1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế anh việt

188 1,1K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế anh việt
Tác giả Hà Thanh Hải
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Công Đức
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 188
Dung lượng 4,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn tiến sĩ đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế anh việt

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HÀ THANH HẢI

ĐỐI CHIẾU PHƯƠNG THỨC ẨN DỤ NHÌN TỪ LÍ THUYẾT NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN TRÊN CỨ

LIỆU BÁO CHÍ KINH TẾ ANH-VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HÀ THANH HẢI

ĐỐI CHIẾU PHƯƠNG THỨC ẨN DỤ NHÌN TỪ LÍ THUYẾT NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN TRÊN CỨ

LIỆU BÁO CHÍ KINH TẾ ANH-VIỆT

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu

Mã số: 62 22 01.10 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN CÔNG ĐỨC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thành phố Hồ Chí Minh, 2011

Hà Thanh Hải

Trang 5

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Lịch sử nghiên cứu 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 12

6 Đóng góp của luận án .15

7 Bố cục luận án .16

CHƯƠNG MỘT: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Ẩn dụ trong các hướng tiếp cận truyền thống .18

1.1.1 Các hướng tiếp cận theo quan điểm nghĩa học 18

1.1.1.1 Ẩn dụ theo quan điểm sở chỉ 18

1.1.1.2 Ẩn dụ theo quan điểm miêu tả 20

1.1.2 Các hướng tiếp cận theo quan điểm dụng học 22

1.2 Ẩn dụ ý niệm trong ngữ nghĩa học tri nhận 24

1.2.1 Nền tảng cơ sở của lý thuyết ẩn dụ ý niệm 26

1.2.2 Các khái niệm và luận điểm cơ bản của lý thuyết ẩn dụ ý niệm 31

1.2.2.1 Định nghĩa ẩn dụ ý niệm 31

1.2.2.2 Các đặc tính của ẩn dụ ý niệm 35

1.2.2.3 Quan hệ qua lại giữa ẩn dụ trong ngôn ngữ và trong tư duy 37

1.2.2.4 Ý niệm 39

1.2.2.5 Lĩnh vực 40

1.2.2.6 Lược đồ hình ảnh 42

1.2.2.7 Các động lực hiện thân nhằm tạo ẩn dụ trong tư duy và trong ngôn ngữ 43

1.2.2.8 Tính đơn hướng 45

1.2.2.9 Tính phổ quát của ẩn dụ ý niệm 45

1.2.2.10 Tính biến thiên văn hoá của ẩn dụ ý niệm 46

1.2.3 Phân loại ẩn dụ ý niệm 50

1.2.3.1 Phân loại theo tính thông dụng 50

1.2.3.2 Phân loại theo tính khái quát 52

1.2.3.3 Phân loại theo chức năng tri nhận 52

Trang 6

1.2.3.3.1 Ẩn dụ cấu trúc 52

1.2.3.3.2 Ẩn dụ thực thể 52

1.2.3.3.3 Ẩn dụ định hướng .54

1.2.3.4 Phân loại theo lĩnh vực nguồn 55

1.3 Tiểu kết 56

CHƯƠNG 2: ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG BẢN TIN TIẾNG ANH 2.1 Ẩn dụ KHÔNG GIAN 59

2.2 Ẩn dụ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN 64

2.2.1 Ẩn dụ CHẤT LỎNG 65

2.2.2 Ẩn dụ CỖ MÁY 67

2.2.3 Ẩn dụ BONG BÓNG 71

2.2.4 Ẩn dụ KIẾN TRÚC XÂY DỰNG 73

2.2.5 Ẩn dụ ĐỘNG THỰC VẬT 75

2.2.5.1 Ẩn dụ ĐỘNG VẬT 75

2.2.5.2 Ẩn dụ THỰC VẬT 80

2.2.6 Ẩn dụ THỜI TIẾT NHIỆT ĐỘ 82

2.2.6.1 TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ TÌNH TRẠNG THỜI TIẾT 82

2.2.6.2 TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ TÌNH TRẠNG NHIỆT ĐỘ 84

2.3 Ẩn dụ HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI 86

2.3.1 Ẩn dụ CHIẾN TRANH 86

2.3.2 Ẩn dụ HÀNH TRÌNH 89

2.3.3 Ẩn dụ SÂN KHẤU 91

2.3.4 Ẩn dụ THỂ THAO SĂN BẮN 96

2.3.5 Ẩn dụ CỜ BẠC 98

2.3.6 Ẩn dụ ĂN UỐNG 100

2.3.7 Ẩn dụ HÔN NHÂN 101

2.4 Ẩn dụ CƠ THỂ SỐNG 103

2.4.1 TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE 103

2.4.2 GIẢI QUYẾT KHÓ KHĂN KINH TẾ LÀ CHỮA BỆNH 105

2.5 Tiểu kết 106

CHƯƠNG 3: ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG BẢN TIN TIẾNG VIỆT 3.1 Ẩn dụ KHÔNG GIAN 109

Trang 7

3.2 Ẩn dụ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN 112

3.2.1 Ẩn dụ CHẤT LỎNG 112

3.2.2 Ẩn dụ CỖ MÁY 114

3.2.3 Ẩn dụ BONG BÓNG 116

3.2.4 Ẩn dụ KIẾN TRÚC XÂY DỰNG 117

3.2.5 Ẩn dụ ĐỘNG THỰC VẬT 118

3.2.5.1 Ẩn dụ ĐỘNG VẬT 118

3.2.5.2 Ẩn dụ THỰC VẬT 119

3.2.6 Ẩn dụ THỜI TIẾT NHIỆT ĐỘ 120

3.3 Ẩn dụ HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI 121

3.3.1 Ẩn dụ CHIẾN TRANH 121

3.3.2 Ẩn dụ HÀNH TRÌNH 123

3.3.3 Ẩn dụ SÂN KHẤU 124

3.3.4 Ẩn dụ THỂ THAO SĂN BẮN 126

3.3.5 Ẩn dụ CỜ BẠC 128

3.3.6 Ẩn dụ ĂN UỐNG 129

3.3.7 Ẩn dụ HÔN NHÂN 130

3.3.8 Ẩn dụ GIẢI TOÁN 131

3.4 Ẩn dụ CƠ THỂ SỐNG 132

3.4.1 TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE 133

3.4.2 GIẢI QUYẾT KHÓ KHĂN KINH TẾ LÀ CHỮA BỆNH 134

3.5 Tiểu kết 135

CHƯƠNG 4: SO SÁNH - ĐỐI CHIẾU CÁC ẨN DỤ Ý NIỆM TRÊN CÁC KHỐI NGỮ LIỆU VÀ ĐỀ XUẤT ỨNG DỤNG 4.1 So sánh-đối chiếu giữa hai khối bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 137

4.1.1 So sánh-đối chiếu định lượng 137

4.1.1.1 Ẩn dụ KHÔNG GIAN 139

4.1.1.2 Ẩn dụ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN … 140

4.1.1.3 Ẩn dụ HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI 142

4.1.1.4 Ẩn dụ CƠ THỂ SỐNG 142

4.1.2 So sánh-đối chiếu định tính 143 4.1.2.1 Cả hai ngôn ngữ chứa cùng ẩn dụ ý niệm được hiện thực hóa bằng

Trang 8

biểu thức ngôn ngữ như nhau 144

4.1.2.2 Cả hai ngôn ngữ có cùng ẩn dụ ý niệm nhưng nhưng được hiện thực hóa bằng biểu thức ngôn ngữ khác nhau 144

4.1.2.3 Cả hai ngôn ngữ chứa các ẩn dụ ý niệm khác nhau 146

4.2 Đề xuất ứng dụng trong giảng dạy và dịch thuật 147

4.2.1 Nâng cao năng lực ẩn dụ của người học 147

4.2.2 Gắn kết ẩn dụ ý niệm với việc giảng dạy ngoại ngữ 149

4.2.3 Nâng cao nhận thức về ẩn dụ ý niệm trong học tập & giảng dạy tiếng Anh kinh tế 151

4.2.4 Áp dụng đường hướng tri nhận trong dịch ẩn dụ 152

PHẦN KẾT LUẬN 154

TÀI LIỆU THAM KHẢO 157

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 166

BẢNG ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ ANH VIỆT 167

PHỤ LỤC A: Một số mẫu ngữ liệu tiếng Anh 168

PHỤ LỤC B: Một số mẫu ngữ liệu tiếng Việt 186

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU BẢNG Chương 1:

Hình 1.1.: Các tầng bậc trình hiện 40

Bảng 1.2 Các loại lược đồ hình ảnh thông thường 42

Chương 2: Hình 2.1: Số lượng các nhóm ẩn dụ ý niệm chính trong tiếng Anh .58

Hình 2.2: Tỉ lệ phần trăm các nhóm ẩn dụ ý niệm chính trong tiếng Anh 58

Hình 2.3: Tỉ lệ xuất hiện của các tiểu loại ẩn dụ KHÔNG GIAN .60

Bảng 2.4: Các ẩn dụ ý niệm KHÔNG GIAN và các biểu thức ẩn dụ .62

Hình 2.5: Các tiểu loại ẩn dụ thuộc nhóm ẩn dụ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN 65

Bảng 2.6: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ DÒNG CHẢY 66

Bảng 2.7: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CỖ MÁY 69

Bảng 2.8 Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ BONG BÓNG 72

Bảng 2.9: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ KIẾN TRÚC XÂY DỰNG 73

Bảng 2.10: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ ĐỘNG THỰC VẬT 78

Bảng 2.11: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ THỜI TIẾT 83

Bảng 2.12: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ NHIỆT ĐỘ .85

Bảng 2.13: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CHIẾN TRANH 87

Bảng 2.14: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ HÀNH TRÌNH 90

Bảng 2.15: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ SÂN KHẤU 93

Hình 2.16: Phép đồ họa ẩn dụ của tiếp đầu ngữ “under’ 95

Hình 2.17 : Phép đồ họa ẩn dụ của tiếp đầu ngữ “out’ 96

Bảng 2.18.: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ THỂ THAO-SĂN BẮN 97

Bảng 2.19: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CỜ BẠC 99

Bảng 2.20: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ ĂN UỐNG 101

Bảng 2.21: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ HÔN NHÂN 103

Bảng 2.22: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ SỨC KHỎE trong bản tin tiếng Anh 104

Chương 3: Hình 3.1: Số lượng các nhóm ẩn dụ ý niệm chính trong tiếng Việt .108

Hình 3.2: Tỉ lệ phần trăm các nhóm ẩn dụ ý niệm chính trong tiếng Việt 108

Hình 3.3: Tỉ lệ xuất hiện của các tiểu loại ẩn dụ KHÔNG GIAN 109

Trang 10

Bảng 3.4: Các ẩn dụ ý niệm KHÔNG GIAN và các biểu thức ẩn dụ 110

Hình 3.5: Các tiểu loại ẩn dụ thuộc nhóm ẩn dụ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN 112

Bảng 3.6: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ DÒNG CHẢY 113

Bảng 3.7: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CỖ MÁY 115

Bảng 3.8 Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ BONG BÓNG 116

Bảng 3.9: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ KIẾN TRÚC XÂY DỰNG 118

Bảng 3.10: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ ĐỘNG THỰC VẬT 109

Bảng 3.11: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ THỜI TIẾT-NHIỆT ĐỘ 121

Bảng 3.12: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CHIẾN TRANH 122

Bảng 3.13: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ HÀNH TRÌNH 124

Bảng 3.14: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ SÂN KHẤU 125

Bảng 3.15.: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ THỂ THAO-SĂN BẮN 126

Bảng 3.16: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ ĂN UỐNG 130

Bảng 3.17: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ HÔN NHÂN 131

Bảng 3.18: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ GIẢI TOÁN 132

Bảng 3.19 : Ẩn dụ CƠ THỂ SỐNG trong các khối ngữ liệu tiếng Việt 132

Bảng 3.20 : Ẩn dụ SỨC KHỎE trong các khối ngữ liệu tiếng Việt 133

Bảng 3.21: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ SỨC KHỎE 133

Bảng 3.22: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CHỮA BỆNH 134

Chương 4: Hình 4.1 Tần suất sử dụng trên 1000 từ của các biểu thức ẩn dụ tiếng Anh và tiếng Việt 137

Hình 4.2: Số lượng các nhóm ẩn dụ ý niệm chính trong tiếng Anh và tiếng Việt 138

Hình 4.3: Tỉ lệ phần trăm các nhóm ẩn dụ ý niệm chính trong tiếng Anh và tiếng Việt 139

Hình 4.4 : Các tiểu loại ẩn dụ KHÔNG GIAN trong tiếng Anh 140

Hình 4.5 : Các tiểu loại ẩn dụ KHÔNG GIAN trong tiếng Việt 140

Hình 4.6: Các tiểu loại ẩn dụ thuộc nhóm ẩn dụ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN và tỉ lệ xuất hiện trong tiếng Anh và tiếng Việt 141

Bảng 4.7 : Các biểu thức ngôn ngữ khác nhau thể hiện cùng nhóm ẩn dụ ý niệm MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN 146

Bảng 4.8 : Các biểu thức ngôn ngữ khác nhau thể hiện cùng nhóm ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI 146

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

“Ẩn dụ có mặt khắp mọi nơi trong đời sống chúng ta, không chỉ trong ngôn ngữ mà còn trong tư duy và hành động” [83:3] Ẩn dụ được sử dụng rộng rãi và lâu bền trong giao tiếp hàng ngày, trong khoa học, giáo dục, và cả chính trị Những ý niệm cơ bản và mang tính phổ quát nhất về thế giới chung quanh được chúng ta hiểu thông qua các phép đồ họa ẩn dụ như thời gian, trạng thái hay số lượng Các phép đồ họa này xuất phát từ những kinh nghiệm thực tế và rất cụ thể mà hàng ngày chúng ta trải qua hoặc xuất phát từ những kiến thức chúng ta tích lũy được từ thế giới chung quanh Lakoff và Johnson đưa ra ẩn dụ ý niệm NHIỀU HƠN LÀ HƯỚNG LÊN (sđd:23), ẩn dụ này phản ánh một phép đồ họa trong đó số lượng được gắn kết với hướng chuyển động đi lên, và thể hiện bằng các ẩn dụ ngôn từ như

sau: Giá cả đang lên, nhu cầu hàng tiêu dùng đang lên

Phần lớn các quá trình tri nhận của chúng ta bao gồm việc tư duy, cảm nhận

và đánh giá thế giới chung quanh đều dựa trên các ý niệm mang tính ẩn dụ có nhiệm

vụ cấu trúc hoá và có ảnh hưởng đến ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng Tất nhiên là các ý niệm cũng như các quá trình tri nhận này sẽ khác nhau ở những nền văn hoá khác nhau, ở những xã hội khác nhau Chúng nằm trên một dải từ phổ quát cho đến đặc trưng văn hoá cụ thể

Luận án của chúng tôi liên quan đến một thực tế là phép đồ họa mang tính ẩn

dụ có thể khác nhau về tính chất phổ quát, có nghĩa là một số phép đồ họa mang tính chất phổ quát rộng đối với nhiều ngôn ngữ, một số khác thì mang đặc trưng văn hoá- ngôn ngữ cụ thể Như thế vấn đề chính nhất mà chúng tôi muốn trả lời là các phép đồ họa nào mang đặc điểm chung ở nhiều ngôn ngữ và các phép đồ họa nào mang đặc điểm văn hoá ngôn ngữ riêng, như Lakoff và Johnson [83:14] đã nhận

định: “ở một số nền văn hoá thì tương lai ở đằng trước chúng ta, trong khi ở các

nền văn hoá khác thì nó lại nằm đằng sau.” Còn theo Charteris-Black [37], ẩn dụ

đóng vai trò quan trọng trong đời sống ngôn ngữ, chúng cụ thể hóa các quá trình tri nhận phức tạp dưới hình thức các lược đồ Trong các công trình nghiên cứu đối

Trang 12

chiếu ngôn ngữ, cấu trúc tri nhận có thể làm bộc lộ các khác biệt ý niệm giữa các cộng đồng sử dụng ngôn ngữ thông qua việc nghiên cứu các ẩn dụ có mặt trong các ngôn ngữ ấy Đây cũng là một quan điểm mà Kovecses [77] nhất trí khi ông cho rằng cần phải nghiên cứu những ảnh hưởng của văn hóa đối với việc chọn và sử dụng ẩn dụ của người nói

Việc nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong so sánh – đối chiếu ngôn ngữ cũng có thể giúp phát hiện ra các điểm tương đồng cũng như các đặc trưng khác biệt ý niệm tồn tại trong các ngôn ngữ khác nhau

Việc xem xét và đối chiếu các hiện tượng ẩn dụ ý niệm xuyên ngôn ngữ có thể mang lại nhiều giá trị học thuật trong lĩnh vực ngôn ngữ học ứng dụng Một mặt, nó giúp tìm hiểu cách thức tư duy khác nhau ở những nền văn hoá khác nhau thông qua ẩn dụ Mặt khác, nó đem lại cho các nhà nghiên cứu và giảng dạy, học tập ngoại ngữ một cách nhìn mới về ẩn dụ, giúp họ xem xét các hiện tượng ẩn dụ ý niệm được cụ thể hoá trong các ngôn ngữ khác nhau Nếu như một số ẩn dụ ý niệm

có tính phổ quát xuyên ngôn ngữ và tạo điều kiện thuận lợi cho người học ngoại ngữ, thì cũng có rất nhiều cách ẩn dụ hoá ý niệm khác nhau trong các ngôn ngữ khác nhau có thể dẫn đến những chuyển di tiêu cực trong quá trình học ngoại ngữ Danesi [47] cho rằng người học ngoại ngữ không sử dụng ẩn dụ khi học tiếng nên ngôn ngữ họ đang học khác xa so với ngôn ngữ của người bản xứ Chính vì vậy, việc nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong tiếng Việt thông qua so sánh với hệ thống ẩn dụ

ý niệm trong các ngôn ngữ khác sẽ mang lại những giá trị thực tiễn nhất định trong việc nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt cũng như tiếng nước ngoài

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

Trong ngôn ngữ kinh tế chúng ta có thể nhận ra rất nhiều ẩn dụ, chẳng hạn

‘dòng vốn’, ‘đầu tư chất xám’ vv Đây cũng là một lĩnh vực rất hứa hẹn đối với các

nhà nghiên cứu về ẩn dụ Chẳng hạn, Herrera và White [64] khi xem xét các ẩn dụ

sử dụng trong báo chí kinh tế đã phát hiện một số lượng lớn các biểu thức ẩn dụ như

“Business as a Jungle” (Kinh doanh là rừng nhiệt đới), “Monopolies as Dinosaurs” (Công ti độc quyền là khủng long), hay “Mergers as Marriages” (Sáp nhập là hôn

Trang 13

nhân) vv… Smith [106] lại nghiên cứu ẩn dụ sử dụng trong đàm phán kinh tế và ông nhận thấy rằng qua cách dùng ẩn dụ thì người nghe có thể phát hiện ra ý định của đối tác Trước đó thì các tác giả Hodgson [65], McCloskey [93] và Kubon-Gilke [79] cũng đã nghiên cứu vai trò của ẩn dụ trong kinh tế học Oberlechner và các cộng sự [97] nghiên cứu quá trình ý niệm hóa thị trường hối đoái theo lối ẩn dụ

và xem xét phương thức các ẩn dụ này góp phần cấu thành nên thị trường tài chính như thế nào Kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình tri nhận về thị trường của các đối tượng nghiên cứu xoay quanh bảy ẩn dụ, đó là THỊ TRƯỜNG LÀ SẠP HÀNG, THỊ TRƯỜNG LÀ ĐỘNG CƠ, THỊ TRƯỜNG LÀ CỜ BẠC, THỊ TRƯỜNG LÀ THỂ THAO, THỊ TRƯỜNG LÀ CHIẾN TRANH, THỊ TRƯỜNG LÀ CƠ THỂ SỐNG và THỊ TRƯỜNG LÀ ĐẠI DƯƠNG Mỗi loại ẩn dụ như vậy có chức năng

đề cao hoặc che mờ một số bình diện nào đó của thị trường hối đoái Chúng cũng kéo theo một loạt các hàm ý khác nhau về các phương diện thị trường như vai trò của người tham gia thị trường hay khả năng đoán trước thị trường Nghiên cứu của Skorczynska & Deignan [103] lại tập trung tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng đến việc chọn và sử dụng các ẩn dụ trong các diễn ngôn kinh tế khác nhau và nghiên cứu này cho thấy yếu tố độc giả và mục đích bài báo là hai nhân tố quyết định, ảnh hưởng lớn đến các dạng ẩn dụ được sử dụng, tần suất sử dụng và chức năng của chúng trong các bài báo

Trong việc tiếp cận và nghiên cứu phương thức ẩn dụ trong tiếng Việt từ trước đến nay chủ yếu tồn tại quan điểm lôgíc, nhìn nhận ngôn ngữ về nguyên thuỷ

là mang tính chất nghĩa đen, và coi phương thức ẩn dụ là cái xuất phát từ cái tính chất nghĩa đen ấy Chính vì vậy, đối tượng nghiên cứu là các phương thức ẩn dụ được sử dụng chủ yếu trong thơ ca và nhằm đạt hiệu quả nhấn mạnh trên bình diện

tu từ học Các công trình về ẩn dụ ở Việt Nam trong thời gian qua như Nguyễn Thiện Giáp [5], Đinh Trọng Lạc [10], Đoàn Mạnh Tiến [18], Hà Quang Năng [11], Phan Hồng Xuân [21], [22], Hoàng Kim Ngọc [12] phần lớn đều đi theo quan điểm

sở chỉ hoặc miêu tả hoặc kết hợp cả hai xu hướng trên

Trang 14

Cho dù lý thuyết ẩn dụ ý niệm của Lakoff và Johnson [83] gợi ra rất nhiều hướng nghiên cứu trong lĩnh vực ngôn ngữ học ứng dụng, đặc biệt trong các lĩnh vực nghiên cứu tiếng Việt, biên-phiên dịch và giảng dạy ngoại ngữ, ở Việt Nam các công trình nghiên cứu ẩn dụ theo quan điểm tri nhận còn hạn chế về số lượng Lý Toàn Thắng [16] và Trần Văn Cơ [2], hai trong số các tác giả tiên phong trong việc giới thiệu ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam, đã gợi mở cho người đọc các vấn đề

cơ bản về ẩn dụ ý niệm trong sự so sánh với các quan điểm truyền thống về ẩn dụ Đào Thị Hà Ninh [13], Phạm Thị Thanh Thuỳ [17] cũng đã tóm lược giới thiệu các quan điểm tri nhận về ẩn dụ với người đọc tiếng Việt Gần đây nhất, công trình nghiên cứu về bản chất ẩn dụ của Nguyễn Đức Tồn [19], công trình đối chiếu qua ngữ liệu tiếng Anh và tiếng Việt của Phan Thế Hưng [8], [9] đã đóng góp vào việc tìm hiểu lí thuyết ẩn dụ hiện đại qua việc nhìn nhận dưới góc độ tu từ và tri nhận, củng cố cho quan điểm tri nhận về ẩn dụ, đồng thời tác giả Phan Thế Hưng [sđd] đã bước đầu tìm hiểu nguồn gốc của mối quan hệ ngôn ngữ và văn hóa qua việc hình thành và sử dụng ẩn dụ Tuy nhiên, trong lĩnh vực diễn ngôn kinh tế cho đến nay mới chỉ có tác giả Phạm Thị Thanh Thuỳ [17] làm công việc giới thiệu khái quát ẩn

dụ ý niệm trong các bản tin kinh tế tiếng Anh Việc đối chiếu phương thức ẩn dụ trong diễn ngôn báo chí kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận vì vậy vẫn còn là một lĩnh vực mới đối với các nhà nghiên cứu Việt ngữ học và những người làm công tác so sánh – đối chiếu ngôn ngữ

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các ẩn dụ ý niệm được sử dụng trong các bản tin kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt Luận án sẽ nghiên cứu ẩn dụ từ ba bình diện nghĩa học, dụng học và tri nhận luận Lí do dẫn đến sự lựa chọn này là vì ẩn dụ đóng vai trò tích cực trong việc phát triển cơ chế ý niệm dùng để thể hiện các ý tưởng mới; ẩn dụ cũng là nguồn cung cấp cho những chỗ khuyết từ vựng; ẩn dụ cũng được sử dụng vì mục đích phong cách, thể hiện sự đánh giá của tác giả bản tin,

nó phản ánh quá trình chọn lọc ngôn ngữ trong từng ngữ huống cụ thể và phù hợp từng ý định cụ thể của người viết

Trang 15

Ngay cả trong các nhà ngữ nghĩa học tri nhận lâu nay đa phần đều tập trung nghiên cứu nhiều đến các loại ẩn dụ thường qui hay ẩn dụ “chết” vì cho rằng các ẩn

dụ ấy thể hiện các phép đồ họa ý niệm chúng ta sử dụng để hiểu biết về kinh nghiệm hàng ngày của mình Việc nghiên cứu cũng chỉ thường tập trung ở các loại

ẩn dụ mới có mặt trong các tác phẩm thơ ca hoặc văn học nói chung và thông thường thì các nhà ngữ nghĩa học tri nhận không đặt nặng việc nghiên cứu các ẩn dụ mới dùng trong diễn ngôn ngoài văn học Thế nhưng từ những năm 2000 trở lại đây

đã bắt đầu xuất hiện một xu hướng nghiên cứu mới, tìm hiểu hiện tượng ẩn dụ thông qua các phương pháp phân tích diễn ngôn và phân tích khối liệu [35] Xu hướng này kết hợp quan điểm tri nhận về ẩn dụ trong khi xem xét bản chất thường qui của chúng, đồng thời cũng liên kết chặt chẽ ẩn dụ ý niệm với ẩn dụ ngôn từ trên

cả hai bình diện lý thuyết và thực nghiệm

4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Luận án đề ra mục tiêu nghiên cứu việc sử dụng ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn kinh tế Anh –Việt Các câu hỏi mà luận án đặt ra là:

i Những loại ẩn dụ ý niệm nào được sử dụng trong các bản tin kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt? Các ẩn dụ ý niệm này có tần suất sử dụng như thế nào?

ii Vai trò của các ẩn dụ ý niệm là gì khi chúng được sử dụng trong các bản tin giải thích hoặc bình luận các hiện tượng kinh tế?

iii Các bản tin kinh tế tiếng Anh và các bản tin kinh tế tiếng Việt có những điểm giống nhau và khác nhau như thế nào trong việc sử dụng các ẩn dụ ý niệm và các biểu thức ẩn dụ cụ thể tương ứng?

iv Những đặc điểm tương đồng và dị biệt nếu có sẽ được giải thích như thế nào dựa trên mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy?

v Liệu người học và sử dụng tiếng Anh như một ngoại ngữ có thể gặp khó khăn hay không trong khi đọc và dịch các ẩn dụ ý niệm từ tiếng Anh sang tiếng Việt hoặc ngược lại?

Luận án cũng đặt ra một số các giả thiết có thể cùng xảy ra xoay quanh việc sử dụng ẩn dụ ý niệm trong hai ngôn ngữ Anh – Việt như sau:

Trang 16

a Cùng một ẩn dụ ý niệm và có cùng biểu thức ngôn ngữ: Trong trường hợp này việc tìm kiếm một cách dịch tương đương sẽ không gặp khó khăn Ví dụ ẩn dụ ý niệm QUAN HỆ LÀ CÁC TOÀ NHÀ có mặt trong cả hai ngôn ngữ Một người

Việt có thể nói Chúng ta hy vọng sẽ xây dựng một mối quan hệ lâu bền, và một người nói tiếng Anh bản ngữ cũng có thể nói We hope to build a permanent

relationship

b Cùng một ẩn dụ ý niệm nhưng khác biểu thức ngôn ngữ: Tiếng Việt và tiếng Anh

có chung một ẩn dụ ý niệm HẠNH PHÚC LÀ RỜI KHỎI MẶT ĐẤT, thế nhưng

trong khi một biểu thức ngôn ngữ trong tiếng Việt là Sau kỳ thi mấy ngày, tôi cứ

như đi/bay trên mây thì trong tiếng Anh lại có thể có cách diễn đạt khác như sau : After the exam, I was walking on air for days (nguyên văn: đi trên không khí)

c Khác ẩn dụ ý niệm: Trong tiếng Anh tồn tại ẩn dụ ý niệm IDEAS ARE FOOD (Ý TƯỞNG LÀ THỨC ĂN), còn trong tiếng Việt đôi lúc lại dùng ý niệm Ý TƯỞNG

LÀ HOA QUẢ Do vậy mà khi chuyển dịch biểu thức ngôn ngữ Cậu ấy ăn nói

chưa chín sang tiếng Anh thì người dịch không sử dụng từ unripe (chưa chín) vì từ

này không được sử dụng theo cách ẩn dụ trong tiếng Anh Trong trường hợp này,

người Anh bản ngữ có xu hướng dùng từ half-baked (nướng dang dở) để chuyển tải cùng một thông điệp:His words are half-baked

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU

Trên bình diện tổng quan, luận án kết hợp hai xu hướng tiếp cận chính: nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính Nghiên cứu định lượng cho phép luận án thiết lập sự so sánh trực tiếp giữa hai khối ngữ liệu tiếng Anh và tiếng Việt Còn phân tích định tính giúp chúng tôi nghiên cứu sâu hơn và chi tiết hơn các phép

đồ họa ẩn dụ có mặt trong hai khối ngữ liệu, góp phần làm sáng tỏ các nét tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngôn ngữ Anh và Việt trên cùng một thể loại văn bản tin kinh tế Có được điều này là vì nghiên cứu định tính giúp nhà nghiên cứu xem xét các hiện tượng xã hội trong những ngữ cảnh tự nhiên của chúng [51] Nghiên cứu định tính cùng với quá trình suy luận qui nạp đi kèm theo nó có thể mở ra nhiều khả năng tập trung lý giải các hiện tượng ngôn ngữ hơn so với các phép toán

Trang 17

trong phương pháp định lượng Nghiên cứu định tính bao gồm việc giải thích nghĩa của từ hoặc cụm từ, cho phép chúng ta hiểu các ý nghĩ và quan niệm mà con người muốn diễn đạt Low [91] cũng đã thấy rằng độ giá trị và độ tin cậy của các công trình nghiên cứu về ẩn dụ sẽ tăng lên rất nhiều khi người nghiên cứu sử dụng cả hai

xu hướng nghiên cứu định lượng và định tính

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận án là phương pháp miêu tả và phương pháp so sánh-đối chiếu Chúng tôi thu thập các bài báo tiếng Anh và tiếng Việt, miêu tả và phân tích việc sử dụng ẩn dụ ý niệm trong các bài báo này Các ẩn dụ sau khi được chọn ra sẽ được phân loại theo lĩnh vực nguồn, theo tần số xuất hiện của chúng, theo mức độ thông dụng và theo các đặc trưng ngôn ngữ-văn hoá Sau đó, các ẩn dụ ý niệm và các biểu thức ngôn ngữ cụ thể hóa của chúng trong hai ngôn ngữ Anh và Việt sẽ được so sánh và đối chiếu trên các tiêu chí cụ thể

Chúng tôi thu thập 200 bài báo mang các chủ đề kinh tế xuất hiện trong hai

tờ báo kinh tế thuộc dòng báo chính thống tại Việt Nam: tờ Thời báo kinh tế Sài Gòn và tờ Thời báo kinh tế Việt Nam; 200 bài báo tiếng Anh khác cũng xuất hiện trên hai tờ báo chính thống tại Mĩ là tờ Thời báo Tài chính (Financial Times) và Bưu điện Washington (Washington Post) Các bài báo này xuất hiện trong khoảng thời gian từ tháng 3/2006 đến tháng 12/2007 Các bài báo có độ dài không quá chênh lệch nhau; độ dài trung bình của các bài báo là 675 từ Các bài báo có nội dung phản ánh các hoạt động kinh tế trong nước nhằm mục đích hạn chế đến mức thấp nhất khả năng đưa vào ngữ liệu các yếu tố bị ảnh hưởng bởi việc biên dịch từ tiếng nước ngoài Sau đó, chúng tôi nhận diện, liệt kê và phân tích tần suất sử dụng các ẩn dụ ý niệm cũng như các biểu thức ngôn từ thể hiện các ý niệm ấy trong nguồn dữ liệu vừa nêu

Chúng tôi cố gắng chọn lựa các bài báo phù hợp và có thể so sánh được ở trong hai ngôn ngữ Đây là các bài báo xuất hiện tại các tờ báo điện tử có thể dễ dàng truy cập trên mạng Internet Đối với các bài báo tiếng Việt, chúng tôi chọn lọc chỉ những bài báo điện tử do người Việt viết và chỉ dành cho độc giả là người Việt,

Trang 18

với mục đích là để các đặc trưng ngôn ngữ và văn hoá của người Việt được thể hiện

rõ ràng nhất Chúng tôi áp dụng quá trình chọn lọc tương tự cho các bài báo bằng tiếng Anh Việc chọn lựa các tờ báo trên để đối chiếu không nằm ngoài mục đích của chúng tôi là đảm bảo sự tương đương về chất liệu diễn ngôn, trên cả hai bình diện là độ dài văn bản và chủ đề

Khối ngữ liệu tiếng Anh có độ dài 120.622 từ, bao gồm 200 bài báo trên tờ Washington Post và tờ Financial Times Khối ngữ liệu tiếng Việt có độ dài 149.536

từ, bao gồm 200 bài báo trên tờ Thời báo kinh tế Sài Gòn và tờ Thời báo Kinh tế Việt Nam Những bài báo nào có cùng nội dung và xuất hiện cả trên hai khối ngữ liệu đều bị loại ra Mặc dù tất cả các bài báo trong cả hai khối ngữ liệu đều có tiêu

đề, nhưng chúng tôi không đưa các tiêu đề này vào việc phân tích dựa trên quan điểm là các ẩn dụ, vốn chiếm một tỉ lệ xuất hiện cao trong các tiêu đề, thường nghiêng về chức năng tu từ hơn là nghiêng về chức năng tri nhận Cả hai khối ngữ liệu tiếng Anh và tiếng Việt trong luận án đều thuộc diễn ngôn kinh tế phổ thông Đây là một thuật ngữ được Skorczynska và Deignan [103] dùng để chỉ các bản tin báo chí liên quan đến các vấn đề kinh tế dành cho độc giả thuộc cả giới nghiên cứu

và bình dân, có mục đích chính là cung cấp thông tin cho người đọc

Việc xử lý dữ liệu được tiến hành theo ba giai đoạn Trong giai đoạn thứ nhất, tất cả dữ liệu được thao tác thủ công để tìm ra các ẩn dụ theo định nghĩa rộng

về ẩn dụ mà chúng tôi sẽ trình bày trong chương một Chúng tôi tiến hành phân lập các biểu thức ẩn dụ ngôn từ cụ thể có mặt trong hai khối ngữ liệu Các ẩn dụ vừa tìm được sẽ được phân loại theo các ẩn dụ ý niệm cụ thể, chẳng hạn biểu thức ẩn dụ ngôn từ ø Deutsche Bank tiếp tục bơm tiền vào thị trường (TBKTSG34)

được phân tích là hiện thực hóa của ẩn dụ ý niệm TÀI CHÍNH LÀ MỘT DÒNG CHẢY

Trong giai đoạn tiếp theo, các ẩn dụ ý niệm sẽ được sắp xếp vào một trong bốn nhóm ẩn dụ ý niệm có tầng bậc cao hơn, và bốn nhóm này lần lượt có các lĩnh vực ý niệm nguồn là KHÔNG GIAN, MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN, HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI, và CƠ THỂ SỐNG

Trang 19

Trong giai đoạn thứ ba, trên cơ sở số lượng và các loại ẩn dụ phân lập được, luận án sẽ tiến hành so sánh hai khối ngữ liệu bản tin kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt Đối với các ví dụ cụ thể xuất hiện trong khối ngữ liệu tiếng Anh, chúng tôi sẽ chua thêm phần dịch sát nguyên văn sang tiếng Việt nhằm bộc lộ các đặc trưng văn hóa-ngôn ngữ của khối ngữ liệu này

Chúng tôi hy vọng ba giai đoạn xử lý dữ liệu nêu trên sẽ làm rõ những nét tương đồng và dị biệt về đặc điểm ẩn dụ có mặt trong hai ngôn ngữ có cùng ngữ vực, về cách thức ý niệm hóa các hoạt động và hiện tượng kinh tế trong hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt

Phương pháp luận sử dụng trong luận án này cũng được dựa trên các quan điểm của ngữ nghĩa học tri nhận, các quan điểm này cho rằng ẩn dụ, ngoài các chức năng làm đẹp cho ngôn ngữ, còn có chức năng tổ chức các nguyên tắc tư duy và các bình diện kinh nghiệm Johnson & Lakoff [67] và Lakoff & Johnson [84] xem ẩn

dụ có nguồn gốc từ trong hiện thực cuộc sống của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ và phản ánh phương thức tư duy của cộng đồng ấy Lấy ví dụ, nếu tư duy của chúng ta

về thị trường chứng khoán được cấu trúc bởi ẩn dụ chiến tranh, thì các biểu thức

ngôn ngữ như thế trận giằng co giữa bên bán và bên mua, lệnh mua ồ ạt tháo chạy

sẽ xuất hiện rất tự nhiên trong đời sống ngôn ngữ

6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

6.1 Về lý luận

Những kết quả tìm được trong luận án có giá trị khẳng định ưu thế của ngữ nghĩa học tri nhận nói chung và lý thuyết ẩn dụ ý niệm nói riêng trong so sánh đối chiếu các văn bản tin của các ngôn ngữ giống và khác nhau về loại hình

Đây là công trình đầu tiên sử dụng lý thuyết ẩn dụ ý niệm để phân tích thể loại tin tại Việt Nam Nó góp phần mở rộng một xu hướng nghiên cứu diễn ngôn hoặc thể loại được cho là đã khá phổ biến trong giới ngôn ngữ học trên thế giới nhưng lại còn mới mẻ tại Việt Nam

Luận án khẳng định việc nghiên cứu và phân tích các ẩn dụ không thể tách khỏi các bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng liên quan đến các ẩn dụ đó

Trang 20

Đây là một công trình giúp khẳng định lại quan điểm của các nhà ngữ nghĩa học tri nhận khi cho rằng ẩn dụ mang đến cho nhà ngôn ngữ học một cánh cửa để nhìn vào trí não của con người Theo quan điểm này thì ngôn ngữ ẩn dụ phản ánh sản phẩm đầu ra của quá trình tri nhận mà thông qua nó chúng ta hiểu được một lĩnh vực với các mẫu tri nhận từ một lĩnh vực khác và hiểu rằng các lĩnh vực khác nhau

có chung nhiều từ ngữ và ý niệm, chẳng hạn như các lĩnh vực tư tưởng – thức ăn, tình yêu – hành trình, thời gian – chuyển động

6.2 Về ứng dụng

Những kết quả thu được từ luận án sẽ đóng góp cho các nhà giảng dạy ngoại ngữ đặc biệt là trong lĩnh vực tiếng Anh chuyên ngành nói chung và lĩnh vực tiếng Anh cho ngành báo chí nói riêng

Trong giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành báo chí kỹ năng viết tin bằng tiếng Anh hoặc kỹ năng dịch từ bản tin tiếng Việt sang bản tin tiếng Anh hoặc ngược lại, người dạy cần thấy được tầm quan trọng của lý thuyết ẩn dụ ý niệm có mặt rất thường xuyên trong các bản tin kinh tế

Ngoài ra luận án cũng góp phần làm sáng tỏ một số đặc điểm ngôn ngữ báo chí của cả hai ngôn ngữ, và điều này thực sự hữu ích cho các nhà báo viết tin hay dịch tin về kinh tế trong thời hội nhập của nước ta

7 BỐ CỤC LUẬN ÁN

Luận án bao gồm phần mở đầu, bốn chương chính và phần kết luận

Phần mở đầu: Trình bày lý do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, đối tượng và phạm

vi nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, những đóng góp mới và bố cục của luận án

Chương 1: Trình bày các vấn đề lý thuyết làm cơ sở cho việc phân loại và miêu tả ở các chương sau

Chương 2: Phân tích các ẩn dụ ý niệm và các biểu thức ẩn dụ cụ thể trong các bản tin kinh tế tiếng Anh

Trang 21

Chương 3: Phân tích các ẩn dụ ý niệm và các biểu thức ẩn dụ cụ thể trong các bản tin kinh tế tiếng Việt

Chương 4: Đối chiếu các ẩn dụ ý niệm có mặt trong các văn bản tin kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt dựa trên các lĩnh vực nguồn và đề xuất ứng dụng trong giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành kinh tế Chương này cố gắng lý giải các đặc trưng ngôn ngữ và tư duy thể hiện trong việc chọn lựa và sử dụng các ẩn dụ ý niệm

ở hai ngôn ngữ

Phần kết luận: Tổng kết lại những kết quả thu được từ luận án và đề xuất hướng nghiên cứu

Trang 22

CHƯƠNG MỘT: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Ẩn dụ trong các hướng tiếp cận truyền thống

1.1.1 Các hướng tiếp cận theo quan điểm nghĩa học

1.1.1.1 Ẩn dụ theo quan điểm sở chỉ

Các quan điểm này có một chỗ đứng vững chắc và lâu dài trong lịch sử nghiên cứu ẩn dụ Chúng miêu tả hiệu quả của một ẩn dụ dựa trên sự tương đồng giữa các biểu vật của biểu thức ngôn ngữ chứa trong ẩn dụ đó Theo Leezenberg [86], các học trò của Aristotle tỏ ra rất gần với quan điểm này, họ xem ẩn dụ là một dạng so sánh được cô đọng hay xem ẩn dụ là dạng rút gọn của tỉ dụ Quan điểm sở chỉ cho rằng ẩn dụ liên quan đến các dạng thức riêng lẻ của từ, chứ không liên quan đến từ và câu trong ngữ cảnh Ẩn dụ bắt nguồn từ nhu cầu thể hiện các khái niệm trong khi ngôn từ biểu đạt những khái niệm ấy lại không tồn tại và dần dần ẩn dụ trở nên phổ biến vì sức mạnh thẩm mỹ của nó Theo quan điểm sở chỉ, chính sự tương đồng giữa các biểu vật có thể dùng để giải thích việc sử dụng một đơn vị từ theo lối ẩn dụ Do đó, ẩn dụ là việc nén một tỉ dụ thành một từ đơn lẻ và đặt nó vào một vị trí không bình thườngï Do đó mà các nhà nghiên cứu theo đường hướng sở chỉ đôi lúc xem ẩn dụ là hiện tượng lệch chuẩn

Các quan điểm sở chỉ luôn chiếm ưu thế trong lịch sử nghiên cứu cho tới giữa thế kỷ 20 và ngày nay vẫn ảnh hưởng sâu rộng, thể hiện qua nhiều công trình của Henle, Mooij và Fogelin (xem Leezenberg [86]) Ở Việt nam thì có các công trình của Đỗ Hữu Châu [1], Nguyễn Thiện Giáp [5], Đinh Trọng Lạc [10], Hà Quang Năng [11] Các quan điểm chính của đường hướng sở chỉ được thể hiện qua

ba bình diện như sau:

Thứ nhất, các quan điểm này đều nhấn mạnh đến sự tương quan mật thiết giữa

ẩn dụ với tỉ dụ hoặc so sánh, hoặc bằng cách định nghĩa ẩn dụ là một dạng so sánh rút gọn hay tĩnh lược, hoặc cho rằng nghĩa của ẩn dụ tương đương với nghĩa của tỉ

dụ tương ứng với nó Ở đây cũng không nên nhầm lẫn giữa hai quan niệm này: Quan niệm coi ẩn dụ là dạng tỉ dụ rút gọn đánh đồng nghĩa đen của ẩn dụ với nghĩa đen của tỉ dụ, còn quan điểm thứ hai xác định nghĩa bóng của ẩn dụ nhờ nghĩa đen

Trang 23

của tỉ dụ Như vậy, theo quan điểm này thì ẩn dụ : “Hắn là một con cáo” không phải để khẳng định rằng hắn là cáo, mà phần lớn muốn khẳng định rằng hắn giống

như một con cáo Thứ hai, các quan điểm này lấy biểu vật của các biểu thức ngôn ngữ, đó là các đối tượng mà chúng biểu thị, làm yếu tố quyết định trong việc giải

nghĩa một ẩn dụ Bà vợ ông ấy là sư tử cái được hiểu theo cách Bà vợ ông ấy và

con sư tử có chung một tính chất như sự hung tợn Thứ ba, ẩn dụ có kiểu nghĩa đôi: nghĩa đen có vai trò cơ bản, còn nghĩa bóng phái sinh từ đó Các nhà nghiên cứu theo quan điểm sở chỉ coi ẩn dụ có tính chất phái sinh ở chỗ nó là một chức năng của việc giải thích theo nghĩa đen

Từ đây chúng ta có thể chỉ ra một số vấn đề mà quan điểm sở chỉ chưa thể trả lời được Thứ nhất, khái niệm so sánh hoặc tương đồng không thể đem ra giải thích nghĩa bóng của ẩn dụ vì các phép so sánh cũng mang nghĩa bóng giống hệt như ẩn

dụ vậy Chẳng hạn, chúng ta không thể giải thích các câu như Gia đình chú rể

giống như mỏ vàng đơn thuần chỉ bằng việc tìm ra một đặc tính chung giữa gia đình

chú rể và mỏ vàng Có vẻ như là tính tương đồng không thể luôn luôn đóng vai trò của một khái niệm dùng để giải thích, trái lại bản thân nó cũng cần được phân tích sâu hơn Như vậy câu hỏi đặt ra là việc qui ẩn dụ về tính tương đồng không thôi liệu

sẽ có giá trị lý thuyết vững chắc trong việc giải thuyết ẩn dụ hay không

Vấn đề thứ hai là trong các ẩn dụ, chúng ta phải suy ra nhiều thứ hơn chứ không chỉ khôi phục lại các đơn vị từ chỉ so sánh trước đó đã bị lược bỏ đi Quan

điểm sở chỉ giải thích ẩn dụ A là B bằng cách cho rằng ta có thể dễ dàng chuyển đổi thành A giống như B, trong khi trên thực tế có nhiều ẩn dụ như

Mấy hôm nay bọn sinh viên Văn K29 cày gớm nhỉ

thì việc đưa thêm từ “giống như” có vẻ như không đủ để tìm ra cái gì đang được so

sánh với cái gì Hơn nữa, việc đi tìm một sự tương đương ngữ nghĩa giữa ẩn dụ và

so sánh không phải là chuyện đơn giản Trước nhất, Bà vợ ông ấy là sư tử cái và

Bà vợ ông ấy giống như sư tử cái mặc nhiên khác nhau về điều kiện chân ngụy:

trong những hoàn cảnh như nhau, Bà vợ ông ấy là một con người có chung đặc tính

hung ác với sư tử, thì ẩn dụ sẽ sai về nghĩa đen còn tỉ dụ sẽ đúng Vì vậy, ẩn dụ và tỉ

Trang 24

dụ dường như không có chung một hiệu lực khẳng định Vấn đề thứ ba là việc ẩn dụ

có thể xuất hiện trong các đơn vị từ có ngoại diên rỗng, chẳng hạn như trong biểu

thức "Việt Nam đang trở thành một con rồng nhỏ châu Á" chúng ta dễ dàng thấy rằng ngoại diên của biểu thức con rồng nhỏ không tồn tại, vì vậy khó có thể xem

các biểu vật cùng các đặc tính của chúng có thể quyết định việc giải thích ý nghĩa của ẩn dụ Nhà nghiên cứu theo quan điểm sở chỉ có hai lối ra: hoặc là tìm ra những nét nghĩa nội hàm bao quát hơn, qua đó các đặc tính của một vật thể ở một thế giới nào đó có thể giải thích ý nghĩa của ẩn dụ trong thế giới thực, hoặc nhà nghiên cứu

có thể cho rằng không phải các vật thể cùng các đặc tính của chúng, mà chính là các trình hiện và các đặc tính liên quan mới tham gia và quá trình đánh giá các yếu tố tương đồng Nhưng trong trường hợp thứ nhất thì đó chính là ý nghĩa hay nội hàm, còn trong trường hợp thứ hai thì chính là ý niệm hay trình hiện, chứ không phải biểu vật hay ngoại diên, đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích Như vậy, lựa chọn thứ nhất đưa quan điểm sở chỉ đến gần quan điểm miêu tả, còn lựa chọn thứ hai thì đưa nó đến gần quan điểm ý niệm mà chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau

1.1.1.2 Ẩn dụ theo quan điểm miêu tả

Đặc điểm quan trọng đầu tiên giúp phân biệt quan điểm miêu tả với quan điểm sở chỉ là quan điểm miêu tả nhấn mạnh rằng yếu tố quyết định việc giải thích

ẩn dụ không phải là cái biểu vật hay ngoại diên của biểu thức ẩn dụ, mà chính là một bình diện nghĩa của ẩn dụ, ý nghĩa hay nội hàm của nó, hay khái quát hơn chính

là các thông tin miêu tả gắn liền với nó [71] Tác giả Nguyễn Thế Truyền [20] có một hướng đi tương tự trong nghiên cứu về ẩn dụ Ông tìm hiểu nghĩa ẩn dụ khẩu ngữ để làm rõ thêm đặc điểm phong cách học của ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày và tìm ra những nhân tố chi phối đặc điểm phong cách học của ẩn dụ với tư cách là phép chuyển nghĩa từ vựng Hoàng Kim Ngọc [12] nghiên cứu ẩn dụ cũng theo xu hướng này, tuy ít nhiều vẫn gắn bó với quan điểm sở chỉ Theo quan điểm miêu tả, việc giải thích ẩn dụ không liên quan nhiều đến các đặc tính thực tế gán cho các vật thể được đề cập đến bằng các đặc tính gắn cho bản thân đơn vị từ Đại diện cho những quan điểm như vậy là lý thuyết tương tác của Black [23] Thuật ngữ “tương

Trang 25

tác” được Black [23] giải thích là sự kích thích người nghe chọn lựa một vài đặc tính của chủ thể bậc hai, do có sự hiện diện của chủ thể chính, khuyến khích người nghe tạo dựng một phức hợp hàm ý song song phù hợp với chủ thể chính, và tương tác qua lại tạo ra những thay đổi trong chủ thể bậc hai

Thứ hai, theo quan điểm miêu tả, ẩn dụ bao gồm một sự thay đổi nghĩa, và

không chỉ xảy ra trong sở chỉ, của ít nhất một biểu thức Trong ẩn dụ, Mới sáng mà

mụ ấy đã sủa ong ỏng, thì nghĩa đen của sủa không thể đem ra giải thuyết cho ẩn

dụ, bởi vì điều này chỉ dẫn đến một phát ngôn sai theo nghĩa đen Thay vào đó,

người ta cho rằng từ sủa mà Black [23] gọi là tiêu điểm đã tạo thêm một ý nghĩa

mới hay ý nghĩa ẩn dụ trong phạm vi ngữ cảnh cụ thể của nó Các nhà miêu tả học

vì thế cho rằng việc giải thuyết ẩn dụ xảy ra tại một tầng bậc nghĩa khác với tầng bậc của các nhà nghiên cứu theo quan điểm sở chỉ Đối với họ, chính tầng bậc ý nghĩa chứ không phải tầng ngoại diên mới đóng vai trò chính trong việc giải thuyết Đặc điểm thứ ba của các quan điểm miêu tả và sau này của các quan điểm ý niệm, đó là việc không còn nhấn mạnh đến tinh tương đồng với vai trò là một khái niệm giải thích; trên thực tế, chính tính khác biệt mới được coi là cơ sở quan trọng

để giải thuyết ẩn dụ Chính tính dị biệt ấy trong cấu trúc ngôn ngữ của kết cấu chủ

vị đã dẫn đến một nội hàm mới hay ý nghĩa ẩn dụ Theo nghĩa đen, thì con người không thể sủa được, và điều này đem đến cho người nghe một dấu hiệu là một nét

nghĩa phi thực của từ sủa sẽ được phân tích trong ẩn dụ Mới sáng mà mụ ấy đã sủa

ong ỏng Việc giải thuyết sẽ bao gồm việc chuyển di một số thành tố nghĩa từ biểu

thức ẩn dụ sủa sang biểu thức ngữ cảnh thực người Các nhà nghiên cứu theo quan

điểm miêu tả vì thế xem việc giải thuyết ẩn dụ dưới danh nghĩa quá trình chuyển di nghĩa, và coi việc nhận diện ẩn dụ là sự xung đột ngữ nghĩa ở tầng bậc nghĩa đen Mặc dù quan điểm miêu tả có nhiều điểm vượt trội hơn so với quan điểm sở chỉ ở nửa sau thế kỷ 20, thế nhưng quan điểm miêu tả vẫn phải đối diện với những khó khăn riêng của nó Thứ nhất, sự bất đồng lôgic, một sai lệâch phạm trù, hay sự bất thường ngữ nghĩa không thể là điều kiện cần cũng như điều kiện đủ để một câu hay một phát ngôn trở thành ẩn dụ Không phải tất cả ẩn dụ đều sai lệch hoặc vô lý,

Trang 26

và ngược lại, không phải tất cả các phát ngôn sai lệch đều được thuyết giải theo hướng ẩn dụï Mặt khác, nhiều ẩn dụ không thể hiện một cách rõ ràng một sự xung đột về ngữ nghĩa Những ví dụ sau đây có thể chứng minh cho điều này:

1 Cuộc sống không phải là hoa hồng

2 Đà lạt là một thành phố lạnh lẽo

Ở trong phát ngôn (1), ta thấy xuất hiện yếu tố phủ định không phải, chính yếu

tố này làm cho phát ngôn (1) không có sự xung đột nào về nghĩa đen Phát ngôn (2) thì có thể đúng theo nghĩa đen và cũng có thể đúng theo nghĩa ẩn dụ

Tóm lại, các quan điểm miêu tả dường như quá nhấn mạnh đến tính chất dị biệt của các nét nghĩa đen và đem chúng ra làm tiêu chuẩn để nhận diện ẩn dụ Các quan điểm này đề ra việc phân tích ẩn dụ theo 2 bước: khi nhận diện được tính dị biệt của nghĩa đen, người nghe sẽ xây dựng ý nghĩa ẩn dụ; việc phân tích này cho thấy nét nghĩa đen được đặt lên trước các yếu tố ngữ cảnh Tuy nhiên, việc không phải tất cả mọi ẩn dụ đều sai lệch về ngữ nghĩa cho thấy rằng không phải kiểu câu,

mà là câu trong ngữ cảnh hay phát ngôn mới có được giải thuyết theo lối ẩn dụ

1.1.2 Các hướng tiếp cận theo quan điểm dụng học

Những nhà nghiên cứu theo quan điểm dụng học cho rằng một phát ngôn ẩn

dụ chưa thể dẫn đến một sự thay đổi về nghĩa của các từ liên quan [104] Thay vào

đó, họ thích giữ lại các qui tắc ngữ nghĩa một cách đơn giản có cấu tạo ổn định, và

họ qui ẩn dụ về một cơ chế giải thuyết khác Theo quan điểm dụng học, người nghe

sẽ thuyết giải phát ngôn của người nói theo nghĩa đen (người nghe sẽ hiểu là người nói có ý định giao tiếp những gì người nói nói), trừ phi việc thuyết giải theo nghĩa đen nghe khác lạ đến nỗi cần phải viện đến một sự giải thuyết lại theo lối dụng học

Một ví dụ đơn giản như, khi một người nói Nàng là một đoá hoa đồng nội, người đó

nói ra một điều sai theo nghĩa đen, nhưng lại ngụ ý, hay có ý định giao tiếp một điều

gì đó có thể đúng, chẳng hạn như việc cô gái có nét đẹp đơn sơ, gần gũi

Sự phát triển của lý thuyết dụng học như một lý thuyết chung về sử dụng ngôn ngữ từ những năm 1960 trở về sau, đặc biệt thể hiện trong các công trình của Searle [104] và Grice [62], đã mở ra một khả năng hình thành một quan điểm dụng

Trang 27

học như thế Cả hai tác giả đều lấy phát ngôn (các hành động ngôn từ, phát ra trong

một tình huống cụ thể do một người nói cụ thể và với các ý định giao tiếp cụ thể), chứ không phải là các câu hay mệnh đề, làm điểm xuất phát để phân tích Cả hai đều coi ngữ dụng học, trong thế đối lập với ngữ nghĩa học, là bao gồm cả người nói, hay chính xác hơn là ý định của người nói, làm một tham số lý thuyết Và chính việc nhờ đến ý định của người nói đã phân biệt được các khái niệm dụng học như

‘hàm ngôn’ và ‘nghĩa của người nói’ với các khái niệm nghĩa học như ‘nghĩa của câu’ và ‘nghĩa kéo theo’

Nếu phân tích phát ngôn ẩn dụ dựa trên lý thuyết của Grice về hàm ngôn hội thoại [sđd], chúng ta có thể giả định rằng người nói trong phần lớn các trường hợp

sẽ ứng xử duy lý và hợp tác, tức là chọn theo Nguyên tắc hợp tác, nên khi xảy ra trường hợp người nói phát ngôn một câu không đúng sự thật, hoặc không liên quan hay không phù hợp, thì người nghe sẽ suy ra rằng người nói muốn thông báo một điều gì đó khác với điều anh ta nói Trong trường hợp đó sẽ xuất hiện hàm ngôn hội thoại Như vậy, nếu tiếp cận ẩn dụ từ góc độ dụng học, thì ẩn dụ liên quan đến nghĩa phát ngôn của người nói chứ không phải là nghĩa của từ hay câu Grice xem

ẩn dụ như một hàm ngôn hội thoại xuất phát từ việc vi phạm phương châm Chất

lượng, chẳng hạn như trong phát ngôn You are the cream in my coffee [sđd: 34],

Grice cho rằng đã có hiện tượng sai lệch phạm trù ở đây và chính sự sai lệch này đã giúp nhận diện ẩn dụ Ở trong hai phát ngôn sau cũng đã có hiện tượng vi phạm phương châm Số lượng và phương châm Cách thức, và vì thế chúng cũng chứa đựng ẩn dụ:

1 Cuộc sống không phải là hoa hồng

2 Đà lạt là một thành phố lạnh lẽo

Tuy nhiên, phương thức nhận diện ẩn dụ của Grice thông qua hàm ngôn hội thoại vẫn chưa đủ sức thuyết phục Việc gọi ẩn dụ là hiện tượng vi phạm phương châm Chất lượng chưa thể là điều kiện cần và đủ để nhận diện một ẩn dụ Nó chưa thể là điều kiện cần bởi vì có nhiều phát ngôn vi phạm phương châm hội thoại vẫn không chứa các ẩn dụ Nó cũng chưa thể là điều kiện đủ bởi vì nó không giúp phân

Trang 28

biệt được ẩn dụ với các hiện tượng tu từ khác chẳng hạn như biếm dụ Các điểm yếu trong quan điểm của Grice về ẩn dụ đã phần nào được khắc phục trong các công

trình của những nhà nghiên cứu dụng học đi sau ông

Một số nhà nghiên cứu cho rằng ngữ nghĩa học không thể giải thích hiện tượng ẩn dụ một cách trọn vẹn bởi vì chúng ta không cần xem xét các từ có nghĩa gì khi chúng tách rời khỏi ngữ cảnh, mà chỉ xem xét người nói muốn nói gì trên phương diện dụng học khi họ dùng từ trong ngữ cảnh Searle [104] cho rằng tốt nhất

là xem ẩn dụ với tư cách là nghĩa của phát ngôn (phân biệt với nghĩa của từ hoặc nghĩa của câu) và giải thích nó một cách rõ ràng nhất là nhờ vào lý thuyết dụng học Những quan điểm này dựa trên việc nhận diện ẩn dụ do chúng vi phạm phương châm Chất lượng của Grice

Một trong những điểm hạn chế của việc phân tích ẩn dụ nếu tách quan điểm tri nhận khỏi quan điểm dụng học là việc giải thích động lực/lý do xuất hiện ẩn dụ chỉ là kinh nghiệm bên trong Điều này có nghĩa là việc sử dụng ẩn dụ chỉ là phản

xạ vô thức, trong khi quan điểm dụng học cho rằng người nói sử dụng ẩn dụ nhằm mục đích thuyết phục và anh ta dựa trên những tài nguyên (resources) sẵn có về ngôn ngữ và tri nhận, kết nối chúng lại và sử dụng theo ý mình Như vậy, chúng tôi nghiêng về ủng hộ quan điểm của Charteris-Black [38] khi ông cho rằng mục đích thuyết phục có ý thức cần phải được tích hợp trong một quan điểm tri nhận rộng lớn hơn

Chúng ta thấy tầm quan trọng của ẩn dụ về phương diện nghĩa biểu cảm, và chúng ta không nên quên vai trò quan trọng của ẩn dụ trong việc giúp chúng ta hình thành các quan điểm của mình- ẩn dụ chính là một hành động diễn ngôn mang tính chất thuyết phục-thuyết phục vì nó mời gọi một sự cảm nhận chung vượt quá cái cảm nhận có trong hệ thống ngữ nghĩa Chính vì thế việc phân tích ẩn dụ có thể góp phần làm sáng tỏ hệ thống niềm tin, thái độ hay tình cảm của một cộng đồng ngôn ngữ nơi ẩn dụ xuất hiện

1.2 ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG NGỮ NGHĨA HỌC TRI NHẬN

Trang 29

Một quan điểm khác có thể giải thích ẩn dụ một cách thuyết phục hơn: quan điểm cho rằng ẩn dụ không thể liên quan đến ngôn ngữ nhiều bằng liên quan đến tư duy: đó là quan điểm của các nhà ngôn ngữ học tri nhận hay cụ thể hơn, của các nhà ngữ nghĩa học tri nhận mà đại diện là Lakoff và Johnson Cả hai ông phản đối cái gọi là ngữ nghĩa học khách quan vì đó là lý thuyết chỉ nghiên cứu nghĩa thông qua các khái niệm như điều kiện chân ngụy và qui chiếu Hai ông cho rằng các quan điểm này không thể giải thích một cách thoả đáng các biểu thức ẩn dụ ngôn từ rất

phổ biến trong đời sống hàng ngày của người Anh bản ngữ như I attacked his

argument ( nguyên văn: tôi tấn công lập luận của ông ấy), I’m feeling down (

nguyên văn: tôi cảm thấy xuống), you’re wasting my time (nguyên văn: Cậu đang

làm lãng phí thời gian của tôi) Thậm chí chúng ta cũng không cảm nhận được

chúng là những ẩn dụ, vì chúng là những tấm gương phản chiếu cách thức chúng ta

ý niệm hoá thế giới xung quanh Chúng là những thể hiện ngôn ngữ của các ý niệm

ẩn dụ Các ý niệm này được Johnson và Lakoff [83] qui ước đặt trong các biểu thức viết bằng chữ cái in hoa như ARGUMENT IS WAR (TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH), HAPPINESS IS UP (HẠNH PHÚC LÀ LÊN), SADNESS IS DOWN (BUỒN RẦU LÀ XUỐNG), TIME IS MONEY (THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC) Theo quan điểm này thì ẩn dụ ý niệm không phải là các biểu thức ngôn ngữ cụ thể,

mà là các cấu trúc ý niệm tồn tại một cách vô thức trong trí não của người nói Các cấu trúc này là các bộ phận không thể thu nhỏ hơn được nữa của cách thức mà chúng ta ý niệm hoá thế giới thực tại, vì thế chúng ta không nên nhìn nhận các thể hiện ngôn từ của chúng là mang tính lệch chuẩn hay phi ngữ pháp Ngược lại, các đường hướng khách quan lại xác định nghĩa như quan hệ giữa ký hiệu ngôn ngữ và thế giới thực tại khách quan, và vì thế không xem xét đến việc hiểu và ý niệm hoá thế giới khách quan của con người

Ngữ nghĩa học tri nhận có vai trò quan trọng ở chỗ nó qui ẩn dụ ngôn từ về các quá trình ý niệm Nó tập trung vào nghiên cứu các ẩn dụ ‘chết’ hay ẩn dụ thông thường cũng như vai trò của chúng trong việc ý niệm hoá của con người, và nó cũng cho rằng nhiều cấu trúc ngữ nghĩa là có nguyên do chứ không phải là võ đoán

Trang 30

1.2.1 Nền tảng cơ sở của lý thuyết ẩn dụ ý niệm

Quan điểm cho rằng ẩn dụ là một công cụ tri nhận rõ ràng rất khác so với quan điểm truyền thống Theo truyền thống thì ngôn ngữ được xem như một hệ thống tự trị ở đó các đơn vị từ có các nét nghĩa được xác định rõ ràng, các nét nghĩa được coi như các thuộc tính sẵn có của từ, và không cần phải tiếp cận nghĩa ngoài ngôn ngữ hoặc nghĩa bách khoa ngoại trừ những trường hợp đặc biệt như ẩn dụ Ngôn ngữ mang tính ẩn dụ vì thế thường được xem như một sự lệch chuẩn khỏi cách sử dụng ngôn ngữ bình thường hàng ngày Điều này có nghĩa là để hiểu được

ẩn dụ thì phải thông qua các quá trình đặc biệt Việc thuyết giải ẩn dụ phải được thực hiện thông qua ngôn ngữ sử dụng nghĩa đen, và vì thế theo quan niệm truyền thống thì ngôn ngữ sử dụng nghĩa đen có vai trò lớn hơn so với ngôn ngữ mang tính

ẩn dụ

Lakoff và Johnson [83],[84] lại nhìn nhận và nghiên cứu ẩn dụ thông qua các lĩnh vực kinh nghiệm Họ cho rằng ẩn dụ là hiện tượng tri nhận hơn là một hiện tượng ngôn ngữ, và những biểu thức ẩn dụ ta bắt gặp trong ngôn ngữ chính là cái phản ánh các ẩn dụ tồn tại ở các tầng bậc ý niệm Để bảo vệ luận điểm này, Lakoff

và Johnson đã phân tích một số lượng lớn từ và cụm từ trong tiếng Anh để chứng minh tính hệ thống của các ý niệm ẩn dụ Họ cho thấy rằng trong tiếng Anh, lĩnh vực ý niệm ARGUMENT (TRANH LUẬN) được cấu trúc dựa theo lĩnh vực WAR (CHIẾN TRANH) thể hiện qua ngôn ngữ như sau:

Your claims are indefensible.(nguyên văn: Quan điểm của cậu không thể bảo vệ

được)

He attacked every weak point in my argument (nguyên văn: Hắn tấn công mọi điểm

yếu trong lập luận của tôi)

His criticisms were right on target (nguyên văn: Những lời ông ta phê bình trúng

phóc ngay đích)

I demolished his argument (nguyên văn: Tôi đập tan lập luận của hắn)

If you use that strategy, he’ll wipe you out (nguyên văn: Nếu cậu dùng chiến lược

Trang 31

Trong các ví dụ trên, CHIẾN TRANH được hiểu là lĩnh vực nguồn, nó được

đồ hoạ sang lĩnh vực đích TRANH LUẬN Quá trình đồ họa ý niệm là hệ thống các yếu tố tương ứng trong hai lĩnh vực, trong đó lĩnh vực nguồn là ý niệm cụ thể hơn, còn lĩnh vực đích thì trừu tượng hơn Trong trường hợp này, thì việc đồ họa kiến thức từ lĩnh vực CHIẾN TRANH sang lĩnh vực tranh luận đã cho phép chúng ta có thể suy luận về một lĩnh vực thông qua lĩnh vực kia [82]

Ẩn dụ ý niệm TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH trong tiếng Anh không phải là một ví dụ duy nhất, vì trên thực tế, theo Lakoff và Johnson, hệ thống ý niệm của con người về bản chất thì mang tính ẩn dụ, nó không chỉ ảnh hưởng đến ngôn ngữ

mà chúng ta dùng, mà còn đến các hoạt động hàng ngày cũng như trong quan hệ tương tác với mọi người xung quanh

Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng các nhà nghiên cứu ngữ nghĩa học tri nhận như Lakoff và Johnson [83] dường như lại quá nhấn mạnh đến mặt tri nhận của ẩn dụ mà dường như coi nhẹ đặc trưng ngôn ngữ của chúng, trong đó có các yếu tố liên quan đến việc hình thành các ẩn dụ phi thường qui hay ẩn dụ mới, chẳng hạn như kinh nghiệm và năng lực ngôn ngữ của người sử dụng ẩn dụ Trong luận án này chúng tôi chọn quan điểm trung hòa hơn, vừa nhấn mạnh đến đặc trưng tri nhận của ẩn dụ nhưng cũng không thể xem nhẹ các đặc trưng ngôn ngữ của chúng

Khi xem xét kỹ các ẩn dụ ý niệm, chúng ta nhận thấy một điều là các ẩn dụ đôi khi được tổ chức theo tầng bậc, có các ẩn dụ bậc cao và ẩn dụ bậc thấp, hay nói cách khác là ẩn dụ bậc phổ quát và ẩn dụ bậc cụ thể Ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ MỘT HÀNH TRÌNH là ẩn dụ bậc cụ thể, giống như ẩn dụ NGHỀ NGHIỆP LÀ MỘT HÀNH TRÌNH Các ẩn dụ này thừa hưởng cấu trúc của ẩn dụ tầng giữa CUỘC SỐNG CÓ MỤC ĐÍCH LÀ MỘT HÀNH TRÌNH Ẩn dụ có tầng bậc phổ quát nhất hay cao nhất là các ẩn dụ cấu trúc sự tình Theo Lakoff [82], liên quan đến các tầng bậc này là các yếu tố văn hoá: ẩn dụ ở tầng bậc càng thấp thì càng được sử dụng giới hạn trong một môi trường văn hoá cụ thể

Một đặc điểm nữa là việc đồ hoạ giữa hai lĩnh vực chỉ mang tính bán phần và làm nổi bật một số bình diện nào đó của lĩnh vực đích Chẳng hạn như trong ẩn dụ

Trang 32

LÝ THUYẾT LÀ CÁC TOÀ NHÀ, Lakoff và Johnson [83] cho thấy rằng người ta chỉ sử dụng nền móng và cấu trúc mặt ngoài của ý niệm lĩnh vực nguồn nhằm cấu trúc hoá ý niệm đích, trong khi lại không sử dụng các bộ phận khác của ý niệm nguồn như phòng hay hành lang Tính bán phần này là điều tự nhiên, vì nếu việc đồ họa mang tính toàn phần, thì hai ý niệm sẽ hoà thành một và sẽ giống hệt nhau

Theo quan điểm truyền thống về ẩn dụ, việc dùng đối tượng A để nói về đối tượng B xảy ra khi trước đó trên thực tế tồn tại một sự tương đồng giữa A vàB, và chính sự tương đồng có sẵn này có thể hạn chế số lượng các ẩn dụ, hoặc chỉ dùng loại ẩn dụ này mà không dùng ẩn dụ kia khi miêu tả thế giới xung quanh [74], [75] Tuy nhiên, chúng ta có thể dẫn ra nhiều trường hợp trong đó không thể dùng sự tương đồng có sẵn giữa hai đối tượng để giải thích cách dùng một ẩn dụ, chẳng hạn

giữa ‘nuốt thức ăn’ và “nuốt một quan điểm” dường như không tồn tại một sự

tương đồng có từ trước cả Vì lý do này mà ngữ nghĩa học tri nhận đặt ra nhiệm vụ phải giải thích việc chọn lựa các ý niệm ẩn dụ cũng như các biểu thức ẩn dụ ngôn từ tương ứng khi không có sự hiện diện sẵn các nét tương đồng giữa hai đối tượng Quan điểm ngữ nghĩa học tri nhận cho rằng, bên cạnh những sự tương đồng tồn tại sẵn có giữa hai đối tượng, ẩn dụ ý niệm còn dựa trên các kinh nghiệm khác nhau, trong đó bao gồm các quan hệ tương liên, nhiều tính chất tương đồng chủ quan, hay nhiều yếu tố văn hóa hay sinh học giữa hai đối tượng Các yếu tố này sẽ tạo động lực cho việc chọn lựa các ý niệm nguồn khác nhau cho cùng một ý niệm đích Lakoff & Johnson [83] vì thế gọi các yếu tố này là cơ sở kinh nghiệm hay động lực của ẩn dụ Cơ sở thứ nhất là các quan hệ kinh nghiệm tương liên Các quan hệ này không phải là các thuộc tính tương đồng Nếu sự tình 1 đi cùng với sự tình 2, chúng

sẽ là các sự tình có mối quan hệ kinh nghiệm tương liên Nếu sự tình thêm chất lỏng

vào vật chứa đi cùng với sự tình mức chất lỏng tăng thì chúng ta không coi hai sự

tình này là tương đồng mà là tương liên Chính quan hệ tương liên này có thể dùng

để giải thuyết cho ẩn dụ ý niệm NHIỀU HƠN LÀ HƯỚNG LÊN Ẩn dụ này vận hành xung quanh hai ý niệm: số lượng và trục thẳng đứng Kinh nghiệm hàng ngày của con người cho thấy có mối quan hệ tương liên giữa số lượng và trục thẳng

Trang 33

đứng Khi gia tăng về số lượng thì trục thẳng đứng cũng sẽ nâng cao và ngược lại Kết quả là chúng ta không những có ẩn dụ NHIỀU HƠN LÀ HƯỚNG LÊN mà còn có ÍT HƠN LÀ HƯỚNG XUỐNG Các biểu thức ẩn dụ ngôn từ tương đương

là giá cả lên cao, tỉ lệ thất nghiệp cao, vặn đài nhỏ xuống

Bên cạnh các quan hệ kinh nghiệm tương liên tạo cơ sở hình thành ẩn dụ, còn

có các quan hệ tương đồng tạo cơ sở cho các ẩn dụ khác Đây là các quan hệ tương đồng chủ quan hay tương đồng qua tri giác Xét ẩn dụ ý niệm CUỘC ĐỜI LÀ CỜ BẠC trong tiếng Anh [74:72]:

I’take my chance

The odds are against me

It’s a toss-up

If you play your cards right, you can do it

Where is he when the chips are down?

Các biểu thức trên miêu tả cuộc đời như một ván bạc Chúng ta cảm nhận một số nét tương đồng nào đó giữa hai lĩnh vực, nhưng giữa chúng không tồn tại những sự tương đồng khách quan và có từ trước Những nét giống nhau giữa chúng chỉ có được nhờ quá trình cảm nhận một cách ẩn dụ Hành động của con người trong cuộc đời là các ván bạc và hệ quả của chúng là việc thắng hay thua Ơû đây chúng ta thấy có nét tương đồng giữa hai quan hệ: a quan hệ giữa hành động và hệ quả của hành động và b quan hệ giữa ván bạc với việc thắng hay thua Nói cách khác, có sự tương đồng giữa cấu trúc của lĩnh vực này với cấu trúc của lĩnh vực kia,

ta gọi đây là sự tương đồng cấu trúc qua cảm nhận Những nét tương đồng như vậy

là một nguồn động lực quan trọng trong việc tạo ra các ẩn dụ ý niệm Theo Lakoff

&Johnson, một kết luận thú vị có thể rút ra ở đây là việc ẩn dụ không phải dựa trên những nét tương đồng mà là tạo ra tương đồng

Bàn về nguồn gốc của các ý niệm nguồn, Kovecses đồng ý rằng nền tảng kinh nghiệm làm điểm xuất phát cho ẩn dụ ý niệm mang yếu tố sinh học nhưng bên cạnh

đó cũng mang nhiều yếu tố văn hóa Ôâng đưa ra nhiều ví dụ về các môn thể thao điển dạng trong văn hóa Mỹ như bóng đá, bóng bầu dục, bóng chày, vật, quyền anh

Trang 34

Với tư cách là các ý niệm đích thì chúng đếu có chung một ý niệm nguồn là chiến tranh Ông cho rằng các môn thể thao này đều phát triển từ chiến tranh và đánh nhau [74:75]

Theo Charteris-Black [38], một quan điểm chính của ngữ nghĩa học tri nhận là ngôn ngữ hình tượng có thể tạo ra các mối quan hệ giữa các đơn vị ngôn ngữ và các quan hệ như vậy không thể đem ra giải thích được nếu chỉ dựa vào cú pháp, ngữ

pháp hay từ vựng Croft [45:336] cho rằng: “Một trong những quan điểm chính của

ngữ nghĩa học tri nhận là việc nghĩa của từ mang tính bách khoa: tất cả những gì bạn biết về khái niệm đó là một phần nghĩa của nó.” Quan điểm này đối lập với

quan điểm cho rằng ngôn ngữ tồn tại một cách độc lập với ngữ cảnh mà nó được

được sử dụng Croft cũng cho rằng: “Từ điều này mà ta thấy rằng không có sự khác

biệt lớn nào giữa biểu hiện nghĩa học (ngôn ngữ) và biểu hiện tri thức (tổng quát); việc nghiên cứu nghĩa học ngôn ngữ là việc nghiên cứu kinh nghiệm chung của con người.” Trong luận án này chúng tôi cũng đồng ý rằng cần phải tích hợp việc

nghiên cứu trong ngữ nghĩa học tri nhận với dụng học Điều này có thể thực hiện được bằng cách nghiên cứu những ngữ cảnh xuất hiện của ẩn dụ

Đối với ngữ nghĩa học tri nhận, đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển nghĩa là việc đồ họa từ lĩnh vực nguồn sang lĩnh vực đích Cái cấu trúc của lĩnh vực nguồn được đồ họa sang cấu trúc của lĩnh vực đích mang tính trừu tượng Lakoff [82] đặt tên cho việc đồ họa này là “LĨNH VỰC ĐÍCH LÀ LĨNH VỰC NGUỒN”

Điểm mấu chốt nhất trong quan điểm của Lakoff về ẩn dụ là Nguyên tắc Bất biến: ‘Sự đồ họa ẩn dụ giữ lại cấu trúc tri nhận (đây là cấu trúc lược đồ hình ảnh) của lĩnh vực nguồn, theo cách thức giống với cấu trúc bên trong của lĩnh vực đích [82:199] Sự đồ họa bao gồm một loạt các quan hệ chứ không chỉ là các đặc điểm nhằm mục đích cái được chuyển tải là tri thức về một tập hợp các đặc tính, các mối quan hệ tương liên có trong lĩnh vực nguồn

Trong quan điểm của ngữ nghĩa học tri nhận thì các lược đồ hình ảnh chính

là nguồn gốc của phép đồ họa ẩn dụ cho các lĩnh vực trừu tượng; bản thân các lược

đồ hình ảnh này lại có nguồn gốc từ sự tương tác của cơ thể với môi trường chung

Trang 35

quanh Như Gibbs [56:45] đã tóm tắt: Lược đồ hình ảnh xuất hiện từ các hoạt động

vận động cảm giác, khi con người thao tác đồ vật, định hướng chúng theo không gian và thời gian, hoặc định hướng tiêu điểm cảm nhận chúng theo những mục đích khác nhau Chúng ta có thể xem các lược đồ hình ảnh như một tập hợp các ý niệm

nguyên sơ ở tầng sâu bởi vì chúng được sử dụng để cấu trúc nên các ý niệm phức tạp hơn Đầu vào cho cái khả năng ý niệm này bao gồm các lược đồ về vật chứa (ví

dụ trong và ngoài), định hướng không gian (trước –sau; trên-xuống; trung ngoại vi) và chuyển động (gốc-đường đi-đích đến) [80] Cùng với các lĩnh vực ở cấp độ cơ bản, các lược đồ hình ảnh tạo nguyên liệu thô cho sự ý niệm hóa:

tâm-Ngay từ ban đầu, chúng ta đã trải nghiệm việc chứa đựng một cách thường xuyên trong môi trường xung quanh Chúng ta ra hay vào phòng, mặc hay cởi quần

áo, bước vào trong hay ra khỏi xe, và rất nhiều các loại không gian có giới hạn Chúng ta xử lý đồ vật, đặt chúng vào các vật chứa (tách, hộp, can, túi vv…) Trong mỗi trường hợp như vậy đều có những tổ chức không gian và thời gian lặp lại Nói một cách khác, luôn tồn tại những lược đồ điển hình của việc chứa đựng [66:21]

Nguyên tắc nền tảng của đường hướng tri nhận – ban đầu do Richard (1936, trong Ortony [98]) khởi thảo và được Black [23] phát triển tiếp trong quan điểm tương tác về ẩn dụ – cho rằng các kinh nghiệm cơ bản sẽ quyết định cách thức chúng ta suy nghĩ về thế giới và điều này sẽ được thể hiện thông qua ngôn ngữ

Chẳng hạn khi ta nói về việc getting a message across hay là getting through to

someone thì việc lựa chọn ngôn ngữ của chúng ta là bằng chứng cho thấy một ý

niệm là ý nghĩa được chuyển tải trên một quãng đường: vì thế một khái niệm trừu tượng được cảm nhận như thể nó là một thực thể vật chất Grady [60:84] dùng thuật ngữ “ẩn dụ nguyên khởi” khi đề cập đến các ẩn dụ trong đó cả lĩnh vực nguồn và lĩnh vực đích đều có quan hệ gắn bó trong kinh nghiệm của chúng ta, chẳng hạn STRONG DESIRE IS HUNGER

1.2.2 Các khái niệm và luận điểm cơ bản của lý thuyết ẩn dụ ý niệm

1.2.2.1 Định nghĩa ẩn dụ ý niệm

Trang 36

Nguồn gốc từ nguyên học của từ ẩn dụ (metaphor) là trong tiếng Hy lạp meta= với/sau và pherein = mang, vác; khái niệm chính của ẩn dụ là khái niệm về ý nghĩa được chuyển tải Aristotle (trong Glucksberg & Keysar [59]) định nghĩa ẩn dụ

là “đem cho một vật một cái tên gọi mới thuộc về một vật khác” Đây chính là nguồn gốc để Từ điển Oxford [111] định nghĩa ẩn dụ là “một biện pháp tu từ trong

đó một thuật ngữ miêu tả được chuyển sang một vật thể mà nó được áp dụng một cách không phù hợp” Tuy nhiên, định nghĩa này chỉ dựa trên những đặc điểm ngôn ngữ, chứ không dựa trên những đặc điểm tri nhận, ngữ dụng hay tu từ của ẩn dụ

Ẩn dụ chỉ có thể được miêu tả là “áp dụng một cách phù hợp” khi người ta xem nó là một khía cạnh của ngôn ngữ hơn là khía cạnh thuộc tri nhận hay nghĩa của người nói Từ điển Oxford không nói tới khả năng người nói có thể sử dụng từ

để chuyển tải ý nghĩa phản ánh ý định và tình cảm của ho; định nghĩa này muốn nói rằng về một phương diện nào đó thì cái nghĩa đen sẽ tự nhiên hơn hay phù hợp hơn

so với nghĩa ẩn dụ

Từ các định nghĩa trên nảy sinh một quan niệm rằng ẩn dụ là một khái niệm mang tính tương đối hơn là mang tính tuyệt đối Nó mang tính tương đối bởi vì nghĩa của từ luôn thay đổi theo thời gian vì vậy một nghĩa trước đây có thể mang tính ẩn dụ thì bây giờ có thể mang nghĩa đen và bởi vì nhận thức về ẩn dụ có thể phần nào tuỳ thuộc vào cá nhân người sử dụng nó, tức là tuỳ thuộc vào kinh nghiệm ngôn ngữ của họ Người nói có ý định dùng từ ngữ với mục đích ẩn dụ nhưng người nghe có thể không hiểu đâùy là ẩn dụ

Trong luận án này chúng tôi sẽ áp dụng các định nghĩa về ẩn dụ từ nhiều hướng kết hợp: tri nhận, ngữ dụng học và ngữ nghĩa học

a Theo hướng tri nhận: Thuật ngữ ‘ẩn dụ’ mà Lakoff [82] dùng ám chỉ việc ‘đồ họa’ (tức ám chỉ quá trình) hơn là ám chỉ các biểu thức ngôn ngữ (tức ám chỉ sản phẩm) Theo ông (sđd: 186), “Chỗ đứng của ẩn dụ không phải trong ngôn ngữ, mà

ở cách thức chúng ta ý niệm hoá một lĩnh vực tinh thần thông qua một lĩnh vực khác” Đây chính là cơ sở phân biệt giữa khái niệm ẩn dụ với các biểu thức ẩn dụ

mà ông tóm lược như dưới đây: (sđd: 186)

Trang 37

‘ẩn dụ’…có nghĩa ‘là sự đồ họa trong hệ thống ý niệm Thuật ngữ

‘biểu thức ẩn dụ’ đề cập đến một biểu thức ngôn ngữ (một từ, một cụm từ, hay một câu) vốn là sự thể hiện bề mặt của sự đồ họa xuyên lĩnh vực như vậy

Tuy nhiên, chúng tôi cũng thấy rằng nếu đơn thuần chỉ áp dụng quan điểm của Lakoff và Johnson [83] và giới hạn ở việc rút gọn các biểu thức ẩn dụ về công thức

A LÀ B, tức chỉ quan tâm đến nội dung ý niệm thôi, chúng ta sẽ có thể bỏ qua vai trò dụng học quan trọng của các yếu tố hình thức của ẩn dụ trong văn bản

b Theo hướng ngữ dụng học: Xét trên phương diện diễn ngôn báo chí, có lẽ cũng nên nhìn nhận ẩn dụ từ bình diện dụng học, cụ thể là việc đạt được các mục đích của văn bản như duy trì hứng thú của người đọc, thể hiện dấu ấn tác giả, trình bày quan điểm trong việc đánh giá sự kiện, hay thể hiện phong cách hành văn Do đó

mà định nghĩa dụng học về ẩn dụ, theo (Charteris-Black & Musolff [40:158]) là:

Ẩn dụ là một đặc trưng ngôn ngữ thông qua nó mà người viết muốn đạt được các mục đích tu từ của mình chẳng hạn như việc thiết lập mối quan hệ với người đọc hay trình bày quan điểm đánh giá của mình nhờ vào việc chọn lựa từ hoặc cụm từ

để ám chỉ các chủ đề quan trọng trong khi các từ và cụm từ này thường đề cập đến các chủ đề khác

c Theo hướng ngữ nghĩa học: Nhiều nhà ngôn ngữ học chú ý đến khía cạnh ngữ nghĩa của ẩn dụ Nguyễn Đức Tồn [19:8], khi nghiên cứu bản chất của ẩn dụ đã trình bày định nghĩa thể hiện khuynh hướng nghĩa học về ẩn dụ như sau:

Ẩn dụ là phép thay thế tên gọi hoặc chuyển địa điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tượng này sang sự vật, hiện tượng khác loại dựa trên cơ sở sự liên tưởng đồng nhất hóa chúng theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng

Từ ba khuynh hướng vừa nêu trên, chúng tôi tổng hợp thành một định nghĩa

về ẩn dụ để phục vụ việc phân tích phương thức ẩn dụ và các đặc điểm của nó trong luận án như sau:

Ẩn dụ là sự đồ họa xuyên lĩnh vực các ý niệm thể hiện bằng một sự chuyển dịch trong cách sử dụng các đặc điểm hoặc thuộc tính của một sự vật, hiện tượng sang

Trang 38

một sự vật, hiện tượng khác loại để người sử dụng trình bày quan điểm đánh giá của mình hay thuyết phục người khác

Theo chúng tôi, định nghĩa này có ý nghĩa thực tiễn trong việc phân tích ẩn dụ

có mặt trong diễn ngôn kinh tế Diễn ngôn kinh tế là một lĩnh vực chuyên ngành mang tính chất trừu tượng, nên rất có khả năng các từ và cụm từ dùng để ám chỉ các thực thể vật chất hoặc động vật sẽ được sử dụng thường xuyên để nói đến các thực thể trừu tượng hoặc bất động vật Điều này đã được nhiều tác giả chứng minh, chẳng hạn nền kinh tế được ý niệm hóa thông qua các thực thể hữu cơ bằng ẩn dụ ý niệm NỀN KINH TẾ LÀ MỘT CƠ THỂ SỐNG [39:156] Đây là một ẩn dụ ý niệm tầng bậc cao, đến lượt nó lại được dùng để giải thích cho rất nhiều các biểu thức có mặt trong diến ngôn kinh tế Lakoff [82:207] gọi đây là hiện tượng các “tầng bậc

kế thừa”: Các đồ họa ý niệm không xảy ra một cách riêng lẻ Chúng được tổ chức theo các cấu trúc tầng bậc, có nghĩa là các đồ họa cấp độ thấp được thừa hưởng các cấu trúc của các đồ họa bậc cao hơn Trong trường hợp vừa nêu trên, thì ẩn dụ ý niệm NỀN KINH TẾ LÀ MỘT BỆNH NHÂN chính là ẩn dụ ở tầng thấp của ẩn dụ NỀN KINH TẾ LÀ MỘT CƠ THỂ SỐNG Ẩn dụ ý niệm NỀN KINH TẾ LÀ MỘT BỆNH NHÂN có thể giải thích cho một loạt các biểu thức ngôn ngữ mà các

tác giả bản tin hay bài bình luận kinh tế trong hai ngôn ngữ rất thường sử dụng: nền

kinh tế mạnh khỏe hay nền kinh tế ốm yếu, các biện pháp vực dậy thị trường

Việc so sánh ẩn dụ trong các ngôn ngữ khác nhau cần gắn liền với việc sử dụng định nghĩa về ẩn dụ một cách linh hoạt vì các ngôn ngữ có thể khác nhau về

ẩn dụ trên bình diện nghĩa học hay trên bình diện dụng học Cái được xem là hình ảnh thường qui trong ngôn ngữ này có thể là một hình ảnh ẩn dụ mới trong ngôn ngữ kia Để đạt được tính chính xác trong việc miêu tả các hiện tượng xuyên ngôn ngữ, cần thiết phải nghiên cứu các loại ẩn dụ có trong các ngôn ngữ

Việc nhận diện các biểu thức ẩn dụ và sau đó phân loại chúng thành các ẩn dụ ý niệm không phải không gặp các khó khăn Một vấn đề có thể tiên đoán trước được

là việc các hệ thống ẩn dụ giao cắt nhau, dẫn đến hiện tượng các ẩn dụ ý niệm khác

Trang 39

nhau có thể cùng hoạt động đồng thời Đây là hiện tượng đa ẩn dụ mà chúng tôi sẽ

phân tích kĩ hơn ở các chương sau

1.2.2.2 Các đặc tính của ẩn dụ ý niệm

Thứ nhất, nhiều ẩn dụ ý niệm có thể mang tính chất phụ thuộc văn hóa Mặc

dù Lakoff và Johnson [83] giữ quan điểm nghiêng về tính phổ niệm của ẩn dụ ý niệm, nhưng hai tác giả trên cũng thừa nhận rằng nghiên cứu của mình chỉ giới hạn

ở các ẩn dụ ý niệm và ẩn dụ ngôn từ trong tiếng Anh và để ngỏ vấn đề so sánh ẩn dụ

ý niệm trên cơ sở văn hóa Lakoff và Johnson phát hiện người Anh bản ngữ ý niệm hóa thời gian thông qua tiền bạc, và hai ông cho rằng không nhất thiết hiện tượng này xảy ra đối với tất cả các nền văn hóa Deignan và các đồng tác giả [49] cho rằng

ẩn dụ là một đặc trưng có mặt trong tất cả các ngôn ngữ tự nhiên và một số ẩn dụ ý niệm có thể mang tính chất phổ quát ở nhiều nền văn hóa và ngôn ngữ, thế nhưng không thể có hai nền ngôn ngữ –văn hóa có chung một hệ thống ẩn dụ ý niệm và ẩn

dụ ngôn ngữ hoàn toàn như nhau Nhiều công trình nghiên cứu tiếp theo sau (Charteris-Black & Ennis [39], Charteris-Black & Musolff [40], Chung và các tác giả khác [41], Deignan & Potter [50], Neumann [95], Schmidt [102], Bratoz [32])

đã so sánh ẩn dụ trong tiếng Anh với ẩn dụ trong các ngôn ngữ khác và dẫn đến kết luận rằng các yếu tố văn hóa đã có ảnh hưởng lớn đến việc chọn và sử dụng ẩn dụ của người viết hoặc người nói

Thứ hai, cấu trúc của ẩn dụ ý niệm mang tính chất bán phần Quá trình đồ họa một lĩnh vực nhằm làm sáng tỏ một lĩnh vực khác chỉ xảy ra đối với một số chứ không phải toàn bộ các đặc tính của lĩnh vực nguồn Khi chúng ta nói về ý niệm

“lập luận” như một ý niệm trừu tượng thuộc lĩnh vực đích, chúng ta sử dụng ẩn dụ

LẬP LUẬN LÀ MỘT TÒA NHÀ, và như vậy chúng ta có thể suy nghĩ về cấu trúc của lập luận, các lập luận vững chắc hay yếu ớt, lập luận có thể đứng vững hay sụp

đổ, thế nhưng hiếm khi chúng ta nói về cửa sổ hay cầu thang của các lập luận Từ

đó có thể nói ẩn dụ ý niệm LẬP LUẬN LÀ MỘT TÒA NHÀ có những bộ phận được sử dụng và có những bộ phận không được sử dụng

Trang 40

Đặc tính thứ ba của ẩn dụ ý niệm là tính đồ họa đa chiều Một ý niệm đơn lẻ

có thể có nhiều ẩn dụ ý niệm miêu tả nhiều bình diện của nó

Thứ tư, việc chọn lựa các ý niệm để đồ họa lên các ý niệm khác không xảy ra một cách ngẫu nhiên mà có thể theo những cách thức cụ thể Đa số các lĩnh vực ý niệm nguồn đều cụ thể và các lĩnh vực ý niệm đích đều trừu tượng Theo Lakoff [82] thì chúng ta thường ý niệm hóa các đối tượng phi vật chất thông qua các đối tượng vật chất: chúng ta đồ họa từ một lĩnh vực có thể thấy, cảm giác được, hiểu được sang một lĩnh vực chúng ta không thấy hoặc không hiểu được dễ dàng bằng Đây là quan điểm rất quan trọng của lý thuyết ẩn dụ ý niệm

Đặc tính thứ năm là khả năng làm nổi bật hoặc che dấu Theo lý thuyết ẩn dụ

ý niệm, một ý niệm có thể được nhận hiểu bằng cách đồ họa một số bình diện nhất định của các ý niệm khác lên bản thân nó, và rồi nó được dùng trong ngữ cảnh giống như các ý niệm của lĩnh vực nguồn Ẩn dụ TRÍ NÃO LÀ VẬT THỂ DỄ VỠ nhấn mạnh đến sức mạnh tâm lý của ý niệm “trí não”, còn ẩn dụ TRÍ NÃO LÀ MỘT BỘ MÁY thì lại làm nổi trội các mức độ hiệu năng của trí não [83] Chức năng che dấu một số bình diện của ý niệm thì được hiểu như sau: Trong ẩn dụ ống dẫn thì nghĩa được xem như vật thể, biểu thức ngôn ngữ được xem như vật chứa,

còn hành động giao tiếp được xem như việc chuyển gửi: Lời ông ấy nói chứa rất ít

nghĩa” [sđd] Ẩn dụ ý niệm này che dấu một điều là từ và câu muốn có nghĩa phải

phụ thuộc vào ngữ cảnh và phụ thuộc vào người nói nữa Cũng như vậy, ẩn dụ CHIẾN TRANH LÀ MÔN THỂ THAO CẠNH TRANH có thể ý niệm hóa chiến tranh thành một ván cờ, một trận đấu quyền anh nhưng đồng thời nó cũng che dấu hoặc làm mờ nhạt đi các bình diện khác như chết chóc, thương vong, đại bác

Đặc tính thứ sáu là tính hệ thống trong cấu trúc ẩn dụ Cụ thể, trong ẩn dụ KINH TẾ LÀ PHƯƠNG TIỆN VẬN TẢI, có thể nhận thấy tính hệ thống của cấu trúc ẩn dụ này được thể hiện qua các đơn vị tương đương về nhận thức và các đơn

vị tương đương bản thể:

Ngày đăng: 19/10/2013, 10:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1.: Các tầng bậc trình hiện (Nguồn: Evans & Green, [53:7]) - Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế anh việt
Hình 1.1. Các tầng bậc trình hiện (Nguồn: Evans & Green, [53:7]) (Trang 44)
Bảng 2.4:  Các ẩn dụ ý niệm KHÔNG GIAN và các biểu thức ẩn dụ trong các bản tin tiếng Anh - Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế anh việt
Bảng 2.4 Các ẩn dụ ý niệm KHÔNG GIAN và các biểu thức ẩn dụ trong các bản tin tiếng Anh (Trang 66)
Bảng 2.6: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ DÒNG CHẢY trong bản tin tiếng Anh - Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế anh việt
Bảng 2.6 Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ DÒNG CHẢY trong bản tin tiếng Anh (Trang 70)
Bảng 2.7: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CỖ MÁY trong bản tin tiếng Anh - Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế anh việt
Bảng 2.7 Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CỖ MÁY trong bản tin tiếng Anh (Trang 73)
Bảng 2.8. Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ BONG BÓNG trong bản tin tiếng Anh - Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế anh việt
Bảng 2.8. Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ BONG BÓNG trong bản tin tiếng Anh (Trang 76)
Bảng 2.9: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ KIẾN TRÚC XÂY DỰNG trong - Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế anh việt
Bảng 2.9 Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ KIẾN TRÚC XÂY DỰNG trong (Trang 77)
Bảng 2.10:  Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ ĐỘNG THỰC VẬT trong bản tin  tiếng Anh - Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế anh việt
Bảng 2.10 Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ ĐỘNG THỰC VẬT trong bản tin tiếng Anh (Trang 82)
Bảng 2.12: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ NHIỆT ĐỘ  trong bản tin tiếng Anh - Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế anh việt
Bảng 2.12 Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ NHIỆT ĐỘ trong bản tin tiếng Anh (Trang 89)
Bảng 2.13: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CHIẾN TRANH - Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế anh việt
Bảng 2.13 Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CHIẾN TRANH (Trang 92)
Bảng 2.14: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ HÀNH TRÌNH trong bản tin tiếng Anh - Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế anh việt
Bảng 2.14 Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ HÀNH TRÌNH trong bản tin tiếng Anh (Trang 94)
Bảng 2.15: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ SÂN KHẤU trong bản tin tiếng Anh - Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế anh việt
Bảng 2.15 Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ SÂN KHẤU trong bản tin tiếng Anh (Trang 97)
Bảng 3.4 :  Các ẩn dụ ý niệm KHÔNG GIAN và các biểu thức ẩn dụ trong các bản tin tiếng Việt - Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế anh việt
Bảng 3.4 Các ẩn dụ ý niệm KHÔNG GIAN và các biểu thức ẩn dụ trong các bản tin tiếng Việt (Trang 114)
Bảng 3.7 :  Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CỖ MÁY trong bản tin tiếng Việt - Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế anh việt
Bảng 3.7 Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CỖ MÁY trong bản tin tiếng Việt (Trang 119)
Bảng 3.12: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CHIẾN TRANH trong bản tin tiếng Việt - Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế anh việt
Bảng 3.12 Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CHIẾN TRANH trong bản tin tiếng Việt (Trang 126)
Bảng 4.7 và 4.8 cho thấy cùng một ẩn dụ ý niệm xuất hiện trong hai ngôn ngữ Anh - Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế anh việt
Bảng 4.7 và 4.8 cho thấy cùng một ẩn dụ ý niệm xuất hiện trong hai ngôn ngữ Anh (Trang 150)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w