1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối quan hệ giữa các yếu tố tài chính và dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại việt nam

127 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 2,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời, đề tài tìm được bằng chứng mạnh mẽ về hoạt động “quản trị lợi nhuận” của các nhà băng tại Việt Nam thông qua công cụ dự phòng rủi ro tín dụng, và cho thấy mức độ quản trị lợi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN ĐỨC HIỀN

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC YẾU TỐ TÀI CHÍNH

VÀ DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG CỦA CÁC

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN ĐỨC HIỀN

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC YẾU TỐ TÀI CHÍNH

VÀ DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60 34 02 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Minh Hà

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015

Trang 3

TÓM TẮT

Nghiên cứu xác định ảnh hưởng của nhóm các yếu tố tài chính đến chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 2005-2014 bằng phương pháp hồi quy moment tổng quát sai phân của Arellano-Bond Kết quả chỉ ra rằng sự thay đổi dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng trong nước

có mối quan hệ cùng chiều với sự thay đổi của lợi nhuận trước thuế & dự phòng, thay đổi quy mô tài sản và thay đổi nợ xấu so với năm trước Đồng thời, đề tài tìm được bằng chứng mạnh mẽ về hoạt động “quản trị lợi nhuận” của các nhà băng tại Việt Nam thông qua công cụ dự phòng rủi ro tín dụng, và cho thấy mức độ quản trị lợi nhuận của các loại hình ngân hàng qua các thời kỳ kinh tế là khác nhau Từ đó, nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị đối với nhà quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng, những gợi ý đối với nhà đầu

tư và cơ quan giám sát khi xem xét công tác trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng Việt Nam thông qua các báo cáo tài chính được công bố hằng năm

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất cứ một trường

đại học nào Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên

cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các

nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong

luận văn

Tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với cam kết trên

Tác giả luận văn

Nguyễn Đức Hiền

Lớp CH15A

Trang 5

LỜI CÁM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn và cảm kích đến tất cả những người đã hỗ trợ và

giúp đỡ trong suốt thời gian qua để tác giả có thể hoàn thành luận văn này Trước hết,

tác giả xin gửi lời tri ân sâu sắc đến Thầy Nguyễn Minh Hà đã dành những khoảng thời

gian quý báu để chỉ dẫn và góp ý tận tình cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài này

Hơn nữa, nhờ những lời tư vấn cụ thể của Thầy đã giúp tác giả xác lập được định hướng

nghiên cứu và hiểu rõ về tầm quan trọng của việc trang bị một phương pháp nghiên cứu

đúng đắn

Luận văn này có thể sẽ không kịp hoàn tất nếu không có sự trợ giúp và động viên

thường xuyên của những người thân trong gia đình của tác giả Đặc biệt, tác giả rất biết

ơn những người phụ nữ thân yêu đã luôn hỗ trợ cả về mặt vật chất lẫn tinh thần trong

quá trình tác giả theo học cao học và thực hiện luận văn này Đó là Mẹ, Em gái và Vợ

của tác giả

Nhân đây, tác giả xin chân thành cảm ơn các quý thầy cô đã hết lòng truyền đạt

những kiến thức hữu ích cho tác giả trong hai năm học vừa qua, cùng lòng cảm kích đến

những người bạn và đồng nghiệp đã hỏi han, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tác

giả có thể thực hiện được luận văn này

Nguyễn Đức Hiền

Trang 6

MỤC LỤC

TÓM TẮT i

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CÁM ƠN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU ix

DANH MỤC HÌNH ẢNH VÀ BIỂU ĐỒ x

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Phương pháp nghiên cứu 5

1.6 Ý nghĩa và đóng góp của đề tài 5

1.7 Cấu trúc của luận văn 6

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 8

2.1 Rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại 8

2.1.1 Khái niệm 8

2.1.2 Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng 9

2.1.3 Biện pháp phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng 11

2.2 Dự phòng rủi ro tín dụng 12

2.2.1 Tổng quan về Dự phòng rủi ro tín dụng 12

2.2.2 Phân loại nợ và các quy định kế toán liên quan đến đến trích lập dự phòng 15

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến LLP 17

2.3.1 Nhóm các nhân tố tài chính 17

Trang 7

2.3.1.1 Lợi nhuận trước thuế & dự phòng rủi ro tín dụng 18

2.3.1.2 Quy mô tài sản của ngân hàng 18

2.3.1.3 Vốn chủ sở hữu so với tổng tài sản (Hệ số tự tài trợ) 19

2.3.1.4 Quy mô dư nợ 20

2.3.1.5 Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng 21

2.3.1.6 Nợ xấu 22

2.3.2 Nhóm các nhân tố khác 22

2.3.2.1 Loại hình ngân hàng thương mại 22

2.3.2.2 Ảnh hưởng của thời kỳ suy thoái 23

2.4 “Quản trị lợi nhuận” thông qua công cụ dự phòng rủi ro tín dụng 24

2.4.1 Định nghĩa “quản trị lợi nhuận” 24

2.4.2 Các phương thức quản trị lợi nhuận 25

2.4.3 Quản trị lợi nhuận thông qua công cụ dự phòng rủi ro tín dụng 27

2.5 So sánh với các mô hình nghiên cứu trước đây về dự phòng rủi ro tín dụng và “quản trị lợi nhuận” thông qua công cụ dự phòng rủi ro tín dụng 30

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

3.1 Thiết kế nghiên cứu 33

3.2 Các giả thuyết nghiên cứu 34

3.2.1 Giả thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến LLP 34

3.2.2 Các giả thuyết về mức độ “quản trị lợi nhuận” của NHTM 35

3.3 Mô hình nghiên cứu 36

3.3.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 36

3.3.2 Mô hình toán nghiên cứu 37

3.3.3 Các biến nghiên cứu và phương pháp đo lường 37

3.3.3.1 Biến phụ thuộc LLP 37

3.3.3.2 Các biến độc lập 38

3.3.4 Tổng hợp các biến tác động và kì vọng về dấu trong mối quan hệ với LLP 41

3.3.5 Mô hình hồi quy tổng thể 42

3.4 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 43

Trang 8

3.4.1 Mẫu dữ liệu quan sát 43

3.4.2 Cách thu thập dữ liệu cho bài nghiên cứu 46

3.4.3 Mã hóa dữ liệu 46

3.4.4 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu 48

3.4.4.1 Xác định và xử lý các điểm dị biệt trong dữ liệu 48

3.4.4.2 Kiểm định mối quan hệ tương quan và tầm ảnh hưởng của các biến 49

3.4.4.3 Phương pháp hồi quy 51

3.4.4.4 Các kiểm định đối với mô hình hồi quy 54

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 58

4.1 Thống kê mô tả 58

4.2 Sự tương quan giữa các biến trong mô hình 61

4.3 Ảnh hưởng tương tác và tầm ảnh hưởng của các biến trong mô hình 64

4.4 Kết quả ước lượng các mô hình hồi quy và kiểm định lựa chọn mô hình 66

4.5 Kiểm định các khuyết tật và xác lập mô hình kết quả 68

4.6 Thảo luận kết quả hồi quy 72

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 77

5.1 Kết luận 77

5.2 Các khuyến nghị và gợi ý chính sách 78

5.3 Những hạn chế của nghiên cứu 80

5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO a Danh mục tài liệu tham khảo tiếng Việt a Danh mục tài liệu tham khảo tiếng Anh d PHỤ LỤC o

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BCTC Báo cáo tài chính D-GMM Phương pháp hồi quy moment tổng quát sai phân của Arellano-Bond DOWNT Thời kỳ suy thoái EBTP Lợi nhuận trước thuế và dự phòng/Tổng tài sản

ER Vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản (Tỷ suất tự tài trợ) FEM Mô hình nhân tố tác động cố định GMM Phương pháp hồi quy moment tổng quát HoSE Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh HNX Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội IAS Chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế

LG Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng LLP Loan loss provision/Chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng

NA Không có thông tin NHTM Ngân hàng thương mại NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần NHTMCPNN Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước NHTMCPTN Ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân NHNN Ngân hàng Nhà nước NPL Tỷ lệ nợ xấu/Tổng tài sản Obs Số quan sát OLS Phương pháp ước lượng bình phương bé nhất OTC Sàn giao dịch phi tập trung Pooled OLS Phương pháp ước lượng bình phương bé nhất đối với dữ liệu bảng

Trang 10

PRF Mô hình hồi quy tổng thể REM Mô hình nhân tố tác động ngẫu nhiên RRTD Rủi ro tín dụng SIZE Quy mô (tài sản) của ngân hàng

TL Quy mô dư nợ cho vay/Tổng tài sản (Hệ số rủi ro tài chính) TMCP Thương mại cổ phần TYPE Loại hình ngân hàng thương mại VAMC Công ty Quản lý tài sản

Trang 11

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 So sánh nghiên cứu của tác giả (2015)* với các nghiên cứu tham chiếu 31

Bảng 3.1 Các giả thuyết của đề tài nghiên cứu 34

Bảng 3.2 Định nghĩa và kỳ vọng tác động của các biến trong mô hình hồi quy 41

Bảng 3.3 Danh sách các ngân hàng được chọn mẫu số liệu để nghiên cứu 44

Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 59

Bảng 4.2 Chỉ số LMG tính cho các biến trong mô hình (2 trường hợp) 66

Bảng 4.3 Kết quả ước lượng mô hình FEM & REM và kiểm định Hausman 67

Bảng 4.4 Kết quả kiểm định các khuyết tật của mô hình lựa chọn 69

Bảng 4.5 So sánh kết quả ước lượng mô hình GMM với các giả thuyết đặt ra 70

Bảng 4.6 Mức độ thay đổi của LLP khi EBTP tăng 1% so với năm trước 75

Trang 12

DANH MỤC HÌNH ẢNH VÀ BIỂU ĐỒ

Hình 2.1 Đồ thị phân phối xác suất của rủi ro tín dụng theo 2 dạng: có thể ước tính và

không thể ước tính 14

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu của đề tài 33

Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa LLP và các yếu tố tài chính 36

Hình 3.3 Lưu đồ xử lý và phân tích dữ liệu 48

Hình 4.1 Ma trận tương quan của các biến trong mô hình 61

Hình 4.2 Biểu đồ hình hộp thể hiện quan hệ giữa LLP với loại hình ngân hàng (TYPE) và thời kỳ suy thoái (DOWNT) 63

Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện tương quan giữa LLP & EBTP theo biến TYPE và DOWNT 64

Trang 13

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài

Ngân hàng thương mại (NHTM) là một loại hình doanh nghiệp đặc thù với hoạt động chủ yếu là “đi vay để cho vay” Vì vậy hoạt động tín dụng luôn là mảng chủ chốt của các nhà băng từ trước đến nay Tín dụng một mặt mang lại phần lớn lợi nhuận cho các ngân hàng song mặt khác lại chứa đựng nguy cơ tiềm ẩn mà các ngân hàng luôn phải đối mặt Đó chính là rủi ro tín dụng (RRTD) Giải pháp tài chính được các ngân hàng áp dụng là trích lập dự phòng nhằm chuẩn bị nguồn ngân quỹ cần thiết để bù đắp tổn thất

do RRTD gây ra Tuy vậy, công tác trích lập dự phòng thật ra chỉ là một nghiệp vụ kế toán, một giao dịch phi tiền mặt, còn số tiền thực tế (trong quỹ dự phòng) vẫn có thể được các ngân hàng đưa ra sử dụng cho hoạt động kinh doanh Khi một khoản nợ được chuyển từ trạng thái nợ quá hạn sang nợ đủ tiêu chuẩn, bút toán hoàn nhập dự phòng sẽ được thực hiện Do đó số dư dự phòng rủi ro tín dụng sẽ được điều chỉnh tùy theo tình hình nợ quá hạn của các ngân hàng

Mặt khác, việc trích lập dự phòng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ tiêu lợi nhuận ròng của các ngân hàng tại thời điểm lập báo cáo tài chính (BCTC) vì khoản dự phòng trích lập trong năm là một khoản mục chi phí tính vào kết quả kinh doanh Do đó, để đảm bảo mục tiêu gia tăng giá trị của ngân hàng đối với các cổ đông và nhà đầu tư thông qua việc duy trì một mức lợi nhuận ổn định trong nhiều năm, Gray và Clarke (2004) cho rằng nhà quản trị ngân hàng có khuynh hướng dự phòng rủi ro tín dụng linh hoạt Điều này nếu thực sự diễn ra trên diện rộng thì các số liệu từ BCTC của ngân hàng sẽ không còn phản ánh đúng với tình hình hoạt động thực tế của họ và do đó có thể gửi những tín hiệu sai lệch về tình hình ngành ngân hàng nói riêng và thị trường tài chính nói chung

Do vậy, việc đo lường dự phòng rủi ro tín dụng và xem xét các nhân tố ảnh hưởng là mối quan tâm lớn của các cơ quan kiểm tra giám sát hoạt động tài chính – ngân hàng và các đối tượng sử dụng BCTC của các nhà băng

Trang 14

Tình hình thực tế trong thời gian từ đầu năm 2015 trở lại đây đã cho thấy, các ngân hàng trong nước không còn công bố mức lợi nhuận cao như các năm trước mà chỉ công bố những mức lợi nhuận vừa phải, thậm chí giảm sâu so với cùng kỳ trước đây Mặc dầu vậy, khoản lợi nhuận trước thuế & dự phòng trên BCTC của các ngân hàng phần lớn đều tăng cao Điều đó có nghĩa là chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng (LLP) của các ngân hàng tăng lên rất mạnh so với trước đây Việc xem xét dữ liệu quá khứ của các NHTM trong thời gian qua để đưa ra những nhận định đúng đắn đối với tình trạng gia tăng trích lập dự phòng nêu trên không chỉ hữu ích đối với các nhà đầu tư mà còn đối với các nhà quản lý ngân hàng nhằm nhận diện và kiểm soát tốt hơn các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD và trích lập dự phòng của bản thân ngân hàng

Một khía cạnh nữa là về mặt nghiên cứu học thuật, trên thế giới đã có khá nhiều công trình đề cập đến tác động của các chỉ tiêu tài chính trong ngân hàng đến dự phòng rủi ro tín dụng và việc sử dụng công cụ này nhằm các mục đích quản trị lợi nhuận, quản trị vốn, tránh thuế và phát tín hiệu về triển vọng tương lai Ví dụ như các nghiên cứu của Ahmed và ctg (1999); Ashour (2011); Kim và Santomero (1993); Mohd (2011); Perez

và ctg (2006); Trong khi đó ở Việt Nam, tác giả hiện chỉ tìm thấy một vài nghiên cứu mới đây về mức độ dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong mối quan hệ với các nhân tố tài chính – đặc điểm hoạt động của ngân hàng, như các nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hiền và Phạm Đình Tuấn (2014), Nguyễn Thị Ngọc Diệp và Nguyễn Minh Kiều (2015)…

Tất cả những điều trên cho thấy việc nghiên cứu mối quan hệ này, đồng thời xem xét việc ngân hàng sử dụng công cụ dự phòng rủi ro tín dụng trong quản trị lợi nhuận là cần thiết và mang ý nghĩa về cả mặt lý thuyết lẫn thực tiễn

Nhận thấy được ý nghĩa và tính cấp thiết của vấn đề nêu trên, tác giả đã chọn chủ

đề: “Mối quan hệ giữa các yếu tố tài chính và dự phòng rủi ro tín dụng của các NHTM Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu Thông qua việc nghiên cứu mối tương quan đã nêu,

Trang 15

tác giả kỳ vọng rằng sẽ xác định rõ ràng hơn các nhân tố ảnh hưởng đến LLP và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này, đồng thời tìm thấy bằng chứng làm sáng tỏ vấn đề quản trị lợi nhuận thông qua công cụ LLP tại các NHTM nước ta trong thời gian qua

1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ những lý do lựa chọn đề tài đã nêu, các mục tiêu nghiên cứu được xác định như sau:

(1) Xác định mối tương quan giữa các nhân tố tài chính và dự phòng rủi ro tín dụng của các NHTM Việt Nam trong khoảng thời gian nghiên cứu

(2) Xác định mức độ tác động của các nhân tố này đến dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng

Ngoài ra, thông qua việc xác định các nhân tố tài chính ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng của các NHTM, đề tài cũng tìm kiếm bằng chứng về việc quản trị lợi nhuận của ngân hàng thông qua công cụ dự phòng rủi ro tín dụng Vì vậy một mục tiêu khác của đề tài là xác định xem các ngân hàng Việt Nam có sử dụng công cụ dự phòng rủi ro tín dụng để quản trị lợi nhuận hay không Đồng thời xem xét mức độ quản trị lợi nhuận của các loại hình NHTM (thông qua công cụ LLP) qua các giai đoạn khác nhau của nền kinh tế Từ đó, đề tài nêu lên những khuyến nghị đối với nhà quản trị ngân hàng

và những gợi ý thiết thực đối với các nhà đầu tư và cơ quan giám sát nhằm định hướng công tác trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của NHTM và kiểm soát tình trạng điều tiết lợi nhuận của các ngân hàng trong phạm vi cho phép

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Căn cứ vào các mục tiêu nêu trên, các câu hỏi nghiên cứu chính của đề tài là: (1) Các yếu tố tài chính và dự phòng rủi ro tín dụng của ngân hàng có mối quan

hệ với nhau hay không?

Trang 16

(2) Mức độ tác động của các yếu tố tài chính đến dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng như thế nào?

Ngoài ra, từ mục tiêu tìm kiếm bằng chứng về việc quản trị lợi nhuận của ngân hàng thông qua công cụ dự phòng rủi ro tín dụng, đề tài đi sâu nghiên cứu thông qua một

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa dự phòng rủi ro tín dụng với các yếu tố tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam hiện có chứng khoán niêm yết trên các Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HoSE), Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và sàn giao dịch phi tập trung (OTC) Trong đó gồm có 2 loại hình ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước (NHTMCPNN) và ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân (NHTMCPTN)

Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng và các chỉ tiêu về tài chính được tính toán từ BCTC của các NHTM ứng với khoảng thời gian từ 2005-2014 (10 năm) và được chia thành 2 giai đoạn: trước suy thoái (từ 2005-2009) và thời kỳ suy thoái (2010-2014)

Đề tài không đề cập đến các phương pháp đo lường dự phòng rủi ro tín dụng và không đi sâu nghiên cứu về việc sử dụng công cụ LLP để quản trị vốn và phát tín hiệu cho các nhà đầu tư Bên cạnh đó, đề tài cũng không tập trung nghiên cứu các giải pháp

mà chỉ đưa ra những khuyến nghị từ kết quả nghiên cứu nhằm góp phần hoàn thiện chính sách quản trị và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của NHTM hiện nay và những gợi ý

Trang 17

đối với cơ quan quản lý nhằm kiểm soát hiện tượng điều tiết lợi nhuận theo hướng tiêu cực của các ngân hàng

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng hai phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu định tính: phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài và tổng hợp những cơ sở lý luận cần thiết, từ đó xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng về mặt lý thuyết và chọn lọc được các biến số phù hợp cho mô hình Sau khi quá trình kiểm định hoàn tất và mô hình hồi quy cuối cùng được xác lập, đề tài áp dụng phương pháp so sánh, đánh giá và suy luận logic để phân tích kết quả nghiên cứu và đưa ra các khuyến nghị và gợi ý phù hợp

Nghiên cứu định lượng: được thực hiện dựa trên các số liệu tài chính thu thập từ các loại báo cáo của NHTM hàng năm Đề tài sử dụng phương pháp ước lượng theo các

mô hình phổ biến đối với dữ liệu bảng như: mô hình hồi quy tác động cố định (FEM, Fixed Effects Model), mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM, Random Effects Model), mô hình hồi quy moment tổng quát (GMM, Generalized Method of Moments) Các kiểm định và biện pháp khắc phục các khuyết tật được sử dụng để xác lập mô hình hồi quy tốt nhất phục vụ cho các mục tiêu nghiên cứu nhờ sự trợ giúp của phần mềm R

1.6 Ý nghĩa và đóng góp của đề tài

Đề tài góp phần hệ thống hóa các cơ sở lý luận và đưa ra cơ sở thực nghiệm về mối liên hệ giữa chi phí dự phòng rủi ro tín dụng (LLP) và các yếu tố tài chính của ngân hàng trong nước Bài nghiên cứu cũng nêu ra những khuyến nghị về việc theo dõi các nhân tố tài chính của ngân hàng qua các giai đoạn kinh tế khác nhau, đặc biệt là trong giai đoạn suy thoái nhằm điều hành tốt hơn chính sách quản trị rủi ro và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của bản thân NHTM

Trang 18

Cùng với những đóng góp kể trên, đề tài góp phần làm rõ hơn vấn đề “quản trị lợi nhuận” trong các ngân hàng hiện nay Không những vậy, đề tài còn cung cấp bằng chứng thực nghiệm để khẳng định xem liệu các ngân hàng thương mại Việt Nam có sử dụng công cụ LLP để quản trị lợi nhuận hay không và mức độ quản trị lợi nhuận giữa các loại hình NHTM như thế nào qua các thời kỳ kinh tế Từ đó đưa ra những gợi ý về mặt chính sách nhằm góp phần kiểm soát tình trạng điều tiết lợi nhuận và vấn đề công bố thông tin sai lệch của các ngân hàng thương mại trong nước

1.7 Cấu trúc của luận văn

Nội dung chính của luận văn gồm có 5 chương:

Chương 1: Giới thiệu

Chương này nêu lên những nét chính về công trình nghiên cứu, bao gồm: Lý do chọn đề tài, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm

vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và đóng góp của đề tài Ngoài ra, chương này cũng nêu rõ về cấu trúc luận văn và nội dung tóm lược của các chương trong

đề tài

Chương 2: Tổng quan lý thuyết về dự phòng rủi ro tín dụng và các nhân tố ảnh hưởng

Chương 2 trình bày nội dung cơ sở lý luận của đề tài, đầu tiên là tìm hiểu đôi nét

về RRTD, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng Kế đến, chương này tổng hợp cơ sở lý luận về các nhân tố tài chính ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng Đề tài cũng đề cập đến lý thuyết quản trị lợi nhuận và việc sử dụng công cụ dự phòng rủi ro tín dụng để quản trị lợi nhuận của các NHTM Sau cùng là tổng kết các mô hình nghiên cứu trước đây về LLP và “quản trị lợi nhuận” thông qua LLP để làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu ở chương tiếp theo

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Trang 19

Dựa trên cơ sở lý thuyết đã nêu ở chương 2, chương này đề cập đến mô hình nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu, công cụ nghiên cứu và kỹ thuật phân tích số liệu

đã được sử dụng trong luận văn nhằm thu được các kết quả phù hợp với mục tiêu đề ra

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 4 gồm các nội dung: thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu, phân tích tương quan giữa các biến trong mô hình, phân tích mức độ tác động của các nhân tố đến dự phòng rủi ro tín dụng, kết quả ước lượng mô hình hồi quy, kiểm định mức độ phù hợp của mô hình và các khuyết tật có thể có của mô hình để đưa ra mô hình tối ưu Đây là chương trọng tâm nhất của đề tài trình bày các kết quả và những phân tích về các nhân

tố tài chính ảnh hưởng dự phòng rủi ro tín dụng của các NHTM Qua đó cho thấy nhân

tố nào ảnh hưởng nhiều nhất đến dự phòng rủi ro tín dụng Từ các kết quả nêu trên, chương này cũng đưa ra mô hình hồi quy phù hợp thể hiện mối quan hệ giữa các nhân

tố tài chính và dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại

Song song với với việc xác định các nhân tố ảnh hưởng, một kết quả khác của chương này là bằng chứng thực nghiệm để xác định xem ngân hàng có sử dụng công cụ LLP để quản trị lợi nhuận hay không, nếu tình trạng trên diễn ra thì mức độ “quản trị lợi nhuận” của các loại hình NHTM qua các thời kỳ kinh tế như thế nào

Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách

Chương này đánh giá kết quả nghiên cứu của đề tài, những hạn chế và hướng phát triển tiếp theo Từ các kết quả của nghiên cứu, đề tài nêu lên những khuyến nghị đối với các nhà quản trị ngân hàng nhằm nhận diện và kiểm soát tốt hơn các nhân tố tài chính ảnh hưởng đến RRTD và trích lập dự phòng của bản thân NHTM Bên cạnh, chương này cũng đưa ra gợi ý đối với các nhà đầu tư khi xem xét cổ phiếu của ngân hàng Sau cùng

là các kiến nghị nhằm tăng cường sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với công tác trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTM và kiểm soát hoạt động “quản trị lợi nhuận” theo hướng tiêu cực của các nhà băng tại Việt Nam

Trang 20

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG

VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG

Chương 2 trình bày nội dung cơ sở lý luận của đề tài, đầu tiên là tìm hiểu đôi nét

về RRTD, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng Kế đến, chương này tổng hợp cơ sở lý luận về các nhân tố tài chính ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng Đề tài cũng đề cập đến lý thuyết quản trị lợi nhuận và việc sử dụng công cụ dự phòng rủi ro tín dụng để quản trị lợi nhuận của các NHTM Sau cùng là tổng kết các mô hình nghiên cứu trước đây về LLP và “quản trị lợi nhuận” thông qua LLP để làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu ở chương tiếp theo

2.1 Rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại

2.1.1 Khái niệm

Rủi ro luôn là vấn đề phải thường xuyên đối mặt của những tổ chức hoạt động kinh doanh Đối với các ngân hàng thương mại, loại tổ chức kinh doanh mặt hàng “tiền tệ”, rủi ro lại càng là vấn đề thường trực hơn bao giờ hết trong quá trình hoạt động và tìm kiếm cơ hội gia tăng lợi nhuận của các nhà băng Các nhà kinh tế học đã định nghĩa rủi ro theo nhiều cách khác nhau Knight (1921) định nghĩa rủi ro là “sự bất trắc có thể

đo lường được” Willet (1951) thì cho rằng rủi ro là “sự bất trắc có thể liên quan đến biến cố không mong đợi” Một nhà kinh tế học người Anh là McCarty (1986) quan niệm

“rủi ro là tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong tương lai có thể xác định được” Theo ông “kinh nghiệm hoạt động của một doanh nghiệp có thể cung cấp chứng cứ của tần số các biên cố riêng biệt trong quá khứ và do đó cho phép các nhà quản trị doanh nghiệp xác định được phân bố xác suất xuất hiện các biến cố trong tương lai” Như vậy, các định nghĩa tuy có khác nhau nhưng tựu trung lại đều thống nhất với nhau ở khía cạnh xem rủi ro là biến cố không mong đợi gây ra mất mát, thiệt hại và có thể đo lường được

Trang 21

Việc xem rủi ro là một phạm trù có thể đo lường, dự tính được như vậy mang ý nghĩa thực tiễn rất lớn đối với công tác quản lý và phòng ngừa rủi ro của các NHTM Thứ nhất, điều này giúp xác định rõ phạm vi của rủi ro, nghĩa là rủi ro không bao gồm những tình trạng bất lợi xảy ra ngoài dự kiến Khi xác định được phạm vi thì các ngân hàng có cơ sở để phòng ngừa và quản lý các loại rủi ro đó Thứ hai, việc đo lường, ước tính rủi ro trở nên rất cần thiết để xác định được mức độ rủi ro cụ thể của mỗi ngân hàng Nhờ vậy các ngân hàng có thể đưa ra các biện pháp quản trị rủi ro phù hợp Thứ ba, khi xác định và đo lường được rủi ro, các ngân hàng có thể tập trung các nguồn lực cần thiết vào các loại rủi ro lớn, trọng yếu Điều đó có ý nghĩa quan trọng trong việc gia tăng hiệu quả quản trị rủi ro của ngân hàng

Rủi ro có nhiều loại khác nhau, trong đó rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết Nói cách khác RRTD xảy ra khi khách hàng đã không thực hiện đúng cam kết theo hợp đồng tín dụng, không tuân thủ nguyên tắc hoàn trả khi đáo hạn của tín dụng ngân hàng Vì vậy RRTD còn được gọi là rủi ro sai hẹn hay rủi ro mất khả năng chi trả Tuy nhiên cách gọi như vậy có thể ít nhiều gây nhầm lẫn giữa rủi ro và tổn thất Bởi vì căn cứ vào tính chất chung của rủi ro, RRTD cũng chỉ phản ánh khả năng xảy ra tổn thất Nghĩa là RRTD mang tính tiềm ẩn hơn là tính hiện diện Do đó, một khoản vay

dù chưa quá hạn nhưng vẫn có rủi ro vì luôn ẩn chứa khả năng xảy ra tổn thất Tương tự như vậy, một ngân hàng dù có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhưng không thể loại trừ nguy cơ RRTD cao nếu ngân hàng đó đang tập trung vào một (hoặc một vài) nhóm khách hàng hay ngành nghề nào đó Điều này cho thấy RRTD có tính tất yếu luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng Tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng khó có thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và kịp thời

Vì thế, bất kỳ khoản cấp tín dụng nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng

2.1.2 Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng

Trang 22

“Rủi ro tín dụng có thể phát sinh do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan và cả từ hai phía khách nợ và chủ nợ hoặc khách hàng và ngân hàng” (Nguyễn Minh Kiều 2012)

Nhóm nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn: bao gồm nguyên nhân chủ quan

và nguyên nhân khách quan

Nguyên nhân chủ quan là những nguyên nhân rủi ro phát sinh liên quan đến hành

vi và ý chí chủ quan của khách hàng Theo Lê Thị Mận (2009), “nguyên nhân về mặt chủ quan có thể do trình độ quản lý của khách hàng yếu kém dẫn đến sử dụng vốn vay không hiệu quả hoặc thất thoát ảnh hưởng đến khả năng trả nợ Cũng có thể do khách hàng thiếu thiện chí trong việc trả nợ khi biện pháp xử lý thu hồi nợ của ngân hàng tỏ vẻ kém hiệu quả.”

Về mặt khách quan, Nguyễn Minh Kiều (2012) cho rằng “nguyên nhân rủi ro tín dụng có thể do khách hàng gặp phải những thay đổi môi trường kinh doanh không thể lường trước được, chẳng hạn sự thay đổi về giá cả hay nhu cầu thị trường, sự thay đổi

về môi trường pháp lý hay chính sách của Chính phủ khiến doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn tài chính không thể khắc phục được Từ đó doanh nghiệp dù có thiện chí nhưng vẫn không thể trả được nợ.”

Nhóm nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay:

Lê Thị Mận (2009) chỉ ra rằng nguyên nhân chủ quan của rủi ro tín dụng có thể phát sinh do quá trình phân tích và thẩm định tín dụng của ngân hàng không kỹ lưỡng dẫn đến sai lầm trong quyết định cho vay

Mặt khác, cũng có thể quyết định cho vay đúng đắn nhưng do thiếu kiểm soát sau khi cho vay dẫn đến khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích nhưng ngân hàng vẫn không phát hiện để ngăn chặn kịp thời

Trang 23

Về phía nguyên nhân khách quan đối với ngân hàng, rủi ro tín dụng phát sinh do môi trường pháp lý không đồng bộ, các can thiệp của Chính phủ quá sâu vào lĩnh vực tín dụng làm ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng

Như vậy, nguyên nhân phát sinh RRTD có thể được tổng hợp theo 3 nhóm nguyên nhân: từ phía khách hàng vay vốn của ngân hàng, từ phía các ngân hàng cho vay và do bối cảnh khách quan của nền kinh tế Trong đó nhóm nguyên nhân từ phía khách hàng vay thường đóng vai trò chính gây ra những tổn thất tín dụng cho ngân hàng Theo Lê Thị Mận (2009), “bất kỳ nguyên nhân nào dù là nguyên nhân từ phía khách hàng hay từ phía ngân hàng, nguyên nhân chủ quan hay khách quan đều dẫn đến hậu quả là khách hàng không trả được nợ Bởi vậy, việc phân tích để tìm ra nguyên nhân dẫn đến rủi ro sẽ giúp ngân hàng có biện pháp xử lý kịp thời”

2.1.3 Biện pháp phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng

“Tín dụng là hoạt động chính yếu của ngân hàng Nếu quản lý tốt, tín dụng góp phần đáng kể trong việc tạo ra lợi nhuận và làm tăng giá trị ngân hàng Ngược lại, nếu quản lý kém, tín dụng có thể gây ra tổn thất lớn và làm suy giảm giá trị của ngân hàng Một trong những mục tiêu quan trọng của quản lý tín dụng là giảm tối đa rủi ro tín dụng” (Nguyễn Minh Kiều 2012) Do đó việc nhận diện các dấu hiệu RRTD và tổ chức quản

lý RRTD là công việc thường xuyên được chú trọng của các NHTM

Tuy vậy, “khi rủi ro phát sinh, nguyên tắc chung của xử lý rủi ro tín dụng là xử lý triệt để từ gốc các loại rủi ro cơ bản trực tiếp ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng làm cho ngân hàng thiếu khả năng thu hồi nợ” (Lê Thị Mận 2009) Do đó, các NHTM cần phải tích cực áp dụng nhiều biện pháp như sau:

– Thường xuyên nắm bắt thông tin và báo cáo về tình hình thực tế của khoản tín dụng “có vấn đề” để có phương án kịp thời xử lý

Trang 24

– Tách chức năng cấp tín dụng và xử lý rủi ro ra riêng biệt nhằm tránh xung đột quan điểm trong quá trình theo dõi và quản lý khoản tín dụng

– Tận dụng tối đa các cơ hội để thu hồi nợ, dự tính các nguồn có thể dùng để thu hồi nợ có vấn đề từ khách hàng, tận thu từ việc phát mãi tài sản bảo đảm – Liên kết với công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc NHTM để thực hiện nhiệm vụ tận thu nợ, bán lại các khoản nợ xấu hoặc bán tài sản bảo đảm

để thu hồi nợ

– Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tạo nguồn bù đắp cho các tổn thất do rủi ro tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và chính sách quản trị rủi ro của mỗi ngân hàng

Trong đó, biện pháp trích lập dự phòng rủi ro tín dụng không chỉ thực hiện khi RRTD thực sự phát sinh mà được thực hiện từ khi có khoản cấp tín dụng “Trong trường hợp xảy ra khoản tín dụng không thể thu hồi, ngân hàng có thể sử dụng quỹ dự phòng này để bù đắp nhằm khắc phục rủi ro” (Nguyễn Minh Kiều 2012) Như vậy, khi nhà băng

đã áp dụng hàng loạt các biện pháp thu hồi nợ mà không mang lại kết quả khả quan thì

lá chắn cuối cùng của các NHTM là sử dụng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng đã được trích lập để bù đắp cho những thiệt hại do khách hàng không hoàn trả nợ vay

2.2 Dự phòng rủi ro tín dụng

2.2.1 Tổng quan về Dự phòng rủi ro tín dụng

Dự phòng rủi ro tín dụng được trích ra theo định kỳ từ thu nhập của ngân hàng trước khi nộp thuế để hình thành nên quỹ dự phòng rủi ro tín dụng “Dự phòng rủi ro tín dụng là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của Ngân hàng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết” (Nguyễn Thị Loan và Lâm Thị Hồng Hoa 2009)

Dự phòng rủi ro tín dụng bao gồm: Dự phòng cụ thể và Dự phòng chung

Trang 25

Dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể các khoản

nợ quy định để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra

Dự phòng chung là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của các tổ chức tín dụng khi chất lượng các khoản

nợ suy giảm

Như vậy, dự phòng rủi ro tín dụng không chỉ nhằm bù đắp tổn thất đối với các khoản nợ không thể thu hồi mà còn hàm ý về một sự phòng hộ cho trường hợp suy giảm chất lượng các khoản nợ trong tương lai

Việc hình thành nên quỹ dự phòng rủi ro tín dụng xuất phát từ quan điểm quản trị rủi ro tài chính, xem RRTD gồm có 2 dạng: có thể ước tính (expected) và không thể ước tính (unexpected) Trong đó, phần không thể ước tính là rủi ro mà các ngân hàng không thể lường trước được Loại rủi ro này được phòng vệ bằng vốn chủ sở hữu của ngân hàng Nói cách khác, vốn chủ sở hữu là một bộ đệm an toàn (buffer) của ngân hàng đối với phần rủi ro tín dụng không thể ước tính Đối với phần RRTD có thể ước tính, nghĩa

là rủi ro do khách hàng không trả nợ có thể được ngân hàng dự tính và đo lường dựa vào kinh nghiệm và các mô hình đánh giá rủi ro, bộ đệm an toàn (buffer) tương ứng với phần rủi ro này chính là dự phòng rủi ro tín dụng

Mức độ của 2 dạng rủi ro nêu trên và các bộ đệm tương ứng được Cavallo và Majnoni (2001) mô tả theo hình 2.1 dưới đây:

Trang 26

Hình 2.1 Đồ thị phân phối xác suất của rủi ro tín dụng theo 2 dạng:

có thể ước tính và không thể ước tính

(Nguồn: tác giả vẽ lại từ nghiên cứu của Cavallo và Majnoni 2001)

Theo đó, phần RRTD có thể ước tính (đồ thị theo đường OA) được đảm bảo bằng

bộ đệm dự phòng rủi ro tín dụng, gồm dự phòng chung và dự phòng cụ thể Cần lưu ý rằng đồ thị bên trên gộp chung 2 khoản dự phòng làm một trong đoạn OA Càng tiến đến gần điểm B, giá trị khoản vốn tín dụng bị mất càng lớn và xác suất xảy ra biến cố này càng giảm dần Đối với khoản mất vốn nằm trong đoạn OA có thể được xem là tổn thất tín dụng ước tính cho một ngân hàng trong điều kiện bình thường Do vậy ngân hàng cần phải có một khoản dự phòng để đảm bảo cho hoạt động tín dụng không bị gián đoạn khi những rủi ro này xảy ra

Trước Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, Việt Nam (cũng như nhiều nước đang phát triển khác) chỉ quy định dự phòng cụ thể cho những khoản vay có dấu hiệu hoặc đã

có vấn đề về khả năng chi trả Từ Quyết định 493 trở về sau, các NHTM Việt Nam phải trích lập thêm 0.75% cho tất cả các khoản vay ngay khi giải ngân cho khách hàng Phần

dự phòng được trích lập thêm này chính là dự phòng chung và được xem như bộ đệm an

Rủi ro không thể ước tính

Rủi ro có thể ước tính

Dự phòng RRTD

bách phân vị thứ 99

Trang 27

toàn cho những rủi ro có thể ước tính đối với khả năng mất vốn của toàn hệ thống ngân hàng nói chung

Như vậy, nhìn theo khía cạnh kinh tế, việc quy định dự phòng chung và dự phòng

cụ thể là nhằm phòng vệ cho phần rủi ro có thể ước tính đối với các khoản cấp tín dụng

Từ cơ sở lý thuyết này nảy sinh hai vấn đề liên quan đến dự phòng rủi ro tín dụng Thứ nhất là quy định quản lý nhà nước liên quan đến an toàn hệ thống, cụ thể là qui định chi tiết việc phân loại nợ và tỷ lệ trích lập dự phòng bắt buộc Thứ hai là các quy định kế toán liên quan đến đến trích lập dự phòng

2.2.2 Phân loại nợ và các quy định kế toán liên quan đến đến trích lập dự phòng

Theo Đinh Thị Thanh Vân (2012), “phân loại nợ được hiểu là quá trình các ngân hàng xem xét các danh mục cho vay của mình và đưa các khoản vay vào các nhóm khác nhau dựa trên rủi ro và các đặc điểm tương đồng khác của khoản vay” Việc thường xuyên xem xét và phân loại nợ giúp cho ngân hàng có thể kiểm soát chất lượng danh mục cho vay của mình và trong trường hợp cần thiết, sẽ có các biện pháp xử lý các vấn

đề phát sinh trong chất lượng tín dụng các danh mục cho vay Tại Việt Nam, việc phân loại nợ được thực hiện theo một trong hai phương pháp: định lượng và định tính Các khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 đều được xếp vào danh mục nợ xấu của ngân hàng Như vậy, về cách xếp loại các nhóm nợ cho thấy “Việt Nam có sự thống nhất với nhiều quốc gia trên thế giới (Mỹ, Nhật, Singapore, Hồng Kông, Trung Quốc) Việc chia làm 5 nhóm nợ và giải thích cơ bản từng nhóm là tương đồng với các nhóm nợ ở nhiều quốc gia trên thế giới” (Đinh Thị Thanh Vân 2012)

Trên phương diện kế toán, “các khoản vay nên được ghi nhận là có thể bị giảm giá trị và việc lập dự phòng là cần thiết nếu ngân hàng không thể thu hồi được cả gốc và lãi trong thời hạn hợp đồng vay” (International Accounting Standards Board 2003) Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là phương pháp được các ngân hàng sử dụng để ghi nhận tổn thất so với giá trị ghi nhận ban đầu của khoản vay Khoản trích lập dự phòng căn cứ

Trang 28

vào kết quả phân loại nợ đã được thực hiện theo phương pháp định lượng hoặc phương pháp định tính nêu trên

Dự phòng được ghi nhận như một khoản chi phí (Loan loss provision – LLP) trên báo cáo kết quả kinh doanh và được sử dụng để “xử lý rủi ro tín dụng đối với các khoản

nợ trong trường hợp khách hàng bị giải thể, phá sản, mất tích và các khoản nợ thuộc nhóm 5” (Nguyễn Thị Loan và Lâm Thị Hồng Hoa 2009)

Liên quan đến tài khoản dự phòng rủi ro tín dụng trong phạm vi của bài nghiên cứu này, trên BCTC của các NHTM tồn tại 2 loại tài khoản dự phòng rủi ro tín dụng Thứ nhất là tài khoản Dự phòng rủi ro cho vay khách hàng và các tổ chức tín dụng khác nằm trên bảng cân đối kế toán thể hiện quỹ dự phòng rủi ro tín dụng tích lũy qua nhiều năm (Loan loss reserves), được tính toán cụ thể trong thuyết minh BCTC Thứ hai là tài khoản Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng (LLP) nằm trên báo cáo kết quả kinh doanh thể hiện số trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trong năm tài chính đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng Chi tiết về tài khoản này cũng được thể hiện trên thuyết minh báo cáo tài chính của tổ chức tín dụng LLP là dữ liệu cần thiết được sử dụng để thực hiện mô hình kinh tế lượng phục vụ cho mục tiêu của bài nghiên cứu

Về phương pháp tính, Quyết định 493 yêu cầu trích lập hai loại dự phòng là dự phòng chung và dự phòng cụ thể Dự phòng chung được lập cho tất cả các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4, bằng 0.75% tổng giá trị các khoản nợ

Đối với dự phòng cụ thể, theo Nguyễn Thị Loan và Lâm Thị Hồng Hoa (2009),

số tiền dự phòng cụ thể phải được tính theo công thức sau:

R = max {0, (A – C)} x r (2.1)

Trong đó: R là số tiền dự phòng cụ thể phải trích

A là giá trị của khoản nợ

C là giá trị khấu trừ của tài sản đảm bảo

Trang 29

r là tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể (nhóm 1: 0%, nhóm 2: 5%, nhóm 3: 20%, nhóm 4: 50%, nhóm 5: 100%)

Việc đưa ra các mức trích lập cụ thể cho từng loại nợ có lợi điểm là có thể buộc các ngân hàng, khi mà khả năng quản lý rủi ro còn yếu kém, phải thừa nhận những rủi

ro có thể ước tính mà có thể các ngân hàng không nhận thấy hoặc không đầy đủ Tuy nhiên những quy định trích lập quá cứng nhắc về lâu dài có thể sẽ khiến cho các ngân hàng gặp khó khăn, nhất là đối với các ngân hàng nhỏ khi rơi vào giai đoạn suy thoái của nền kinh tế

Một khía cạnh khác cũng cần lưu ý rằng mặc dù việc trích lập dự phòng có thể xem như trích một lượng tiền cụ thể vào tài khoản dự phòng để phòng ngừa rủi ro, và do

đó sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh trên BCTC Tuy nhiên đối với ngân hàng, đây thực chất là một giao dịch phi tiền mặt (non-cash transaction) nên nó không ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng thanh khoản của ngân hàng Tương tự như vậy, khi ngân hàng sử dụng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng để “xử lý nợ xấu” thông qua bút toán hạch toán ngoại bảng (write-off/charge-off) khoản nợ xấu khỏi bảng cân đối kế toán thì đó cũng là một giao dịch phi tiền mặt nên không làm suy giảm khả năng thanh khoản của NHTM Thêm vào đó, quá trình phân loại nợ là vấn đề đánh giá mang tính chủ quan cho nên Đinh Thị Thanh Vân (2012) cho rằng “trích lập dự phòng thực chất dựa vào cảm quan và có thể được ngân hàng sử dụng với mục đích giảm bớt biến động lợi nhuận (smoothing earnings)” Khi chi phí dự phòng rủi ro được tính trừ thuế, việc giảm lợi nhuận có thể làm cho ngân hàng giảm bớt nghĩa vụ về thuế của mình Mặt khác, một số ngân hàng khác có thể không muốn trích lập dự phòng rủi ro tín dụng quá lớn vì nó sẽ ảnh hưởng tiêu cực lên lợi nhuận của ngân hàng và cổ tức của cổ đông

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến LLP

2.3.1 Nhóm các nhân tố tài chính

Trang 30

2.3.1.1 Lợi nhuận trước thuế & dự phòng rủi ro tín dụng

Có nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện để tìm mối quan hệ giữa dự phòng rủi ro tín dụng và lợi nhuận trước thuế & dự phòng RRTD Các nghiên cứu của Greenawalt và Sinkey (1988), Collins và ctg (1995) đưa ra giả thuyết về mối tương quan mạnh mẽ giữa LLP và lợi nhuận trước thuế & dự phòng rủi ro tín dụng Theo đó, các giả thuyết này giả định rằng các nhà quản lý ngân hàng có động lực để điều chỉnh lợi nhuận

Vì vậy khi lợi nhuận (trước thuế và dự phòng) dự kiến thấp, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng được cố ý điều chỉnh giảm để làm nhẹ bớt những tác động bất lợi của các yếu tố khác lên kết quả lợi nhuận (Ahmed và ctg 1999)

Sử dụng giả thuyết nêu trên, Anandarajan và ctg (2006) tìm thấy mối quan hệ giữa LLP và lợi nhuận trước thuế & dự phòng đối với các ngân hàng tại Úc Nghiên cứu của Anandarajan và ctg cũng chỉ ra những công trình của Ma (1998) và Collins và ctg (1995) trước đây đã xác định rằng có một mối liên hệ thuận chiều giữa LLP và lợi nhuận (trước thuế và dự phòng) Tương tự như vậy, nghiên cứu của Leventis và ctg (2012) cũng tìm ra mối liên hệ cùng chiều giữa LLP và lợi nhuận trước thuế & dự phòng khi sử dụng

dữ liệu báo cáo của các ngân hàng thương mại thuộc khối Liên minh Châu Âu (EU) để làm mẫu quan sát

Như vậy, lợi nhuận trước thuế & dự phòng là yếu tố tác động cùng chiều đến dự phòng rủi ro tín dụng Chính mối tương quan thuận chiều này góp phần cung cấp bằng chứng thể hiện các ngân hàng có sử dụng công cụ LLP để quản trị lợi nhuận Do đó, giả

thuyết được đặt ra là lợi nhuận trước thuế & dự phòng càng tăng thì LLP càng tăng

Điều này cũng hàm ý rằng tồn tại mối tương quan thuận chiều giữa LLP và lợi nhuận trước thuế & dự phòng của các NHTM

2.3.1.2 Quy mô tài sản của ngân hàng

Trang 31

Nhân tố quy mô ngân hàng được rất nhiều nghiên cứu đưa vào mô hình Hầu hết quả cho thấy rằng nhân tố quy mô được đo lường bởi tổng tài sản có tác động đến LLP Theo Chen và ctg (2005), Ashour (2011) và Leventis và ctg (2012), khi gia tăng tài sản, ngân hàng sẽ mở rộng hoạt động tín dụng khiến gia tăng tiềm ẩn nợ xấu và dẫn đến LLP tăng Điều đó cũng hàm ý rằng quy mô tài sản thường có quan hệ đồng biến với chi phí

dự phòng rủi ro tín dụng của ngân hàng đó

Quy mô tài sản của các ngân hàng sẽ có sự khác biệt rất lớn vì vậy để tránh sự biến động mạnh của số liệu gây ảnh hưởng đến kết quả hồi quy, trong nhiều nghiên cứu quy mô tài sản của ngân hàng thường được lấy logarit tự nhiên (ln) Giả thuyết đặt ra đối

với bài nghiên cứu này là khi quy mô tài sản của ngân hàng càng lớn thì LLP càng tăng

2.3.1.3 Vốn chủ sở hữu so với tổng tài sản (Hệ số tự tài trợ)

Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản hay tỷ suất tự tài trợ là chỉ tiêu phản ánh mức độ an toàn vốn của ngân hàng Khi vốn chủ sở hữu ở mức thấp so với tổng tài sản thì ngân hàng rất khó có thể đảm bảo việc ứng phó đối với các rủi ro Nói cách khác, tỷ suất tự tài trợ phản ánh khả năng chống chịu rủi ro của ngân hàng trong quá trình hoạt động kinh doanh Do đó, “khi tỷ suất tự tài trợ thấp, các ngân hàng có xu hướng giảm chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng nhằm tăng lợi nhuận và tăng vốn chủ sở hữu” (Hasan và Wall 2004), qua đó cải thiện tỷ số này của NHTM Theo Nguyễn Thị Thu Hiền và Phạm Đình Tuấn (2014), “quy định về tỷ lệ an toàn vốn của các NHTM Việt Nam đã dần theo chuẩn mực quốc tế: Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN tiếp cận theo Hiệp ước về vốn Basel I yêu cầu tỷ lệ an toàn vốn là 8%, và tăng lên 9% (theo thông tư 13/2010/QĐ-NHNN – tiếp cận theo Basel II) Tuy nhiên, thực tế cho thấy chỉ một số ít các ngân hàng lớn đảm bảo an toàn vốn theo quy định Vì vậy các ngân hàng có mức vốn chủ sở hữu so với tổng tài sản thấp thường trích lập dự phòng thấp để bổ sung vốn

từ lợi nhuận nhằm đảm bảo lộ trình đạt yêu cầu về an toàn vốn” Từ đó cho thấy nhân tố

tỷ suất tự tài trợ có mối quan hệ cùng chiều với chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trong

Trang 32

trường hợp vốn chủ sở hữu ở mức thấp so với tổng tài sản (tỷ suất tự tài trợ thấp) Đối với tình hình các NHTM trong nước, giả thuyết thích hợp được nêu ra là các ngân hàng

có quy mô vốn chủ sở hữu so với tài sản càng thấp thì LLP càng thấp

2.3.1.4 Quy mô dư nợ

Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng được trích lập gồm 2 thành phần là dự phòng cụ thể và dự phòng chung Trong đó dự phòng cụ thể bằng 0.75% tổng giá trị các khoản nợ

từ nhóm 1 đến nhóm 4 (theo Quyết định 493) Phần dự phòng cụ thể được tính toán dựa vào giá trị khoản nợ (từ nhóm 2 đến nhóm 5) như đã trình bày tại nội dung 2.2.3 nêu trên Như vậy xét về mặt công thức tính, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ quy mô dư nợ của ngân hàng

Về mặt lý thuyết, “ngân hàng lớn luôn luôn mong muốn mức rủi ro thấp và có đủ khả năng để nắm giữ một danh mục cho vay được đa dạng hóa tốt nhất, nhằm giữ mức rủi ro ở mức thấp nhất có thể” (Nguyễn Thị Ngọc Diệp và Nguyễn Minh Kiều 2015) Saunders và ctg (1990), Chen và ctg (1998), Cebenoyan và ctg (1999), và Megginson (2005) đều tìm ra kết quả quan hệ nghịch chiều giữa rủi ro tín dụng và quy mô ngân hàng Nguyên nhân là các ngân hàng lớn thường có hệ thống quản lý rủi ro tốt và đương nhiên họ có nhiều cơ hội để nắm giữ danh mục cho vay ít rủi ro nhất

Tuy nhiên bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Diệp và Nguyễn Minh Kiều cho kết quả ngược với các nghiên cứu nêu trên Điều này xuất phát từ “đặc thù của Việt Nam với đa số các tập đoàn lớn, sử dụng nhiều vốn và có nhiều ưu thế trong quan hệ vay mượn là các tập đoàn nhà nước vốn có hiệu quả kinh doanh thấp Các ngân hàng có tổng

dư nợ cao thường có khách hàng vay là các doanh nghiệp dạng này, và phải chịu rủi ro cao khi các doanh nghiệp nhà nước gặp khó khăn về tài chính Mặt khác, khi các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn vay vốn, thông thường các ngân hàng phải đơn giản hóa thủ tục thẩm định và điều này tiềm ẩn nguy cơ nợ quá hạn” (Nguyễn Thị Ngọc Diệp và Nguyễn Minh Kiều 2015) Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hiền và Vũ Hữu

Trang 33

Đức (2013) cũng cho kết quả là tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản và tỷ lệ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng tài sản của các ngân hàng lớn là cao hơn nhóm các ngân hàng nhỏ

Vì vậy, trong điều kiện tại Việt Nam, giả thuyết phù hợp là những ngân hàng có

quy mô dư nợ càng cao thì chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng càng tăng Hay nói

cách khác, quy mô dư nợ ảnh hưởng đồng biến đến dự phòng rủi ro tín dụng

2.3.1.5 Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng

Tăng trưởng dư nợ tín dụng là sự tăng trưởng giá trị các khoản cho vay của ngân hàng qua các năm Đây là yếu tố được nhiều nghiên cứu tìm thấy có mối quan hệ với rủi

ro tín dụng và do đó có mối quan hệ với chi phí dự phòng rủi ro tín dụng Chẳng hạn nghiên cứu của Foos và ctg (2009) sử dụng dữ liệu của hơn 10.000 ngân hàng trong giai đoạn từ 1997-2005 để tìm hiểu về mối tương quan giữa tăng trưởng dư nợ trong quá khứ

và LLP Nghiên cứu đã tìm được bằng chứng cho thấy sự tăng trưởng dư nợ cho vay dẫn đến chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng đến đỉnh điểm 3 năm sau đó Trước nghiên cứu của Foos và ctg, cũng có những nghiên cứu khác tìm thấy bằng chứng về mối liên hệ này Cụ thể là công trình của Salas và Saurina (2002) phân tích một lượng lớn dữ liệu của các ngân hàng thương mại và ngân hàng tiết kiệm tại Tây Ban Nha trong khoảng thời gian từ 1985-1997 Phát hiện chính của nghiên cứu này là tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng tiết kiệm có tác động cùng chiều một cách đáng kể đến dự phòng rủi ro tín dụng ba (đến bốn) năm sau đó Nghiên cứu của Bikker và Metzemakers (2005) cũng tìm thấy tác động thuận chiều của tăng trưởng dư nợ lên chi phí dự phòng rủi ro tín dụng Mặc dầu vậy, tác động của tăng trưởng dư nợ tín dụng lên chi phí dự phòng rủi ro tín dụng không hẳn lúc nào cũng thuận chiều Có khá nhiều nghiên cứu tìm thấy bằng chứng

về mối quan hệ ngược lại ở các quốc gia khác nhau Theo báo cáo của Packer và Zhu (2012), các nghiên cứu của Cavallo và Majnoni (2002) khảo sát 1,176 ngân hàng tại 36 quốc gia, nghiên cứu của Laeven và Majnoni (2003) khảo sát 1,419 ngân hàng tại 45

Trang 34

nước, Craig và cộng sự (2006) khảo sát 242 ngân hàng Đông Nam Á và 11 nền kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, Davis và Zhu (2009) đều cho thấy tăng trưởng dư nợ có quan

hệ nghịch chiều với chi phí dự phòng rủi ro tín dụng Điều đó cho thấy giữa tốc độ tăng trưởng dư nợ và LLP có mối quan hệ với nhau, tuy nhiên chiều hướng tác động của mối quan hệ này còn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia khác nhau Đối với

các NHTM tại Việt Nam, giả thuyết cho bài nghiên cứu này là tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng càng cao thì LLP càng tăng

2.3.1.6 Nợ xấu

Nợ xấu là một trong những nguyên nhân chính khiến cho chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng cao Bởi theo công thức xác định mức dự phòng cụ thể, đối với dư nợ từ nhóm 3-5 (dư nợ xấu), tỷ lệ trích lập tương ứng là 20%, 50% và 100% Do đó, tồn tại mối tương quan giữa tỷ lệ nợ xấu và chi phí dự phòng rủi ro tín dụng Nhiều nghiên cứu

đã khẳng định điều này như nghiên cứu của Perez và ctg (2006), Bouvatier và Lepetit (2008), Taktak và ctg (2010), Packer và Zhu (2012), Ozili (2015), Caporale và ctg (2015), Abdullah và ctg (2015)… đều tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa tỷ lệ nợ xấu và chi phí dự phòng rủi ro tín dụng Trong các nghiên cứu trên, tỷ lệ nợ xấu được xác định bằng tỷ số giữa dư nợ xấu (nhóm 3, 4, 5) với tổng tài sản nhằm điều hòa tác động phức tạp của quy mô ngân hàng lên biến phụ thuộc Một số nghiên cứu khác sử dụng tỷ lệ nợ xấu tính trên dư nợ tín dụng như của Berger và DeYoung (1997) hay mức

độ thay đổi nợ xấu so với năm trước (∆NPL) như của Ahmed A S và ctg (1999), Perez

và ctg (2006), Al-Khayat (2013), Ahmed A và ctg (2014),… cũng cho kết quả tương tự, nghĩa là tỷ lệ nợ xấu hoặc sự thay đổi giá trị nợ xấu tương quan thuận chiều với LLP của

ngân hàng Do vậy, giả thuyết được đặt ra là nợ xấu của các ngân hàng càng tăng thì LLP càng tăng

2.3.2 Nhóm các nhân tố khác

2.3.2.1 Loại hình ngân hàng thương mại

Trang 35

Loại hình ngân hàng thương mại liên quan đến chính sách tín dụng đặc thù và những đặc quyền trong hoạt động cho vay Vì vậy, đây là nhân tố được một số nghiên cứu đề cập tới khi tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng đến LLP và hoạt động quản trị lợi nhuận của NHTM Chẳng hạn, nghiên cứu của Sundararajan (2005), Zoubi and Al-Khazali (2007), Taktak và ctg (2010), Ashour (2011) xem xét ảnh hưởng của loại hình ngân hàng Hồi giáo và ngoài Hồi giáo tác động lên dự phòng rủi ro tín dụng như thế nào Hầu hết các nghiên cứu đưa ra bằng chứng tích cực cho thấy rằng các ngân hàng Hồi giáo có tác động đến chi phí dự phòng rủi ro tín dụng và sử dụng LLP để quản trị lợi nhuận (so với ngân hàng ngoài Hồi giáo) Cùng ý tưởng về việc xem xét ảnh hưởng của loại hình ngân hàng đến dự phòng rủi ro tín dụng, nghiên cứu của Caporale và ctg (2015) đối với các ngân hàng Italia cho thấy các ngân hàng nội địa có mức độ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng thấp hơn so với các ngân hàng nước ngoài Điều đó cho thấy mối quan hệ giữa loại hình ngân hàng và chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, cũng như hoạt động quản trị lợi nhuận của các ngân hàng này thông qua công cụ LLP, tuy nhiên chiều hướng ảnh hưởng của nhân tố này ở các nghiên cứu khác nhau thì không thể hiện cùng một kết quả

đồng nhất Giả thuyết đặt ra đối với các NHTM trong nước là các ngân hàng TMCP Nhà nước có LLP cao hơn so với các ngân hàng khác

2.3.2.2 Ảnh hưởng của thời kỳ suy thoái

Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, nhiều quốc gia ở châu Á đã đưa ra các yêu cầu nghiêm ngặt hơn về việc trích lập dự phòng, cũng như đo lường phần dự phòng

có thể tùy chỉnh, với mục tiêu tăng trích lập dự phòng vào giai đoạn thuận lợi để ứng phó với mức độ gia tăng rủi ro tín dụng (El Sood 2012) Điều đó có nghĩa là về mặt lý thuyết, chi phí dự phòng sẽ tăng cao trong giai đoạn thuận lợi của nền kinh tế và giảm đi khi nền kinh tế rơi vào giai đoạn khó khăn, suy thoái Tuy nhiên, Floro (2010) chỉ ra rằng trong thực tế mức độ dự phòng rủi ro tín dụng của các nhà băng lại thể hiện tính thiên lệch chu kỳ (procyclical bias) so với mục tiêu ban đầu, do nó liên hệ cơ bản với các

Trang 36

khoản vay “có vấn đề” hiện thời của ngân hàng, cho nên dự phòng rủi ro tín dụng lại chủ

yếu tăng trong thời kỳ suy thoái khi các tổn thất tín dụng đã thực sự hiện hữu Có một số

yếu tố góp phần cho tính chất lệch chu kỳ này: Thứ nhất, sự tiến triển của chu kỳ kinh doanh rất khó để xác định, do đó có thể tồn tại một sự ngăn cách giữa khoảng thời gian trích lập dự phòng và các phân tích đánh giá rủi ro tín dụng Mặt khác, “khuôn khổ kế toán chỉ cho phép trích lập dự phòng cho các tổn thất tín dụng đã phát sinh tại ngày lập BCTC, mà không thực sự liên hệ với khái niệm “tổn thất ước tính”” (Li 2009) Hơn nữa,

sự dư thừa của các quỹ được trích lập một cách thận trọng đối với các khoản vay (dư thừa từ quỹ dự phòng) có thể dẫn đến sự theo đuổi tăng trưởng doanh số cho vay và giảm thấp sự quan tâm về mặt rủi ro tín dụng cũng như trích lập dự phòng tương ứng Nghiên cứu của Packer và Zhu (2012) dựa trên quan sát 240 ngân hàng tại 12 nền kinh tế châu

Á đã cung cấp bằng chứng về tính chất phản chu kỳ (countercyclical) nêu trên của dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTM Gần đây nhất là nghiên cứu của Caporale và ctg (2015) sử dụng dữ liệu bảng tập hợp hơn 400 ngân hàng Italia trong giai đoạn 2001-2012

để kiểm tra những yếu tố chính tác động đến LLP Kết quả cho thấy LLP thể hiện tính chất phản chu kỳ của nó, đặc biệt là trong giai đoạn suy thoái từ 2008-2012 Về mặt quản trị lợi nhuận, nghiên cứu của El Sood (2012) cho thấy trong thời kỳ khủng hoảng (2007-2009), các ngân hàng tại Mỹ sử dụng công cụ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng để làm giảm biến động lợi nhuận (smooth income) phổ biến hơn so với thời kỳ 2002-2006

Như vậy, thời kỳ suy thoái là nhân tố có ảnh hưởng đến chi phí dự phòng rủi ro tín dụng và tác động nhiều hơn đến hoạt động quản trị lợi nhuận thông qua công cụ LLP

của các ngân hàng so với thời kỳ trước đó Giả thuyết được đặt ra là trong thời kỳ suy thoái, LLP của các NHTM tăng nhanh hơn so với thời kỳ trước

2.4 “Quản trị lợi nhuận” thông qua công cụ dự phòng rủi ro tín dụng

2.4.1 Định nghĩa “quản trị lợi nhuận”

Trang 37

Quản trị lợi nhuận (Earnings Management) còn được biết đến dưới nhiều tên gọi khác nhau như “thổi phồng lợi nhuận”, “xào nấu số liệu”, “nghệ thuật tính toán kết quả” (Nguyễn Công Phương 2007) Theo Ashour (2011), đã có nhiều nghiên cứu nêu ra các khái niệm khác nhau về quản trị lợi nhuận, tuy nhiên chưa thực sự có một định nghĩa thống nhất Beneish (2001) đưa ra 2 quan điểm về vấn đề này, quan điểm cơ hội và quan điểm thông tin Quan điểm cơ hội cho thấy động cơ của việc “quản trị lợi nhuận” là nhằm đánh lừa các nhà đầu tư, trong khi đó quan điểm thông tin nêu ra rằng sự thận trọng trong quản trị (lợi nhuận) có thể được dùng để phát tín hiệu kỳ vọng về luồng tiền (được cải thiện) trong tương lai của doanh nghiệp đến các nhà đầu tư

Levitt (1998) định nghĩa “quản trị lợi nhuận là một mảng tối mà ở đó, kế toán đang bị làm sai do nhà quản trị đã “cắt gọt” các khía cạnh của nó Vì vậy, báo cáo lãi lỗ phản ánh mong muốn của nhà quản trị hơn là phản ánh tình hình tài chính thực của doanh nghiệp” Healy and Whalen (1999) thì cho rằng, “quản trị lợi nhuận xảy ra khi nhà quản trị sử dụng các ước tính kế toán hoặc giao dịch nội bộ để tác động đến BCTC, nhằm làm cho các đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC hiểu sai về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty hoặc làm ảnh hưởng đến các hợp đồng mà có cam kết dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận kế toán” Ví dụ như hợp đồng tín dụng với ngân hàng, hợp đồng thù lao giữa nhà quản trị và công ty…

Nói tóm lại, tuy có những tên gọi và cách định nghĩa khác nhau, tựu trung quản trị lợi nhuận có thể được hiểu là hành động làm thay đổi kết quả lợi nhuận công bố (so với lợi nhuận thực tế) thông qua các công cụ kế toán nhằm đạt những mục đích nhất định của nhà quản trị doanh nghiệp Những mục đích đó có thể bao gồm: tăng giá cổ phiếu, được thưởng từ doanh nghiệp (do đạt kế hoạch lợi nhuận), giảm thiểu chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp, hưởng lợi tối đa từ việc ưu đãi thuế hoặc có thể mang lại lợi ích cho bản thân người làm kế toán

2.4.2 Các phương thức quản trị lợi nhuận

Trang 38

Theo nghiên cứu của Bùi Thị Mai Hoài và Nguyễn Thị Tuyết Hoa (2015), tùy thuộc vào động cơ, quản trị lợi nhuận hay hoạt động điều chỉnh thu nhập có thể được phân làm 3 nhóm như sau:

- Điều chỉnh thu nhập trắng (White Earnings Management): Các nhà quản lý dựa trên lợi thế về quyền lực để lựa chọn các chính sách kế toán một cách linh hoạt nhằm thông báo tín hiệu cá nhân của họ về dòng tiền của doanh nghiệp trong tương lai (Demski

và ctg 1984; Beneish 2001) Loại này được xem là có lợi và làm gia tăng chất lượng BCTC Mục đích của nhà quản lý là muốn công bố nhiều thông tin với chất lượng tốt hơn đến người sử dụng, giúp các các nhà đầu tư khám phá ra các mong đợi của họ về các dòng tiền mà doanh nghiệp sẽ mang lại trong tương lai (Beneish 2001)

- Điều chỉnh thu nhập xám (Grey Earnings Management): Các nhà quản lý lựa chọn các chính sách kế toán trong hoặc ngoài các giới hạn cho phép nhằm làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp hoặc vì vụ lợi của họ (Watts và Zimmerman 1990)

- Điều chỉnh thu nhập đen (Black Earnings Management): Là hành vi sử dụng các thủ thuật của quản lý để làm sai lệch hoặc giảm sự minh bạch của các BCTC (Schipper 1989; Levitt 1998; Healy và Wahlen 1999)

Trong hoạt động ngân hàng, việc quản trị lợi nhuận được thực hiện thông qua hành vi điều chỉnh doanh thu hoặc chi phí Theo Nguyễn Thị Minh Trang (2011) và Huỳnh Thị Vân (2012), một số kỹ thuật “quản trị lợi nhuận” gồm có:

- Lựa chọn phương pháp kế toán ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhận doanh thu và chi phí Chẳng hạn, lựa chọn phương pháp kế toán sao cho việc ghi nhận các khoản thu nhập sớm hơn và ghi nhận chi phí chậm hơn sẽ làm tăng lợi nhuận, hoặc ngược lại sẽ làm lợi nhuận giảm đi; hoặc lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố định cũng cho phép dịch chuyển lợi nhuận giữa các niên độ…

Trang 39

- Lựa chọn thời điểm thực hiện các khoản chi phí, mua hoặc bán tài sản Các nhà quản trị có thể quyết định khi nào và ở mức bao nhiêu các chi phí quảng cáo, chi phí sửa chữa, chi phí nâng cấp cải tạo tài sản cố định được chi ra Các chi phí này có thể tính hết vào niên độ hiện hành hoặc phân bổ dần cho các niên độ sau, với quyết định khác nhau của nhà quản trị sẽ ảnh hưởng đến chi phí và từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của niên độ hiện hành

- Vận dụng các phương pháp kế toán thông qua việc lựa chọn thời điểm ghi nhận chi phí và các ước tính kế toán Nhà quản trị có thể dịch chuyển một vài chi phí từ niên

độ này về các niên độ sau hoặc ngược lại sẽ làm giảm hoặc tăng chi phí của niên độ hiện hành, từ đó lợi nhuận được điều chỉnh tăng hoặc giảm đi Ngoài ra, các nhà quản trị còn

có thể lựa chọn thời điểm nào ghi nhận hay hoàn nhập các khoản dự phòng như dự phòng giảm giá chứng khoán, dự phòng rủi ro tín dụng… với các mức trích lập hay hoàn nhập tương ứng

Đối với các ngân hàng, hoạt động tín dụng là hoạt động chính yếu cho nên dự phòng rủi ro tín dụng cũng là yếu tố có sự ảnh hưởng lớn đến các kết quả trên BCTC

Do sự khác biệt về tính chất dồn tích của tài khoản này với các yếu tố của dòng tiền hoạt động kinh doanh, các tài khoản về dự phòng rủi ro tín dụng vô hình chung trở thành công

cụ hữu hiệu có thể giúp các nhà quản trị điều chỉnh các kết quả kinh doanh theo mong muốn

2.4.3 Quản trị lợi nhuận thông qua công cụ dự phòng rủi ro tín dụng

Trích lập dự phòng sẽ khiến cho chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng Đây là một khoản mục trên báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng trước khi tính lợi nhuận trước thuế Vì vậy khi ban giám đốc của ngân hàng quyết định tăng khoản trích lập dự phòng cho dư nợ vay tại ngân hàng sẽ làm tăng chi phí hoạt động của ngân hàng Hệ quả là lợi nhuận trước thuế và khoản thuế thu nhập phải nộp đều sẽ giảm đáng kể Ngược lại khi khoản trích lập dự phòng được điều chỉnh giảm sẽ làm giảm chi phí dự phòng, dẫn đến

Trang 40

lợi nhuận trước thuế sẽ tăng lên Quyết định tăng hay giảm trích lập dự phòng dựa trên kết quả đánh giá của nhà quản trị ngân hàng về tổn thất tín dụng ngân hàng gặp phải nếu khách hàng thất bại trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn Theo Gray và Clarke (2004), khoản trích lập dự phòng trong những trường hợp như vậy được xem là có hai phần: phần không thể tùy chỉnh và phần có thể tùy chỉnh

Phần không thể tùy chỉnh là kết quả của việc xác định cụ thể chất lượng các khoản

nợ trong danh mục cho vay, như các khoản nợ xấu, các khoản nợ tái cơ cấu, các khoản

nợ quá hạn 90 ngày, được phân tích đánh giá là đang gặp khó khăn lớn về mặt tín dụng, thường được thể hiện qua hệ thống chấm điểm xếp hạng tín dụng của ngân hàng Vì vậy, phần này (phần không thể tùy chỉnh) là phần dự phòng dựa trên những đánh giá tương đối công bằng và khách quan trong điều kiện kinh tế hiện tại

Trong khi đó, phần có thể tùy chỉnh là phần trích lập mà phần lớn dựa trên kết quả từ kỳ vọng về những biến cố không chắc chắn trong tương lai của nhà quản trị ngân hàng (Mohammad và ctg 2011) Đây là phần có thể được can thiệp bởi các nhà quản trị ngân hàng dựa trên những đánh giá định tính và định lượng Grey and Clarke (2004) chỉ

ra rằng phần định tính bao gồm các yếu tố chính trị, kinh tế, các yếu tố địa chính trị, trong khi phần định lượng là “phân tích thống kê những khoản cho vay không được đánh giá kỹ lưỡng mà được trích lập vào quỹ dự phòng một cách đặc biệt và do vậy phần lớn

là theo chủ ý của những nhà quản trị ngân hàng” “Khi phần có thể tùy chỉnh tạo thành các khoản trích lập lớn cho các ngân hàng và gây ảnh hưởng đáng kể lên lợi nhuận báo cáo, dự phòng rủi ro tín dụng trở thành một công cụ quan trọng để quản trị lợi nhuận trong lĩnh vực ngân hàng” (Ahmed A và ctg 2014)

Vào những năm thị trường tăng trưởng tốt, các ngân hàng có thể không muốn công bố những mức lợi nhuận cao vì những động cơ khác nhau Vì vậy thông qua các thủ thuật kế toán, Wahlen (1994) cho rằng “các nhà quản lý ngân hàng dễ dàng điều chỉnh các khoản dự phòng này tăng lên vào những thời điểm kinh doanh thuận lợi để

Ngày đăng: 20/09/2020, 10:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w