Luận văn tiến sĩ ẩn dụ tiếng việt nhìn từ lý thuyết nguyên mẫu (so sánh đối chiếu tiếng anh và tiếng pháp)
Trang 1[ \
VÕ KIM HÀ
ẨN DỤ TIẾNG VIỆT NHÌN TỪ LÝ THUYẾT NGUYÊN MẪU (SO SÁNH ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG ANH VÀ TIẾNG PHÁP)
MÃ SỐ: 62-22-01-10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 2[ \
VÕ KIM HÀ
ẨN DỤ TIẾNG VIỆT NHÌN TỪ LÝ THUYẾT NGUYÊN MẪU (SO SÁNH ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG ANH VÀ TIẾNG PHÁP)
MÃ SỐ: 62-22-01-10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS NGUYỄN ĐỨC DÂN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 3Vào lúc 14 giờ 00 ngày 21 tháng 03 năm 2012
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN ĐỨC DÂN
Phản biện 1: GS.TSKH LÝ TOÀN THẮNG
Phản biện 2: GS.TS DIỆP QUANG BAN
Phản biện 3: PGS.TS NGUYỄN VĂN HUỆ
PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP
1 GS.TS BÙI KHÁNH THẾ
2 GS.TSKH LÝ TOÀN THẮNG
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Khoa học Tổng hợp TPHCM, Thư viện
TT ĐHQG TPHCM, Thư viện ĐHKHXH&NV TPHCM
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số
liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của
luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
VÕ KIM HÀ
Trang 5BẢNG VIẾT TẮT
1 NNHNT Ngôn ngữ học Nhận thức
2 ICM Mô hình nhận thức lý tưởng hóa (idealized cognitive model)
3 SIM Tương đồng (similarity)
3 P Mệnh đề (proposition)
4 MIP Thủ tục nhận dạng ẩn dụ (metaphor identification procedure)
5 MPA Phân tích mô hình ẩn dụ (metaphorical pattern analyzing)
6 ND Báo Nhân dân
8 SGTT Báo Sài Gòn Tiếp Thị
9 TN Báo Thanh Niên
10 TT Báo Tuổi Trẻ
11 TTCN Báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật
12 TTCT Báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần
13 VNQĐ Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội
\
Trang 6Tập hợp cơ sở ngữ liệu Nhận dạng ẩn dụ Vấn đề nhận dạng ẩn dụ Phương pháp MIP Xác lập phép chiếu ẩn dụ Phương pháp 5 bước của Gerard Steen (2009) Minh họa phương pháp 5 bước bằng ví dụ tiếng Việt Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đóng góp của luận án
Về lý luận Trong thực tiễn
Trang 7Một số công trình nghiên cứu của Rosch và đồng nghiệp Nguyên tắc phạm trù hóa
HIỆU QUẢ NGUYÊN MẪU TỪ CẤU TRÚC NỘI TẠI CỦA ẨN DỤ
Tính nguyên mẫu của ý niệm nguồn NHÀ Quan hệ giữa các ẩn dụ
Trang 8Hệ thống ẩn dụ có chung miền nguồn
Ẩn dụ DÒNG CHẢY và các diễn đạt ngôn từ Nghĩa trung tâm /nghĩa nguyên mẫu
Phép chiếu trung tâm
Ẩn dụ DÒNG CHẢY trong tiếng Anh và tiếng Pháp
Ẩn dụ và mô hình tỏa tia
Đa nghĩa theo quan điểm truyền thống
Đa nghĩa theo NNHTN Phân tích đa nghĩa theo Lakoff (1987)
Mô hình Đa nghĩa Theo Nguyên tắc của Tyler & Evans
Mô hình tỏa tia của từ QUA
Trang 9Mô hình tỏa tia của COUNTRY
Mô hình tỏa tia của PAYS
Ẩn dụ dựa trên hoán dụ Dãy ẩn dụ-hoán dụ (metaphor-metonymy continuum) Tương tác ẩn-hoán theo Louis Goossens (1990)
Mô hình tương tác ý niệm của Ruiz de Mendoza
Cơ chế nhận thức trong tục ngữ Bản chất tục ngữ theo quan điểm nhận thức
Cơ chế nhận thức trong “tức nước vỡ bờ”
Cơ chế nhận thức trong “xa mặt cách lòng”
Trang 10Ẩn dụ Hoán dụ Tương tác ý niệm Trong tiếng Pháp và tiếng Anh
Ẩn dụ Hoán dụ Tương tác ý niệm
Trang 11Số hiệu Tên hình Trang H.1.1
Sơ đồ MỐI DÂY
Sơ đồ TRUNG TÂM-NGOẠI VI
Sơ đồ CHU KỲ (đơn giản và hình sin)
Ý niệm “ngôi nhà” của người Việt
Ý niệm nguồn NHÀ tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp
Phép chiếu ẩn dụ là các sơ đồ hình ảnh
Hai giai đoạn của chu kỳ NẮM LẤY
Biểu diễn quá trình CHO-NHẬN thông tin trên trục 3 chiều
Mô hình tỏa tia
Trang 12Mô hình tỏa tia của từ QUA
Chuyển động của NƯỚC p Bước đi
Sơ đồ chuyển nghĩa NƯỚC ĐỜI
Mô hình tỏa tia của NƯỚC
Mô hình tỏa tia của COUNTRY
Mô hình tỏa tia của PAYS
Phép chiếu ẩn dụ và hoán dụ là các sơ đồ hình ảnh
Mô hình phép chiếu hoán dụ
Mô hình phép chiếu ẩn dụ
Tam giác nghĩa
Dãy ẩn dụ-hoán dụ (theo Mendoza)
Hai loại hoán dụ (theo Mendoza)
Mở rộng hoán dụ ở nguồn của ẩn dụ
Mở rộng hoán dụ ở đích của ẩn dụ
Thu hẹp hoán dụ ở một tương hợp trong đích của ẩn dụ
Thu hẹp hoán dụ ở một tương hợp trong nguồn của ẩn dụ
Mở rộng hoán dụ ở một tương hợp trong nguồn của ẩn dụ
Mở rộng hoán dụ ở một tương hợp trong đích của ẩn dụ
Thu hẹp hoán dụ ở nguồn của ẩn dụ
Thu hẹp hoán dụ ở đích của ẩn dụ
Trang 13Hoán dụ đôi vừa mở rộng vừa thu hẹp miền (“đầu tay”)
Hoán dụ đôi trong cấu trúc TAY –NGHỀ NGHIỆP
Hoán dụ đôi trong cấu trúc TAY – CÔNG CỤ
Hoán dụ đôi trong cấu trúc TAY – KỸ NĂNG
Mô hình “hoán dụ trong ẩn dụ” của BẨN TAY (theo Goossens)
Tương tác ẩn-hoán trong BẨN TAY (theo Mendoza)
Tương tác ẩn-hoán trong NHÚNG TAY
Tương tác ẩn-hoán trong RA TAY-XUỐNG TAY-TRỞ TAY
Tương tác ẩn-hoán trong BÓ TAY
Tương tác ẩn-hoán trong MÁT TAY
Tương tác ẩn-hoán trong NON TAY
Tương tác ẩn-hoán trong LÓT TAY
Tương tác ẩn-hoán trong TAY TRONG
Tương tác ẩn-hoán trong CHỈ TAY NĂM NGÓN
Hoán dụ đôi thu hẹp và mở rộng miền
Hoán dụ đôi thu hẹp và mở rộng miền (passer la main)
Hoán dụ đôi thu hẹp miền (avoir la belle main)
Hoán dụ đôi thu hẹp miền (have a hand)
Trang 14DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Xếp hạng thành viên theo thang điểm
Phân loại thành viên theo đặc điểm
Phân loại thành viên theo thứ bậc
Quá trình chuyển từ hoán dụ sang ẩn dụ
Dãy ẩn dụ-hoán dụ “HIGH” (theo Radden)
Trang 15MỞ ĐẦU
Trong tương tác với môi trường chung quanh, để có thể sống còn và hoạt động, có lẽ năng lực cần thiết nhất của con người là “phạm trù hóa” Phân chia phạm trù không chỉ đơn giản là sắp xếp sự vật theo nhóm, mà thực chất là cả một quá trình nhận thức, trong đó con người nhận biết, phân biệt và phân chia sự vật theo một cơ chế nào đó Phạm trù hóa theo nguyên mẫu là một trong những nỗ lực giải thích quá trình này, với “nguyên mẫu” là một hay những thành viên trung tâm của loại Ẩn dụ ý niệm, với tư cách là mô hình nhận thức, đã kết hợp những đặc điểm phạm trù hóa theo nguyên mẫu để hình thành cấu trúc nội tại và tổ chức một
hệ thống ý niệm phức tạp – phức tạp do có nhiều mức độ thể hiện và suy luận trong quan hệ tương tác với các mô hình nhận thức khác
Đề tài luận án tập trung phân tích cấu trúc và tính hệ thống của ẩn dụ dựa trên các nguyên tắc phạm trù hóa của lý thuyết nguyên mẫu
0.1.Lý do chọn đề tài
Cho đến nay, các công trình nghiên cứu từ góc độ nguyên mẫu thường theo một trong hai hướng chính: một là nhận dạng thành viên điển hình và thành viên ít điển hình hơn trong một phạm trù ngôn ngữ, và hai là xác định hiệu quả nguyên mẫu khi xem nguyên mẫu như là (những) thành viên sớm nhất hay thành viên
“gốc” Đã có nhiều công trình nghiên cứu các phạm trù ngôn ngữ theo phương pháp thực nghiệm của Rosch, nhưng vấn đề phạm trù hóa theo nguyên mẫu và nguồn tạo hiệu quả nguyên mẫu vẫn thu hút sự chú ý của các ngành khoa học nhận thức Đề tài nghiên cứu của luận án này kết hợp hai lý thuyết quan trọng của NNHNT nhằm chứng tỏ các nguồn tạo hiệu quả nguyên mẫu trong một cấu trúc ý niệm phức tạp nhưng rất “đời thường” là ẩn dụ, với hy vọng mở ra một lối đi mới mẻ ở Việt Nam, phù hợp với xu hướng nghiên cứu của NNHNT trên thế giới
0.2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích góp thêm chứng cớ về hiệu quả nguyên mẫu của ý niệm ẩn dụ, các yêu cầu đặt ra cho nội dung nghiên cứu là:
Trang 16-Chứng tỏ hiệu quả nguyên mẫu trong cấu trúc một chiều và bất đối xứng của phép chiếu ẩn dụ
-Tìm kiếm hiệu quả nguyên mẫu trong mối quan hệ giữa các ẩn dụ, cụ thể là các ẩn dụ cùng miền nguồn và các ẩn dụ cùng miền đích
-Tìm kiếm hiệu quả nguyên mẫu trong tương tác giữa ẩn dụ và sơ đồ hình ảnh Nhận dạng vai trò của ẩn dụ và cấu trúc nguyên mẫu trong một hệ thống tỏa tia của từ đa nghĩa
-Tìm kiếm tính nguyên mẫu trong mối quan hệ giữa ẩn dụ và hoán dụ Giải thích khả năng tương tác giữa ẩn dụ và hoán dụ trong hệ thống ý niệm nhằm chứng
tỏ ranh giới mờ như một dấu hiệu nhận biết hiệu quả nguyên mẫu
-Vận dụng lý thuyết mô hình tương tác để chứng tỏ sự khác biệt trong cơ chế nhận thức của các ngữ biểu trưng mang yếu tố là một bộ phận cơ thể
-So sánh đối chiếu khả năng hình thành nguyên mẫu và cơ chế nhận thức trong một đơn vị ngôn ngữ nào đó trong tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp để tìm kiếm những điểm giống và khác nhau
0.3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các diễn đạt ẩn dụ tiếng Việt, chú trọng những ẩn dụ
có tính qui ước cao, tức là những ẩn dụ được sử dụng nhiều trong cuộc sống thường ngày của người Việt Ở mỗi chương, ngoài phần lý thuyết, diễn giải, những dẫn chứng được đối chiếu với tiếng Anh và tiếng Pháp Chương 5 tập trung so sánh đối chiếu cơ chế nhận thức của các ngữ có yếu tố TAY giữa tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp nhằm tìm kiếm điểm giống nhau và khác nhau trong cấu trúc ý niệm của các ngữ này
Công trình tập hợp những diễn đạt trích xuất từ hai nguồn: các văn bản báo chí trên nhiều tờ báo, các truyện ngắn trên các tạp chí văn học như Văn nghệ Quân đội, tạp chí Hội Nhà văn, tạp chí Văn nghệ,… Những ví dụ tiếng Anh và tiếng Pháp trích xuất từ một số báo, tạp chí trên mạng của Mỹ, Anh và Pháp, như New York Times, Global Post, Times, The Guardian, Presseurop, France 24, Le Monde, Les Echos, Le Figaro, France Soir, L’Equipe,…và các từ điển tiếng Anh và tiếng Pháp
Trang 17Việc trích xuất được thực hiện thủ công hoặc với sự trợ giúp của máy tính, qui mô ngữ liệu tương đối đáp ứng nội dung đề tài
Một số giả định làm cơ sở cho nội dung của đề tài:
-Nghĩa đen của từ là nghĩa trực tiếp, không phụ thuộc ngữ cảnh sử dụng -Nghĩa ẩn dụ là nghĩa gián tiếp, phụ thuộc ngữ cảnh sử dụng
-Đơn vị ngữ nghĩa cơ bản là một ý niệm tinh thần
-Bản chất tổ chức ý niệm có tính nghiệm thân, tức là dựa trên kinh nghiệm của cơ thể
-Các ý niệm không xuất hiện như những đơn vị tách biệt trong suy nghĩ, mà
chỉ có thể được hiểu trong một nền cấu trúc kiến thức, gọi là miền
-Hiệu quả nguyên mẫu không chỉ xuất hiện trong cấu trúc ý niệm phi ngôn ngữ mà cả trong cấu trúc ngôn ngữ Các phạm trù trong ngôn ngữ là các loại nhận thức
0.4.Phương pháp nghiên cứu
Yêu cầu khó khăn đầu tiên cho các công trình nghiên cứu về ẩn dụ nhận thức
là phải có được một phương pháp phù hợp và đáng tin cậy
Theo Lakoff [72, tr.202], “những vấn đề về ẩn dụ không phải là những vấn
đề về định nghĩa: đấy là những vấn đề về thực nghiệm.” Phương pháp nghiên cứu
ẩn dụ phải dựa trên cơ sở thực nghiệm, trước hết là vì tính qui ước hóa của ẩn dụ trong đời thường đòi hỏi nhà nghiên cứu phải nhận dạng ẩn dụ trong những ngữ cảnh khác nhau Hơn nữa, về bản chất, ẩn dụ không phải là một từ hay một ngữ cụ thể, mà là một hiện tượng nhận thức phi ngôn ngữ, “là phép chiếu bản thể giữa các miền ý niệm, từ miền nguồn sang miền đích” [72, tr.208]
Để bảo đảm phần nào độ tin cậy trong trích xuất, nhận dạng và khái quát ẩn
dụ ý niệm, luận án sử dụng một số phương pháp được đánh giá cao trong thời gian gần đây: phương pháp MPA của Anatol Stefanowitsch, phương pháp MIP của nhóm Pragglejaz và phương pháp 5 bước của Gerard Steen (có tham khảo công trình của Elena Semino) Các phương pháp được sử dụng cho ba giai đoạn: tập hợp
cơ sở ngữ liệu, nhận dạng ẩn dụ và xác lập phép chiếu ẩn dụ
Trang 180.4.1 Tập hợp cơ sở ngữ liệu:
-Tìm kiếm và trích xuất thủ công: đọc các văn bản từ nhiều nguồn khác nhau, trích xuất ẩn dụ dựa vào tiêu chuẩn nhận dạng là “nghĩa ẩn dụ là nghĩa gián tiếp” theo phương pháp MIP
-Tìm kiếm từ vựng miền nguồn: phép chiếu ẩn dụ từ một miền nguồn sang một miền đích, nên diễn đạt ẩn dụ luôn chứa những yếu tố trong miền nguồn Liệt kê một số yếu tố có khả năng xuất hiện trong những miền nguồn tiềm năng phù hợp với mục đích nghiên cứu, sau đó tìm kiếm các diễn đạt có những yếu tố này bằng phương pháp thủ công hay qua máy tính
-Tìm kiếm từ vựng liên quan miền đích hay liên quan cả miền đích và miền nguồn: Về hình thức ngôn ngữ, có thể phân biệt hai loại diễn đạt ẩn dụ: có hoặc không có yếu tố từ vựng liên quan miền đích Dựa trên ý tưởng này, A
Stefanowitsch chọn những diễn đạt ẩn dụ gọi là mô hình ẩn dụ (metaphorical pattern) – “mô hình ẩn dụ là một diễn đạt nhiều từ từ một miền nguồn đã cho mà
một hay nhiều yếu tố từ vựng liên quan miền đích được đưa vào miền nguồn đó”
[116, tr 66] - làm cơ sở cho phương pháp phân tích mô hình ẩn dụ (MPA)
Từ phép chiếu TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH [67, tr.4], Stefanowitsch [116, tr 65] minh họa bằng các mô hình ẩn dụ (2) a- d:
(1) TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH
Miền nguồn CHIẾN TRANH
Miền đích TRANH LUẬN
(2) a Your claims are indefensible
b His criticisms were right on target
c I demolished his argument
d He shot down all of my argument
Trong tiếng Việt, các ví dụ (4) a-d là mô hình ẩn dụ của phép chiếu SỰ NHÌN LÀ TIẾP XÚC
(3) SỰ NHÌN LÀ TIẾP XÚC
Miền nguồn TIẾP XÚC
Trang 19Miền đích SỰ NHÌN
(4) a Thỉnh thoảng mắt hai mẹ con lại gặp nhau
b Hạnh không sao rời mắt khỏi những con chim sắt
c Cô đưa mắt về phía gã ấy
d Cái nhìn đã lay động tâm hồn ông
Hạn chế của MPA: chỉ thu thập một số lượng nhỏ các mô hình ẩn dụ có yếu
tố từ vựng cụ thể
Ưu điểm của MPA: Thứ nhất, MPA cho phép xác định tần số xuất hiện của các mô hình ẩn dụ có một từ hay nhiều từ cụ thể Thứ hai, các mô hình ẩn dụ không chỉ gợi lên phép chiếu khái quát giữa hai miền, mà còn giúp nhà nghiên cứu nhận ra mối quan hệ giữa các yếu tố từ vựng liên quan miền đích và miền nguồn Lấy ví dụ,
Miền nguồn: VẬT CHỨA / CHẤT LỎNG (Vật chứa đầy chất lỏng)
Phép chiếu: CÂU LÀ VẬT CHỨA
NGHĨA LÀ CHẤT LỎNG Quan hệ: câu ≈ vật chứa; ý nghĩa ≈ chất lỏng
Trang 20Ưu điểm thứ tư của MPA: do các mô hình ẩn dụ có chứa yếu tố từ vựng liên quan trực tiếp một miền đích, nhà nghiên cứu có thể chuyển dịch yếu tố từ vựng này sang ngôn ngữ thứ hai để tìm các mô hình ẩn dụ liên quan trong ngôn ngữ thứ hai
để làm công việc so sánh đối chiếu, mà không cần chuyển dịch ý
0.4.2 Nhận dạng ẩn dụ:
0.4.2.1.Vấn đề nhận dạng ẩn dụ
G Lakoff phân biệt giữa diễn đạt ẩn dụ và ý niệm ẩn dụ [72, tr 203], nhưng không đề cập phương pháp khái quát hóa ý niệm ẩn dụ Theo Semino [112, tr 1272], một phương pháp nhận dạng ẩn dụ hiệu quả và đáng tin cậy phải giải quyết những vấn đề sau:
- Ranh giới giữa nghĩa đen và nghĩa ẩn dụ trong ẩn dụ ngôn ngữ
- Nhận dạng miền nguồn và miền đích trong ẩn dụ ngôn ngữ
- Ngoại suy ẩn dụ ý niệm từ ẩn dụ ngôn ngữ
- Ngoại suy ẩn dụ qui ước từ ẩn dụ ý niệm
Andrew Ortony [90, tr 2] phân biệt giữa hai quan điểm cấu trúc và phi cấu trúc Đối với các nhà ngôn ngữ học cấu trúc, nghĩa ẩn dụ không phải là cái gì khác
lạ, bởi vì bản thân việc sử dụng và hiểu được ngôn ngữ đã là hoạt động sáng tạo, trong khi quan điểm phi cấu trúc xem ẩn dụ là trường hợp “lệch hướng” nhưng vẫn dựa vào “cách sử dụng bình thường” Quan điểm “lệch hướng ngữ nghĩa” (semantic deviance view) hay “vi phạm hạn định chọn lọc” (selection restrictions violation view) của Dan Fass [29, tr 53] là “ẩn dụ tạo thành một sự vi phạm các qui tắc hạn định chọn lọc trong một ngữ cảnh đã cho” Quan điểm “so sánh” (comparison view) nhấn mạnh sự tương đồng giữa các yếu tố nguồn và đích, còn quan điểm “về sự bất thường” (anomaly view) của Tourangeau và Sternberg [115, tr 402] chú trọng sự khác biệt giữa hai miền
Lynne Cameron [11, tr 118] mở rộng quan điểm về sự bất thường với tiêu chuẩn nhận dạng ẩn dụ liên quan miền nguồn và miền đích như sau: “một diễn đạt ngôn ngữ được xem là ẩn dụ nếu một hay nhiều yếu tố trong diễn đạt đó thuộc miền nguồn và chiếu sang miền đích nào đó, nhưng giữa hai miền có một sự bất hợp lý
Trang 21mà người tiếp nhận thông tin có thể diễn giải bằng một sự chuyển nghĩa từ miền nguồn.”
Tóm lại, một sự bất hợp lý trong ngữ cảnh là bằng chứng cho thấy có phép chiếu nào đó giữa các miền khác nhau, và nếu có thể diễn giải sự bất hợp lý này, có nghĩa là người đọc/người nghe đã so sánh và nhận ra sự tương hợp giữa hai ý niệm nguồn và đích
0.4.2.2.Phương pháp MIP (metaphor identification procedure – thủ
tục nhận dạng ẩn dụ): phương pháp MIP của nhóm Pragglejaz [94] là một công cụ nhận dạng ẩn dụ tương đối đơn giản nhưng hiệu quả
Thay cho nghĩa đen và nghĩa ẩn dụ, MIP phân biệt giữa nghĩa cơ bản và
nghĩa ngữ cảnh Đặc điểm của nghĩa cơ bản: cụ thể hơn, rõ ràng hơn, được sử dụng
lâu dài hơn, có tính nghiệm thân – tức là có liên hệ sự vận động của cơ thể trong tương tác với môi trường
Phương pháp MIP bao gồm các bước:
Bước 1: Đọc toàn bộ văn bản để hiểu khái quát ý nghĩa
Bước 2: Xác định các đơn vị từ vựng
Bước 3: a)Tìm nghĩa ngữ cảnh của mỗi đơn vị từ vựng, tức là sự kết hợp giữa đơn vị từ vựng đó với một khách thể, một mối quan hệ hay một tình huống gợi lên từ văn bản
b)Tìm xem nghĩa cơ bản hơn (nếu có) của mỗi đơn vị từ vựng
c)Nếu đơn vị từ vựng có một nghĩa phổ biến cơ bản hơn trong những ngữ cảnh khác hơn, phải xác định xem có thể hiểu nghĩa ngữ cảnh khi so sánh với nghĩa cơ bản không Nếu có thể hiểu - tức là người tiếp nhận thông tin nhận ra sự tương hợp nào đó giữa hai miền, thì đơn vị từ vựng đó là ẩn dụ
Minh họa phương pháp MIP với câu: Gần một cuộc đời con người đã trôi
qua (“Người đàn bà nói chuyện một mình”- Tô Đức Chiêu)
Bước 1: Xác định nội dung văn bản
Bước 2: Dùng các nét gạch xuống để phân chia các đơn vị từ vựng:
Gần / một / cuộc đời / con người / đã / trôi / qua /
Trang 22Không tách riêng những thành phần trong các từ ghép (ở ví dụ này là “cuộc
đời” và “con người”), nếu mỗi yếu tố tách riêng không có nghĩa ngữ cảnh
Bước 3: Phân tích từng đơn vị từ vựng
Gần
a) Nghĩa ngữ cảnh: trong ngữ cảnh này, “gần” chỉ một mức độ sắp đạt đến
một điều kiện thời gian nhất định là “một cuộc đời.”
b) Nghĩa cơ bản: “gần” chỉ vị trí cách một khoảng không gian tương đối ngắn Có thể xem đây là nghĩa cơ bản của “gần” và là nghĩa đầu tiên của
từ này trong từ điển
c) Nghĩa ngữ cảnh tương phản với nghĩa cơ bản và có thể hiểu bằng cách so sánh, tức là có thể ý niệm thời gian trừu tượng bằng khoảng cách không gian
“gần” ẩn dụ
Một
a) Nghĩa ngữ cảnh: trong ngữ cảnh này, “một” có chức năng ngữ pháp thuần túy là số từ xác định, giữ vai trò phụ tố số lượng cho danh từ “cuộc đời.”
b) Nghĩa cơ bản: không có nghĩa cơ bản hơn
c) Không có tương phản giữa nghĩa ngữ cảnh và nghĩa cơ bản
“một” không phải ẩn dụ
Cuộc đời
a) Nghĩa ngữ cảnh: trong ngữ cảnh này, danh từ “cuộc đời” dùng để chỉ quá
trình sống của một người
b) Nghĩa cơ bản: không có nghĩa nào khác và cơ bản hơn
c) Nghĩa ngữ cảnh tương tự nghĩa cơ bản
“cuộc đời” không phải ẩn dụ
Con người
a) Nghĩa ngữ cảnh: trong ngữ cảnh này, “con người” có chức năng ngữ pháp
là thành tố phụ sau của “cuộc đời”
b) Không có nghĩa cơ bản hơn
Trang 23c) Nghĩa ngữ cảnh tương tự nghĩa cơ bản
“con người” không phải ẩn dụ
Đã
a) Nghĩa ngữ cảnh: “đã” trong ngữ cảnh này có một chức năng thuần túy
ngữ pháp, là phụ từ thời gian biểu thị thì quá khứ, làm thành tố phụ cho vị
ngữ “trôi qua”
b) Không có nghĩa nào khác và cơ bản hơn
c) Nghĩa ngữ cảnh tương tự nghĩa cơ bản
“đã” không phải ẩn dụ
Trôi
a) Nghĩa ngữ cảnh: trong ngữ cảnh này, “trôi” có nghĩa “diễn ra trong một
khoảng thời gian mà con người không nhận biết”
b) Nghĩa cơ bản: “trôi” là động từ, thể hiện sự di chuyển tự nhiên theo dòng
chảy (như “thuyền trôi”), hay sự di chuyển êm ả theo một hướng nhất định (như “dòng nước trôi”)
c) Nghĩa ngữ cảnh khác nghĩa cơ bản, nhưng có thể hiểu bằng cách so sánh hai nghĩa này: thời gian trải qua ngoài ý muốn con người, giống như sự di chuyển của một dòng chảy hay xuôi theo một dòng chảy
“trôi” ẩn dụ
Qua
a) Nghĩa ngữ cảnh: “qua” sử dụng sau động từ “trôi,” diễn tả một khoảng
thời gian đã trở thành quá khứ
b) Nghĩa cơ bản: nghĩa đầu tiên của “qua” trong từ điển là “di chuyển từ phía bên này sang phía bên kia của một sự vật nào đó” [16] “Qua” cũng
có thể dùng sau động từ (như trong “nhìn qua, nhảy qua”) để thể hiện sự thay đổi hoạt động theo hướng từ bên này sang bên kia
c) Nghĩa ngữ cảnh khác nghĩa cơ bản, nhưng có thể hiểu bằng cách so sánh một khoảng thời gian với một sự di chuyển trong không gian
“qua” ẩn dụ
Trang 24Từ phân tích trên, chúng tôi nhận dạng 2 ẩn dụ trong số 7 đơn vị từ vựng Với những văn bản phức tạp, có thể có những ý kiến khác nhau về cách phân chia đơn vị từ vựng, phân tích nghĩa ngữ cảnh và xác định nghĩa cơ bản Tuy nhiên, theo nhóm Pragglejaz, “Một trong những mục đích có giá trị nhất của MIP là các bước thực hiện rõ ràng cho phép các nhà nghiên cứu xác định chỗ bất đồng ý kiến của họ
là một từ có nghĩa ẩn dụ hay không trong ngữ cảnh” [94, tr 13]
0.4.3.Xác lập phép chiếu ẩn dụ
0.4.3.1.Phương pháp 5 bước của Gerard Steen (2009)
Phương pháp MIP của Pragglejaz chỉ tập trung nhận dạng ẩn dụ mà không khái quát hóa thành phép chiếu ý niệm Quá trình chuyển từ ẩn dụ ngôn ngữ sang ẩn
dụ ý niệm có lẽ là phần khó khăn nhất và gây nhiều tranh cãi, bởi vì kết quả ít nhiều phụ thuộc vào trực giác của nhà nghiên cứu
Ở đây, chúng tôi sử dụng phương pháp 5 bước của Gerard Steen [113, tr 197-226] để nhận dạng cấu trúc ý niệm và tạo lập phép chiếu ẩn dụ giữa 2 miền
- Bước 3: nhận dạng tương đồng
Do phép chiếu ẩn dụ là một loạt những tương hợp giữa hai miền, kỹ thuật ở bước này là tách rời các yếu tố của hai miền để biến đổi các mệnh đề ở bước 2 thành cấu trúc so sánh mở Các ý niệm được sắp xếp để thể hiện sự tương đồng
(SIM) Trong ví dụ dưới đây, cách viết (∃ F) (∃ y){SIM [F (CÁNH ĐỎ), NGỦ (y)]}
được Steen diễn giải là: {Có một hành động F nào đó và một thực thể y nào đó sao
Trang 25cho có một tương đồng giữa “các cánh hoa” thực hiện F và các thực thể y “đang ngủ”}
- Bước 4: diễn giải
Đây là bước quan trọng nhất, trong đó phân tích và diễn giải các giá trị mở F
và a đã xác định Bước này bao gồm hai phần: diễn giải theo nghĩa đen và nhận dạng miền nguồn nhờ một số yếu tố gợi lên từ diễn đạt ẩn dụ
- Bước 5: nhận dạng phép chiếu ẩn dụ
Bước này biến đổi cấu trúc tương đồng ở bước 4 thành một phép chiếu giữa hai miền, chuyển từ kết quả bước 4 sang loạt các tương hợp giữa hai miền
Dưới đây là một ví dụ của Steen [113, tr 300] nhằm xác lập phép chiếu ẩn
dụ trong một câu thơ, cũng là tựa đề một bài thơ của nhà thơ Anh Lord Alfred Tennyson:
“Now sleeps the crimson petal ” (Giờ đây ngủ yên cánh hoa đỏ thẫm)
Văn bản Giờ đây ngủ yên cánh hoa đỏ thẫm
(Now sleeps the crimson petal)
2 Nhận dạng mệnh đề P1 (NGỦ CÁNH HOA)
P2 (Bổ ngữ P1 BÂY GIỜ) P3 (Bổ ngữ CÁNH HOA ĐỎ)
3 Nhận dạng cấu trúc so sánh mở (∃ F)(∃ a){SIM [F(CÁNH ĐỎ)],
[(a) NGỦ]}
4 Nhận dạng cấu trúc so sánh kín SIM {[BẤT ĐỘNG (CÁNH ĐỎ)],
[NGỦ (CON NGƯỜI)]}
5 Nhận dạng phép chiếu NGỦ KHÔNG HOẠT ĐỘNG
CON NGƯỜI CÁNH HOA Các suy luận:
Mục đích ngủ cơ thể nghỉ ngơi Thời gian ngủ thời gian không hoạt động
Trang 260.4.3.2.Minh họa phương pháp 5 bước bằng ví dụ tiếng Việt:
0.5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ đầu thập niên 1970, các công trình nghiên cứu thực nghiệm của Rosch và các đồng nghiệp [102], [103], đã đem lại những phát hiện thú vị về phạm trù hóa theo nguyên mẫu Cho dù còn nhiều thiếu sót để có thể trở thành một lý thuyết nhận thức, nhưng những phát hiện của Rosch về cấu trúc nội tại của phạm trù nhanh chóng được áp dụng trong các công trình nghiên cứu các cấp độ ngôn ngữ như ngữ
âm, cú pháp, ngữ nghĩa,
Các công trình nghiên cứu ngôn ngữ theo lý thuyết nguyên mẫu, tức là nghiên cứu một cấu trúc đơn vị ngôn ngữ như một phạm trù riêng, hình thành với các nguyên mẫu (hay thành viên có tính nguyên mẫu) ở trung tâm và các thành viên khác kết hợp với nhau theo kiểu “giống nhau họ hàng” (family resemblance) và dựa vào sự tương đồng với nguyên mẫu (hay thành viên có tính nguyên mẫu)
Nhu cầu giải thích phạm trù hóa theo nguyên mẫu không chỉ trong phạm vi vật chất cụ thể mà cả trong các miền ý niệm trừu tượng, bởi vì phần lớn các phạm trù trong thế giới là những thực thể trừu tượng, như cảm xúc, quan hệ không gian, quan hệ xã hội, sự kiện, hoạt động, “Phạm trù hóa về bản chất là một vấn đề của
Trang 27cả kinh nghiệm và trí tưởng tượng của con người – một mặt, là của nhận thức, vận động cảm giác, văn hóa, và mặt khác là ẩn dụ, hoán dụ, và hình ảnh tinh thần” [68,
tr 8]
Công trình Metaphors we live by của Lakoff & Johnson [67] đã chứng tỏ
kinh nghiệm là cơ sở để con người hiểu nhiều khía cạnh ngôn ngữ thông qua kiến thức ẩn dụ ý niệm Để giải thích những kết quả nghiên cứu của Rosch và đồng nghiệp về phạm trù hóa theo nguyên mẫu bằng phương pháp nhận thức, Lakoff đề xuất lý thuyết mô hình nhận thức trong “Women, Fire and Dangerous Things” [68] Kết hợp với lý thuyết ẩn dụ ý niệm, Lakoff đi sâu phân tích cách con người suy nghĩ và lập luận để chứng tỏ ẩn dụ GIẬN DỮ LÀ SỨC NÓNG là một nguyên mẫu
và bao quanh là một cấu trúc ý niệm hết sức phức tạp, làm cơ sở cho những diễn đạt
ẩn dụ ở “bề mặt” ý niệm này
Nhiều công trình nghiên cứu ẩn dụ nhận thức, các vấn đề về miền và phép chiếu ẩn dụ của Croft [17], [18], Cameron [11], Deignan [21], [22], Gibbs [42], Grady, Oakley & Coulsen [46], Kovecses [61], [62], Lakoff [67], [70], [71], [72], nghiên cứu hoán dụ nhận thức của Barcelona [5], [6], [7], Hilper [50], Javier Herrero [51], [53], Kovecses [59], Pauwels [93]…và mối quan hệ tương tác giữa hai cấu trúc ý niệm này, như công trình của Feyaerts [33], Geeraerts [36], Goossens [45], Martin de Leon [81], Ruiz de Mendoza [106], [107], [108], [109]… Nghiên cứu phạm trù hóa theo nguyên mẫu đáng chú ý có các công trình của Taylor [119], [120], nguyên mẫu trong ngữ nghĩa học nhận thức trong công trình của Tsohatzidis [121] Phương pháp không gian 3 chiều của Chilton [14] là hướng nghiên cứu mới, nhận dạng nguyên mẫu của nhóm động từ GET Cũng cần phải kể đến những công trình về so sánh đối chiếu ẩn dụ giữa các nền văn hóa, như công trình của Charteris-Black [13], Kovecses [62], [63], …
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu ẩn dụ theo quan điểm nhận thức của các nhà ngôn ngữ như Trần Văn Cơ [3], [4], Nguyễn Đức Dân [5], [6], [7], Nguyễn Đức Tồn [20], [21], Lý Toàn Thắng [17], Nguyễn Lai [14], luận án về
ẩn dụ nhận thức của Phan Thế Hưng [13], luận án của Nguyễn Ngọc Vũ [25] về
Trang 28thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người… Một số công trình theo hướng điển mẫu như nghiên cứu câu đặc biệt của Nguyễn Văn Hiệp [12], nhóm động từ ngoại động của Nguyễn Tất Thắng [18], …
0.6.Đóng góp của luận án
0.6.1.Về lý luận
- Công trình nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam kết hợp hai lý thuyết quan trọng của khoa học nhận thức là ẩn dụ nhận thức và nguyên mẫu Bố cục được sắp xếp nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu là chứng tỏ hiệu quả nguyên mẫu trong cấu trúc nội tại của ẩn dụ và từ mối quan hệ giữa ẩn dụ với các mô hình nhận thức khác (sơ đồ hình ảnh và hoán dụ)
- Vận dụng những thủ pháp và phương pháp nghiên cứu mới của Ngôn ngữ học hiện đại, đảm bảo tính thời sự cho công trình: từ các phương pháp nhận dạng ẩn
dụ và khái quát hóa ẩn dụ ý niệm của nhóm Pragglejaz, G Steen, đến lý thuyết “mô hình nhận thức” của G.Lakoff, lý thuyết “sơ đồ hình ảnh” của M Johnson, lý thuyết
“mô hình đa nghĩa theo nguyên tắc” của Tyler & Evans, lý thuyết “mô hình tương tác ý niệm” của Ruiz de Mendoza, phương pháp không gian 3 chiều của Paul Chilton, …
- Vận dụng phương pháp của Tyler & Evans để phân tích và lập mô hình tỏa tia cho từ chỉ không gian và danh từ, chứng tỏ sự hình thành hệ thống các tiểu phạm trù nghĩa của từ đa nghĩa trong quá trình từ ý niệm đến ngữ nghĩa Giải thích các cấp độ cấu trúc nguyên mẫu trong mô hình tỏa tia của từ đa nghĩa
- Phân tích cơ chế nhận thức và lập mô hình tương tác ý niệm cho các ngữ biểu trưng có yếu tố TAY trong tiếng Việt, HAND trong tiếng Anh và MAIN trong tiếng Pháp
- Giải thích một số hiện tượng ngữ nghĩa trong tiếng Việt, so sánh đối chiếu với cấu trúc ngôn ngữ cùng phạm trù trong tiếng Anh và tiếng Pháp Chứng tỏ tính chất phổ quát trong chừng mức nào đó qua những điểm giống nhau và phát hiện một số khác biệt tinh tế trong cơ chế nhận thức ẩn dụ và các đơn vị cấu trúc ngôn
Trang 29ngữ có liên quan, chứng tỏ vẻ đẹp sinh động và khả năng mở rộng ngữ nghĩa của tiếng Việt
dụ ngôn ngữ và khái quát hóa thành ý niệm ẩn dụ
-Chương 1: cơ sở lý luận của đề tài, giới thiệu lý thuyết nguyên mẫu, lý thuyết mô hình nhận thức và một số khái niệm cơ bản trong nghiên cứu ẩn dụ ý niệm như thể toàn vẹn (gestalt), ICM, và sơ đồ hình ảnh
-Chương 2: nhận dạng hiệu quả nguyên mẫu hay tính nguyên mẫu từ cấu trúc nội tại của ẩn dụ ý niệm, thể hiện qua tính bất đối xứng của phép chiếu ẩn dụ Những cách phân loại ẩn dụ khác nhau cùng các ưu nhược điểm để đi đến cách nhận dạng ẩn dụ gần với phạm trù hóa theo nguyên mẫu Phân tích các yếu tố chi phối những ẩn dụ cùng miền nguồn-khác miền đích và cùng miền đích-khác miền nguồn, để tìm nghĩa nguyên mẫu và phép chiếu trung tâm cho những hệ thống này -Chương 3: giới thiệu mối quan hệ giữa sơ đồ hình ảnh và ẩn dụ Ngoài quan điểm xem sơ đồ hình ảnh như một nhân tố tham gia quá trình hình thành ẩn dụ ý niệm, nội dung còn chứng tỏ sự biến đổi của sơ đồ hình ảnh là nguồn tạo hiệu quả nguyên mẫu Mô hình tỏa tia của từ “qua” được lập nhằm giải thích nghĩa nguyên mẫu của một từ chỉ không gian, nhận dạng các cấp độ cấu trúc nguyên mẫu trong hệ thống của từ đa nghĩa và chứng tỏ vai trò mở rộng nghĩa của ẩn dụ Các mô hình tỏa
Trang 30tia được lập cho danh từ NƯỚC trong tiếng Việt, COUNTRY trong tiếng Anh và PAYS trong tiếng Pháp nhằm so sánh quá trình chuyển nghĩa của ba danh từ cùng
có nghĩa là “quốc gia, lãnh thổ.”
-Chương 4: trình bày quan hệ giữa ẩn dụ và hoán dụ theo quan điểm nhận thức, cấu trúc nguyên mẫu thể hiện ở vai trò cơ sở của hoán dụ so với ẩn dụ và ở chênh lệch khoảng cách nhận thức, nhấn mạnh ranh giới “mờ” giữa phạm trù ẩn dụ
và phạm trù hoán dụ Phân tích mối quan hệ này trong tục ngữ, có so sánh đối chiếu
-Chương 5: phân tích cơ chế nhận thức của các ngữ biểu trưng có yếu tố
“tay” và đối chiếu với các ngữ tiếng Anh và tiếng Pháp, giới thiệu hình thức tương tác giữa các mô hình nhận thức, trong đó có hoán dụ đôi và tương tác ẩn-hoán nhằm chứng tỏ ranh giới mờ giữa các mô hình này
-Kết luận: tóm tắt kết quả nghiên cứu, những đóng góp mới về lý thuyết và ứng dụng, ghi nhận những thiếu sót và đề xuất triển vọng nghiên cứu trong tương lai cho ẩn dụ ý niệm và lý thuyết nguyên mẫu
Trang 31CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.Lý thuyết nguyên mẫu
Phạm trù hóa có tầm quan trọng trong nhận thức con người và là vấn đề trung tâm của lý thuyết nguyên mẫu Từ quan điểm phân loại cổ điển có từ thời Aristotle, trải qua hàng ngàn năm, những thay đổi trong cách nhìn về phạm trù hóa chỉ bắt đầu từ thập niên 1950 với Wittgenstein và phát triển từ thập niên 1970 với Rosch và những người khác
1.1.1.Quan niệm cổ điển
Mô hình phân loại truyền thống có từ thời Hy Lạp cổ đại, khi Aristotle cho rằng mọi thứ trong thế giới được xác định bằng các đặc điểm chủ yếu “Phạm trù” được xem như một “vật chứa” và những thực thể được đưa vào trong vật chứa này phải có chung một số đặc điểm nào đó, gọi là các “điều kiện cần và đủ”– bản thân
mỗi điều kiện là cần nhưng tập hợp các điều kiện mới đủ để xác định phạm trù
Quan điểm truyền thống xem phân chia phạm trù là một chức năng của ngôn ngữ và các phạm trù tồn tại là do con người đặt tên cho chúng
Hàm ý từ cách phân biệt truyền thống là: thứ nhất, tất cả các thành viên trong phạm trù đều có vị thế như nhau, không có thành viên nào được xem là tốt hơn các thành viên khác; thứ hai, giữa các thành viên có ranh giới rõ ràng Ví dụ, để xếp vào phạm trù “chim” phải đáp ứng các điều kiện: có mỏ, có lông vũ, có thể bay; các đặc điểm chung của phạm trù “đi bộ” là: di chuyển được, di chuyển trên mặt đất, không cần phương tiện trợ giúp
Trong các lý thuyết ngữ nghĩa, những điều kiện cần và đủ này mang hình
thức các nghĩa tố hay nét nghĩa Theo định nghĩa của Hoàng Phê [1, tr.171], nghĩa
tố là “yếu tố ngữ nghĩa chung của các từ thuộc cùng một nhóm từ hoặc riêng cho
nghĩa của một từ đối lập với nghĩa của những từ khác trong cùng một nhóm” Việc phân chia phạm trù do vậy được xem là thuộc phạm vi ngữ nghĩa, không liên quan đến ý niệm
Trang 321.1.2.Một số quan điểm trước Rosch
Từ giữa thập niên 1950, những nhận xét của Ludwig Wittgenstein về sự đa
dạng của ngôn ngữ hay “language-game” (trò chơi-ngôn ngữ) trong Philosophical
Investigations [128] đã đặt vấn đề xét lại quan điểm phân chia phạm trù truyền
thống Wittgenstein tìm kiếm những đặc điểm chung cho tất cả các thành viên trong phạm trù “trò chơi” (game), như chơi cờ, chơi bài, chơi bóng hay các môn thi đấu Olympics,
“Có điểm gì chung cho tất cả? – Đừng nói là: Phải có một cái gì đó chung,
nếu không chúng sẽ không được gọi là games – mà hãy nhìn xem liệu có gì chung không – Bởi vì nếu nhìn xem, bạn sẽ không thấy có gì đó chung cho tất
cả, mà là những điểm tương đồng, những mối quan hệ, và toàn bộ những cái đó” [128, tr.27]
Wittgenstein nhận thấy các thành viên trong phạm trù “trò chơi” không có cùng đặc điểm, có trò chơi nhằm mục đích giải trí nhưng một số trò chơi là thi đấu
có kẻ thắng người bại, chơi bài mang yếu tố may rủi, nhưng chơi cờ cần kỹ năng trí tuệ và kỹ năng chơi cờ cũng khác với kỹ năng chơi quần vợt… Theo Wittgenstein, các thành viên trong một phạm trù kết hợp với nhau theo nhiều cách như trong một
gia đình, gọi là “giống nhau họ hàng” (family resemblance) Nhận xét của Wittgenstein sau này trở thành một trong những đặc điểm của “tính nguyên mẫu”
(prototypicality) Với một phạm trù khác là “con số,” Wittgenstein chứng tỏ ranh giới của phạm trù không cố định như quan điểm cổ điển, mà có thể mở rộng tùy ý cho thành viên mới, miễn là chúng giống với thành viên cũ theo một cách nào đó
Sau Wittgenstein, nhiều nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực khác nhau như tâm lý học, triết học, ngôn ngữ học, đã đóng góp vào quá trình hình thành và phát triển quan điểm phạm trù hóa mới, bởi vì họ nhận ra rằng, phạm trù hóa thể hiện cách con người suy nghĩ, nhận thức và hành động “Một sự hiểu biết về cách chúng
ta phân chia các phạm trù là điều chủ yếu cho bất cứ sự hiểu biết nào về cách chúng
ta nghĩ và hoạt động, và do đó, là điều chủ yếu để nhận biết cái gì làm chúng ta là con người” [68, tr 6] Theo quan điểm mới, các phạm trù được xác định không phải
Trang 33bằng những điều kiện cần và đủ, mà liên quan đến nguyên mẫu và mối quan hệ
“giống nhau họ hàng”
J.L.Austin mở rộng phạm vi tổ chức nguyên mẫu sang ngữ nghĩa khi cho rằng nghĩa của từ được tổ chức quanh một nghĩa trung tâm Brent Berlin và Paul Kay nghiên cứu các phạm trù màu sắc để chứng tỏ tính trung tâm và cấp độ, trong khi Roger Brown quan tâm các phạm trù cấp cơ bản…
1.1.3.Quan điểm phạm trù hóa theo Rosch và đồng nghiệp
1.1.3.1.Phương pháp thực nghiệm
Từ thập niên 1970, với hàng loạt công trình nghiên cứu của cá nhân và cùng
các đồng nghiệp, Eleanor Rosch phát triển một lý thuyết mới, “Lý thuyết những
nguyên mẫu và các phạm trù cấp cơ bản” hay “Lý thuyết nguyên mẫu.”
Rosch là người đầu tiên đề xuất thuật ngữ “nguyên mẫu” (prototype) và định nghĩa “nguyên mẫu” là ”thành viên trung tâm của phạm trù, thể hiện có hệ thống những đặc điểm nổi bật nhất hay tính chất tiêu biểu nhất so với các thành viên khác.”
Theo lập luận của Rosch, nếu xác định phạm trù chỉ bằng những đặc điểm
chung như cách phân chia cổ điển thì tất cả thành viên của phạm trù đều có vị thế ngang nhau và không có thành viên nào là ví dụ tốt hơn hay phù hợp hơn với phạm trù Rosch cũng nhận thấy năng lực con người và những khía cạnh liên quan con người giữ một vai trò nào đó trong phạm trù hóa
Một trong những thành tựu nổi bật của Rosch cùng đồng nghiệp là phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, dựa trên các thông số như:
- Xếp hạng trực tiếp: xếp hạng “tốt, xấu” các thành viên trong loại theo thang điểm từ 1 đến 7 (xem B.1.1)
- Thời gian phản ứng: ghi nhận tốc độ phản ứng của người tham gia khi nghe một câu nói về tư cách thành viên trong phạm trù
- Liệt kê thành viên: chọn thành viên điển hình của phạm trù
- Xếp hạng tương đồng: xếp hạng tương đồng cho từng cặp thành viên
- Tính bất đối xứng: giữa thành viên tiêu biểu và không tiêu biểu
Trang 34Trái cây Xếp hạng điển hình từ 1-7 (1: cao nhất)
Táo Mận Dứa Dâu Sung Olive
1,3 2,3 2,3 2,3 4,7 6,2
B.1.1 Xếp hạng thành viên theo thang điểm
- Đặc điểm “giống nhau họ hàng”: tìm điểm tương đồng giữa thành viên tiêu
biểu và không tiêu biểu cho phạm trù (xem B.1.2)
Những công trình đầu tiên của Rosch nghiên cứu màu sắc trong tiếng Dani ở
New Guinea Ngôn ngữ này chỉ có hai loại màu cơ bản: mili (màu tối và lạnh, bao
gồm màu đen, xanh lá và xanh dương) và mola (màu sáng và ấm, bao gồm màu
trắng, đỏ và vàng) Qua thực nghiệm, Rosch phát hiện người Dani thường chọn
mola là “màu trung tâm” (focal color)
Để xác định vai trò của ngôn ngữ đối với hệ thống ý niệm của con người,
Rosch cho hai nhóm người Dani học các từ chỉ màu sắc không có trong vốn từ vựng
Dani, bao gồm 8 màu trung tâm và 8 màu không trung tâm Kết quả là người Dani
học và nhớ tên các màu sắc trung tâm dễ dàng hơn, chứng tỏ các màu sắc trung tâm
Trang 35có vị thế đặc biệt nào đó trong phạm trù “màu sắc” Nhóm của Rosch gọi các màu trung tâm là “thành viên nguyên mẫu” của phạm trù“màu sắc” Công trình nghiên cứu trước đó của Berlin và Kay cũng đưa ra kết luận tương tự về vị thế của các màu trung tâm
Mở rộng nghiên cứu sang các đối tượng là loài vật và đồ vật, Rosch nhận thấy trong mỗi phạm trù đều có hiện tượng bất đối xứng, chẳng hạn như, két Bắc
Mỹ (robin) trong phạm trù “chim” được xem là ví dụ tốt hơn chim cánh cụt (penguin) hay đà điểu (ostrich) (xem H.1.1) Rosch kết luận: phần lớn những gì con người cảm nhận đều được phân tích và phân chia thành phạm trù trong đầu tùy theo mức độ phù hợp với một nguyên mẫu
Phát hiện của Rosch cho thấy một số ý niệm tồn tại trong suy nghĩ của mọi người, bất kể họ nói thứ tiếng nào và từng sử dụng ý niệm đó hay không Nói cách khác, con người trong những nền văn hóa khác nhau có thể phân chia và phân biệt
sự vật dựa vào một hình ảnh tinh thần nào đó, và hình ảnh này hoạt động như một nguyên mẫu để so sánh các thành viên khác
Phát hiện của Rosch cũng chứng tỏ “ngôn ngữ có sau ý niệm và dựa vào ý niệm”, thay cho cách nghĩ truyền thống là “ngôn ngữ có trước ý niệm” Rosch định
nghĩa những ý niệm này là “phạm trù tự nhiên”
Rosch cho rằng cấu trúc phạm trù hóa trong thế giới gồm ba cấp: cấp trên (superordinate level), cấp cơ bản (basic level) và cấp dưới (subordinate level)
Trang 36Trong ví dụ của Rosch về cấu trúc phạm trù “đồ đạc” (xem B.1.3), với cấp trên “đồ đạc”, đại diện cho cấp cơ bản (basic level) là một thành viên của “đồ đạc,” như bàn, ghế và đèn Cấp dưới là những kiểu bàn, ghế và đèn có mục đích sử dụng khác nhau Ở mỗi cấp, các thực nghiệm của Rosch tập trung chứng minh hai khía cạnh của giả thuyết “giống nhau họ hàng”: những thành viên có “tính nguyên mẫu” nhất của phạm trù là những thành viên có nhiều thuộc tính chung nhất với những thành viên khác trong phạm trù và chia sẻ ít thuộc tính chung nhất với những thành viên của các phạm trù khác
GHẾ NHÀ BẾP GHẾ
GHẾ PHÒNG ĂN BÀN NHÀ BẾP BÀN
BÀN ĂN ĐÈN PHÒNG
(a) Nguyên tắc tiết kiệm nhận thức:
Nhiệm vụ của các hệ thống phạm trù là cung cấp nhiều thông tin nhất nhưng đòi hỏi nỗ lực nhận thức ít nhất
(b) Nguyên tắc về cấu trúc của thế giới tri giác được:
Thế giới được cảm nhận như là thông tin được tổ chức hơn là như những thuộc tính võ đoán hay không thể đoán trước
Nguyên tắc thứ nhất hàm ý mức độ bao hàm trong tổ chức phạm trù, nguyên tắc thứ hai liên quan tính đại diện hay cấu trúc nguyên mẫu của phạm trù Hai nguyên tắc này dẫn đến hệ thống phạm trù hóa theo 2 chiều: chiều ngang và chiều dọc
Trang 37Chiều dọc thể hiện mức độ bao hàm của phạm trù Theo Rosch và đồng nghiệp [102], có thể phân biệt các phạm trù tùy vào mức độ bao hàm, tức là khả năng gộp các thành viên vào một phạm trù Mức độ bao hàm đi từ cấp trên cấp
cơ bản cấp dưới Ví dụ như trong B.1.3, phạm trù ĐỒ ĐẠC bao hàm hơn phạm trù GHẾ bởi vì có thêm các thực thể BÀN và ĐÈN, phạm trù GHẾ bao hàm hơn GHẾ NHÀ BẾP bởi vì còn nhiều tiểu phạm trù GHẾ khác ngoài GHẾ NHÀ BẾP… Rosch cho rằng mức độ bao hàm tối ưu để con người vẫn “tiết kiệm nhận thức” là ở cấp cơ bản, nơi diễn ra phần lớn việc so sánh với nguyên mẫu
“Nguyên mẫu” là một thể hiện tương đối trừu tượng có nhiều thuộc tính chung với tất cả hay phần lớn thành viên của phạm trù, và không có hay ít có thuộc tính chung với các thành viên của những phạm trù lân cận So với các thành viên khác trong phạm trù, nguyên mẫu phù hợp nhất với phạm trù và khác nhiều nhất với các phạm trù khác, do đó nguyên mẫu hoạt động như một thành viên mẫu hay như một điểm qui chiếu nhận thức cho cả phạm trù [103]
1.1.3.4.Những vấn đề tồn tại và sai lầm
Công lao của Rosch và đồng nghiệp là phát hiện một hướng nghiên cứu mới xác minh được lý thuyết phạm trù hóa diễn ra trong trí tuệ con người trong đời sống hàng ngày Tuy nhiên, những phát hiện của Rosch và đồng nghiệp thường không được xem là một lý thuyết nhận thức về phạm trù hóa
“Lý thuyết nguyên mẫu của Rosch thực ra là một lý thuyết mô tả thuần túy về
cách phạm trù hóa của con người Nó không đề cập trực tiếp điều gì về ý niệm, huống chi là nghiên cứu ý niệm hay chức năng của ý niệm trong quá trình phạm trù hóa Những quan sát và các nguyên tắc cấu trúc trong lý thuyết nguyên mẫu của Rosch được sử dụng chỉ như những tiêu chuẩn đánh giá cho các lý thuyết cụ thể hay các mô hình ý niệm của con người” [125,
tr.80]
Margolis và Laurence [79, tr.32-43] cũng chứng tỏ một số vấn đề tồn tại của
lý thuyết nguyên mẫu như:
-Vấn đề “tính nguyên cấp của nguyên mẫu” (prototypical prime)
Trang 38Hiệu quả nguyên mẫu không chỉ hiện diện trong cấu trúc nguyên mẫu, mà cả trong các phạm trù theo cách phân loại truyền thống Ví dụ như, một phạm trù cổ điển là SỐ LẺ cũng thể hiện hiệu quả nguyên mẫu
-Vấn đề “không biết và biết sai” (ignorance and error)
Một ý niệm có cấu trúc nguyên mẫu có thể bao gồm một thực thể nào đó mà trên thực tế không phải là thành viên của phạm trù, hoặc loại bỏ những thực thể vốn
là thành viên nhưng không thể hiện những thuộc tính xác định nguyên mẫu Một ví
dụ của Margolis và Laurence là, những phụ nữ lớn tuổi, tóc bạc và đeo kính thường được nghĩ là “BÀ NỘI/BÀ NGOẠI” (GRANDMOTHER) cho dù thực tế họ không phải “bà nội hay bà ngoại”, hoặc người ta không xem một phụ nữ tóc bạc là thành viên trong phạm trù “BÀ NỘI/BÀ NGOẠI”, cho dù thực tế là như vậy
-Vấn đề “thiếu nguyên mẫu” (missing prototypes)
Không thể mô tả nguyên mẫu cho những phạm trù không có thực (như: VƯƠNG QUỐC MỸ, SÁNG TẠO TRONG THẾ KỶ 31, ), hoặc là cho một ý niệm “hỗn hợp” (như: VẬT NẶNG HƠN 1G, )
-Vấn đề “tính kết cấu” (compositionality)
Dẫn chứng ví dụ PET FISH (cá kiểng) của Fodor và Lepore (1996) như một
ý niệm “phức”, Margolis và Laurence chứng tỏ lý thuyết của Rosch không giải thích thỏa đáng những trường hợp “không nguyên mẫu” của ý niệm phức và trong trường hợp có nguyên mẫu, Rosch cũng không thể xác định quan hệ giữa nguyên mẫu của ý niệm phức với các nguyên mẫu của những ý niệm thành phần
Đến cuối thập niên 1970, chính Rosch từ bỏ cách diễn giải kết quả thực nghiệm của mình như một lý thuyết nhận thức về tổ chức phạm trù, những diễn giải
mà theo Lakoff [68, tr.43], “chỉ là sản phẩm của một quan điểm quá hẹp về tâm lý học xử lý thông tin” Rosch thừa nhận là các hiệu quả nguyên mẫu xác định qua thực nghiệm không thể xem là những thể hiện trong tinh thần “Tính nguyên mẫu thang độ hóa và tương quan với cấu trúc phạm trù rõ ràng không hàm ý những mô hình xử lý cụ thể cũng như không liên quan đến một lý thuyết về quá trình nhận thức phạm trù” [103, tr 198]
Trang 39Theo Vyvyans Evans và C.Green Melanie [27, tr.269], dù hiệu quả nguyên mẫu là “thật” qua thực nghiệm, các phát hiện thực nghiệm của Rosch và đồng nghiệp không thể trực tiếp chuyển vào một lý thuyết về cách các phạm trù được biểu hiện trong trí não của con người, bởi vì những nghiên cứu thực nghiệm chỉ xem xét kết quả đánh giá cấu trúc phạm trù mà không phải là quá trình nhận thức
dẫn đến những đánh giá này Lakoff đồng quan điểm khi cho rằng tính bất đối xứng – và gọi là hiệu quả nguyên mẫu, khi một số thành viên điển hình cho phạm trù
nhiều hơn các thành viên khác - chỉ là “những hiện tượng bề mặt, kết quả của những
mô hình phức tạp diễn ra trong tinh thần” [68, tr 45]
1.1.3.5 Lý thuyết mô hình nhận thức của Lakoff
Để có thể giải thích hợp lý sự hình thành hiệu quả nguyên mẫu, không chỉ trong phân biệt các vật thể hữu hình mà cả trong những miền ý niệm trừu tượng, Lakoff phát triển một lý thuyết về cấu trúc phạm trù ở cấp độ nhận thức - lý thuyết
mô hình nhận thức - qua công trình Women, Fire and Dangerous Things Theo
Lakoff [68, tr 56 – 57], tiếp cận phạm trù hóa bằng mô hình nhận thức có thể giải thích những phát hiện cơ bản sau của Rosch và đồng nghiệp:
- Một số phạm trù có xếp hạng thành viên và giữa các thành viên có ranh giới mờ Những phạm trù khác có ranh giới rõ ràng, nhưng bên trong ranh giới có hiệu quả nguyên mẫu, tức là một số thành viên dùng làm thành viên mẫu tốt hơn hay phù hợp với phạm trù hơn những thành viên khác
- Hệ thống thứ bậc của phạm trù được tổ chức theo cấp độ khác nhau: những phạm trù ở giữa hệ thống là cơ bản nhất, nếu xét theo nhiều tiêu chuẩn về tâm lý: cảm nhận tính toàn vẹn của hệ thống, khả năng tạo hình ảnh tinh thần, tính dễ nhớ,
dễ học…
- Các phạm trù cấu trúc thành hệ thống với những yếu tố đối nghịch nhau
- Trong cấu trúc của phạm trù có hiện tượng bất đối xứng, do các thành viên được xếp theo thang độ “tốt” hay “xấu” (phù hợp hay không phù hợp) tùy theo mức
độ tương đồng với nguyên mẫu Hiệu quả nguyên mẫu chỉ là hiện tượng bề mặt và
do nhiều nguồn tạo ra
Trang 40- Phạm trù hóa không mang tính khách quan, ít nhất một số phạm trù được phân chia dựa vào trải nghiệm cơ thể trong tương tác với thế giới bên ngoài, cách suy nghĩ của chủ thể và nền tảng văn hóa mà chủ thể tiếp nhận
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.Thể toàn vẹn (gestalt)
Theo các nhà NNHNT, ý nghĩ, nhận thức, cảm xúc, quá trình nhận thức, hoạt
động có động cơ và ngôn ngữ, được tổ chức theo cùng kiểu cấu trúc gọi là gestalt
“Gestalt” (tạm dịch: thể toàn vẹn) gốc tiếng Đức có nghĩa là hình thức hay
hình dạng, được sử dụng trong tiếng Anh để chỉ một ý niệm “toàn vẹn” Trong từ
điển Merriam-Webster, gestalt là cấu trúc trong đó “các yếu tố bộ phận không thể
tồn tại riêng rẽ mà hợp nhất đến mức tạo thành một đơn vị chức năng với những đặc điểm không thể rút ra từ các yếu tố bộ phận.”
Những ý tưởng ban đầu về cấu trúc có tổ chức của gestalt đã trở thành ý
tưởng chủ yếu trong NNHNT và trong phạm trù hóa theo nguyên mẫu: “ý niệm không tồn tại riêng rẽ mà nằm trong một cấu trúc rộng hơn thể hiện như một cái chung thống nhất.”
Cấu trúc “gestalt” chi phối toàn bộ quá trình nhận thức, những đặc điểm của
cấu trúc này là nền tảng để phát triển đặc điểm và hoạt động của các mô hình ICM
Theo Geeraerts & Cuyckens [40, tr 175], gestalt có một số đặc điểm:
- Gestalt là cấu trúc được sử dụng trong quá trình nhận thức
- Gestalt là những thể toàn vẹn mà những thành phần cấu thành có nghĩa do
ở bên trong cái toàn vẹn đó
- Gestalt có những mối quan hệ nội tại giữa các thành phần, mà những thành
phần này có thể thuộc những phạm trù khác nhau
- Gestalt có thể có những mối quan hệ bên ngoài với những gestalt khác
- Có thể có những phép chiếu bộ phận từ một gestalt lên trên một gestalt khác, hay ở một gestalt nằm bên trong một gestalt khác
- Gestalt phải phân biệt những đặc điểm nguyên mẫu và không nguyên mẫu