Vốn đầu tư vào du lịch được thu hút từ nhiều nguồn khác nhau như vốn ngân sách, vốn từ nước ngoài, vốn tín dụng...Trong đó, vốn tín dụng ngân hàng trong hiện tại cũng như tương lai luôn
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
ĐOÀN QUỐC TUẤN
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI
PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TỈNH
THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH, NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60.31.12
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS MAI THỊ TRÚC NGÂN
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: ĐOÀN QUỐC TUẤN
Sinh ngày 27 tháng 05 năm 1986 – tại: TT-Huế
Quê quán: Vinh Mỹ, Phú Lộc, TT-Huế
Hiện công tác tại: VietBank Nguyễn Tất Thành , Tp HCM
Là học viên cao học khóa: 11B2 của Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh Mã số học viên:
Cam đoan đề tài: Tín dụng ngân hàng đối với phát triển kinh tế du lịch
tỉnh Thừa Thiên Huế
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính, ngân hàng
Mã số chuyên ngành: 60 31 12
Người hướng dẫn khoa học: TS Mai Thị Trúc Ngân
Luận văn được thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh
Đề tài này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chưa được công bố toàn
bộ nội dung này bất kỳ ở đâu; các số liệu, các nguồn trích dẫn trong luận văn được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi
Tp HCM, ngày 12 tháng 06 năm 2013
Tác giả luận văn
Đoàn Quốc Tuấn
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 1
TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH 1
1.1 LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng 1
1.1.2 Chức năng tín dụng ngân hàng 1
1.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng 2
1.2 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ DU LỊCH 5
1.2.1 Vị trí và tầm quan trọng của du lịch trong nền kinh tế 5
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế du lịch 8
1.3 VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH 14
1.3.1 Tín dụng ngân hàng góp phần khai thác có hiệu quả các tiềm năng sẵn có từ đó thúc đẩy phát triển ngành du lịch 14
1.3.2 Đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời phục vụ cho hoạt động của ngành du lịch 15
1.3.3 Góp phần nâng cao đời sống của người dân ở các vùng nông thôn 15
1.4 KINH NGHIỆM VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH BẰNG NGUỒN VỐN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 16
1.4.1 Kinh nghiệm trên thế giới 16
1.4.2 Kinh nghiệm trong nước 18
1.4.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Thừa Thiên Huế 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 20
CHƯƠNG 2 21
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 21
2.1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH TẾ DU LỊCH CỦA TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 21
2.1.1 Các nguồn lực phát triển kinh tế du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế 21
2.1.2 Vị trí vai trò của du lịch trong nền kinh tế tỉnh Thừa Thiên Huế 26
2.1.3 Thực trạng hoạt động kinh tế du lịch Thừa Thiên Huế 31
2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH CỦA TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 38
2.2.1 Hệ thống các tổ chức tín dụng tại tỉnh Thừa Thiên Huế 38
2.2.2 Hoạt động huy động vốn nói chung tại tỉnh Thừa Thiên Huế trong những năm gần đây 38
2.2.3 Hoạt động tín dụng nói chung tại tỉnh Thừa Thiên Huế trong những năm gần đây 40
2.2.4.Tình hình cho vay đối với ngành du lịch trong 5 năm gần đây 41
2.2.5 Những thành tựu trong hoạt động tín dụng đối với việc phát triển kinh tế du lịch Thừa Thiên Huế 46
2.2.6 Những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến việc cho vay phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 52
CHƯƠNG 3 53
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁT
Trang 4TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 53
3.1 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA TỈNH TRONG THỜI GIAN TỚI 53
3.1.1 Định hướng phát triển du lịch 53
3.1.2 Mục tiêu phát triển kinh tế du lịch 54
3.1.3 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng đối với kinh tế du lịch 54
3.2 GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 55
3.2.1 Giải pháp tăng cường huy động vốn 55
3.2.2 Giải pháp mở rộng cho vay mà vẫn bảo đảm chất lượng tín dụng 57
3.2.3 Các giải pháp hỗ trợ 62
3.2.4 Kiến nghị với chính quyền địa phương các cấp 63
3.2.5 Kiến nghị đối với ngân hàng nhà nước 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 65
KẾT LUẬN 66
Trang 5SXKD - Sản xuất kinh doanh
TT-Huế - Thừa Thiên Huế
UNESCO -Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên Hiệp quốc (United
Nations Educational Scientific and cultural Organization)
Trang 6STT DANH MỤC BẢNG Trang
1 Bảng 2.1: GDP trong tỉnh TT-Huế qua các năm 26
2
Bảng 2.2: Dư nợ cho vay du lịch của Tỉnh trong 5 năm 41
3 Bảng 2.3: Tổng vốn đầu tư và vốn tín dụng ngân hàng trong 3
năm
42
1 Biểu đồ 2.1: Cơ cấu tỷ trọng đóng góp của các ngành vào GDP
4 Biểu đồ 2.4: Số liệu huy động của các TCTD trên địa bàn tỉnh
5 Biểu đồ 2.5: Tổng dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn
6 Biểu đồ 2.6: Tăng trưởng dư nợ cho vay du lịch
42
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, du lịch đang nhanh chóng trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm cả các nước phát triển và các nước đang phát triển Nước CHXHCN Việt Nam chúng ta và tỉnh TT -
Huế cũng đang ở trong xu thế đó
“Ai đi qua đó miền Trung
Xin mời ghé lại vui cùng Huế tôi”
(Thơ Tố Hữu)
Thừa Thiên Huế là vùng núi sông, biển cả kỳ thú nằm ở duyên hải Bắc miền Trung của Việt Nam, nơi có TP Huế - một trong những đô thị lớn nổi tiếng của Việt Nam Đây là vùng đất văn hiến có bề dày lịch sử - văn hóa lâu đời, đặc sắc và truyền thống yêu nước cách mạng vẻ vang Với vị trí chiến lược đặc biệt, TT - Huế
đã từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của nước Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương” cũng từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong của thời các chúa Nguyễn; kinh đô Phú Xuân của thời vua Quang Trung và kinh đô nước Việt Nam dưới thời các vua triều Nguyễn Nơi đây đã từng hội tụ, giao thoa và lan tỏa của hai nền văn hóa Đông Sơn và Sa Huỳnh thời cổ và cận đại, văn hóa Trung Hoa thời Bắc thuộc và văn hóa Tây phương thời cận và hiện đại Hiếm có vùng đất nào mà những giá trị văn hóa phong phú, đa dạng, riêng biệt đầy bản sắc của một vùng như ở TT - Huế
Việc phát triển kinh tế nói chung và kinh tế du lịch nói riêng luôn phụ thuộc vào một trong các yếu tố quan trọng, đó là vốn Vốn đầu tư vào du lịch được thu hút
từ nhiều nguồn khác nhau như vốn ngân sách, vốn từ nước ngoài, vốn tín dụng Trong đó, vốn tín dụng ngân hàng trong hiện tại cũng như tương lai luôn luôn giữ vai trò quan trọng, do nguồn vốn này tác động to lớn đến chất lượng, hiệu quả và tốc độ tăng trưởng của phát triển kinh tế du lịch Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, qua nghiên cứu cho thấy nguồn vốn nói chung và
Trang 8nguồn vốn tín dụng ngân hàng nói riêng đầu tư vào ngành kinh tế du lịch ở nước ta cũng như ở địa bàn tỉnh TT - Huế chưa đáp ứng yêu cầu, có thể nói là còn rất khiêm
tốn và bộc lộ nhiều hạn chế Qua đề tài: “Tín dụng ngân hàng đối với phát triển
kinh tế du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế” sẽ đưa ra các giải pháp để góp phần khắc phục
những tồn tại, hạn chế của tình trạng ngân hàng lúc này - Có lúc, ngân hàng có nhiều vốn để cho vay nhưng doanh nghiệp du lịch không vay vì kinh doanh du lịch gặp trở ngại, thua lỗ; lúc khác doanh nghiệp du lịch kinh doanh thuận lợi muốn vay vốn để đầu tư thì ngân hàng không có vốn hoặc cho vay một cách hạn chế, với lãi suất cao… Đồng thời, luận văn cũng đưa ra các giải pháp phát huy vai trò tích cực của tín dụng ngân hàng cũng như doanh nghiệp du lịch nhằm góp phần thúc đẩy
kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh TT-Huế phát triển nhanh, mạnh và hiệu quả cao hơn
2 Tình hình nghiên cứu
Theo cập nhật của tôi, thì cho đến nay đề tài luận văn“Tín dụng ngân hàng
đối với phát triển kinh tế du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế” là vấn đề trong thời gian
qua chưa có nhiều người chọn lựa để nghiên cứu, trình bày thành công trình khoa học Trong luận văn của mình, tôi chủ yếu tập trung nghiên cứu một
số vấn đề về tín dụng, du lịch, những điều kiện, tiềm năng và lợi thế để phát triển
du lịch TT - Huế, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm tham mưu các nhà quản
lý các cấp trong các cơ quan chính quyền địa phương, các ngân hàng thương mại, các tổ chức, doanh nghiệp du lịch và các cá nhân liên quan trên địa bàn nghiên cứu,
áp dụng để giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng với doanh nghiệp du lịch dịch vụ, tạo ra môi trường và điều kiện kinh doanh thuận lợi hơn cho
cả hai ngành kinh tế này đồng hành và cùng đạt thắng lợi cao hơn không chỉ trong
thời gian trước mắt mà còn cả về lâu về dài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là từ những cơ sở lý luận và thực tiễn về tín dụng ngân hàng trong đầu tư phát triển kinh tế du lịch nhằm làm rõ thực trạng phát triển kinh tế du lịch Thừa Thiên Huế trong thời gian qua, chỉ ra những thành tựu và hạn chế chủ yếu của quá trình đó, luận văn đưa ra phương hướng và một số giải pháp cơ
Trang 9bản nhằm góp phần thúc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế du lịch tỉnh TT - Huế trong thời gian tới
Nhiệm vụ của luận văn là:
- Khái quát lý luận về tín dụng ngân hàng một cách có hệ thống và vai trò của nó trong quá trình phát triển kinh tế du lịch
- Trình bày một số kinh nghiệm về hoạt động tín dụng trong phát triển kinh
tế du lịch của các nước, khu vực trên thế giới và một số địa phương trong nước có thể vận dụng vào việc phát triển kinh tế du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế
- Phân tích thực trạng, chỉ ra những mặt tích cực, cũng như những tồn tại, khiếm khuyết và đề xuất một số giải pháp cơ bản có tính khả thi nhằm tăng cường
vai trò của tín dụng ngân hàng trong phát triển kinh tế du lịch tỉnh TT – Huế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tín dụng ngân hàng và vai trò của tín dụng ngân hàng đối với phát triển kinh tế du lịch
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động tín dụng ngân hàng trong đầu tư phát triển
kinh tế du lịch trên địa bàn tỉnh TT-Huế từ năm 2008 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận được sử dụng để nghiên cứu là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Trên cơ sở kế thừa những yếu tố hợp lý của các công trình nghiên cứu liên quan đã được công bố, tác giả luận văn xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về tín dụng ngân hàng, du lịch và sử dụng nó để phân tích thực trạng và đề ra các giải pháp để nâng cao vai trò của tín dụng ngân hàng nhằm phát triển kinh tế du lịch ở
TT - Huế
Phương pháp cụ thể là phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch sử để tổng hợp thống kê các tài liệu, điều tra, phân tích, so sánh, đối chiếu các số liệu liên quan đến
đề tài
6 Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu này góp phần làm rõ thêm khái niệm tín dụng ngân hàng và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế du lịch
Trang 10Phân tích làm rõ những luận cứ khoa học cho việc phát triển kinh tế du lịch tỉnh TT - Huế
Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện và nâng cao vai trò của tín
dụng ngân hàng đối với phát triển kinh tế du lịch tỉnh TT - Huế
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục luận
văn gồm 3 chương
Chương 1: Tổng quan về tín dụng ngân hàng đối với phát triển kinh tế du lịch
Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng ngân hàng đối với phát triển kinh
tế du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế
Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động tín dụng ngân hàng đối với phát triển kinh tế du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH
TẾ DU LỊCH
1.1 LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng có nguồn gốc từ tiếng Latinh: Gredittum - được hiểu là tin tưởng,
tín nhiệm Tín dụng khi diễn giải theo ngôn ngữ Việt Nam được hiểu là sự vay mượn Tín dụng có nghĩa là sự vay mượn, sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng và sau một thời gian nhất định lượng giá trị đó được quay trở về với người sở hữu bằng một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu (số giá trị tăng lên đó chính là lãi trong cho vay) với những điều kiện mà hai bên đã thoả thuận với nhau
Cùng với sự phát triển của nền KTXH, hoạt động tín dụng không ngừng phát triển và hoàn thiện trở thành hình thức tín dụng ngân hàng Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng là trung gian tín dụng giữa tiết kiệm và đầu tư, giữa người đi vay
và người cho vay Vì vậy, khái niệm sau đây về tín dụng ngân hàng đã và đang được
nhiều người thừa nhận:“Tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể,
trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/ tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.[1]
Sự ra đời của tín dụng ngân hàng có tác động quyết định đến sự phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội, thúc đẩy lực lượng sản xuất góp phần quan trọng trong việc phát triển các nền kinh tế trên thế giới
Trang 12Đây là chức năng cơ bản nhất của tín dụng, nhờ chức năng này của tín dụng
mà các nguồn vốn tiền tệ trong xã hội được điều hòa từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn Chính nhờ sự vận động của tín dụng mà các chủ thể vay vốn nhận được một phần tài nguyên của xã hội phục vụ cho sản xuất hoặc tiêu dùng
Thứ hai: chức năng giám đốc và kiểm soát các hoạt động kinh tế
Chức năng kiểm soát của tín dụng xuất phát từ quyền sở hữu vốn tách rời quyền sử dụng vốn Người cho vay phải giám sát hoạt động kinh tế của người sử dụng vốn vay để đảm bảo thu hồi vốn và lợi tức Vì vậy tín dụng không những là tấm gương phản ánh hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà còn thông qua đó thực hiện việc kiểm soát các hoạt động ấy nhằm ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, lãng phí, vi phạm luật pháp
1.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng
Thực hiện tốt hai chức năng trên tín dụng có các vai trò sau:
1.1.3.1 Tín dụng góp phần đáp ứng nhu cầu vốn giúp cho quá trình sản xuất diễn ra thường xuyên, liên tục
Do tính đa dạng trong luân chuyển vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh
tế thị trường, tại một thời điểm nhất định trong nền kinh tế có một số doanh nghiệp
“thừa vốn” tạm thời do bán hàng hóa có tiền nhưng chưa có nhu cầu sử dụng ngay (như chưa trả lương cho công nhân viên, chiếm dụng từ người bán ) đã làm nảy sinh nhu cầu cho vay vốn để tránh tình trạng ứ đọng vốn và có thêm lợi nhuận Trong khi đó có những doanh nghiệp thiếu vốn tạm thời do hàng hóa chưa bán được, nhưng lại có nhu cầu mua nguyên vật liệu, thanh toán tiền lương làm nảy sinh nhu cầu đi vay để duy trì sản xuất kinh doanh mang lại lợi nhuận Tín dụng với việc cung cấp nguồn vốn cho vay kịp thời, đã tạo khả năng đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất kinh doanh, cho phép các doanh nghiệp thoả mãn nhu cầu về vốn luôn thay đổi và không để tồn đọng vốn trong quá trình luân chuyển Với hoạt động tín dụng, ngân hàng đã giải quyết được hiện tượng thừa vốn, thiếu vốn này bằng cách huy động mọi nguồn tiền nhàn rỗi để phân phối lại vốn trên nguyên tắc
có hoàn trả, phục vụ kịp thời cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh
Trang 131.1.3.2 Tín dụng góp phần tích tụ, tập trung vốn thúc đẩy sản xuất kinh doanh
Tập trung vốn phải dựa trên cơ sở tích lũy Trong thực tế, có những lượng tích luỹ rất lớn được nắm giữ ở các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế Nhưng rất nhiều người tích luỹ không muốn cho vay trực tiếp hoặc không muốn có cổ phần trong các dự án đầu tư vì ngoài lí do mất khả năng thanh khoản thì người tích luỹ còn bị hạn chế bởi khả năng, kiến thức về tài chính và pháp lí để thực hiện trực tiếp đầu tư hoặc cho vay Với hoạt động của hệ thống tín dụng có đủ độ tin cậy, do tính chuyên môn hoá cao trong hoạt động tín dụng và đa dạng hoá các danh mục đầu tư thông qua nhiều nhà đầu tư của nhiều dự án khác nhau, từ đó làm giảm bớt rủi ro do
cá nhân của những người tích luỹ, tạo nên quá trình tập trung vốn được thực hiện nhanh chóng và có hiệu quả đã tạo khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, đặc biệt
là nguồn vốn dài hạn, các doanh nghiệp, các nhà đầu tư nhờ nguồn vốn tín dụng có thể nhanh chóng mở rộng sản xuất, thực hiện các dự án đầu tư tạo những bước nhảy vọt về năng lực sản xuất do tiếp cận được với phương tiện kỹ thuật hiện đại (tin học,
internet…), từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển
1.1.3.3 Tín dụng góp phần tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh ổn định kinh tế xã hội
Trong nền kinh tế thị trường, các nhà đầu tư thường chỉ tập trung vốn đầu tư vào các lĩnh vực có lợi nhuận cao, trong khi đó, nền kinh tế đòi hỏi phải có sự phát triển cân đối, đồng bộ giữa các ngành và các vùng, yêu cầu phải có những ngành then chốt, mũi nhọn để tạo đà cho nền kinh tế phát triển nhanh chóng Tín dụng thông qua cung cấp vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn đầy đủ, kịp thời với lãi suất và điều kiện cho vay ưu đãi, có vai trò quan trọng trong việc góp phần đảm bảo vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng, hình thành các ngành then chốt, mũi nhọn và các vùng kinh tế trọng điểm góp phần hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu Chẳng hạn, với
ưu đãi về vốn, lãi suất, thời hạn và điều kiện vay vốn với nông nghiệp, nông thôn để xây dựng cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng, tín dụng góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp song song và tương thích với thương mại, dịch vụ phân phối lưu thông, tiêu thụ nông sản phẩm Tín dụng còn là phương tiện để nhà nước
Trang 14thực hiện chính sách tiền tệ thích hợp để ổn định nền kinh tế khi nền kinh tế có dấu hiệu bất ổn Chẳng hạn như khi nền kinh tế phát triển chậm, sản xuất đình trệ, nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ “nới lỏng”, ngân hàng trung ương thực hiện mua các chứng khoán của các ngân hàng thương mại, tạo áp lực giảm lãi suất dẫn đến chi phí vay vốn giảm, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ngược lại Ngoài ra, thông qua các ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện và thời hạn vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách, tín dụng đã đóng vai trò quan trọng nhằm thực hiện các chính sách việc làm, dân số và
các chương trình xoá đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội
1.1.3.4 Tín dụng góp phần thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả và tăng cường chế độ hạch toán kinh tế
Đặc trưng cơ bản của tín dụng là cho vay có hoàn trả và có lợi tức Ngân hàng huy động vốn của doanh nghiệp khi họ có vốn nhàn rỗi và cho vay khi họ cần vốn để bổ xung cho sản xuất kinh doanh Khi sử dụng vốn vay của ngân hàng, doanh nghiệp phải tôn trọng mọi điều kiện ghi trong hợp đồng tín dụng, trả nợ vay đúng hạn cả gốc và lãi Do đó, thúc đẩy các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp tăng hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí, tăng vòng quay vốn để tạo điều kiện nâng cao doanh lợi cho doanh nghiệp Muốn vậy các doanh nghiệp phải tự vươn lên thông qua các hoạt động của mình, một trong những hoạt động khá quan trọng là hạch toán kinh tế
Quá trình hạch toán kinh tế là quá trình quản lí đồng vốn sao cho có hiệu quả Để quản lí đồng vốn có hiệu quả thì hạch toán kinh tế phải giám sát chặt chẽ quá trình sử dụng vốn để nó được sử dụng đúng mục đích, tạo ra doanh lợi cho doanh nghiệp Có được điều đó thì mới thúc đẩy các doanh nghiệp ngày càng hoàn
thiện hơn quá trình hạch toán của đơn vị mình
1.1.3.5 Tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế với nước ngoài
Hoạt động tín dụng không chỉ bó hẹp trong nền kinh tế của một quốc gia, mà còn mở rộng trên phạm vi quốc tế Trong điều kiện kinh tế “mở”, tín dụng đã trở thành một trong những phương tiện nối liền các nền kinh tế các nước với nhau Vay
Trang 15nợ nước ngoài ngày nay trở thành một nhu cầu khách quan đối với tất cả các nước trên thế giới, nó lại càng tỏ ra bức thiết hơn đối với các nước đang phát triển Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển khác, là nước nghèo, tích luỹ trong nước còn hạn chế, trong khi cần lượng vốn rất lớn để phát triển kinh tế Nhờ có tín dụng, các nước có thể mua hàng hoá, nhập khẩu máy móc, thiết bị và tiếp cận với những thành tựu khoa học kỹ thuật mới cũng như trình độ quản lý tiên tiến trên thế giới Việc cấp tín dụng của các nước không chỉ mở rộng và phát triển quan hệ ngoại thương, mà còn tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế ở các nước nhập khẩu Tín dụng đã tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư quốc tế trực tiếp - một hình thức hợp tác kinh tế ở mức độ cao hơn
1.2 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ DU LỊCH
1.2.1 Vị trí và tầm quan trọng của du lịch trong nền kinh tế
1.2.1.1 Đối với một quốc gia, ngành du lịch đóng góp đáng kể vào GDP hàng năm, giải quyết việc làm, tăng thu ngoại tệ
Theo công bố mới đây tại Hội nghị Bộ trưởng Du lịch G20 vừa diễn ra ngày 16/5/2012 tại Mexico, ngành du lịch chiếm 9% tăng trưởng GDP thế giới Du lịch là một trong những ngành kinh tế có tốc độ phát triển nhanh nhất Năm 2011, mặc dù trong bối cảnh nền kinh tế thế giới tăng trưởng không lấy gì làm tốt đẹp và ổn định, ngành du lịch toàn thế giới vẫn tăng 4,6%, đón được 982 triệu lượt khách và thu nhập du lịch tăng 3,8% Dự báo du lịch thế giới sẽ tiếp tục tăng trưởng một cách bền vững trong những năm tới, đạt 1 tỷ lượt khách trong năm 2012 và 1,8 tỷ lượt năm 2030
Bên cạnh những chỉ số đóng góp ấn tượng trên, du lịch cũng được đánh giá
là ngành quan trọng tạo nhiều việc làm cho xã hội, chiếm 8% lao động toàn cầu Cứ mỗi một việc làm trong ngành du lịch ước tính tạo ra 2 việc làm cho các ngành khác Ngành du lịch cũng sử dụng lao động nhiều vượt trội so với ngành công nghiệp khác, gấp 6 lần ngành sản xuất ô tô, gấp 4 lần ngành khai khoáng, và gấp 3 lần ngành tài chính Du lịch cũng đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy mậu dịch quốc tế Năm 2011, xuất khẩu thông qua du lịch quốc tế bao gồm cả vận chuyển
Trang 16hành khách đạt 1,2 nghìn tỷ USD, chiếm 30% xuất khẩu toàn thế giới
Đối với Việt Nam, theo dự báo của Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới, năm 2012, giá trị đóng góp trực tiếp vào GDP của ngành du lịch Việt Nam sẽ tăng 6,6% so với năm 2011 và sẽ tăng bình quân 6,1% hàng năm tính đến năm 2022; tổng giá trị đóng góp của toàn ngành (trực tiếp, gián tiếp và phát sinh) vào GDP tăng 5,3% năm 2012 và sẽ tăng bình quân 6,0% tới năm 2022 Về tạo việc làm, năm
2012, tổng lao động trong ngành du lịch Việt Nam tăng 1,4% tương đương 4.355.000 gồm cả lao động trực tiếp và gián tiếp và sẽ tăng trung bình 1,1% hàng năm và sẽ đạt 4.874.000 vào năm 2022 Về xuất khẩu du lịch tại chỗ trong năm
2012, tăng 5% và bình quân tăng 6% hàng năm, tới năm 2022 đạt 4,3% tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia Về đầu tư du lịch trong năm 2012 sẽ tăng 0,5%, trong vòng 10 năm tới con số này sẽ đạt 7,7% trong tổng đầu tư toàn quốc Với những chỉ
số dự báo ấn tượng và khả quan trên, có thể thấy ngành du lịch Việt Nam đang đứng
trước một tương lai đầy hứa hẹn
1.2.1.2 Du lịch góp phần tái tạo sức lao động cho con người
Ngày nay với sự phát triển kinh tế ngày càng cao thì nhu cầu được giải trí, vui chơi, du lịch của người dân cũng tăng lên Thông qua hoạt động du lịch giúp con người giảm bớt căng thẳng do áp lực công việc, sảng khoái tinh thần sau những ngày làm việc mệt mỏi từ đó tái tạo lại sức lao động và cải thiện sức khỏe cho con người Nhiều công trình nghiên cứu y - sinh học cho thấy: nhờ chế độ nghỉ ngơi và
du lịch tối ưu, bệnh tật của dân cư trung bình giảm 30%, bệnh hô hấp giảm 40%, bệnh tim mạch giảm 50%, bệnh thần kinh giảm 30%, bệnh về đường tiêu hoá giảm
Trang 17du lịch tiềm năng thường dựa vào hình ảnh để đưa ra quyết định lựa chọn điểm đến này hay điểm đến khác Vì vậy, công tác tiếp thị, tuyên truyền là việc làm thường xuyên trong hoạt động của ngành du lịch, đặc biệt để thu hút khách du lịch nước ngoài đến Việt Nam thì việc quảng bá, giới thiệu thế mạnh và tiềm năng du lịch của Việt Nam tại các quốc gia, vùng lãnh thổ khắp các châu lục là hết sức cần thiết
Hầu hết các quốc gia đều muốn thu hút đầu tư và gia tăng lượng khách du lịch, mong muốn cộng đồng toàn cầu nhận thức tích cực về các sản phẩm do quốc gia đó sáng tạo Do đó, mỗi quốc gia đều phải tạo dựng một hình ảnh như là thương hiệu riêng để đánh thức sự nhận biết về bản sắc riêng của quốc gia đó, nhất là trong thời kỳ hội nhập và cạnh tranh Một thông điệp định vị rõ ràng hay một hình ảnh tích cực sẽ giúp quốc gia đó chiếm một vị trí nhất định trong tâm trí người nước ngoài khi họ quyết định đầu tư, đi du lịch hay mua sản phẩm Đổi lại, thương hiệu nổi tiếng cũng góp phần tạo nên hình ảnh đặc trưng cho quốc gia đó, từ đó đem lại những lực đẩy vô cùng quan trọng cho một nước như: bùng nổ dự án đầu tư nước ngoài, tăng số lượng khách du lịch, tăng hạn ngạch xuất khẩu, và còn thu hút nhân tài, khơi dậy niềm tự hào trong mỗi công dân
Thông qua hoạt động marketing của mình, ngành du lịch sẽ giới thiệu đến bạn bè khắp nơi trên thế giới về hình ảnh một đất nước Việt Nam hòa bình, xinh đẹp, con người Việt Nam hiếu khách và đặc biệt Việt Nam được biết đến là một nền kinh tế trẻ, đang trên đường phát triển và hội nhập với nhiều tiềm năng to lớn và nhiều cơ hội hợp tác đầu tư trong tất cả các lĩnh vực Tuy nhiên trong thời gian qua, hoạt động quảng bá du lịch tại nước ngoài của ngành du lịch Việt Nam chưa thật sự hiệu quả, do vậy làm cho người nước ngoài chưa biết nhiều về du lịch của Việt Nam, đặc biệt là thế mạnh về du lịch sinh thái, du lịch biển, du lịch nghiên cứu văn
hóa lịch sử, tâm linh…
1.2.1.4 Du lịch giúp khai thác được những giá trị tinh thần của tài sản quốc gia
Phong cảnh núi rừng, hang động, thác nước, những đồi cát hay những ngôi tháp, đền chùa xét về mặt giá trị kinh tế hay giá trị vật chất do bản thân nó đem lại thì không đáng kể, nhưng xét về giá trị tinh thần thông qua các hoạt động tham
Trang 18quan, khám phá do các tổ chức du lịch lữ hành khai thác cho du khách thì rõ ràng
nó có thể đem lại nguồn thu đáng kể cho quốc gia sở hữu nó
Xuất phát từ chỗ không phải quốc gia nào, tỉnh, thành phố nào cũng có thể phát triển du lịch thuận lợi và thành công như nhau mà nó phải dựa trên những lợi thế nhất định của quốc gia cũng như địa phương đó, chẳng hạn như quốc gia đó đang sở hữu những phong cảnh thiên nhiên độc đáo, nét đặc sắc văn hóa riêng có, như quần thể di tích lịch sử, các khu phố cổ, vịnh biển, hang động đặc sắc, đẹp Một khi những điều kiện thuận lợi này có sẵn thì vấn đề quan trọng còn lại là công việc tổ chức và quản lý tốt các hoạt động du lịch nhằm khai thác tối đa giá trị tinh
thần của các tài sản quí giá đó
1.2.1.5 Phát triển du lịch sẽ có lợi về nhiều mặt như chính trị, ngoại giao, văn hóa xã hội
Trong quan hệ quốc tế, du lịch như là một nhân tố củng cố hoà bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, các quốc gia Thông qua việc giao lưu, tìm hiểu về thiên nhiên, xã hội, các nét đẹp văn hoá… của dân cư ở các vùng, miền khác nhau trên thế giới làm cho con người sống
ở các quốc gia, các châu lục khác nhau hiểu biết nhau và xích lại gần nhau hơn
Ngoài ra, du lịch là cơ sở giúp người ta bảo tồn các nền văn hoá, tôn tạo lại các di tích lịch sử, các công trình văn hoá, phục hồi các khu phố cổ, phục chế các di phẩm văn hoá… Qua việc tiếp xúc với những thành tựu văn hoá phong phú và lâu đời của các dân tộc, du lịch làm tăng thêm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc
tế, hình thành phẩm chất đạo đức tốt đẹp, góp phần hoàn thiện nhân cách của mỗi cá nhân trong cộng đồng xã hội
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế du lịch
1.2.2.1 Điều kiện sống
Điều kiện sống của người dân là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch Nó được hình thành nhờ việc tăng thu nhập thực tế và cải thiện điều kiện sinh hoạt, nâng cao khẩu phần ăn uống, phát triển y tế, văn hóa, giáo dục Du lịch chỉ có thể phát triển được khi mức sống (vật chất, tinh thần) của con người đạt tới trình độ
Trang 19nhất định Một trong những nhân tố quan trọng nhất là thu nhập thực tế của mỗi người trong xã hội Cùng với mức thu nhập thực tế, các điều kiện sống khác được cải thiện Các phương tiện đi lại của cá nhân tăng lên sẽ góp phần phát triển du lịch,
tăng cường tính cơ động của nhân dân trong quá trình nghỉ ngơi, giải trí
1.2.2.2 Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch
Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch và sự thay đổi của nó theo thời gian và không gian trở thành một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình ra đời và phát triển du lịch Sự hoat động mang tính chất xã hội của cá nhân trong thời gian rỗi được quyết định bởi nhu cầu và định hướng có giá trị Nhu cầu nghỉ ngơi là hình thức thể hiện và giải quyết mâu thuẫn giữa chủ thể với môi trường bên ngoài, giữa điều kiện sống hiện có với điều kiện sống cần có thông qua các dạng nghỉ ngơi khác nhau
Nhu cầu nghỉ ngơi có tính chất kinh tế xã hội là sản phẩm của sự phát triển
xã hội, nó được hình thành trong quá trình phát triển kinh tế xã hội dưới tác động của các yếu tố khách quan thuộc môi trường bên ngoài và phụ thuộc trước hết vào phương thức sản xuất Cụ thể hơn, đó là nhu cầu của con người về khôi phục sức khỏe và khả năng lao động, thể chất và tinh thần bị hao phí trong quá trình sinh
sống
1.2.2.3 Thời gian rỗi
Du lịch trong nước và quốc tế không thể nào phát triển được nếu con người thiếu thời gian rỗi Đó là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy du lịch phát triển Để phát triển du lịch trong nước, điều kiện quan trọng là có nhiều ngày nghỉ vào cuối tuần và cac dịp lễ, tết Bằng cách này tổng số ngày nghỉ của người lao động sẽ tăng lên Cũng có thể coi đây là nhân tố thuận lợi thúc đẩy sự phát triển loại
hình du lịch dài ngày
1.2.2.4 Các nhân tố chính trị
Là điều kiện đặc biệt quan trọng có tác dụng hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của du lịch trong nước và quốc tế Du lịch chỉ có thể xuất hiện và phát triển trong điều kiện hòa bình và quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc Ngược lại,
Trang 20chiến tranh ngăn cản hoạt động du lịch, tạo nên tình trạng mất an ninh, đi lại khó khăn, phá hoại các công trình du lịch, làm tổn thất môi trường tự nhiên Hòa bình là đòn bẩy đẩy mạnh hoạt động du lịch Ngược lại, du lịch có tác dụng trở lại đến việc cùng tồn tại hòa bình Thông qua du lịch quốc tế con người thể hiện khát vọng nóng
bỏng của mình là được sống, lao động trong hòa bình và hữu nghị
Những biện pháp để thúc đẩy du lịch Việt Nam được Đảng và Nhà nước đề
ra ở Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII: “Triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể
du lịch Việt Nam tương xứng với tiềm năng du lịch của đất nước theo hướng du lịch văn hoá, du lịch môi trường sinh thái Xây dựng các chương trình và điểm hấp dẫn
về văn hoá, di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Huy động nguồn nhân lực của nhân dân tham gia kinh doanh du lịch, ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng ở những khu
du lịch, tập trung ở những trung tâm lớn Nâng cao trình độ văn hoá và chất lượng dịch vụ với các loại khách khác nhau Đẩy mạnh việc huy động vốn trong nước đầu
tư vào khách sạn Cổ phần hóa khách sạn hiện có để huy động các nguồn vốn vào việc đầu tư cải tạo, nâng cấp Liên doanh với nước ngoài xây dựng các khu du lịch
và khách sạn lớn, chất lượng cao đòi hỏi nhiều vốn Chuyển các nhà nghỉ nhà khách sang kinh doanh khách sạn và du lịch.” và trong Đại hội lần thứ XI: “Đa dạng hóa sản phẩm và các loại hình du lịch, nâng cao chất lượng để đạt tiêu chuẩn quốc tế.”[23]
Nhận thức được ảnh hưởng tiêu cực của thủ tục visa trên lượng du khách, chính phủ Việt Nam đã sớm có sáng kiến về visa như từ tháng 1/2004 bãi bỏ thị
Trang 21thực nhập cảnh cho du khách Nhật đến Việt Nam từ 15 ngày trở xuống Tháng 7/2004, sáng kiến này cũng được áp dụng với du khách Hàn Quốc Các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Inđonesa, Philippines, Singapore và Lào cũng có các thỏa hiệp visa với Việt Nam
Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch Việt Nam là chính sách dài hạn của Tổng cục Du lịch Việt Nam Từ năm 1995, Chính phủ đã chuẩn bị kế hoạch lớn thời kì
1995 - 2010 nhằm phát triển du lịch, biến du lịch thành cánh tay đắc lực mang lại ngoại tệ và công ăn việc làm cho người dân đồng thời giới thiệu phong cảnh, văn hoá và con người Việt Nam với du khách nước ngoài Năm 2000 kế hoạch được bổ sung và chỉnh sửa Theo kế hoạch, kỹ nghệ du lịch Việt Nam sẽ thu hút đầu tư phát triển các cơ sở hạ tầng và phục vụ du khách đi kèm với việc phát triển các sản phẩm
du lịch độc đáo mang bản sắc Việt Nam
Thực hiện đường lối của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã có những văn bản chỉ đạo hoạt động du lịch khoa học, thực tiễn và có hiệu quả từ Đại hội VIII đến nay Pháp lệnh du lịch Việt Nam ban hành ngày 20/02/1999 đã đi vào cuộc sống và
tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch việt Nam ngày một đi lên
1.2.2.6 Cơ sở hạ tầng và sở vật chất kỹ thuật
Du lịch thế giới phát triển mạnh và trở thành ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước Nhu cầu của khách du lịch ngày càng cao và ngày càng quan tâm tới điều kiện về tiện lợi, an toàn và sức khỏe Xu hướng chung của du khách chỉ chọn những điểm đến, những cơ sở dịch vụ du lịch, quan tâm đến bảo vệ môi trường Ở nước ta, nhờ thực hiện đường lối đổi mới về kinh tế, trong những năm gần đây, song song với đà tăng nhanh các doanh nghiệp du lịch cũng tác động đến việc tăng tốc độ phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật tổng hợp, với sự góp mặt của nhiều thành phần kinh tế đã tạo nên một diện mạo mới về số lượng và chất lượng hạ tầng
đô thị, giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông Đây là những nhân tố đóng vai trò quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế du lịch Ý nghĩa tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật đối với du lịch thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:
Trang 22Thứ nhất, về khía cạnh kinh tế, phát triển du lịch ở một địa phương kéo theo
sự phát triển của các cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, điều này cho phép thu hút những nguồn đầu tư lớn không chỉ vào lĩnh vực du lịch mà vào cả các lĩnh vực khác
có liên quan (xây dựng, giao thông, kinh doanh…) Nhờ đó, những lợi ích có thể thấy rõ là việc tạo ra thu nhập trực tiếp cho người dân bản địa (thông qua lương, kinh doanh các đồ thủ công, đồ lưu niệm địa phương…) và gián tiếp tạo ra thu nhập cho địa phương đó thông qua hoạt động của các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ Phát triển cơ sở hạ tầng du lịch cũng góp phần tạo ra việc làm, từ đó tăng cơ hội việc làm cho lao động địa phương, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp Du lịch còn
là điều kiện tốt để tăng nguồn thu ngân sách địa phương qua việc thu thuế các cơ sở hoạt động, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, nhà ở thông qua việc xây mới hoặc tu bổ, sửa chữa Bên cạnh đó, để đáp ứng các đòi hỏi của hoạt động du lịch, thông qua việc đào tạo về kiến thức và chuyên môn, chất lượng nguồn nhân lực địa phương cũng được củng cố vững chắc hơn
Thứ hai, về khía cạnh môi trường, phát triển cơ sở hạ tầng du lịch sẽ góp phần vào việc bảo tồn hoặc tu bổ các di tích lịch sử, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Thứ ba, về khía cạnh văn hóa, xã hội, phát triển du lịch sẽ tạo ra cơ hội trao đổi văn hóa giữa người bản địa và khách du lịch nước ngoài Mặt khác, đây cũng là yếu tố góp phần thay đổi tích cực các giá trị và lối sống của người địa phương Bên cạnh việc bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, đây cũng là cơ hội để giới thiệu rõ nét hơn các giá trị văn hóa địa phương trong mắt khách du lịch trong nước và nước ngoài, khuyến khích việc gìn giữ và phát huy các lễ hội truyền thống và các sự kiện văn hóa địa phương Ngoài ra, nhu cầu giao tiếp sẽ khuyến khích người dân địa phương học ngoại ngữ và rèn luyện các kỹ năng mới Chất lượng sống của người họ cũng được nâng cao qua việc hưởng lợi từ các cơ sở hạ tầng mới như đường xá, nước sạch,…
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộ các phương tiện vật chất
kỹ thuật do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác tiềm năng du lịch, tạo ra sản phẩm dịch vụ, hàng hóa cung cấp và thỏa mãn nhu cầu của du khách Bao gồm hệ
Trang 23thống khách sạn, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển, phương tiện truyền thông, thông tin như điện thoại, fax, internet, mạng lưới bưu điện,… Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch Chính vì vậy nên sự phát triển của ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật
Du lịch là ngành “sản xuất” nhiều và đa dạng về thể loại dịch vụ, hàng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch Do vậy cơ sở vất chất kỹ thuật du lịch là sản phẩm của nhiều thành phần kinh tế khác nhau tạo ra Việc tiêu dùng dịch vụ, hàng hoá du lịch đòi hỏi phải có một hệ thống các cơ sở, công trình đặc biệt…Tài nguyên du lịch chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong tiêu dùng của khách du lịch Việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống các công trình Căn cứ vào các đặc điểm trên có thể hiểu cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm toàn bộ các phương tiện vật chất tham gia vào việc tạo ra và thực hiện dịch vụ hàng hoá du lịch nhằm thỏa mãn mọi nhu cầu của khách du lịch
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật của một số ngành kinh tế quốc dân tham gia phục vụ
du lịch: thương nghiệp, dịch vụ… cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và tài nguyên du lịch có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tài nguyên du lịch ảnh hưởng tới công suất, thể loại, thứ hạng của hầu hết các thành phần cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Khả năng tiếp nhận của tài nguyên du lịch là cơ sở xây dựng công suất các công trình phục vụ du lịch Sức hấp dẫn của chúng có ảnh hưởng đến thứ hạng của các cơ sở này
Sự kết hợp hài hoà giữa tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch giúp cho cơ sở phục vụ du lịch có hiệu quả, kéo dài thời gian sử dụng chúng trong năm Vị trí của tài nguyên du lịch là căn cứ để bố trí hợp lý cơ sở vật chất kỹ thuật trên các vùng lãnh thổ của đất nước và là tiền đề cơ bản để hình thành các trung tâm
du lịch
Trang 24Để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật yêu cầu vốn đầu
tư lớn, hiệu quả tài chính thấp, đòi hỏi ngân sách tham gia lớn, trong khi NSNN hạn hẹp, việc huy động vốn cho các dự án lớn rất chậm, dẫn đến nhiều nhà đầu tư đề xuất các cơ chế vượt quá quy định của pháp luật Trong điều kiện NSNN ngày càng khó khăn, Chính phủ chủ trương tăng cường huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước, từ mọi thành phần kinh tế trong đó nguồn vốn tín dụng ngân hàng là một trong những kênh huy động vốn ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát
ra những mục tiêu, chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế du lịch giai đoạn 2010 -
2020, tầm nhìn đến năm 2030, khuyến khích động viên các cấp, các ngành, các tổ chức và cá nhân dựa trên các lợi thế của từng vùng, từng địa phương huy động các nguồn lực, trong đó có nguồn vốn tín dụng ngân hàng để đầu tư phát triển kinh tế du lịch Kết quả cho thấy, tiềm năng, lợi thế về du lịch của nước ta đã được tổ chức quản lý, khai thác bước đầu đạt hiệu quả khá tốt, từ đó thúc đẩy ngành du lịch phát triển một cách năng động, tích cực và bền vững
Để khai thác các điều kiện tự nhiên sẵn có cho phát triển du lịch trước hết phải có nguồn vốn tương ứng để đầu tư xây dựng nhằm tạo ra một cảnh quan mới thích hợp cho ngành du lịch và không được phá vỡ hệ sinh thái cũng như giá trị lịch sử đang có Đây là việc làm khó đòi hỏi phải đầu tư lớn từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó có nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại Việc đầu tư không đủ, không liên tục có thể gây ra nhiều hệ quả đáng tiếc không thể sửa
Trang 25chữa được về sau, như: phá vỡ hệ sinh thái hiện có; làm cho cảnh quan mới không đồng bộ để đủ sức thu hút du khách; gây ô nhiễm môi trường; cũng có thể dẫn đến nguồn nhân lực không thích hợp Do vậy, tiềm năng du lịch của đất nước chỉ được khai thác và phát triển một cách bền vững khi có sự tham gia kịp thời và đúng mức
của nguồn vốn tín dụng ngân hàng
1.3.2 Đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời phục vụ cho hoạt động của ngành du lịch
Cũng như các ngành kinh tế khác, để có thể phát triển một cách ổn định và bền vững thì ngành du lịch phải giải quyết được các vấn đề cơ bản đặt ra như đường lối, chính sách, hành lang pháp lý; hạ tầng kỹ thuật; môi trường đầu tư; nguồn nhân lực; vốn; thị trường… Trong đó, vốn là một trong các vấn đề quan trọng cần phải được đặt ra và giải quyết
Nguồn vốn phục vụ cho ngành du lịch đa dạng và thay đổi theo từng thời kỳ
Để phát triển du lịch ban đầu cần phải có nguồn vốn trung và dài hạn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, sau khi dự án đã đi vào hoạt động thì tùy theo từng thời kỳ cần phải có vốn lưu động phục vụ cho các nhu cầu ngắn hạn Có nhiều nguồn để tiếp cận vốn phục vụ cho phát triển ngành du lịch: vốn từ NSNN vốn tự có của doanh nghiệp, phát hành trái phiếu, vay vốn nước ngoài, vay vốn ngân hàng, Và như chúng ta đã biết, khả năng nguồn vốn của Nhà nước thì có giới hạn, vay nước ngoài cũng không phải là vấn đề đơn giản Thêm vào đó, tuy thị trường chứng khoán của chúng ta đã có, nhưng vẫn còn non trẻ nên nguồn vốn huy động từ đây còn có những hạn chế nhất định, do đó nguồn vốn tín dụng vẫn sẽ là nguồn chủ
yếu, đóng vai trò quan trọng để tài trợ kịp thời cho ngành du lịch
1.3.3 Góp phần nâng cao đời sống của người dân ở các vùng nông thôn
Bên cạnh việc chú trọng phát triển du lịch tập trung ở các thành phố lớn, các
đô thị trung tâm, có điều kiện kinh tế kỹ thuật phát triển đem lại thu nhập cao và ổn định cho các tầng lớp dân cư tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp hoạt động du lịch, theo dịnh hướng của nhà nước, dịch vụ tín dụng ngân hàng còn chú ý đầu tư phát triển các loại hình du lịch sinh thái, về với thiên nhiên hoang dã hay tìm hiểu nét văn hóa, phong tục tập quán ở các vùng nông thôn, miền núi, dân tộc thiểu số
Trang 26Các địa phương có thế mạnh về các loại hình du lịch này chẳng hạn như các tỉnh vùng núi phía Bắc, các tỉnh Tây nguyên hoặc tại các huyện đồng bằng, miền núi,… đều được khuyến khích đầu tư phát triển du lịch Với chính sách tín dụng hợp lý của các ngân hàng đã tạo điều kiện cho các địa phương này có điều kiện để khai thác tiềm năng du lịch nói trên và một khi du lịch phát triển sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển, đặc biệt là các lĩnh vực thương mại, dịch vụ ăn uống, làng nghề truyền thống, chế biến đặc sản, làm hàng thủ công mỹ nghệ qua đó tạo thêm việc làm cho người lao động, vừa góp phần tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo vừa duy trì được trật tự an ninh nông thôn Khi đời sống của người dân được nâng lên,
có tích lũy thì bản thân họ và con cái họ có điều kiện để học hành, mua sắm đồ dùng tiện nghi trong gia đình, nâng cao trình độ dân trí của người dân vùng sâu vùng xa, rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn
Với nguyên tắc cho vay có hoàn trả cả gốc lẫn lãi, người dân vay vốn phải tính toán kỹ trước khi đi vay, nếu không tính toán kỹ, làm ăn kém hiệu quả sẽ dẫn đến tình trạng khó có khả năng trả nợ vay cho các tổ chức tín dụng; chính yếu
tố này đã góp phần nâng cao trình độ hạch toán của mỗi người dân và là bước đầu
tiến tới quá trình sản xuất kinh doanh lớn ở nông thôn
1.4 KINH NGHIỆM VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH BẰNG NGUỒN VỐN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.4.1 Kinh nghiệm trên thế giới
Trong những năm qua, một số nước trong khu vực và ở châu Á, với xuất phát điểm và điều kiện tương tự của nước ta, nhưng nhờ có chính sách đầu tư, cơ chế quản lý và những biện pháp phát triển du lịch thích hợp, đã đưa ngành du lịch lên mức phát triển khá cao, được du khách và các chuyên gia về du lịch của thế giới
đánh giá cao
1.4.1.1 Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc
Đầu tư vào ngành du lịch ở Trung Quốc được thực hiện từ nhiều nguồn vốn khác nhau, như: nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn từ trái phiếu Chính phủ, trái phiếu địa phương, nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn tín dụng…Các ngân
Trang 27hàng thương mại nước này rất quan tâm đầu tư đối với các khách hàng ngành du lịch, đặc biệt là các dự án có hiệu qủa kinh tế Ở Trung Quốc, các NHTM đầu tư cho ngành du lịch thường ở dưới nhiều hình thức khác nhau như cho thuê vận hành, đầu tư trực tiếp, phát hành trái phiếu hoặc bảo lãnh phát hành trái phiếu công trình Từ các nguồn vốn thu hút được, ngành du lịch Trung Quốc đã đầu tư một cách đồng bộ, có hệ thống, từ đó đã tạo ra nhiều sản phẩm dịch vụ du lịch hấp
dẫn đối với du khách trong và ngoài nước
1.4.1.2 Bài học kinh nghiệm từ Thái Lan
Thái Lan là nước có ngành du lịch phát triển mạnh ở châu Á Truyền thống văn hóa và sự mến khách của nhân dân Thái Lan là yếu tố quan trọng góp phần tăng cường thu hút khách du lịch đến với đất nước này Có được sự thành công ấy ngành du lịch Thái Lan đã đưa ra nhiều chiến lược để thu hút nguồn vốn cho phát triển du lịch Trên cơ sở qui hoạch phát triển du lịch, Thái Lan đã huy động mọi nguồn lực (vốn ngân sách nhà nước, vốn chủ sở hữu, nguồn vốn tín dụng ngân hàng), khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia đầu tư vào cơ
sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và đầu tư tạo ra các sản phẩm dịch vụ có chất
lượng
1.4.1.3 Bài học kinh nghiệm từ Malaysia
Tại Malaysia, nguồn vốn tập trung đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, công tác xúc tiến đầu tư và thu hút khách du lịch được thực hiện bởi phát hành trái phiếu, nguồn vốn ngân sách nhà nước, doanh nghiệp, ngân hàng…Trong đó nguồn vốn phát hành trái phiếu và nguồn vốn từ ngân sách nhà nước chiếm tỷ trọng khá cao Đối với các doanh nghiệp, ngoài nguồn vốn tự có, nguồn vốn bổ sung được thu hút trên thị trường chứng khoán, liên doanh liên kết còn có nguồn vốn vay hay thu hút đầu tư nước ngoài…để đầu tư vào các danh thắng, khu du lịch, siêu thị, khách sạn nhà hàng Ở Malaysia chọn chiến lược mua sắm kết hợp với du lịch làm hướng đi chính, đến Malaysia, du khách bắt gặp nhiều siêu thị khổng lồ, là nơi mua sắm của mọi tầng lớp nhân dân từ cao cấp đến bình dân Ngoài ra, trong chiến lược phát triển du lịch của mình, Malaysia còn tập trung thu hút mọi nguồn
Trang 28nhân lực để khai thác tối đa tiềm năng lợi thế của mình như bãi biển trải dài, chế biến lương thực thực phẩm, tạo ra nhiều món ăn ngon, rẻ, Chính phủ tập trung lượng vốn lớn để trùng tu các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và giao thông
công cộng, thông tin liên lạc…
1.4.1.4 Bài học kinh nghiệm từ Singapore
Ngành du lịch Singapore đã có nhiều biện pháp để thu hút vốn đầu tư, ngoài nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn được đầu tư từ NSNN, nguồn vốn viện trợ từ nước ngoài…thì nguồn vốn từ các NHTM đã được quan tâm Các NHTM ở Singapore rất chú trọng đầu tư vào các khu vui chơi giải trí, trung tâm mua sắm
có hiệu quả kinh tế - xã hội cao…Trên thực tế đã có nhiều điểm du lịch, khu du lịch, được các NHTM đầu tư hàng triệu đô la Với việc tranh thủ mọi nguồn vốn và đầu tư một cách đồng bộ, cho đến nay ngành du lịch Singapore đã có nhiều điểm vui chơi giải trí, trung tâm mua sắm…có tầm cỡ thế giới và Singapore là điểm đến
ưa thích của nhiều du khách trong và ngoài nước
1.4.2 Kinh nghiệm trong nước
1.4.2.1 Bài học kinh nghiệm từ Bình Thuận
Trước thập niên 90 của thế kỷ 20, Bình Thuận là một trong những tỉnh còn nhiều khó khăn, kinh tế tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế Kết cấu hạ tầng còn thiếu, lạc hậu và chưa đồng bộ, đặc biệc là ở vùng nông thôn - miền núi Tuy nhiên từ năm 1995 đến nay được sự đầu tư phát triển mạnh mẽ, Bình Thuận đã trở thành một trong những thành phố phát triển du lịch hàng đầu và được mệnh danh là “Kinh đô Resort” của cả nước Để có sự phát triển vượt bật như trên
là do Bình Thuận đã tận dụng các điều kiện tự nhiên, lợi thế sẵn có để thu hút đầu
tư vào phát triển du lịch từ nhiều nguồn khác nhau: nguồn từ NSNN, từ vay vốn nước ngoài, từ các TCTD,…Trong đó các TCTD đã thực hiện nhiều biện pháp để thu hút vốn từ các tổ chức và dân cư như: triển khai các hình thức huy động mới là trái phiếu vô danh với kỳ hạn dài và được tự do chuyển nhượng, đồng thời tham gia
bảo hiểm tiền gửi bắt buộc, chủ động mở mạng lưới để huy động vốn,…
Trang 291.4.2.2 Bài học kinh nghiệm từ Khánh Hòa
Nhìn lại thực tế Nha Trang-Khánh Hoà, nếu như từ những năm 1990 trở về trước hoạt động du lịch hầu như là độc quyền của công ty du lịch nhà nước và chỉ giới hạn trong kinh doanh ăn uống, buồng phòng thì 2 thập niên gần đây, chủ trương khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển du lịch đã đem đến không khí cạnh tranh lành mạnh Ngân sách nhà nước đã chi hàng nghìn tỷ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, điện, nước, viễn thông…và đào tạo nguồn nhân lực, nhằm hiện đại hóa và chuyên nghiệp hóa hoạt động du lịch
Mặt khác, các nhà đầu tư trong và ngoài nước cũng đã xuất vốn hàng trăm triệu USD nhằm hiện thực hóa các dự án phát triển du lịch Đặc biệt, từ năm 1995, lãnh đạo tỉnh Khánh Hòa đã mạnh dạn giao quyền sử dụng đất lâu dài cho một số doanh nghiệp có tiềm lực tài chính (kể cả nhà đầu tư nước ngoài) quản lý, khai thác một số diện tích trên những hòn đảo tuyệt đẹp giữa vịnh Văn Phong, Nha Phu, Nha Trang, Cam Ranh Sản phẩm du lịch của Khánh Hoà nhờ vậy mà phong phú, hấp
dẫn và chất lượng ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng du khách 1.4.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Thừa Thiên Huế
Từ những kinh nghiệm của các nước trên thế giới và một số tỉnh thành trong nước, cho thấy để thu hút vốn đầu tư vào phát triển kinh tế du lịch của tỉnh TT-Huế cần giải quyết các vấn đề cơ bản sau:
Một là, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và đề ra các chính sách, giải pháp để thúc đẩy phát triển du lịch
Hai là, mạnh dạn đầu tư hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất nhằm phát triển du lịch
Ba là, động viên, khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước cũng như nước ngoài tham gia hoạt động kinh doanh du lịch, tạo ra những sản phẩm độc đáo,
đa dạng, hấp dẫn lôi cuốn sự chú ý của du khách
Bốn là, tăng cường tuyên truyền, quảng bá về du lịch
Năm là, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho du lịch
Trang 30KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1, luận văn đã thực hiện được những nội dung chủ yếu sau đây:
Luận văn đã đưa ra các khái niệm về TDNH, vai trò, chức năng của TDNH
và các cơ sở lý luận làm rõ vị trí và tầm quan trọng của du lịch đối với nền kinh tế
Đồng thời, Luận văn cũng nêu lên những điều kiện, nhân tố ảnh hưởng đến
sự phát triển của ngành du lịch trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của vốn đầu tư
từ đó cho thấy sự cần thiết của TDNH đối với phát triển kinh tế du lịch
Ngoài ra, luận văn còn giới thiệu những kinh nghiệm về thu hút vốn đầu tư vào du lịch của một số nước trên thế giới, du lịch tại một số tỉnh ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm rút ra cho TT-Huế
Trang 31
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁT
TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH TẾ DU LỊCH CỦA TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1.1 Các nguồn lực phát triển kinh tế du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế
2.1.1.1 Về vị trí địa lý
Thừa Thiên Huế nằm ở Bắc Trung Bộ có 9 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: thành phố Huế, 2 thị xã (Hương Thủy, Hương Trà) và 6 huyện (Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang, Phú Lộc, Nam Đông và A Lưới) Địa bàn tỉnh trải dài từ 16 đến 16,45o vĩ bắc, rộng từ 100,3 đến 108,8o kinh đông; nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, khí hậu chia làm hai mùa, mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 3 Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,6 độ Diện tích tự nhiên của tỉnh là 5.053,9 km2 Bờ biển dài 120km
Vị trí địa lý của TT-Huế trong tương quan với cả nước và khu vực tạo cho địa phương có những lợi thế khách quan về so sánh, những cơ hội to lớn trở thành trung điểm của những con đường giao lưu, hội nhập trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai Các con đường bộ xuyên quốc gia từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc đều đi qua địa phận TT-Huế như quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh - đường Trường Sơn công nghiệp hóa và đường sắt thống nhất Theo trục Nam Bắc, tính theo đường
bộ, dọc quốc lộ 1A, TT-Huế cách thủ đô Hà Nội 658km và cách thành phố Hồ Chí Minh 1075km Còn theo trục Đông Tây, TT-Huế cách cửa khẩu Lao Bảo - tỉnh Quảng Trị, một trong những cửa mở chính của Việt Nam về phía Tây, qua các nước trong tiểu vùng sông Mê Kông là Lào, Thái Lan, Myanmar (150km) và nối với Ấn
Độ và các nước Nam Á Bờ biển TT-Huế dài 120km cách đường hàng hải nội địa 25km và cách đường hàng hải quốc tế 170km với cảng nước sâu Chân Mây có thể phục vụ cho tàu có trọng tải đến 50.000 tấn cập cảng dễ dàng
Trang 322.1.1.2 Về điều kiện tự nhiên
Lãnh thổ Thừa Thiên Huế được chia thành 4 vùng sinh thái: vùng núi, vùng
gò đồi, vùng đồng bằng và vùng đầm phá, cồn cát ven biển Các vùng sinh thái này bao gồm nhiều hệ sinh thái tiêu biểu, có giá trị quốc gia và quốc tế đã được thừa nhận rộng rãi Ba hệ sinh thái có giá trị nhất về đa dạng sinh học là hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái đầm phá, và hệ sinh thái biển khu vực Hải Vân - Sơn Chà
Địa hình phức tạp và đa dạng sinh học ở cấp độ hệ sinh thái là nguồn gốc của
vẻ đẹp và sự phong phú của cảnh quan thiên nhiên, một dạng tài nguyên hết sức quý giá được thiên nhiên ưu ái ban tặng cho TT-Huế Đó là những bãi cát trắng, mịn, sạch trải dài hàng chục cây số từ xã Điền Hương, huyện Phong Điền đến thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc Đó là sông Bồ, sông Ô Lâu, sông Truồi, những dòng sông quê trong xanh, hiền hòa tạo nên cảnh quan thiên nhiên thơ mộng, trữ tình Đó
là những con suối lớn nhỏ với những thác ghềnh, hồ, vũng tự nhiên như suối A Đon
ở huyện Phong Điền, thác Trượt ở huyện Nam Đông, Nhị Hồ, suối Voi, thác Mơ ở huyện Phú Lộc đó là màu xanh điệp trùng của rừng và biển trời bao la, sống động
từ Vọng Hải đài trên đỉnh Bạch Mã, Đó là mặt nước phá đầm Tam Giang, Cầu Hai mênh mang với những nò sáo, những đáy, những rớ và những vạn (làng chài) dân thủy diện sống trên những con thuyền Nhưng trước hết đó là sông Hương, núi Ngự, là dòng sông, ngọn núi huyền thoại đã đi vào thơ ca nhạc họa từ bao đời nay, không còn mang ý nghĩa là cảnh quan thiên nhiên đơn thuần, mà đã trở thành biểu
tượng tinh thần của người dân xứ Huế
Rõ ràng là TT-Huế hết sức giàu có về tài nguyên thiên nhiên, từ vị trí địa lý, đến đất đai, từ khoáng sản đến nước mặt và nước ngầm, từ đa dạng sinh học đến cảnh quan thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên đó có ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển KTXH của TT-Huế
Trang 332.1.1.3 Về điều kiện lịch sử, văn hóa xã hội
Thừa Thiên Huế là trung tâm văn hóa Thuận Hóa giai đoạn 1306-1558; là thủ phủ của xứ Đàng Trong với Thuận Hóa - Phú Xuân dưới sự thống lĩnh của 9 đời Chúa Nguyễn, bắt đầu là chúa Nguyễn Hoàng kết thúc là chúa Nguyễn Ánh kéo dài
từ 1558 đến 1789; là Phú Xuân - kinh đô của đất nước thống nhất dưới triều đại Tây Sơn từ 1789 đến 1802; tiếp đến là kinh đô của nước Việt Nam phong kiến nhà Nguyễn kéo dài hơn 143 năm, bắt đầu là Vua Gia Long - 1802 và kết thúc là Vua Bảo Đại 1945 Các giá trị di sản văn hóa nơi đây vừa hội tụ, tỏa sáng những đặc trưng và tinh hoa của văn hóa dân tộc Việt Nam, vừa thể hiện nét riêng hấp dẫn của một vùng văn hóa Huế
Thừa Thiên Huế còn là nơi hội tụ giao thoa các yếu tố văn hoá và kinh tế của
các nền văn hoá Đông Sơn, Sa Huỳnh; của nền văn hoá Ấn Độ, văn hoá Trung Hoa
sau này là văn hoá phương Tây, tạo ra vùng văn hoá Huế độc đáo trong đa dạng và phong phú, góp phần làm nên bản sắc văn hoá Việt Nam Cùng với quần thể di tích
cố đô là di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận năm 1993, Huế cũng là nơi duy nhất ở nước ta còn lưu giữ được loại hình âm nhạc truyền thống Nhã nhạc cung đình Huế, một kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại vừa được UNESCO công nhận năm 2003 Gần đây nhất, Ủy ban Di sản thế giới của UNESCO đã đề nghị tỉnh TT-Huế lập hồ sơ đệ trình sông Hương và cảnh quan đôi
bờ sông là Di sản văn hóa thế giới Ðôi bờ sông là hệ thống lăng tẩm của các đời vua chúa cùng các đền, chùa cổ kính và những nhà vườn truyền thống độc đáo Bên cạnh thế mạnh cảnh quan thiên nhiên, Huế còn lôi cuốn du khách bởi những giá trị văn hóa đặc sắc khác như thú vui ngồi thuyền thưởng thức những điệu ca, giọng hò sâu lắng, trữ tình của những cô gái Huế dịu dàng trong tà áo dài tím và vành nón trắng che nghiêng Vùng đất này cũng nổi tiếng với nghệ thuật ẩm thực đặc sắc, các sản phẩm làng nghề và lễ hội dân gian mang đậm bản sắc dân tộc như lễ hội Cầu Ngư, Ðiện Hòn Chén, hội đua thuyền sông Hương và đặc biệt là Liên hoan (Festival) Huế tổ chức định kỳ hai năm một lần, hội tụ những nét văn hóa tiêu biểu
Trang 34Yếu tố con người luôn có ý nghĩa quyết định, tạo sức hút mạnh nhất đối với các nhà đầu tư đến với Huế Người dân TT-Huế văn minh, lịch thiệp, có truyền thống hiếu học và trong mỗi con người đều chứa đựng nét đặc trưng văn hoá Huế Đại học Huế gồm 7 trường Đại học thành viên (Đại học Sư phạm, Đại học Khoa học, Đại học Y khoa, Đại học Nông lâm, Đại học Nghệ thuật, Đại học Kinh tế, Đại học Ngoại Ngữ), cùng với Trường Đại học dân lập Phú Xuân và hệ thống các trường Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng nhu cầu không chỉ cho TT-Huế mà còn cho các tỉnh miền Trung
và Tây Nguyên và cả nước Bệnh viện Trung ương Huế là một trong ba bệnh viện lớn nhất của cả nước, có trình độ cao, kỹ thuật tiên tiến trong khám, điều trị bệnh, là hạt nhân của Trung tâm y tế chuyên sâu của khu vực miền Trung và cả nước Trung tâm công nghệ thông tin đã và đang hoạt động có hiệu quả Những ưu thế này cho phép TT-Huế xây dựng kinh tế tri thức mà chiến lược phát triển công nghệ thông tin
và công nghiệp phần mềm là chọn lựa ưu tiên để đón đầu
Tuy nhiên, do nền kinh tế của tỉnh có xuất phát điểm thấp, đô thị hóa chậm, công nghiệp, du lịch và dịch vụ phát triển với quy mô và tốc độ khiêm tốn nên chưa thu hút mạnh mẽ nguồn nhân lực chất lượng cao, vì vậy tình trạng chảy máu chất xám sang các địa phương tỉnh, thành khác hay ra nước ngoài của nguồn nhân lực trí thức tại địa phương đang còn phổ biến Đây là mối quan tâm cần lưu ý
Trang 352.1.1.5 Về lịch sử phát triển du lịch
Thời gian qua, du lịch TT-Huế đã phát triển tương đối nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng và được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương Quá trình phát triển đó, du lịch cũng trải qua những bước thăng trầm do đây là một ngành kinh tế tổng hợp và rất nhạy cảm trước những biến động của môi trường vĩ
mô Quá trình này có thể chia thành ba giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1: Từ năm 1975 đến năm 1989 là giai đoạn hình thành do tình hình phát triển còn gặp nhiều trở ngại về cơ chế, chính sách trong đối nội cũng như đối ngoại Đặc biệt, giai đoạn này nền kinh tế của đất nước gặp rất nhiều khó khăn
do đất nước đang bị bao vây, cấm vận, lại trong quá trình phải tập trung hàn gắn hậu quả của hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc kéo dài nhiều năm nên hoạt động du lịch trên địa bàn chủ yếu là tập trung tạo lập cơ sở vật chất ban đầu
- Giai đoạn 2: Từ năm 1990 đến năm 1996 là giai đoạn phát triển khởi sắc
do kết quả của đường lối đổi mới đất nước mang lại, đồng thời do sự quan tâm của Đảng bộ tỉnh TT-Huế điển hình là tại Hội nghị đại biểu Đảng bộ giữa nhiệm kỳ khoá X (năm 1993) nêu rõ: “Đã đến lúc cần đầu tư phát triển du lịch để sớm trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” và quyết tâm đó lại được khẳng định qua Đại hội Đảng bộ lần thứ XI (năm 1995) quyết định chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ “nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ, du lịch” sang “công nghiệp - dịch vụ, du lịch - nông nghiệp” với mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh nhà Ở giai đoạn này, hạ tầng và cơ sở vật chất du lịch được đầu tư xây dựng mới cũng như cải tạo nâng cấp nhiều hơn, quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới, bắt đầu thực hiện kế hoạch trùng tu, tôn tạo với quy mô lớn hơn; tiếp theo Nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại tạo điều kiện cho kinh tế du lịch của địa phương phát triển, dẫn đến bùng nổ về lượng du khách đến Huế Nhiều hạ tầng kinh tế kỹ thuật nhất là đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không được nâng cấp nhanh và
Trang 36đồng bộ, cơ sở du lịch khách sạn, nhà hàng được xây dựng nhiều hơn trong thời kỳ
này đã làm khởi sắc ngành kinh tế du lịch của tỉnh nhà
- Giai đoạn 3: từ năm 1997 đến nay là giai đoạn tăng tốc, lượng khách du
lịch đến Huế bình quân tăng trên 10%/ năm, doanh thu du lịch tăng trên 15%/năm
Các thiết chế du lịch đã được thiết lập, đầu tư phát triển du lịch ngày càng lớn Du
lịch từng bước trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh trong thực tế
2.1.2 Vị trí vai trò của du lịch trong nền kinh tế tỉnh Thừa Thiên Huế
2.1.2.1 Thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển trong những năm qua
Thực tế, phát triển dịch vụ mà trọng tâm là phát triển du lịch đã tạo một
nguồn lực đóng góp đáng kể vào tỷ trọng, tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu NSNN
Doanh thu du lịch tăng qua các năm từ 1.143 tỷ đồng năm 2008 đến 2.209 tỷ đồng
năm 2012, tốc độ tăng doanh thu du lịch trong 5 năm gần đây trung bình khoảng
18% Với sự tăng lên của doanh thu ngành du lịch đã kéo theo GDP trong ngành nói
riêng và GDP toàn tỉnh nói chung tăng lên qua các năm Cụ thể, năm 2008 GDP
toàn tỉnh là 4.908 tỷ đồng (trong đó GDP ngành du lịch là 883 tỷ đồng chiếm 18%
GDP toàn tỉnh) thì đến năm 2012 chỉ tiêu này tăng lên đạt 7.491 tỷ đồng (trong đó
Trang 37Từ đó đã tác động đến thu nhập bình quân của mỗi người dân, qua thống kê cho thấy: Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh TT-Huế năm 2008 đạt 705,8 USD, năm 2012 đạt 1.454USD, tương ứng với tỷ lệ tăng 106% So với bình quân thu nhập đầu người của cả nước năm 2012 là 1.540 USD thì chỉ tiêu này ở TT- Huế
Lẽ dĩ nhiên, khi du lịch dịch vụ phát triển mạnh sẽ tác động mạnh đến nhiều ngành nghề khác phát triển như: Siêu thị, vận tải, giải trí, bưu chính viễn thông, bảo hiểm, ngân hàng tạo ra năng lực sản xuất, sức mua và lưu chuyển nhanh đồng vốn Mặt khác, du lịch và dịch vụ cũng đã tác động mạnh mẽ đến phát triển nông nghiệp nông thôn, phá vỡ nền kinh tế khép kín tự cấp, làm chuyển dịch cơ cấu nền
kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững, hiệu quả, gắn với thị trường
Trang 38Biểu đồ 2.1: Cơ cấu tỷ trọng đóng góp của các ngành vào GDP tỉnh TT-Huế
(Nguồn tổng cục thống kê tỉnh TT-Huế năm 2012)[8]
Với sự phát triển của du lịch đã góp phần tăng tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ trong tổng GDP toàn tỉnh từ vị trí thứ 2 năm 2010 (44% trong tổng GDP toàn tỉnh) lên vị trí dẫn đầu năm 2012 (46% trong tổng GDP toàn tỉnh) Ngành du lịch ngày càng khẳng định vị trí chủ chốt đi đầu trong tăng trưởng kinh tế của địa phương
Ngoài ra, sự phát triển du lịch của tỉnh còn thúc đẩy mở rộng và phát triển các ngành nghề tạo việc làm và có thu nhập ổn định cho người dân Thực tế từ sự phát triển mạnh của du lịch - dịch vụ trong những năm qua đã làm tăng nhanh nhu cầu các sản phẩm, tạo cho ngành nghề thủ công mỹ nghệ, làng nghề truyền thống khôi phục và phát triển (mộc mỹ nghệ, đúc đồng, kim hoàn, đan lát, thêu ), đồng thời tạo cơ hội thuận lợi cho cộng đồng dân cư tham gia kinh doanh dịch vụ lưu trú, không ngừng sáng tạo và tham gia đầu tư, khai thác các sản phẩm, tuyến du lịch độc
đáo Nhờ đó, tăng trưởng kinh tế ngày một rõ nét hơn
2.1.2.3 Góp phần giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa lịch sử
Hoạt động du lịch đã tạo thêm nguồn thu để tôn tạo, trùng tu các di tích, di sản và nâng cao ý thức, trách nhiệm giữ gìn, phát huy di sản văn hoá vật thể và phi
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Trang 39vật thể; khôi phục lễ hội, làng nghề truyền thống, truyền tải giá trị văn hoá đến các tầng lớp nhân dân và bạn bè quốc tế tạo thêm sức hấp dẫn thu hút khách du lịch Tổng doanh thu từ bán vé tham quan các điểm trong quần thể di tích lịch sử Huế của Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế đạt trung bình trên 70 tỷ đồng năm 2011
và đạt trên 80 tỷ đồng năm 2012
Nhận thức của toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa, giá trị của di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh nói riêng ngày càng được nâng cao Các di tích lịch sử tiêu biểu của đất nước đều từng bước được trùng tu, tôn tạo, khôi phục Tuy nhiên, cũng còn nhiều di tích đang ở trong tình trạng xuống cấp Nhưng việc tu bổ di tích hiện nay mới chỉ tập trung vào di tích chính nổi tiếng, hầu như chưa có di tích nào được đầu tư tu bổ hoàn chỉnh 100% từ kiến trúc tới hạ tầng, từ nội thất tới ngoại thất Bên cạnh đó, chất lượng tu bổ di tích, nhất là những hạng mục được thi công bằng nguồn vốn do nhân dân đóng góp còn chưa đạt yêu cầu về chuyên môn Tăng cường quản lý nhà nước và xây dựng đội ngũ kiến trúc
sư, kỹ sư, nghệ nhân, công nhân phục vụ tu bổ di tích là vấn đề hết sức cấp thiết hiện nay Cụ thể, Thừa Thiên Huế đã đăng cai tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo mang tầm quốc tế và khu vực như Hội nghị Hiệp hội các Thị trưởng nói tiếng Pháp (AIMF), Hội nghị Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá phi vật thể, lễ hội Festival thông qua các hội nghị, lễ hội các đối tác đã tìm được tiếng nói chung và
đã có nhiều dự án được đầu tư trên địa bàn
2.1.2.4 Góp phần quảng bá hình ảnh từ đó thu hút một lượng lớn vốn đầu tư trong và ngoài nước về tỉnh không những cho lĩnh vực du lịch mà còn cho nhiều ngành kinh tế khác
Hoạt động du lịch phát triển đã kéo theo sự mở rộng giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng, miền và với quốc tế, góp phần giáo dục truyền thống, đào tạo kiến thức và rèn luyện, bồi dưỡng thể chất, tinh thần cho mọi tầng lớp dân cư Thông qua hoạt động du lịch của tỉnh đã quảng bá hình ảnh địa phương và thu hút được lượng lớn du khách nước ngoài tham quan, đầu tư, mua sắm, hợp tác kinh doanh
Trang 40Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức thành công Hội nghị “Xúc tiến du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2012” tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; tham gia các hoạt động hội chợ, xúc tiến du lịch tại Lào, Indonesia, Thái Lan và các địa phương trong nước như Thành phố Hồ Chí Minh, Thanh Hóa, Quảng Trị Triển khai xúc tiến
du lịch biển Thuận An; tham gia đạt kết quả tốt Hội chợ du lịch KOFTA tại Hàn Quốc, JATA (Nhật Bản), Hội chợ tại Indonesia, Hội chợ quốc tế ITE thành phố Hồ Chí Minh, ITE Hong Kong, Hội chợ WTM Vương quốc Anh, Hội chợ Du lịch và triển lãm thương mại 04 quốc gia trên tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây, Hội chợ Thương mại,
Du lịch quốc tế Việt Nam - Lào - Thái Lan năm 2012, Hội chợ Thương mại và Du lịch Nhịp cầu Xuyên Á - Quảng Trị 2012”
Sở đã phối hợp đón tiếp đoàn khảo sát “Mega Famtrip - Con đường di sản mới” với hơn 60 đơn vị lữ hành trong và ngoài nước, nhằm xây dựng sản phẩm mới phục vụ Năm Du lịch quốc gia Duyên hải Bắc Trung Bộ - Huế 2012; hoàn chỉnh, phát hành bản đồ du lịch Huế và vùng Bạch Mã - Lăng Cô - Phú Lộc phục vụ du khách trong Năm Du lịch quốc gia và Festival Huế 2012; bố trí các bàn thông tin du lịch tại sân bay Phú Bài và các địa điểm trong thành phố phục vụ khách du lịch trong Festival
2012, Liên hoan hợp xướng và Năm Du lịch quốc gia 2012; thực hiện các video clip
quảng bá về du lịch Thừa Thiên Huế trình chiếu trên kênh du lịch của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, sóng của Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Truyền hình địa
phương; hoàn chỉnh và vận hành trang web Năm Du lịch quốc gia và trang web
tiếng Nhật www.vietnamhuetourism.com quảng bá ra thị trường khách Nhật Tái
bản đĩa phim Huế Thành phố Di sản - Thành phố Festival - Thành phố Du lịch bằng
3 ngôn ngữ tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Nhật; xuất bản các ấn phẩm: Độc đáo
Huế - 10 điều cần khám phá của di sản triều Nguyễn, Sắc màu lễ hội Huế, Sắc màu
ẩm thực phục vụ công tác xúc tiến thông qua các sự kiện, hoạt động du lịch trong
nước và quốc tế Chuyển thể nội dung cuốn “Độc đáo Huế” sang tiếng Hàn Quốc phục vụ công tác xúc tiến ở thị trường mới và tiềm năng này trong gian đoạn Korea Airline mở đường bay trực tiếp Đà Nẵng - Seoul