1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro vỡ nợ ngân hàng ở việt nam bằng thang đo z SCORE

96 112 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các yếu tố nội tại được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm yếu tố về đặc trưng tài chính từng ngân hàng như Tăng trưởng tín dụng Loan growth - LG, Tỷ lệ dự phòng nợ xấu Loan loss reservers

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH

TRẦN MINH TÂM

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO

VỠ NỢ NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM BẰNG

THANG ĐO Z-SCORE

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS HẠ THỊ THIỀU DAO

TP Hồ Chí Minh, tháng 10/2016

Trang 2

TÓM TẮT

Luận văn được thực hiện với mục tiêu nghiên cứu xác định các yếu tố nội tại hưởng đến rủi ro vỡ nợ ngân hàng Việt Nam bằng thang đo Z-score Từ đó đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố nội tại đến rủi ro vỡ nợ ngân hàng Chỉ số rủi ro Z-score dựa trên cơ sở đề xuất của Hannan & Hanweck (1988) dành cho ngân hàng và xác suất rủi ro vỡ nợ Pit được sử dụng để đo lường rủi ro vỡ nợ ngân hàng Các yếu tố nội tại được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm yếu tố về đặc trưng tài chính từng ngân hàng như Tăng trưởng tín dụng (Loan growth - LG), Tỷ lệ dự phòng nợ xấu (Loan loss reservers - LLR), Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (Return on Assets -

ROA), Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (Net interest revenue - NIR), Hiệu quả quản lý chi phí

(Cost to income – CIR), Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (Equity to assets – ETA), Đa dạng hóa thu nhập (Income diversification – ID) và yếu tố đặc điểm ngân hàng như quy mô (Size), ngân hàng được (hoặc chưa được) niêm yết trên sàn chứng khoán (Listed bank – Unlisted bank) Luận văn sử dụng lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả trong và ngoài nước đã thực hiện về tác động của các yếu tố đến rủi ro vỡ nợ ngân hàng, để có những phân tích và tìm hiểu vấn đề này đối với 27 ngân hàng TMCP Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015

Nghiên cứu đã sử dụng mẫu nghiên cứu gồm 27 ngân hàng TMCP trong tổng số khoảng 32 ngân hàng TMCP tại Việt Nam (không tính các ngân hàng 100% vốn nhà nước và các ngân hàng nước ngoài hay ngân hàng liên doanh), với tổng số 135 quan sát trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015 Vận dụng kỹ thuật phân tích hồi quy

dữ liệu bảng (data panel) kết hợp phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất tổng quát (Generalized Least Square – GLS) , nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng thống kê

về các yếu tố nội tại có tác động đến rủi ro vỡ nợ ngân hàng được đo lường bằng thang

đo Z-score, cụ thể:

- Các yếu tố có mối quan hệ nghịch biến với rủi ro vỡ nợ ngân hàng: tỷ lệ dự phòng nợ xấu (LLR), vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (ETA), đa dạng hóa thu nhập (ID)

Trang 3

- Yếu tố có mối quan hệ đồng biến với rủi ro vỡ nợ ngân hàng: quản lý chi phí (CIR)

- Các yếu tố khác như Tăng trưởng tín dụng (Loan growth - LG), Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (Return on Assets - ROA), Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (Net

interest revenue – NIR), quy mô (Size), ngân hàng được (hoặc chưa được) niêm

yết trên sàn chứng khoán (Listed bank – Unlisted bank) đều có mối quan hệ nghịch biến với rủi ro vỡ nợ ngân hàng nhưng không có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu cũng tìm thấy hai yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến rủi ro phá sản ngân hàng là: tỷ lệ dự phòng nợ xấu (LLR) và vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (ETA)

Từ kết quả nghiên cứu luận văn đã đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro vỡ nợ ngân hàng và đề xuất những hướng nghiên cứu sau để giải quyết những vấn đề mà luận văn còn hạn chế

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Trần Minh Tâm, học viên lớp cao học CH16A, trường Đại học Ngân Hàng TP Hồ Chí Minh, niên khóa 2014 – 2016

Luận văn tốt nghiệp này là công trình do tôi tạo ra bằng việc vận dụng những kiến thức đã tích lũy được trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu của mình Mọi trích dẫn đều được nêu rõ trong danh mục tài liệu tham khảo và trong nội dung bài nghiên cứu Tôi cam đoan không sao chép từ bất kỳ nguồn nào khác

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan của tôi

Trần Minh Tâm

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Chân thành cảm ơn rất nhiều tới người hướng dẫn của mình, PGS TS Hạ Thị Thiều Dao, người rất tận tình hướng dẫn và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình viết luận văn Luận văn này chắc chắn không thể hoàn thành nếu không có sự hướng dẫn tận tâm của cô

Tôi cũng cảm ơn cha mẹ, bạn Nguyễn An Nhơn, Đặng Trịnh Bạch Huy, Hồ Hoàng Hải Yến đã giúp đỡ, hỗ trợ, đóng góp những nhận xét quý báu cho tôi Tôi biết

ơn, trân trọng những kinh nghiệm, góp ý, khuyến khích của mọi người kể từ khi bắt đầu viết luận văn này

Cuối cùng, tôi cảm ơn tất cả thầy cô, bạn bè đã hỗ trợ, góp ý giúp tôi hoàn thiện những thiếu sót của luận văn này, do thời gian và kiến thức còn hạn chế mà còn nhiều khuyết điểm không thể tránh khỏi

Trang 6

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1

1.1 Lý do nghiên cứu 1

1.2 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.6 Phương pháp nghiên cứu 3

1.7 Ý nghĩa Khoa học và thực tiễn của đề tài 4

1.8 Bố cục của luận văn 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7

2.1 Khái niệm về rủi ro 7

2.2 Phân loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng và biện pháp đo lường rủi ro 7

2.2.1 Rủi ro tín dụng 8

2.2.2 Rủi ro thanh khoản 8

2.2.3 Rủi ro lãi suất 9

2.2.4 Rủi ro vỡ nợ (insolvency/default risk) 10

2.3 Chỉ số đo lường rủi ro vỡ nợ ngân hàng Z-score (risk index) 11

2.4 Một số nghiên cứu thực nghiệm trước về các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro vỡ nợ các ngân hàng bằng thang đo Z-score 14

2.5 Các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến rủi ro vỡ nợ ngân hàng 19

2.5.1 Tăng trưởng tín dụng (LG) 19

2.5.2 Tỷ lệ dự phòng nợ xấu (LLR) 20

2.5.3 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) 21

2.5.4 Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (Net interest revenue - NIR) 21

2.5.5 Hiệu quả quản lý chi phí (CIR) 21

2.5.6 Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (Equity to assets- ETA) 22

2.4.7 Đa dạng hóa thu nhập ( Income diversification- ID) 23

2.4.8 Quy mô ngân hàng (size) 24

Trang 7

2.4.9 Ngân hàng được niêm yết trên sàn chứng khoán (LIST) 24

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

3.1 Phương pháp nghiên cứu 26

3.2 Mô tả mẫu nghiên cứu 30

3.3 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 30

3.3.1 Mô hình nghiên cứu 30

3.3.2 Giả thuyết nghiên cứu 33

CHƯƠNG 4: TRÌNH BÀY VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

4.1 Thống kê mô tả các biến 35

4.2 Đánh giá rủi ro vỡ nợ của NHTM trong giai đoạn nghiên cứu 36

4.3 Rủi ro vỡ nợ và các nhân tố ảnh hưởng 37

4.3.1 Rủi ro vỡ nợ và tăng trưởng tín dụng (LG) 37

4.3.2 Rủi ro vỡ nợ và tỷ lệ dự phòng nợ xấu (LLR) 38

4.3.3 Rủi ro vỡ nợ và tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) 41

4.3.4 Rủi ro vỡ nợ và thu nhập lãi thuần (NIR) 42

4.3.5 Rủi ro vỡ nợ và hiệu quả quản lý chi phí (CIR) 45

4.3.6 Rủi ro vỡ nợ và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (ETA) 46

4.3.7 Rủi ro vỡ nợ và đa dạng hóa thu nhập (ID) 48

4.3.8 Rủi ro vỡ nợ và quy mô (SIZE) 51

4.3.9 Rủi ro vỡ nợ và Ngân hàng đã được niêm yết (LIST) 52

4.4 Phân tích tương quan mô hình nghiên cứu 53

4.5 Kết quả hồi quy và các kiểm định 55

4.5.1 Kiểm định việc lựa chọn mô hình 56

Trang 8

4.5.2 Kiểm định các vi phạm giả thuyết mô hình 56

4.5.2.1 Kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi White 56

4.5.2.2 Kiểm định giữa các sai số không có mối quan hệ tương quan với nhau Wooldridge 57

4.5.3 Kết quả hồi quy bằng phương pháp ước lượng GLS 58

4.6 Thảo luận kết quả nghiên cứu 60

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63

5.1 Kết luận 63

5.2 Đề xuất, kiến nghị 64

5.2.1 Về tỷ lệ dự phòng nợ (LLR) 64

5.2.2 Về Vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (ETA) 67

5.2.3 Về đa dạng hóa thu nhập (ID) 67

5.2.4 Về Hiệu quả quản lý chi (CIR) 68

5.2.5 Thực hiện kiểm tra sức chịu đựng căng thẳng 68

5.3 Hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu sau 69

Tài liệu tham khảo 71

Trang 9

DANH MỤC BẢNG:

Bảng 2.1 Tóm tắt các nghiên cứu liên quan đến đề tài 18

Bảng 3.1 Danh sách 27 ngân hàng được nghiên cứu 26

Bảng 3.3 Tổng hợp các biến trong mô hình 31

Bảng 4.1 Bảng thống kê mô tả các biến nghiên cứu 35

Bảng 4.2 Phân nhóm ngân hàng theo chỉ thị 01/CT-NHNN ngày 13/02/2012 36

Bảng 4.3 Tăng trưởng huy động vốn và tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2013-2015 42

Bảng 4.4 Tỷ trọng thu nhập ngoài lãi 50

Bảng 4.5 Z-score & Pit bình quân của Nhóm NHTM đã niêm yết và chưa niêm yết 52

Bảng 4.6 Tương quan giữa các biến độc lập 54

Bảng 4.7 Kết quả phân tích hồi quy 55

Bảng 4.8 Kiểm định F và Hausman 55

Bảng 4.9 Kết quả kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi 57

Bảng 4.10 Kết quả kiểm định sự tự tương quan 57

Bảng 4.11 Kết quả hồi quy bằng phương pháp GLS 58

Bảng 4.12 So sánh kết quả thu được với giả thuyết ban đầu về mối quan hệ giữa biến biến phụ thuộc và các biến độc lập 59

Trang 10

DANH MỤC HÌNH:

Hình 3.1 Sơ đồ quy trình hồi quy 29

Hình 4.1 Xác suất rủi ro vỡ nợ (Pit) của từng nhóm ngân hàng trong giai đoạn 2011-2015 37

Hình 4.2 Diễn biến rủi ro vỡ nợ và tăng trưởng tín dụng 38

Hình 4.3 Tỷ lệ trung bình LLR của 27 ngân hàng qua các năm 39

Hình 4.4 Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ngân hàng qua các năm 40

Hình 4.5 Diễn biến rủi ro vỡ nợ và tỷ lệ dự phòng nợ xấu 41

Hình 4.6 Diễn biến rủi ro vỡ nợ và tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản 42

Hình 4.7 Diễn biến rủi ro vỡ nợ và thu nhập lãi thuần 43

Hình 4.8 Diễn biến thu nhập lãi thuần của 8 NHTM tiêu biểu trong số 27 NHTMCP giai đoạn 2011-2015 44

Hình 4.9 Diễn biến rủi ro vỡ nợ và quản lý chi phí 46

Hình 4.10 Diễn biến rủi ro vỡ nợ và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản 47

Hình 4.11 Diễn biến rủi ro vỡ nợ và đa dạng hóa thu nhập 49

Hình 4.12 Cơ cấu thu nhập đa dạng của Wells Fargo năm 2015 51

Hình 4.13 Diễn biến xác suất vỡ nợ và yếu tố quy mô ngân hàng 52

Hình 4.14 Diễn biến xác suất vỡ nợ của Nhóm NHTM đã niêm yết và chưa niêm yết 53

Hình 5.1 Tăng trưởng dư nợ cho vay BĐS 66

Hình 5.2 Dư nợ tín dụng cho vay BĐS tính đến tháng 03/2015 66

Trang 11

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT:

GLS – Generalized Least Square Phương pháp ước lượng bình phương nhỏ

nhất tổng quát FEM – Fixed Effects Model Mô hình các tác động cố định

REM – Random Effects Model Mô hình các tác động ngẫu nhiên

LLR – Loan loss reservers Dự phòng nợ xấu

LDR – Loan to deposit ratio Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi ROA – Return on Assets Lợi nhuận trên tổng tài sản

NIM – Net interest margin Thu nhập lãi thuần

NIR – net interest revenue Tỷ lệ thu nhập lãi thuần

CIR – Cost to income Chi phí trên thu nhập

ETA – Equity to assets Vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản

ID – Income diversification Đa dạng hóa thu nhập

EPS - Earning Per Share Thu nhập trên mỗi cổ phiếu

P/E – Price per EPS Giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu

Trang 13

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1.1 Lý do nghiên cứu

Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng luôn là vấn đề được đề cập rất nhiều trong những năm gần đây Từ 1987 đến nay, Việt Nam diễn ra ba lần tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Lần thứ nhất 1987-1988 khi xảy ra vỡ nợ hệ thống hợp tác xã tín dụng Năm 1999 – 2001 thực hiện tái cấu trúc với cách làm mới là đưa các NHTMCPNN tham gia và kiểm soát các NHTMCP có dấu hiệu yếu kém và nợ xấu (Nguyễn Thanh Dương, 2013) Lần thứ ba

là từ năm 2011 đến nay Sau khi trải qua khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, hệ thống ngân hàng Việt Nam ngày càng bộc lộ nhiều điểm yếu kém và nợ xấu gia tăng, lợi nhuận giảm sút, năng lực về vốn thấp, rủi ro thanh khoản cao, … Quá trình tái cấu trúc đã buộc hàng loạt ngân hàng nhỏ, hoạt động yếu kém phải sáp nhập, hợp nhất, một số ngân hàng khác còn bị NHNN mua với giá 0 đồng và hỗ trợ tái cấu trúc Mặc dù, hệ thống ngân hàng Việt Nam không ghi nhận một trường hợp đổ vỡ, giải thể hay phá sản nào, nhưng điều đó chưa khẳng định cho sự an toàn của hệ thống ngân hàng Việt Nam Những đề tài

về rủi ro ngân hàng như: thanh khoản, lãi suất, tín dụng, tỷ giá đã được nhiều tác giả trong nước nghiên cứu nhưng nghiên cứu về rủi ro vỡ nợ ngân hàng chưa thực sự rộng rãi

và phổ biến Vì vậy nghiên cứu này muốn sử dụng chỉ số Z-score theo đề xuất của Roy (1952), Hannan & Hanweck (1988) để xác định và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố nội tại đến sự ổn định, rủi ro vỡ nợ trong hoạt động ngân hàng Từ đó, tác giả đưa

ra những đề xuất, kiến nghị phù hợp nhằm tằng cường sự ổn định, lành mạnh trong hoạt động của các ngân hàng ở Việt Nam

Đó là lý do tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro

vỡ nợ của ngân hàng ở Việt Nam bằng thang đo Z-score”

1.2 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, những nghiên cứu về rủi ro vỡ nợ bằng việc vận dụng

mô hình Z-score ngày càng phổ biến Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ tập trung vào doanh

Trang 14

nghiệp, hoặc một số ngành đặc thù ngoài ngành ngân hàng Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt và việc nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro vỡ nợ ngân hàng cũng rất cần thiết nhằm tìm ra biện pháp nâng cao sức khỏe cho hệ thống ngân hàng

Theo Nguyễn Thanh Dương (2013) để tái cấu trúc hệ thống ngân hàng lần thứ ba thành công, cần phải có những giải pháp ở cả hai gốc độ:

- Vĩ mô: ổn định môi trường kinh doanh, ổn định lạm phát, lãi suất Tăng cường các biện pháp giáp sát của NHNN đến các NHTM

- Vi mô: xác định được những vấn đề nội tại của NHTM có nguy cơ dẫn đến rủi

ro vỡ nợ ngân hàng và tìm ra các giải pháp phù hợp để hạn chế khả năng trên

Do đó, nghiên cứu này là rất cần thiết vì nó tập trung nghiên cứu xác định các yếu

tố nội tại của ngân hàng bao gồm các yếu tố về tài chính như tăng trưởng tín dụng, dự phòng nợ xấu, năng lực về vốn, hiệu quả hoạt động và đặc điểm từng ngân hàng như quy

mô ngân hàng, tính minh bạch thông tin sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến rủi ro dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng ở Việt Nam Từ đó, nghiên cứu sẽ khám phá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến rủi ro vỡ nợ của ngân hàng Việt Nam để có những đề xuất, giải pháp phù hợp

Mục tiêu tổng quát: tìm ra các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến tình trạng kiệt quệ tài chính và nguy cơ xảy ra rủi ro vỡ nợ ngân hàng, để từ đó đề xuất các giải pháp, chính sách phù hợp giúp ngân hàng ngăn chặn, cảnh báo sớm các nguy cơ trên

Trang 15

- Thông qua kết quả có được từ mô hình nghiên cứu, tác giả sẽ đề xuất, kiến nghị những giải pháp, chính sách phù hợp, nhằm ngăn chặn, cảnh báo sớm các nguy cơ xảy ra rủi ro vỡ nợ ngân hàng

Sau khi xác định được mục tiêu nghiên cứu như đã trình bày ở trên, một số câu hỏi nghiên cứu sau đây được đặt ra:

- Yếu tố nội tại như: Tăng trường tín dụng (LG), Tỷ lệ dự phòng nợ xấu (LLR), Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIR), Hiệu quả quản lý chi phí (CIR), Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (ETA), Đa dạng hóa thu nhập (ID), quy mô (Size), ngân hàng được (hoặc chưa được) niêm yết trên sàn chứng khoán (LIST) có ảnh hưởng đến rủi ro vỡ nợ ngân hàng?

- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố nội tại đến rủi ro vỡ nợ ngân hàng tại Việt Nam bằng thang đo Z-score như thế nào? Yếu tố nào là mạnh nhất?

Đối tượng nghiên cứu là vấn đề rủi ro vỡ nợ ngân hàng và các yếu tố dẫn đến nguy

cơ xảy ra rủi ro vỡ nợ ngân hàng

Mẫu nghiên cứu gồm 27 ngân hàng TMCP trong tổng số các NHTMCP tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015 Nghiên cứu loại trừ các ngân hàng bị hợp nhất, sáp nhập, các NHTM TNHH MTV do nhà nước làm chủ sở hữu, ngân hàng 100% vốn nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, ngân hàng liên doanh do không có đầy đủ thông tin dữ liệu

1.6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu sử dụng là phương pháp nghiên cứu định lượng, sử dụng

kỹ thuật phân tích hồi quy dữ liệu bảng (data panel), kiểm định các giả thuyết bằng phương pháp hồi quy OLS, FEM, REM kết hợp phương pháp ước lượng GLS để kiểm tra giả thuyết nghiên cứu đặt ra bằng phần mềm Stata

Trang 16

Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ báo cáo tài chính hợp nhất đã được kiểm toán, báo cáo thường niên của mỗi ngân hàng được công bố trên website ngân hàng, bankers almanac (đối với các TP Bank, NCB, Vietbank) , cafef.vn (đối với các ngân hàng đã niêm yết trên sàn chứng khoán như Eximbank, Vietinbank, Vietcombank, BIDV, MB Bank) Thông tin dữ liệu phân tích bao gồm các yếu tố đặc trưng nội tại của các ngân hàng Với mẫu 27 ngân hàng trong giai đoạn 2011-2015 (5 năm), số quan sát là 135

1.7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa thực tiễn:

Sau khi nghiên cứu thành công, đề tài sẽ cung cấp thêm các thông tin cho những nhà tham khảo: thứ nhất là dựa trên cơ sở lý thuyết để xác định các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến rủi ro vỡ nợ ngân hàng; thứ hai là dựa vào thang đo Z-score và mô hình kinh

tế lượng, xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến rủi ro vỡ nợ ngân hàng Xác định yếu tố tác động mạnh nhất Từ đó, các nhà nghiên cứu có thể mở rộng nghiên cứu ra thêm hoặc sử dụng thông tin cho những nghiên cứu có liên quan

1.8 Bố cục của luận văn

Ngoài Phụ lục và các danh mục tài liệu tham khảo, nghiên cứu này được chia thành 5 chương:

Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài

Trang 17

Giới thiệu tổng quan về đề tài, chương này bao gồm các nội dung chính như lý do nghiên cứu, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, pham vị và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Cơ sở lý thuyết, chương này bao gồm các nội dung chính như nền tảng cơ sở lý thuyết về rủi ro, rủi ro vỡ nợ ngân hàng và các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro vỡ nợ ngân hàng Chương này cũng giới thiệu sơ lược một số nghiên cứu trước đây trên thế giới và trong nước về rủi ro ngân hàng, đồng thời so sánh điểm khác của đề tài nghiên cứu của tác giả so với các nghiên cứu trước

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương này bao gồm các nội dung chính như trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu, mô tả mẫu nghiên cứu, đưa ra các giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu

Chương 4: Phân tích dữ liệu và trình bày kết quả nghiên cứu

Nội dung chủ yếu là trình bày kết quả mô hình: thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, phân tích tương quan mô hình nghiên cứu, kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến, kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi, kiểm định hiện tượng tự tương quan Sử dụng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (GLS) để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan, xác định kết quả cuối cùng của mô hình

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Dựa trên kết quả của mô hình nghiên cứu, quan điểm của tác giả, tác giả đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro vỡ nợ ngân hàng

Tóm tắt chương 1

Trong chương 1, tác giả trình bày lý do lựa chọn đề tài và tính cấp thiết của đề tài

“Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro vỡ nợ của ngân hàng ở Việt Nam bằng thang

đo Z-score” Đặt ra ba mục tiêu cụ thể: i) Xác định các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến rủi

ro vỡ nợ ngân hàng ở Việt Nam bằng thang đo Z-score; ii) Đánh giá mức độ ảnh hưởng

Trang 18

của các yếu tố nội tại đến rủi ro vỡ nợ ngân hàng; iii) Thông qua kết quả có được từ mô hình nghiên cứu, tác giả sẽ đề xuất, kiến nghị những giải pháp phù hợp, nhằm ngăn chặn, cảnh báo sớm nguy cơ xảy ra rủi ro vỡ nợ ngân hàng Từ đó xác định các câu hỏi nghiên cứu, định hướng phương pháp nghiên cứu để đạt được kết quả nhằm trả lời cho mục tiêu

và câu hỏi nghiên cứu Ngoài ra, chương này cũng tóm tắt bố cục luận văn

Trang 19

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn (Nguyễn Minh Kiều, 2012) Tuy nhiên, không phải bất cứ sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro Chỉ có những tình trạng không chắc chắn nào có thể ước đoán được xác suất xảy ra mới xem là rủi ro Những tình trạng không chắc chắn nào chưa từng xảy ra và không thể ước đoán được xác suất xảy ra được xem là sự bất trắc, chứ không phải là rủi ro

Rủi ro đối với ngân hàng là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định (Phan Thị Cúc, 2009) hay rủi ro được định nghĩa rộng là những biến cố có thể dẫn tới thua lỗ hoặc thiệt hại về lợi nhuận (Bessis, 2011)

Theo Bessis (2011), rủi ro trong hoạt động ngân hàng được phân loại theo nguồn gốc thua lỗ, biến động thị trường hay vỡ nợ

Theo Phạm Tiến Đạt (2013), rủi ro tiềm tàng trong các NHTM gồm hai loại: các rủi ro có nguồn gốc nội tại và các rủi ro về mặt hệ thống do tác động của thị trường ngân hàng

Hầu hết các lý thuyết hoặc nghiên cứu về quản trị rủi ro ngân hàng đều đề cập đến các loại rủi ro chính trong hoạt động ngân hàng:

- Rủi ro có nguồn gốc nội tại: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro vỡ nợ

- Rủi ro khách quan bên ngoài như: rủi ro lạm phát, rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro chính trị, rủi ro phạm tội

Trang 20

Nghiên cứu này chỉ tập trung phân tích, đánh giá các rủi ro nội tại bên trong ngân hàng

2.2.1 Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng vay nợ mất khả năng trả nợ Rủi ro tín dụng thể hiện ở khả năng hay xác suất khách hàng hoàn thành giao dịch tín dụng và ngân hàng thu hồi được vốn gốc và lãi

Một số tài sản của ngân hàng (thể hiện ở các khoản cho vay) bị giảm giá trị hay không thể thu hồi được là biểu hiện của rủi ro tín dụng Do vốn chủ sở hữu của ngân hàng

so với tổng giá trị tài sản là rất nhỏ nên chỉ cần một tỷ lệ nhỏ danh mục cho vay có vấn đề

sẽ có thể đẩy một ngân hàng tới nguy cơ phá sản (Rose, 1998) Rủi ro tín dụng là rủi ro quan trọng nhất trong ngân hàng Đó là rủi ro đối tác sẽ vi phạm nghĩa vụ trả nợ (Bessis, 2011)

Theo văn bản số 22/VBHN-NHNN ngày 04/06/2014 các ngân hàng phân loại nợ thành năm nhóm chính: Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn), Nhóm 2 (Nợ cần chú ý), Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) , Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) Trong

đó các khoản vay thuộc nhóm 3 trở lên sẽ được xem là nợ xấu và khả năng xảy ra rủi ro tín dụng là rất cao

Các ngân hàng phải chuẩn bị cho các khoản tổn thất tín dụng thông qua việc trích lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng Điều này sẽ làm giảm thu nhập, lợi nhuận của ngân hàng, thậm chí còn âm vốn chủ sở hữu dẫn đến nguy cơ phá sản Đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng có thể sử dụng một số chỉ tiêu sau:

- Tỷ lệ nợ xấu: giá trị các khoản nợ quá hạn so với tổng dư nợ cho vay

- Tỷ lệ dự phòng nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay (LLR)

2.2.2 Rủi ro thanh khoản

Theo Bessis (2011) cho rằng rủi ro thanh toán là rủi ro chi phí cấp vốn tăng và nghiêm trọng nhất là khi không thể huy động được vốn

Trang 21

Rủi ro thanh khoản là rủi ro khi ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền, hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán Rủi ro thanh toán khiến ngân hàng phải huy động vốn lãi suất cao hơn lãi suất cho vay dẫn đến làm suy giảm lợi nhuận tình trạng thiếu hụt thanh khoản với mức độ lớn trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến phá sản ngân hàng (Phan Thị Cúc, 2009)

Phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản là: đo độ lệch thanh khoản, trạng thái thanh khoản ròng và phân tích hoạt động liên ngân hàng (Phạm Thị Hoàng Anh, 2015)

Đo lường rủi ro thanh khoản có thể sử dụng một số chỉ tiêu sau:

- Tỷ lệ giữa dư nợ cho vay ròng trên tổng tiền gửi (LDR)

- Tỷ lệ giữa tiền mặt và số dư tiền gửi tại các ngân hàng khác so với tổng tài sản

- Tỷ lệ giữa khoản mục tiền mặt và chứng khoán chính phủ so với tổng tài sản

2.2.3 Rủi ro lãi suất

Rose (1998) cho rằng sự thay đổi lãi suất thị trường cũng có thể gây ra tác động mạnh tới thu nhập và chi phí hoạt động của ngân hàng

Rủi ro lãi suất xảy ra khi biến động lãi suất thị trường gây tổn thất cho ngân hàng Rủi ro này xuất hiện trong trường hợp lãi suất của thị trường tăng lên, khi đó, các khoản cho vay và đầu tư của ngân hàng sẽ sụt giảm giá trị và ngân hàng sẽ gặp tổn thất (Phan Thị Cúc, 2009; Phạm Tiến Đạt, 2013) Một trường hợp khác của rủi ro lãi suất thị trường giảm, làm cho ngân hàng phải chấp nhận đầu tư và cho vay các khoản tiền huy động với lãi suất cao vào các tài sản với mức sinh lời thấp (Phạm Tiến Đạt, 2013)

Các biện pháp đo lường rủi ro lãi suất: định giá lại tài sản nhạy cảm lãi suất, độ nhạy của vốn chủ sở hữu, phân tích tình huống và kiểm tra sức chịu đựng, thu nhập lãi (NII) và giá trị kinh tế vốn chủ sỡ hữu (Phạm Đỗ Nhật Vinh, 2010) Đo lường rủi ro lãi suất có thể sử dụng một số chỉ tiêu sau:

- Tỷ lệ giữa tài sản nhạy cảm lãi suất và nguồn vốn nhạy cảm lãi suất

Trang 22

- Tỷ lệ giữa tiền gửi không được bảo hiểm trên tổng tiền gửi

- Tỷ lệ thu nhập lãi thuần trên tổng tài sản bình quân (NIR)

2.2.4 Rủi ro vỡ nợ (insolvency/default risk)

Theo Anginer (2016), Rủi ro vỡ nợ là là một biến cố không chắc chắn chỉ khả năng của một tổ chức trong việc thực hiện nghĩa vụ nợ, là khả năng tổ chức không thể thanh toán được hoặc thực hiện rất khó khăn nghĩa vụ nợ khi đến hạn

Rủi ro vỡ nợ có thể thành hiện thực khi tình trạng khánh kiệt tài chính kéo dài Hiện tượng khánh kiệt tài chính là khi ngân hàng không đáp ứng được các hứa hẹn với chủ nợ hay đáp ứng một cách đầy khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ cho các chủ nợ khi đến hạn Đôi khi kiệt quệ tài chính đưa ngân hàng đến bờ vực phá sản, đôi khi chỉ có nghĩa là đang gặp khó khăn, rắc rối về tài chính Các chủ nợ ở đây bao gồm: người gửi tiền, các ngân hàng đã cho vay, ngân hàng nhà nước đã cho ngân hàng vay Hiện tượng khánh kiệt tài chính cũng được xem là rủi ro vỡ nợ cho bất cứ doanh nghiệp nào,

kể cả ngân hàng

Ngoài ra, theo Bessis (2011), rủi ro vỡ nợ là rủi ro vốn hiện có không thể chống đỡ với những thua lỗ do tất cả các loại rủi ro Rủi ro vỡ nợ bắt nguồn từ việc vỡ nợ hay không thể tìm đủ vốn để đáp ứng nghĩa vụ trả nợ Tương tự, Phạm Tiến Đạt (2013) cũng cho rằng rủi ro vỡ nợ là rủi ro mà một ngân hàng không đủ vốn chủ sở hữu để bù đắp cho

sự sụt giảm đột ngột trong giá trị tài sản so với giá trị nợ Rủi ro này xảy ra do hậu quả của các loại rủi ro khác, thiếu kinh nghiệm quản lý vĩ mô, do sự suy thoái của nền kinh

tế, tỷ trọng huy động tiền gửi nhỏ, chủ yếu dựa vào các khoản vay, sự gia tăng các vụ vỡ

nợ trong danh mục cho vay của các khách hàng (chủ yếu để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn)

Rose (1998) cho rằng các ngân hàng phải quan tâm trực tiếp tới rủi ro đối với khả năng tồn tại lâu dài của mình, đó là rủi ro vỡ nợ Nếu quy mô nợ khó đòi quá lớn hay giá trị thị trường của phần lớn khoản mục đầu tư chứng khoán giảm, vốn chủ sở hữu có thể giảm sút đáng kể Nếu các nhà đầu tư và người gửi tiền nhận biết được tín hiệu này và rút

Trang 23

tiền, ngân hàng có thể không còn cách lựa chọn nào khác ngoài việc tuyên bố mất thanh khoản và đóng cửa

Giá và thu nhập trên mỗi cổ phiếu của ngân hàng là chỉ báo cho thấy dấu hiệu rủi

ro vỡ nợ của một ngân hàng Khi một ngân hàng có nguy cơ phá sản, giá trị thị trường của cổ phiếu sẽ sụt giảm Nếu các ngân hàng chưa niêm yết, rủi ro vỡ nợ của ngân hàng

có thể được đo lường thông qua một số yếu tố sau:

- Tỷ số giữa vốn chủ sở hữu so với tổng tài sản của ngân hàng (ETA)

- Tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)

- Chỉ số Z-score của Altman nhưng được vận dụng nghiên cứu rủi ro vỡ nợ ngân hàng theo các nghiên cứu Hannan & Hanweck (1988)

Cuộc khủng hoảng tài chính gần đây, một lần nữa đã hướng sự tập trung của các nhà nghiên cứu về tầm quan trọng và phương pháp đo lường rủi ro vỡ nợ, tính xác suất

vỡ nợ (xác suất phá sản) của một ngân hàng Một công cụ phổ biến trong các tài liệu nghiên cứu về sự ổn định tài chính ngân hàng và phản ánh xác suất vỡ nợ của ngân hàng

là chỉ số Z-score

Z-score do nhà kinh tế học Hoa Kỳ Edward I Altman, Giảng viên Trường Đại Học New York thiết lập vào năm 1968, nội dung trọng tâm là đo lường xác suất vỡ nợ (xác suất phá sản) của một tổ chức kinh tế dựa vào năm biến số từ X1 đến X5 cụ thể như sau: X1 = Vốn lưu động/ Tổng tài sản, để đánh giá khả năng thanh khoản của doanh nghiệp; X2= Lợi nhuận giữ lại/Tổng tài sản, đánh giá khả năng tái đầu tư của doanh nghiệp; X3 = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay / Tổng tài sản, đánh giá khả năng hoạt động sinh lời của doanh nghiệp; X4 = Vốn chủ sở hữu/Giá trị sổ sách của nợ, đánh giá vai trò tấm đệm vốn của vốn chủ sở hữu giúp trang trải những thua lỗ về tài chính và đảm bảo nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp; X5 = Tổng doanh thu/ Tổng tài sản, đánh giá khả năng tạo

ra thu nhập từ tài sản của doanh nghiệp Altman (1968) đã sử dụng dữ liệu báo cáo tài

Trang 24

chính để giải thích xác suất phá sản Tuy nhiên, nghiên cứu của Altman chỉ tập trung vào doanh nghiệp chứ không áp dụng cho ngân hàng hay công ty tài chính

Dựa trên nghiên cứu của Altman (1968), Hannan & Hanweck (1988) đã tìm cách vận dụng chỉ số Z-score để áp dụng cho ngân hàng Ông tập trung vào hai vấn đề chính

để đo lường xác suất vỡ nợ của ngân hàng đó là tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)

và vốn chủ sỡ hữu của ngân hàng Chỉ số rủi ro RI (Risk index, cũng là Z-score) đã được Hannan & Hanweck (1988) đề xuất đo lường cho mỗi ngân hàng, cụ thể như sau:

RI = Z =

( E)

Mean ROA

A ROA

 (2.1) Công thức (2.1) được khai triển như sau:

Z= [mean (ROA +E/A)] / σROA = [ROAi - E(ROAi) + CAPi] / σROA (2.2) Trong đó:

- ROAi là tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản của ngân hàng năm i E(ROAi) là bình quân ROA của ngân hàng trong giai đoạn nghiên cứu

- E/A là tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản CAPi là tỷ lệ vốn chủ sở hữu bình quân trên tổng tài sản bình quân năm i

- σROA là độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản trong giai đoạn nghiên cứu

Trong công thức tính chỉ số Z-score theo đề xuất cũa Hannan & Hanweck (1988), được hiểu là đưa một biến về phân phối có mean = 0 và độ lệch chuẩn σ = 1 Khi tính chỉ

số Z-score cho các ngân hàng, việc đưa về cùng phân phối và cùng độ lệch chuẩn giúp tác giả có thể so sánh giữa các ngân hàng với nhau, cho dù mỗi ngân hàng có độ lớn ROA và CAPi khác nhau

Chỉ số RI (Z-score) thể hiện khả năng hấp thụ thiệt hại của ngân hàng dựa trên vốn chủ sở hữu Ý nghĩa trong công thức RI thể hiện sự biến đổi về lợi nhuận (đặc biệt là lợi nhuận âm) có thể được hấp thụ bởi vốn và ngăn ngân hàng khỏi tình trạng vỡ nợ

Trang 25

Theo Hannan & Hanweck (1988), một ngân hàng bị vỡ nợ khi xảy ra tình trạng (ROA + E/A) ≤ 0 Cụ thể là khi một ngân hàng bắt đầu chịu sự thua lỗ, vốn chủ sở hữu của ngân hàng sẽ là tấm đệm vốn giúp ngân hàng có thể tiếp tục hoạt động Tuy nhiên, nếu không có gì cải thiện thì đến một lúc nào đó sẽ âm vốn chủ sở (E<-π, với π là lợi nhuận ngân hàng) Khi đó ROA + E/A (trong công thức tính Z-score, ROA = π/A ) sẽ giảm dần, đến khi (ROA + E/A) ≤ 0 tức là ngân hàng đã lâm vào tình trạng khánh kiệt tài chính và rủi ro vỡ nợ cao

Z-score cho biết số độ lệch chuẩn ở đó tỷ suất lợi nhuận trên tài sản của một ngân hàng giảm xuống dưới giá trị kỳ vọng của nó trước khi vốn chủ sở hữu cạn kiệt và các ngân hàng mất khả năng thanh toán Do đó, với công thức Z-score nghịch đảo với rủi ro

vỡ nợ ngân hàng Nghĩa là chỉ số Z-score tính được từ một ngân hàng càng lớn thì ngân hàng đó càng an toàn, và ngược lại nếu Z-score càng nhỏ thì rủi ro vỡ nợ của ngân hàng

đó càng tăng

Z-score được vận dụng rộng rãi nhờ sự đơn giản tương đối và có thể tính toán được khi chỉ sử dụng thông tin kế toán, điều này ưu điểm hơn với các biện pháp đo lường rủi ro dựa trên thị trường, đồng thời chỉ số Z-score có thể áp dụng cho các tổ chức tài chính chưa niêm yết

Cũng theo Hannan & Hanweck (1988), với Z>0 ông đã tìm ra được giới hạn trên của xác suất vỡ nợ ngân hàng:

P( ROA ≤ - E/A) ≤ Z-2

Như vậy, với Z > 0, chúng ta có thể xem Z-2 là xác suất xảy ra vỡ nợ ngân hàng

Ta có công cụ đo lường xác suất rủi ro vỡ nợ ngân hàng:

Pit = Zit-2 (2.3)

Pit được gọi là xác suất vỡ nợ của ngân hàng i tại thời điểm t Pit càng cao xác suất

vỡ nợ (insolvency) ngân hàng càng tăng Rủi ro vỡ nợ ngân hàng có nguồn gốc từ khả năng sinh lời và mức độ đủ vốn trước những cú sốc bất ngờ Khi vốn thấp, lợi nhuận kém

và không ổn định thì rủi ro vỡ nợ cao làm Pit tăng

Trang 26

Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, các nghiên cứu về ngân hàng tập trung

về tầm quan trọng của sự đo lường rủi ro vỡ nợ và mất khả năng thanh toán của các ngân hàng Trên cơ sở này, thang đo đo lường xác suất phá sản Z- score đã trở thành thang đo

đo lường phổ biến và được sử dụng rộng rãi do công thức tính toán khá đơn giản và có thể được tính toán dễ dàng dựa vào các thông tin trên báo cáo tài chính

nợ các ngân hàng bằng thang đo Z-score

Nghiên cứu của Baselga- Pascual & cộng sự (2013) sử dụng một mô hình dữ liệu

bảng để xác định các yếu tố nội tại của ngân hàng và các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến rủi

ro khánh kiệt của ngân hàng được đo lường bằng thang đo Z-score (theo đề xuất của Boyd và cộng sự, 1993; Boyd và Runkle, 1993) Mô hình nghiên cứu cơ bản được đề xuất như sau:

Nghiên cứu của Lé (2013) điều tra, đánh giá tác động của việc áp dụng bảo hiểm

tiền giữ lên rủi ro của ngân hàng và đặc biệt lên đòn bẩy tài chính ngân hàng Bài nghiên cứu sử dụng một tập dữ liệu bảng bao gồm các ngân hàng tại 117 quốc gia trong giai đoạn 1986-2011 cùng với một cơ sở dữ liệu mới được cập nhật trên các chương trình bảo hiểm tiền gửi trên thế giới Mô hình cơ bản được tác giả đề xuất như sau:

Trang 27

Riski,j,t = α + β DIj,t + γ Xi,j,t + θt + μi + εi,j,t (2.5)

Trong bài nghiên cứu này, để đo lường rủi ro ngân hàng tác giả đã sử dụng chỉ số Z-score đã được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu trước đó như Laeven và Levine (2009), Demirguc- Kunt và Huizinga (2010) Theo bài nghiên cứu này, chỉ số Z-score phản ảnh độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi nhuận trên tài sản của ngân hàng,khi tỷ suất lợi nhuận trên tài sản ngân hàng giảm dẫn đến ngân hàng mất khả năng thanh toán Chỉ số Z-score càng cao thì rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng càng thấp Bài nghiên cứu cho thấy việc áp dụng bảo hiểm tiền gửi làm tăng rủi ro ngân hàng bởi việc giảm đáng kể bộ đệm vốn ngân hàng, cụ thể tỷ lệ vốn trên tổng tài sản của các ngân hàng giảm khoảng 15% sau khi thực hiện chương trình bảo hiểm tiền gửi Đây là nguyên nhân dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng cao hơn

Nghiên cứu của Berger & các cộng sự (2013) về ảnh hưởng của quốc tế hóa rủi ro

ngân hàng Nghiên cứu cho thấy quốc tế hóa làm tăng rủi ro ngân hàng Nghiên cứu cũng

sử dụng chỉ số Z-score như là chỉ số báo hiệu cho rủi ro của ngân hàng Nghiên cứu này cũng chỉ ra rõ chỉ số Z-score càng lớn thì độ rủi ro tổng thể của ngân hàng càng thấp, nội dung này phù hợp với các kết quả nghiên cứu trước đây Để kiểm tra mối quan hệ giữa quốc tế hóa và rủi ro ngân hàng, Berger đề xuất mô hình như sau:

Riskit = α + βInternationalizationit - 12 + Controlsit – 12 + Timet + εit (2.6)

Trong đó biến độc lập về rủi ro ngân hàng (Risk) được đo lường bằng chỉ số score, biến quốc tế hóa ngân hàng (Internationalization) được đo lường bằng tỷ lệ tài sản nước ngoài của ngân hàng trên tổng tài sản cụ thể là tỷ lệ nợ nước ngoài của ngân hàng trên tổng tài sản và tỷ lệ tiền gửi nước ngoài trên tổng tài sản Kết quả nghiên cứu cho thấy quốc tế hóa làm tăng rủi ro các ngân hàng do các yếu tố thị trường cụ thể như đối thủ cạnh tranh, văn hóa, phức tạp quy định, bất ổn kinh tế và chính trị,

Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Dương (2013) sử dụng mẫu gồm 36 NHTM tại

Việt Nam trong giai đoạn 2006-2011 và sử dụng phương pháp định lượng nhằm xác định

sự tác động của các chỉ tiêu đặc trưng đến rủi ro ngân hàng Nguyễn Thanh Dương sử

Trang 28

dụng chỉ số rủi ro ngân hàng Z-score được sử dụng trong các nghiên cứu trước đây (Roy, 1952; Boyd & Runkle, 1993; Cihak và Hess, 2008; Marco & Fernandez, 2004) để đo lường rủi ro phá sản ngân hàng

Mô hình được xuất: Z-scoreit = β0 + βiXit + eit (2.7)

Với Xit bao gồm 7 biến: Tỷ lệ dự phòng nợ xấu (LLR), Tỷ lệ chi phí dự phòng rủi

ro tín dụng (LLP), đòn bẩy (LEV), Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIR), Tỷ lệ chi phí lương và trợ cấp (CTI), tỷ lệ cho vay (LDR), tỷ lệ tài sản thanh khoản (LAD) Kết quả có 4 biến có

ý nghĩa thống kê: NIR, LLP, LDR, LEV Trong đó, LLP và NIR đồng biến với rủi ro ngân hàng; LEV và LDR nghịch biến với rủi ro ngân hàng Nghiên cứu cũng khẳng định việc tăng vốn chủ sở hữu là điều kiện tiên quyết nhằm bảo vệ ngân hàng trước rủi ro khánh kiệt

Trang 29

Bảng 2.1 Tóm tắt các nghiên cứu liên quan đến đề tài

Baselga- Pascual

&cộng sự (2013)

Tất cả các NHTM trong khu vực EU từ năm 2001-2012

Hồi quy dữ liệu bảng theo tác động cố định

Vốn chủ sở hữu, lợi nhuận, hiệu quả và tính thanh khoản có quan hệ nghịch biến và liên quan đáng kể với rủi ro ngân hàng

Thị trường ít cạnh tranh, lãi suất thấp hơn, tỷ lệ lạm phát cao hơn và một bối cảnh khủng hoảng kinh tế (với GDP giảm) làm tăng rủi ro ngân

Việc áp dụng bảo hiểm tiền gửi làm tăng rủi ro ngân hàng bởi việc giảm đáng kể bộ đệm vốn ngân hàng

Trang 30

Nguyễn Thanh

Dương (2013)

36 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2006-2011

Hồi quy dữ liệu bảng, kết hợp với phương pháp ước lượng GLS

Kết quả có 4 biến có ý nghĩa thống kê: NIR, LLP, LDR, LEV Trong đó, LLP và NIR đồng biến với rủi ro ngân hàng; LEV và LDR nghịch biến với rủi ro ngân hàng

LEV tác động mạnh nhất đến xác suất phá sản ngân hàng Nghiên cứu cũng khẳng định việc tăng vốn chủ sở hữu là điều kiện tiên quyết

nhằm bảo vệ ngân hàng trước rủi ro khánh kiệt

Nguồn : Tổng hợp các nghiên cứu trước của tác giả

Trang 31

So sánh với những công trình nghiên cứu trước, nghiên cứu của tác giả có điểm

khác biệt là không chỉ đánh giá, phân tích các biến đặc trưng về tài chính mà còn bổ sung thêm các biến thể hiện đặc điểm của từng ngân hàng ảnh hưởng như thế nào đến rủi ro

vỡ nợ ngân hàng ở Việt Nam Từ đó, tìm kiếm mối quan hệ tác động cùng chiều hay ngược chiều của các biến này đến rủi ro vỡ nợ ngân hàng suốt giai đoạn nghiên cứu

So với các nghiên cứu trong nước, tác giả lựa chọn các biến đặc trưng riêng của nhóm ngân hàng để phân tích tác động đến rủi ro vỡ nợ ngân hàng Bên cạnh đó, để phù hợp với thực tế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam hiện nay, dữ liệu nghiên cứu được tác giả cập nhật mới hơn, cụ thể dữ liệu nghiên cứu được tác giả thu nhập trong giai đoạn từ 2011-2015 so với dữ liệu nghiên cứu của tác giả trước

2.5.1 Tăng trưởng tín dụng (LG)

Tăng trưởng tín dụng là đại diện quan trọng cho nguồn gốc rủi ro của ngân hàng (Foos , 2010) Tăng trưởng tín dụng cao trong quá khứ là nguyên nhân của rủi ro tổn thất tín dụng trong các năm tiếp theo đồng thời làm giảm tỷ lệ vốn và dẫn đến giảm khả năng thanh toán của ngân hàng

Các cuộc khủng hoảng tài chính thường có xu hướng bắt đầu bằng sự bùng nổ tăng trưởng tín dụng Tăng trưởng tín dụng nhanh chóng trong thập kỷ qua làm suy yếu hệ thống các ngân hàng Tăng trưởng tín dụng nhanh chóng có thể làm giảm chất lượng tín dụng, tăng rủi ro hệ thống và xấu đi tính lành mạnh của ngân hàng (Igan và Pinheiro, 2011)

Tăng trưởng tín dụng bất thường trong một thời gian dài sẽ dẫn đến sự tăng rủi ro của ngân hàng bắt nguồn từ việc giảm khả năng thanh toán và gia tăng tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ Theo Amador (2013), tăng trưởng tín dụng nóng đóng một vai trò cơ bản trong quá trình phá sản ngân hàng trong thời gian cuối năm 1990 của cuộc khủng hoảng tài chính ở Colombia mặc dù tăng trưởng tín dụng bất thường có thể có một tác động tích cực ngắn hạn về lợi nhuận

Trang 32

Tăng trưởng tín dụng của ngân hàng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến rủi

ro tín dụng ngân hàng Các ngân hàng có tỷ lệ tăng trưởng tín dụng bất thường cao thì có mức rủi ro cao hơn Điều này xuất phát từ lý do các ngân hàng có thể hạ thấp tiêu chuẩn cho vay của họ để tăng cho vay và cạnh tranh với các ngân hàng khác Đa số các lý thuyết và nghiên cứu nước ngoài đều chỉ ra rằng tăng trưởng tín dụng nóng, cao bất thường sẽ làm giảm chất lượng tín dụng, gia tăng nợ xấu dẫn đến làm gia tăng rủi ro ngân hàng

Trước khi hệ thống ngân hàng Việt Nam đối mặt với tình trạng nợ xấu, ngành ngân hàng Việt Nam đã trải qua giai đoạn tăng trưởng tín dụng nóng từ năm 2006-2010 với tốc độ duy trì khoảng 21,4% - 51,39% Theo nghiên cứu của Tô Ngọc Hưng và Nguyễn Đức Trung (2011) về hoạt động ngân hàng Việt Nam, hậu quả của việc theo đuổi tăng trưởng tín dụng cao những năm trước đó trong khi năng lực quản lý rủi ro của hệ thống ngân hàng còn thấp, cộng với những biến động bất lợi của nền kinh tế đã khiến cho

tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu tăng lên đáng kể trong năm 2011 Do đó tác giả cho rằng tốc độ

tăng trưởng tín dụng càng cao, rủi ro vỡ nợ ngân hàng càng lớn

2.5.2 Tỷ lệ dự phòng nợ xấu (LLR)

Một số nghiên cứu trước chỉ ra rằng tỷ lệ dự phòng nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay đồng biến với rủi ro vỡ nợ ngân hàng, nợ xấu càng tăng thì dự phòng tăng Điển hình là Jin, Kangaretnam & Lobo (2011) cho rằng có mối quan hệ tích cực mạnh mẽ giữa tăng

dự phòng rủi ro cho vay và khả năng đổ vỡ ngân hàng trong năm 2007 đến năm 2010

Tuy nhiên vẫn những quan điểm ngược lại: nghiên cứu Halling (2006) cho thấy tỉ

lệ dự phòng nợ xấu nghịch biến với rủi ro vỡ nợ của ngân hàng Quan điểm của Halling cho rằng ngân hàng có điều kiện tài chính tốt, thường chủ động tăng dự phòng, những ngân hàng đang gặp khó khăn sẽ giảm dự phòng đến mức thấp nhất, do đó nó có sự nghịch biến Tương tự, nghiên cứu của Cole và White (2011) cho thấy dự phòng rủi ro có tương quan nghịch với nguy cơ đổ vỡ ngân hàng trong cuộc khủng hoảng gần đây

Trang 33

Trong giai đoạn 2011- 2013, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ngân hàng tăng lên, làm gia tăng tỷ lệ dự phòng nợ xấu tại hầu hết các ngân hàng Tuy nhiên, những ngân hàng chủ động, mạnh dạng trích lập dự phòng rủi ro nợ xấu đã vượt qua giai đoạn khó khăn nhất và không bị buộc phải sáp nhập hay mua lại 0 đồng (tiêu biểu là Tien Phong Bank, NCB, Viet A Bank) Do đó, tác giả thiên về giả thuyết tỷ lệ dự phòng nợ xấu có mối liên hệ nghịch biến với rủi ro vỡ nợ ngân hàng

2.5.3 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)

Đa số đều đồng thuận về mối quan hệ nghịch biến giữa hiệu quả hoạt động ngân hàng được đo bằng tỷ suất lợi nhuận trên vốn tổng tài sản (ROA) và rủi ro vỡ nợ ngân hàng Nghiên cứu của Poghsyan và Cihak (2011) cho rằng các ngân hàng Châu Âu với thu nhập cao thì ít có khả năng trải qua rủi ro khánh kiệt trong năm sắp tới

2.5.4 Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (Net interest revenue - NIR)

Theo Logan (2001), tỷ lệ thu nhập lãi thuần trên tổng thu nhập quan hệ đồng biến với rủi ro vỡ nợ Sự phụ thuộc vào thu nhập lãi thuần làm tăng rủi ro ngân hàng Theo Halling (2006) cho rằng tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động chính trên tổng tài sản đồng biến với rủi ro ngân hàng Tuy nhiên cũng có ý kiến trái ngược, Kohler (2012) cho rằng các ngân hàng báo cáo lợi nhuận lãi thuần cao hơn thì ổn định hơn Thu nhập lãi thuần là một phần rất quan trọng đóng góp vào lợi nhuận của ngân hàng Thu nhập lãi thuần tăng chứng tỏ ngân hàng hoạt động hiệu quả, giúp tăng thêm lợi nhuận sau thuế ngân hàng, từ đó tăng trích lập các quỹ của tổ chức tín dụng và lợi nhuận giữ lại giúp VCSH của ngân hàng tăng lên và chống chọi rủi ro tốt hơn

2.5.5 Hiệu quả quản lý chi phí (CIR)

Nhiều nghiên cứu cho thấy sự quản lý chi phí kém hiệu quả là một nguồn gốc rủi

ro vỡ nợ ngân hàng Nghiên cứu gần đây sử dụng tỷ lệ chi phí trên thu nhập (Cost to income ratio – CIR) làm đại diện cho hiệu quả hoặc chất lượng quản lý (Poghosyan & Cihak, 2011; Louzis & cộng sự, 2012; Baselga – Pascual & cộng sự, 2013.) Trong lý thuyết “Bad Management I”, Louzis & cộng sự (2012) cho rằng hiệu quả quản lý chi phí

Trang 34

thấp có quan hệ đồng biến với sự gia tăng tỷ lệ nợ xấu trong tương lai, đó là quản lý

“kém” dẫn đến kỹ năng kém trong chấm điểm số tín dụng, thẩm định tài sản đảm bảo và giám sát của khách hàng vay

Filippaki & Mamatzakis (2009) sử dụng một mẫu gồm 251 ngân hàng niêm yết Châu Âu 1998-2006 để nghiên cứu về mối quan hệ hiệu quả ngân hàng bao gồm ba nhân

tố là hiệu quả quản lý chi phí, hiệu quả lợi nhuận, hiệu quả năng suất và rủi ro vỡ nợ ngân hàng Kết quả của tác giả cho rằng có mối quan hệ tích cực giữa hiệu quả và sự ổn định

tài chính ngân hàng, đồng thời rủi ro ngân hàng tăng lên khi hiệu quả thấp

Theo Baselga – Pascual & cộng sự (2013) đo hiệu quả quản lý chi phí bằng biến CIR = Tổng chi phí / Tổng thu nhập (đơn vị %) CIR càng cao đồng nghĩa với hiệu quả quản lý chi phí kém đi và ngược lại Do đó, nếu kỳ vọng hiệu quản quản lý chi phí nghịch biến với rủi ro vỡ nợ ngân hàng nghĩa là kỳ vọng CIR có mối quan hệ đồng biến với rủi

ro vỡ nợ ngân hàng

2.5.6 Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (Equity to assets- ETA)

Một trong những vấn đề đáng lưu tâm nhất của hệ thống ngân hàng trong vài năm gần đây là việc tăng và duy trì vốn chủ sở hữu ở mức thích hợp (Rose, 1998) Thuật ngữ

“vốn chủ sở hữu” có một ý nghĩa đặc biết đối với ngân hàng, đó là nguồn tiền được đóng góp bởi những người chủ ngân hàng, lợi nhuận chưa phân phối và các quỹ của ngân hàng Vốn chủ sở hữu giữ một số chức năng không thể thay thế trong hoạt động của ngân hàng như cung cấp nguồn lực ban đầu để giúp ngân hàng mới thành lập hoạt động, cung cấp nền tảng cho sự tăng trưởng và mở rộng, giúp ngân hàng chống lại rủi ro, duy trì niềm tin của công chúng và của các cổ đông vào khả năng quản lý và phát triển của ngân hàng Vốn chủ sở hữu đóng vai trò là một tấm đệm giúp chống lại rủi ro vỡ nợ vì vốn giúp trang trải những thua lỗ về tài chính và nghiệp vụ cho tới khi ban quản lý có thể tập trung giải quyết các vấn đề để đưa ngân hàng trở lại trạng thái hoạt động sinh lời

Vai trò quan trọng của vốn chủ sở hữu là rất cần thiết đối với sự hoạt động ổn định của ngân hàng và hệ thống tài chính Điều này cũng được thể hiện rõ trong các Hiệp

Trang 35

định Uỷ ban Basel (I, II, III) Các hiệp định Basel càng về sau càng được thiết kế chủ yếu

để tăng cường vốn cho ngân hàng từ đó giảm thiểu rủi ro của ngân hàng Trong đó, đáng chú ý là Basel III với nhiều đề suất mới về vốn, đòn bẩy và các tiêu chuẩn về tính thanh khoản để củng cố các quy định, giám sát và quản lý rủi ro của ngân hàng Theo Nguyễn Bảo Huyền (2013), Basel III đã thể hiện rõ quan điểm các ngân hàng phải tăng mức vốn

dự trữ, đặc biệt là vốn của các cổ đông hoặc của chủ sở hữu Có như vậy, các ngân hàng mới có thể tự thoát khỏi khủng hoảng thay vì phải phụ thuộc vào các gói giải cứu của chính phủ và sẽ phải thận trọng hơn trong cấp phát tín dụng

Các nghiên cứu trước đây đã tìm thấy tác động nghịch biến của vốn hóa lên rủi ro

vỡ nợ ngân hàng (Berger và De Young, 1997; Poghosyan và Cihak, 2011)

Mặc dù những nghiên cứu trước đây đều ủng hộ quan điểm về vai trò của vốn hóa

để giảm thiểu rủi ro ngân hàng Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Porter và Chiou (2012) lại cho rằng khi các ngân hàng tăng thêm vốn sẽ gia tăng đầu tư vào tài sản rủi ro hơn dẫn đến làm tăng danh mục tài sản rủi ro và hoạt động ngoại bảng

Các lý thuyết cũng cho thấy có mối quan hệ “hình chữ U” giữa vốn chủ sở hữu ngân hàng và rủi ro vỡ nợ ngân hàng, theo đó hòa hai quan điểm đối lập về tác động vốn ngân hàng lên rủi ro ngân hàng (Calem và Robb, 1999) Các ngân hàng có mức độ vốn thấp khi tăng vốn sẽ ít rủi ro hơn Tuy nhiên, khi vốn tiếp tục tăng, các ngân hàng cuối cùng đạt một điểm mà tiếp tục tăng vốn ngân hàng dẫn đến tăng nguy cơ rủi ro (Haq và

Heaney, 2012)

2.5.7 Đa dạng hóa thu nhập (Income diversification- ID)

Lý thuyết danh mục đầu tư dựa trên cơ sở của Diamond (1984) cho thấy rằng hiệu quả đa dạng hóa góp phần giảm thiểu rủi ro trong tất cả các loại của các công ty, bao gồm

cả trung gian tài chính Kolhler (2012), sử dụng một mẫu bao gồm một số lượng lớn của các ngân hàng nhỏ hơn chưa niêm yết và cho rằng có thể có lợi cho các ngân hàng khi tăng thị phần của thu nhập ngoài lãi và làm đa dạng hóa rủi ro

Trang 36

Hoạt động ngân hàng đã phát triển trong vài thập kỷ qua, kết quả là đa dạng hơn bảng cân đối Có rất nhiều hoạt động khác nhau cung cấp thu nhập ngoài lãi, chẳng hạn như chi phí, hoa hồng, thương mại Việc có tỷ lệ lớn hơn các hoạt động này trong danh mục đầu tư của ngân hàng thì ngân hàng càng đa dạng hơn (Baselga – Pascual & cộng sự, 2013)

Tuy nhiên, vẫn có quan điểm ngược chiều như là nghiên cứu De Jonghe (2010), các hoạt động ngân hàng truyền thống là ít rủi ro hơn Ông kết luận rằng các ngân hàng

có lãi tập trung vào các hoạt động cho vay đóng góp nhiều hơn vào sự ổn định hệ thống ngân hàng so với đa dạng hóa Trong thời gian từ cuối những năm 1970 đến năm 2001 thu nhập ngoài lãi của các ngân hàng Mỹ, đặc biệt là về doanh số giao dịch thương mại

rủi ro cao hơn

2.5.8 Quy mô ngân hàng (SIZE)

Có một lý thuyết phổ biến rằng các ngân hàng lớn có xu hướng rủi ro hơn do vấn

đề rủi ro đạo đức (De Jonghe, 2010) Theo lý thuyết này, các ngân hàng lớn hơn có thể được cuốn hút vào việc chấp nhận rủi ro, giảm kỷ luật thị trường và tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh, bởi vì các ngân hàng đó biết sẽ được giải cứu Trái ngược lại, có quan điểm cho rằng các ngân hàng lớn thường ít bị rủi ro do có năng lực quản lý và hiệu quả Quan điểm này được thể hiện bởi Salas và Saurina (2002) Các tác giả nêu rằng các ngân

hàng lớn có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư cho vay rủi ro hiệu quả hơn

2.5.9 Ngân hàng được niêm yết trên sàn chứng khoán (LIST)

Theo Kohler (2012), ngân hàng đã được niêm yết trên sàn chứng khoán có thông tin công khai, minh bạch hơn so với ngân hàng chưa niêm yết Việc niêm yết tạo điều kiện để ngân hàng huy động vốn và tạo thương hiệu tốt hơn trên thị trường Tuy nhiên, lòng tin của dân chúng và nhà đầu tư hiện nay đối với hệ thống ngân hàng là chưa cao, dễ

bị tác động bởi những tin đồn thất thiệt nên việc ngân hàng niêm yết cũng đối diện với

nhiều rủi ro như biến động giá cổ phiếu của ngân hàng, rủi ro thanh khoản…

Trang 37

Tóm tắt chương 2

Chương 2 đã trình bày những cơ sở lý thuyết về rủi ro, rủi ro vợ nợ ngân hàng và thang đo Z-core, 9 yếu tố nội tại ảnh hưởng đến rủi ro vỡ nợ ngân hàng bao gồm: Tăng trưởng tín dụng (Loan growth - LG), Tỷ lệ dự phòng nợ xấu (Loan loss reservers - LLR),

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (Return on Assets - ROA), Tỷ lệ thu nhập lãi thuần

(Net interest revenue - NIR), Hiệu quả quản lý chi phí (Cost to income – CIR), Tỷ lệ vốn

chủ sở hữu trên tổng tài sản (Equity to assets – ETA), Đa dạng hóa thu nhập (Income diversification – ID), quy mô (SIZE), ngân hàng được hoặc chưa được niêm yết trên sàn chứng khoán (LIST) Ngoài ra, chương 2 còn trình bày các nghiên cứu thực nghiệm trước của các tác giả: Baselga-Pascual & cộng sự (2013), Lé (2013), Berger & các cộng sự (2013), Nguyễn Thanh Dương (2013) làm cơ sở để xây dựng mô hình và tiến hành thực hiện nghiên cứu này

Trang 38

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu sử dụng là phương pháp nghiên cứu định lượng, sử dụng

kỹ thuật phân tích hồi quy dữ liệu bảng (panel data) kết hợp phương pháp ước lượng GLS

để kiểm tra giả thuyết nghiên cứu đặt ra bằng phần mềm Stata

Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ báo cáo tài chính hợp nhất đã được kiểm toán, báo cáo thường niên của mỗi ngân hàng được công bố trên website ngân hàng, cafef.vn, bankers almanac,… Thông tin dữ liệu phân tích bao gồm các yếu tố đặc trưng nội tại của các ngân hàng Với mẫu 27 ngân hàng trong giai đoạn 2011-2015 (5 năm), số quan sát là

135

Bảng 3.1 Danh sách 27 ngân hàng được nghiên cứu

1 Ngân Hàng TMCP Đông Nam Á SEAB Seabank

2 Ngân Hàng TMCP Tiên Phong TPB TP Bank

3 Ngân Hàng TMCP An Bình ABB AB Bank

4 Ngân Hàng TMCP Việt Nam

5 Ngân Hàng TMCP Bản Việt VCAP Viet Capital Bank

6 Ngân Hàng TMCP Kiên Long KLB Kien Long Bank

7 Ngân Hàng TMCP Nam Á NAB Nam A Bank

8 Ngân Hàng TMCP Quốc Dân NCB National Citizen Bank

9 Ngân Hàng TMCP Phương Đông OCB Orient Commercial Bank

10 Ngân Hàng TMCP Quốc Tế VIB VIB

Trang 39

11 Ngân Hàng TMCP Việt Á VAB Viet A Bank

12 Ngân Hàng TMCP Xăng Dầu

13 Ngân Hàng TMCP Bưu Điện Liên

14 Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Công

15 Ngân Hàng TMCP Xuất Nhập

16 Ngân Hàng TMCP Phát Triển

Thành Phố Hồ Chí Minh HDB HD Bank

17 Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội SHB SHB

18 Ngân Hàng TMCP Á Châu ACB ACB

19 Ngân Hàng TMCP Hàng Hải Việt

20 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Việt

Trang 40

Việt Nam

26 Ngân Hàng TMCP Công Thương

27 Ngân Hàng TMCP Đầu Tư và Phát

Nguồn: tác giả tổng hợp

Quy trình phân tích dữ liệu được thực hiện như sau:

- Bước 1: thực hiện thống kê mô tả dữ liệu đã tổng hợp được và dựa vào ma trận hệ

số tương quan các biến, xem xét mối tương quan giữa các biến Kế tiếp, sử dụng kiểm định VIF (Variance Inflation Factor – VIF) để phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến bằng phần mềm Stata

- Bước 2: Thực hiện kiểm định F và kiểm định Hausman để lựa chọn một trong ba

mô hình OLS, FEM, REM

- Bước 3: Tiến hành kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi (kiểm định White) và kiểm định giữa các sai số không có mối quan hệ tương quan với nhau (kiểm định Wooldridge) Nếu xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi và hiện tượng

tự tương quan, tác giả sẽ dùng phương pháp GLS để khắc phục và xem xét tính phù hợp của kết quả cuối cùng

- Bước 4: Xác định kết quả cuối cùng của mô hình nghiên cứu, phương trình của mô hình nghiên cứu, đối chiếu với giả thuyết ban đầu, phân tích và thảo luận kết quả

Ngày đăng: 20/09/2020, 12:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w