Cần thực hiện những vấn đề cấp bách trong định hướng kinh doanh của ngân hàng như phát triển mạnh dịch vụ khu vực khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ và khách hàng bán lẻ, hiệu quả hoạt đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
ĐẶNG NGỌC QUÝ PHƯƠNG
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018
Trang 3mại Cổ phần Công Thương Việt Nam ” đã đạt được một số kết quả như sau:
Luận văn đã tổng hợp được nền tảng lý thuyết cơ sở và đưa ra khái niệm mới
về nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Từ đó, tiến hành phân tích và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (VietinBank) trong giai đoạn từ 2013-2017
Kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng năng lực cạnh tranh của VietinBank
có xu hướng tăng trong giai đoạn nghiên cứu, tốc độ tăng trưởng của VietinBank cao
và ổn định qua các năm, chất lượng tài sản được kiểm soát tốt với mức nợ xấu thấp nhất ngành ngân hàng, hiệu quả kinh doanh dẫn đầu hệ thống ngân hàng Việt Nam Với mạng lưới các chi nhánh rộng khắp các tỉnh, thành phố, VietinBank đáp ứng tối
đa mọi nhu cầu tài chính của các tổ chức, doanh nghiệp và người dân với các sản phẩm dịch vụ hiện đại, đáp ứng yêu cầu kết nối trong hội nhập quốc tế về lĩnh vực tài chính Bên cạnh đó, VietinBank cũng không ngừng đổi mới, tái cơ cấu sâu rộng mô hình kinh doanh hướng đến khách hàng, nâng cao năng lực quản trị điều hành, quản trị rủi ro theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế Tuy nhiên, qua các kết quả nghiên cứu cho thấy VietinBank cần quan tâm đến lộ trình điều chỉnh cơ cấu cổ đông, nhu cầu
sử dụng vốn trong thời gian tới Cần thực hiện những vấn đề cấp bách trong định hướng kinh doanh của ngân hàng như phát triển mạnh dịch vụ khu vực khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ và khách hàng bán lẻ, hiệu quả hoạt động, và kế hoạch huy động vốn tiếp theo của VietinBank,
Dựa trên kết quả nghiên cứu, và định hướng hoạt động của VietinBank, luận văn đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của VietinBank trong thời kỳ hội nhập nhằm nâng cao uy tín, hình ảnh của Việt Nam nói chung và của
VietinBank nói riêng trên thị trường thế giới
Trang 4Tôi tên là: Đặng Ngọc Qúy Phương
MSHV: 020119170104
Tôi cam đoan luận văn “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam” chưa từng được trình nộp để bảo vệ học vị thạc sĩ ở bất kỳ một trường đại học nào Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, không sao chép của bất cứ ai Số liệu nghiên cứu là trung thực, trong đó các nội dung công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện đều được trích dẫn nguồn đầy đủ trong luận văn Kết quả nghiên cứu trong luận văn
là do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách khách quan, phù hợp thực tiễn
TP.HCM, ngày 22 tháng 10 năm 2018
Học viên
Đặng Ngọc Qúy Phương
Trang 5Trường Đại học Ngân hàng TP HCM đã tận tình giảng dạy, hỗ trợ và giúp đỡ tôi học tập, tích lũy kiến thức trong suốt thời gian qua
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn Thầy PGS TS Hà Quang Đào, Thầy đã tận tình hỗ trợ, định hướng và hướng dẫn trực tiếp tôi trong toàn bộ quá trình thực hiện luận văn Trong thời gian được Thầy hướng dẫn, tôi được tiếp thu những kiến thức bổ ích, phù hợp với mục tiêu của luận văn Sự hướng dẫn của Thầy đã giúp đề tài nghiên cứu của tôi được sâu sắc và hoàn thiện hơn
Đồng thời, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới các Anh Chị, bạn bè đang làm việc tại các ngân hàng BIDV, Vietcombank, Vietinbank, Agribank, Ngân hàng nhà nước, đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong việc thu thập thông tin, số liệu thực tế và có những góp ý xác đáng để tôi hoàn thành luận văn luận văn này
TP HCM, ngày 22 tháng 10 năm 2018
Học viên
Đặng Ngọc Qúy Phương
Trang 6Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1
1.1 Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1
1.1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1
1.1.2.Tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 2
1.1.2.1 Năng lực tài chính 2
1.1.2.2 Chất lượng tài sản 3
1.1.2.3 Năng lực công nghệ 6
1.1.2.4 Nhân lực 7
1.1.2.5 Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức 8
1.1.2.6 Mức độ đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ và mạng lưới hoạt động 9
1.1.2.7 Uy tín và thương hiệu 10
1.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 11
1.2.1 Khái niệm về nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 11
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 11
1.2.2.1.Các nhân tố khách quan 11
1.2.2.2.Yếu tố chủ quan 13
1.2.3.Ý nghĩa của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 14
1.3.Kinh nghiệm của một số quốc gia về nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và bài học kinh nghiệm rút ra đối với Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 15
1.3.1.Kinh nghiệm của một số quốc gia về nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 15
1.3.1.1.Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Trung Quốc 15
Trang 71.3.2.Bài học kinh nghiệm rút ra đối với NHTMCP Công thương Việt Nam 17
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 19
Chương 2 20
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 20 2.1 Tổng quan về ngân hàng Thương mại Công thương Việt Nam 20
2.1.1 Khái quát về sự hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức 20
2.1.2 Tổng quan về hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam 21
2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam 23
2.2.1 Năng lực tài chính 23
2.2.2 Chất lượng tài sản 29
2.2.3 Năng lực công nghệ 33
2.2.4 Nhân lực 36
2.2.5 Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức 40
2.2.6 Mức độ đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ và mạng lưới hoạt động 41
2.2.7 Uy tín và Thương hiệu 44
2.3 Vận dụng mô hỉnh SWOT để xác định vị thế cạnh tranh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam 46
2.3.1 Điểm mạnh (strengths) 47
2.3.2 Điểm yếu (Weakness) 49
2.3.3 Cơ hội (Oppotunities) 50
2.3.4 Thách thức (Threats) 51
2.4 Đánh giá năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam 53
2.4.1 Thành công và nguyên nhân 53
Trang 8Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 62
3.1 Định hướng hoạt động của NHTMCP Công thương Việt Nam đến năm 2020 62 3.1.1 Định hướng nhiệm vụ trọng tâm của VietinBank đến năm 2020 62
3.1.2 Xu hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Việt Nam 63
3.2 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTMCP Công thương Việt Nam 66
3.2.1 Gia tăng năng lực tài chính của VietinBank 66
3.2.1.1 Giải pháp tăng quy mô vốn 66
3.2.1.2 Giải pháp phòng ngừa rủi ro 67
3.2.1.3 Nâng cao khả năng sinh lời 68
3.2.2 Nhóm giải pháp gia tăng công nghệ ngân hàng 69
3.2.3 Đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực của ngân hàng 71
3.2.4 Nâng cao năng lực quản lý và tăng cường sự liên kết giữa các ngân hàng nội địa 72
3.2.5 Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, phát triển mạng lưới hoạt động bền vững 73
3.2.6 Xây dựng chiến lược mở rộng hình ảnh, nâng cấp thương hiệu và hợp tác với các đối tác chiến lược nước ngoài 75
3.3 Kiến nghị 77
3.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ 77
3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 78
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 81
Trang 9BIDV Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát
triển Việt Nam Vietinbank Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt
Nam Vietcombank Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương
Việt Nam CAR
ROA
Hệ số an toàn vốn tối thiểu
Tỷ suất lợi nhận trên Tổng tài sản ROE Tỷ suất lợi nhận trên vốn chủ sỡ hữu
Máy rút tiền tự động Máy cà thẻ
Tổ chức tín dụng Hội đồng quản trị
An toàn thông tin Công nghệ thông tin Cán bộ nhân viên Báo cáo tài chính Điện toán đám mây
Đại hội đồng cổ đông Doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp nhà nước
Trang 10Công nghệ phần mềm lõi Dịch vụ bưu điện
Dịch vụ ngân hàng di động hàng đầu Giải pháp thanh toán di động
Tổ chức sỡ hữu trí tuệ thế giới Ngân hàng
Tổng sản phẩm quốc nội TPP Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình
Dương AEC Cộng đồng kinh tế Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á WTO
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tổ chức tài chính quốc tế Công ty TNHH Một thành viên quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
Hiệp hội các nước Đông Nam Á Hiệp định chung về Thương mại và Dịch vụ Hiệp định thương mại tự do
Hệ thống quản trị khách hàng Dịch vụ ngân hàng
Trang 11STT NỘI DUNG TÊN
5 Biểu đồ 2.5
Diễn biến tỷ lệ nợ xấu và hệ số an toàn vốn
2013 – 2017
6 Biểu đồ 2.6 Cơ cấu cho vay theo các nhóm khách hàng tại
VietinBank giai đoạn 2013 – 2017
7 Biểu đồ 2.7 Diễn biến vốn điều lệ của BIDV, VietinBank,
Vietcombank giai đoạn 2013 – 2017
8 Biểu đồ 2.8
Diễn biến vốn chủ sỡ hữu trên tổng tài sản của BIDV, VietinBank và Vietcombank giai đoạn
2013 – 2017
9 Biểu đồ 2.9 Chỉ số ROA của BIDV, VietinBank,
Vietcombank trong giai đoạn 2013 - 2017
10 Biểu đồ 2.10 Quy mô tổng tài sản của BIDV, VietinBank,
Vietcombank giai đoạn 2013 – 2017
Trang 1212 Hình 2.1 Cơ cấu danh mục đầu tư giai đoạn 2016 – 2017
của VietinBank
13 Hình 2.2 Quy mô nợ xấu tại các ngân hàng thương mại
cuối năm 2017
14 Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu tài chính giai đoạn 2013 - 2017
15 Bảng 2.2 Mức thu nhập bình quân một tháng của CBNV
VietinBank giai đoạn 2013 – 2017
16 Bảng 2.3 Tỷ lệ an toàn vốn CAR của BIDV, VietinBank
và Vietcombank giai đoạn 2013 - 2017
Trang 131 Tính cấp thiết của đề tài:
Từ sau khi gia nhập WTO và thực hiện lộ trình mở cửa tài chính ngân hàng Việt Nam, số lượng ngân hàng nước ngoài và chi nhánh nước ngoài không ngừng gia tăng Các ngân hàng thương mại nước ngoài bắt đầu đặt chân vào thị trường Việt Nam dưới nhiều hình thức để khai thác một thị trường đầy tiềm năng, sức ép cạnh tranh vì vậy cũng ngày càng trở nên gay gắt hơn
Các ngân hàng nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh và khả năng quản trị chuyên nghiệp đã nhanh chóng thâm nhập và nhanh chóng chiếm lĩnh được thị phần tiềm năng trong nước Chính điều này đã làm gia tăng sức ép đối với khối ngân hàng trong nước Bên cạnh những cơ hội và lợi ích mà quá trình hội nhập mang lại còn không ít khó khăn, và thách thức cần đối mặt, buộc các ngân hàng thương mại trong nước phải nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển
Với vị thế là ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam là ngân hàng có tỷ lệ sở hữu nước ngoài cao nhất trong khối các ngân hàng thương mại nhà nước cổ phần hóa, ngân hàng không đơn thuần theo đuổi mục tiêu kinh doanh hiệu quả và tăng trưởng lợi nhuận mà hướng đến lợi ích to lớn hơn là gắn sự phát triển với kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần cùng Đảng, Chính phủ thực hiện cải thiện môi trường xã hội, thúc đẩy tăng trưởng bền vững, thực hiện tốt công tác an sinh xã hội
Mặc dù, có lợi thế cạnh tranh rất lớn so với các ngân hàng nước ngoài trong giai đoạn này nhưng vẫn tồn tại những rào cản chưa đến thời hạn cam kết dỡ bỏ trong các cam kết đã ký với các tổ chức thương mại quốc tế Bên cạnh đó, còn phải đối mặt với các áp lực rất lớn về sự thiếu vốn, trình độ quản lý và nhân sự chưa đáp ứng được
để cạnh tranh trực tiếp với các đối thủ nước ngoài Nhưng với mục tiêu là giành lấy khách hàng, tăng thị phần tín dụng, tăng huy động vốn, mở rộng cung ứng các sản phẩm dịch vụ NH cho nền kinh tế, nhằm mục đích cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam vẫn còn đối diện với nhiều những khó
Trang 14mới để phục vụ được đối tượng khách hàng đa dạng
Với nhiều cơ hội và thách thức đan xen để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, nhằm đáp ứng và theo kịp được nhu cầu của xã hội và với những mục tiêu đã
đề ra, tác giả nhận thấy tầm quan trọng và tính thực tiễn rất lớn của đề tài luận văn
của tác giả: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Công thương
yếu và tìm ra những nguyên nhân, phân tích được cơ hội và thách thức đặt ra
- Đưa ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP
Công thương Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
- Không gian: năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam; lợi thế và thách thức phải đối mặt
- Thời gian: thực trạng giai đoạn từ năm 2013-2017; định hướng giải pháp tới năm 2020
4 Câu hỏi nghiên cứu
Trang 15- Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam cụ thể ra sao?
- Giải pháp được đưa ra nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam được tác giả nghiên cứu như thế nào?
5 Phương pháp nghiên cứu
Để phù hợp với yêu cầu và đối tượng nghiên cứu của đề tài, phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp nghiên cứu định tính Số liệu thứ cấp được thu thập từ ngân hàng nghiên cứu, giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017 Để thực hiện mục tiêu và nội dung nghiên cứu đề ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng để kế thừa các lý luận về năng lực cạnh tranh của các NHTM từ đó hình thành nên cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, thống kê, mô tả: thống kê các hoạt động, chỉ số tài chính trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, thông qua đó định lượng tính cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam với một số ngân hàng thương mại trong nước và nước ngoài tại Việt Nam
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: dựa trên những dữ liệu thu thập được về các thỏa thuận và điều khoản đã ký kết, đưa ra so sánh với hiện trạng năng lực cạnh tranh Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam; bên cạnh đó, so sánh với các chỉ tiêu hoạt động của các ngân hàng thương mại trong nước và nước ngoài tại Việt Nam
- Nguồn số liệu luận văn sử dụng được tổng hợp từ các báo cáo tài chính của đối tượng nghiên cứu, số liệu nguồn tổng hợp kế thừa từ các luận văn nghiên cứu trước đó
Trang 16cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam trên thị trường
6 Nội dung nghiên cứu
- Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
- Phân tích, đánh giá thực tế năng lực của Ngân hàng TMCP Công thương
Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2017
- Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Công
thương Việt Nam
7 Đóng góp của đề tài
Luận văn đã vận dụng lý luận, phân tích và đánh giá thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam qua nhiều góc độ Với đặc điểm, vị thế cạnh tranh hiện tại, luận văn chỉ ra rằng nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam cần đặc biệt tập trung vào nâng cao năng lực nội tại của mình Trên cơ sở phân tích các hạn chế, nguyên nhân ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Đồng thời, thích nghi được với những biến động của môi trường kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong giai đoạn 2013 –
2017
Khái niệm hóa cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
8 Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu
Trong những năm trở lại đây, trên thế giới và trong nước đã có nhiều các tác giả, nhà nghiên cứu tập trung nghiên cứu về vấn đề năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, chẳng hạn:
Cuốn sách “Năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong xu
thế hội nhập” của tác giả Nguyễn Thị Quy xuất bản năm 2005
Tác giả đã đề cập đến nhiều khía cạnh lý thuyết và thực tiễn về năng lực cạnh tranh và đánh giá năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
Trang 17triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh” Tác giả cũng đưa ra 6 tiêu chí để đánh giá năng lực cạnh tranh nội tại của các ngân hàng thương mại như: Tiềm lực tài chính; Năng lực công nghệ; Nguồn nhân lực; Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức; Hệ thống kênh phân phối
và mức độ đa dạng hóa các dịch vụ cung cấp; Mức độ cạnh tranh và khả năng hợp tác giữa các ngân hàng trong nước Cuốn sách cũng đưa ra phân tích một số kinh nghiệm cải cách hệ thống ngân hàng thương mại nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
ở một số nước trên thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Cuốn sách đã đưa ra hai nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam gồm: Nhóm giải pháp nâng cao năng lực nội tại của các ngân hàng thương mại Việt Nam; Nhóm giải pháp góp phần tạo lập mội trường kinh doanh thuận lợi hỗ trợ các ngân hàng thương mại Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh
Cuốn sách “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt nam trong thời gian tới” của Đinh Duy Đông (2007)
Nội dungcho thấy một số hạn chế trong lĩnh vực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam hiện nay như: cạnh tranh trong các NHTM Việt Nam mang tính chất độc quyền nhóm các NHTM nhà nước chiếm thị phần tuyệt đối và có tiềm lực tài chính lớn do sự trợ giúp của Nhà nước, nhiều NHTM Việt Nam chưa thật an toàn theo tiêu chuẩn quốc tế, các nghiệp vụ ngân hàng hiện tại còn quá đơn giản và chưa đa dạng, trình độ quản lý kinh doanh chưa cao, tính chuyên nghiệp trong hoạt động ngân hàng thương mại hiện đại còn thấp Tác giả đề ra một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
Trang 18Đình Hạc năm 2005, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả luận
án đã hệ thống hóa được một số vấn đề mang tính lý luận về cạnh tranh, hội nhập, hoạt động ngân hàng liên quan đến cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế Đặc biệt tác giả đã đưa ra các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại theo ba nhóm cơ bản
Luận văn thạc sĩ kinh tế của Trịnh Thị Ngà về “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn- Hà Nội trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế tại Việt Nam” năm 2010, trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội Nghiên cứu này đã đánh giá về thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, từ đó tác giả đã đưa ra các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngân hàng này trong giai đoạn tới
Frank Heid nghiên cứu về những “Tác động mang tính chu kỳ đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng theo nguyên tắc Basel II” Tác giả đã đo lường năng lực tài chính của các tổ chức tín dụng Na Uy giai đoạn 1998-2002 bằng cách sử dụng các tiêu chuẩn của Basel II Theo kết quả nghiên cứu của Frank, các yếu tố như tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Vốn chủ sở hữu của các ngân hàng có ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của ngân hàng; và tổng tài sản có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng
Đường Thị Thanh Hải (2015) với bài viết “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam” đăng trên tạp chí Tài chính Bài viết tập trung phân tích, đánh giá một số chỉ tiêu ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh nội tại của các NHTM Việt Nam, từ đó tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam -
Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu khoa học và một số bài viết trên các tạp chí,` báo tổng kết hoạt động kinh doanh của các NH trên toàn quốc đề cập đến vấn đề này
Trang 19phân tích ưu điểm cũng như hạn chế của một số tác phẩm giúp tác giả có định hướng cũng như bổ sung phần còn hạn chế đó trong việc nghiên cứu đề tài của mình
Trong nghiên cứu, luận văn đã sử dụng một số chỉ tiêu đánh giá đã được các nghiên cứu trước đây chứng minh Hướng đi mới của luận văn đi sâu vào phân tích đối tượng nghiên cứu cụ thể là ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam mà các tác giả trước chưa nghiên cứu đến Tác giả đi sâu vào phân tích bằng các số liệu mới của trong giai đoạn từ 2013- 2017 để tìm ra được những lợi thế cơ bản nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam trên thị trường Việc sử dụng, tham khảo các nghiên cứu trước đây đưa ra cho luận văn này một cách tổng quát về các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam và từ đó tìm ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam đến năm 2020
9 Kết cấu luận văn
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh
tranh của ngân hàng thương mại;
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của NHTMCP Công thương Việt Nam; Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTMCP Công thương
Việt Nam;
Trang 20Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại:
1.1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Bất kỳ một doanh nghiệp nào tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh loại hàng hóa nào đó trên thị trường đều phải chấp nhận sự cạnh tranh
Theo Michael Porter “Cạnh tranh là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất “
Qua đó, cho thấy dù các tác giả khác nhau đưa ra các khái niệm và tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại là khác nhau nhưng có điểm chung là đều coi trọng năng lực tài chính, chất lượng nguồn nhân lực, công nghệ ngân hàng, chủng loại và chất lượng sản phẩm và việc cạnh tranh đó diễn ra trong cùng một môi trường kinh doanh: chịu tác động của một hệ thống chính sách, một cơ sở
hạ tầng, cùng những tập quán tiêu dùng của khách hàng, Do đó, để “ganh đua”, mỗingân hàng phải tạo ra các ưu thế, phát huy điểm mạnh cốt lõi và khắc phục điểm còn yếu kém trong kinh doanh cùng với những cơ hội và thách thức trước mắt và tương lai, từ đó đề ra những giải pháp có lợi nhất cho mình khi tham gia vào quá trình cạnh tranh
Ngân hàng là ngành kinh doanh mang tính đặc thù vì hàng hóa mà ngân hàng kinh doanh là tiền tệ nên cạnh tranh trong ngân hàng là một môi trường cạnh tranh đặc biệt giữa các đơn vị kinh doanh tiền tệ với mức độ khác biệt Trong điều kiện
Trang 21toàn cầu hóa, hội nhập, cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại rất gay gắt, cho nên ngân hàng thương mại nào cũng phải chú trọng nâng cao năng lực cạnh tranh để phù hợp với môi trường kinh tế đầy biến động
Từ cách tiếp cận trên, năng lực cạnh tranh của NHTM được hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế theo nhiều phương thức khác nhau trong một thị trường nhất định tìm mọi biện pháp chiếm lĩnh thị trường giành giật khách hàng trong việc cung cấp những sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao với chi phí thấp so với các NHTM khác, phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng; đồng thời đảm bảo
sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động của môi trường kinh doanh
1.1.2 Tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Năng lực tài chính
Quy mô vốn: Vốn là điều kiện tiên quyết để cấp phép cho một ngân hàng đi vào hoạt động, là cốt lõi của năng lực cạnh tranh, đảm bảo khả năng tồn tại và phát triển của ngân hàng đó Tiềm lực vốn của một ngân hàng được đánh giá cao hay thấp phụ thuộc vào quy mô vốn chủ sở hữu
* Vốn tự có hay vốn chủ sở hữu
Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ ngân hàng tạo lập được thuộc sở hữu riêng của ngân hàng thông qua góp vốn của các chủ sở hữu hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh Theo hiệp ước Basel, để đảm bảo yêu cầu an toàn, vốn tự có của NHTM phải đạt tối thiểu 8% tổng tài sản có của ngân hàng đó
Tuy vốn tự có tuy chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng (thường chỉ chiếm 5% trong tổng nguồn vốn) nhưng vốn chủ sở hữu có vai trò cực kỳ quan trọng, nhưng có vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Tính chất quyết định này thể hiện qua các khía cạnh sau:
- Vốn tự có đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng bởi nguồn vốn này NHTM chủ động hoàn toàn và có thể được sử dụng để bù đắp những thiệt hại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, tạo niềm tin của khách hàng Ở
Trang 22khía cạnh này, vốn tự có đóng vai trò vật bảo đảm đối với người gửi tiền Ngân hàng
có vốn chủ sở hữu lớn sẽ có khả năng đền bù cho khác hàng ở quy mô lớn khi gặp rủi
ro cũng như dễ vượt qua rủi ro
- Vốn tự có tham gia vào việc điều chỉnh các hoạt động kinh doanh của NHTM theo hướng thay đổi quy mô, cơ cấu tài sản ngân hàng và điều chỉnh phạm vi cho vay đối với một khách hàng (ví dụ, pháp luật nước ta qui định mức dư nợ tối đa của một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của mỗi NHTM)
- Vốn tự có giới hạn qui mô đầu tư vào tài sản cố định của NHTM Hơn nữa, vốn tự có là cơ sở để tổ chức mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng, bởi vốn tự có tạo ra điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất cần thiết của ngân hàng Quy mô vốn tự
có của NHTM là điều kiện cho phép NHTM thực hiện các việc mở chi nhánh, văn phòng nước ngoài…
Với những vai trò trên có thể nói, vốn tự có là cái đệm chống đỡ rủi ro cho ngân hàng
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngân hàng nào có mức vốn tự có thấp
dễ gặp phải rủi ro, đổ vỡ hơn so với các ngân hàng có mức vốn tự có lớn, quy mô hoạt động rộng Đặc biệt, ở các nước đang phát triển, khi mở cửa hội nhập, thường tỷ trọng vốn tự có của các ngân hàng trong nước so với các ngân hàng nước ngoài là rất thấp Việc thiếu hụt nguồn vốn tài chính sẽ trở thành một cản trở đối với công tác lành mạnh hóa bảng cân đối tài sản và mở rộng quy mô, và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
1.1.2.2 Chất lượng tài sản
Các ngân hàng thương mại tìm kiếm các khoản vốn để sử dụng nhằm thu được lợi nhuận Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo ra các loại tài sản và để hướng tới đảm bảo mức độ đủ vốn, tăng cường năng lực tài chính như chủ động phát hành cổ phiếu cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, bán cổ phiếu cho các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài
Trang 23Như vậy, chất lượng tài sản phản ánh “sức khỏe” của một ngân hàng, là một chỉ tiêu đánh giá khả năng bền vững về tài chính và phản ánh năng lực quản lý của ngân hàng Tuy nhiên, một tài sản an toàn có thể mang lại lợi tức thấp
Có thể đo lường chất lượng tài sản bằng các chỉ tiêu sau đây:
Tín dụng là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của các ngân hàng nên thường chiếm
tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản Tuy nhiên, tín dụng lại là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất Vì vậy, các ngân hàng phải kiểm soát tăng trưởng và chất lượng tín dụng, hạn chế nợ xấu phát sinh trong tương lai
Tỷ lệ nợ xấu = Dư nợ xấu
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) = Vốn tự có x 100%
Tổng tài sản có rủi ro
Trang 24Hiện nay, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của một NHTM phải đạt được là 9% Quy định này cũng phù hợp với điều chỉnh của Hiệp ước Basel và cao hơn so với quy định của Hiệp ước Basel là 8%
● Hệ số thanh khoản
Rủi ro thanh khoản là trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán
Thanh khoản có vai trò ảnh hưởng lớn đến uy tín của ngân hàng, lòng tin của khách hàng vào ngân hàng Vì khi thanh khoản bị thâm hụt, khách hàng không thể rút tiền kịp thời ảnh hưởng đến công việc của khách hàng, từ đó làm giảm sút lòng tin và uy tín của ngân hàng Để đánh giá tính thanh khoản của một ngân hàng, có thể dựa vào một số chỉ tiêu sau:
Hệ số khả năng thanh toán hiện hành = Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Tiền + Đầu tư ngắn hạn + Khoản phải thu
Nợ ngắn hạn
Ngoài ra, để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của một NHTM người ta sử dụng chỉ tiêu phân tích khả năng sinh lời của ngân hàng Khả năng sinh lời của ngân hàng
đo lường kết quả kinh doanh của ngân hàng Đây là chỉ tiêu cụ thể nhất phản ánh qui
mô, chất lượng và hiệu quả của quá trình hoạt động, định hướng kinh doanh, năng lực cạnh tranh của ngân hàng
Thông thường khi đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng, người ta dựa vào các chỉ số sau:
Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA) = Thu nhập sau thuế x 100%
Tài sản có
Trang 25ROA cho biết một đồng tài sản sinh ra bao nhiêu đồng lợi nhuận cho ngân hàng Theo tiêu chuẩn của Basel, nếu ROA ≥ 1%, tức là ngân hàng đó được coi là có khả năng sinh lời cao
Tỷ lệ thu nhập trên vốn tự có (ROE ) = Thu nhập sau thuế x 100%
Vốn tự có
ROE cho biết một đồng vốn tự có sẽ đem lại bao nhiêu lợi nhuận cho ngân hàng Đây là chỉ tiêu rất quan trọng đối với các chủ sở hữu ngân hàng, bởi nó cho biết lợi nhuận mà chủ sở hữu nhận từ việc đầu tư vốn của mình là bao nhiêu Theo tiêu chuẩn của Basel nếu ROE ≥ 15% được coi là tốt
Những NHTM có ROA và ROE cao thường được đánh giá cao hơn các NHTM khác, và vị thế của NHTM đó trong mắt khách hàng và những nhà đầu tư cũng lớn hơn Vì vậy hiệu quả cao là chỉ tiêu tốt phản ảnh sức mạnh tài chính, tạo nên năng lực cạnh tranh của NHTM
Trang 26Bên cạnh đó, khả năng nâng cấp và đổi mới công nghệ cũng là một trong những tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh của các NHTM Khả năng đổi mới công nghệ cho phép NHTM tiến nhanh, vững chắc và chủ động về phía trước hơn, cho dù các sản phẩm dịch vụ ngân hàng có thể giống nhau, nhưng ngân hàng nào có trình độ công nghệ cao thì ngân hàng đó thu hút được nhiều khách hàng hơn, mở rộng được thị phần hơn và năng lực cạnh tranh cũng mạnh hơn
1.1.2.4 Nhân lực
Trong hoạt động kinh doanh thì nguồn nhân lực luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng Chọn đúng người đặt đúng vị trí sẽ là một lợi thế để nâng cao hiệu quả trong kinh doanh Nói cách khác, nhân viên là người trực tiếp đem lại cho khách hàng những sản phẩm, dịch vụ có chất lượng đến khách hàng một cách tốt nhất và qua đó khách hàng cũng cảm nhận được vị thế của ngân hàng giữa sức ép cạnh tranh trên thị trường ngân hàng vốn là một thị trường hết sức nhạy cảm
Ngoài ra, hội nhập quốc tế tất yếu sẽ dẫn tới sự dịch chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao từ các NHTM trong nước sang các NHNNg tại Việt Nam và thậm chí trong khu vực Do đặc trưng nghề nghiệp, đội ngũ nhân lực ngành tài chính – ngân hàng phải là nguồn nhân lực chất lượng cao với trình độ chuyên môn giỏi, kỹ năng ngoại ngữ và tin học tốt, khai thác và sử dụng được các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ cao, có phẩm chất đạo đức tốt Trong số đó, các chuyên gia tài chính là những người có tầm nhìn chiến lược, có hành động quyết đoán và nguyên tắc như một người chỉ huy, đặc biệt có thể đối phó với những diễn biến phức tạp trong kinh doanh Nguồn nhân lực chất lượng cao được coi là yếu tố then chốt để đáp ứng nhu cầu khắc khe của hội nhập, một trong những điều kiện quan trọng đáp ứng sự đảm bảo sự phát triển lành mạnh, hiệu quả và nâng cao khả năng cạnh tranh của các NHTM Việt Nam Đây là một thách thức rất lớn của các NHTM Việt Nam hiện nay, bởi thực
tế cho thấy, ngành tài chính ngân hàng của Việt Nam đang khan hiếm nghiêm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là các chuyên gia tài chính có bằng cấp quốc
tế Mặc khác, các NHTM Việt Nam còn phải đối mặt với vấn đề chảy máu chất xám trong quá trình cạnh tranh thu hút nhân tài Khu vực tài chính ngân hàng luôn diễn ra
Trang 27chu trình di chuyển lao động khá khắt nghiệt và trong chu trình đó tất yếu sẽ diễn ra việc dịch chuyển nhân lực chất lượng cao từ các NHTM trong nước sang NHNNg tại Việt Nam và sang các nước trong khu vực nếu không có chính sách và biện pháp giữ chân nhân tài
1.1.2.5 Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức
Năng lực quản lý của ngân hàng thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới đòi hỏi những cán bộ quản lý giỏi phải có trình độ quản lý và điều hành giỏi
và có khả năng ứng phó đối với các cú sốc kinh tế thế giới và khu vực Lãnh đạo phải
có cái nhìn nhạy bén với các cơ hội kinh doanh, phải tự thân vận động xóa bỏ tư tưởng nương tựa và đòi hỏi các chính sách mang tính bảo hộ của chính phủ, dự báo
và khai thác tốt thông tin thị trường để nhanh chóng nắm bắt được thời cơ tìm kiếm lợi nhuận cho ngân hàng Đây là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại trên trường quốc tế
Bên cạnh đó, một người quản lý giỏi đồng thời cũng là một nhân sự cấp cao của ngân hàng thì ngoài có kỹ năng tốt đã được tích lũy theo thời gian thì đòi hỏi phải
có tầm nhìn chiến lược và phải biết dùng người một cách tinh tế, người xưa đã từng nói “dụng người như dụng mộc” quả không sai, đặt đúng người đúng vị trí sẽ làm tăng hiệu quả công việc Đồng thời lãnh đạo cũng phải biết động viên nhân viên đúng lúc, đúng thời điểm để công việc đạt được hiệu quả cao nhất Sự phân công và phân cấp hợp lý trong cơ cấu tổ chức hoạt động của ngân hàng sẽ làm thay đổi bộ mặt của ngân hàng, giúp hoàn thiện đội ngũ nhân sự có năng lực nghề nghiệp phù hợp với chuyên môn và có thái độ phục vụ khách hàng một cách chuyên nghiệp, tạo cho khách hàng có ấn tượng tốt về ngân hàng và sẽ lựa chọn hợp tác lâu dài với ngân hàng Từ
đó, năng lực cạnh tranh của ngân hàng được nâng lên và nâng cao uy tín của ngân hàng trên thị trường Ngược lại, một người quản lý hay còn gọi là nhân sự cấp cao kém cỏi về năng lực lãnh đạo hoặc về đạo đức thì sẽ làm giảm hiệu quả kinh doanh, làm thay đổi cơ cấu vốn ban đầu của ngân hàng, NHTM có nguy cơ thua lỗ hoặc phá sản là điều tất yếu Cho nên, có thể thấy năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức hợp lý là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển và tồn tại của ngân hàng thương mại
Trang 281.1.2.6 Mức độ đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ và mạng lưới hoạt động
Dịch vụ ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng vào kết quả hoạt động của ngân hàng, nó góp phần tạo hình ảnh, vị thế của ngân hàng trên thị trường Hiện nay, Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển mới, xu thế cạnh tranh trong việc cung cấp dịch
vụ ngân hàng không chỉ các ngân hàng mà rất nhiều doanh nghiệp ngoài ngành đã tham gia cung ứng dịch vụ Tại thị trường Việt Nam, dịch vụ chuyển tiền đơn thuần giữa các tài khoản khách hàng đang là lợi thế độc quyền của các ngân hàng
Tuy nhiên, xu hướng tiêu dùng hiện nay cho thấy nhu cầu của khách hàng không chỉ đơn thuần là chuyển tiền mà chuyển dịch sang lĩnh vực thanh toán cho các dịch vụ tiêu dùng trong đời sống hàng ngày như thanh toán tiền điện thoại, tiền điện, tiền nước, vé tàu, máy bay, học phí, mua hàng trên mạng, xem phim, trả nợ vay, trả góp, taxi, Đứng trước những nhu cầu này, các tổ chức không phải ngân hàng, các tổ chức trung gian thanh toán tham gia cung cấp dịch vụ thanh toán tiền mua hàng cho các khách hàng từ rất nhiều nguồn như thẻ, tài khoản, ví thông qua nhiều hình thức như giả nhập thẻ trên di động, nhập thông tin thẻ vào di động để thanh toán trên di động Một số đơn vị cũng tham gia vào việc cung cấp dịch vụ chuyển tiền truyền thống như chuyển tiền mặt qua hệ thống đại lý và ví mono qua giải pháp bankplus của Viettel, qua vnpost
Đứng trước xu thế này đòi hỏi ngân hàng một mặt phải có những cải tiến, sáng tạo về sản phẩm dịch vụ, mặt khác phải biết tận dụng thế mạnh của mình trong việc hợp tác với các đơn vị không phải ngân hàng trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ
mở rộng đến khách hàng
Qua đó, cho thấy sản phẩm, dịch vụ ngày càng đa dạng thì ngân hàng sẽ tạo được ưu thế cạnh tranh so với các ngân hàng thương mại khác Khách hàng sẽ chủ động tìm kiếm các sản phẩm dịch vụ cải tiến mới và từ đó kéo theo nhu cầu sử dụng dịch vụ của khách hàng gia tăng, đòi hỏi ngân hàng phải mở rộng mạng lưới kinh doanh, một mặt triển khai, phát triển các sản phẩm và dịch vụ truyền thống Yếu tố mạng lưới rộng khắp thực sự được xem là một trong những yếu tố khẳng định năng lực cạnh tranh của một ngân hàng, đặc biệt là những ngân hàng bán lẻ, khi phân khúc
Trang 29số đông là mục tiêu phát triển Mạng lưới giao dịch của một ngân hàng được đánh giá thông qua số lượng điểm giao dịch của ngân hàng đó tại các tỉnh, thành phố trên cả nước, góp phần tạo nên thế mạnh vượt trội cho ngân hàng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh
1.1.2.7 Uy tín và thương hiệu
Hoạt động kinh doanh của NHTM đã có những bước chuyển biến và thay đổi tích cực, phù hợp với xu thế phát triển của thị trường trong và ngoài nước cũng như đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng Hoạt động kinh doanh của NHTM luôn hướng đến mục tiêu tìm ra những giải pháp, phương hướng, hoàn thiện chính sách khách hàng, hướng tới khách hàng Để làm được điều đó các NHTM tập trung phát triển nguồn lực sẵn có của mình, tạo nên một môi trường cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng với nhau Và để có sự khác biệt, riêng biệt của của mình trên thị trường thì ngân hàng phải khẳng định được vị trí của mình trong tâm trí khách hàng, gợi lên tất cả những thông tin và trông đợi gắn với trải nghiệm thương hiệu, tạo ra ấn tượng bằng thương hiệu đó gắn với một sản phẩm hoặc dịch vụ với những chất lượng
và đặc tính nhất định khiến nó trở nên độc đáo hoặc duy nhất Cho nên, một thương hiệu nổi tiếng và uy tín, có chỗ đứng trong thị trường sẽ thu hút được một lượng khách hàng đông đảo cho ngân hàng Một thương hiệu được thừa nhận rộng rãi trên thị trường tức là đã đạt được sự khẳng định thương hiệu, và các sản phẩm có uy tín
và thương hiệu bao giờ cũng được đánh giá cao hơn
Theo Tổ chức sỡ hữu trí tuệ thế giới (WIPO) định nghĩa thương hiệu là một dấu hiệu đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hóa hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức
Việc nhận diện được sự khác nhau giữa các sản phẩm đa dạng do các ngân hàng thương mại cung cấp sẽ gây khó khăn cho khách hàng Có thể hiểu bất kỳ sự phát triển của doanh nghiệp nào cũng gắn liền với sự phát triển của thương hiệu của doanh nghiệp, bên cạnh uy tín mà doanh nghiệp đã gầy dựng cùng với sự phát triển
Uy tín là tài sản vô hình mà không phải bất cứ ngân hàng nào cũng có được
Uy tín ngân hàng phải được xây dựng và củng cố trên cơ sở mạng lại nhiều lợi ích
Trang 30cho xã hội và cho khách hàng Uy tín ngân hàng là yếu tố quan trọng, là cơ sở để ngân hàng có thể dễ dàng vươn lên trong cạnh tranh với các ngân hàng khác bởi vì hoạt động kinh doanh ngân hàng là hoạt động nhạy cảm chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn nhưng lại liên quan mật thiết đến tài sản và lợi ích của khách hàng Uy tín ngân hàng được hình thành sau một thời gian dài hoạt động trên thị trường và là tài sản vô hình
mà ngân hàng cần phát huy và sử dụng như một thứ vũ khí chủ lực trong điều kiện cạnh tranh
1.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm về nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Trong luận văn này, năng lực cạnh tranh được tiếp cận theo khía cạnh sức mạnh nội tại của ngân hàng, là khả năng do chính ngân hàng tạo ra trên cơ sở duy trì
và phát triển những ưu thế có sẵn của ngân hàng so với các ngân hàng thương mại khác để nâng cao vị thế về giá trị và thương hiệu của mình Từ đó ngân hàng có khả năng tiếp cận, thu hút về một lượng lớn khách hàng, nhằm tối đa hóa lợi nhuận trong kinh doanh và mở rộng thị phần, đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động có thể xảy ra
Ngoài ra, NHTM còn chịu sự quản lý chặt chẽ từ NHNN và là một trung gian
để NHNN thực hiện các chính sách tiền tệ Do vậy, sức mạnh cạnh tranh của các NHTM phụ thuộc rất nhiều vào chính sách tiền tệ, tài chính của Chính phủ và NHNN Ngoài ra, các NHTM còn phải chịu sự chi phối của những qui định, chuẩn mực chung của tổ chức thế giới Do vậy, bất kỳ sự thay đổi nào trong hệ thống pháp luật, chuẩn mực quốc ra trong bối cảnh một nền kinh tế mở với nhiều biến động phức tạp
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Các nhân tố khách quan
Bao gồm những nhân tố thuộc về môi trường pháp lý, điều hành chính sách vĩ
mô của nhà nước, diễn biến của nền kinh tế và môi trường kinh doanh
*Các nhân tố trong nước:
Trang 31- Hệ thống pháp luật, chính trị: Cạnh tranh trong điều kiện chịu sự chi phối mạnh mẽ của các chính sách tài chính tiền tệ của Nhà nước, chịu sự tác động không nhỏ của các chính sách tài khóa, của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau như luật các
tổ chức tín dụng, luật dân sự, luật cạnh tranh… Đặc biệt, còn chịu sự quản lý chặt chẽ
từ NHNN và là một trung gian để NHNN thực hiện các chính sách tiền tệ Do vậy, sức mạnh cạnh tranh của các NHTM phụ thuộc rất nhiều vào chính sách tiền tệ, tài chính của Chính phủ và NHNN Ngoài ra, các NHTM còn phải chịu sự chi phối của những qui định, chuẩn mực chung của các tổ chức thế giới
Do vậy, bất kỳ sự thay đổi nào trong hệ thống pháp luật, chuẩn mực quốc tế, cũng như chính sách tiền tệ của NHNN sẽ ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng Vì vậy, chính sách tiền tệ phải được điều hành chủ động, linh hoạt, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, để kiểm soát và kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ Hỗ trợ tích cực cho mục tiêu kiểm soát lạm phát từ phía chính sách tài khóa
đó là việc giám sát, kiểm soát chặt chẽ để nâng cao hiệu quả đầu tư công
Một thể chế chính trị ổn định và khung khổ pháp luật rõ ràng, đầy đủ, toàn diện và phải mang tính khả thi sẽ là cơ sở đảm bảo cho các NHTM hoạt động kinh doanh thuận lợi, công bằng, do đó năng lực cạnh tranh được đánh giá khách quan, công khai, minh bạch Bên cạnh đó, cần rà soát, điều chỉnh, bãi bỏ hàng trăm quy định, điều khoản trong các luật đang cản trở tự do kinh doanh, tạo một môi trường cạnh tranh lành mạnh
-Tình hình kinh tế: Các nhân tố kinh tế bao gồm tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, lãi suất…ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của NHTM và làm xáo trộn tương quan sức mạnh cạnh tranh giữa các ngân hàng
Nội lực của nền kinh tế: tốc độ tăng trưởng GDP là yếu tố đầu tiên của nền kinh tế trong nước ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng Khi nền kinh tế ở giai đoạn tăng trưởng cao làm cho thu nhập của dân cư tăng và nhu cầu
sử dụng các tiện ích từ sản phẩm dịch vụ ngân hàng cũng tăng lên từ đó tác động đến khả năng mở rộng hoặc thu hẹp mạng lưới hoạt động của các ngân hàng thương mại Ngược lại khi nền kinh tế bị sa sút, suy thoái dẫn đến giảm tiêu dùng, giảm đầu tư toàn
Trang 32xã hội, các khách hàng sẽ ít sử dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, làm cho hoạt động của ngân hàng bị co lại, thu nhập từ các hoạt động khác không đủ bù cho các hoạt động thiếu thận trọng, lúc này các ngân hàng thương mại có năng lực yếu kém hơn sẽ chịu
sự tác động trực tiếp của quy luật đào thải
Sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô thông qua các chỉ tiêu như chỉ số lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái, cán cân thanh toán quốc tế… Độ mở cửa của nền kinh tế thể hiện qua các rào cản, sự gia tăng nguồn vốn đầu tư trực tiếp, sự gia tăng trong hoạt động xuất nhập khẩu, sự phát triển của thương mại, mức độ mở cửa và tự do hoá ngày càng cao, theo đà phát triển kinh doanh của các công ty đa, xuyên quốc gia các chủ thể tiềm năng từ nước ngoài sẽ xâm nhập thị trường
từ phía người dân và từ phía doanh nghiệp từ các chính sách ưu đãi của ngân hàng, phải đổi mới và ứng dụng các công nghệ mới nhất vào các sản phẩm, dịch vụ, nâng cao các mảng nghiệp vụ như bán hàng, marketing, dịch vụ và xử lý yêu cầu của khách hàng để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng
1.2.2.2 Yếu tố chủ quan
Yếu tố chủ quan của NH được đánh giá qua các tiêu chí như năng lực tài chính, năng lực hoạt động, năng lực quản lý điều hành, nguồn nhân lực, năng lực công nghệ, mức độ đa dạng của sản phẩm và dịch vụ và mạng lưới chi nhánh, góp phần tạo sức mạnh nội lực cho NHTM Nếu một NH có thể phát huy tối đa sức mạnh của các yếu
tố trên, kết hợp với việc nắm bắt thông tin về các đối thủ mới gia nhập, thận trọng với các đối thủ hiện tại Mặc dù, các NHTM luôn đứng ở thế cạnh tranh gay gắt với nhau
để mở rộng thị phần, giành lấy khách hàng nhưng do các NHTM cạnh tranh với nhau
Trang 33trong mối quan hệ biện chứng của các bộ phận hợp thành hệ thống, tính hệ thống buộc các ngân hàng thương mại phụ thuộc lẫn nhau Vì thế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình thì giữa các ngân hàng phải có sự hợp tác, liên kết với nhau để thực thi các chức năng có tính hệ thống như thanh toán bù trừ, cung cấp thông tin khách hàng cho nhau để giảm thiểu rủi ro khách hàng có những biểu hiện gian lận, ngăn chặn những tác động xấu ảnh hưởng đến cả hệ thống
Nói cách khác, các NHTM một mặt cạnh tranh nhau, một mặt hỗ trợ nhau, cứu nguy cho nhau chứ không phải cạnh tranh để tiêu diệt nhau Để đảm bảo tính ổn định, minh bạch và giảm thiểu rủi ro của cả hệ thống tránh sự sụp đổ của ngân hàng này kéo theo sự sụp đổ của ngân hàng khác sụp đổ Có thể nói, sự cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng không đồng nghĩa với việc triệt hạ đối thủ mà chính là sự lớn mạnh của đối thủ là tiền đề để tạo điều kiện cho ngân hàng phát triển
1.2.3 Ý nghĩa của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế Có thể nói nhận thức hội nhập phản ánh một cách khá trung thực khả năng hội nhập của các NHTM Việt Nam, nếu nhận thức về hội nhập không đầy đủ, không đúng hoặc chưa có nhận thức về hội nhập, chắc hẳn trước những cơ hội và thách thức của hội nhập, các NHTM trong nước sẽ khó tránh khỏi những thiệt hại do quá trình hội nhập mang lại Điều này đòi hỏi, các ngân hàng thương mại trong nước phải nắm bắt được thời cơ, và có những biện pháp cụ thể để nâng cao năng lực cạnh tranh
Quá trình cạnh tranh luôn mang lại thuận lợi và những khó khăn không lường trước được đối với bất kỳ ngân hàng thương mại nào Khi trên thị trường có quá nhiều các NHTM và các tổ chúc tài chính khác đang tìm mọi cách giành lấy khách hàng để tăng thị phần thì việc làm thế nào để làm tăng mức độ hài lòng của khách hàng là một thách thức lớn đối với các nhà quản lý Ngày nay, khách hàng có điều kiện để so sánh, đánh giá và đưa ra quyết định lựa chọn ngân hàng nào thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu của họ và họ cũng sẽ sẵn sàng dịch chuyển đến một ngân hàng khác có nhiều sản phẩm và dịch vụ tốt hơn
Trang 34Tóm lại, các ngân hàng cần xây dựng được một chiến lược kinh doanh bền vững, có kế hoạch lâu dài về năng lực tài chính, cung cấp các dịch vụ vượt trội cho khách hàng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua trình độ yêu cầu tuyển dụng, chính sách đào tạo, bồi dưỡng trong quá trình sử dụng lao động cũng như các chính sách thu hút nhân tài Chất lượng nguồn nhân lực quyết định khả năng tiếp cận
và nhu cầu đầu tư để sử dụng, ứng dụng công nghệ cho các NHTM Các NHTM có trình độ ứng dụng công nghệ cao thường yêu cầu trình độ nhân sự cao Trình độ ứng dụng công nghệ là yếu tố tạo ra sự đa dạng các sản phẩm cho các NHTM Có thể nói quá trình hội nhập quốc tế tạo ra động lực để các ngân hàng thương mại nâng cao năng lực của mình trong diều kiện cạnh tranh mãnh liệt
1.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia về nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và bài học kinh nghiệm rút ra đối với Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia về nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
1.3.1.1 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Trung Quốc
Ngày 10/12/2001, Trung Quốc gia nhập WTO, đứng trước những cơ hội và thách thức của quá trình hội nhập mang lại và để tăng khả năng cạnh tranh Trung Quốc đã đưa ra chiến lược phát triển các thể chế tài chính lành mạnh không bị ảnh hưởng bởi sự cạnh tranh gay gắt bởi các đối tác ngân hàng nước ngoài Cụ thể, Trung Quốc đã cổ phần hóa 4 NHTM lớn là Ngân hàng Kiến thiết Trung Quốc, Ngân hàng Công thương Trung Quốc, Ngân hàng Trung Quốc, và Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc Bên cạnh việc khuyến khích các ngân hàng này bán cổ phiếu trên thị trường trong và ngoài nước để tăng vốn và nâng cao năng lực quản lý, Trung Quốc còn đưa
ra các tiêu chuẩn kế toán quốc tế cho các ngân hàng nhằm cải cách hệ thống ngân hàng, đưa ra các mức lãi suất về sát với cung cầu thị trường để tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao chất lượng tài sarn cho các ngân hàng này
Trang 35Tháng 6/2004, 2 ngân hàng là Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc và Ngân hàng Trung Quốc đã xử lý 300 tỷ nhân dân tệ (tương đương khoảng 36,2 tỷ USD0 nợ khó đòi, giảm tỷ lệ nợ xấu từ 5,16% xuống còn 3,74% và chuẩn bị cho lần đầu tiên phát hành cổ phiếu ra công chúng
Tháng 5/2006, Ngân hàng Công thương Trung Quốc cũng bán cổ phiếu ra công chúng và trở thành ngân hàng Trung Quốc có tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài cao nhất, chiếm khoảng 8,89% vốn điều lệ Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của ngân hàng này cũng được tăng lên đến 10,26% và tỷ lệ nợ xấu giảm xuống còn 4,43%, gần tới mức 1-2% của các NHNNg
Chính phủ Trung Quốc yêu cầu các NHTM quốc doanh tự hoạch định kế hoạch tăng vốn điều lệ để đạt tỷ lệ an toàn vốn theo quy định của Hiệp nghị Basel là 8% Các ngân hàng phải thông qua các khâu công tác như tính toán tỷ lệ vốn theo quy định, thực hiện kiểm tra, giám sát và công khai thông tin để đưa rủi ro thị trường vào khung giám sát và quản lý vốn
Tháng 8/2006 Ngân hàng Hong Kong (HSBC) đã đầu tư tới 14.5 tỉ NDT, chiếm 19.9% cổ phần vào Ngân hàng Giao thông Trung Quốc, tiếp đó là ngân hàng
Mỹ, ngân hàng Singapore cũng lần lượt đầu tư vào Ngân hàng Kiến thiết Trung Quốc Đến nay các NHTM lớn khác của Trung Quốc như Ngân hàng Trung Quốc, Ngân hàng Công Thương đều thu hút được đầu tư từ các ngân hàng lớn của nước ngoài tiến hành kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, nhất là phát hành thẻ tín dụng, dịch vụ tài chính
Kế hoạch Đại cải (Big Bang), trong đó có mục tiêu trợ giúp tài chính cho kế hoạch hợp nhất giữa các ngân hàng, trợ giúp vốn cho các ngân hàng yếu nhưng có khả năng tồn tại, quốc hữu hóa những ngân hàng không thể tồn tại
Trang 36Chính phủ Nhật Bản và Ngân hàng Nhật Bản cũng đã lập nên những quỹ huy động cổ phiếu để các NHTM có thể bán các khoản tồn trữ cổ phiếu của mình, song song với việc giải tỏa lượng cổ phiếu khổng lồ này qua các kênh tự do Nhờ đó, lượng
cổ phiếu mà các NHTM nắm giữ cũng giảm đáng kể, đem lại cho những ngân hàng này một lượng vốn mới để đầu tư Ngoài ra, sự kiện mới đây nhất là vụ sáp nhập của hai tập đoàn tài chính khổng lồ của Nhật để hình thành nên tập đoàn tài chính ngân hàng lớn nhất thế giới Đó là sự kiện UFJ Holdings và Mitsubishi-Tokyo Financial Group (MTFG) kết hợp lại thành một Tập đoàn tài chính mới này hứa hẹn sẽ đem lại cho ngành Ngân hàng Nhật Bản nói riêng và nền kinh tế Nhật nói chung một động lực mới để phát triển và cạnh tranh
1.3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra đối với NHTMCP Công thương Việt Nam
Nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh trong giai đoạn đổi mới và hội nhập với thương mại thế giới Mỗi một quốc gia, mỗi một NHTM, tùy vào thực trạng của chính mình mà sử dụng các biện pháp để thích ứng Cụ thể:
- Nợ xấu đang luôn được coi là mối lo ngại hàng đầu của ngành ngân hàng, vấn đề ưu tiên của các NHTM hiện nay là giảm nợ xấu, nợ xấu cần phải được tiếp tục
xử lý một cách thực chất Tuy nhiên, do nợ xấu được hình thành từ hai chủ thể khác nhau: nợ xấu của TCTD và nợ xấu của nền kinh tế TCTD cho khách hàng vay, và khi các khoản cho vay này khó thu hồi thì TCTD coi là nợ xấu Ngoài ra, trong điều kiện kinh tế suy thoái, thị trường bất động sản và chứng khoán suy yếu người vay gặp nhiều khó khăn, không hoặc chưa trả nợ được làm gia tăng nợ xấu Cho nên, xử
lý nợ xấu thực chất, phải là qua các biện pháp tác động tới khách hàng vay, những cá nhân và tổ chức khác trong nền kinh tế, nhằm khôi phục lại hoạt động, từ đó có thu nhập để trả nợ Việc bán nợ cho Công ty quản lý tài sản các TCTD Việt Nam (VAMC) chưa phải là đã được xử lý một cách triệt để
- Sáp nhập và hợp nhất ngân hàng: mặc dù hệ thống ngân hàng Việt Nam đã làm tròn vai trò lưu thông tiền tệ cho toàn bộ nền kinh tế, song sự tăng trưởng của hệ thống trong thời gian qua chỉ tăng về mặt số lượng, chất lượng chưa được cải thiện nhiều, khả năng quản trị của ngân hàng còn khá yếu, trong quá trình quản trị điều
Trang 37hành, các NHTM thường có sự khác nhau về cơ chế hoạt động và giám sát hoạt động, điều này thể hiện qua phân cấp, phân quyền trong quản lý hoạt động, tùy theo chất lượng nguồn nhân lực, đã gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong nước trong việc huy động vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Cho nên, cần có chính sách đào tạo, bồi dưỡng trong quá trình sử dụng lao động cũng như chính sách thu hút nhân tài
-Các NHTM cần có trình độ ứng dụng công nghệ cao Vì đây là yếu tố tạo ra
sự đa dạng các sản phẩm cho các NHTM
-Nghiêm túc thực hiện quy định của pháp luật để đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng, cho hệ thống
-Mở rộng thị phần bằng cách tăng quy mô vốn, đa dạng hóa danh mục và dịch
vụ, tạo thêm tiện ích cho khách hàng, mở rộng các điểm giao dịch mới ở những nơi dân cư mới
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1, đề tài đã tổng hợp và trình bày khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh nói chung và năng lực cạnh tranh của NHTM nói riêng Qua đó phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc nghiên cứu nhận thức là điều cần thiết để có một cái nhìn khái quát về nhận thức và sự sẵn sàng hội nhập của các NHTM Nếu nhận thức không đầy
đủ về hội nhập, không đúng hoặc chưa có nhận thức về hội nhập thì chắc chắc đứng trước những cơ hội và thách thức thì các NHTM trong nước khó tránh khỏi những thiệt hại về thị trường cũng như về nguồn nhân lực Các NHTM hiện nay cần phải phát huy những thế mạnh sẵn có của mình, nắm vững những quy định của nhà nước, liên kết hợp tác với các NHTM khác để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường Ngày nay, khách hàng là những người tiêu dùng thông minh, nếu các ngân hàng thương mại không đổi mới để đáp ứng những nhu cầu đa dạng từ phía khách hàng và áp lực
từ phía các đối thủ cạnh tranh thì không thể tồn tại Vì vậy, ngân hàng thương mại
cổ phần Công thương Việt Nam đang từng bước để hoàn thiện mình để trở thành là ngân hàng đứng đầu trong cả nước Những cơ sở lý luận đề cập trong chương 1sẽ là
cơ sở cho việc thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài trong chương 2
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về ngân hàng Thương mại Công thương Việt Nam
2.1.1 Khái quát về sự hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh là Vietnam Joint Stock Commercial Bank for Industry and Trade (gọi tắt là
“VietinBank”) là ngân hàng thương mại cổ phần được thành lập và đăng ký tại nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam Ban đầu được thành lập sau khi tách ra từ NHNN Việt Nam, với tên gọi ban đầu là Ngân hàng chuyên doanh Công thương Việt Nam theo Nghị định số 53/NĐ-HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về
tổ chức bộ máy NHNN, trên cơ sở nhân sự và chức năng nhiệm vụ của Vụ Tín dụng Công nghiệp và Vụ Tín dụng Thương nghiệp của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam cùng các phòng Tín dụng Công nghiệp và Thương nghiệp thuộc các chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố, thị xã
Trong quá trình hình thành và phát triển, ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam đã trải qua ba giai đoaạn chủ yếu như sau:
● Giai đoạn: Từ 1988 – 2000: Giai đoạn xây dựng và chuyển đổi từ ngân hàng một cấp thành ngân hàng hai cấp, đưa Ngân hàng Công thương đi vào hoạt động
● Giai đoạn: Từ 2001 – 2008: Giai đoạn thực hiện thành công Đề án tái cơ cấu Ngân hàng Công thương về xử lý nợ, mô hình tổ chức, cơ chế chính sách và hoạt động kinh doanh
● Giai đoạn: Từ 2009 – nay: Giai đoạn thực hiện thành công cổ phần hóa, đổi mới mạnh mẽ, hiện đại hóa, chuẩn hóa các mặt hoạt động ngân hàng Chuyển đổi
mô hình tổ chức quản trị điều hành theo thông lệ quốc tế
Trải qua 30 năm xây dựng và phát triển, VietinBank đã chứng minh tính đúng đắn và kịp thời của Đảng và Nhà nước khi chuyển mô hình ngân hàng (NH) từ một cấp sang mô hình NH hai cấp và hình thành một mạng lưới NH thương mại (NHTM)
Trang 40rộng lớn dưới sự quản lý và giám sát của NHNN Việt Nam Nhờ vậy mà hệ thống
NH đã thực hiện được nhiệm vụ to lớn của mình là hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển
và lớn mạnh của nền kinh tế, cho việc cải thiện và nâng cao mức sống của nhân
Đến nay, toàn hệ thống đã có gần 23.000 cán bộ, nhân viên làm việc ở Trụ sở chính, 2 Văn phòng Đại diện, 9 đơn vị sự nghiệp, 155 CN cùng gần 1.000 PGD Mạng lưới hoạt động của VietinBank không chỉ có ở trong nước mà VietinBank đã thành lập NH 100% vốn tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, đặt 2 CN tại Cộng hòa Liên bang Đức và lập Văn phòng Đại diện tại Cộng hòa Liên bang Myanmar VietinBank hiện có quan hệ đại lý với hơn 1.000 NH tại trên 90 quốc gia trên thế giới Ngoài ra, VietinBank còn tham gia góp vốn vào NH liên doanh IndovinaBank (NH liên doanh hoạt động hiệu quả nhất tại Việt Nam) và có một số công ty trực thuộc
2.1.2 Tổng quan về hoạt động kinh doanh của ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, VietinBank có sự chuyển biến rõ rệt, các biện pháp kinh doanh đổi mới, mang tính thực tiễn cao, tận dụng tối đa cơ hội thị trường để thúc đẩy tăng trưởng quy mô mạnh mẽ, bền vững và hiệu quả Kết quả hoạt động kinh doanh của VietinBank tăng trưởng cả về lượng và chất Cụ thể: Tổng tài sản hợp nhất của VietinBank ước đạt hơn 1,1 triệu tỷ đồng, tăng 15,3%, hoàn thành 101% kế hoạch được Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) giao; dư nợ tín dụng đạt 839 nghìn tỷ đồng, tăng 18%; tổng nguồn vốn ước đạt trên 1 triệu tỷ đồng, tăng 16%, hoàn thành 102% kế hoạch ĐHĐCĐ Chất lượng tín dụng của VietinBank được kiểm soát chặt chẽ, tỷ lệ nợ xấu chiếm 1,29% dư nợ cho vay, thấp hơn nhiều so với mức trung bình của toàn Ngành Ngân hàng
Trong vòng 5 năm liên tiếp (2012 – 2016) VietinBank là ngân hàng Việt Nam duy nhất được Forbes xếp hạng trong Top 2000 Doanh nghiệp lớn nhất thế giới Năm
2016, VietinBank là ngân hàng Việt Nam duy nhất lọt vào Top 400 Thương hiệu Ngân hàng giá trị nhất thế giới, Top 10 Thương hiệu giá trị nhất Việt Nam theo công
bố toàn cầu của Brand Finance Hiện VietinBank là ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất, lợi nhuận và thu nhập bình quân đầu người đứng hàng đầu ngành Ngân hàng