1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

23 576 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Vấn Đề Cơ Bản Về Rủi Ro Tín Dụng Trong Hoạt Động Kinh Doanh Của Ngân Hàng Thương Mại
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính Ngân Hàng
Thể loại bài tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 43,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ, thanh toán vàthực hiện nhiều chức năng tài c

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG

KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

1.1 Các nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại.

1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại.

NHTM xuất hiện trước khi có chủ nghĩa tư bản, nghề ngân hàng bắt đầu vớinghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ vàng Người làm nghề đổi tiền thường

là người giàu, trước đó có thể đã làm nghề cho vay nặng lãi Họ thường có két tốt

để cất giữ để đảm bảo an toàn Do yêu cầu cất trữ tiền của các lãnh chúa, các nhàbuôn… nhiều người làm nghề đổi tiền thực hiện luôn cả nghiệp vụ cất trữ hộ.Trong điều kiện lưu thông tiền kim loại (bạc hoặc vàng) các chủ cửa hàng vàng,bạc vừa đổi tiền, thanh toán hộ, vừa đúc tiền và cho vay nặng lãi Họ là nhữngngười làm nghề kinh doanh tiền tệ hay còn gọi là nhà buôn tiền Do tính chất vôdanh của tiền nhà buôn tiền có thể sử dụng tạm thời một phần tiền gửi của kháchhàng để cho vay Hoạt động này làm thay đổi cơ bản hoạt động của nhà buôn tiền –

kẻ cho vay nặng lãi – thành nhà buôn tiền – ngân hàng Hoạt động cho vay dựatrên tiền gửi của khách, tạo nên lợi nhuận lớn nên các ngân hàng đều tìm cách mởrộng thu hút tiền gửi để cho vay bằng cách trả lãi cho người gửi tiền Bằng cáchcung cấp các tiện ích khác nhau mà ngân hàng huy động được ngày càng nhiều tiềngửi là điều kiện để mở rộng cho vay và hạ lãi xuất cho vay

Vậy ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch

vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ, thanh toán vàthực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nàotrong nền kinh tế

Qua khái niện trên về ngân hàng ta thấy ngân hàng có ba chức năng chính:

Trang 2

- Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu làchuyển tiết kiệm của các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu thành đầu tưcủa các cá nhân và tổ chức tạm thời thậm hụt chi tiêu.

- Ngân hàng tạo ra phương tiện thanh toán: Khi ngân hàng cho vay số dưtrên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng

để mua hàng hoá, dịch vụ Do đó bằng việc cho vay, các ngân hàng đã tạo raphương tiện thanh toán Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo ra phương tiện thanhtoán khi các khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng kháctrên cơ sở cho vay

- Ngân hàng là trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các Quốc gia.Thay mặt khách hàng ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch vụ

1.1.2 Các nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại.

Một là: Huy động tiền gửi của các tổ chức kinh tế và cá nhân.

Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng dã tìm mọicách để huy động được tiền Một trong những nguồn quan trọng là các khoản tiềngửi thanh toán và tiết kiệm của khách hàng Ngân hàng mở dịch vụ nhận tiền gửi

để bảo quản hộ người có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn Trong cuộc cạnhtranh để tìm và giành được các khoản tiền gửi, các ngân hàng đã trả lãi cho tiền gửinhư là phần thưởng cho khách hàng về việc sẵn sàng hi sinh nhu cầu tiêu dùngtrước mắt và cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh

NHTM hoạt động bằng cách ”đi vay để cho vay” khoản chênh lệch lãi xuất,sau khi đã trừ đi những chi phí khác là lợi nhuận của ngân hàng NHTM có thể huyđộng vốn nhàn rỗi trong xã hội bằng cách nhận tiền gửi của các doanh nghiệp và cánhân với các lãi xuất khác nhau như tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiềngửi tiết kiệm

Trang 3

Ngoài ra, khi cần thêm vốn ngân hàng có thể huy động bằng cách phát hànhcác chứng chỉ tiền gửi hay vay vốn của ngân hàng trung ương hoặc các tổ chức tíndụng khác.

Hai là: Nghiệp vụ đầu tư tín dụng.

Nghiệp vụ đầu tư tín dụng cho khách hàng là nghiệp vụ kinh doanh mang lạilợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng Vốn mà NHTM sử dụng để cho vay xuất phát từnguồn vốn mà ngân hàng huy động được từ các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh

tế Trong việc tạo ra khả năng tín dụng, các NHTM đã và đang thực hiện các chứcnăng xã hội của mình làm cho sản phẩm xã hội tăng lên, vốn đầu tư được mở rộng

và từ đó dẫn đến lợi nhuận nhiều hơn, đời sống kinh tế của nhân dân được nângcao Rõ ràng tín dụng ngân hàng có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ hoạt độngcủa nền kinh tế Nó tạo ra khả năng tài trợ cho hoạt động công nghiệp, thươngnghiệp, nông nghiệp của đất nước

Ba là: Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.

Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản màcòn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng Thanh toán qua ngân hàng đã mởđầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần phải đếnngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách, khách hàng manggiấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền Các tiện ích của thanh toán không dùng tiềnmặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thờigian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho khách hàng Khi ngân hàng mở chinhánh, phạm vi thanh toán qua ngân hàng được mở rộng, càng tạo nhiều tiện íchhơn Điều này đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngânhàng thanh toán hộ Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, bên cạnh cácthể thức thanh toán như: séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, đã phát triển các hình thứcthanh toán mới bằng điện, thẻ

Bốn là: Mua, bán ngoại tệ.

Trang 4

Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi(mua, bán) ngoại tệ: Tức là mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác vàhưởng phí dịch vụ.

Năm là: Bảo quản tài sản hộ và bảo lãnh.

Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng, các giấy tờ có giá và các tài sảnkhác cho khách hàng trong két Ngân hàng thường giữ hộ những tài sản tài chính,giấy tờ cầm cố hoặc ngững giấy tờ quan trọng khác của khách với nguyên tắc antoàn, bí mật thuận tiện

Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho khách hàng rất lớn và do ngân hàngnắm giữ tiền gửi của các khách hàng nên ngân hàng có uy tín trong bão lãnh chokhách hàng

Sáu là: Quản lý ngân quỹ.

Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và cánhân Nhờ đó, ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với các khách hàng Do

có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiềungân hàng đã cung cấp cho khách dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó ngân hàngđồng ý quản lýviệc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phầnthặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lời và tín dụng ngắn hạn chođến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán

Bảy là: Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn.

Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia

về quản lý tài chính Vì vậy nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản

lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ Dịch vụ uỷ thác phát triển sang cả uỷthác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác đầu tư… Nhiều kháchhàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính Ngân hàng sẵn sàng

tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán, sát nhập doanhnghiệp

Trang 5

Tám là: Cung cấp các dịch vụ đại lý.

Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánhhoặc văn phòng ở khắp mọi nơi Nhiều ngân hàng (thường ngân hàng lớn) cungcấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát hành

hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ

Ngoài các nghiệp vụ chủ yếu ở trên các ngân hàng thương mại còn thực hiệncác nghiệp vụ: Tài trợ các hoạt động của chính phủ, cho thuê thiết bị chung và dàihạn, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm và môi giới đầu tư chứng khoán

1.2 Tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.

1.2.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng.

Theo Mác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từngười sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với mộtlượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu Theo quan niệm này phạm trù tín dụng

có ba nội dung chủ yếu đó là: tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tínhthời hạn và tính hoàn trả

Như vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vaythông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền

tệ hoặc hàng hoá Qúa trình đó được thể hiện qua ba giai đoạn sau:

- Phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay ở giai đoạn này, giá trị vốn tíndụng được chuyển sang người đi vay, ở đây chỉ có một bên nhận được giá trị vàcũng chỉ một bên nhượng đi giá trị

- Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất Người đi vay sau khinhận được giá trị vốn tín dụng họ được quyền sử dụng giá trị đó để thoả mãn nhucầu sản xuất hoặc tiêu dùng của mình Tuy nhiên, người đi vay chỉ được quyền sửdụng trong một khoảng thời gian nhất định mà không được quyền sở hữu về giá trịđó

Trang 6

Đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng Sau khi vốn tíndụng đã hoàn thành một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì vốn tín dụngđược người đi vay hoàn lại cho người cho vay.

Những hành vi tín dụng có thể được diễn ra trực tiếp giữa người thừa vốn cầnđầu tư và người cần vốn để sử dụng Nhưng thực tế hai người này khó có thể phùhợp được với nhau về quy mô, về thời gian hoặc cũng có thể phù hợp được thì phảitốn kém chi phí tìm kiếm, nên để thoả mãn được nhu cầu của cả hai người thì cầnthiết phải có người thứ ba đứng ra tập trung được tất cả số vốn của những ngườitạm thời thừa, cần đầu tư kiếm lãi Trên cơ sở số vốn tập trung được phân phối chonhững người cần vốn để sử dụng dưới hình thức cho vay Người đó không ai khácchính là các tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là các NHTM – người môi giới tàichính trên thị trường tài chính Việc các NHTM tập trung vốn dưới hình thức huyđộng và phân phối vốn dưới hình thức cho vay dược gọi là tín dụng ngân hàng.Qua khái niệm về tín dụng ngân hàng trên ta thấy vai trò quan trọng của tíndụng ngân hàng:

- Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của NHTM

- Tín dụng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế quốc dân Hoạt động tíndụng ngân hàng làm nhiệm vụ thông dòng để vốn chảy từ nơi thừa vốn sang nơithiếu vốn

- Tín dụng đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, góp phần đầu tư phát triển kinh tế

- Tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, điều hoà lưuthông tiền tệ, thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất

- Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát triển kinh tế ngoại thương

1.2.2 Các hình thức tín dụng của ngân hàng.

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong phúvới nhiều hình thức khác nhau Để sử dụng và quản lý tín dụng có hiệu quả thì phảitiến hành phân loại tín dụng Mặt khác để đảm bảo an toàn vốn trong kinh doanh

Trang 7

thì việc cấp tín dụng phải gắn liền với đối tượng vay, để tạo điều kiện cho sự vậnđộng của vốn phù hợp với sự vận động của vật tư hàng hoá thì phải tiến hành phânloại tín dụng.

a Căn cứ vào thời hạn tín dụng.

Theo tiêu thức này, người ta chia tín dụng thành ba loại:

- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm Tín dụngngắn hạn được dùng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của cácdoanh nghiệp và phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân

- Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ một năm đến năm năm.Loại tín dụng này được cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹthuật, mở rộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ

- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng đểcấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trìnhthuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn

b Căn cứ vào đối tượng tín dụng.

- Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng được sử dụng để hình thành vốnlưu động của các tổ chức kinh tế, có nghĩa là cho vay bù đắp vốn lưu động thiếuhụt tạm thời Tín dụng vốn lưu động bao gồm: cho vay dự trữ hàng hoá, cho vaychi phí sản xuất, cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu kỳphiếu

- Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được sử dụng để hình thành tài sản

cố định, có nghĩa là đầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật,

mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới

c Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn.

- Tín dụng sản xuất lưu thông hàng hoá: là loại tín dụng cấp cho các nhàdoanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hoá

Trang 8

- Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng cấp cho các cá nhân để đáp ứng nhucầu tiêu dùng như: Mua sắm nhà cửa, xe cộ, các loại hàng hoá bền chắc như tủlạnh điều hoà.

d Căn cứ vào mức độ đảm bảo

- Tín dụng có đảm bảo: là hình thức cấp tín dụng có tài sản hoặc người bảolãnh đứng ra làm đảm bảo cho khoản nợ vay

- Tín dụng không có đảm bảo: là hình thức tín dụng không có tài sản hoặcngười bảo lãnh đảm bảo cho khoản nợ vay

1.2.3 Đặc trưng của tín dụng ngân hàng.

Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của ngân hàng nó mang những đặctrưng sau đây:

- Tín dụng là sự cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin ở đâyngười cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn vay có hiệu quả sau một thờigian nhất định và do đó có khả năng trả được nợ

- Tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn Để đảm bảothu hồi nợ đúng hạn người cho vay thường xác định rõ thời hạn cho vay Việc xácđịnh thời hạn đó dựa vào: Qúa trình luân chuyển vốn của đối tượng vay Có nghĩa

là thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thìlúc đó người vay mới có điều kiện để trả nợ Ngoài ra thời hạn cho vay còn phụthuộc vào tính chất vốn của người cho vay (nếu vốn của người cho vay ổn định thì

Trang 9

thời hạn cho vay có thể dài hơn và ngược lại thì thời hạn cho vay phải ngắn hơn)

để đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng

- Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên nguyên tắcphải hoàn trả cả gốc và lãi Đây là thuộc tính riêng có của tín dụng Vì vốn cho vaycủa ngân hàng là vốn huy động của những người tạm thời thừa nên sau một thờigian nhất định ngân hàng phải trả lại cho người ký thác Mặt khác, ngân hàng cầnphải có nguồn để bù đắp chi phí hoạt động như: Khấu hao tài sản cố định, trả lươngcán bộ công nhân viên, chi phí văn phòng phẩm… nên người vay vốn ngoài việctrả nợ gốc còn phải trả cho ngân hàng một khoản lãi

2 Rủi do tín dụng trong hoạt động kinh doanh của NHTM

2.1 Khái quát về rủi ro trong các hoạt động ngân hàng.

2.1.1 Khái niệm về rủi ro.

Trong cuộc sống hàng ngày, trong lao động sản xuất kinh doanh có những sự

cố, những tai hoạ, tai nạn bất ngờ, ngẫu nhiên xảy ra gây thiệt hại về người và tàisản không thể dự báo trước, những tình huống bất ngờ như vậy gọi là rủi ro Khinói đến rủi ro người ta thường nghĩ đến điều không tốt lành, hoặc một thiệt hại, tổnthất nào đó về vật chất hữu hình hoặc vô hình bất ngờ mang đến do những nguyênnhân khách quan hoặc chủ quan gây ra

Trong kinh tế, rủi ro được coi là những tổn thất mà các doanh nghiệp phảichấp nhận khi kinh doanh Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ của các ngân hàngcũng phải chấp nhận điều đó Nhưng thực tế đã chứng minh không một ngành kinhdoanh nào mà khả năng dẫn đến rủi ro nhiều như kinh doanh tiền tệ

2.1.2 Phân loại rủi ro trong các hoạt động ngân hàng

Chúng ta đều biết rằng hoạt động của ngân hàng là một loại hình hoạt động rấtcần sự thận trọng song vẫn thường gặp phải những rủi ro Một ngân hàng thànhcông trong hoạt động của nó không chỉ cần những cán bộ chuyên môn giỏi mà cònphải am hiểu nhiều lĩnh vực và đặc biệt phải có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần

Trang 10

trách nhiệm với công việc Tuy nhiên vẫn phải khẳng định rằng kinh doanh ngânhàng là lĩmh vực gặp nhiều rủi ro nhất Những rủi ro mà một ngân hàng hiện đạiphải đối mặt bao gồm:

Rủi ro lãi xuất.

Qúa trình chuyển hoá tài sản bao gồm việc mua các chứng từ sơ cấp, tức là sửdụng vốn, và phát hành các chứng khoán sơ cấp, tức là huy động vốn Kỳ hạn và

độ thanh khoản của các chứng khoán sơ cấp trong danh mục đầu tư thuộc tài sản cóthường không cân xứng với các chứng khoán thứ cấp thuộc tài sản nợ Sự khôngcân xứng về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ làm cho ngân hàng phải chịu rủi ro

về lãi xuất

Ngoài ra, khi lãi xuất thị trường thay đổi ngân hàng còn có thể gặp phải rủi rogiảm giá trị tài sản Như chúng ta đã biết, giá trị thị trường của tài sản có hay tàisản nợ là dựa trên giá trị hiện tại của tiền tệ Do đó, nếu lãi xuất thị trường thay đổithì mức chiết khấu giá trị tài sản cũng thay đổi và do đó giá trị hiện tại của tài sản

có và tài sản nợ cũng thay đổi, vì thế ngân hàng phải đối mặt với rủi ro giảm giá trịtài sản do lãi xuất thay đổi

Rủi ro ngoại hối.

Hiện nay các NHTM có xu hướng hoạt động đa năng, thực hiện cả nghiệp vụkinh doanh ngoại tệ do đó khi có sự biến động về tỷ giá hối đoái hoặc sự thay đổilãi xuất ngoại tệ thì thường phải chịu ảnh hưởng ở mức độ nào đó (nếu sự biếnđộng đó nằm ngoài dự kiến của ngân hàng) nhất là với các NHTM Việt Nam, hiệnnay mới đang trong thời kỳ sơ khai, còn nhiều bỡ ngỡ, kinh nghiệm còn hạn chế do

đó vấn đề rủi ro hối đoái đang được các NHTM quan tâm một cách thích đáng

Rủi ro tín dụng.

Là tình trạng người đi vay không hoàn trả lãi hoặc gốc hoặc cả lãi và gốc mộtcách đầy đủ, đúng hạn Đây là loại rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra Bởi vậy

Trang 11

việc đánh giá rủi ro này là trách nhiệm của chính các ngân hàng, hơn 2/3 số tài sản

có của ngân hàng là các món nợ cho vay và đầu tư chứng khoán, đem lại thu nhậpchủ yếu cho các ngân hàng Thêm vào đó các hoạt động ngoại bảng tổng kết tài sảnnhư: các giao dịch trên thị trường hối đoái, các hợp đồng trao đổi, bảo lãnh tíndụng, tín dụng tài trợ đều rất dễ bị rủi ro

Tuy mang lại phần lớn thu nhập cho ngân hàng nhưng hoạt động tín dụngcũng chứa đầy rủi ro Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phức tạp nhất, nó đem đến chongân hàng những thiệt hại nặng nề, có khi dẫn đến phá sản Rủi ro tín dụng có thểxảy ra với bất kỳ món cho vay nào, bất kỳ khách hàng nào và bất kỳ lúc nào Nónằm ngoài dự đoán của cán bộ tín dụng Chính vì vậy, nó đòi hỏi bất kỳ ngân hàngnào cũng phải có những giải pháp hữu hiệu, đồng bộ cả về môi trường kinh tế, cơchế nghiệp vụ, công tác tổ chức cán bộ… mới có thể hạn chế, ngăn ngừa bớt rủi rotín dụng có thể xảy ra và giảm thiệt hại tới mức thấp nhất

Rủi ro thanh khoản

Rủi ro thanh khoản phát sinh khi những người gửi tiền đồng thời có nhu cầurút tiền gửi ở ngân hàng ngay lập tức Trong cơ cấu tài sản có thì tiền mặt có độthanh khoản cao nhất, do đó trước hết ngân hàng sử dụng tiền mặt để đáp ứng nhucầu rút tiền của khách hàng Bởi vì tiền mặt tại quỹ không mang lại thu nhập lãixuất, cho nên trong những trường hợp bình thường, ngân hàng chỉ duy trì mộtlượng tiền mặt ở mức tối ưu đủ để đáp ứng các nhu cầu rút tiền thường xuyên củangười gửi tiền mà không gây ảnh hưởng đến độ thanh khoản của ngân hàng Tuynhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, ngân hàng có thể phải đối mặt với rủi rothanh khoản, ví dụ như trong tình huống dân chúng mất lòng tin vào ngân hànghoặc nhu cầu rút tiền có tính chất thời vụ mà ngân hàng không dự tính trước đượcđòi hỏi ngân hàng phải chi trả tức thời một khoản tiền lớn hơn bình thường Trongbối cảnh đó, hầu hết các ngân hàng đều đang phải đối phó với tình huống tương tự,

Ngày đăng: 19/10/2013, 10:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w