Góp phần vào sự thành công của các nền kinh tế, tạo ra lợi thế cạnh tranh của của mỗi quốc gia không thể thiếu được vai trò vô cùng quan trọng của hệ thống tài chính – ngân hàng, đặc biệ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
PHAN KHÁNH HOÀNG
QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÔNG
CÓ TÀI SẢN BẢO ĐẢM ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG TMCP
NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH
TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
PHAN KHÁNH HOÀNG
QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÔNG
CÓ TÀI SẢN BẢO ĐẢM ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG TMCP
NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH
TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng
Mã số: 60 34 02 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS., TS HOÀNG THỊ THANH HẰNG
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Phan Khánh Hoàng
Ngày sinh: 10 tháng 10 năm 1995
Tên đề tài: “Quản trị rủi ro hoạt động cho vay không có tài sản bảo đảm
đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh TP Hồ Chí Minh”
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60 34 02 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS., TS Hoàng Thị Thanh Hằng
Luận văn này được thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng TP.Hồ Chí Minh
Tôi xin cam đoan luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất cứ một trường đại học nào Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong luận văn
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan của tôi
TP Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 10 năm 2018
Tác giả
Phan Khánh Hoàng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành được luận văn thạc sĩ của mình, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS., TS Hoàng Thị Thanh Hằng - người giảng viên đã tận tụy, nhiệt tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện thuận lợi, luôn động viên, giúp đỡ cho tôi trong quá trình nghiên cứu Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các thầy, cô giáo của Trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh, người phản biện độc lập và các thầy, cô giáo đã tham gia giảng dạy, góp ý, chỉnh sửa để luận văn của tôi được hoàn thiện như ngày hôm nay
Tôi xin cám ơn các đồng chí lãnh đạo, cán bộ công tác tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh TP Hồ Chí Minh đã hỗ trợ tôi về tài liệu, số liệu để nghiên cứu,…
Tôi cũng xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn luôn động viên, cổ vũ, hỗ trợ tôi những lúc khó khăn để tôi có thể vượt qua và hoàn thành luận văn thạc sĩ này
Xin trân trọng cảm ơn!
Phan Khánh Hoàng
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Tổng quan các công trình nghiên cứu trước 4
7 Đóng góp của đề tài 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA QTRR TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÔNG CÓ TSBĐ ĐỐI VỚI KHDN TẠI NHTM 7
1.1 Rủi ro của hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN tại các NHTM 7 1.1.1 Tín dụng ngân hàng và hình thức cho vay 7
1.1.2 Rủi ro cho vay không có TSBĐ đối với KHDN trong hoạt động kinh doanh ngân hàng 8
1.1.3 Cơ cấu rủi ro trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN của NHTM 9
1.1.4 Nguyên nhân của rủi ro trong hoạt động cho vay không có TSBĐ tại NHTM 11 1.2 QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN của NHTM 15 1.2.1 Khái niệm QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN của NHTM 15
1.2.2 Nguyên tắc QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN của NHTM 16
1.2.3 Nội dung QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN của NHTM 18
Trang 61.2.4 Chỉ tiêu đánh giá QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối
với KHDN của NHTM 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 40
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QTRR TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÔNG CÓ TSBĐ ĐỐI VỚI KHDN TẠI VCB HCM 41
2.1 Tổng quan về tình hình hoạt động của VCB HCM 41
2.1.1 Mô hình tổ chức bộ máy 41
2.1.2 Tổng quan hoạt động kinh doanh 41
2.2 Thực trạng QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ tại VCB HCM 41 2.2.1 Mô hình QTRR trong hoạt động cho vay 41
2.2.2 Quy trình QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ tại VCB HCM 43 2.2.3 Thực trạng QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN tại VCB HCM 56
2.3 Đánh giá thực trạng QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ tại VCB HCM 59 2.3.1 Những kết quả đạt được 59
2.3.2 Những hạn chế 61
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác QTRR cho vay tại VCB HCM 63
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QTRRTRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÔNG CÓ TSBĐ TẠI VCB HCM 69
3.1 Định hướng tăng cường QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ tại VCB HCM 69
3.1.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế tác động tới hoạt động cho vay và QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ tại VCB HCM 69
3.1.2 Định hướng công tác QTRR cho vay không có TSBĐ đối với KHDN của VCB HCM 70
Trang 73.2 Giải pháp tăng cường QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối
với KHDN tại VCB HCM 72
3.2.1 Hoàn thiện mô hình QTRR hoạt động cho vay tại không có TSBĐ đối với KHDN phù hợp với tiến trình phát triển 72
3.2.2 Đào tạo cán bộ làm công tác quản lý rủi ro 73
3.2.3 Tăng cường quản lý rủi ro ở cấp độ danh mục, ngành hàng 73
3.2.4 Nâng cao chất lượng kiểm tra, giám sát rủi ro cho vay 75
3.2.5 Hoàn thiện công tác đo lường rủi ro cho vay theo hướng lượng hóa 76
3.2.6 Hoàn thiện hệ thống thông tin tín dụng 79
3.2.7 Đảm bảo sự phối hợp giữa quản lý rủi ro cho vay và quản lý rủi ro tác nghiệp 79 3.3 Kiến nghị 79
3.3.1 Kiến nghị với Nhà Nước 79
3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO a Phụ lục số 01 e Phụ lục số 02 f Phụ lục số 03 g
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 BCLCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
2 BCTC Báo cáo tài chính
3 CBTD Cán bộ tín dụng
4 QHKH Quan hệ khách hàng
5 CĐKT Cân đối kế toán
6 CIC Credit Information Center: Trung tâm thông tin tín dụng
8 DNNN Doanh nghiệp nhà nước
9 FDI Foreign Direct Investment: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
16 NHTM Ngân hàng thương mại
17 NHTW Ngân hàng Trung ương
Trang 927 VĐT Vốn đầu tư
28 VAMC Vietnam Asset Management Company: Công ty Trách
nhiệm Hữu hạn Một thành viên Quản lý Tài sản của các
Tổ chức Tín dụng Việt Nam
29 XHTDNB Xếp hạng tín dụng nội bộ
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Chấm điểm phi tài chính 50 Bảng 2.2: Xếp hạng khách hàng 50
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Cấu phần Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ 46
Hình 2.2: Mục tiêu Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ 47
Hình 2.3: Quy trình vận hành Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ 47
Hình 2.4: Chấm điểm của Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ KHDN 48
Hình 2.5: Chấm điểm tài chính 49
Hình 2.6: Tổng điểm tài chính 49
Hình 2.7: Phân loại nợ theo điều 11 - Thông tư 02/2013/TT-NHNN 51
Hình 2.8: Phân loại nợ theo điều 10 - Thông tư 02/2013/TT-NHNN 52
Hình 3.1: Các cấu phần quản lý rủi ro chủ yếu 71
Hình 3.2: Định giá khoản vay trong mô hình xếp hạng tín dụng nội bộ 77
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới đang trở thành xu thế tất yếu đối với mỗi quốc gia, mỗi dân tộc hiện nay Gắn với quá trình trên là sự cạnh tranh mạnh mẽ trong phát triển kinh tế giữa các quốc gia, khu vực Góp phần vào sự thành công của các nền kinh tế, tạo ra lợi thế cạnh tranh của của mỗi quốc gia không thể thiếu được vai trò vô cùng quan trọng của hệ thống tài chính – ngân hàng, đặc biệt ở vai trò cung cấp vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh cho các chủ thể trong nền kinh tế của hệ thống các NHTM Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, các NHTM tại Việt Nam không ngừng gia tăng thị phần, mở rộng và nâng cao thêm các sản phẩm, dịch vụ để đa dạng hóa nguồn thu, tuy nhiên nguồn thu từ tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất xuất phát từ thực tế nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển nên nhu cầu vốn tín dụng để phục vụ sản xuất kinh doanh trở thành nhu cầu tất yếu Vì vậy, QTRR đối với hoạt động cho vay được xem là một trong những biện pháp trọng yếu để tồn tại và tăng trưởng bền vững của các NHTM
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt nam cung cấp, tính đến hết 31/12/2017 (NHNN, 2017), tỷ lệ nợ xấu của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam đạt mức 9,5%, giảm so với mức 11,9% tại 31/12/2016, tuy nhiên vẫn ở mức tương đối cao Việt Nam hiện nay đã dần áp dụng các chuẩn mực quốc tế trong QTRR của các NHTM, đặc biệt là việc kế thừa kinh nghiệm của các quốc gia phát triển trong việc
áp dụng mô hình đo lường rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel II của Ủy ban Basel QTRR hệ thống ngân hàng nói chung và QTRR tín dụng của từng ngân hàng nói riêng là vấn đề cần thiết
QTRR tín dụng là điều kiện tiên quyết để ổn định hoạt động và củng cố năng lực tăng trưởng cho hệ thống các NHTM tại Việt Nam nói chung và từng NHTM nói riêng Hiện nay có nhiều hình thức cấp tín dụng khác nhau như cho vay, bảo lãnh, bao thanh toán, chiết khấu Tuy nhiên, cho vay là hình thức cấp tín dụng tiềm
ẩn nhiều rủi ro nhất và ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài sản cũng như hoạt động của các NHTM, đòi hỏi các NHTM cần tập trung các nguồn lực về vốn và bộ máy quản trị để kiểm soát rủi ro, cân bằng giữa lợi nhuận và an toàn trong hoạt động
Trang 14Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) là một trong 4 NHTM hàng đầu tại Việt Nam tính về quy mô tổng tài sản cũng như hiệu quả hoạt động, trong đó, Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh của Vietcombank (VCB HCM)
là chi nhánh có quy mô lớn nhất và có hiệu quả kinh doanh tốt nhất toàn hệ thống Vietcombank Tính đến hết 31/12/2017, VCB HCM có hơn 1.000 nhân viên, tổng tài sản đạt trên 120.000 tỷ VND, dư nợ cấp tín dụng đạt 58.000 tỷ VND, lợi nhuận trước thuế và trước trích lập dự phòng đạt trên 2.300 tỷ VND VCB HCM tập trung chủ yếu vào phân khúc khách hàng là các doanh nghiệp có quy mô lớn, có hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ xuất nhập khẩu Phân khúc khách hàng này đa phần đều là các doanh nghiệp có uy tín và thương hiệu trên thị trường, có tài chính
và mô hình tổ chức quản lý tương đối minh bạch, đồng thời nhận được nhiều ưu đãi mời chào từ các ngân hàng hàng đầu cả trong nước và ngoài nước nhất là ưu đãi cấp tín dụng không có TSBĐ Vì vậy, VCB HCM tập trung nguồn lực chủ yếu vào hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với đối tượng KHDN, thể hiện ở dư nợ cho vay không có TSBĐ chiếm đến hơn 60% tổng dư nợ cho vay của VCB HCM Từ năm
2010, Vietcombank đã áp dụng mô hình xếp hạng tín dụng nội bộ kết hợp với các
mô hình định tính như 5C, SWOT trong phân tích, thẩm định tín dụng để đánh giá rủi ro tín dụng và ra quyết định cho vay, tuy nhiên việc nhìn nhận các rủi ro cũng như cách thức QTRR của hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN còn hết sức hạn chế trong thực tế Vì vậy, người nghiên cứu nhận thấy cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ hệ thống các lý thuyết, và phân tích thực trạng công tác QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN, từ đó nâng cao năng lực QTRR hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN tại VCB HCM
Xuất phát từ những lý do nêu trên, người nghiên cứu chọn đề tài: “Quản trị rủi ro hoạt động cho vay không có tài sản bảo đảm đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh TP Hồ Chí Minh” để nghiên cứu, đánh giá thực trạng nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác QTRR hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN của VCB HCM
Trang 152 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của đề tài là phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động QTRR tín dụng trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với doanh nghiệp tại VCB HCM, từ đó nhận thức rõ điểm hạn chế và mặt tích cực của công tác này
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận văn sẽ đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống QTRR hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với doanh nghiệp tại VCB HCM
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN có thể áp dụng trong thực tiễn tại VCB HCM
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu đề ra, nghiên cứu tìm cách trả lời các câu hỏi sau:
- Thực trạng công tác QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN tại VCB HCM?
- Để hoàn thiện công tác QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN thì VCB HCM cần thực hiện những giải pháp chủ yếu nào?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN
Trang 164.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào phân tích việc QTRR hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN có quan hệ tín dụng với VCB HCM trong giai đoạn 2012-2017
Dữ liệu tài chính của KHDN được thu thập từ báo cáo tài chính do KHDN cung cấp khi đề nghị vay vốn Các hệ số tài chính của khách hàng sẽ được tính toán dựa trên các công thức tài chính doanh nghiệp Các thông tin về giá trị cho vay, thời hạn vay, thời gian hoạt động, tình trạng sở hữu, các điều kiện cho vay kèm theo được lấy từ hệ thống quản lý dữ liệu khách hàng của Vietcombank
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp định tính thông qua:
- Thống kê mô tả, thu thập và xử lý số liệu mô tả mẫu nghiên cứu, từ đó phân tích thực trạng QTRR hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN tại VCB HCM
- Suy luận logic: quy nạp và diễn dịch, phân tích và tổng hợp, hệ thống hóa
6 Tổng quan các công trình nghiên cứu trước
Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến như:
1 Nguyễn Thị Thanh Huyền (2011), QTRR tín dụng doanh nghiệp theo mức
độ rủi ro khách hàng – kinh nghiệm quốc tế, Tạp chí ngân hàng, (7), tr.60-67
Trang 17Bài viết tập trung vào cách tiếp cận quản trị danh mục tín dụng doanh nghiệp căn cứ trên mức độ rủi ro tín dụng (rủi ro vỡ nợ) Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong quản trị tín dụng, góp phần tăng cường chất lượng tín dụng của danh mục tín dụng nói chung Công cụ quan trọng để thực hiện điều này là hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng và ước tính tổn thất rủi ro tín dụng
2 Phạm Thị Nguyệt, Hà Mạnh Hùng (2011), Nguyên nhân và những biểu hiện rủi ro tín dụng của NHTM, Tạp chí ngân hàng, (9), tr.29-33
Bài báo nêu lên các nghiên cứu về nguyên nhân tạo ra rủi ro tín dụng cũng như rủi ro hoạt động cho vay và một số dấu hiệu cơ bản để nhận diện rủi ro tín dụng
và hoạt động cho vay
3 TS Trần Huy Hoàng (2004), Hạn chế nguy cơ rủi ro hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam, Phát triển kinh tế, http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/10/11/1810/
Bài viết này phân tích các điểm yếu và nguy cơ rủi ro trong hoạt động tín dụng thời gian gần đây của các NHTM nhà nước dưới hai góc độ danh mục cho vay hiện tại và phương thức QTRR tín dụng
4 TS Bùi Diệu Anh (2012), Quản trị danh mục cho vay tại các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam, Luận án
Luận án tập hợp những lý luận về quản trị danh mục cho vay, phân tích thực trạng danh mục cho vay tại các NHTM Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2006 –
2010, từ đó chỉ ra những ưu điểm cũng như hạn chế và đề xuất những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động quản trị danh mục cho vay tại các NH TMCP ở Việt Nam
5 Nguyễn Thị Thanh Huyền (2012), Quản lý rủi ro tín dụng doanh nghiệp theo mức độ rủi ro khách hàng - Kinh nghiệm quốc tế
Bài viết tập trung nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về quản lý danh mục tín dụng doanh nghiệp theo mức độ rủi ro của khách hàng để rút ra những bài học cần thiết cho các NH TMCP Việt Nam
Trang 186 Trần Công Hòa, Đỗ Thị Trà Linh (2012), Xử lý rủi ro bằng biện pháp chuyển vốn vay ngân hàng thành vốn góp cổ phần - đôi điều bàn luận và khuyến nghị
Một trong những giải pháp để xử lý RRTD của các NHTM Việt Nam là chuyển vốn vay thành vốn góp cổ phần Bài viết đi sâu phân tích những vấn đề phát sinh khi thực hiện chuyển vốn vay thành vốn góp và đề xuất một số lưu ý khi thực hiện chuyển vốn vay thành vốn góp: kế hoạch kinh doanh của NH, bản chất và mức
độ rủi ro của khoản vốn NH nằm tại doanh nghiệp, mức giá để xác định chuyển đổi, quyền lợi và trách nhiệm khi trở thành cổ đông của doanh nghiệp và các khó khăn, thách thức phải vượt qua để bảo toàn vốn góp của mình tại doanh nghiệp
Các nghiên cứu trước mới chỉ nêu lên cách thức QTRR chung cho hoạt động tín dụng nhưng chưa đi sâu phân tích công tác QTRR hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN với các điều kiện đặc thù Trên cơ sở kế thừa kết quả những nghiên cứu trước đây, luận văn sẽ đi sâu, làm rõ thêm thực trạng của công tác QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ của KHDN Luận văn sẽ tập trung làm rõ các điểm khác biệt, điểm mới giữa việc QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ của KHDN so với quản trị tổng thể rủi ro của toàn bộ hoạt động tín dụng tại NHTM
Thứ ba, đề tài góp phần hoàn thiện công tác QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN tại VCB HCM
Trang 19CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA QTRR TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÔNG CÓ TSBĐ ĐỐI VỚI KHDN TẠI NHTM
1.1 Rủi ro của hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN tại các NHTM
1.1.1 Tín dụng ngân hàng và hình thức cho vay
Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010, cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác
Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 cũng quy định cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
Cho vay có các nội dung chủ yếu như sau:
- Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng tiền tệ;
- Người đi vay chỉ sử dụng tạm thời trong một khoảng thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay;
- Giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc bắt đầu cho vay hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức (lãi vay)
Như vậy, nghiệp vụ cho vay của NHTM là một hình thức cấp tín dụng, theo
đó, ngân hàng chuyển giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng với mục đích
và thời gian nhất định theo thỏa thuận, trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
Cho vay có nhiều hình thức khác nhau như: phân loại theo biện pháp bảo đảm có cho vay có TSBĐ, cho vay không có TSBĐ; phân loại theo loại hình khách hàng có thể chia ra cho vay đối với cá nhân và cho vay đối với pháp nhân (tổ chức, doanh nghiệp, ); phân loại theo mục đích sử dụng vốn có thể chia ra cho vay tiêu dùng, cho vay bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất, kinh doanh hoặc cho vay tài
Trang 20trợ đầu tư dự án, đầu tư tài sản cố định, ; phân loại theo phân khúc khách hàng có thể chia ra cho vay đối với khách hàng lớn, cho vay đối với khách hàng nhỏ và vừa,
Cho vay không có TSBĐ đối với KHDN của NHTM là hoạt động mà NHTM tài trợ vốn cho doanh nghiệp bằng một lượng tiền tệ nhất định, trong khoảng thời gian nhất định để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trên nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi vay đồng thời doanh nghiệp không phải thực hiện biện pháp bảo đảm cho khoản vay Đây là một sản phẩm đặc biệt dựa trên điều kiện cần là uy tín và vị thế đàm phán của doanh nghiệp trên thị trường tài chính kết hợp với điều kiện đủ là tính khả thi của phương án sản xuất, kinh doanh Ngân hàng thường hướng đến chính sách lợi nhuận tổng thể của KHDN như lợi nhuận đem lại
từ dòng tiền không kỳ hạn của khách hàng, doanh số thanh toán xuất nhập khẩu, doanh số mua bán ngoại tệ, phí dịch vụ, các sản phẩm bán chéo tổng thể, cho KHDN vì vậy ngân hàng chấp nhận rủi ro của việc không có TSBĐ khi cho vay các KHDN
1.1.2 Rủi ro cho vay không có TSBĐ đối với KHDN trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Cho vay là nghiệp vụ cơ bản của các NHTM, chiếm phần lớn tỷ trọng trong các hoạt động kinh doanh của NH cả về khối lượng công việc cũng như mức độ tạo
ra lợi nhuận Khác với các hình thức cấp tín dụng như bảo lãnh, tín dụng thư, chiết khấu, cho vay tác động trực tiếp đến tài sản của ngân hàng do ngân hàng phải chuyển giao một lượng tiền trên nguyên tắc có hoàn trả cho bên đi vay Thông thường, để mở rộng thị phần đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn, có năng lực tài chính tốt và có khả năng tiếp cận vốn dễ dàng, các ngân hàng phải chấp nhận rủi
ro, cung cấp sản phẩm cho vay không có TSBĐ cho các doanh nghiệp, kèm theo nhiều điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn vay, kiểm tra sau cho vay
Rủi ro trong hoạt động cho vay là khả năng mà khách hàng vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ cam kết đã thỏa thuận Tương tự như rủi ro trong hoạt động cho vay, rủi ro của hoạt động cho vay không có TSBĐ cho các doanh nghiệp đặc biệt hơn trong trường hợp xảy ra việc mất khả năng thanh toán nợ đến
Trang 21hạn của khách hàng, ngân hàng có nguy cơ mất toàn bộ số tiền cho vay do không có TSBĐ làm lá chắn rủi ro cuối cùng
Rủi ro hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN của NHTM có nhiều hình thái, mức độ khác nhau, tiềm ẩn trong suốt quá trình trước, trong và sau khi cho vay và biểu hiện ra bên ngoài là việc không thu hồi được một phần hoặc toàn bộ khoản vay
Hiện nay, các NHTM có nhiều phương thức mở rộng hoạt động kinh doanh khác nhau, nhưng cho vay đặc biệt là cho vay không có TSBĐ đối với KHDN vẫn
là nguồn cơ bản tạo nên thu nhập và cách thức nhanh nhất để các NHTM mở rộng quy mô kinh doanh Đặc biệt, ở những nước đang phát triển như Việt Nam, hoạt động cho vay nói chung và hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động của các NHTM, vì vậy rủi ro trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN là vấn đề cần được chú trọng quan tâm
1.1.3 Cơ cấu rủi ro trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN của NHTM
Cơ cấu rủi ro trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN của NHTM có thể chia thành hai phần bao gồm (i) Rủi ro giao dịch (Transaction risk)
và (ii) Rủi ro danh mục (Portfolio risk) (Bùi Diệu Anh, 2012)
1.1.3.1 Rủi ro giao dịch
Rủi ro giao dịch trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN của NHTM là rủi ro của từng khoản cho vay của NH khi quyết định cho vay doanh nghiệp mà không có TSBĐ Có thể xem rủi ro giao dịch là rủi ro cá biệt của từng khoản cho vay, phát sinh do sai sót ở các việc thẩm định và quyết định cho vay đối với từng khoản vay, do thiếu sót ở việc kiểm soát sau cho vay, hoặc do những cam kết ràng buộc trong hợp đồng cho vay thiếu chặt chẽ Rủi ro giao dịch trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN của NHTM bao hàm hai loại rủi ro là: rủi ro lựa chọn và rủi ro nghiệp vụ, trong đó:
- Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến quá trình thẩm định, phân tích doanh nghiệp của NH để quyết định có cho vay hay không đồng thời cho
Trang 22vay có hay không có TSBĐ NH có thể đưa ra lựa chọn sai lầm do hiện tượng “thông tin bất cân xứng” giữa NH và doanh nghiệp
- Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến quá trình tác nghiệp của từng khoản vay Cán bộ tín dụng trong quá trình giải ngân, giám sát theo dõi khoản cho vay có thể phát sinh các sai sót, dẫn đến thực hiện không đẩy
đủ hoặc vi phạm toàn bộ quy trình cho vay, tạo cơ hội nảy sinh các rủi ro
từ đạo đức của khách hàng
1.1.3.2 Rủi ro danh mục
Rủi ro danh mục là rủi ro liên quan đến sự kết hợp nhiều khoản cho vay trong danh mục cho vay của NH Nó có thể phát sinh do đặc thù cá biệt của từng khoản cho vay, chẳng hạn, cho vay không có bảo đảm rủi ro hơn cho vay có bảo đảm Hoặc phát sinh do thiếu đa dạng hóa danh mục cho vay Rủi ro danh mục được phân ra hai loại là rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk)
₋ Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt của mỗi chủ thể đi vay, mỗi ngành kinh tế, mỗi hình thức, phương thức cấp tín dụng Chẳng hạn như biến cố rủi ro từ thiên tai, mất mùa đặc trưng trong ngành nông nghiệp, hoặc yếu tố tồn kho ứ đọng trong ngành công nghiệp, xây dựng… Vì gắn liền với chủ thể/đối tượng được cho vay nên rủi ro nội tại là yếu tố không thể triệt tiêu được
₋ Rủi ro tập trung xuất phát từ việc NH tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số ít khách hàng, một số ngành kinh tế hẹp, một số loại hình cho vay hoặc một khu vực địa lý, đi ngược lại với nguyên tắc đa dạng hóa để phân tán rủi ro
Rủi ro danh mục có liên quan chặt chẽ với rủi ro giao dịch Rủi ro giao dịch lớn sẽ dẫn đến rủi ro danh mục gia tăng vì rủi ro của từng thành phần trong danh mục sẽ quyết định rủi ro của danh mục Tuy nhiên, không phải rủi ro giao dịch thấp thì rủi ro danh mục sẽ thấp vì mặc dù rủi ro giao dịch thấp nhưng danh mục cho vay lại thiếu đa dạng hóa, tập trung vào một số ngành nghề, lĩnh vực…
Trang 231.1.4 Nguyên nhân của rủi ro trong hoạt động cho vay không có TSBĐ tại NHTM
Rủi ro trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có thể xuất phát từ ba nguyên nhân: nguyên nhân từ phía khách hàng, nguyên nhân từ phía ngân hàng và nguyên nhân từ môi trường bên ngoài (Phan Thị Thu Hà, 2013)
1.1.4.1 Nguyên nhân từ khách hàng
₋ Sử dụng vốn sai mục đích
Các KHDN được NH cho vay không có TSBĐ thường là các khách hàng lớn, dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn vay và nhận được nhiều ưu đãi đặc biệt từ ngân hàng KHDN khi vay vốn NH đều có phương án sử dụng vốn cụ thể với mục đích nhất định nhằm phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh Cán bộ NH sẽ xem xét tính khả thi của các phương án đó và quyết định có cho khách hàng vay hay không Tuy nhiên có một số KHDN cố ý sử dụng vốn vay sai mục đích, làm giả bộ chứng
từ giải ngân hoặc giải ngân vốn vay thực hiện một số mục đích kinh doanh không nằm trong phương án mà NH đã xét duyệt, vì thế không đảm bảo được việc hoàn trả
nợ cho ngân hàng
₋ Khả năng quản lý kinh doanh kém
Đối với KHDN, khả năng quản lý là một yếu tố then chốt Nếu ban lãnh đạo chưa đủ kinh nghiệm quản lý điều hành trong lĩnh vực kinh doanh sẽ tiềm ẩn rủi ro khá lớn dẫn tới kinh doanh thua lỗ, từ đó không trả được nợ vay cho NH
₋ Tình hình tài chính của doanh nghiệp suy giảm
Các KHDN được NH cho vay không có TSBĐ thường là các doanh nghiệp
có quy mô lớn, luôn phát sinh không ngừng nhu cầu đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh Khi khách hàng đầu tư vượt quá khả năng tài chính của mình, quản lý không hiệu quả dòng tiền thu từ sản xuất, kinh doanh dẫn đến suy giảm thanh khoản hoặc thua lỗ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng trả nợ vay của khách hàng Độ rủi ro gia tăng do một số KHDN ghi chép không đầy đủ, chính xác, rõ ràng sổ sách kế
Trang 24toán, khiến số liệu kế toán được cung cấp mang tính hình thức Phân tích để ra quyết định cho vay của NH khi đó cũng thiếu tính chính xác
1.1.4.2 Nguyên nhân từ ngân hàng
₋ Quy trình cho vay chưa phù hợp hoặc hạ thấp điều kiện vay vốn
Để cho vay không có TSBĐ đối với KHDN thì điều kiện cần là uy tín và vị thế đàm phán của doanh nghiệp trên thị trường tài chính kết hợp với điều kiện đủ là tính khả thi của phương án sản xuất, kinh doanh Đặc biệt, dòng tiền từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của KHDN phải lưu chuyển tốt, đủ sức tài trợ nhu cầu đầu tư
và trả nợ vay đến hạn đúng hạn, đồng thời kế hoạch sản xuất, kinh doanh của KHDN hiệu quả, khả thi
Rủi ro sẽ xuất hiện khi NH chạy theo thị phần và lợi nhuận, cho vay nhiều ưu đãi nhất là cho vay không có TSBĐ đối với KHDN chưa đủ chuẩn, dòng tiền sản xuất, kinh doanh chu chuyển kém, kinh doanh kém hiệu quả Mặt khác quy trình cho vay chưa phù hợp, các bước trong quy trình chưa thực sự chặt chẽ tạo ra các kẽ
hở, lỗ hổng để khách hàng có thể lách luật, thiếu trung thực Đây là các nguyên nhân phát sinh và làm trầm trọng thêm rủi ro cho vay
₋ Công tác kiểm tra nội bộ lỏng lẻo
Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra của NHNN ở tính thời gian vì
nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm tra Nếu kiểm tra nội bộ được tiến hành thường xuyên, trong mọi vấn đề, mọi
bộ phận, lãnh đạo NH có thể sớm phát hiện được rủi ro, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra biện pháp khắc phục phù hợp
₋ Cán bộ thiếu đạo đức và/hoặc trình độ chuyên môn nghiệp vụ kém
Nguồn nhân lực luôn là một nhân tố quan trọng đối với một doanh nghiệp, đặc biệt với NH, vì đây là lĩnh vực kinh doanh nhiều rủi ro Tính phức tạp trong thẩm định, việc đánh giá các dự án/phương án vay vốn đòi hỏi CBTD phải có trình
độ chuyên môn, am hiểu về khách hàng, về các hoạt động liên quan đến việc sử dụng vốn vay Bên cạnh đó, cán bộ làm công tác tín dụng nếu không ý thức được
Trang 25trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp, không tuân thủ quy trình, nghiệp vụ nhằm mục đích gian lận, trục lợi sẽ là nguyên nhân dẫn đến rủi ro cho NH Đặc biệt, khi cho vay đối với KHDN không có TSBĐ nếu có rủi ro xảy ra sẽ không thể thu hồi được khoản vay đồng thời gây thiệt hại lớn do các khoản vay đối với các KHDN được áp dụng cho vay không có TSBĐ thường có giá trị lớn
₋ Thiếu sự giám sát và quản lý sau khi vay
Các NH thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát sau khi cho vay Khi dòng tiền từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của khách hàng bị suy giảm, nếu không kịp thời kiểm tra, giám sát, có biện pháp gia tăng tỷ lệ bảo đảm thì rủi ro mất vốn sẽ gia tăng Việc theo dõi hoạt động của khách hàng vay nhằm bảo đảm sự tuân thủ nghiêm ngặt các điều khoản đề ra trong hợp đồng cho vay giữa khách hàng - ngân hàng
₋ Sự hợp tác của các NHTM thiếu chặt chẽ
Các NH cần hợp tác với nhau khi một khách hàng vay vốn tại nhiều NH Khả năng trả nợ của một khách hàng đối với nhiều chủ nợ có mối quan hệ chặt chẽ Nếu thiếu trao đổi thông tin, các NH có thể cùng cho vay một khách hàng mà không được thường xuyên cập nhật thông tin, hoặc phải gia tăng chi phí để có cùng một thông tin Sự cạnh tranh không lành mạnh nhằm thu hút khách hàng giữa các NH khiến cho việc thẩm định khách hàng trở nên sơ sài và qua loa hơn Hơn nữa, nhiều
NH chạy theo lợi nhuận và thị phần chấp nhận rủi ro cao, bất chấp những khoản vay không lành mạnh, thiếu an toàn, sẵn sàng cho vay không có TSBĐ đối với các doanh nghiệp không đủ chuẩn
₋ Tập trung cho vay
Trong hoạt động của NH do những lý do nhất định nào đó, có thể NH quá tập trung cho vay vào một khách hàng (hoặc một nhóm khách hàng), tập trung vào một ngành nghề, một lĩnh vực hoặc một khu vực địa lý… Các đối tượng, các lĩnh vực, ngành nghề có mức độ tập trung cao, khi có biến động có thể là nguyên nhân gây ra rủi ro cho NH
Trang 261.1.4.3 Nguyên nhân từ môi trường bên ngoài
₋ Môi trường kinh tế không ổn định
Môi trường kinh tế là yếu tố chính quyết định tới định hướng kinh doanh và thành công hay thất bại của doanh nghiệp Môi trường kinh tế xã hội trong nước kết hợp với biến động từ nền kinh tế thế giới, là nguyên nhân làm phát sinh rủi ro trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt là hoạt động kinh doanh tiền tệ Hiện nay, thị trường thế giới biến động nhanh và khó dự đoán được, hậu quả tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế Trong nước, sự tấn công của hàng nhập lậu và thiếu quy hoạch, phân bổ đầu tư thiếu hợp lý đã dẫn đến khủng hoảng thừa về đầu
tư trong một số ngành Ngoài ra, sự thay đổi các mối quan hệ quốc tế, các quan hệ ngoại giao của chính phủ cũng là nguyên nhân gây ra rủi ro lớn cho hoạt động cho vay của NH Bên cạnh đó, hoạt động vay vốn phụ thuộc rất nhiều thói quen, truyền thống, tập quán của người dân Những yếu tố đó nhiều khi gây khó khăn và hạn chế
mở rộng hoạt động của các NH
₋ Môi trường tự nhiên biến đổi nhanh chóng
Ở Việt Nam, do thời tiết diễn biến phức tạp nên môi trường tự nhiên đươc coi là nguyên nhân gây ra rủi ro cho hoạt động kinh doanh của các NH khi cho vay đầu tư phát triển các thành phần kinh tế Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên là yếu tố khó dự đoán, nó thường xảy ra bất ngờ với thiệt hại lớn ngoài tầm kiểm soát của con người
₋ Môi trường pháp lý chưa đầy đủ và chồng chéo
Chính sách, quy định, luật lệ là những công cụ không thể thiếu để điều hành nền kinh tế, đảm bảo sự phát triển công bằng, hiệu quả và bền vững Hệ thống pháp luật của các nước đang phát triển thường được xây dựng dựa trên nhu cầu điều chỉnh của thực tế, nhưng đôi khi lại đi sau và kìm hãm sự phát triển Đồng thời, sự chồng chéo và tách rời một cách thiếu khoa học của nhiều cơ quan quản lý khiến hệ thống các quy định nhiều khi mâu thuẫn, gây khó khăn trong quá trình vận dụng Hoạt động kinh doanh của các NHTM liên quan đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, mang tính xã hội cao, kinh tế xã hội kém ổn định dẫn đến kinh doanh gặp nhiều khó
Trang 27khăn, NH gặp rủi ro trong việc thu hồi nợ
1.2 QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN của NHTM
1.2.1 Khái niệm QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN của NHTM
Rủi ro và lợi nhuận bao giờ cũng chứa đựng trong bản thân chúng hai mâu thuẫn: rủi ro càng cao thì lợi nhuận cao và ngược lại, để có lợi nhuận cao cần phải chấp nhận mức rủi ro cao Trong hoạt động kinh doanh NH cũng vậy, NH biết rằng cho vay là rủi ro, vậy tại sao ngân hàng lại cho vay để rồi phải QTRR?
Thứ nhất, rủi ro hàm chứa sự không chắc chắn, nếu biết chắc chắn cho vay sẽ mất vốn thì NH đã không cho vay Thứ hai, do rủi ro vừa tiềm ẩn thiệt hại vừa tiềm
ẩn lợi nhuận, NH cho vay là kỳ vọng tìm kiếm lợi nhuận Đặc biệt, các KHDN được
NH áp dụng chính sách cho vay không có TSBĐ thường là các doanh nghiệp có quy mô lớn, có địa bàn và thị trường kinh doanh rộng khắp, có mức độ sử dụng dịch
vụ ngân hàng cao, đem lại doanh số về tiền gửi, dịch vụ thanh toán, dịch vụ tài trợ thương mại, xuất nhập khẩu và cho vay ở mức độ cao cũng như đem lại lợi ích tổng thể lớn cho NH Vì vậy, các NH sẵn sàng đánh đổi rủi ro ở mức chấp nhận được, trong khả năng kiểm soát của NH để áp dụng chính sách cho vay không có TSBĐ đối với KHDN
Nhưng rủi ro của việc tìm kiếm lợi nhuận này là khả năng khách hàng không trả được vốn gốc và lãi Vì thế, cần phải QTRR để hạn chế tối đa thiệt hại, đồng nghĩa với việc tối đa hóa lợi nhuận
Theo quan điểm của luận văn, QTRR trong hoạt động cho vay không có
TSBĐ đối với KHDN của NHTM: là việc xây dựng chiến lược, chính sách và quy trình cho vay không có TSBĐ đối với KHDN, đề ra các tiêu chuẩn áp dụng việc cho vay không có TSBĐ đối với KHDN; tổ chức, điều hành, triển khai và thực hiện chiến lược, chính sách và các quy trình liên quan nhằm đảm bảo cho vay an toàn, hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất đặc biệt có biện pháp đối phó kịp thời trong trường hợp phát sinh rủi ro cho vay nhưng không có TSBĐ làm lá chắn rủi ro cuối cùng
Trang 281.2.2 Nguyên tắc QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN của NHTM
Ủy ban Basel về giám sát NH được thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các ngân hàng trung ương (NHTW) và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các NH vào thập kỷ 80 Ủy ban Basel không có bất kỳ một cơ quan giám sát nào, những kết luận của Ủy ban này không có tính pháp lý và yêu cầu tuân thủ đối với việc giám sát hoạt động NH Ủy ban Basel đã ban hành 17 nguyên tắc về quản
lý nợ xấu mà thực chất là đưa ra các nguyên tắc trong QTRR tín dụng, đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động cấp tín dụng Các nguyên tắc này tập trung vào các nội dung cơ bản sau:
₋ Xây dựng môi trường tín dụng thích hợp (3 nguyên tắc):
Hội đồng quản trị phải thực hiện phê duyệt định kỳ chính sách RRTD, xem xét RRTD và xây dựng một chiến lược xuyên suốt trong hoạt động của NH (tỷ lệ nợ xấu, mức độ chấp nhận rủi ro…) Ban điều hành có trách nhiệm thực hiện các định hướng mà hội đồng quản trị phê duyệt và phát triển các chính sách, thủ tục nhằm phát hiện, đo lường, theo dõi và kiểm soát nợ xấu trong mọi hoạt động, ở cấp độ của từng khoản tín dụng và cả danh mục đầu tư Các NH cần xác định và quản lý RRTD trong mọi sản phẩm của mình
Nguyên tắc 1: Phê duyệt và xem xét chiến lược RRTD theo định kỳ, xem
xét những vấn đề như: mức độ rủi ro có thể chấp nhận được, khả năng sinh lời
Nguyên tắc 2: Thực hiện chiến lược chính sách tín dụng, xây dựng các quy
trình, thủ tục cho vay đối với từng khoản vay cụ thể và toàn bộ danh mục nhằm xác định, đánh giá, quản lý và kiểm soát RRTD
Nguyên tắc 3: Xác định và quản lý RRTD trong mọi hoạt động và mọi sản
phẩm của NH Đảm bảo mọi hoạt động đều được thực hiện đúng theo các thủ tục, quy trình kiểm soát thích hợp và được phê duyệt đầy đủ
₋ Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh (4 nguyên tắc)
Trang 29Các NH phải hoạt động trong phạm vi các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh được xác định rõ ràng Ngân hàng cần xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại khách hàng vay vốn và nhóm khách hàng vay vốn để tạo ra các loại hình rủi ro khác nhau nhưng vẫn có thể theo dõi được trên sổ sách kế toán kinh doanh, nội bảng và ngoại bảng Ngân hàng cần có quy trình rõ ràng trong việc phê duyệt các khoản tín dụng mới cũng như sửa đổi, gia hạn, tái cơ cấu, tái tài trợ cho các khoản tín dụng hiện tại
Nguyên tắc 4: Tiêu chuẩn cấp tín dụng đầy đủ gồm có: những hiểu biết về
người vay, mục tiêu, cơ cấu tín dụng và nguồn thanh toán
Nguyên tắc 5: Thiết lập hạn mức tín dụng tổng quát cho từng khách hàng
riêng lẻ, nhóm những khách hàng vay có liên quan với nhau, trong và ngoài bảng cân đối kế toán
Nguyên tắc 6: Có các quy trình rõ ràng được thiết lập cho việc phê duyệt các
khoản tín dụng mới, gia hạn các khoản tín dụng hiện có
Nguyên tắc 7: Việc cấp tín dụng cần phải dựa trên cơ sở giao dịch thương
mại, quản lý chặt chẽ các khoản vay đối với các doanh nghiệp và cá nhân có liên quan, làm giảm bớt rủi ro trong cho vay
₋ Duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp (10 nguyên tắc)
Các NH cần có hệ thống quản lý một cách cập nhật đối với các danh mục đầu
tư có RRTD, cần có hệ thống theo dõi điều kiện của từng khoản tín dụng, bao gồm mức độ đầy đủ của dự phòng và dự trữ Khuyến khích NH phát triển và sử dụng hệ thống XHTDNB trong quản lý RRTD Ngân hàng cần có hệ thống thông tin và các
kỹ thuật phân tích để đo lường được RRTD trong mọi hoạt động nội và ngoại bảng; theo dõi cơ cấu và chất lượng của toàn bộ danh mục đầu tư tín dụng; khắc phục sớm đối với các khoản tín dụng xấu, quản lý các khoản tín dụng có vấn đề
Nguyên tắc 8: Áp dụng quy trình quản lý tín dụng có hiệu quả và đầy đủ đối
với các danh mục tín dụng
Trang 30Nguyên tắc 9: Có hệ thống kiểm soát đối với các điều kiện liên quan đến
từng khoản tín dụng riêng lẻ, đánh giá đầy đủ của các khoản dự phòng RRTD
Nguyên tắc 10: Xây dựng và sử dụng hệ thống đánh giá rủi ro nội bộ, hệ
thống đánh giá cần phải nhất quán với hoạt động của NH
Nguyên tắc 11: Hệ thống thông tin và kỹ thuật phân tích giúp ban quản lý
đánh giá RRTD cho các hoạt động trong và ngoài bảng cân đối kế toán
Nguyên tắc 12: Có hệ thống kiểm soát đối với cơ cấu tổng thể, chất lượng
của danh mục tín dụng
Nguyên tắc 13: Xem xét ảnh hưởng của những thay đổi về điều kiện kinh tế
có thể xảy ra trong tương lai
Nguyên tắc 14: Thiết lập hệ thống xem xét tín dụng độc lập và liên tục, cần
thông báo kết quả đánh giá cho hội đồng quản trị và ban quản lý cấp cao
Nguyên tắc 15: Quy trình cấp tín dụng cần phải được theo dõi đầy đủ, cụ
thể: việc cấp tín dụng phải tuân thủ với các tiêu chuẩn thận trọng, thiết lập và áp dụng kiểm soát nội bộ, những vi phạm về các chính sách, thủ tục và hạn mức tín dụng cần được báo cáo kịp thời
Nguyên tắc 16: Có hệ thống quản lý đối với các khoản mục tín dụng khi
phát hiện thấy có vấn đề
Nguyên tắc 17: Phải có một hệ thống hữu hiệu để xác định, đo lường, theo
dõi và kiểm soát RRTD như là một phần của cách tiếp cận tổng thể về QLRR
Cho vay không có TSBĐ đối với KHDN là một hình thức cấp tín dụng đặc biệt, chứa đựng mức độ rủi ro cao do việc mất đi lá chắn cuối cùng khi xử lý rủi ro
là TSBĐ Vì vậy, việc QTRR cho vay không có TSBĐ đối với KHDN cần phải tuân thủ theo các chuẩn mực quốc tế để kiểm soát, quản trị hiệu quả rủi ro
1.2.3 Nội dung QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN của NHTM
Quy trình QTRR trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN
Trang 31của NHTM bao gồm 4 nội dung chính: nhận biết rủi ro; đo lường rủi ro; ứng phó
rủi ro; kiểm soát rủi ro Mặc dù có sự phân đoạn trong quy trình QTRR trong hoạt
động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN, nhưng các bước được phân ra trong quy trình phải luôn có sự liên hệ phổ biến, quan hệ hữu cơ với nhau, tạo thành một quá trình liên tục, xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN của NH
1.2.3.1 Nhận biết rủi ro
NH cần nhận biết rủi ro dưới góc độ từ phía NH và phía khách hàng:
Về phía ngân hàng: Rủi ro cho vay được thể hiện qua quy mô, cơ cấu khoản
vay, nợ quá hạn, nợ xấu và dự phòng rủi ro Do đó, khi các yếu tố này có xu hướng thiên lệch như: quy mô khoản vay tăng quá nhanh vượt quá khả năng quản lý của
NH hay cơ cấu khoản vay tập trung quá mức vào một ngành, một lĩnh vực rủi ro, hoặc là các chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu có dấu hiệu vượt qua ngưỡng cho phép, dự phòng rủi ro được sử dụng hết, NH đứng trước nguy cơ rủi ro
Về phía khách hàng: khi khách hàng có những dấu hiệu khó có khả năng trả
được nợ, tình hình tài chính xấu, nguy cơ rủi ro sẽ xảy ra Lúc đó, NH cần nhận biết được khả năng xảy ra rủi ro để ra quyết định kịp thời
Để nhận biết rủi ro, những công việc mà NH cần làm:
₋ Phân tích danh mục áp dụng chính sách cho vay không có TSBĐ của
NH
Phân tích chung toàn bộ danh mục áp dụng chính sách cho vay không có TSBĐ của NH theo các tiêu chí như ngành kinh tế, loại hình doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp để nhận biết những rủi ro về quy mô, cơ cấu cho vay, về ngành, về loại tiền mà NH có thể gặp phải khi áp dụng chính sách cho vay không có TSBĐ Một số ngành nghề như xây dựng, đóng tàu, bất động sản, có chu kỳ sản xuất, kinh doanh kéo dài, dòng tiền thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh để tài trợ cho nhu cầu trả nợ vay đến hạn phụ thuộc chính vào một số khách hàng làm tăng rủi ro thanh toán nợ đúng hạn do độ trễ về dòng tiền nên cần hạn chế áp dụng chính sách cho vay không có TSBĐ đối với các KHDN trong các lĩnh vực này Ngoài ra, một
số doanh nghiệp có quy mô nhỏ, lưu chuyển tiền tệ chậm, không có nguồn tài chính
dự phòng trong trường hợp dòng tiền thu từ sản xuất, kinh doanh về chậm cũng cần
Trang 32được thắt chặt chính sách cho vay không có TSBĐ Ngoài ra, cần kết hợp với dự báo kinh tế vĩ mô để đánh giá rủi ro chung của toàn bộ danh mục cho vay vì dù ngành nghề kinh doanh tốt, quy mô doanh nghiệp lớn, có hiệu quả tài chính tốt nhưng khi gặp phải các biến động kinh tế vĩ mô sẽ làm suy giảm khả năng tài chính của doanh nghiệp, từ đó làm cho các doanh nghiệp mất đi khả năng thanh toán nợ vay đến hạn
₋ Phân tích đánh giá khách hàng
Phân tích đánh giá khách hàng nhằm phát hiện các nguy cơ rủi ro trong từng khách hàng, từng khoản nợ cụ thể Phân tích đánh giá khách hàng được thực hiện từ khi bắt đầu tiếp xúc khách hàng, phân tích trong quá trình cho vay và phân tích sau khi cho vay Để có thể phân tích, đánh giá khách hàng cần:
Thu thập thông tin về khách hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định cho vay Hiện nay, việc khai thác thông tin về khách hàng thường dựa vào báo cáo tài chính trong những năm gần nhất của khách hàng Bên cạnh việc thu thập thông tin
từ khách hàng, cần thu thập thông tin từ đối tác của khách hàng, từ những NH mà khách hàng từng quan hệ và/hoặc đang quan hệ, từ CIC… Nội dung phân tích khách hàng theo các chỉ tiêu định lượng và định tính để có những kết luận chính xác
về tình trạng của khách hàng
Các chỉ tiêu định tính: Tiêu chí định tính là tiêu chí không lượng hóa bằng
con số mà chỉ phản ánh tính chất, đặc điểm của khách hàng Các tiêu chí này được thể hiện rõ nét qua phương pháp 6C
1 Character (Tư cách người đi vay): Đây là ý thức, trách nhiệm hoàn trả lại
khoản vay của người đi vay Đối với tiêu chí này, CBTD cần phải làm rõ mục đích xin vay của khách hàng là gì, xem xét về lịch sử đi vay và trả nợ đối với khách hàng cũ; đối với khách hàng mới cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác như CIC, từ ngân hàng khác, hoặc các cơ quan thông tin đại chúng… Bên cạnh đó, tư cách người đi vay còn thể hiện sự phân tích, dự báo về hoạt động kinh doanh của chủ doanh nghiệp Từ đó, NH xem xét tính hợp pháp, nghiêm túc và rõ ràng mục đích
có phù hợp với chính sách cho vay của NH hay không, có phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của khách hàng hay không và kế hoạch trả nợ của khách
Trang 33hàng… Nếu khách hàng thể hiện sự trung thực và cho thấy tính khả thi của dự án thì tư cách vay vốn được xác lập Đánh giá phẩm chất của một người mang tính khá chủ quan, đòi hỏi sự tiếp xúc lâu dài Đặc biệt, cho vay không có TSBĐ có mức độ rủi ro cao, nhất là khi phát sinh rủi ro sẽ không có TSBĐ làm lá chắn cuối cùng nên
ý thức chủ động trả nợ và sự tích cực hỗ trợ NH của KHDN cần phải đặt lên hàng đầu NH chỉ nên áp dụng chính sách cho vay không có TSBĐ đối với các doanh nghiệp có uy tín cao trong quá trình kinh doanh, có lịch sử thanh toán và lịch sử quan hệ tín dụng rõ ràng, nghiêm túc và có mức độ tín nhiệm cao trên thị trường
2 Capacity (Năng lực của người đi vay): Được xem xét để đánh giá khả năng
trả nợ của khách hàng Năng lực bao gồm: khả năng điều hành, quản lý, tình hình tài chính, sản phẩm đang kinh doanh, chức vụ hiện tại, mức lương Năng lực của người đi vay tùy thuộc vào quy định luật pháp của từng quốc gia Người đi vay phải
có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự CBTD phải chắc chắn rằng người xin vay đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng vay, người đại diện ký kết hợp đồng và các thủ tục liên quan phải là người được ủy quyền hợp pháp của công ty Một trong các yếu tố ảnh hưởng lớn đến mức độ rủi ro trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN chính là năng lực sản xuất, kinh doanh và năng lực tài chính của doanh nghiệp Các doanh nghiệp có năng lực sản xuất, kinh doanh tốt thường có tình hình tài chính tốt, có dòng tiền thu từ hoạt động kinh doanh thông suốt giúp bảo đảm khả năng trả nợ vay đúng hạn Năng lực tài chính tốt giúp cho doanh nghiệp duy trì năng lực sản xuất, kinh doanh của mình đồng thời tạo ra nguồn tài chính dự phòng để doanh nghiệp thanh toán nợ vay đúng hạn khi hoạt động sản xuất, kinh doanh gặp khó khăn Chỉ nên áp dụng chính sách cho vay không có TSBĐ đối với các doanh nghiệp có năng lực sản xuất, kinh doanh thật sự tốt, có năng lực tài chính tốt Việc cho vay không có TSBĐ đối với các KHDN có hoạt động sản xuất, kinh doanh suy giảm, có năng lực tài chính yếu thì
dù doanh nghiệp có quy mô lớn, có kinh nghiệm trong quản trị, điều hành, có uy tín trên thị trường và có các lợi thế đặc biệt trong kinh doanh là hết sức rủi ro đối với
NH Yếu tố năng lực của người đi vay nhất là năng lực sản xuất, kinh doanh và năng lực tài chính cần được CBTD thường xuyên kiểm tra, đánh giá thông qua việc phân tích tài chính và kiểm tra thực tế hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 343 Cash flow (Dòng tiền): CBTD của NH phải xác định được nguồn trả nợ của
KHDN như dòng tiền thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hay từ thu nhập, tiền từ bán thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán Ngân hàng ưu tiên hơn về khả năng trả nợ của khách hàng theo dòng tiền thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh Sau đó, NH phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp vay vốn thông qua các chỉ số tài chính: dòng tiền hiện tại và dự kiến; tính thanh khoản của tài sản lưu động; vòng quay nợ phải thu, phải trả và tồn kho; cơ cấu nguồn vốn, tình trạng vay nợ; kiểm soát chi phí; các tỷ lệ về khả năng trả lãi; khả năng và chất lượng quản
lý Những chỉ tiêu này thể hiện thu nhập, khả năng điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh và hoàn trả khoản vay của khách hàng
4 Collateral (Bảo đảm tiền vay): Yếu tố này được NH áp dụng cho toàn bộ
danh mục cấp tín dụng của mình, trong đó khách hàng được cấp tín dụng dựa trên giá trị TSBĐ: cầm cố, thế chấp, tín chấp, hay bảo lãnh từ bên thứ ba,…Việc nhận TSBĐ nhằm hai mục đích: thứ nhất là nếu người đi vay không trả nợ theo đúng thỏa thuận thì NH sẽ thanh lý tài sản đó để thu hồi nợ; thứ hai là để ràng buộc người vay phải có trách nhiệm nhiều hơn trong việc hoàn trả nợ vay để thu hồi TSBĐ của mình Đối với hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với KHDN, yếu tố này chỉ xuất hiện khi doanh nghiệp suy yếu năng lực sản xuất, kinh doanh, năng lực tài chính và khả năng trả nợ vay đến hạn buộc NH phải áp dụng chính sách bổ sung TSBĐ
5 Conditions (các điều kiện): Xem xét tác động bên ngoài ảnh hưởng thế nào
đến khách hàng? Đặt khách hàng vào các trường hợp rủi ro để đánh giá Tùy ngành nghề mà đưa ra các yếu tố khác nhau để đánh giá: ví dụ như doanh nghiệp thi công xây dựng sẽ ra sao nếu thị trường bất động sản đóng băng, người chăn nuôi gia cầm
sẽ ra sao nếu bị cúm H5N1,…
6 Control (kiểm soát): Đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của luật
pháp, quy chế hoạt động đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của khách hàng
- Các luật, qui định, qui chế hiện hành liên quan đến khoản cho vay đang được xem xét
- Đủ hồ sơ giấy tờ phục vụ cho công việc kiểm soát
- Hồ sơ giấy tờ cho vay, giải ngân phải có đầy đủ và phải được ký bởi các
Trang 35bên
- Mức độ phù hợp của khoản vay đối với qui chế, qui định của NH
- Ý kiến của các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật về môi trường của ngành, về sản phẩm, về các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến khoản vay
Ngân hàng tập trung vào những vấn đề như sự thay đổi của luật pháp có liên quan và quy chế hoạt động mới có ảnh hưởng xấu đến khách hàng không, nhu cầu vay vốn của khách hàng có đáp ứng được các tiêu chuẩn của NH không
Các chỉ tiêu định lượng: Trong hoạt động cho vay không có TSBĐ đối với
KHDN, một trong các yếu tố quan trọng nhất đó chính là năng lực tài chính của doanh nghiệp NH chấp nhận rủi ro để đổi lấy lợi ích tổng thể từ doanh nghiệp đem lại cho NH thông qua doanh số sử dụng dịch vụ và lợi nhuận Việc chấp nhận rủi ro này được các NH căn cứ trên cơ sở đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp Bên cạnh các yếu tố định tính, NH phải đưa ra các thước đo về tài chính doanh nghiệp cụ thể là chỉ số tài chính để đưa ra quyết định cho vay không có TSBĐ Dựa vào các báo cáo tài chính của doanh nghiệp và các nguồn thông tin khác, CBTD tiến hành các bước đánh giá định lượng như sau:
Thứ nhất, thu thập thông tin và phân tích tình hình tài chính khách hàng Nhóm chỉ tiêu về thu nhập
Doanh thu là một chỉ tiêu quan trọng nhằm đánh giá tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Để phản ánh sự tăng trưởng của doanh thu, người ta sử dụng chỉ tiêu thay đổi doanh thu
𝑻ỷ 𝒍ệ % 𝒕ă𝒏𝒈 𝒕𝒓ưở𝒏𝒈 𝒅𝒐𝒂𝒏𝒉 𝒕𝒉𝒖 = 𝑪𝒉ê𝒏𝒉 𝒍ệ𝒄𝒉 𝒅𝒐𝒂𝒏𝒉 𝒕𝒉𝒖 𝒏ă𝒎 𝒏𝒂𝒚 𝒗à 𝒏ă𝒎 𝒕𝒓ướ𝒄
𝑫𝒐𝒂𝒏𝒉 𝒕𝒉𝒖 𝒏ă𝒎 𝒕𝒓ướ𝒄
(1.1) Đây là hệ số tài chính cho thấy hiệu quả mở rộng kinh doanh của doanh nghiệp Doanh thu tăng trưởng qua các năm cho thấy quy mô kinh doanh và doanh
số của doanh nghiệp được mở rộng Doanh thu tăng trưởng là cơ sở để doanh nghiệp gia tăng thị phần, gia tăng lợi nhuận giúp củng cố năng lực tài chính của doanh nghiệp Khi doanh thu bị thu hẹp qua các năm tức tỷ lệ tăng trưởng doanh thu
âm qua các năm cho thấy quy mô kinh doanh, doanh số và thị phần của doanh nghiệp suy giảm Các NH sẽ căn cứ vào hệ số này để tính toán lại hạn mức cho vay phù hợp đối với doanh nghiệp đồng thời thay đổi chính sách từ cho vay không có TSBĐ sang cho vay có TSBĐ đối với doanh nghiệp để hạn chế rủi ro
Trang 36Chi phí của doanh nghiệp phản ánh cụ thể qua chỉ tiêu:
Lợi nhuận của doanh nghiệp: là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp, là căn cứ để xây dựng kế hoạch tài chính
Các nhóm chỉ tiêu cơ bản của lợi nhuận
Trang 37Nhóm chỉ tiêu thanh khoản
bù đắp thanh khoản làm gia tăng rủi ro khoản cho vay của NH Ngoài ra các hệ số thanh toán ở mức thấp hoặc suy giảm mạnh qua các năm cũng báo hiệu rủi ro suy giảm khả năng thanh toán NH cần thông qua hệ số thanh toán để đánh giá kịp thời khả năng trả nợ vay đến hạn của doanh nghiệp, từ đó đưa ra chính sách cho vay có hoặc không có TSBĐ phù hợp với từng doanh nghiệp tại từng hoàn cảnh, thời điểm
cụ thể
Nhóm chỉ tiêu cân nợ
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛ợ 𝑝ℎả𝑖 𝑡𝑟ả 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 =
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛ợ 𝑝ℎả𝑖 𝑡𝑟ả 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 × 100
(1.10)
𝑁ợ 𝑑à𝑖 ℎạ𝑛 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 =
𝑁ợ 𝑑à𝑖 ℎạ𝑛 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢× 100
Trang 39lưu động của doanh nghiệp trên 06 tháng, kéo dài dẫn đến gia tăng thời gian vay
vốn, gia tăng rủi ro theo thời gian của khoản vay thì các NH cần cân nhắc việc cho
vay không có TSBĐ Ngoài ra, các hệ số như vòng quay hàng tồn kho, vòng quay
khoản phải thu cũng giúp NH đánh giá hàng tồn kho, khoản phải thu của doanh
nghiệp có luân chuyển tốt không từ đó đánh giá được tổng thể khả năng sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp Năng lực sản xuất kinh doanh tốt, quá trình sản xuất,
kinh doanh luân chuyển nhanh là một trong các cơ sở để NH đưa ra quyết định cho
vay không có TSBĐ đối với KHDN
Thứ hai, xử lý thông tin
Sau khi thu thập thông tin, CBTD có nhiệm vụ sàng lọc nguồn thông tin đã
thu thập để phân tích, đánh giá khách hàng, khả năng tài chính của khách hàng, trên
cơ sở đó, xác định nguy cơ rủi ro đối với khách hàng để ra quyết định cho vay hay
từ chối cho vay, điều kiện cho vay nhằm hạn chế rủi ro CBTD cần nắm bắt kịp thời
các thông tin về tình hình tài chính, định hướng kinh doanh của doanh nghiệp để
đưa ra chính sách cho vay không có TSBĐ phù hợp với từng doanh nghiệp
Thứ ba, xác định các nguy cơ rủi ro của khách hàng
Có rất nhiều yếu tố có thể gây ra rủi ro đối với một doanh nghiệp Tuy nhiên
một doanh nghiệp thường không phải gặp tất cả các nguy cơ rủi ro mà chỉ có một số
nguy cơ rủi ro chính Vấn đề quan trọng là phải xác định được các nguy cơ rủi ro
chính đó là gì
1.2.3.2 Đo lường rủi ro tín dụng
Đo lường rủi ro là bước tiếp theo sau khi phát hiện được có nguy cơ rủi ro
Đo lường rủi ro khoản vay
Dựa trên hệ thống dữ liệu nội bộ để xác định khả năng tổn thất tín dụng:
EL = PD x EAD x LGD (1.16)
Trong đó:
₋ PD: Probability of Default – Xác suất khách hàng không trả được nợ;
₋ LGD: Loss Given Default – Tỷ trọng tổn thất ước tính;
Trang 40₋ EAD: Exposure at Default – Tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách
hàng không trả được nợ;
₋ EL: Expected Loss – Tổn thất có thể ước tính
Nguồn: Theo Basel II
Thứ nhất, PD - Xác suất không trả được nợ: cơ sở của xác suất này là các số
liệu về các khoản nợ trong quá khứ của khách hàng, gồm các khoản nợ đã trả,
khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được Theo yêu cầu của Basel II, để
tính toán được nợ trong vòng một năm của khách hàng, NH phải căn cứ vào số liệu
dư nợ của khách hàng trong vòng ít nhất là năm năm trước đó Những dữ liệu được
phân theo ba nhóm sau:
1 Nhóm dữ liệu liên quan đến các hệ số tài chính của khách hàng cũng như các
đánh giá của các tổ chức xếp hạng
2 Nhóm dữ liệu phi tài chính: năng lực quản lý, khả năng nghiên cứu và phát
triển sản phẩm mới, các dữ liệu về khả năng tăng trưởng của ngành,…
3 Nhóm dữ liệu mang tính cảnh báo: liên quan đến các hiện tượng báo hiệu
khả năng không trả được nợ cho NH như hạn mức thấu chi, số dư tiền gửi…
Từ những dữ liệu trên, NH nhập vào một mô hình định sẵn, từ đó tính được
xác xuất không trả được nợ của khách hàng
Thứ hai, EAD: Exposure at Default - Tổng dư nợ của khách hàng tại thời
điểm khách hàng không trả được nợ Đối với khoản vay có kỳ hạn, EAD được xác
định không quá khó khăn Tuy nhiên, đối với khoản vay theo hạn mức tín dụng, vay
tuần hoàn thì vấn đề lại khá phức tạp Theo thống kê của ủy ban Basel, tại thời điểm
không trả được nợ, khách hàng thường có xu hướng rút vốn vay tới mức gần xấp xỉ
hạn mức được cấp Do đó, ủy ban Basel II yêu cầu tính EAD như sau:
EAD = Dư nợ bình quân + LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân
(1.17) Trong đó, LEQ - Loan Equivalent Exposure - là tỷ trọng phần vốn chưa sử
dụng có nhiều khả năng sẽ được khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được
nợ “LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân” chính là phần dư nợ khách