61.8.2 Các công trình nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa .... 30 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NG
Trang 1ĐINH HOÀNG MINH
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN TÍN DỤNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019
Trang 2ĐINH HOÀNG MINH
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN TÍN DỤNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: Đinh Hoàng Minh
Mã số học viên: 020 119 170 082
Lớp: CH19A, thuộc Khoa Đào tạo Sau đại học, chuyên ngành Tài chính Ngân
hàng, trường Đại học Ngân hàng Tp.Hồ Chí Minh, niên khóa 2017 – 2019
Cam đoan đề tài luận văn cao học:
“CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN TÍN DỤNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM”
Giảng viên hướng dẫn: PGS TS Lý Hoàng Ánh.
Luận văn tốt nghiệp này do tôi thực hiện dựa trên những kiến thức nền tảng tích lũy được trong suốt quả trình học tập tại trường Đại học Ngân hàng TP.HCM, là kết quả nghiên cứu độc lập kết hợp với những nghiên cứu trước đây Mọi số liệu, và các trích dẫn trong luận văn đều được chú thích nguồn gốc rõ ràng, thống nhất Tôi xin chịu trách nhiệm toàn bộ về lời cam đoan của mình
TP.HCM, ngày 04 tháng 09 năm 2019
Tác giả
Đinh Hoàng Minh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn và lòng tri ân sâu sắc đối với các thầy cô Khoa Đào tạo Sau đại học nói riêng và các thầy cô tại Đại học Ngân Hàng TP.HCM nói chung, các thầy cô đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được thực hiện đề tài luận văn này Những tri thức tôi đạt được hôm nay chính nhờ sự nỗ lực không ngừng nghỉ cùng với sự truyền đạt tri thức với tấm lòng nhiệt thành, bền bỉ của các thầy cô
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Giảng viên hướng dẫn của mình, PGS TS Lý Hoàng Ánh, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
Ngoài ra, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn và tri ân đến các anh/chị, các thầy/cô, các chuyên gia đang công tác và làm việc trong ngành Tài chính Ngân hàng và những bạn bè/đồng nghiệp đã không ngần ngại đưa ra ý kiến góp ý, giúp đỡ, và hướng dẫn cho tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài, mỗi sự đóng góp là một viên gạch giúp tôi tiến xa hơn trong lĩnh vực mình nghiên cứu
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đơn vị/tổ chức kinh doanh, các doanh nghiệp, các chi nhánh Ngân hàng đã giúp đỡ tôi rất nhiều về mặt khảo sát nghiên cứu để từ đó làm căn cứ thực tiễn tốt nhất cho đề tài của mình
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè tôi, cảm ơn những đồng nghiệp và lãnh đạo tại cơ quan tôi công tác, những người đã luôn bên cạnh động viên, khích lệ tôi trong những lúc khó khăn, tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khóa luận cao học này
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
TÓM TẮT LUẬN VĂN viii
DANH MỤC VIẾT TẮT ix
DANH MỤC BẢNG xi
DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ xiii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG 1
1.1 Tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng nghiên cứu 4
1.5 Phạm vi nghiên cứu 4
1.6 Phương pháp nghiên cứu 4
1.7 Nội dung nghiên cứu 5
1.8 Tổng quan các nghiên cứu về tín dụng ngân hàng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa 5 1.8.1 Các công trình nghiên cứu trước có liên quan đến khả năng tiếp cận nguồn
Trang 6vốn tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa 6
1.8.2 Các công trình nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa 7
1.9 Đóng góp của nghiên cứu 10
1.10Cấu trúc của đề tài 10
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN TÍN DỤNG CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM 12
2.1 Những lý thuyết chung về tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 12
2.1.1 Khái niệm 12
2.1.2 Đặc điểm 12
2.2 Vốn tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 14
2.3 Khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa 15
2.3.1 Khái niệm 15
2.3.2 Các hình thức tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa 16 2.3.3 Các nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa 17
2.4 Một số kinh nghiệm và bài học về nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa 24
2.4.1 Kinh nghiệm về xây dựng và thực thi các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng tại một số quốc gia trên thế giới 25
2.4.2 Kinh nghiệm nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số ngân hàng thương mại trên thế giới 26
2.4.3 Kinh nghiệm nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua Quỹ bảo lãnh tín dụng tại Việt Nam 28
Trang 72.5 Thực trạng nguồn vốn tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam 29
2.5.1 Tổng quan về hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam 29
2.5.2 Thực trạng hoạt động tín dụng các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại địa bàn Vùng KTTĐ phía Nam 30
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN TÍN DỤNG CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM 34
3.1 Quy trình nghiên cứu 34
3.2 Xây dựng thang đo chính thức 34
3.2.1 Nhóm nhân tố thuộc về năng lực của doanh nghiệp 35
3.2.2 Nhóm nhân tố thuộc về ngân hàng thương mại 35
3.2.3 Nhóm nhân tố thuộc về chính sách của nhà nước 36
3.2.4 Nhóm nhân tố thuộc về thông tin bất cân xứng 36
3.2.5 Thang đo khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức cho doanh nghiệp nhỏ và vừa 37
3.3 Giả thuyết nghiên cứu 37
3.4 Mô hình nghiên cứu 38
3.5 Phương pháp nghiên cứu 39
3.5.1 Nghiên cứu định lượng sơ bộ 39
3.5.2 Nghiên cứu định lượng chính thức 40
CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
4.1 Kết quả nghiên cứu 44
4.1.1 Tổng quát về tình hình các doanh nghiệp được khảo sát 44
Trang 84.1.2 Đánh giá sơ bộ bằng Cronbach’s Alpha các nhân tố tác động đến khả năng
tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa 45
4.1.3 Đánh giá sơ bộ bằng Cronbach’s Alpha khả năng tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa 47
4.1.4 Kiểm định thang đo các nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa bằng phân tích nhân tố (EFA) 48
4.1.5 Kiểm định thang đo khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của doanh nghiệp nhỏ và vừa bằng phân tích nhân tố khám phá (EFA) 51
4.2 Mô hình và giả thuyết được hiệu chỉnh 52
4.3 Phân tích hồi quy các nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa 53
4.4 Đánh giá kết quả nghiên cứu hồi quy 54
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI MỞ CHÍNH SÁCH 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Gợi mở một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng kinh tế trọng điểm phía Nam 61
5.2.1 Nhân tố năng lực doanh nghiệp 61
5.2.2 Nhân tố thông tin bất cân xứng giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa và ngân hàng thương mại 64
5.2.3 Nhân tố rào cản từ ngân hàng thương mại 67
5.2.4 Nhân tố khả năng tiếp cận thông tin của doanh nghiệp nhỏ và vừa 69
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu trong tương lai 70
KẾT LUẬN TOÀN LUẬN VĂN lxxii PHỤ LỤC lxxiii TÀI LIỆU THAM KHẢO xcvii
Trang 10TÓM TẮT LUẬN VĂN
Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của các DNNVV tại vùng KTTĐ phía Nam, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng của các DNNVV Đề tài sử dụng dàn bài thảo luận kết hợp với cơ sở lý luận để xác định 04 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của DNNVV, từ đó làm cơ sở cho mô hình nghiên cứu định lượng
Với dữ liệu khảo sát từ 346 DNNVV trên địa bàn vùng KTTĐ phía Nam, thông qua phân tích Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA bài nghiên cứu đã góp phần bổ sung cho các nghiên cứu trước đây theo hướng lượng hóa một số biến định tính như: tính minh bạch của báo cáo tài chính, hóa đơn chứng từ hợp lệ, thiện chí trả nợ của doanh nghiệp nhằm đo lường tác động của các nhân tố này tác động như thế nào đến khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng của các DNNVV trên địa bàn vùng KTTĐ phía Nam
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 04 nhóm nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng của DNNVV là năng lực của DNNVV, bất cân xứng thông tin giữa NHTM
và DN, rào cản từ NHTM, khả năng tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn hạn chế, trong đó năng lực của DNNVV được xem là nhân tố tác động mạnh nhất đến khả năng tiếp cận vốn của DNNVV
Về mặt thực tiễn, nghiên cứu đã đóng góp một số hiểu biết nhất định về khả năng tiếp cận vốn tín dụng của DNNVV vùng KTTĐ phía Nam hiện nay và gợi mở một số giải pháp cho các nhà quản lý DNNVV, các ngân hàng thương mại cũng như các nhà hoạch định chính sách nhằm nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng của DNNVV trên địa bàn vùng KTTĐ phía Nam
Trang 11DANH MỤC VIẾT TẮT Danh mục các chữ viết tắt
Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
BCX Bất cân xứng
BCXTT Bất cân xứng thông tin
BIDV Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam CSNN Chính sách nhà nước
DN Doanh nghiệp
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
DoE Khoa Kinh tế của Trường Đại học Copenhagen
EFA Phân tích nhân tố khám phá
EU Liên minh Châu Âu
HCTT Hạn chế thông tin
ILSSA Viện Khoa học Lao động và Xã hội (Bộ Lao động – Thương binh và
Xã hội) KMO Kaiser – Meyer – Olkin
KTTĐ Kinh tế trọng điểm
MB Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội
NHNN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHTM Ngân hàng thương mại
NLDN Năng lực doanh nghiệp
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
Sig Mức ý nghĩa quan sát
SPSS Phần mềm thống kê cho khoa học xã hội
Trang 12Liên Hợp Quốc VCCI Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam
Vietcombank Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam Vietinbank Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Trang 13DANH MỤC BẢNG Danh mục bảng
tiếp cận tín dụng của DNNVV Vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam
53 Bảng 4.7: Bảng thứ tự tác động của các nhân tố 55 Bảng 5.1: Thống kê mô tả đối với nhóm nhân tố thuộc về năng 61
Trang 14lực doanh nghiệp
Bảng 5.2: Thống kê mô tả đối với nhóm nhân tố thuộc về
thông tin bất cân xứng giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa và ngân
hàng thương mại
64
Bảng 5.3: Thống kê mô tả đối với nhóm nhân tố rào cản ngân
Bảng 5.4: Thống kê mô tả đối với nhóm nhân tố khả năng tiếp
cận thông tin của doanh nghiệp nhỏ và vừa 69
Trang 16CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam được xem là một trong những vùng kinh
tế phát triển nhất và là vùng kinh tế động lực hàng đầu của Việt Nam Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (gọi tắt là Vùng KTTĐ phía Nam) bao gồm 8 tỉnh, thành phố: thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa–Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang Đây là vùng kinh tế có hệ thống cảng và hậu phương công nghiệp tốt nhất, hình thành mạng lưới đô thị vệ tinh trong không gian
mở thông thoáng, liên kết với nhau thông qua các tuyến trục và vành đai đang được xây dựng, đặc biệt có Cảng biển trung chuyển quốc tế Cái Mép - Thị Vải, Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và Cảng hàng không quốc tế Long Thành (sẽ được xây dựng) Tính đến nay, vùng chiếm khoảng 60% số dự án và gần 50% vốn FDI của cả nước
Mặt khác, theo kết quả điều tra củaTổng cục Thống kê năm 2017, trong tổng
số 517.900 DN đăng ký trên cả nước thì số DNNVV chiếm tới 98,1% về số lượng Xét về cơ cấu DN, DN vừa có gần 8,5 nghìn DN; DN nhỏ là 114,1 nghìn và DN siêu nhỏ là 385,3 nghìn Bình quân năm giai đoạn 2012 - 2017, số DNVVN tăng 8,8% cao hơn mức tăng bình quân của DN lớn là 5,4% Cũng theo kết quả điều tra trên, có đến 216.200 DNNVV trong tổng số DNNVV của cả nước tập trung nhiều nhất ở vùng Đông Nam bộ thuộc vùng KTTĐ phía Nam Trong đó, tập trung nhiều nhất là ở TP
Hồ Chí Minh với 172.600 DN, chiếm tới 33,3% tổng số DN của cả nước
Các DNNVV tại vùng KTTĐ phía Nam có quy mô vốn nhỏ, nhưng đa dạng
về ngành nghề, lĩnh vực, đã giải quyết tốt vấn đề việc làm, thu nhập cho người lao động, đặc biệt là người lao động địa phương; khai thác và phát huy các nguồn lực sẵn
có của địa phương, đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách của vùng, và góp phần không nhỏ vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tuy nhiên, bên cạnh những thế mạnh của mình, các DNNVV vùng KTTĐ phía Nam cũng đã và đang bộc lộ nhiều yếu điểm, trong đó nhiều DNNVV thiếu vốn, khó tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng Đặc biệt, hiện nay với sự thông thoáng của các quy
Trang 17định pháp lý về điều kiện thành lập doanh nghiệp cũng như chính sách khuyến khích
hộ kinh doanh chuyển lên hoạt động ở loại hình DNNVV đã giúp gia tăng nhanh chóng số lượng DNNVV trong thời gian ngắn, nhưng điều này cũng làm số DNNVV không tiếp cận được vốn tín dụng ngân hàng tăng lên do các DNNVV mới thành lập này khó đáp ứng được các điều kiện cấp tín dụng của NHTM Do đó, nếu không có các giải pháp kịp thời để cải thiện thì đây sẽ trở thành thách thức lớn đối với sự tồn tại và phát triển của khối doanh nghiệp này
Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – VCCI (2018) cho thấy, có đến 74,47% DN được điều tra cho rằng, NHTM vẫn là kênh huy động vốn chủ yếu của họ Theo Nguyễn Thị Minh Phượng (2011), cũng khẳng định, nguồn vốn vay chủ yếu của các DN của Việt Nam vẫn tập trung ở nguồn vốn tín dụng ngân hàng
Tuy nhiên, theo Báo cáo khảo sát thường niên về DNNVV của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương - CIEM (2018) cho biết, chỉ có khoảng 1/3 số DNNVV tiếp cận được với vốn ngân hàng Trong số các DNNVV có nhu cầu vay vốn ngân hàng được hỏi, chỉ có 10,5% DN được vay vốn theo đúng yêu cầu vay, đa
số DN chỉ được ngân hàng cho vay khoảng 25 – 50% số tiền mà DN đề xuất vay Điều này cho thấy, nút thắt nhu cầu về vốn của các DNNVV tại Việt Nam nói chung và vùng KTTĐ phía Nam nói riêng là hết sức quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng cùng với những thách thức của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư Điều này đòi hỏi Chính phủ, các địa phương, ngành ngân hàng và các DNNVV,… cần phải có những giải pháp để thúc đẩy quan
hệ tín dụng giữa NHTM với DNNVV, giải quyết triệt để những khó khăn, trở ngại trong quá trình tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của DNNVV
Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài “CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN TÍN DỤNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM” sẽ làm rõ các nguyên nhân
khiến cho các DNNVV vùng KTTĐ phía Nam khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng, mức độ tác động của các nhân tố, để từ đó đưa ra các giải
Trang 18pháp tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn trong việc tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng với mục đích phát huy đến mức cao nhất hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh cũng như tiềm năng của loại hình kinh tế này, tạo động lực phát triển cho nền kinh tế vùng KTTĐ phía Nam nói riêng cũng như cả nước nói chung
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn về khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của DNNVV, từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của các DNNVV tại vùng KTTĐ phía Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Từ các mục tiêu nghiên cứu trên, bài nghiên cứu sẽ tập trung vào các câu hỏi nghiên cứu sau:
DNNVV, vốn tín dụng ngân hàng, khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của DNNVV là gì? Những bài học kinh nghiệm nào về nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của DNNVV ?
Khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của DNNVV tại vùng KTTĐ phía Nam hiện nay như thế nào? Khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của DNNVV tại địa bàn vùng KTTĐ phía Nam chịu tác động của những nhân tố nào từ phía các nhân tố Mức độ và chiều hướng tác động của những nhân tố này ra sao đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của các DNNVV tại vùng KTTĐ phía Nam ?
Trang 19 Giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng của các DNNVV vùng KTTĐ phía Nam là gì ?
1.4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố tác động đến đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng của các DNNVV thuộc vùng KTTĐ phía Nam
Đề tài giới hạn từ năm 2015 cho đến năm 2018
1.5 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung
Về tiêu chí xác định và phân loại DNNVV, tác giả sử dụng cách xác định và phân loại DNNVV của Luật hỗ trợ DNNVV số 04/2017/QH14, Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/20198 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Về thuật ngữ “tín dụng ngân hàng”, luận văn chỉ đề cập trên khía cạnh hoạt động cho vay của NHTM đối với DNNVV Các ngân hàng mà DNNVV tiếp cận vốn tín dụng được giới hạn ở các NHTM
Về các nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của DNNVV, luận văn chỉ tập trung phân tích các nhân tố thuộc về DNNVV, các nhân tố
thuộc về NHTM, nhân tố thuộc về Chính phủ và nhân tố về thông tin bất cân xứng
Phạm vi về không gian
Tác giả thực hiện nghiên cứu khảo sát, thu thập số liệu tại các DNNVV thuộc khu vực vùng KTTĐ phía Nam, với sự tham gia của 346 DNNVV tại các tỉnh, thành phố trực thuộc khu vực (Phụ lục 1)
Về thời gian: tác giả triển khai thực hiện khảo sát mẫu nghiên cứu trong vòng
04 tháng, từ tháng 01 năm 2019 đến tháng 03 năm 2019 Số liệu phân tích của nghiên cứu tập trung trong khoảng thời gian từ 2015 đến 2018, các định hướng và các giải pháp, kiến nghị, đề xuất định hướng đến năm 2025
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Trang 20Trong nghiên cứu này, tác giả tiếp cận đối tượng nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp này sử dụng các nguồn dữ liệu, số
liệu thu thập trong quá trình nghiên cứu Phương pháp này sử dụng dữ liệu thứ cấp từ các số liệu thống kê của các Sở, Ban, Ngành, Hiệp hội, các tạp chí khoa học, tài liệu, sách báo liên quan đến đề tài để phân tích về thực trạng tiếp cận vốn tín dụng của các DNNVV vùng KTTĐ phía Nam
Phương pháp nghiên cứu định lượng: Phương pháp này sử dụng dữ liệu sơ
cấp được thu thập thông qua khảo sát bằng bảng câu hỏi, đối tượng khảo sát là các chủ DNNVV trên địa bàn các tỉnh/thành phố thuộc vùng KTTĐ phía Nam Sau khi tiến hành khảo sát sẽ đưa vào phần mềm SPSS 20 để xử lý dữ liệu (Phân tích Cronback’s Alpha, Phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy) để đánh giá mức độ tác động của các nhân tố trên tới khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của DNNVV vùng KTTĐ phía Nam
1.7 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung vào 4 nội dung nghiên cứu sau:
Thứ nhất: Tổng quan lý thuyết về DNNVV và khả năng tiếp cận vốn tín dụng
ngân hàng của DNNVV
Thứ hai: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với các DNNVV vùng KTTĐ phía
Nam
Thứ ba: Thực hiện khảo sát và lập mô hình của các nhân tố, đánh giá mức độ
tác động của các nhân tố trên đối với khả năng tiếp cận vốn của DNNVV vùng KTTĐ phía Nam
Thứ tư: Đề xuất và gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng tiếp
cận vốn của DNNVV vùng KTTĐ phía Nam
1.8 Tổng quan các nghiên cứu về tín dụng ngân hàng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trang 211.8.1 Các công trình nghiên cứu trước có liên quan đến khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trên thế giới đã có một số kết quả nghiên cứu về khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của DNNVV tại một số quốc gia, có thể kể đến như sau:
Một bài báo nghiên cứu của nhóm tác giả Hasnah Harno, Saniza Binti Said,
K.Jayaraman và Ishak Ismail về đề tài “Factors Influencing Small Medium
Enterprises (SMES) in Obtaining Loan” (2014), trong đó nhóm tác giả đã khảo sát và
phỏng vấn 63 ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp tại vùng Peninsular, Malaysia, sau đó sử dụng mô hình phân tích hồi quy đã biến và phân tích logit để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng vay vốn và quy mô vốn vay của các DNNVV tại vùng Penninsular, Malaysia Theo kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả kết luận rằng (1) Tư cách (pháp lý, tính cách, trình độ) của người chủ doanh nghiệp, (2) Quy mô doanh nghiệp (đo lường bằng tổng tài sản) và (3) Tài sản bảo đảm là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng vay vốn và quy mô vốn tín dụng có thể tiếp cận của các DNNVV tại Penninsular, Malaysia
Selamawit Niguse Kebede, Aregawi Ghebremichael Tirfe và Nigus Abera (2014)
‘Determinants of Micro and Small Enterprises’ Access to Finance’ Nghiên cứu sử
dụng hồi quy Binary Logistic với số lượng mẫu là 138 DNNVV được lựa chọn ngẫu nhiên từ tổng 538 DNNVV khảo sát Nghiên cứu đưa ra 10 giả thuyết về khả năng tiếp cận vốn của DNNVV tại Ethiopia trong đó có 07 giả thuyết được chấp nhận là: (1) DN được điều hành bởi người chủ lớn tuổi có xu hướng dễ tiếp cận nguồn vốn hơn DN được điều hành bởi người chủ trẻ tuổi, (2) chủ DN có trình độ học vấn cao hơn thì dễ tiếp cận nguồn vốn ngân hàng hơn, (3) DN có TSBĐ dễ tiếp cận nguồn vốn hơn DN không có, (4) DN có thời gian hoạt động lâu hơn dễ tiếp cận nguồn vốn hơn, (5) DN có quy mô về lao động lớn hơn thì dễ tiếp cận nguồn vốn hơn, (6) Quy trình tín dụng ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng vay vốn của DNNVV, (7) Kỳ hạn khoản vay ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng vay vốn của DNNVV
Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu đánh giá về khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của các DNNVV tại một số tỉnh, thành phố khác nhau, điển hình là các
Trang 22nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Lý (2013), Đặng Thị Huyền Thương (2014)
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Lý (2013) trong luận án tiến sĩ “Nghiên cứu khả
năng tiếp cận vốn cho các DNNVV ở tỉnh Thái Bình” đã hệ thống được các vấn đề lý
luận về nguồn vốn và khả năng tiếp cận vốn của DNNVV; nghiên cứu đã đánh giá tình hình tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của các DNNVV tỉnh Thái Bình giai đoạn
2004 – 2010 qua việc phân tích theo 09 điều kiện cấp tín dụng của NHTM, qua đó nghiên cứu nhận định ở tỉnh Thái Bình thì lý do làm cho NHTM không yên tâm khi cấp tín dụng cho DNNVV là do năng lực của nhà quản lý doanh nghiệp còn hạn chế, doanh nghiệp chưa xây dựng được dự án đầu tư/phương án sản xuất kinh doanh khả thi, tình hình tài chính thiếu lành mạnh, báo cáo tài chính thiếu minh bạch, tài sản đảm bảo không đủ về mặt giá trị và thiếu tính pháp lý Từ đó, nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng tiếp cận vốn của DNNVV tỉnh Thái Bình
Nghiên cứu của Đặng Thị Huyền Hương (2014) trong luận án tiến sĩ “Các nhân
tố ảnh hưởng đến sự tiếp cận nguồn vốn vay của các DNNVV trên địa bàn Hà Nội”
đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về nguồn vốn và các nhân tố ảnh hưởng đến sự tiếp cận nguồn vốn vay của DNNVV; trên cơ sở phân tích thực trạng nguồn vốn vay
và sự tiếp cận nguồn vốn vay của các DNNVV trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2010 –
2015, nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố thuộc về DNNVV có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của DNNVV trên địa bàn Hà Nội, đồng thời nghiên cứu cũng nhận định rằng DNNVV Hà Nội có xác suất tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng cao hơn DNNVV cả nước nhưng lượng vốn vay được của mỗi doanh nghiệp lại thấp hơn so với DNNVV ở các địa phương khác Tuy nhiên nghiên cứu chỉ dừng lại
ở mức độ nghiên cứu các nhân tố chưa đo lường mức độ tác động của các nhân tố trên
1.8.2 Các công trình nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Hiện nay, có 3 nhóm yếu tố được các nhà nghiên cứu tập trung phân tích gồm:
Trang 23Phía DN, phía ngân hàng và chính sách kinh tế vĩ mô Tùy thuộc vào từng hướng nghiên cứu mà các tác giả tập trung vào nhóm yếu tố đặc thù
Theo đó, Wagema (2011), Khalid (2014) cho rằng, các đặc điểm liên quan đến chủ DN (như: trình độ và kinh nghiệm kinh doanh, giới tính, tình trạng hôn nhân…) tuy không tác động trực tiếp nhưng sẽ có vai trò hình thành định hướng các chiến lược vay vốn kinh doanh
Ajagbe (2013) sau khi tiến hành khảo sát 350 DN quy mô nhỏ tại bốn khu vực chính của bang Oyo (Nigeria) và sử dụng phương pháp phân tích hồi quy Binary logistic để tiến hành đánh giá sự ảnh hưởng tiếp cận tín dụng của DNNVV cũng đã đưa ra kết luận tương đồng, đó là, các yếu tố liên quan đến đặc điểm của chủ DN nêu trên có tác động dương trong việc thúc đẩy hoạt động cho vay của ngân hàng đối với
DN
Không dừng ở đó, 3 yếu tố: Quy mô DN lớn, thời gian hoạt động DN dài và những
DN có mối quan hệ tốt với ngân hàng luôn dễ dàng hơn trong vấn đề vay vốn (số lượng vốn vay và thời gian vay) đã được Khalid (2014) nhận định là có tác động đến tăng trưởng tín dụng ngân hàng thông qua một cuộc khảo sát 364 DNNVV tại Libya bằng phương pháp phân tích hồi quy Binary logistic
Xoáy sâu vào phân tích các yếu tố liên quan đến nội tại DNNVV ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn, các tác giả Khalid (2014), Võ Trí Thành (2011), Ricardo (2004), Hạ Thị Thiều Dao (2014), Đỗ Thị Thanh Vinh (2014) sử dụng phương pháp phân tích hồi quy Binary logistic thu được kết luận: Quy mô DN, doanh thu DN, năng lực của DN, khả năng quay vòng vốn, mối quan hệ với ngân hàng, sử dụng tín dụng thấu chi, mức độ thanh khoản, tài sản đảm bảo có tác động trực tiếp đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của DNNVV
Ngoài tăng trưởng tín dụng ngân hàng, Trần Trung Kiên (2015), Nguyễn Thị Minh Huệ (2012) cũng cho rằng, những yếu tố từ phía ngân hàng như: lãi suất vay cao, thủ tục vay vốn phức tạp, yêu cầu về tài sản đảm bảo cũng có tác động đến khả năng tiếp cận tín dụng của DNNVV
Tương tự, Nguyễn Hồng Hà (2013) đã sử dụng phương pháp phân tích hồi quy
Trang 24Binary logistic và phương pháp EFA linh hoạt để nghiên cứu mức độ tác động của các yếu tố từ phía DN và ngân hàng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng của DNNVV trên địa bàn tỉnh Trà Vinh Tác giả tiến hành điều tra 120 DN và 10 ngân hàng tại 06 huyện và 01 thành phố của Trà Vinh với 11 yếu tố phân tích Kết quả chỉ ra rằng, 04 yếu tố từ phía DNNVV gồm: Uy tín của DN, phương án sản xuất kinh doanh, lập báo cáo tài chính và tài sản đảm bảo đều tác động cùng chiều đến khả năng vay vốn của DNNVV, trong đó biến uy tín của DN có tác động mạnh nhất do có hệ số điểm nhân
tố lớn nhất (0,301)
Nguyễn Hồng Hà (2013) nhận định, nếu thời gian cho vay phù hợp với mục đích vay vốn, quy trình xem xét nhanh chóng, thủ tục vay vốn tín dụng càng rõ ràng, kết hợp lãi suất giảm thì khả năng tiếp cận và vay được vốn của DN càng được nâng cao
Đề tài có những tiến bộ rõ rệt về phương pháp và số lượng biến nghiên cứu với hai nhóm yếu tố ảnh hưởng: Ngân hàng và DN, từ đó đưa ra một số giải pháp phù hợp nhằm khắc phục hạn chế trong vấn đề vay vốn cho DNNVV tại tỉnh Trà Vinh
Sử dụng phương pháp phân tích hồi quy Binary logistic cùng bảng câu hỏi bán cấu trúc Hạ Thị Thiều Dao (2014) phản ánh tình trạng kinh tế vĩ mô khó khăn khiến thị trường đi xuống chính là một trong nhiều nguyên nhân làm hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng giữa ngân hàng và DN nhỏ tại tỉnh Bến Tre
Hơn nữa, môi trường kinh tế và chính sách vĩ mô của Nhà nước; đặc điểm kinh doanh của các tổ chức tín dụng được Đặng Thị Huyền Thương (2014) nhận định là
có ảnh hưởng lên đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của DNNVV
Như vậy, có thể thấy, các nghiên cứu được thực hiện ở các quốc gia khác nhau, vào những thời điểm khác nhau với bộ dữ liệu khác nhau sẽ cho ra các kết quả khác nhau Hay nói cách khác, các nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng của các DNNVV là chưa rõ ràng, nó tùy thuộc đặc điểm của từng quốc gia, từng vùng miền cũng như tùy thời điểm nghiên cứu Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ
ra rằng các yếu tố như: giá trị TSBĐ, lãi suất ngân hàng, kỳ hạn khoản vay, giá trị vốn đối ứng có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của DNNVV Nhưng đối với một số nhân tố như: chính sách về tín dụng của nhà nước, các thông
Trang 25tin bất cân xứng giữa DN và NHTM, ảnh hưởng như thế nào đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng của DNNVV thì các đề tài trên chưa giải quyết được Do vậy, trong một chừng mực nhất định, kết quả nghiên cứu của những công trình trước đó có thể được vận dụng và phát triển khi nghiên cứu tại vùng KTTĐ phía Nam nhưng cần phải tính đến sự khác biệt về đối tượng, thời gian và không gian nghiên cứu
1.9 Đóng góp của nghiên cứu
Qua khảo cứu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có thể thấy rằng, các tác giả chủ yếu tập trung đánh giá tình hình vay vốn tín dụng của DNNVV
từ một phía (bên cầu tiền tệ hoặc bên cung tiền tệ) Ít tài liệu có sự tổng hợp các yếu
tố từ các phía tác động đến khả năng vay vốn tín dụng của DNNVV, đặc biệt là các yếu tố từ chính sách kinh tế vĩ mô và thông bất bất cân xứng Đồng thời, do đặc điểm về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội ở các quốc gia và các tỉnh tại Việt Nam khác nhau, nên các yếu tố và mức độ ảnh hưởng của chúng đến khả năng tăng trưởng tín dụng đối với DNNVV là khác nhau
Nhằm lấp đầy các khoảng trống tri thức cũng như bổ sung những vấn đề chưa được các nhà khoa học trong và ngoài nước đề cập tới, trong nghiên cứu này, tác giả tiếp tục tiếp cận chủ đề khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng đối với các DNNVV vùng KTTĐ phía Nam, trong đó bổ sung những vấn đề chưa được các nhà khoa học trong và ngoài nước đề cập tới
Thông qua mô hình, nghiên cứu xác định ảnh hưởng của các nhân tố từ nhiều phía bao gồm doanh nghiệp, ngân hàng thương mại, chính sách nhà nước và các thông tin bất cân xứng nhằm làm rõ sự tác dộng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng của các DNVVN vùng KTTĐ phía Nam
1.10 Cấu trúc của đề tài
Khóa luận gồm 05 (năm) chương với những cấu trúc như sau:
Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG TIẾP
Trang 26CẬN VỐN TÍN DỤNG CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÙNG KINH
TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN TÍN DỤNG CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM
Chương 4: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI MỞ CHÍNH SÁCH
Trang 27CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN TÍN DỤNG CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÙNG KINH TẾ
TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM 2.1 Những lý thuyết chung về tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.1.1 Khái niệm
Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh (VCCI, 2018)
Doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa thường được gọi chung là doanh nghiệp nhỏ
và vừa (DNNVV), là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về các yếu tố như tổng vốn, số lượng lao động và doanh thu DNNVV cũng có thể được chia thành ba loại căn cứ vào quy mô của doanh nghiệp bao gồm (1) doanh nghiệp siêu nhỏ, (2) doanh nghiệp nhỏ và (3) doanh nghiệp vừa
Căn cứ theo quy mô của doanh nghiệp, thì doanh nghiệp được phân thành các nhóm: Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa, và doanh nghiệp lớn Tiêu chí để xác định ranh giới giữa các nhóm doanh nghiệp này ở các quốc gia, các
tổ chức, các ngành kinh tế lại khác nhau, và trong mỗi quốc gia thì tùy từng giai đoạn phát
triển kinh tế xã hội nhất định lại phân loại doanh nghiệp theo các tiêu chí khác nhau (Phụ
lục 3) Theo nghiên cứu của tác giả, thì các quốc gia sử dụng phổ biến nhất hiện nay 3
tiêu chí là số lao động, doanh thu và tổng tài sản để phân loại DNNVV Ở Việt Nam, DNNVV được xác định là những doanh nghiệp có số lao động ít và quy mô vốn nhỏ hoặc
doanh thu ở mức hạn chế (Phụ lục 4)
Tóm lại, DNNVV là tổ chức sản xuất kinh doanh có quy mô giới hạn theo những tiêu chí nhất định, gắn với từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia
2.1.2 Đặc điểm
Những đặc điểm cơ bản của DNNVV bao gồm:
Thứ nhất, DNNVV có quy mô vốn hạn chế, đa phần là vốn tự có và khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng thấp
Trang 28Để bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, DNNVV chỉ cần một lượng vốn đầu tư ban đầu không lớn, diện tích mặt bằng nhỏ hoặc có thể tận dụng chính nhà cửa của chủ
sở hữu,… Điều này tạo cho DNNVV lợi thế hơn so với doanh nghiệp lớn như thành lập
và gia nhập thị trường dễ dàng, vốn đầu tư được thu hồi nhanh do lĩnh vực DNNVV tham gia có chu kỳ sản xuất ngắn, không đỏi hỏi đầu tư trang thiết bị công nghệ nhiều,…
Thứ hai, DNNVV có lĩnh vực đầu tư sản xuất kinh doanh đa dạng
Những lợi thế của DNNVV như quy mô, tiềm lực tài chính nhỏ, linh hoạt trong kinh doanh, dễ thành lập, dễ ra nhập thị trường, khả năng thu hồi vốn nhanh,… đã tạo điều kiện cho các DNNVV hoạt động dưới nhiều loại hình doanh nghiệp, trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau Nhờ quy mô vốn đầu tư nhỏ, khai thác tốt nguồn lao động và nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương, nắm bắt và đáp ứng nhanh chóng được những thay đổi của thị trường nên DNNVV ngày càng đóng vai trò quan trọng trong ổn định đời sống
xã hội, thúc đẩy và phát triển kinh tế của địa phương và đất nước
Thứ ba, DNNVV có số lượng lao động hạn chế, lao động có trình độ và tay nghề
cao không nhiều
DNNVV sử dụng số lao động hạn chế, lao động thường có trình độ tay nghề không cao, chủ yếu là lao động phổ thông Do hạn chế về nguồn tài chính, môi trường làm việc cũng như chế độ đãi ngộ nên DNNVV khó tuyển dụng được lao động có trình độ và tay nghề cao Thực tế này dẫn đến tình trạng DNNVV gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong quản trị tài chính và xây dựng, quản lý, thực hiện các dự án đầu tư/phương án sản xuất kinh doanh
Thứ tư, đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp năng động nhưng năng lực quản trị chưa cao
DNNVV có đặc điểm là số lượng lao động hạn chế, công tác quản lý thường do chủ doanh nghiệp trực tiếp thực hiện, xử lý công việc hầu như được chuyển thẳng từ chủ doanh nghiệp đến từng nhân viên mà không cần qua nhiều cấp quản lý trung gian Điều này làm hiệu quả quản trị điều hành của DNNVV tăng lên, tiết kiệm được chi phí quản
lý, nhanh chóng Tuy nhiên, việc phân công công việc trong DNNVV thường có hiện
Trang 29tượng đa nhiệm, mức độ chuyên môn hóa không cao, người lao động phải đảm nhận nhiều công việc chuyên môn khác nhau
Thứ năm, DNNVV có khả năng tiếp cận thị trường thấp, gặp nhiều khó khăn khi hội nhập kinh tế quốc tế
DNNVV thường không dành kinh phí lớn cho hoạt động marketing nên việc xây dựng và định vị thương hiệu trên thị trường còn nhiều hạn chế, khó vươn ra thị trường quốc tế Thị phần của DNNVV không lớn, khả năng chi phối thị trường không cao Thị trường thường phản ứng ít quyết liệt, thậm chí không có phản ứng trước những thay đổi chiến lược kinh doanh của DNNVV
2.2 Vốn tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Vốn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của DNNVV huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời Vốn là một yếu tố đầu vào đặc biệt quan trọng của DNNVV, cấu trúc vốn của DNNVV gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay Để có đủ vốn cho sản xuất kinh doanh, các DNNVV thường huy động từ nhiều nguồn khác nhau như: vốn góp của các cổ đông, vốn tín dụng ngân hàng, vay người thân, bạn bè, tín dụng thương mại, Tùy theo điều kiện và loại hình mà DNNVV huy động linh hoạt, kết hợp
có hiệu quả vốn chủ sở hữu và vốn vay trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu và tối đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp
NHTM là một trung gian tài chính, vừa đóng vai trò là “người đi vay” thông qua việc huy động vốn tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế, vừa đóng vai trò là “người cho vay”
để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế Do đó, thuật ngữ “tín dụng ngân hàng” một mặt nói tới hoạt động huy động vốn, đồng thời mặt khác nói tới hoạt động cấp tín dụng của NHTM
Trong luận văn này, tín dụng ngân hàng được đề cập trên khía cạnh hoạt động cho vay của NHTM đối với DNNVV Do vậy, tín dụng ngân hàng được hiểu là việc NHTM chuyển giao cho khách hàng (DNNVV) một khoản tiền để khách hàng (DNNVV) sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh, trong một khoảng thời gian nhất định với nguyên tắc
có hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn
Trang 30Từ những phân tích trên, luận văn thống nhất khái niệm vốn tín dụng ngân hàng
được hiểu là khoản tiền mà NHTM cho DNNVV vay để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh
2.3 Khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa
2.3.1 Khái niệm
Thuật ngữ “Khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng” đã được một số nghiên cứu
đề cập tới, tuy nhiên cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa đưa ra khái niệm đầy đủ
về thuật ngữ này
Nguyễn Thị Kim Lý (2013) trong luận án tiến sĩ “Nghiên cứu khả năng tiếp cận
vốn cho các DNNVV ở tỉnh Thái Bình” cho rằng: “Khả năng tiếp cận vốn là khả năng
của doanh nghiệp nghiên cứu, nhận biết, nắm bắt và có thể được cung ứng vốn với các chi phí vốn thấp nhất, có thể chấp nhận được bởi cả hai phía là doanh nghiệp (người cần vốn) và người cung cấp vốn”
Đặng Thị Huyền Hương (2016) trong luận án tiến sĩ “Các nhân tố ảnh hưởng đến
sự tiếp cận nguồn vốn vay của các DNNVV trên địa bàn Hà Nội” cho rằng: “Sự tiếp cận nguồn vốn vay của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp có thể đáp ứng được các điều kiện vay vốn theo quy định của các tổ chức tín dụng tại mức lãi suất phù hợp và tổ chức tín dụng sẵn sàng cho vay.”
Đặng Thị Thu Hằng (2017) trong bài báo “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến
khả năng đi vay của doanh nghiệp” cho rằng: “Khả năng đi vay của khách hàng là khả năng của khách hàng để được nhận và sử dụng nguồn vốn vay từ ngân hàng”
Các nghiên cứu trên đã phần nào khái quát được nội dung khái niệm “khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng”, tuy nhiên các nghiên cứu đó chưa diễn đạt được nội hàm khái niệm khi sử dụng chính các cụm từ “khả năng”, “tiếp cận” để diễn đạt trong khái niệm
Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn này, khái niệm “khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng" của DNNVV được hiểu như sau: Khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng
Trang 31của DNNVV là việc DNNVV có thể vay được tiền của NHTM khi có nhu cầu sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
2.3.2 Các hình thức tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa
2.3.2.1 Đi vay
Đi vay là việc DNNVV nhận từ NHTM một khoản tiền để sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời gian nhất định, theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi cho NHTM DNNVV thường sử dụng hình thức vay theo món hoặc vay theo hạn mức tín dụng khi tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng
2.3.2.2 Chiết khấu
Chiết khấu là việc DNNVV bán các công cụ chuyển nhượng hoặc giấy tờ có giá khác còn thời hạn thanh toán cho NHTM Khi đó, NHTM sẽ ứng trước tiền cho DNNVV tương ứng với giá trị của giấy nhận nợ trừ đi phần thu nhập của NHTM Khi đến hạn thanh toán của giấy tờ có giá, NHTM sẽ thực hiện đòi tiền người mua hàng của DNNVV
2.3.2.4 Bao thanh toán
Bao thanh toán là việc DNNVV bán lại các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ giữa DNNVV và đối tác của DNNVV cho NHTM Nói cách khác, bao thanh toán là việc NHTM đứng ra trả tiền ngay
Trang 32cho người bán, sau đó NHTM sẽ đòi tiền người mua theo hợp đồng bao thanh toán đã ký kết
2.3.2.5 Bảo lãnh ngân hàng
Bảo lãnh ngân hàng là việc DNNVV (bên được bảo lãnh) được NHTM cam kết với bên nhận bảo lãnh (người cung cấp hàng hóa và cung cấp dịch vụ cho DNNVV) sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho DNNVV khi DNNVV không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh Trong đó, DNNVV phải nhận nợ và hoàn trả cho NHTM số tiền đã được NHTM trả thay (nếu có)
2.3.3 Các nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát và đánh giá sự tác động của các nhân
tố tác động đến khả năng tiếp cận nguồn vốn của DNNVV vùng KTTĐ phía Nam Từ việc tổng hợp cơ sở lý thuyết và mô hình thực nghiệm của các nghiên cứu trước, đề tài đề xuất các nhóm nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận vốn của DNNVV thuộc vùng khảo sát bao gồm : (1) Nhóm nhân tố thuộc về DN, (2) Nhóm nhân tố thuộc về NHTM, (3) Nhóm nhân tố thuộc về cơ quan quản lý nhà nước và (4) Nhóm nhân tố thuộc về thông tin bất cân xứng
Hình 2.1: Các nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận vốn
Khả năng tiếp cận vốn tín dụng DNNVV
Doanh nghiệp
NHTM
Thông tin BCX
Nhà nước
Trang 33Nguồn: Tác giả tự minh họa
2.3.3.1 Nhóm nhân tố thuộc về doanh nghiệp
Độ tuổi chủ doanh nghiệp: Theo Samuel Sekyi và các cộng sự (2013), độ tuổi của
chủ DN cao thì thường có một thời gian dài tích lũy tài sản và tài sản này có thể được dùng làm TSBĐ, bên cạnh đó, các chủ DN này thường đã có thời gian giao dịch với các
tổ chức tín dụng nên các tổ chức này có cơ sở để đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng này, do vậy các chủ DN lớn tuổi thường dễ tiếp cận nguồn tín dụng chính thức hơn
là các chủ DN trẻ Có rất nhiều nghiên cứu phù hợp với nhận định của Samuel Sekyi và các cộng sự có thể kể đến như nghiên cứu cảu Selamawit Niguse Kebede và các cộng sự (2014), Samuel Sekyi và các cộng sự (2013), Omboi Bernard Messah và Priscilla N Wangai (2011), tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tấn Hùng (2014) cũng cho
ra kết quả tương tự như vậy
Trình độ học vấn của chủ DN: Trình độ học vấn của chủ DN thường tương quan
cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính (Colenman, 2007), còn theo Hạ Thị Thiều Dao (2013) thì cho rằng hầu hết các ngân hàng không quan tâm nhiều đến trình độ học vấn của chủ DN, tuy nhiên, thực tế cho thấy trình độ của DN hạn chế đã dẫn đến việc các DN chưa thực hiện đầy đủ hạch toán kế toán DN nên các số liệu của bảng cân đối kế toán DN nên các số liệu của bảng cân đối còn quá đơn giản và không đầy đủ, chưa phản ánh đầy đủ và chính xác về tình hình tài chính của DN Từ đó làm tác động rất lớn đến việc xác định tình hình tài chính của DN trong khâu thẩm định cho vay của NH, do vậy các DN này thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn vay NH Có rất nhiều nghiên cứu cùng đồng thuận với kết quả này, có thể kể đến như Selamawit Niguse Kebede và các cộng sự (2014), Arlinda Mustafa (2015), Samuel Sekyi và các cộng sự (2013)…hay tại Việt Nam cũng có nghiên cứu của Nguyễn Tấn Hùng (2014), Nguyễn Minh Phục (2011) cũng có kết quả tương tự
Quy mô của DN: Quy mô của DN cũng ảnh hưởng đến quyết định cho vay của NH
bởi vì nó ảnh hưởng đến đánh giá về rủi ro của ngân hàng đối với DN DN nhỏ với tiềm lực tài chính yếu hơn thì sẽ dễ bị phá sản hơn trong trường hợp điều kiện kinh tế khó khăn,
do đó NH sẽ khó thu hồi được khoản vay hơn (Mohn Amy Azhar Mohd Harif và các cộng
sự, 2004) Theo kết quả nghiên cứu của Honjiang Zhao và các cộng sự (2006), thì quy mô
Trang 34vốn được xem là nhân tố quan trọng nhất trong khả năng tiếp cận vốn vay cũng như quy
mô vay vốn từ NH của DNNVV Kết quả nghiên cứu của Arlinda Mustafa (2015), Nguyễn Tấn Hùng (2014), Nguyễn Minh Phục (2011) cũng cho thấy quy mô nguồn vốn của DN
có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn vay của DNNVV
Tài sản bảo đảm: Đối với các tổ chức tín dụng, TSBĐ là một yếu tố quyết định
quan trọng trong quá trình đánh giá khoản vay của các DNNVV Bebzurk (2003) đã chứng minh rằng TSBĐ có thể đóng vai trò dấu hiệu truyền tải thông tin về chất lượng dự án của bên đi vay Anthony và cộng sự (2013) tìm thấy mối quan hệ đồng biến giữa TSBĐ và số vốn vay Theo Viện Nghiên cứu Quản lý TW (2013), tại Việt Nam, nhiều DNNVV nhất
là là các công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân, tài sản phấp nhân và tài sản cá nhân lẫn lộn, thiếu minh bạch nên các tổ chức tín dụng rất khó thẩm tra, đánh giá đúng về năng lực của các DN Khi đó, tổ chức tín dụng không thể không tính đến rủi ro khi chấp thuận cấp vốn vào cùng DN sản xuất – kinh doanh Rất nhiều đề tài nghiên cứu cho thấy TSBĐ là một nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng của DNNVV như Selamawit Niguse Kebede và các cộng sự (2014), Arlinda Mustafa (2015), Nguyễn Minh Tâm (2014), Nguyễn Tấn Hùng (2014),… Theo một cuộc điều tra DNNVV làn thứ 7 năm 2011
do CIEM chủ trì thực hiện cho thấy có 66,7% DN cho rằng tài sản thế chấp không đảm bảo là lý do DNNVV khó tiếp cận được nguồn vốn tín dụng từ các tổ chức tín dụng
Vốn đối ứng: Vốn đối ứng chứa đựng chi phí cơ hội của DN, giống như TSBĐ
bằng cách sử dụng nguồn vốn của mình vào trong dự án, qua đó người đi vay đã nhấn mạnh sự thành công của dự án do họ sẽ phải từ bỏ quyền chủ sở hữu nguồn vốn đó trong trường hợp dự án thất bại (Hongjiang Zhao, Wenxu Wu và Xuehua Chen, 2006) Theo Viện Nghiên cứu Quản lý TW (2013), vốn kinh doanh của các DN ít, dẫn đến vốn tự có tham gia vào các dự án ít Do vậy các tổ chức tín dụng phải rất thận trọng khi cấp vốn cho
DN vay vốn Tại Việt Nam, thông thường mỗi dự án do doanh nghiệp phải có tối thiểu 30% vốn đối ứng và chỉ được ngân hàng cho vay 70% số vốn của dự án, đây được xem là một trong những rào cản lớn của DNNVV trong việc tiếp cận vốn vay từ các tổ chức tín dụng
Phương án sử dụng vốn vay: Theo Viện Nghiên cứu Quản lý TW (2013), một số
lớn các DNNVV lập phương án kinh doanh, kế hoạch sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư
Trang 35còn mang nặng tính chủ quan áp đặt của lãnh đạo DN hoặc dựa trên kinh nghiệm thuần túy Nội dung của phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư đôi khi được thiết lập sơ sài, bởi vậy thiếu tính thuyết phục tổ chức tín dụng khi xem xét thẩm định cho vay Năng lực nội tại của doanh nghiệp yếu, các hệ số tài chính không đảm bảo theo yêu cầu của tổ chức tín dụng, không xác định được rõ ràng được dòng tiền luân chuyển, bởi vậy không tính toán đúng khả năng trả nợ trong tương lai Mohd Amy Azhar, Mohd Harif
và các cộng sự (2014), Võ Đức Toàn (2012), cũng có chung nhận định như vậy trong đề tài nghiên cứu của mình
Báo cáo tài chính: Hầu hết các DNNVV hiện nay đều chưa hoàn thiện về hệ thống
sổ sách kế toán, nội dung và phương pháp hạch toán thường không đầy đủ, thiếu chính xác và thiếu minh bạch Bên cạnh đó, các DNNVV thường xây dựng báo cáo tài chính mang tính chất đối phó với cơ quan thuế, để tránh phải nộp thuế nhiều, các doanh nghiệp thường cố ý giảm các chỉ tiêu về doanh thu, tăng chi phí nhằm hạn chế lợi nhuận trong báo cáo Do đó khi cung cấp báo cáo cho các tổ chức tín dụng để vay vốn, chỉ tiêu lợi nhuận không cao nên các tổ chức tín dụng không có cơ sở để cho vay dù thực tế là rất có hiệu quả (Theo Viện Nghiên cứu Quản lý TW, 2013) Theo Võ Đức Toàn (2012) thì công tác kế toán tài chính tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn nhiều hạn chế tình trạng thu chi ngoài sổ sách kế toán vẫn còn phổ biến gây khó khăn cho công tác thẩm định tín dụng của ngân hàng thương mại Mohd Amy Azhar, Mohd Harif và các cộng sự (2014), Nguyễn Thế Bính (2013) cũng nhấn mạnh vai trò của tính minh bạch trong báo cáo tài chính của
DN khi tiếp cận vốn vay của các tổ chức tín dụng
Hóa đơn chứng từ thiếu minh bạch: Các DNNVV thường bán hàng không có hợp
đồng kinh tế, ít tuân thủ chế độ phát hành hóa đơn bán hàng, nên NH khó có cơ sở đánh giá và quyết định việc cho vay (Theo Viện Nghiên cứu Quản lý TW, 2013)
DN có mối quan hệ với tổ chức tín dụng: Daimond (1991) cho rằng DN có mối
quan hệ lâu dài với NH có thể giúp giảm các vấn đề về thông tin bất cân xứng, từ đó sẽ giúp các NH nới lỏng về các điều kiện vay vốn Hoshi, Kashyap và Scharfstein (1991) đã chứng minh rằng NH tiếp xúc với người đi vay để giám sát và khi được tín nhiệm lớn thì điều kiện để tiếp xúc với nguồn tài chính từ ngân hàng của doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn Theo Võ Đức Toàn (2013), DN thường thực hiện giao dịch qua hệ thống NH thường sẽ
Trang 36có mối quan hệ tốt hơn với NH, hơn là những DN chủ yếu thực hiện giao dịch bằng tiền mặt
2.3.3.2 Nhóm nhân tố thuộc về ngân hàng thương mại
Hồ sơ thủ tục rườm rà: Gren (2003) cho rằng khả năng tiếp cận vốn của các DN
nhỏ đã bị giới hạn tại các nước đang phát triển phần lớn là do hồ sơ, thủ tục vay vốn phức tạp, điều này đã gây ra nhiều khó khăn cho các DN khi vay vốn NH Trong một nghiên cứu của Nguyễn Thế Bính (2012) đã chỉ ra rằng thủ tục phức tạp là một trong những nguyên nhân cơ bản mà các DN đề cập đến khi có nhu cầu tiếp cận vốn TD của các NH tại Việt Nam, các DNNVV tại Việt Nam thường chưa hiểu rõ về cơ chế TD của các NH nên có tâm lý lo sợ thủ tục vay vốn của NH phức tạp rườm rà
Lãi suất: Anthony và cộng sự (2013) khi nghiên cứu phân bổ TD cho khu vực tư
nhân ở Ghana đã phát hiện ra rằng lãi suất có tác động tiêu cực đến việc phân bổ TD Mức lãi suất cao không khuyến khích các DNNVV tiếp cận nguồn vốn từ NH (Sacerdoti, 2005) Stiglitz và Weiss (1981) đã chỉ ra rằng lãi suất cao làm cho dự án của DN phải gắn thêm chi phí nên khả năng thành công thấp hơn, nhưng phải trả lãi nhiều hơn trong trường hợp
dự án thành công Theo Nguyễn Thế Bính (2013) lãi suất cao sẽ làm tăng giá thành sản phẩm của DN, làm giảm khả năng cạnh tranh của mặt hàng và tăng thêm gánh nặng tài chính cho công ty, khiến sản xuất kinh doanh cũng cầm chừng, làm giảm đầu tư và giảm nhu cầu vay vốn
Kỳ hạn khoản vay: Nếu kỳ hạn của vốn vay không phù hợp với dòng tiền của DN
sẽ làm cho chiến lược đã lên kế hoạch của DN bị trì hoãn hoặc thay đổi (Kebede và các cộng sự, 2014), nghiên cứu được thực hiện bởi Richard (2010) tại Uganda cũng chỉ ra rằng kỳ hạn vay vốn không đáp ứng nhu cầu vay vốn của DNNVV ảnh hưởng mạnh mẽ đến quyết định vay vốn của các DN này Tại Việt Nam, thời hạn cho vay chủ yếu là cho vay ngắn hạn, tỷ trọng vay dài hạn thấp và cũng chỉ thường từ 3 tới 5 năm đây là khoảng thời gian khá ngắn chưa đủ cho các dự án hoàn vốn và có doanh thu lợi nhuận ổn định để trả nợ vay (Nguyễn Thế Bính, 2013)
Thời gian xét duyệt vay vốn: thủ tục thẩm định và cho vay của các NH rất phức tạp
và tốn nhiều thời gian, thường là 20 - 30 ngày hoặc nhiều hơn nữa đối với các nguồn vốn
Trang 37TD ưu đãi Hơn nữa, các quy trình và thủ tục cho vay không được NH thông tin kỹ lưỡng đến DN, nên dễ bị thiếu sót trong khi làm thủ tục vay, kéo dài thời gian cấp TD Kết quả
là DN có thể mất đi cơ hội kinh doanh do chưa có vốn (Nguyễn Thế Bính, 20130) Theo Nguyễn Đức Toàn (2012), quá trình xét duyệt và quyết định mức cho vay còn kéo dài thời gian làm ảnh hưởng đến cơ hội đầu tư cũng như tiến trình thi công các công trình dự án của DN Việc xét duyệt kéo dài đôi lúc làm việc DN nản lòng, nên một số DN cần gấp thì thường vay mượn bạn bè, người thân Họ chấp nhận vay với lãi suất cao nhưng đổi lại nhanh chóng và kịp thời cho những dự án làm ăn có cơ hội sinh lãi cao
Cán bộ tín dụng không đánh giá chính xác về tính hiệu quả của dự án hoặc phương
án sử dụng vốn của DN, theo Võ Đức Toàn (2012) cán bộ của các NHTM hầu hết đều có
kinh nghiệm trong nghiệp vụ, nhưng năng lực hiểu biết và công nghệ kỹ thuật máy móc còn hạn chế, nhiều dự án có nội dung kinh tế kỹ thuật phức tạp, cán bộ TD không đủ trình
độ chuyên môn để đánh giá hiệu quả kinh tế dẫn đến quan hệ TD có thể không thực hiện được
Sản phẩm tín dụng của ngân hàng không phù hợp với nhu cầu của khách hàng:
Theo Viện Nghiên cứu Quản lý TW (2013) hiện nay, các ngân hàng vẫn chưa thực sự tập trung trong việc phục vụ các DNNVV, thể hiện ở chính sách tài sản thế chấp rườm ra, thủ tục hành chính phức tạp khiến các DN quy mô nhỏ rất khó đáp ứng được Mặt khác, nhiều ngân hàng có tâm lý không muốn cho vay dự án nhỏ lẻ, phân tán, khó quản lý Việc có ít kinh nghiệm khi cho các DNNVV vay vốn và chi phí giao dịch tăng cao do thiếu thông tin và hoạt động của DN cũng làm cho các tổ chức tín dụng không quan tâm đến nhóm khách hàng này Mặt khác, các ngân hàng chưa thực sự đổi mới về phong cách phục vụ đối tác với các DNNVV Hiện nay một số chi nhánh ngân hàng còn thụ động trong việc tiếp cận nắm bắt, phân tích hoạt động của các DNNVV, bên cạnh đó hệ thống công nghệ còn lạc hậu, phân tán cũng không cho phép các ngân hàng tạo ra các sản phẩm mới, hiện đại, phù hợp với tính đa dạng của DNNVV, nên gói sản phẩm ngân hàng dành cho DN nhỏ và vừa còn đơn điệu và hạn chế
Ngân hàng đánh giá không chính xác về giá trị TSBĐ của khách hàng: theo Viện
Nghiên cứu Quản lý TW (2013), các tổ chức tín dụng Việt Nam thường dùng các phương pháp cố định để đánh giá TSBĐ, một phần do thiếu thông tin về giá trị thị trường nên việc
Trang 38định giá tỏ ra thiếu chuẩn xác, việc này đã giới hạn đáng kể khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng của DNNVV
2.3.3.3 Nhóm nhân tố thuộc về cơ quan quản lý nhà nước
Các quy định của pháp luật về tín dụng ngân hàng còn quá khắt khe: theo Võ Đức
Toàn (2012) tình trạng hình sự hóa quan hệ giữa ngân hàng và DN đã khiến nhiều cán bộ tín dụng rất thận trọng trong việc ra quyết định cho vay, một số trường hợp mặc dù DN
có phương án sử dụng vốn vay rất khả thi, kết quả hoạt động kinh doanh tốt, nhưng lại thiếu TSBĐ nên cán bộ tín dụng không dám cho vay Bên cạnh đó, những quy định về phát mãi TSBĐ còn quá nhiêu khê khiến cho việc giải chấp tài sản xử lý của NH gặp rất nhiều khó khăn nên ngân hàng cũng e ngại trong việc cho vay
Chính sách của nhà nước thường hay thay đổi: Theo Võ Đức Toàn (2012) việc
chính sách nhà nước hay thay đổi khiến DN gặp rất nhiều trong hoạt động, các NH cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc hoạch định chính sách cho vay, điều này đã góp phần hạn chế khả năng tiếp cận vốn của DNNVV
Điều kiện để được bảo lãnh tín dụng, vay vốn ưu đãi không phù hợp: Theo VCCI
(2010) điều kiện để DN được bảo lãnh vay vốn rất khó thực hiện, cụ thể DN phải đáp ứng được 03 điều kiện: (i) Dự án hiệu quả và khả năng hoàn trả vốn vay của dự án; (ii) Vốn chủ sở hữu tham gia dự án đầu tư chiếm ít nhất 15% và (iii) không có nợ xấu tại các tổ tổ chức tín dụng tại thời điểm được bảo lãnh Trong những điều kiện trên thì điều kiện chứng minh hiệu quả dự án có thể xem là khó nhất vì để làm được điều này, DN phải có đầy đủ thông tin về thị trường đầu vào, đầu ra như: tổng mức đầu tư, nhu cầu hiện tại của sản phẩm, kế hoạch thực hiện sản xuất, thị trường lao động, thị trường nhiên liệu, nguyên liệu sản xuất Theo Kết quả khảo sát của VICC tại 3 tỉnh thành Hà Nội, Cần Thơ và Bình Thuận, có đến 59,63% DN cho rằng điều kiện bảo lãnh khó đáp ứng và 53,9% DN ngại thủ tục phức tạp Chính vì vậy, số lượng DN đề nghị bảo lãnh hiện ở mức rất thấp chưa đến 20% và được bảo lãnh thì rất ít
Thông tin DN cung cấp cho tổ chức tín dụng không trung thực: Nguồn thông tin
đạt được từ khách hàng sẽ giúp nhân viên tín dụng đánh giá được rủi ro tiềm tàng của khoản vay, nguồn thông tin này có thể đạt được từ phỏng vấn khách hàng, hồ sơ khoản
Trang 39vay trước hoặc thông tin từ bên thứ 3 (Hongjiang Zhao, Wenxu Wu và Xuehua Chen, 2006) Tuy nhiên, tại Việt Nam thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, các sổ sách kế toán vẫn chưa được các DN tuân thủ nghiêm chỉnh Do vậy, sổ sách kế toán mà các DN cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính hình thức hơn là thực chất Khi cán bộ ngân hàng lập các bản phân tích tài chính dựa trên số liệu do các DN cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần TSBĐ như chỗ dựa cuối cùng để thu hồi nợ vay (Võ Đức Toàn, 2012)
2.3.3.4 Nhóm nhân tố về thông tin bất cân xứng
DN không sử dụng vốn đúng với mục đích đã cam kết: mục đích vay vốn là một
nhân tố quan trọng trong quyết định cho vay của tổ chức tín dụng, mức độ rủi ro tiềm tàng của khoản vay sẽ làm biến động đáng kể đến quyết định cho vay của ngân hàng (Berry và các cộng sự, 1993) Theo kết quả điều tra của VCCI (2010), trong thời gian qua, có rất nhiều DN vay được vốn đã không sử dụng nguồn vốn vay theo mục đích đã cam kết mà đầu cơ vào thị trường bất động sản và chứng khoán, điều này làm giảm sút niềm tin của các ngân hàng và gia tăng tỷ lệ nợ xấu từ khối DNNVV
DNNVV vẫn chưa biết nhiều về sản phẩm cho vay của các NHTM, theo Võ Đức
Toàn (2012) hiện nay, một số DN không biết nhiều về các sản phẩm của NHTM, DN nghĩ rằng đến ngân hàng là chỉ để vay vốn hay mở tài khoản thanh toán Nguyên nhân chủ yếu
là do công tác tiếp thị của ngân hàng chưa được chú trọng Theo khảo sát của Võ Đức Toàn thực hiện năm 2010 cho thấy chỉ có 33,7% các DN biết các sản phẩm của ngân hàng thông qua ngân hàng và 66,3% là tìm hiểu từ người thân, bạn bè và tự tìm hiểu
DN không biết rõ về các chương trình hỗ trợ tín dụng cho DNNVV, theo Nguyễn
Thế Bính (2013), chính sách cung cấp ưu đãi tín dụng cho các DN đủ tiêu chuẩn nhận ưu đãi cũng chưa được minh bạch và không được cập nhật một cách công khai Trong kết quả khảo sát của Nguyễn Thế Bính (2013) thì hầu hết (90%) DN không có thông tin về các khoản vay ưu đãi và không rõ thủ tục để được xin vay
2.4 Một số kinh nghiệm và bài học về nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trang 402.4.1 Kinh nghiệm về xây dựng và thực thi các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng tại một số quốc gia trên
thế giới
Trong các chính sách hỗ trợ tạo điều kiện tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng cho các DNNVV đã được các quốc gia trên thế giới thực hiện, có hai chính sách gồm bảo lãnh tín dụng cho DNNVV và cho vay trực tiếp DNNVV được đa phần các quốc gia lựa chọn Có thể liệt kê một số kinh nghiệm về hỗ trợ DNNVV tại các quốc gia sau:
* Nhật Bản
Để tạo cơ hội cho DNNVV có thể sử dụng các nguồn lực tài chính từ các thiết chế tài chính khu vực tư, Chính phủ Nhật Bản thực hiện bảo lãnh các khoản vay cho các DNNVV và Chính phủ có thể trả thay khi các DNNVV không thể trả được Ngoài ra, nhằm nâng cao chất lượng quản lý của các doanh nghiệp siêu nhỏ với đội ngũ quản lý hạn chế, thiếu tài sản đảm bảo, Chính phủ Nhật Bản đưa ra nhiều biện pháp hỗ trợ, trong đó
có biện pháp cung cấp vốn với lãi suất thấp khi DNNVV không đủ điều kiện về tài chính hoặc không có tài sản đảm bảo
* Hàn Quốc
Hàn Quốc có những chương trình sàng lọc, phân loại những doanh nghiệp siêu nhỏ
để tìm ra được những ưu điểm riêng của từng doanh nghiệp, từ đó Chính phủ sẽ xây dựng những chương trình hỗ trợ như: đưa vào vườn ươm doanh nghiệp, hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ nguồn nhân lực, tài chính, hoặc hỗ trợ tiêu thụ hàng hóa, để các DNNVV có thể tồn tại
và phát triển
Hàn Quốc thành lập Cơ quan Quản lý DNNVV (SMBA), cơ quan này đóng vai trò tiên phong trong việc cung cấp và phát triển chính sách giúp DNNVV hoạt động hiệu quả
và thiết thực hơn, đồng thời đề xuất cho Chính phủ Hàn Quốc trong việc tạo ra các công
cụ, chính sách giúp DNNVV phát triển, cạnh tranh lành mạnh với các doanh nghiệp lớn Bên cạnh đó, với mục đích giảm nhẹ khó khăn tài chính cho DNNVV, hệ thống hỗ trợ tài chính cho DNNVV ở Hàn Quốc được thành lập và chia theo ba kênh chính: Quỹ bảo lãnh tín dụng Hàn Quốc, Quỹ bảo lãnh tín dụng công nghệ Hàn Quốc và Quỹ bảo lãnh tín dụng