So sánh giáo dục tiểu học Việt Nam và Nhật Bản
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG 1
SƠ LƯỢC BỐI CẢNH, SỰ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
TIỂU HỌC NHẬT BẢN VÀ VIỆT NAM
1 Bối cảnh, sự phát triển giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học
của Nhật Bản nói riêng
3
2 Bối cảnh, sự phát triển giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học
của Việt Nam nói riêng
2.3.2 Nội dung, phương pháp giáo dục tiểu học 20
CHƯƠNG 2
SO SÁNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC NHẬT BẢN VÀ VIỆT NAM NHữNG ƯU,
NHƯỢC ĐIỂM CỦA GIÁO DỤC VIỆ NAM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC TIỂU HỌC VIỆT NAM.
2.1 Các biểu bảng so sánh giáo dục tiểu học Nhật Bản và Việt Nam
2.1.1 Bảng so sánh phương pháp, yêu cầu của giáo dục tiểu học Nhật
Bản và Việt Nam
24
2.1.2 Số liệu so sánh chi tiêu cho giáo dục ở Nhật bản và Việt Nam 26
Trang 2NAM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHẤN ĐẤU CỦA VIỆT NAM.
29
3.1 Thành tựu của giáo dục Việt Nam nói chung và của tiểu học nói
riêng.
31
3.3 Những hạn chế của giáo dục Việt Nam nói chung và của tiểu học
nói riêng
33
3.4 Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên 34 3.5 Phương hướng phát triển giáo dục tiểu học Việt Nam 35 KẾT LUẬN 36
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Các bảng,
Bảng 1 2.1.1 Bảng so sánh phương pháp, yêu cầu của
giáo dục tiểu học Nhật Bản và Việt Nam 24
Bảng 2 2.1.3 Số liệu so sánh chi tiêu cho giáo dục ở
Biểu đồ 3 2.1.3 Biểu đồ so sánh số giờ học/năm của tiểu
Trang 3Biểu đồ 4 2.1.4 Biểu đồ so sánh tỉ lệ xóa mù chữ và phổ
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Giáo dục so sánh (Comparative Education) là một lĩnh vực nghiên cứukhoa học đã được thiết lập nhằm xem xét và tìm hiểu giáo dục trong một (hoặcmột nhóm) nước bằng cách sử dụng những số liệu và những nhận thức rút ra từthực tiễn trong một nước hoặc các nước khác Các chương trình và khóa họcGiáo dục so sánh được tổ chức ở nhiều trường đại học trên thế giới, và nhữngnghiên cứu quan trọng của Giáo dục so sánh được công bố đều đặn trên các tạp
chí khoa học như Comparative Education, International Review of Education, Comparative Education Review và International Journal of Educational Development Lĩnh vực của Giáo dục so sánh được hỗ trợ bởi nhiều dự án liên
quan đến tổ chức UNESCO và Bộ Giáo dục của nhiều nước
Giáo dục so sánh là một ngành khoa học, một khái niệm mới đối với nước
ta Nhưng giáo dục so sánh trên thế giới là một ngành khoa học đã có lịch sửphát triển từ rất lâu Nó là một ngành khoa học mà đối với mỗi một nước pháttriển hẳn không thể thiếu được Hầu hết các trường Đại học lớn ở các nước pháttriển, ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai đã thành lập những Trung tâm hoặcviện nghiên cứu, đào tạo về ngành giáo dục so sánh.…Ngày nay, giáo dục sosánh không thể thiếu đối với giáo dục mỗi quốc gia và đang phát triển mạnh mẽ.Từ việc so sánh mà mỗi nước có thể đưa ra những kinh nghiệm về giáo dục đàotạo, rút ra những ưu nhược điểm và đưa ra phương hướng phấn đấu của nước ta
2 Mục đích nghiên cứu của tiểu luận
Giáo dục so sánh là một lĩnh vực nghiên cứu riêng biệt và hữu ích Giáo dục sosánh ở Việt nam đang dần tự khẳng định mình và nó đã trở thành một vấn đềtrung tâm Hiện nay có nhiều ý kiến và sự nhấn mạnh khác nhau về các mục đíchcủa Giáo dục so sánh
Trang 5Do đó, việc học tập nghiên cứu môn giáo dục so sánh là một làm không thểthiếu đối mỗi người làm công tác giáo dục và các ngành có liên quan đến giáodục Vì mục đích của giáo dục so sánh mang lại cho chúng ta thật to lớn:
Giáo dục so sánh là hiểu biết tốt hơn về giáo dục địa phương của mình.Giáo dục so sánh phát triển cải tiến hoặc cải cách giáo dục ở nơi mình vànơi khác, ở trong và ngoài nước
Giáo dục so sánh là phát triển kiến thức, lý luận, nguyên tắc và quy luật vềgiáo dục nói chung và mối quan hệ giữa giáo dục và xã hội
Giáo dục so sánh là hiểu biết và hợp tác quốc tế hoặc quốc nội, giải quyếtcác vấn đề quốc nội, giải quyết các vấn đề giáo dục cũng như vấn đề khác liênquan đến hợp tác giáo dục
Vì Giáo dục so sánh có nhiều mục đích quan quan trọng như vậy nên cácnhà quản lý giáo dục cần phải nghiên cứu, so sánh các lĩnh vực giáo dục để thấyđược điểm mạnh, điểm yếu của giáo dục nước nhà để từ đó có phương hướngphát triển giáo dục trong giai đoạn tiếp theo Trong phạm vi bài tiểu luận, tác giả
xin đề cập đề tài: “So sánh giáo dục tiểu học Nhật Bản và Việt Nam từ đó rút
ra những ưu nhược điểm và phương hướng phấn đấu của giáo dục tiểu học Việt Nam”
Qua bài tiểu luận này tác giả mong muốn đưa ra những giải pháp cơ bản đối với
giáo dục tiểu học Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu về chương trình, phươngpháp giáo dục tiểu học Nhật Bản và Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Với xu hướng thu hẹp phạm vi của so sánh giáo dụcchuyển từ quốc tế sang quốc nội, và giải quyết những hạn chế của nền giáo dụctiểu học Việt Nam
Trang 64 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng lý luận về giáo dục so sánh, quản lý giáo dục trên lĩnh vựcGD-ĐT và sử dụng phương pháp thống kê chọn mẫu, phương pháp phân tíchđánh gia trên biểu đồ, phương pháp so sánh tổng hợp Tiểu luận đã sử dụng sốliệu thực tế để làm luận chứng đánh giá
5 Kết cấu của tiểu luận:
Ngoài lời nói đầu và kết luận, nội dung của Tiểu luận tập trung nghiên cứuvà phân tích được chia thành 3 chương và các vấn đề cụ thể như sau:
1.1.Vài nét giới thiệu Nhật Bản
- Diện tích : Trên đất liền: 37.790.697 km²
- Dân số : 12.796 triệu người tính đến tháng 3 năm 2011
- Thủ đô : Tokyo
- Ngôn ngữ chính : Tiếng Nhật
- Quốc khánh : 23/12/1933 (ngày sinh của Nhật Hoàng Akihito
- Đơn vị tiền tệ : Yên
Nhật Bản đã có người sinh sống ngay từ cuối thời kỳ đồ đá cũ Ngay sauthời kỳ băng hà cuối cùng, khoảng 12.000 trước công nguyên, hệ sinh thái phongphú trên quần đảo Nhật Bản đã giúp đẩy nhanh sự phát triển loài người, sản sinh
ra nền văn hóa đất nung nổi tiếng của thời kỳ Jomon Lịch sử Nhật Bản vớinhiều thời kỳ cô lập thay thế nhau bị gián đoạn bởi các ảnh hưởng cấp tiến,thường là cách mạng từ thế giới bên ngoài
Nền chính trị Nhật Bản được thành lập dựa trên nền tảng của một thể chế
Trang 7quân chủ lập hiến và cộng hòa đại nghị (hay chính thể quân chủ đại nghị) theođó Thủ tướng giữ vai trò đứng đầu nhà nước và chính đảng đa số Quyền hànhpháp thuộc về chính phủ Lập pháp độc lập với chính phủ và có quyền bỏ phiếubất tín nhiệm với chính phủ, trong trướng hợp xấu nhất có thể tự đứng ra lậpchính phủ mới Tư pháp giữ vai trò tối quan trọng và đối trọng với chính phủ vàhai viện quốc hội (the Diet) gồm thượng viện và hạ viện) Hệ thống chính trịNhật được thành lập dựa trên hình mẫu cộng hoà đại nghị của Anh quốc và chịuảnh hưởng mạnh mẽ từ các nước dân luật ở châu Âu, cụ thể là hình mẫu của nghịviện Đức Bundestag Vào 1896 chính quyền Nhật thành lập bộ luật dân sựMinpo dựa trên mô hình của bộ luật dân sự Pháp Mặc dù có thay đổi sau Thếchiến II nhưng bộ luật cơ bản còn hiệu lực đến nay.
Sau khoảng 10 năm hậu chiến, Nhật Bản đã đạt được các kỳ tích về kinh tếvà đời sống của nhân dân được nâng cao Bước phát triển kinh tế ngoạn mụcđem đến cho Nhật Bản vai trò quốc tế như một quốc gia thương mại và dần dầntrở thành nước có tiềm lực kinh tế đứng thứ hai trên thế giới, sau Hoa Kỳ
Chương trình đánh giá sinh viên của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECDhiện xếp Nhật Bản ở vị trí thứ sáu thế giới về kĩ năng và kiến thức của học sinhmười sáu tuổi
Tỷ lệ người mù chữ ở Nhật Bản bằng 0 và có 72,5% học sinh theo học lênbậc Trung cấp, Cao đẳng, Đại học Theo thống kê năm 2001 thì tỷ lệ học sinhvào đại học ở Nhật Bản là 48,6%, cao thứ 2 thế giới Tỷ lệ học cấp 3 là 96.9%,
do vậy nhiều người có chủ trương đưa giáo dục cấp 3 thành giáo dục bắt buộc
Trang 8Nhật Bản với khoảng hơn 1.000 trường Đại học và Cao đẳng, chính phủNhật Bản còn chú trọng đầu tư vào hệ thống giáo dục trung học chuyên nghiệp,trung học chuyên tu và các trường chuyên môn với mạng lưới dày đặc hơn 3.000trường.
Hệ thống giáo dục Nhật Bản hiện nay được biết đến ở “Hệ thống 6 – 3 – 3– 4″, nghĩa là 6 năm tiểu học, 3 năm trung học cơ sở, 3 năm trung học phổ thôngvà 4 năm Đại học được xây dựng trên nền tảng Luật giáo dục cơ bản xây dựng từnăm 1947 Luật quy định giáo dục nghĩa vụ là 9 năm cho nên nhà nước miễn phítiền học và mua sách giáo khoa và cấp phát miễn phí cho học sinh từ lớp 1 đếnlớp 9, giáo dục từ cấp 3 trở lên là không bắt buộc Còn bậc Đại học, quy địnhchung là 4 năm, nhưng với những ngành học như y khoa, thú y… thì hệ Đại họccó thể kéo dài đến 6 năm, hệ Cao đẳng thì từ 2 đến 3 năm
Sau khi hết trung học cơ sở, nếu không vào trường trung học phổ thông thì họcsinh vẫn có thể chọn lựa trường trung học chuyên tu, chuyên nghiệp để sớm cóđược kỹ thuật chuyên môn, đây cũng là sự lựa chọn của không ít giới trẻ NhậtBản
Để đáp ứng nhu cầu học ở bậc Đại học ngày càng tăng nhanh, kể từ nhữngnăm 50 (thế kỷ XX), Ở Nhật Bản đã hình thành các trường Đại học Dân lập Tuynhiên từ những năm 1970 trở lại đây, Nhật Bản đã có những chính sách cụ thể đểhạn chế sự cạnh tranh hỗn loạn của các loại hình dân lập này, bảo đảm chấtlượng của sinh viên đại học khi ra trường
Hiện nay Nhật Bản đang thực hiện các chính sách thu hút sinh viên nước ngoàiđến học tập Rất nhiều trường Dự bị được mở ra nhằm đáp ứng nhu cầu học tậpcho sinh viên nước ngoài như trường Kurume, Koiwa, Ngoại ngữ Osaka…Chínhphủ Nhật còn hỗ trợ cho lưu học sinh thông qua các chương trình học bổng nhưHọc bổng toàn phần, miễn học phí, hỗ trợ tiền thuê nhà, ăn ở… Ngoài ra, để hỗtrợ cho các chi phí như học phí, phụ phí và các khoản sinh hoạt phí, sinh viênđược phép làm việc bán thời gian và vay từ Tổ chức học bổng của chính phủ,
Trang 9ngoài ra còn có nhiều tổ chức khác từ chính quyền địa phương, cơ quan phi lợinhuận cũng góp phần không nhỏ về mặt tài chính hỗ trợ cho sinh viên.
Nhật Bản là một trong những đất nước có chất lượng học tập và chấtlượng giảng dạy tốt nhất thế giới, thành tích và năng lực của sinh viên các trườngkhác nhau không chênh lệch nhiều, hầu hết sinh viên đều nắm rõ và làm chủchương trình học tập Chính phủ Nhật đang định hướng phương pháp giảng dạyhiệu quả, phù hợp nhất cho các giáo viên, giảng viên Nhật Bản đang cố gắngtừng bước để tiêu chuẩn hóa trình độ giáo viên Người dân Nhật rất không thícháp dụng phương pháp giảng dạy của nước ngoài mà muốn đưa ra phương phápcủa chính mình nhằm phù hợp nhất với lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội, lối sống,con người Nhật Bản Điều này đã tạo ra một nền giáo dục mang đặc trưng riêngcủa đất nước mặt trời mọc
Hiện nay, Chính phủ Nhật Bản đang tiếp tục đầu tư cho giáo dục nhằm đưaNhật Bản trở thành nước có hệ thống giáo dục phát triển nhất thế giới, tạo ra môitrường học tập lý tưởng nhất cho sinh viên Nhật và sinh viên nước ngoài
1.3 Giáo dục tiểu học của Nhật Bản
Trường công là dành cho tất cả mọi công dân đến tuổi đi học, chính quyềnquy định người sống ở địa bàn nào thì phải đi học ở trường dành cho địa bàn đó.Nếu không thích học trường công thì có thể chọn trường tư để thi vào và thi rấtkhó khăn, chi phí cao Chuyện học trường tư hay công hoàn toàn do điều kiệnkinh tế và mục tiêu giáo dục của mỗi gia đình quyết định.Trường tư thường xanhà, học sinh bé đã tự mình đi xe buýt, tàu điện đi học cũng là một cách rèn tínhđộc lập
1.3.1 Chương trình giáo dục tiểu học
Nhật Bản đã sớm có chính sách phát triển hệ thống giáo dục tiểu học bắt buộc và bình đẳng đối với tất cả trẻ em bắt đầu từ 6 tuổi, không phân biệt nam nữ, tôn giáo, thành phần xã hội Chính sách giáo dục bắt buộc cũng được thực thi và điều chỉnh theo từng giai đoạn thích hợp Số năm học bắt
Trang 10buộc được nâng dần từ 3-4 năm (1886) lên 6 năm vào năm 1908 Tỷ lệ nhập học bậc tiểu học đã đạt 99% (1899) Giáo dục bắt buộc và miễn phí 9 năm (hết trung học cơ sở) được thực hiện từ năm 1947 với việc ban hành Luật cơ bản
về Giáo dục và Luật giáo dục nhà trường Nhờ chính sách này mà ngay từ đầu thế kỷ 20, Nhật Bản đã sớm thực hiện thành công phổ cập tiểu học bắt buộc cho trẻ em trong độ tuổi Cấp tiểu học: từ lớp 1 đến lớp 6:
41 đến 45 học sinh chiếm 13% trong tổng số (cụ thể là: 44.004 lớp trong tổng sốlớp của toàn quốc là 330.324), trong khi đó các lớp có 7 học sinh hoặc ít hơn chỉchiếm 6% (19.998) Các trường tiểu học công ở những vùng hẻo lánh được chínhquyền địa phương thiết lập là những trường được quan tâm đặc biệt Các trườngnày chiếm 19% (4.720) trong tổng số Nhiều trường như vậy đã tổ chức các lớphọc ghép các trình độ khác nhau do có ít học sinh
Bộ Giáo dục quy định số giờ học hàng năm cho mỗi khối lớp Hiện nay, sốgiờ học quy định cho khối lớp 1 , 2 và 3 là 850, 910 và 980 Cho các khối từ lớp
4 đên lớp 6 là 1.01 5 ở các truờng trung học bậc thấp, số giờ học hàng năm chocác khối lớp đều là 1.015
Trang 11Để đáp ứng yêu cầu này, tất cả các trường công đều có tổng số ngày giảngdạy trên lớp ít nhất là 210 ngày, hoặc hơn 35 tuần Có nhiều trường đề ra số ngàyđến trường hàng năm là 220 ngày hoặc hơn Trong chương trình giảng dạy sắptới, số ngày đến trường hàng năm có thể là 39 tuần hoặc hơn.
Trong hầu hết các trường học, học sinh lớp trên học 6 tiết mỗi ngày từ thứhai đến thứ sáu, riêng ngày thứ bảy học từ 2 đến 4 tiết Tuy số ngày đến trườnghọc tập cho mọi khối lớp đều như nhau nhưng các lớp thấp hơn học ít tiết hơn.Chẳng hạn, một trường tiểu học điển hình ở Tokyo cho học sinh lớp một học 5tiết mỗi ngày từ thứ hai đến thứ sáu
1.3.2 Nội dung, phương pháp giáo dục tiểu học
* Năm học ở Nhật bắt đầu từ tháng 4 khi hoa đào nở rộ các sân trường,
kết thúc vào trung tuần tháng 3 Mỗi năm có 3 học kỳ.Học kỷ 1 từ tháng 4 đếngiữa tháng 7, học kỳ 2 từ tháng 9 đến giữa tháng 12, học kỳ 3 từ trung tuần tháng
1 đến giữa tháng 3
* Cơ cấu giáo viên: bộ máy nhà trường gọn nhẹ, mỗi giáo viên đều kiêm
luôn nhiều thứ không chỉ là dạy cho nên không cần các nhân viên theo kiểu ngồichơi xơi nước Mỗi người đều bận rộn, đầy ắp với những bổn phận và tráchnhiệm của mình Giáo viên nam và nữ khá đồng đều trong nhà trường
* Phương pháp giảng dạy: các thầy cô giáo được chủ động phương pháp
giảng dạy của mình miễn sao học sinh hiểu nội dung cần chuyển tải Phươngpháp dạy của mỗi giáo viên đều độc đáo, mang dấu ấn cá nhân và tạo sự khácbiệt thú vị cho học sinh Trong suốt buổi học hầu như giáo viên gắn bó với lớp,hết môt tiết thì ở lại chuyện trò vui chơi hay lắng nghe một cách bí mật những gìđang diễn ra với học sinh của mình Trong thời gian học sinh ở trường, hầu nhưtrong văn phòng nhà trường không có bóng giáo viên Mọi người luôn luôn sẵnsàng giúp đỡ học sinh khi cần thiết Giáo viên khi dạy thường ăn mặc quần áo dễvận động , trừ khi cần thiết lắm mới mặc bộ vest, nhưng sau giờ cần phải mặc bộ
Trang 12đó thì lập tức thay ngay để năng động và linh hoạt Giáo viên tiểu học hầu nhưbao sân luôn cả thể dục, có khả năng dạy đơn sơ về nhạc, dạy luôn cả vẽ.
*Sách giáo khoa: sách giáo khoa cho trường tư và công khác nhau Và
một số môn thì sách giáo khoa môn đó của mỗi địa phương có nội dung khácnhau vì học sinh địa phương nào trước hết phải hiểu rõ nơi mình sống Nội dungsách giáo khoa thường dạy những điều thiết thực cho cuộc sống, những điềutưởng như không cần dạy: ví dụ tiền ở đâu ra, chi tiêu cần phải có kế hoạch thếnào
* Môn thể dục, nhạc, và họa: Ở tiểu học các môn này được dạy và học
đều đặn, quan trọng Trẻ con bốn mùa đều chỉ mặc áo cộc tay, quần cộc khi họcmôn thể dục, kể cả khi trời lạnh cắt da thì giờ thể dục cũng chỉ áo cộc, quần cộcnhư vậy, khi hoạt động thì cơ thể sẽ ấm lên Các trường đều có bể bơi để dạy cơbản về bơi cho học sinh, dù hiện tại chỉ mới học bơi ở trường vào mấy thángmùa hè, hầu nhưu chỉ tháng 6 và 7 Học nhạc và họa ở lớp cao hơn thì có giáoviên riêng dạy Thể dục thì vẫn là giáo viên chủ nhiệm kiêm nhiệm Mỗi năm ởtrường có Lễ hội Thê dục, cuộc chạy marathon, Biểu diễn văn nghệ, triển lãmtranh là những hoạt động thiết thực để việc học thể thao, âm nhạc và hội họa cóthêm những cột mốc, những động lực cho việc học các môn đó Biểu diễn vănnghệ là học sinh cả trường biểu diễn, mỗi khối lớp đều có tiết mục hát và tiếtmục nhạc, các học sinh có thể sử dụng các nhạc cụ cơ bản Phương pháp dạy vềthể dục, nhạc họa nhưu thế này góp phần tạo ra những thế hệ thể lực tốt, khảnăng cảm nhận âm nhạc, hội họa tốt cho thế hệ tương lai bởi vì được dạy bền bỉ,kiên trì từ bé
* Môn tiếng Anh: mọi người chú trọng môn tiếng Anh vì đó là ngôn ngữ
giao tiếp cho một thế hệ mà quan hệ quốc tế rất quan trọng, ở các lớp thấp thìtiếng Anh được dạy như là một hoạt động vui chơi để trẻ con quen với tiếngAnh, lớp 5 và 6 được dạy nhiều hơn nhưng nói chung ở cấp 1 thì chưa đặt nặngkiến thức mà chỉ làm quen, thích nghi với môn đó mà thôi Trong các trường tiểu
Trang 13học hầu như đều có giáo viên nước ngoài tới dạy tiếng Anh Ngoài ra các bậcphụ huynh cũng chú trọng cho con học thêm ở các trung tâm tiếng Anh.
* Xưng hô trong trường học: Tiếng Nhật thường dùng chữ san ở sau họ
của mỗi người để dùng trong giao tiếp hàng ngày, ví dụ Suzuki san, YamamotoSan trong giao tiếp của người lớn với nhau cũng vậy, trừ đặc biệt là sama vớinhững trường hợp đặc biệt tôn kính Trong trường học giáo viên thường gọi họcsinh bằng họ với chữ san đằng sau như vậy, nhưng cũng có lúc thân mật thì gọitên và đệm là kun( cho con trai), chan( cho con gái) Học sinh gọi sensei khi thưagửi với giáo viên
* Dạy trẻ với lao động: các em học sinh phải tất cả cùng nhau vệ sinh
phòng học, trường lớp sau mỗi giờ ăn trưa hàng ngày và vào ngày cuối của mỗihọc kỳ.Các em thay phiên nhau trực nhật đi nhận đồ ăn trưa về cho cả lớp, chiacho cả lớp và dọn dẹp Một số hoạt động như School festival cũng do học sinh tựlàm các đồ chơi, đồ vật sử dụng trong ngày đó
* Dạy trẻ biết cảm thông và sẻ chia với những số phận thiếu may mắn: trẻ con được giới thiệu về ngôn ngữ bằng tay và biểu cảm trên khuôn mặt,
em chẳng biết nói tiếng Việt ra là thế nào, nhưng hiểu nôm na theo tiếng Nhật thìđó là ngôn ngữ bằng tay, dành cho người bị câm điếc Được ngồi thử và đẩy thử
xe lăn để hiểu cảm giác của người tàn tật Trong trường có lớp học cho trẻ em cónhu cầu chăm sóc đặc biệt về sức khỏe, các em đó có lớp riêng nhưng có nhữnggiờ học sẽ học chung với các bạn bình thường Các hoạt động khác như hội diễnvăn nghệ, lễ hội thể thao thì các em lớp đó và các bạn bình thường tham gia cùngnhau Nhà trường có các vận động góp nắp chai để đổi thành vắc xin cho các bạnchâu Phi vv Những điều này tạo cho trẻ em hiểu biết về thế giới khác củanhững người kém may mắn để chia sẻ và giúp đỡ họ, không kỳ thị…
* Giáo dục phòng tránh thiên tai: Nhật là đất nước có nhiều thiên tai:
động đất, mưa bão vì vậy chuyện luyện tập phòng tránh thiên tai rất được chú
Trang 14trọng Nhà trường tổ chức luyện tập cho học sinh thường xuyên, từ khi còn ởmẫu giáo.
* Bài tập về nhà: ” Bài tập thường được thầy cô giáo in ra giấy A4,
thường thì mỗi ngày một vài trang, hay là làm luôn vào sách bài tập chữ Hán haytoán cũng chỉ 1 trang Ngày thứ 7 và Chủ Nhật và kỳ nghỉ Đông và Xuân thìchẳng có bài tập Kỳ nghỉ hè, có một ít bài tập trong hè, và bài tập tự nghiên cứuvề một đề tài gì đó mà trẻ con thích, hoặc làm một tác phẩm thủ công tự tay làmvì mùa hè hay được đi chơi đây đó thì sẽ tự gom nhặt làm luôn từ nguyên liệu tựnhiên hay sử dụng lon sữa, chai nước, giấy báo…
* Việc đi học: các trường quy định rõ tuyến đường đến trường cho học
sinh từng khối phố Mối sáng học sinh ở mỗi khối phố tập trung tại một địađiểm, học sinh lớn sẽ làm tổ trưởng và tổ phó đi khóa đầu và khóa đuôi ở giữa làcác em nhỏ xếp từ lớp 1 trở đi Tổ trưởng và tổ phó do nhà trường quyết định vàphải làm cả năm Khi đi học thì đi theo tổ như thế, khi về thì thường là theo lớp.Học sinh mới vào lớp 1 thì tháng đầu tiên sẽ được phụ huynh thay phiên nhau điđón, sau đó quen dần thì đi về cùng bạn Đi học và từ trường về nhà đều phải đitheo tuyến đường quy định, không được đi tắt
Điều này vừa luyện tính tự lập, vừa rèn luyện sức khỏe cho học sinh Phụ huynh
đỡ bị phiền hà chuyện đưa đón con
*Việc dạy thêm, học thêm: Ở Nhật có hệ thống các trường dạy thêm
nằm độc lập với các trường chính thống, nếu muốn đi học thêm thì có thể lựachọn trường dạy thêm nào phù hợp Giáo viên trường chính thống thì chỉ dạy ởtrường đó mà thôi, và dạy hết nội dung theo yêu cầu Giáo viên ở các trung tâmdạy thêm là nhân viên của các trung tâm đó Hai hệ thống giáo viên này hoàntoàn độc lập với nhau Nội dung dạy cũng khác, trung tâm dạy riêng có giáotrình riêng của họ Chuyện học thêm hay không, học ở đâu, học môn gì là hoàntoàn tự nguyện của học sinh và phụ huynh, nên một khi đã chọn học thêm thìphụ huynh và học sinh đều vui vẻ
Trang 15* Quan hệ giáo viên học sinh: quan hệ giáo viên và học sinh rất thoải
mái, học sinh chuyện trò đủ thứ với giáo viên và nói thẳng ý kiến của mình.Nếunhư ở VN, trong giờ học, thầy cô đã vào lớp thì học sinh im phăng phắc, thấy cônói gì thì chỉ biết nghe nhưng ở đây hơi khác, đôi khi vào lớp dẹp trật tự cho họcsinh hết cả hơi, thầy cô đưa ra ý kiến gì có khi học sinh phản biện lại cho đến khigiáo viên phải giải thích thấu tình đạt lý mới thôi
* Quan tâm tới nữ sinh: do đặc điểm khác biệt của nữ sinh, nên có những
vấn đề quan trọng với tâm sinh lý của nữ sinh thì các em được người có tráchnhiệm của trường dạy và phổ biến những kiến thức cơ bản về những thay đổitrong cơ thể nữ sinh cho các em được biết Trước những chuyến đi xa, các em nữlớp lớn còn được dặn rât cẩn thận mang theo gì đí, xử lý ra sao
* Quan hệ phụ huynh và nhà trường: Hầu như tất cả cha mẹ học sinh
đều tham gia hội cha mẹ học sinh – giáo viên (PTA) và nhà trường thường vàilần mời cha mẹ học sinh đến trường dự các hoạt động trong lớp học của con emmình Đôi khi, có trường còn chuyển các hoạt động trong tuần sang ngày chủnhật để các bậc cha mẹ đang đi làm cũng có điều kiện dự các buổi học của con
em mình Mỗi lớp đều có PTA ( Parent- Teacher Association)-hội phụ huynh đểcác phụ huynh tham gia hỗ trợ cùng nhà trường nhằm phục vụ cho học tập vàsinh hoạt của học sinh Ở trường lại có Tổng hội PTA như vậy, hàng năm mỗigia đình đóng góp 3000 Yên cho hoạt động của PTA Ở cấp 1 về nguyên tắc nếucó 01 học sinh theo học thì phụ huynh phải tham gia hội PTA đó 2 lần PTA hoạtđộng rất chặt chẽ và hiệu quả với nhà trường Mỗi học kỳ phụ huynh đến dự giờdạy của học sinh 2 lần( một lần đầu kỳ và một lần cuối kỳ), và hợp mặt với giáoviên phụ huynh khác lắng nghe, chia sẻ với nhau về chuyện học hành con cái,ngoài ra còn có họp riêng từng phụ huynh với giáo viên để được nghe riêng vềcon mình và đưa ra nhưng băn khoăn thắc mắc riêng với giáo viên Mỗi nămgiáo viên chủ nhiệm đến thăm nhà của mỗi học sinh để biết hoàn cảnh cụ thểmỗi em Ở đây giáo viên chẳng bao giờ nhận quà tặng gì của phụ huynh, phụ
Trang 16huynh chẳng lo quà cáp thăm viếng giáo viên, chỉ có mỗi cuối kỳ thì cả lớp sẽđóng 1 người 100 Yên để mua bó hoa tặng cho giáo viên khi tạm biệt một năm.
* Lớp học cho các bé có vấn đề về sức khỏe: điều cảm động và nhân văn
là trẻ em bị bệnh tật về thể chất, trí tuệ cũng được đến trường, có các giáo viênriêng chăm sóc, thậm chí 01 giáo viên cho 01 em nếu em đó bệnh quá nặng Các
em được học, gia đình được chia sẻ và cảm thông…
1.3.3 Phương pháp đánh giá kết quả học tập:
Thông thường các bài kiểm tra sẽ tính điểm mức điểm tối đa là 100, nhưngkhi đánh giá kết quả mỗi học kỳ thì có những tiêu chí và mỗi tiêu chí được chia
ra làm 3 mức: Cần cố gắng, Tốt, Rất tốt Bản báo cáo kết quả học tập được đưa
cho mỗi học sinh vào ngày cuối của mỗi học kỳ, của ai biết người đó Trong bảnbáo cáo đó giáo viên sẽ viết nhận xét chung của mỗi học kỳ, phụ huynh có ý kiếnvà trả lại cho giáo viên khi quay lại kỳ mới
2 Bối cảnh, sự phát triển giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học của
Việt Nam nói riêng
2.1.Vài nét giới thiệu về Việt Nam
- Đơn vị tiền tệ : Đồng (VNĐ)
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một quốc gia nằm ở phía đông bánđảo Đông Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á Việt Nam phía bắc giáp TrungQuốc, phía tây giáp Lào và Campuchia, phía tây nam giápvịnh Thái Lan, phíađông và phía nam giáp biển Đông và có hơn 4.000 hòn đảo, bãi đá ngầm lớnnhỏ, gần và xa bờ, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềmlục địa được Chính phủ Việt Nam xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền
Trang 17(khoảng trên 1 triệu km²) Trên biển Đông có quần đảo Trường Sa và Hoàng
Sa được Việt Nam tuyên bố chủ quyền nhưng vẫn đang bị tranh chấp với cácquốc gia khác như Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia và Philippines
Sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và Mặt trận dân tộc giảiphóng miền nam Việt Nam giành chiến thắng trướcViệt Nam Cộng hòa ở miềnNam ngày 30 tháng 4 năm 1975, hai miền Bắc-Nam được thống nhất Ngày 2tháng 7 năm 1976 nước Việt Nam được đặt Quốc hiệu là Cộng hòa Xã hội chủnghĩa Việt Nam
Việt Nam hiện nay là một nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa Hệ thốngchính trị đã thực hiện theo cơ chế chỉ có duy nhất một đảng chính trị là ĐảngCộng sản Việt Nam lãnh đạo, với tôn chỉ là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý vànhân dân làm chủ thông qua cơ quan quyền lực là Quốc hội Việt Nam Trên thựctế cho đến nay (2010) các đại biểu là đảng viên trong Quốc hội có tỉ lệ từ 90%trở lên[12], những người đứng đầu Chính phủ, các Bộ và Quốc hội cũng như các
cơ quan tư pháp đều là đảng viên kỳ cựu và được Ban Chấp hành Trungương hoặc Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đề cử
Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, chiếm khoảng14% tổng số dân của cả nước Dân tộcViệt (còn gọi là người Kinh) chiếm gần86%, tập trung ở những miền châu thổ và đồng bằng ven biển Những dân tộcthiểu số, trừ người Hoa, người Chăm và người Khmer phần lớn đều tập trung ởcác vùng miền núi và cao nguyên Trong số các sắc dân thiểu số, đông dân nhấtlà các dân tộc Tày, Thái, Mường, Hoa, Khmer, Nùng , mỗi dân tộc có dân sốkhoảng một triệu người Các dân tộc Brâu, Rơ Măm, Ơ Đu có số dân ít nhất, vớikhoảng vài trăm cho mỗi nhóm Có một số dân tộc thiểu số đã định cư trên lãnhthổ Việt Nam từ rất lâu đời, nhưng cũng có các dân tộc chỉ mới di cư vào ViệtNam trong vài trăm năm trở lại đây như người Hoa ở miền Nam Trong số cácdân tộc này, người Hoa và người Ngái là hai dân tộc duy nhất có dân số giảm
Trang 18trong giai đoạn 1999-2009 Việt Nam là một nước đông dân, tuy diện tích đứnghạng 65 nhưng lại xếp thứ 13 trên thế giới về dân số.
Theo các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộngsản Việt Nam: Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa ViệtNam chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạnghóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phươngchâm "Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nướctrong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển"
Trước năm 1986, Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế kế hoạch tươngtự nền kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa Chính sáchĐổi Mới năm 1986 thiếtlập mô hình kinh tế mà Việt Nam gọi là "Kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa" Các thành phần kinh tế được mở rộng nhưng các ngành kinh tế thenchốt vẫn dưới sự điều hành của Nhà nước Sau năm 1986, kinh tế Việt Nam đãcó những bước phát triển to lớn và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế trungbình khoảng 9% hàng năm từ 1993 đến 1997, đặc biệt là sau khi Hoa Kỳ dỡ bỏcấm vận với Việt Nam năm 1994 Tăng trưởng GDP 8,5% vào năm 1997 đãgiảm xuống 4% vào năm 1998 do ảnh hưởng của sự kiện khủng hoảng kinh tế Áchâu năm 1997, và tăng lên đến 4,8% năm 1999 Tăng trưởng GDP tăng lên từ6% đến 7% giữa những năm 2000-2002 trong khi tình hình kinh tế thế giới đangtrì trệ Hiện nay, giới lãnh đạo Việt Nam tiếp tục các nỗ lực tự do hóa nền kinh tếvà thi hành các chính sách cải cách, xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết để đổi mớikinh tế và tạo ra các ngành công nghiệp xuất khẩu có tính cạnh tranh hơn
Mặc dù có tốc độ phát triển kinh tế cao trong một thời gian dài nhưng dotình trạng tham nhũng không được cải thiện và luôn bị xếp hạng ở mức độ caocủa thế giới cộng với các khó khăn về vốn, đào tạo lao động, đất đai, cải cáchhành chính, cơ sở hạ tầng gây ra cho việc kinh doanh với hàng chục ngàn thủ tụctừ 20 năm trước đang tồn tại và không phù hợp với nền kinh tế thị trường nênvới con số cam kết đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) cao kỷ lục 61 tỉ USD
Trang 19năm 2008 chưa nói lên được mức độ tin tưởng của các nhà đầu tư quốc tế đối vớiViệt Nam và Việt Nam đang bị các nước trong khu vực bỏ lại khá xa, theo Báocáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới WB thì Việt Nam đã bịtụt hậu về kinh tế tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158năm so với Singapore.
2.2 Sự phát triển giáo dục ở Việt Nam
Giáo dục Việt Nam dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa ViệtNam (từ 1976 đến nay) Hệ thống giáo dục này là một sự tiếp nối của hệ thốnggiáo dục thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và thừa hưởng một phần di sản củanền giáo dục Việt Nam Cộng hòa Khi hai miền Nam và Bắc thống nhấtnăm 1976 thì khuôn mẫu giáo dục ở miền Bắc tiếp cận với hệ thống giáo dục đãđược thiết lập ở miền Nam; cụ thể nhất là học trình 10 năm tiểu học và trung họcở miền Bắc phải đối phó với học trình 12 năm ở trong Nam Hai hệ thống nàysong hành; Miền Bắc tiếp tục hệ 10 năm và miền Nam giữ hệ 12 năm từ năm
1976 đến năm 1986 thì cho áp dụng hệ 12 năm cho toàn quốc Năm 1975 cũnglà năm giải thể tất cả những cơ sở giáo dục tư thục từng hoạt động ở miền NamViệt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa
Năm 1988, Bộ Đại học ra Quyết định cho phép thành lập Trung tâm Đạihọc dân lập Thăng Long (hiện nay là Trường Đại học Thăng Long) như một môhình giáo dục đại học mới, đánh dấu sự ra đời của trường đại học dân lập đầutiên tại Việt Nam Tính đến hiện nay toàn Việt Nam có 81 trường dân lập, tưthục
Về nền giáo dục bậc đại học, hiện nay Việt Nam có tổng số 376 trường đại học,cao đẳng trên cả nước, trong đó bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý 54trường, các Bộ, ngành khác quản lý 116 trường, Các tỉnh, thành phố là cơ quanchủ quản của 125 trường Tổng số sinh viên bậc đại học hiện nay khoảng1.700.000 người, số lượng tuyển sinh hằng năm trong những năm gần đâykhoảng 500.000 người/kỳ thi Tuy nhiên đánh giá chung chất lượng đào tạo giáo
Trang 20dục bậc đại học ở Việt Nam còn thấp, chưa tạo được sự đồng hướng giữa ngườihọc, người dạy, nhà đầu tư cho giáo dục, người sử dụng lao động và xã hội.Quản lý nhà nước về giáo dục đại học còn nhiều trì trệ là nguyên nhân cơ bảncủa việc chất lượng giáo dục đại học Việt Nam ngày càng tụt hậu trước đòi hỏicủa phát triển đất nước.
Từ năm 2000-2007, nhiều học sinh ViệtNam đã đi du học ở các nước pháttriển như: Mỹ, Anh, Úc, Pháp, Đức, Nhật Riêng năm 2007 đã có 39.700 họcsinh đi du học
Nền giáo dục Việt Nam hiện nay đang cố gắng hội nhập với các nướctrong khu vực Đông Nam Á và trên Thế giới Ở Việt Nam có 4 cấp học: tiểuhọc, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại học và sau đại học Các trườngĐại học chủ yếu tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh
2.3 Giáo dục tiểu học của Việt Nam
Giáo dục rất được coi trọng ở xã hội Việt Nam và Chính phủ luôn luôn coigiáo dục là nguồn đầu tư trực tiếp cho tương lai Ưu tiên hàng đầu đã được đặt ralà cung cấp giáo dục cơ sở cho toàn bộ trẻ em và giáo dục/đào tạo trên mức cơbản cho những trẻ em thoả mãn những yêu cầu đầu vào
Mục tiêu của dự án giáo dục tiểu học nhằm nâng cao chất lượng và sự phù hợpcủa giáo dục tiểu học; khôi phục các cơ sở hạ tầng hiện có và mở rộng tiếp cậntới các cơ sở này và củng cố quản lý giáo dục tiểu học tại các trường, các cấphuyện, tỉnh và quốc gia
Nâng cao chất lượng và sự phù hợp của giáo dục tiểu học đạt được quaviệc xuất bản và phân phối sách giáo khoa, giới thiệu giáo trình theo ngày học vàniên học thống nhất và cung cấp các giáo cụ đơn giản Khôi phục các cơ sở hạtầng hiện có và mở rộng tiếp cận tới các cơ sở này bao gồm sửa chữa các trườnghọc và cung cấp nước, nhà vệ sinh, và bàn ghế lớp học
Tăng cường công tác quản lý giáo dục tiểu học tại các trường, quận/huyện,tỉnh và quốc gia bao gồm kiến thức căn bản tốt hơn cho các quyết định, thu thập