diễn biến trong một số tháng đã qua của năm 2013
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật và lịch sử trong nghiên cứu nhằm đảm bảo đối tượng nghiên cứu được xem xét, phân tích, đánh giá
Trang 10một cách toàn diện, lịch sử, cụ thể trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, nhằm tránh những phiến diện, một chiều trong việc đưa ra những kết luận của từng phần cũng như của toàn bộ đề tài
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp quan sát, mô tả hệ thống, phương pháp thống kê toán dưới dạng thiết lập các bảng số liệu, phương pháp phân tích và tổng hợp, nghiên cứu thực tế, thu thập thông tin, đối chiếu, so sánh, phân tích, đánh giá trên cơ sở tài liệu thu thập được
Luận văn còn kế thừa những tài liệu khoa học, các bài báo khoa học được đăng tải trên tạp chí khoa học, trên các trang Web chính thống
6 Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu
Giả thuyết chủ yếu được đặt ra trong nghiên cứu là:
Rủi ro trong kinh doanh thẻ ngân hàng là một tất yếu, do vậy cần phải làm rõ những hạn chế, những nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong kinh doanh thẻ của NHTM để tăng cường các giải pháp quản lý rủi ro kinh doanh thẻ nhằm giảm thiểu rủi ro kinh doanh thẻ ngân hàng
Câu hỏi nghiên cứu:
- Rủi ro trong kinh doanh thẻ ngân hàng có thể xuất phát từ những lỗi của bản thân NHTM? Nếu tăng cường quản lý rủi ro kinh doanh thẻ từ phía NHTM thì có thể phòng ngừa, ngăn chặn để giảm thiểu rủi ro và xử lý chính xác, nhanh chóng những rủi ro có thể xảy ra?
- Rủi ro trong kinh doanh thẻ ngân hàng có thể xuất phát từ những lỗi của bản thân chủ thẻ? Nếu vậy, có thể đưa ra giải pháp để chủ thẻ nâng cao hiểu biết, chủ động phòng ngừa thì có thể giúp NHTM tăng cường quản lý rủi ro và xử lý chính xác, nhanh chóng những rủi ro có thể xảy ra?
- Rủi ro trong kinh doanh thẻ ngân hàng có thể xuất phát từ những lỗi sản xuất thẻ, lỗi từ những thiết bị như các phương tiện, công cụ phục vụ giao dịch thẻ? Nếu tăng cường sản xuất thẻ chất lượng cao, hiện đại hóa các thiết bị phục vụ giao
Trang 11dịch qua thẻ thì có thể giúp các NHTM tăng cường quản lý rủi ro kinh doanh thẻ ngân hàng một cách tốt hơn?
- Xâm phạm để chiếm đoạt tiền từ thẻ ngân hàng ngày càng tinh vi, phức tạp thậm chí là những hoạt động đó còn mang tính tội phạm quốc tế? Nếu có được sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong và ngoài nước thì có thể giúp các NHTM tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ một cách hữu hiệu hơn?
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành ba chương: Chương 1 Những vấn đề cơ bản về tăng cường quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng rủi ro và tăng cường quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ tại Vietcombank
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh
thẻ tại Vietcombank
Trang 121.1.1 Sự phát triển của thẻ ngân hàng và những tác động đối với quản lý rủi
ro hoạt động kinh doanh thẻ
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường ngày càng đa dạng dẫn đến những nhu cầu mới nhằm mang lại những tiện ích, an toàn cho sản xuất – phân phối – trao đổi và tiêu dùng Việc tiêu dùng và thanh toán của các cá nhân cũng như của các tổ chức ngày càng tăng lên, được đáp ứng bằng nhiều dịch vụ khác nhau như trả góp thu tiền tại nơi người tiêu dùng đăng ký, trả chậm thanh toán một hoặc nhiều lần bằng ghi sổ, sử dụng séc cá nhân …
Trên thực tế đã xuất hiện việc mua bán chịu, những người bán hàng dựa vào mức độ tin tưởng của mình với người mua và theo dõi những khoản mua chịu đó bằng cách ghi sổ Tuy nhiên đã xảy ra chuyện người mua chịu do những lý do khác nhau đã chậm hoặc không trả được toàn bộ hay một phần tiền đã mua chịu làm thiệt hại cho người bán hàng Xuất phát từ thực tế đó đã làm nảy sinh những ý tưởng về sản phẩm thẻ từ các định chế trung gian tài chính, trong đó có ngân hàng thương mại, bởi khả năng về tài chính của các định chế trung gian tài chính lớn, có khả năng cung cấp cho khách hàng của mình những khoản vay miễn lãi hoặc lãi thấp trong những khoảng thời gian chấp nhận được
Có thể nói một trong những tiên phong trong việc cung cấp phương tiện thanh toán trả chậm là Tổ chức chuyển tiền Western Union của Mỹ, năm 1914, lần đầu tiên đã chọn lựa và cung cấp cho một số các khách hàng của mình dịch vụ thanh toán trả chậm Western Union đã phát hành những thẻ kim loại có chứa các thông tin in nổi nhằm nhận diện, phân biệt khách hàng, cung cấp, cập nhật các thông tin về tài khoản, thông tin về giao dịch thực hiện của từng khách hàng
Trang 13Nhận thấy những tiện ích mà Western Union cung cấp dịch vụ trả chậm cho khách hàng của mình, chỉ vài năm sau đó nhiều tổ chức khác như nhà ga, khách sạn, các cửa hàng tại Mỹ đã lựa chọn cung cấp dịch vụ trả chậm cho khách hàng của mình theo phương thức của Western Union Đáng chú ý là vào năm 1924, Tập đoàn xăng dầu của Mỹ cung cấp thẻ mua xăng cho khách hàng với tiện ích cao là người sử dụng thẻ có thể mua xăng, dầu tại tất cả các địa điểm bán xăng, dầu trên khắp nước Mỹ
Hiện tại ghi nhận rằng, vào năm 1950, khi đó Frank Mc Namara và Ralph Schneider là hai doanh nhân người Mỹ, đồng thành lập ra Diners Club, sau một lần
đi ăn ở nhà hàng mà quên đem theo tiền để trả, các ông đành viết biên nhận cam kết sẽ trả sau cho nhà hàng Sự việc đó đã làm nảy sinh ý tưởng kinh doanh thẻ đối với Frank Mc Namara Sau đó, tấm thẻ tín dụng đầu tiên, được làm bằng chất liệu plastic ra đời Từ đó Frank Mc Namara và Ralph Schneider đã cung cấp cho bạn
bè, đồng nghiệp của mình thẻ Diners Club, cho phép những người dùng thẻ này có thể ghi nợ khi ăn, nghỉ tại một số nhà hàng, khách sạn ở New York và thanh toán
số tiền nợ theo định kỳ hàng tháng mà không giới hạn số tiền được phép chi tiêu
Sự ra đời của thẻ ngân hàng mang lại tiện ích cho người tiêu dùng sử dụng trong thanh toán đã nhanh chóng được chấp nhận trong công đồng và được nhiều người sử dụng Một khi cầu tăng tất yếu có cung và điều tất yếu là sẽ có người kinh doanh dịch vụ đó Thị trường thẻ ngân hàng xuất hiện như là một tất yếu kinh
tế và với những tiến bộ của công nghệ, kỹ thuật mới ngành kinh doanh thẻ trở thành một trong những ngành không thể thiếu của NHTM
Có thể nhận thấy rõ điều đó qua diễn biến sau, thẻ ngân hàng khi đã thu hút nhiều người sử dụng, thị trường thẻ xuất hiện, ngày càng có nhiều tổ chức tham gia vào kinh doanh thẻ Những năm 50, hàng loạt thẻ mới xuất hiện trên thị trường như Trip Charge, Golden Key, Gourmet Club, Carte Blanche và American Express Việc cung cấp và kinh doanh thẻ ngân hàng không chỉ dừng lại trong phạm vi quốc gia mà vươn ra toàn cầu, bởi nhu cầu thanh toán vượt khỏi phạm vi một quốc gia là hiện thực Trước nhu cầu và thời cơ kinh doanh, các tổ chức kinh doanh thẻ cung cấp dịch vụ thẻ quốc tế cho khách hàng của mình Tất nhiên kèm
Trang 14theo đó là nhu cầu quản lý về thẻ được ban hành với một hệ thống các quy tắc, tiêu chuẩn trong xử lý thanh toán thẻ toàn cầu, mà trước hết những quy định này được soạn thảo bởi Inter Bank (MasterCharge) và Bank of American (Bank Americard)
Vào năm 1977, Bank Americard trở thành Visa USA và sau đó trở thành Tổ chức thẻ quốc tế Visa; tiếp đến MasterCharge cũng trở thành một tổ chức thẻ quốc
tế lớn là MasterCard (năm 1979) Đến nay người ta ghi nhận có 5 tổ chức thẻ quốc
tế lớn nhất thế giới và cung ứng phần lớn các loại thẻ đang lưu hành trên thế giới là Visa, Master Card, American Express, JCB và Diner Club
Từ đó cho thấy sự phát triển thẻ ngân hàng là một tất yếu kinh tế do nhu cầu khách quan của cuộc sống Liền theo sự phát triển của thẻ ngân hàng là sự xuất hiện và phát triển của công nghệ, kỹ thuật mới, đặc biệt là công nghệ, kỹ thuật điện
tử, tin học Thẻ ngân hàng ra đời mang lại tiện ích cho người sử dụng và những tiện ích cho nền kinh tế như an toàn hơn, đỡ tốn kém các chi phí quản lý như đếm tiền, vận chuyển, bảo quản, nhất là tác động làm giảm khối lượng thanh toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế
Tuy nhiên bên cạnh những tiện ích đó là những hạn chế mà kinh doanh thẻ ngân hàng tất yếu phải đối mặt như gian lận về thẻ, đánh cắp thông tin để chiếm đoạt giá trị trong thẻ của người khác; những trục trặc kỹ thuật khi sản xuất thẻ, những sự cố khi vận hành thẻ; lợi dụng thẻ vào những hành động phi pháp; những yếu kém trong hoạt động kinh doanh thẻ … Đó là những tác động đòi hỏi phải tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng của hệ thống ngân hàng và các
Trang 15chức năng của thẻ và cho từng loại thẻ Do vậy có thể đề cập đến khái niệm thẻ trên phương diện sau:
Theo Citibank (một công ty con hoạt động trong lĩnh vực tài chính của tập đoàn Citigroups), trong năm 1968 Citibank tự phát hành thẻ của riêng mình và đến những năm 70 Citibank là một trong những ngân hàng Mỹ đầu tiên giới thiệu máy rút tiền tự động, cung cấp giao dịch cho 24 giờ truy cập vào tài khoản, lúc này Citibank cho rằng thẻ là "Thẻ tất cả mọi thứ" (Thẻ là một phương tiện theo đó ngân hàng tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng tiền của mình bất cứ lúc nào để chi trả cho chi tiêu của mình) Đến thời kỳ 1977 – 1987 Citibank đã tạo ra một thương hiệu thẻ tín dụng riêng biệt gọi thẻ là “thẻ lựa chọn”, lúc này khái niệm thẻ được điều chỉnh lại là “Thẻ là một phương tiện theo đó ngân hàng tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng thẻ lựa chọn của mình bất cứ lúc nào để chi trả cho chi tiêu của mình” [16]
Tại Singapore, tập đoàn Ngân hàng UOB thành lập năm 1935 với tên gọi United Chinese Bank, đến năm 1965, đổi tên thành United Overseas Bank Khi UOB đề cập đến thẻ ngân hàng, cho rằng: “Thẻ là phương tiện giữ tiền, thanh toán
do ngân hàng phát hành cung cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền mua hàng, dịch vụ, rút tiền mặt …” hoặc “Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận” [18]
Tại Việt Nam theo Qui chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng ban hành kèm theo quyết định số 371/1999 QĐ/NHNN ngày 19/10/1999 thì thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ [8]
Từ những mô tả có tính chất khái niệm nêu trên có thể rút ra một số đặc tính của thẻ ngân hàng nói chung:
- Thẻ ngân hàng là phương tiện chứa đựng giá trị phát triển gắn liền với việc ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực tài chính ngân hàng
- Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt
Trang 16- Thẻ ngân hàng là công cụ mà ngân hàng phát hành cho khách hàng dùng
để thanh toán các khoản mua hàng hoá dịch vụ tại các điểm cung ứng hàng hoá dịch vụ có ký hợp đồng thanh toán với ngân hàng, hoặc rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hay các ngân hàng đại lý trong phạm vi số dư tiền gửi của khách hàng hoặc hạn mức tín dụng được ngân hàng cấp
- Thẻ ngân hàng còn dùng để thực hiện các tiện ích khác thông qua máy rút tiền tự động hay máy giao dịch tự động (ATM) mà ngân hàng triển khai như kiểm tra thông tin tài khoản, chuyển tiền, thanh toán tiền điện, nước, bảo hiểm, điện thoại …
Với nội dung dẫn luận như trên có thể đi đến một khái niệm tổng quát về thẻ ngân hàng như sau:
Thẻ ngân hàng là một phương tiện do ngân hàng phát hành dùng để lưu trữ giá trị của người sử dụng thẻ để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ tại các cơ
sở chấp nhận thẻ hoặc dùng để rút tiền mặt tại các điểm giao dịch trực tiếp hay gián tiếp qua máy ATM
Từ đó cho thấy việc phát hành và sử dụng thẻ ngân hàng là một chuỗi vận hành từ phát hành thẻ, giao dịch thẻ trực tiếp hoặc gián tiếp một cách đa dạng trong một không gian, thời gian rộng do đó sẽ phát sinh những rủi ro không mong muốn Trực trạng đó yêu cầu phải có phương thức quản lý và tăng cường quản lý rủi ro đối với hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng
1.1.2.2 Cấu tạo và phân loại thẻ và những khía cạnh quản lý rủi ro
- Cấu tạo thẻ những vấn đề đặt ra đối với quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng:
Sau một thời kỳ phát triển đến nay thẻ ngân hàng thường được cấu tạo bằng plastic theo kích cỡ chuẩn thông lệ quốc tế và chứa đựng các yếu tố như nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên và logo của nhà phát hành thẻ, mã số thẻ, thời gian hiệu lực, tên chủ thẻ Ngoài ra thẻ còn có thể có một số yếu tố khác theo qui định của tổ chức thẻ quốc tế mà các thành viên tham gia phải thực hiện
Trang 17Mỗi loại thẻ có một biểu tượng riêng, mang tính đặc trưng của tổ chức phát hành thẻ, nhằm chống lại sự giả mạo Có thể đề cập một số loại thẻ sau:
MasterCard: Thẻ này có hình 2 hình tròn, một hình màu da cam, một hình màu đỏ lồng nhau nằm ở góc dưới bên phải và dòng chữ MasterCard màu trắng ở giữa, trên hai hình tròn lồng nhau là hai nửa quả cầu lồng nhau in chìm
JCB: Thẻ này có 3 màu là xanh dương, xanh lá cây và màu đỏ, ngang giữa thẻ có chữ JCB
Visa: Thẻ này có 3 màu là xanh, trắng và vàng, có chữ Visa chạy ngang giữa phần màu trắng, trên mặt thẻ là hình chim bồ câu đang bay in chìm
Cho dù là loại thẻ nào thì mỗi loại thẻ đều có mã số thẻ riêng cho mỗi chủ thẻ; tuỳ loại thẻ mà chữ số khác nhau và cách cấu trúc theo nhóm cũng khác nhau
Số thẻ dập nổi trên thẻ và được in lại trên hoá đơn khi chủ thẻ thanh toán bằng thẻ
Mỗi thẻ đều có ghi rõ thời hạn lưu hành và thẻ đó chỉ có hiệu lực trong khoảng thời gian nhất định đó Ngoài thời gian trên thẻ thì thẻ không có hiệu lực
Mỗi loại thẻ luôn có ký hiệu an ninh, mã số được in trên thẻ, chẳng hạn thẻ Visa có chữ V hoặc CV, PV, RV, GV; thẻ MasterCard có chữ M và chữ C lồng vào nhau; thẻ Amex còn in thêm số mật mã cho từng đợt phát hành
Việc mô tả trên cho thấy việc vận hành của thẻ còn liên quan đến những ký hiệu, hình thức của mỗi loại thẻ vừa là nhận dạng phân biệt thẻ của từng tổ chức phát hành vừa là sự phản ánh đặc trưng và logo riêng, nhưng quan trọng là những
ký hiệu, cách thức bố trí nhằm để nhận dạng và chống giả mạo, bởi thẻ chính là
“tiền” của chủ thẻ và là của ngân hàng Trước thực tế đó đặt ra cần có những phương thức quản lý rủi ro hữu hiệu đối với kinh doanh thẻ ngân hàng ngay từ khi thiết kế, bố trí hình thức và những ký hiệu của thẻ
- Phân loại thẻ và những khía cạnh quản lý rủi ro kinh doanh thẻ ngân hàng Dựa vào những tiêu thức cụ thể có nhiều cách để phân loại thẻ Trong thực
tế và phổ biến thẻ được phân theo công nghệ sản xuất; phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ và phân theo phạm vi sử dụng của thẻ
Trang 18Một, phân loại thẻ theo công nghệ sản xuất thẻ
Phân loại thẻ theo công nghệ sản xuất thẻ có ba loại là thẻ khắc chữ nổi, thẻ
từ và thẻ thông minh
Thẻ khắc chữ nổi (Embossing Card) là loại thẻ được làm bằng nhựa dựa trên kỹ thuật khắc nổi những thông tin cần thiết trên thẻ Công nghệ này hiện nay hầu như không được sử dụng nữa vì kỹ thuật thô sơ, dễ bị lợi dụng làm giả
Thẻ từ (Mangnetic Stripe) là loại thẻ có dải băng từ ở mặt sau thẻ chứa đựng những mã hóa các thông tin cần thiết liên quan đến thẻ và chủ thẻ Loại thẻ này hiện được sử dụng phổ biến trên thế giới Tuy nhiên, đến nay thẻ từ cũng bộc
lộ những nhược điểm của nó như số lượng các thông tin được mã hoá không nhiều, các thông tin mang tính cố định Kỹ thuật này hiện nay cũng đã lạc hậu, do vậy tính bảo mật của thẻ từ cũng thấp và dễ bị đánh cắp các thông tin dẫn đến rủi ro cho chủ thẻ, cho ngân hàng, cho các điểm chấp nhận thẻ và cho nền kinh tế
Thẻ thông minh (Smart card) là loại thẻ dựa trên công nghệ, kỹ thuật mới với chíp điện tử thay cho băng từ, loại thẻ này hiện đang được các nhà phát hành thẻ sử dụng trong cung cấp cho khách hàng
Từ việc phân loại thẻ theo công nghệ sản xuất thẻ cho thấy những khía cạnh đặt ra cần chú trọng đến vấn đề an ninh của việc phát hành, sử dụng thẻ Khi thay đổi thẻ từ thẻ từ sang thẻ thông minh sẽ dẫn đến việc phải đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ vận hành thẻ sẽ khá tốn kém mà không phải nhà phát hành nào cũng có thể sẵn sàng thực hiện ngay được Tuy nhiên cho dù là sử dụng thẻ chíp điện tử thì vấn đề đảm bảo an toàn cho chủ thẻ, cho ngân hàng… tránh bị rủi ro cũng không đơn giản Một khi những người chủ mưu xâm phạm thẻ để chiếm đoạt giá trị từ thẻ cũng sử dụng những công nghệ, kỹ thuật mới thì vấn đề quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng càng phức tạp thêm
Hai, phân loại thẻ theo tính chất thanh toán những khía cạnh đặt ra trong quản lý rủi ro
Phân loại thẻ theo tính chất thanh toán thẻ có hai loại là thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ
Trang 19Thẻ tín dụng (Credit Card) là được áp dụng như là một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, cho phép chủ thẻ được chi tiêu trước tại tất cả các điểm
có hiệu lực của thẻ cả trong và ngoài nước sau đó mới trả tiền Nếu việc hoàn trả tiền chi trước nằm trong khoảng thời gian nhất định mà ngân hàng cho phép thì chủ thẻ không phải trả lãi, ngoài thời gian đó chủ thẻ phải trả phí và lãi cho ngân hàng theo quy định Khi toàn bộ số tiền phát sinh được trả lại cho ngân hàng, hạn mức tín dụng của chủ thẻ được khôi phục như ban đầu
Ngân hàng có thể mở rộng kinh doanh loại thẻ này bởi nó có sức thu hút khách hàng do những tiện ích mà nó mang lại Tuy nhiên vấn đề đặt ra khi mà giao dịch của thẻ tín dụng được thực hiện trong một không gian, thời gian rộng, việc quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ trở nên cấp thiết và gặp không ít những khó khăn Do vậy đòi hỏi phải tăng cường quản lý những rủi ro đối với thẻ tín dụng, nhất là khi giao dịch của thẻ tín dụng được mở rộng cả về không gian và thời gian giao dịch với nhiều điểm chấp nhận thanh toán cả trong và ngoài nước Rủi ro không loại trừ thông tin thẻ bị kẻ xấu đánh cắp, chủ thẻ ở một nước, còn thẻ của mình lại đang được chi tiêu tại một nước khác
Thẻ ghi nợ (Debit Card) là loại thẻ như một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, cho phép chủ thẻ tiếp cận với số dư tài khoản của mình qua hệ thống kết nối trực tuyến để thanh toán hàng hoá dịch vụ tại các điểm chấp nhận thẻ hoặc thực hiện các giao dịch liên quan tới tài khoản tại các máy rút tiền tự động (ATM) Mức chi tiêu của chủ thẻ nằm trong khuôn khổ số dư trong tài khoản, ngân hàng chỉ là người cung và thu phí dịch vụ
Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản là thẻ ghi nợ Online và thẻ ghi nợ Offline Thẻ ghi nợ Online là loại thẻ mà những thông tin về giao dịch của thẻ được kết nối trực tiếp với thiết bị điện tử đặt tại điểm chấp nhận thanh toán hoặc điểm rút tiền mặt tới ngân hàng phát hành Giá trị những giao dịch được khấu trừ trực
tiếp và ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ
Thẻ ghi nợ Offline là loại thẻ mà những thông tin giao dịch được lưu tại máy điện tử của đơn vị chấp nhận thẻ và được chuyển đến ngân hàng phát hành
Trang 20muộn hơn; giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ vào tài khoản của chủ thẻ sau
có thể thực hiện nhiều giao dịch khác nhau tại máy rút tiền tự động như kiểm tra số
dư, chuyển khoản, rút tiền, bank - infor, in sao kê Sự tiện lợi là đặc điểm quan trọng nhất của thẻ ATM vì chủ thẻ có thể sử dụng tài khoản cá nhân của mình tại ngân hàng mọi lúc, mọi nơi bất kể ngày hay đêm
Việc kết nối các máy ATM với nhau tạo nên một hệ thống ATM, lúc này cho dù khách hàng mở thẻ tại một ngân hàng nhất định nhưng vẫn có thể giao dịch với máy ATM của nhiều ngân hàng khác nhau trong hệ thống ATM kết nối
Điển hình như hai hệ thống ATM lớn nhất thế giới là Cirrus của MasterCard
và Plus của Visa cho phép thẻ của nhiều định chế trung gian tín dụng khác kết nối, tạo nên một mạng lưới ATM rộng khắp toàn cầu
Thẻ tính tiền là một hình thức của thẻ ghi nợ và được phát hành giống như phương thức của thẻ tín dụng; theo đó hàng tháng chủ thẻ phải hoàn trả đầy đủ hoá đơn thanh toán
Thẻ tính tiền được nối mạng cùng hệ thống với thẻ tín dụng nhưng lệ phí hàng năm lớn hơn thẻ tín dụng, nhất là với loại thẻ vàng (Gold Charge Card) thường do các tổ chức du lịch và giải trí lớn như Diners Club và American Express phát hành - do thẻ vàng mang lại những tiện ích có tính ưu tiên cho chủ thẻ như ưu tiên đặt chỗ, mua vé máy bay có khi bao gồm cả phí bảo hiểm du lịch
Các loại thẻ ghi nợ cũng như thẻ tín dụng là mang lại lợi ích cho người sử dụng và cũng là cơ hội cho ngân hàng mở rộng kinh doanh thẻ Tuy nhiên những rủi ro của loại thẻ này hiện cũng đang là vấn đề mà cả xã hội quan tâm, trong đó yêu cầu đặt ra là các ngân hàng phải tăng cường quản lý rủi ro kinh doanh thẻ
Trang 21Ba, phân loại thẻ theo phạm vi không gian sử dụng – những vấn đề quản lý rủi ro trên không gian, thời gian rộng
Phân theo phạm vi không gian sử dụng có thẻ nội địa và thẻ quốc tế
Thẻ nội địa là thẻ được sử dụng thanh toán các khoản tiền mua hàng hóa, dịch vụ hay rút tiền mặt trong phạm vi một nước nhất định Loại thẻ này thường là thẻ ghi nợ do các NHTM phát hành
Thẻ quốc tế là thẻ được sử dụng thanh toán các khoản tiền mua hàng hóa, dịch vụ hay rút tiền mặt cả trong và ngoài nước tại bất kỳ các đơn vị chấp nhận thẻ hoặc máy ATM trong hệ thống của ngân hàng phát hành Để phát hành thẻ quốc tế, ngân hàng phát hành thẻ phải đăng ký và được chấp nhận làm thành viên của tổ chức thẻ quốc tế Từ tiện ích này cũng cho thấy rằng quản lý rủi ro kinh doanh thẻ lúc này trên phạm vi rộng lớn hơn – phạm vi quốc tế
Vấn đề đặt ra thẻ ngân hàng dù là loại nào thì bên cạnh những tiện ích lớn lao là những rủi ro có thể xảy ra, do vậy việc tăng cường phòng ngừa, quản lý rủi
ro trong kinh doanh thẻ luôn là vấn đề thời sự đồng thời là nội dung có tính chiến lược mà các ngân hàng quan tâm
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI RO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ NGÂN HÀNG
1.2.1 Hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng
Hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng là một hoạt động cung cấp dịch vụ của ngân hàng cho khách hàng thông qua việc cung ứng các loại thẻ (gọi chung là thẻ ngân hàng) cho khách hàng bao gồm hai nội dung chủ yếu là phát hành thẻ và thanh toán
Nhìn chung hoạt động kinh doanh thẻ bao gồm có các chủ thể tham gia bao gồm ngân hàng phát hành, ngân hàng thanh toán (không ít ngân hàng vừa là ngân hàng phát hành vừa là ngân hàng thanh toán), chủ thẻ, đơn vị chấp nhận thẻ và Tổ chức thẻ quốc tế
Trang 22Thông qua hoạt động kinh doanh thẻ các ngân hàng đã mang lại những lợi ích thiết thực cho xã hội, trong đó có ngân hàng và những chủ thể liên quan
Đối với nền kinh tế việc các ngân hàng cung ứng dịch vụ thẻ đã góp phần đáng kể vào việc thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt, đây là một mơ ước lớn lao mà nền kinh tế nào cũng mong muốn đạt được
Thực tế cho thấy thanh toán bằng tiền mặt góp phần cho những giao dịch tiêu cực trong nền kinh tế Thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt cũng làm cho việc kiểm soát kinh tế gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với việc tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ Khi thanh toán được tổ chức qua các kênh của ngân hàng sẽ góp phần giảm đáng kể khối lượng tiền mặt trong lưu thông đồng thời việc kiểm soát thương mại minh bạch hơn, kiểm soát các nguồn thu hiệu quả hơn
Đối với các chủ thẻ khi sử dụng dịch vụ thẻ ngân hàng sẽ mang lại cho họ nhiều tiện ích Lúc này họ chỉ cần kiểm soát một hoặc vài ba thẻ ngân hàng và không còn phải lo giữ tiền mặt trong người, không sợ bị mất cắp, không phải đưa tiền qua lại khi thanh toán vừa vệ sinh, vừa không lo lầm lẫn, lo tiền không đủ chuẩn nữa Dùng thẻ ngân hàng phù hợp có thể thực hiện thanh toán cả trong và ngoài nước mà không còn phụ thuộc nhiều vào lượng tiền mặt mang theo Nếu rủi
ro trong việc mất thẻ chủ thẻ nhanh chóng báo cho khách hàng để được bảo vệ tức thì bằng cách ngăn chặn giao dịch trong toàn hệ thống đối với thẻ bị mất
Hoạt động kinh doanh thẻ còn thu hút các đơn vị chấp nhận thẻ Tại các đơn
vị chấp nhận thẻ khi khách hàng mua hàng hóa, dịch vụ sẽ dùng thẻ thanh toán một cách nhanh chóng, tiện lợi do không phải dùng tiền mặt Thanh toán qua sử dụng thiết bị chuyển ngân điện tử tại điểm bán hàng (Electronic Funds Transfer at Point
of Sale – viết tắt là EFTPOS) là một hình thức thanh toán hiện đại Thanh toán nhanh gọn, đẩy nhanh việc xử lý các giao dịch bán hàng Các đơn vị chấp nhận thẻ không phải xử lý thủ công trên giấy tờ, do đó tiết giảm được chi phí bán hàng thông qua việc giảm chi phí đếm, bảo quản tiền, quản lý tài chính
Ngân hàng khi kinh doanh thẻ có những lợi ích thiết thực đó là: Qua việc thanh toán thẻ tạo nguồn thu cho ngân hàng từ phí đơn vị chấp nhận thẻ, phí sử
Trang 23dụng thẻ và lãi suất cho khoản tín dụng khi chủ thẻ thanh toán chậm so với thời gian quy định Kèm theo đó ngân hàng phát hành còn có thể có thêm những khoản thu từ các dịch vụ tài chính ngân hàng khác Bên cạnh đó nhờ thẻ thanh toán số lượng tiền gửi của khách hàng để thanh toán thẻ và số lượng tài khoản của các đơn
vị chấp nhận thẻ góp phần tạo thêm cho ngân hàng một lượng vốn
Ngân hàng thanh toán xây dựng và quản lý mạng lưới đơn vị chấp nhận thẻ, tổng hợp những dữ liệu giao dịch do đơn vị chấp nhận thẻ thực hiện để chuyển đòi ngân hàng phát hành thông qua trung gian là Tổ chức thẻ Quốc tế
Tổ chức thẻ quốc tế là đơn vị đứng đầu, quản lý mọi hoạt động phát hành và thanh toán thẻ, tồn tại dưới các hình thức hiệp hội như Visa và MasterCard hay công ty độc lập như American Express, Diner Club Tổ chức thẻ quốc tế không trực tiếp phát hành thẻ mà chỉ đứng ra liên kết với các thành viên, đặt ra các qui định bắt buộc các thành viên phải áp dụng và tuân theo thống nhất thành một hệ thống toàn cầu Các ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực thanh toán thẻ quốc tế đều phải gia nhập vào một tổ chức thẻ quốc tế nhất định nào đó
Mỗi chủ thể tham gia hoạt động thẻ đều có vai trò nhất định và không thể thiếu trong việc phát huy tối đa tính năng phương tiện thanh toán hiện đại không dùng tiền mặt của ngân hàng Điều này cho thấy để quản lý rủi ro kinh doanh thẻ liên quan đến nhiều tổ chức trong nền kinh tế, nó vừa là công việc của từng ngân hàng vừa là công việc của cả xã hội và các cơ quan bảo vệ an ninh, trật tự
1.2.2 Rủi ro và tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng
1.2.2.1 Khái niệm rủi ro và tăng cường quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng
Rủi ro là những gì không mong muốn xẩy ra gây thiệt hại cho các chủ thể
liên quan Theo đó: Rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng là những tổn thất trong quá trình hoạt động kinh doanh thẻ do những bất trắc trong quá trình phát hành và thanh toán thẻ cũng như những quá trình liên quan đến sự vận hành của thẻ
Trang 24Tăng cường là một thuật ngữ chỉ sự tăng thêm về tốc độ, cường độ, số lần hay làm cho mạnh thêm, nhiều thêm và khi gắn với một vấn đề cụ thể thì sẽ có nghĩa là vấn đề đó được mạnh thêm, nhiều thêm
Theo đó tăng cường quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng có nghĩa là làm cho vấn đề quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ mạnh thêm
1.2.2.2 Những rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng
Như đã đề cập, hoạt động kinh doanh thẻ của NHTM bao gồm 2 nội dung chủ yếu là phát hành và thanh toán, bên cạnh đó là những hoạt động hỗ trợ như quản lý rủi ro, phát triển công nghệ, quảng bá thu hút khách hàng…
Thanh toán bằng thẻ diễn ra theo một quy trình nhất định và diễn ra trên diện rộng ở phần lớn các điểm chấp nhận thẻ, ngân hàng trên phạm vi quốc gia và quốc tế, do vậy nắm vững quy trình thanh toán để tăng cường phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh thẻ là rất cần thiết
ĐƠN VỊ CHẤP NHẬN
THẺ HOẶC NGÂN
HÀNG ĐẠI LÝ
NGÂN HÀNG PHÁT HÀNH
TỔ CHỨC THẺ QUỐC TẾ
3 4
7 8 9
10
Trang 25[3] Gửi hoá đơn thanh toán thẻ cho ngân hàng thanh toán
[4] Ghi có vào tài khoản của đơn vị chấp nhận thẻ hoặc ngân hàng đại lý [5] Gửi dữ liệu thanh toán tới Tổ chức thẻ quốc tế
[6] Ghi có cho ngân hàng thanh toán
[7] Báo nợ cho ngân hàng phát hành
[8] Thanh toán nợ cho tổ chức thẻ quốc tế
[9] Gửi sao kê cho chủ thẻ
[10] Thanh toán nợ cho ngân hàng phát hành
Hoạt động phát hành của ngân hàng bao gồm việc triển khai và quản lý toàn
bộ quá trình đưa thẻ ra thị trường, sử dụng thẻ và thu nợ chủ thẻ Ngay trong khâu phát hành đã tiềm ẩn những rủi ro có thể xảy ra Có thể đề cập đến một số rủi ro có thể xảy ra trong khâu phát hành, như:
- Rủi ro trong xây dựng qui định về phát hành, sử dụng thẻ và thu hồi nợ Trong xây dựng các qui định về phát hành, sử dụng thẻ và thu hồi nợ có thể bộc lộ những sơ hở, nhất là khi mà thực tế phát sinh những vướng mắc nhưng các quy định chậm được sửa đổi Việc theo dõi hồ sơ phát hành, kiểm soát hạn mức rút tiền, thực hiện giao dịch thanh toán, chuyển khoản, kiểm soát số tiền thanh toán tối thiểu, ghi nhận ngày sao kê, thời gian ân hạn, quy định các loại phí, lãi, hạn mức tín dụng tối đa, các chính sách ưu đãi đối với chủ thẻ… cũng có thể xảy ra những thiếu sót trong quá trình thực hiện
- Rủi ro trong thẩm định khách hàng
Kế đến là những sai sót có thể xẩy ra trong việc thẩm định khách hàng phát hành thẻ, cấp hạn mức thanh toán, nhất là khi ngân hàng phát hành chạy theo số lượng mở thẻ
- Rủi ro trong in ấn thẻ
Việc thiết kế và tổ chức mua thẻ trắng, in và mã hoá, tạo mã PIN cho khách hàng cũng có thể xảy ra rủi ro trong in ấn Việc giữ bí mật về tạo mã PIN lần đầu
Trang 26khi giao cho khách hàng cũng là một khâu dễ bị rủi ro do việc chuyển thẻ đến khách hàng, nhất là vì một lý do nào đó chuyển qua trung gian
- Rủi ro trong quản lý thông tin khách hàng
Trong quản lý thông tin khách hàng và hoạt động sử dụng thẻ của khách hàng cũng có thể xảy ra rủi ro do những trục trặc trong giao dịch với máy Khi có
sự cố mất thẻ, nhất là mất thẻ hàng loạt do sự cố thiên tai gây ra mà khách hàng chậm báo cho ngân hàng để kiểm soát ngăn chặn giao dịch của thẻ bị mất
- Rủi ro trong quản lý thu hồi nợ
Quản lý tình hình thu nợ khách hàng cũng là một khâu rất quan trọng và rủi
ro cũng có thể xảy ra khi khách hàng có sự cố Khi khách hàng chậm phát hiện việc thẻ của mình bị xâm phạm, các giao dịch gian lận được thực hiện cho đến khi ngân hàng thông báo đòi nợ, khách hàng mới biết bị mất tiền và việc khiếu nại giải quyết kéo dài, thiệt hại cho cả khách hàng và ngân hàng
- Rủi ro trong thanh toán giữa các ngân hàng với tổ chức thẻ
Tổ chức thanh toán với ngân hàng thanh toán và các tổ chức thẻ quốc tế là một trong những hoạt động trong kinh doanh thẻ và đây cũng là một khâu chứa đựng những rủi ro cần phải quan tâm Tội phạm đột nhập vào hệ thống dịch vụ thanh toán qua mạng của hệ thống ngân hàng để lấy thông tin, giả danh ngân hàng gửi thư điện tử đến chủ thẻ yêu cầu cung cấp thông tin về chủ thẻ; gửi vi rút chiếm quyền điều khiển máy tính, khi khách hàng vào một trang web chính thống sẽ bị chuyển đến một trang web giả mạo mà không hề biết, những thông tin nhập vào trang web giả này sẽ bị sử dụng để đánh cắp tiền trên tài khoản
- Rủi ro trong hoạt động thanh toán thẻ
Hoạt động thanh toán thẻ đóng vai trò có tính quyết định đối với sự phát triển kinh doanh thẻ Hoạt động thanh toán của ngân hàng bao gồm các nội dung chủ yếu như tổ chức và quản lý hệ thống thông tin đơn vị chấp nhận thẻ, quản lý hoạt động của mạng lưới đơn vị chấp nhận thẻ, tổ chức thanh toán các giao dịch sử dụng thẻ cho các đơn vị chấp nhận thẻ, tổ chức tập huấn kiến thức thanh toán thẻ
Trang 27cho nhân viên các đơn vị chấp nhận thẻ, cung cấp trang thiết bị, vật tư phục vụ cho công tác thanh toán thẻ Thanh toán thẻ thường xảy ra rủi ro, nhất là rủi ro khi đơn
vị chấp nhận thẻ câu kết với tội phạm để tổ chức đánh cắp thông tin khách hàng Rủi ro cũng có thể xảy ra mang lại thiệt hại cho khách hàng và ngân hàng khi đơn
vị chấp nhận thẻ do lý do nào đó từ chối chấp nhận thanh toán qua thẻ
- Rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ từ lý do công nghệ
Công nghệ làm thẻ còn những hạn chế và việc thay thế thẻ từ sang thẻ chíp điện tử là cả một vấn đề, bởi chi phí rất lớn từ sản xuất thẻ mới, thay thế máy ATM cho tương thích, đường truyền sao cho tương thích, các phương tiện hỗ trợ khác như máy chấp nhận thẻ…mà không phải ngân hàng nào cũng có thể có được nguồn tài chính cần thiết cho việc thay thế này Một thực tế cho thấy công nghệ hiện đại có thể giúp hạn chế rủi ro trong kinh doanh thẻ, nhất là việc đánh cắp thông tin thẻ, tuy nhiên kỹ thuật “hack” cũng theo đó mà phát triển đến mức khó lường trước được, do vậy việc tăng cường quản lý rủi ro trong kinh doanh thẻ luôn
là vấn đề cần được tăng cường
- Rủi ro bị đánh cắp thông tin thẻ
Rủi ro bị đánh cắp thông tin thẻ là rủi ro xảy ra khá nhiều Rủi ro khi khách hàng thực hiện giao dịch, nhất là với máy ATM Trong trường hợp này những kẻ gian lận tìm cách đánh cắp thông tin thẻ kể cả và nhất là mã số PIN Đặc biệt tội phạm sử dụng công nghệ cao, trong đó có skimming
ATM skimming là một phương thức ăn cắp thông tin tài khoản của thẻ giao dịch, kẻ xấu sử dụng những thiết bị điện tử rất tinh vi để đánh cắp thông tin trong thẻ ATM và ghi lại mã PIN của thẻ, từ đó tội phạm có thể truy xuất vào toàn bộ số tiền của thẻ
Tóm lại, hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng đối mặt với rất nhiều loại rủi ro khác nhau như, thẻ giả, thẻ bị mất cắp, thất lạc, thẻ bị lợi dụng, giao dịch thanh toán giả mạo, các thủ đoạn lấy cắp thông tin khách hàng nhất là ATM skimming để làm giả thẻ để rút cắp tiền, thanh toán hàng hóa, dịch vụ Các chiêu thức của tội phạm ngày càng tinh vi, như đặt chíp điện tử để lấy cắp thông tin, mã
Trang 28PIN; gắn một bàn phím giả có kết nối bluetooth hoặc với điện thoại di động để truyền dữ liệu đè lên bàn phím thật của máy ATM; tội phạm còn đặt máy ATM giả không có tiền mà chỉ có thiết bị đọc dữ liệu trên băng từ của thẻ, khi chủ thẻ giao dịch đã vô tình để lại thông tin của thẻ cho tội phạm; đặt camera ghi hình thao tác của chủ thẻ để mò ra mã PIN, thậm chí tội phạm còn đi mua máy ATM cũ đã bỏ đi
để lấy những thông tin giao dịch trước đó còn lưu trên máy để làm giả thẻ Kể cả việc không có mã PIN nhưng nếu tội phạm có được những thông tin cá nhân trong thẻ, tội phạm sử dụng thẻ giả mua hàng trên mạng bởi một số trang web không yêu cầu phải nhập mã bảo mật Những rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ ngày càng
có xu hướng gia tăng và ngày càng tinh vi đòi hỏi cần phải tăng cường quản lý rủi
ro trong hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng
1.2.3 Sự cần thiết tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng
Thẻ ngân hàng ngày càng trở nên phổ biến, được nhiều ngân hàng tham gia kinh doanh, được nhiều người sử dụng bởi những tiện ích của nó Tuy nhiên bên cạnh những tiện ích là những rủi ro ảnh hưởng đến kinh doanh và sử dụng thẻ ngân hàng Do vậy tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là rất cần thiết Sự cần thiết đó thể hiện trên những mặt sau:
1.2.3.1 Nhằm đảm bảo an toàn cho ngân hàng để cung ứng nhiều sản phẩm tiện ích cho khách hàng
Khi tăng cường quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng sẽ giúp cho khách hàng an tâm sử dụng dịch vụ thẻ của ngân hàng Các ngân hàng sẽ có điều kiện cung cấp và mở rộng dịch vụ thẻ cho khách hàng Ngân hàng an toàn là mong muốn của cả xã hội đối với hoạt động ngân hàng, trong đó có quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng
1.2.3.2 Tạo sự yên tâm cho khách hàng
Khách hàng mở thẻ là mong muốn có được tiện ích và an toàn trong sử dụng thẻ Do vậy một khi sử dụng thẻ ngân hàng mà không có được sự an toàn thì khách hàng không dám hoặc sẽ hạn chế mở thẻ và sử dụng thẻ Do vậy tăng cường
Trang 29quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng sẽ có cơ hội thu hút thêm khách hàng để ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh thẻ
1.2.3.3 Góp phần thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt và quản lý giao dịch thương mại, tiền tệ tốt hơn
Thông qua việc sử dụng thẻ ngân hàng sẽ hạn chế đáng kể việc lưu thông tiền mặt trong nền kinh tế, từ đó góp phần vào thúc đẩy lưu thông hàng hóa Thanh toán qua thẻ còn giúp cho việc quản lý giao dịch thương mại, quản lý tiền tệ tốt hơn Do đó tăng cường quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng là hết sức cần thiết
Tóm lại tăng cường quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng nhằm hạn chế những rủi ro có thể xẩy ra, tạo sự an tâm trong hoạt động thẻ của cả ngân hàng và khách hàng, góp phần ổn định tiền tệ trong nền kinh tế
1.3 Bài học kinh nghiệm tăng cường quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng từ một số nước
1.3.1 Bài học kinh nghiệm từ một số tổ chức kinh doanh thẻ ngân hàng
1.3.1.1 Bài học tăng cường quản lý rủi ro thẻ từ một số tổ chức thẻ quốc tế
Kinh doanh thẻ là một trong những hoạt động kinh doanh đem lại nhiều lợi nhuận nên sự phát triển thẻ diễn ra khá mạnh mẽ Hiện nay Visa là tổ chức đứng đầu trên thị trường thẻ với khoảng 50% thị phần phát hành và hơn 45% thị phần thanh toán Đứng thứ hai là MasterCard với 30% thị phần phát hành và 25% thị phần thanh toán Các tổ chức lớn tiếp theo là American Express, UnionPay, Diners Club, Discover, JCB
Thị trường thẻ càng rộng lớn càng phải đối mặt với nhiều rủi ro liên quan đến thẻ nhất là rủi ro do bị đánh cắp thông tin thẻ
Để đối phó với những rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng các
tổ chức như Tổ chức thẻ quốc tế Visa và MasterCard … tăng cường quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ bằng những giải pháp sau:
Trang 30- Tăng cường huấn luyện nhân viên liên quan đến hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng, nhất là tăng cường phẩm chất đạo đức song song với nghề nghiệp
- Tăng cường chỉnh sửa những quy định về in ấn, phát hàng thẻ, theo dõi quản lý vận hành thẻ và nhất là tăng cường tính an toàn trong giao dịch thanh toán bằng thẻ bằng cách truy vấn xác nhận thêm các thông tin khi giao dịch nhằm kiểm tra ngay các giao dịch nghi ngờ
- Tăng cường xúc tiến việc thay thế các loại thẻ bằng từ, công nghệ đã lạc hậu dễ bị đánh cắp thông tin sang loại thẻ thông minh có gắn chip điện tử là loại thẻ làm bằng công nghệ cao có khả năng đảm bảo an toàn hơn do khó bị đánh cắp thông tin
- Liên kết với các công ty cung cấp các giải pháp công nghệ mới nhằm cung cấp dịch vụ cho lĩnh vực thương mại điện tử, thương mại di động
- Tăng cường bảo vệ các nơi đặt máy ATM và những điểm chấp nhận thẻ
- Tăng cường huấn luyện nghiệp vụ cho các đơn vị chấp nhận thẻ để họ có thể và tham gia bảo vệ an toàn giao dịch thẻ
- Tăng cường thông tin về những sơ hở của chủ thẻ và của các điểm bán hàng trên mạng để ngăn chặn rủi ro
1.3.1.2 Bài học tăng cường quản lý rủi ro thẻ ngân hàng từ Trung Quốc
Với dân số hàng tỷ người và là một nơi thu hút khách du lịch trong tốp đầu của thế giới, Trung quốc bao gồm cả Hồng Kông trở thành một trong những trung tâm tài chính lớn và là một thị trường thẻ ngân hàng đầy tiềm năng
Hiện tại Trung Quốc có 152 tổ chức phát hành thẻ , trong đó có 4 NHTM Nhà nước và các NHTM cổ phần, trong đó đáng kể là China Merchant Bank Nếu tính cả Hồng Kông thì tại thị trường thẻ còn có thêm khoảng 20 ngân hàng tham gia thị trường thẻ Hồng Kông, ngân hàng phát hành lớn nhất là Standard Chartered Bank, tiếp theo là HongKong Bank 2
Chỉ tính riêng Trung Quốc đã có đến gần 550.000 điểm gắn POS, gần 70.000 máy ATM và gần 400.000 đơn vị chấp nhận thẻ
Trang 31Tại Trung Quốc có duy nhất một tổ chức kết nối các ngân hàng hoạt động thẻ là China UnionPay (CUP) Hiện CUP có gần 250 thành viên tham gia phát hành thẻ Các chi nhánh của CUP và các thành viên đều nối mạng với nhau để thực hiện thanh toán
Với thị trường rộng lớn như vậy việc kinh doanh thẻ là quan trọng bởi mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng và đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng Tuy nhiên rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ trên thị trường thẻ tại Trung Quốc là rất lớn Tội phạm thẻ trong nước và cả tội phạm người nước ngoài tăng mạnh trong những năm gần đây Trước thực trạng đó để tăng cường quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ, CUP đã áp dụng tăng cường một số biện pháp sau:
- Điều chỉnh và hoàn thiện những qui định đảm bảo sự thống nhất trong hoạt động kinh doanh ATM Buộc các thành viên tuân thủ yêu cầu về tiêu chuẩn
kỹ thuật, quy tắc kinh doanh thống nhất
- CUP rất khắt khe trong việc kiểm định năng lực các thành viên mới và chỉ kết nạp khi thành viên này đảm bảo đáp ứng được những yêu cầu, tiêu chuẩn mà CUP đưa ra
- CUP tăng cường tính chuyên nghiệp của 3 công ty con của mình nhằm bịt kín hơn các lỗ hổng trong quản lý để hạn chế những rủi ro Theo đó CUP tăng cường tính chuyên nghiệp của các công ty con của mình nhằm kiểm soát chặt chẽ hơn hoạt động kinh doanh thẻ
Những công ty con chuyên trách bao gồm: Công ty con thứ 1 chuyên cung cấp các dịch vụ cho quá trình xử lý phát hành thẻ đáp ứng nhu cầu của các thành viên Công ty dịch vụ đại lý là công ty chuyên cung cấp các dịch vụ về thanh toán thẻ có qui mô và chất lượng cao cho ngân hàng thanh toán, chủ thẻ và đơn vị chấp nhận thẻ và Công ty dịch vụ thanh toán điện tử chuyên cung cấp các dịch vụ thanh toán và chuyển khoản qua mạng
- CUP nhờ sự hỗ trợ và can thiệp của các cơ quan chức năng công quyền tăng cường giám sát và phát hiện những gian lận về thẻ ngân hàng
Trang 321.3.2 Bài học kinh nghiệm tăng cường quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng đối với Việt Nam
Từ việc nghiên cứu đề cập đến những bài học tăng cường quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng của những tổ chức nêu trên có thể rút ra những bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho Việt Nam:
- Tăng cường huấn luyện nhân viên liên quan đến hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng, nhất là tăng cường phẩm chất đạo đức song song với nghề nghiệp Huấn luyện nghiệp vụ cho các đơn vị chấp nhận thẻ
- Tăng cường triển khai và sớm đưa hiệu lực của luật giao dịch điện tử vào cuộc sống
- Chú trọng chỉnh sửa những quy định về in ấn, phát hàng thẻ, theo dõi quản
lý vận hành thẻ và nhất là tăng cường đảm bảo an toàn trong giao dịch thanh toán bằng thẻ
- Tăng cường xúc tiến việc thay thế các loại thẻ bằng từ, công nghệ đã lạc hậu dễ bị đánh cắp thông tin sang loại thẻ thông minh có gắn chip điện tử nhất là thẻ quốc tế
- Tăng cường bảo vệ các máy ATM và những điểm chấp nhận thẻ
- Tăng cường thông tin cảnh báo những chiêu thức lừa đảo liên quan đến thẻ để mọi người cảnh giác
Kết luận chương 1
Trong chương một luận văn đã thực hiện được những vấn đề chủ yếu sau: Luận văn đã tổng hợp, xây dựng lý luận cơ bản về tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng trên những nội dung chủ yếu như, những vấn đề cơ bản về thẻ và kinh doanh thẻ ngân hàng, trong đó đề cập nội dung
sự phát triển của thẻ ngân hàng và những tác động đối với quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ; những vấn đề cơ bản về thẻ ngân hàng, phân loại, nhận dạng những vấn đề đặt ra đối với quản lý hoạt động kinh doanh thẻ
Trang 33Nội dung chủ yếu được tập trung cho nghiên cứu là những vấn đề cơ bản về tăng cường quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng Trước hết luận văn
đề cập đến hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng; những rủi ro và tăng cường quản
lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng, trong đó luận văn đưa ra khái niệm về rủi ro và tăng cường quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng,
đề cập những rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng
Luận văn trình bày nội dung sự cần thiết tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng nhằm đảm bảo an toàn cho ngân hàng, cho khách hàng và góp phần thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt và quản lý giao dịch thương mại, tiền tệ tốt hơn
Luận văn còn đề cập đến những bài học kinh nghiệm tăng cường quản lý rủi
ro hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng từ một số nước có giá trị tham khảo đối với Việt Nam
Trang 34CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG RỦI RO VÀ TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI RO
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ NGÂN HÀNG TẠI VIETCOMBANK 2.1 VÀI NÉT VỀ VIETCOMBANK
Vốn chủ sở hữu của Vietcombank luôn tăng qua từng năm, nếu như năm
2008, vốn chủ sở hữu chỉ là 13.946 tỷ đồng, thì tới năm 2011 đã là 28.639 tỷ đồng; năm 2012 sau khi hoàn tất quá trình cổ phần hoá thì vốn chủ sở hữu của Vietcombank đã tăng lên mức 42.337 tỷ đồng (tăng 47,83% với giá trị tăng 13.698
Trang 35Tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, vốn huy động của Vietcombank trong các năm từ 2008 đến 2012 đều tăng khá cho thấy Vietcombank đã không ngừng có những bước phát triển mới, năng lực tài chính ngày càng tăng lên
2.1.1.2 Tình hình tín dụng
Trong những năm qua 2008 – 2012 tình hình kinh tế, xã hội có nhiều khó khăn song Vietcombank vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng tín dụng khá ổn định (xem bảng 2.2)
Bảng 2.2 Tổng dư nợ tín dụng và nợ xấu của Vietcombank từ 2008 - 2012
Đvt: tỷ đồng
Nguồn: Lịch sử Vietcombank 1963 – 2013 [15]
Từ bảng 2.2 cho thấy tổng dư nợ tín dụng năm 2008 là 112.793 tỷ đồng, đạt
tỷ lệ 71% vốn huy động; tương tự năm 2010 là 176.813 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 85%; đến năm 2012 là 241.163 tỷ đồng, đạt 79% Mức dư nợ trên tổng vốn huy động cho thấy đó chính là thể hiện bước đi thận trọng của Vietcombank luôn theo sát tình hình thị trường để điều chỉnh hoạt động tín dụng Trong những năm 2008 – 2011, Vietcombank đã giao và kiểm soát trần dư nợ cho từng chi nhánh, giảm chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ đối với chi nhánh có nợ xấu cao, đặc biệt kiểm soát tăng trưởng
dư nợ ngoại tệ cho vay trung , dài hạn nhằm tuân thủ các tỉ lệ an toàn theo quy định Cuối năm 2011 và trong năm 2012, trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng chung của ngân hàng khó khăn, Vietcombank đã linh hoạt và chủ động trong việc điều chỉnh lãi suất, đưa ra các sản phẩm tính dụng phù hợp, nhờ đó đã đạt được mức tăng trưởng tín dụng cao hơn mức tăng toàn ngành Nếu tính chung, mức tăng trưởng tín dụng bình quân của Vietcombank trong giai đoạn 2008 - 2012 đạt 23%/năm, đồng thời kiểm soát được chất lượng tín dụng ở mức khá tốt
2008 2009 2010 2011 2012 Tổng vuy động vốn 159.989 169.457 208.320 241.700 303.942
Tổng dư nợ tín dụng 112.793 141.621 176.813 209.418 241.163
Tỷ lệ dư nợ/vốn huy động
Trang 36Trong đó, huy động vốn cá nhân những năm qua tăng trưởng mạnh lên mức 54% trong tổng huy động vốn Huy động vốn cá nhân tính đến cuối năm 2012 đạt kết quả gần 162.080 tỷ đồng, tăng 33,3% so với năm trước
Vietcombank đã kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng vốn vay của khách hàng, các khoản nợ mới phát sinh cũng được kiểm soát chặt chẽ về chất lượng, hạn chế
nợ xấu mới phát sinh Tỉ lệ nợ xấu của Vietcombank từ 4,61% năm 2008 đã giảm còn 2,26% vào năm 2012 Vietcombank thực hiện trích lập đủ 100% dự phòng tương ứng với phân loại nợ, bao gồm cả dự phòng cụ thể và dự phòng chung nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng
2.1.1.3 Một số hoạt động kinh doanh khác
Đối với hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Trong thời gian qua 2008 – 2012, về kinh doanh ngoại tệ, Vietcombank luôn nỗ lực, áp dụng linh hoạt nhiều biện pháp để giảm thiểu tối đa rủi ro và đóng góp tích cực vào nguồn thu chung của ngân hàng Dịch vụ chuyển tiền kiều hối trong năm 2012 đạt ở mức 1,23 tỷ USD Thu từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ góp gần 10% vào tổng thu hàng năm của Vietcombank
Đối với hoạt động bán lẻ
Tính đến thời điểm cuối năm 2012, số lượng khách hàng cá nhân của Vietcombank đạt xấp xỉ 7 triệu khách hàng Giai đoạn 2008 – 2012, mỗi năm số khách hàng của Vietcombank đều tăng thêm được hơn 800.000 khách hàng Tăng được khách hàng bán lẻ chứng tỏ Vietcombank ngày càng gắn bó rộng hơn, sâu hơn với nền kinh tế
2.1.2 Kết quả kinh doanh
Vietcombank luôn duy trì được vị thế là một trong những NHTM hàng đầu Việt Nam về chất lượng và hiệu quả kinh doanh Năm 2011, lợi nhuận trước thuế của Vietcombank đạt 5.697 tỷ đồng, tăng 2,3% so với năm 2010 và tăng gần 80%
so với năm 2008 Năm 2012, mặc dù hoạt động trong môi trường kinh tế nhiều biến động không thuận lợi nhưng lợi nhuận trước thuế của Vietcombank vẫn đạt
Trang 375.761 tỷ đồng Liên tiếp trong những năm 2008 – 2010, Vietcombank luôn đứng đầu hệ thống về quy mô lợi nhuận
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM QUA CÁC NĂM 2008 - 2012
2.2.1 Hoạt động kinh doanh thẻ và những vấn đề đặt ra đối với quản lý rủi ro kinh doanh thẻ
2.2.1.1 Hoạt động kinh doanh thẻ
Phát hành thẻ và thị phần
Vietcombank rất chú trọng chiếm lĩnh thị trường thẻ nhằm nâng cao thị phần và nâng cao vị thế của Vietcombank trên thị trường thẻ trong thời gian qua (xem bảng 2.3)
Bảng 2.3 Thị phần các ngân hàng phát hành thẻ tín dụng năm 2010 – 2012
Đvt: %
Nguồn: Lafferty Group – World Cards Intelligence 2012 [19]
Từ bảng 2.3 cho thấy, trong những năm vừa qua Vietcombank luôn giữ 30% thị phần, riêng năm 2012 chỉ còn 29%
Thời gian qua các NHTM khác đã không ngừng đẩy mạnh việc phát triển hoạt động phát hành thẻ tín dụng của mình, trong đó, VietinBank có sức phát triển khá mạnh Nếu như năm 2010, thị phần của VietinBank là 16% so với 30% của Vietcombank (khoảng cách chênh lệch là khoảng 14%), thì chỉ sau 2 năm, vào năm 2012, thị phần của VietinBank đã tăng lên 27%, trong khi thị phần của
Trang 38Vietcombank giảm xuống còn 29% (khoảng cách chênh lệch đã bị giảm xuống chỉ còn 2%) Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu cũng chiếm 15 – 16% thị phần thẻ trong những năm qua Thực tế đó cho thấy việc cạnh tranh trên thị trường thẻ tại Việt Nam đang diễn ra khá mạnh mẽ
Các NHTM tại Việt Nam bắt đầu phát hành thẻ quốc tế vào năm 1996, tuy nhiên, do điều kiện để trở thành ngân hàng phát hành tương đối khó khăn và phải
là thành viên của các tổ chức thẻ quốc tế như Visa, Master nên đến nay số lượng các ngân hàng phát hành thẻ tín dụng quốc tế ở Việt Nam còn hạn chế, chỉ có một
số ngân hàng như Vietcombank, ACB, Vietinbank, VIB, Eximbank, Đông Á… và một số chi nhánh ngân hàng nước ngoài như ANZ, UOB, HSBC, Citibank
Trong thị trường thẻ đến nay chỉ có Vietcombank là ngân hàng độc quyền phát hành và thanh toán thẻ Amex; còn các ngân hàng khác chỉ phát hành thẻ Visa, Master và JCB
2009 phát hành thêm 970.243 thẻ; năm 2010 phát hành thêm 1.009.745 thẻ; năm
2011 phát hành thêm 1.067.776 thẻ và năm 2012 phát hành thêm 1.116.384 thẻ nâng số lượng thẻ tích lũy của Vietcombank hiện nay lên hơn 7 triệu thẻ Với việc
Thẻ tín dụng 25.523 2,94 30.840 3,18 48.007 4,75 79.195 7,42 91.671 8,21 Thẻ ghi nợ
Thẻ ghi nợ
Trang 39phát hành hơn 7 triệu thẻ đã mang lại nguồn thu từ phí phát hành và góp phần huy
động vốn qua tài khoản tiền gửi vãng lai của khách hàng cho Vietcombank
Về hoạt động sử dụng và thanh toán thẻ
Hoạt động sử dụng và thanh toán thẻ của Vietcombank đã có những chuyển
biến tích cực trong những năm qua (xem bảng 2.5)
Bảng 2.5 Doanh số sử dụng và thanh toán thẻ của Vietcombank (2008 - 2012)
2008 2009 2010 2011 2012 Doanh số sử dụng (tỷ đồng)
là 5.175 tỷ đồng và thẻ tín dụng là 745.135 tỷ đồng Tương tự, đến năm 2010 là 3.237 tỷ đồng; 5.175 tỷ đồng và 847.081 tỷ đồng Trong năm 2012 số tương tự là 5.397 tỷ đồng; 12.218 tỷ đồng và 957.715 tỷ đồng
Nhìn chung doanh số sử dụng thẻ qua các năm đều tăng, nhưng tỷ lệ tăng đã
giảm đi đáng kể trong năm 2012, chỉ đạt mức tăng trưởng về doanh số khoảng
16.7%, thấp hơn mức trung bình trong 3 năm liền kề trước đó (2009, 2010, 2011)
là 42.44% Điều này cho thấy Vietcombank cần chú trọng hơn trong hoạt động
phát hành và khuyến khích khách hàng sử dụng dịch vụ thẻ tín dụng do ngân hàng
mình phát hành
Về doanh số thanh toán thẻ của Vietcombank trong những năm qua tăng
trưởng với mức độ cao Nhìn vào bảng số liệu 2.5 ta có thể thấy, năm 2009 doanh
số thanh toán thẻ tín dụng quốc tế của Vietcombank chỉ đạt 567 triệu USD, mức
thấp nhất trong các năm từ 2008 đến 2012 Sự suy giảm này là do ảnh hưởng từ
Trang 40cuộc khủng hoảng kinh tế có tính toàn cầu khởi nguồn từ Mỹ vào năm 2007 Những năm còn lại doanh số thanh toán thẻ của Vietcombank vẫn đạt khá cao và tăng qua từng năm Cụ thể, năm 2009, doanh số thanh toán thẻ quốc tế là 567.04 triệu USD; năm 2010 là 745.94 triệu USD tăng 31.55% so với năm 2009; năm
2011 là 972.57 triệu USD tăng 30.38% so với năm 2010; năm 2012 là 1.185 triệu USD, tăng 21.84% so với năm 2011 Kết quả này cho thấy Vietcombank đã có những nỗ lực cao trong hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng trên thị trường thẻ ngân hàng ở Việt Nam
Những kết quả trên mà Vietcombank đạt được phải kể đến công sức và sự
nỗ lực trong hoạt động Marketing, nâng cao chất lượng công tác thanh toán, rút ngắn thời gian xử lý giao dịch, áp dụng các chính sách chăm sóc đơn vị chấp nhận thẻ, trong đó đáng kể là việc đầu tư trang thiết bị công nghệ phục vụ hoạt động thanh toán thẻ đã được chú trọng và tăng cường hoạt động quản lý rủi ro kinh doanh thẻ
Về mạng lưới thanh toán thẻ
Vietcombank đã có những chú trọng đáng kể trong việc phát triển mạng lưới thanh toán thẻ, điều đó được thể hiện qua sự tăng trưởng về số đơn vị chấp
nhận thẻ và số lượng máy POS thời gian qua (xem đồ thị 2.1 và bảng 2.6)
Đồ thị 2.1 Số đơn vị chấp nhận thẻ tín dụng tại Vietcombank (2008 – 2012)
Nguồn: Lịch sử Vietcombank 1963 – 2013 [15]