Sinh viên được đào tạo kỹ năng thông tin sẽ nắm được các nguyên tắc cơbản trong việc nhận biết nhu cầu thông tin, hoạch định chiến lược tìm kiếm, định vị,truy cập, đánh giá và sử dụng th
Trang 1-TRẦN DƯƠNG
KIÕN THøC TH¤NG TIN CñA SINH VI£N TR¦êNG §¹I HäC Hµ TÜNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC THÔNG TIN - THƯ VIỆN
HÀ NỘI, Năm 2015
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Trang 2TRẦN DƯƠNG
KIÕN THøC TH¤NG TIN CñA SINH VI£N TR¦êNG §¹I HäC Hµ TÜNH
Chuyên ngành: Khoa học Thông tin - Thư viện
Mã số: 60320203
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THU THẢO
HÀ NỘI, Năm 2015
Trang 3quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn này là trung thực, không sao chép từ bất
kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu(nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả luận văn
Trần Dương
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ 4
MỞ ĐẦU 6
Chương 1: KIẾN THỨC THÔNG TIN ĐỐI VỚI NHIỆM VỤ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ TĨNH 17
1.1 Những vấn đề chung về kiến thức thông tin đối với sinh viên 17
1.1.1 Khái niệm về kiến thức thông tin 17
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kiến thức thông tin 19
1.1.3 Các tiêu chí đánh giá kiến thức thông tin 25
1.1.4 Các yêu cầu đối với kiến thức thông tin của sinh viên 29
1.2 Trường Đại học Hà Tĩnh và Trung tâm Thông tin - Thư viện 30
1.2.1 Trường Đại học Hà Tĩnh 30
1.2.2 Trung tâm Thông tin – Thư viện 32
1.3 Vai trò của kiến thức thông tin đối với sinh viên Trường Đại học Hà Tĩnh 37
1.3.1 Nâng cao chất lượng học tập 37
1.3.2 Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học 38
1.3.3 Trợ giúp giải quyết các vấn đề khác 41
Tiểu kết 42
Chương 2: THỰC TRẠNG KIẾN THỨC THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ TĨNH 44
2.1 Kỹ năng nhận dạng nhu cầu 44
2.1.1 Nhận thức của sinh viên về khái niệm kiến thức thông tin 44
2.1.2 Nhận thức của sinh viên về các khóa học kiến thức thông tin 45
2.1.3 Nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của các kỹ năng thông tin 47
2.2 Kỹ năng tìm kiếm và đánh giá thông tin 48
2.2.1 Định vị thông tin 48
2.2.2 Cách thức tiến hành tìm tin của sinh viên 51
2.2.3 Đánh giá thông tin 54
2.3 Kỹ năng sử dụng và trình bày thông tin 57
2.3.1 Kỹ năng sử dụng thông tin 57
2.3.2 Kỹ năng trình bày thông tin 60
2.4 Chia sẻ thông tin 62
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức thông tin của sinh viên Trường Đại học Hà Tĩnh 64
Trang 52.5.1 Hoàn cảnh xã hội 64
2.5.2 Điều kiện kinh tế 65
2.5.3 Văn hóa nhà trường 66
2.5.4 Năng lực tư duy 67
2.5.5 Phương pháp học tập của sinh viên 68
2.5.6 Phương pháp giảng dạy của giảng viên 69
2.5.7 Trình độ cán bộ thư viện 71
2.5.8 Sự phối hợp giữa cán bộ thư viện với giảng viên 71
2.5.9 Công nghệ thông tin 72
2.5.10 Kỹ năng mềm của sinh viên 73
2.6 Đánh giá chung về kiến thức thông tin 75
2.6.1 Điểm mạnh 75
2.6.2 Hạn chế 75
2.6.3 Nguyên nhân 76
Tiểu kết 78
Chương 3 : CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KIẾN THỨC THÔNG TIN CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ TĨNH 80
3.1 Nâng cao nhận thức về vai trò của kiến thức thông tin 80
3.1.1 Đối với sinh viên 80
3.1.2 Đối với cán bộ thư viện 81
3.1.3 Đối với giảng viên 81
3.1.4 Đối với lãnh đạo 82
3.2 Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng chương trình và nội dung phát triển kiến thức thông tin 82
3.2.1 Lồng ghép kiến thức thông tin vào chương trình giảng dạy 82
3.2.2 Nâng cấp chương trình và nội dung giảng dạy kiến thức thông tin 87
3.2.3 Tập trung hướng dẫn các kỹ năng thông tin cho sinh viên 89
3.2.4 Đào tạo kiến thức thông tin cho sinh viên 90
3.3 Tăng cường vai trò của các bên liên quan đối với phát triển kiến thức thông tin 99
3.3.1 Tăng cường vai trò của giảng viên 99
3.3.2 Tăng cường vai trò của lãnh đạo 100
3.3.3 Tăng cường vai trò của Thư viện 101
3.4 Nâng cao trình độ cán bộ thư vện 102
3.4.1 Trang bị kỹ năng cần thiết cho cán bộ thư viện 102
3.4.2 Tập huấn kiến thức thông tin cho cán bộ thư viện 105
3.4.3 Xây dựng mối liên hệ giữa cán bộ thư viện với giảng viên 106
Tiểu kết 108
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 6GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
TT-TV Thông tin - Thư viện
ACRL Association of College and Research Libraries
ALA American Library Association
OPAC Online Public Access Catalog
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng 1.1: Vốn tài liệu tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường
2 Bảng 2.1: Nhận thức của sinh viên về kiến thức thông tin 44
3 Bảng 2.2: Tỷ lệ sinh viên đã học các kỹ năng trong khóa học kiến thức
4 Bảng 2.3: Nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của các kỹ năng
5 Bảng 2.4: Mức độ sử dụng các công cụ tìm kiếm thông tin của sinh viên 49
6 Bảng 2.5: Cách thức sinh viên lựa chọn biểu thức tìm tin 52
7 Bảng 2.6: Cách thức sinh viên đánh giá chất lượng tài liệu 55
8 Bảng 2.7: Ý thức về trích dẫn tài liệu tham khảo của sinh viên 58
9 Bảng 2.8: Hiểu biết về các trường hợp trích dẫn tài liêu tham khảo 68
10 Bảng 2.9: Sinh viên nhận thức về việc vi phạm bản quyền 60
11 Bảng 2.10: Mức độ sử dụng tài liệu tham khảo của sinh viên 61
12 Bảng 3.1: Mục tiêu của chương trình kiến thức thông tin và nhiệm vụ
13 Bảng 3.2: Đề xuất chương trình và nội dung kiến thức thông tin 97
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ
1 Sơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Thông tin – Thư
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 2.1: Sinh viên lựa chọn biểu thức tìm tin 53
2 Biểu đồ 2.2: Sinh viên lựa chọn điểm truy cập thông tin 54
3 Biểu đồ 2.3: Mức độ sử dụng tài liệu tham khảo của sinh viên 61
4 Biểu đồ 2.4: Hiểu biết của sinh viên về tổ chức danh mục tài liệu
5 Biểu đồ 2.5: Các phương thức chia sẻ thông tin của sinh viên 63
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chúng ta đang sống trong nền văn minh tri thức của thế kỷ XXI, thế kỷ mà
sự tiến bộ không ngừng của khoa học - công nghệ với những bước nhảy vượt bậc vềchất lượng và sản lượng công nghiệp, dịch vụ cũng như nguồn lực thông tin củamột năm bằng hàng thế kỷ trước đó Để không tụt hậu, kịp thời nắm bắt những trithức khoa học - công nghệ tiên tiến, mỗi con người phải không ngừng học hỏi, vươnlên tự hoàn thiện mình Trong công cuộc xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam thì việcđổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục là một vấn đề mà lâu nay các nhà quản lý,các nhà nghiên cứu đang đi tìm lời giải Mục tiêu của giáo dục Việt Nam là đào tạocon người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ vànghề nghiệp Về cách học ở các trường đại học, khuyến khích sinh viên lấy tự học
là chính, học tập một cách chủ động và sáng tạo
Giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước, củatoàn dân, “giáo dục là quốc sách hàng đầu” Tại Hội nghị Trung ương 2 (Khóa VII),GD&ĐT được Đảng ta coi là quốc sách hàng đầu GD&ĐT cùng với khoa học côngnghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Những quan điểm
về GD&ĐT được thể hiện trong các văn kiện của các Hội nghị Trung ương và các Đạihội Đảng toàn quốc đều nhấn mạnh đến việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện,đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học khắc phục lối truyền thụ một chiều, rènluyện tố chất tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiêntiến và hiện đại vào quá trình dạy và học để từng bước hội nhập với giáo dục quốc tế
Trước những yêu cầu đổi mới toàn diện nền giáo dục ở bậc đại học thì việcđào tạo theo hình thức tín chỉ là phương pháp đào tạo có nhiều ưu thế so vớiphương thức đào tạo truyền thống Việc áp dụng hình thức này sao cho phù hợp vớiđiều kiện và hoàn cảnh của mỗi trường là vấn đề lớn và khó đối với cán bộ quản lý,những người đang giảng dạy và cả sinh viên Tuy có những bất cập nhưng việc lấysinh viên làm trọng tâm để phát huy khả năng tự học của sinh viên theo chương
Trang 10trình đạo theo tín chỉ thì có thể nói rằng việc học theo tín chỉ là một trong nhữngbiện pháp mang lại hiệu quả giúp cho sinh viên phát huy khả năng tự học, tự tíchlũy kiến thức của mình thông qua sự hiểu biết về kiến thức thông tin (KTTT)
KTTT là kỹ năng then chốt, nó cần thiết trong việc nghiên cứu bất kỳ lĩnhvực nào Đó là điều kiện tiên quyết cho việc học tập suốt đời và cho phép người họctham gia một cách chủ động và có phê phán vào nội dung học tập và mở rộng việcnghiên cứu, trở thành người có khả năng tự định hướng, tự kiểm soát tốt hơn quátrình học của mình Khi mà các trường đại học ngày càng có xu hướng lồng ghépviệc phát triển và đánh giá các kỹ năng này vào việc đào tạo ở bậc đại học, KTTTcung cấp một cổng thông tin cho việc phát triển các kỹ năng khác KTTT đã nổi lênnhư một vấn đề quan trọng trong việc đào tạo sinh viên, đặc biệt là cho nhữngngười đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau [17] Ngày nay, KTTT không chỉ là vấn
đề riêng của ngành thông tin - thư viện (TT-TV), mà nó đã trở thành vấn đề cấp
thiết của thế kỷ 21, và đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực giáo dục đại học Có thểkhái quát rằng: KTTT giúp chúng ta có khả năng tốt hơn để nhận biết nhu cầu thôngtin, khai thác và sử dụng thông tin một cách hiệu quả
Trong bối cảnh nền giáo dục đại học Việt Nam đang chuyển tiếp từ đào tạo theoniên chế sang học chế tín chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, thìviệc nâng cao KTTT cho sinh viên là điều không thể thiếu trong hoạt động đào tạo củacác trường Sinh viên được đào tạo kỹ năng thông tin sẽ nắm được các nguyên tắc cơbản trong việc nhận biết nhu cầu thông tin, hoạch định chiến lược tìm kiếm, định vị,truy cập, đánh giá và sử dụng thông tin một cách hợp lý để phục vụ cho việc học tập vànghiên cứu độc lập Đây chính là nền tảng giúp sinh viên phát triển năng lực bản thântrong tư duy độc lập và sáng tạo - một trong những yêu cầu thiết yếu trong lộ trình tínchỉ hóa chương trình đào tạo của giáo dục đại học Việt Nam
Trường Đại học Hà Tĩnh (ĐHHT) là một trường đại học công lập, đa cấp, đangành, đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước nói chung và tỉnh Hà Tĩnh nói riêng Chất lượng đàotạo và nghiên cứu khoa học (NCKH) của nhà trường luôn gắn liền với chất lượng
Trang 11của thông tin mà các đối tượng tham gia vào các quá trình này - giảng viên, nhànghiên cứu, sinh viên - thu thập, khai thác và sử dụng Trước sự gia tăng khôngngừng của các nguồn thông tin cũng như của các phương tiện truy cập, tổ chức, lưutrữ và khai thác thông tin đòi hỏi mọi người phải có KTTT Do vậy, nâng cao KTTT
là một công việc quan trọng Nâng cao KTTT có thể được thực hiện nhờ vào nỗ lựccủa mỗi cá nhân bằng việc tự tìm tòi, học hỏi Nhưng cũng như bất kỳ một hoạtđộng đào tạo khác, việc nâng cao KTTT nên và cần được thực hiện một cách bàibản thông qua các khóa huấn luyện với chương trình, nội dung hoàn chỉnh và donhững người có trình độ chuyên nghiệp đảm trách [27] Tuy nhiên, việc phát triểnKTTT cho người dùng tin (NDT) tại các trường đại học Việt Nam nói chung vàTrường ĐHHT nói riêng chưa được quan tâm đúng mức, chưa có hệ thống, chưađáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của NDT là sinh viên Ngoài ra, việc pháttriển KTTT cho sinh viên Trường ĐHHT có nhiều yếu tố đặc thù tác động trong quátrình triển khai Các yếu tố này cũng chưa được nghiên cứu một cách cụ thể
Từ những nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của KTTT và yêu cầu nângcao chất lượng giáo dục trong bối cảnh giáo dục đại học của nhà trường, tác giả
chọn đề tài: “Kiến thức thông tin của sinh viên Trường Đại học Hà Tĩnh” làm đề
tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1 Lịch sử nghiên cứu kiến thức thông tin trên thế giới
Vào những thập niên 70, tại Mỹ Trường Đại học Tổng hợp Colorado đã đưaKTTT vào trong chương trình giảng dạy và được đề cập trong khóa học bắt buộc vềkiến thức máy tính Năm 1974, tại Uỷ ban quốc gia về Khoa học Thông tin và Thưviện, Paul G Zurkowski là người đầu tiên sử dụng KTTT với nội dung: Các nguồnthông tin được áp dụng vào các tình huống giải quyết công việc; các công nghệ, kỹnăng cần có để sử dụng các công cụ thông tin và các nguồn thông tin chính yếu;thông tin để giải quyết vấn đề mà con người gặp phải [13, 4], năm 1976, KTTT xuấthiện trong bài trình bày của Lee Burchinal tại một hội thảo của Thư viện A&M
Trang 12Texas Theo ông KTTT được hiểu là các kỹ năng bao gồm: Các kỹ năng xác địnhthông tin và sử dụng thông tin; Sử dụng thông tin để giải quyết vấn đề và ra quyếtđịnh; Sử dụng thông tin có hiệu quả trong công việc [23], năm 1979, tổ chức IIA(Hiệp Hội các ngành Công nghệ thông tin) đã đưa ra nội dung KTTT là người biết cáccông nghệ và các kỹ năng để sử dụng công nghệ thông tin (CNTT) và các kỹ năng sửdụng các công cụ thông tin để tạo lập các quyết định giải quyết các vấn đề RobertTaylor đã nhấn mạnh các yếu tố của KTTT: Giải quyết mọi vấn đề cần thiết phải cóthông tin và số liệu; Phải có kiến thức về nguồn thông tin là một điều kiện tiên quyết;Quá trình thông tin diễn ra liên tục cũng quan trọng như những quá trình thông tin diễn
ra rời rạc; Có những chiến lược tìm tin để bổ sung thông tin mới [23], năm 1985, tạiThư viện Trường Đại học Tổng hợp Colorado đã tiến hành nghiên cứu chương trìnhgiảng KTTT với nội dung: KTTT là khả năng truy cập và đánh giá thông tin thỏamãn một nhu cầu nhất định một cách hiệu quả [25]
Theo Hiệp Hội các Thư viện đại học và Thư viện nghiên cứu Mỹ (ACRL,1989), KTTT là sự hiểu biết và một tập hợp các khả năng cho phép các cá nhân cóthể “nhận biết thời điểm cần thông tin và có thể định vị, thẩm định và sử dụng thôngtin cần thiết một cách hiệu quả” [13]
Vào đầu những năm 90, KTTT đã được Hiệp hội thư viện Mỹ chấp nhận ba
xu hướng phát triển KTTT: Tập trung quan tâm vào KTTT; KTTT được coi nhưmột mắt xích trong chuỗi mắt xích phát triển tri thức; cán bộ thư viện (CBTV) đánhgiá vai trò của họ trong sự phát triển KTTT [23]
Năm 1998, Hội thư viện trường học Hoa Kỳ và Hội công nghệ - truyền thông
giáo dục đã xuất bản cuốn sách: “Năng lực thông tin: Xây dựng sự cộng tác cho việc
học tập” Với mục đích xa hơn, cụ thể hơn cho giáo dục KTTT, làm sáng tỏ các tiêuchuẩn của KTTT, khả năng tự học và trách nhiệm xã hội của mỗi công dân [13]
Tác giả Alan Bundy (2003) cho rằng KTTT được xem như một hệ kiến thứcnền tảng, và do đó các chính phủ cần phải xây dựng các chính sách và chiến lượcthông tin phù hợp, lấy KTTT là nhân tố cốt lõi [36]
Trang 13Năm 2001, tại Hội nghị hàng năm ở Boston, Hoa Kỳ, IFLA đã đổi tên bàntròn về đào tạo NDT thành tiểu ban KTTT Từ đó đến nay, tiểu ban này đã có nhiềuhoạt động để phổ biến KTTT trên toàn thế giới, trong đó có dự định sử dụng chứngchỉ quốc tế về KTTT Tháng 9 năm 2003, dưới sự tài trợ của UNESCO, Ủy banQuốc gia về Khoa học Thư viện và Thông tin và diễn đàn quốc gia về KTTT (HoaKỳ) cũng đã tổ chức Hội thảo về KTTT Hội thảo này ra tuyên bố, gọi là tuyên bốPraha: Tiến tới xã hội KTTT, đã đưa ra sáu nguyên tắc: Hình thành xã hội thông tin;KTTT là yêu cầu và nhu cầu tin (NCT), khả năng xác định, định vị, đánh giá, tổchức và sáng tạo, sử dụng có hiệu quả và truyền thông tin tới các địa chỉ; KTTT làmối quan hệ với sự tiếp cận của các thông tin cần thiết, sử dụng có hiệu quả thôngtin và CNTT; Các chính phủ cần phát triển các chương trình liên ngành rộng lớn đểkhuếch trương KTTT trên phạm vi cả nước; KTTT là nhu cầu của mọi khu vực xã hội;KTTT là một bộ phận quan trọng của giáo dục dành cho mọi người [34]
Ngày 16 tháng 10 năm 2006, Hội nghị thượng đỉnh về KTTT ở Hoa Kỳ với sự
có mặt của hơn 100 thành viên được bảo trợ bởi Diễn đàn KTTT quốc gia về các lĩnhvực như: Uỷ ban phát triển kinh tế, dịch vụ khảo thí giáo dục,…và Hiệp hội giáo dụcquốc gia với mục đích: 1) Nâng cao hiểu biết chính trị và truyền thông về tầm quantrọng của thông tin xã hội trong thế kỷ 21; 2) Phát triển chiến lược tổng hợp nhằm nângcao kỹ năng thông tin cho công dân Hoa Kỳ; 3) Xây dựng những tiêu chuẩn và khungđánh giá KTTT liên quốc gia [13]
Gaston Nicole Marie (2009) tại Đại hội cán bộ thư viện các nước Đông Nam
Á lần thứ 14 - Consal XIV cũng đã đề cập đến KTTT qua bài viết “Phát triển chiếnlược nhằm nâng cao kiến thức thông tin và triển khai các dịch vụ thư viện năngđộng: Một số gợi ý cho Lào” [18]
2.2 Lịch sử nghiên cứu kiến thức thông tin ở Việt Nam
Tại Việt Nam, khái niệm “Information Literacy” ngày càng phổ biến trong
các trường đại học, viện nghiên cứu, cơ quan TV, đặc biệt trong lĩnh vực
TT-TV và được dịch sang tiếng Việt theo nhiều cách khác nhau như: “Kiến thức thông
Trang 14tin”, “Hiểu biết thông tin” hay “Kỹ năng thông tin” trên các phương tiện: tạp chí,luận văn thạc sĩ, hội thảo khoa học.
Gần đây, khái niệm Information Literacy đã được một số tác giả nghiên cứu ởcác phương diện khác nhau trên các tạp chí chuyên ngành
Tạp chí Thư viện Việt Nam từ những năm 2000 đến nay đã có một số bàibáo đã công bố về KTTT như: “Lồng ghép kiến thức thông tin vào môn học ở bậchọc Đại học thông qua mối quan hệ giữa thư viện và giảng viên” của tác giả Vũ ThịNha dịch (2007), số 3 (11), tr 49-58; “Vai trò của kiến thức thông tin đối với cán bộnghiên cứu khoa học” của tác giả Nghiêm Xuân Huy (2010), số 3 (23), tr.13-18;
“Công tác đào tạo kỹ năng thông tin tại Trung tâm Học liệu Đại học Cần Thơ”, số3(23), tr.19-22 và “Xây dựng và triển khai chương trình đào tạo kỹ năng thông tincho độc giả tại Trường Đại học Cần Thơ”, số 3(29), tr.12-19 của tác giả HuỳnhTrúc Phương; “Thư viện đại học với việc trang bị kiến thức thông tin cho sinh viên:
Thực trạng và một số vấn đề đặt ra” của tác giả Vũ Dương Thúy Ngà (2012), số
5(37), tr.7-11; “Đội ngũ cán bộ thư viện tham gia đào tạo kiến thức thông tin tại một
số thư viện đại học ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” (2013), số 6(44), tr.15-20,
“Một số nhân tố ảnh hưởng tới việc phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên”
(2014), số 2(46) tr.18-23 và “Vai trò của thư viện trong việc phổ biến kiến thức thông tin” (2010), số 4(20), tr.17-25 của tác giả Trương Đại Lượng.
Trên Tạp chí Thông tin và Tư liệu có một số bài viết: “Đẩy mạnh công tácnghiên cứu và phổ biến kiến thức thông tin ở Việt Nam”, của tác giả Lê Văn Viết(2008), số 3, tr.9-13; “Vai trò của các thư viện đại học trong việc hỗ trợ tích hợp kiếnthức thông tin vào giảng dạy” của tác giả Vũ Văn Sơn (lược dịch) (2013) số 5 và số 6,tr.36-43; “Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên Trường Đại học Hà Nội” của tácgiả Nguyễn Thị Ngà (2013), số 2, tr.25-30; “Thực trạng đào tạo kiến thức thông tin tại
một số thư viện đại học Việt Nam”, tác giả Trương Đại Lượng (2014), số 1, tr.24-35.
Trên Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa có công bố bài viết: “Nâng cao hiệu quảcông tác phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên đại học Việt Nam” của tác giảTrương Đại Lượng (2011), số 6, tr.88-92
Trang 15Một số luận văn thạc sĩ của học viên cao học ngành Khoa học Thư viện bảo
vệ thành công, đã đề cập đến vấn đề KTTT của sinh viên trong các trường đại học,
cụ thể có các luận văn: “Phát triển kiến thức thông tin cho sinh Trường Đại học HàNội” của tác giả Nguyễn Thị Ngà bảo vệ năm 2010 tại Trường Đại học Khoa học vàNhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội; “Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội” của tác giả Nguyễn Ngọc Sơn bảo vệ năm
2011 tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội; “Phát triển kiến thức thông tin cho sinhviên Trường Đại học Y tế công cộng” của tác giả Đinh Thị Phương Thúy bảo vệnăm 2013 tại Trường Đại học Khoa học và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội;
“Kiến thức thông tin của sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Thái Nguyên” củatác giả Nguyễn Thị Hằng bảo vệ năm 2014 tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Các luận văn nói trên đã góp phần làm phong phú cơ sở lý luận về nghiêncứu KTTT của sinh viên các trường đại học gắn với một cơ quan, đơn vị, địa bànmang tính đặc thù ở nơi các tác giả công tác
Ở Việt Nam từ những 2000 đến nay, các trường đại học, các tổ chức cũng đã
tổ chức các hội thảo khoa học về Information Literacy
Tại Hà Nội, 20/2/2006, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đạihọc Quốc gia Hà Nội, phối hợp với uỷ ban thường trực khu vực Châu Á - Châu ĐạiDương của Liên hiệp Quốc tế các Hiệp hội và Tổ chức thư viện (IFLA-RSCAO), đã
tổ chức hội thảo khoa học: “Kiến thức thông tin - Information Literacy” Hội thảo vớicác tham luận như: “Vai trò của kiến thức thông tin trong giáo dục và đào tạo từ giác
độ thư viện” của tác giả Nguyễn Thị Bắc; “Kiến thức thông tin với giáo dục đại học”
của tác giả Nghiêm Xuân Huy; “Kiến thức thông tin đối với sinh viên đại học trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Trần Hữu Huỳnh;… Các tham luận tập trung đề cập
và phân tích vai trò của KTTT đối với giáo dục đại học, đối với sinh viên
Tại Hà Nội, từ ngày 8-12/5/2006, Trường Đại học Ngoại ngữ phối hợp vớiTrung tâm Thông tin phát triển Việt Nam và Trung tâm Tài nguyên trí thức pháttriển Úc tổ chức khóa: “Bồi dưỡng năng lực đào tạo kiến thức thông tin cho cán bộ
thư viện đại học” Mục đích của khóa học nhằm: Tạo cơ hội cho các CBTV gặp gỡ
Trang 16và thảo luận về KTTT và các vấn đề liên quan đến việc đào tạo KTTT trong cáctrường đại học tại Việt Nam; phát triển kỹ năng thông tin cho CBTV đại học ViệtNam; bồi dưỡng năng lực đào tạo KTTT cho các CBTV đại học; tạo diễn đàn chia
sẻ kinh nghiệm và tri thức giữa các CBTV trong phạm vi quốc gia và quốc tế…
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ ngày 13-15/4/2011, Thư viện trung tâmĐHQG-TP Hồ Chí Minh đã tổ chức hội thảo - tập huấn với chủ đề: “Nâng cao nộidung và phương pháp thực hiện các khóa huấn luyện kỹ năng thông tin cho độcgiả” Hội thảo với các bài tham luận như: “Kỹ năng thông tin – Khái niệm và ýnghĩa” và “Huấn luyện kỹ năng thông tin - Những nguyên lý cơ bản” với mục đíchtrình bày nội dung kỹ năng thông tin và phương pháp thực hiện các khóa huấnluyện; “Giải pháp nâng cao năng lực cho cán bộ thư viện đại học giảng dạy kỹ năngthông tin” của tác giả Huỳnh Xuân Phương…
Tại Thừa Thiên Huế, ngày 29/6/2012, Trường Cao đẳng Sư phạm ThừaThiên - Huế, Liên chi hội Thư viện Đại học phía Nam (Vilasal) tổ chức hội thảo:
“Kiến thức thông tin phục vụ học tập và giảng dạy trong trường đại học” Hội thảo
đã có một số bài tham luận như: “Từ thông tin đến kiến thức thông tin – FromInformation to Information Literacy” của tác Nguyễn Minh Hiệp mang tính chấtbao quát và tổng kết những khái niệm cơ bản về thông tin và kiến thức thông tin;
“Thư viện đại học và việc trang bị kiến thức thông tin cho sinh viên” của tác giả Vũ
Dương Thúy Ngà thể hiện vai trò và tầm quan trọng của KTTT đối với sinh viên
trường đại học; “Chương trình Kiến thức thông tin của Thư viện ĐH Khoa học Tựnhiên Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Dương Thúy Hương nói lên sự cần thiếttrong thiết kế chương trình KTTT của thư viện
Qua khảo sát và thống kê về tình hình nghiên cứu của đề tài, chúng ta có thểnhận thấy KTTT của sinh viên là một đề tài được một số tác giả quan tâm, tìm hiểu
và nghiên cứu Nhưng đến nay, Trường ĐHHT chưa có công trình nào nghiên cứu
về vấn đề này mà mới chỉ có luận văn “Nhu cầu tin và mức độ đáp ứng thông tin tạiThư viện trường Đại học Hà Tĩnh” của tác giả Phan Thị Dung (2014) [1] Trong đó,
đi sâu nghiên cứu các đối tượng NDT, NCT và mức độ đáp ứng thông tin tại Trung
Trang 17tâm TT-TV trường Trên góc độ nào đó, kết quả nghiên cứu này được sử dụng làcăn cứ cho việc nghiên cứu KTTT phù hợp với sinh viên Trường ĐHHT Ngoài ra,
có một số bài báo và báo cáo thực tập tốt nghiệp nghiên cứu về hoạt động TT-TV ởmột số khía cạnh như: NCT, công tác phục vụ bạn đọc, vai trò của thư viện điện tử
Như vậy, chúng ta có thể khẳng định đề tài: “Kiến thức thông tin của sinh
viên Trường Đại học Hà Tĩnh” là một đề tài hoàn toàn mới, chưa bị trùng lặp và
có ý nghĩa nhất định đối với hoạt động TT-TV tại Trường ĐHHT
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đưa ra các giải pháp nhằm phát triển KTTT cho sinh viên Trường ĐHHTtrong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về KTTT đối với sinh viên
- Phân tích, đánh giá thực trạng KTTT của sinh viên Trường ĐHHT
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển KTTT cho sinh viên Trường ĐHHT
4 Giả thuyết nghiên cứu
KTTT có vai trò quan trọng trong môi trường giáo dục đại học đối với sinhviên Tuy nhiên, hiện nay KTTT của sinh viên Trường ĐHHT còn hạn chế, họ chưa
có kỹ năng định vị, tìm kiếm, khai thác thông tin, sử dụng và chia sẻ thông tin mộtcách hiệu quả Vì vậy, họ cần phải được trang bị KTTT Nếu chúng ta nâng cao nhậnthức về vai trò của kiến thức thông tin và công tác phát KTTT cho sinh viên; nângcao trình độ CBTV; đa dạng hóa và nâng cao chất lượng chương trình và nội dungphát triển KTTT; đẩy mạnh NCKH, tăng cường giáo dục KTTT trong chương trìnhgiảng dạy, nâng cao nhận thức và phối hợp giữa các bộ phận trong trường để pháttriển KTTT cho sinh viên thì khả năng KTTT và công tác đào tạo KTTT cho sinhviên Trường ĐHHT sẽ có chất lượng và đạt hiệu quả cao hơn trong thời gian tới
Trang 185 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu KTTT của sinh viên Trường ĐHHT
5.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi không gian nghiên cứu
Luận văn giới hạn nghiên cứu tại Trường ĐHHT
* Thời gian gian nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2011 đến 2015
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử các quanđiểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục, phát triểnhoạt động TV-TT để phân tích lý giải các vấn đề và đề xuất những giải pháp cầnthiết trong quá trình nghiên cứu đề tài
6.1 Phương pháp luận nghiên cứu cụ thể
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
Trang 198 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có cấutrúc gồm 3 chương:
Chương 1: Kiến thức thông tin với nhiệm vụ nâng cao chất lượng học tập
của sinh viên Trường Đại học Hà Tĩnh
Chương 2: Thực trạng kiến thức thông tin của sinh viên Trường Đại học
Hà Tĩnh
Chương 3: Các giải pháp phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên Trường
Đại học Hà Tĩnh
Trang 20Chương 1 KIẾN THỨC THÔNG TIN ĐỐI VỚI NHIỆM VỤ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ TĨNH
1.1 Những vấn đề chung về kiến thức thông tin đối với sinh viên
1.1.1 Khái niệm về kiến thức thông tin
Thuật ngữ kiến thức thông tin (Information Literacy) được các nước phát triểntrên thế giới sử dụng nhiều và xuất hiện lần đầu tiên ở Hoa Kỳ vào những năm 70 củathế kỷ 20 [23] Khái niệm đó cũng được một số nước phát triển khác sử dụng nhưAustralian, New Zealand [36] Ban đầu, khái niệm KTTT gắn liền với việc giải quyếtvấn đề khủng hoảng và bùng nổ thông tin, được mô tả như một tập hợp các kỹ năng thuthập và xử lý thông tin Đến năm 1987, khái niệm này được mở rộng và xem như mộtkhái niệm về “cách thức học tập” và “học tập suốt đời”
Hiện nay, khi bàn về khái niệm kiến thức thông tin ở mỗi nước, mỗi tổ chứclại đưa ra những định nghĩa, quan niệm khác nhau:
Theo UNESCO: “Kiến thức thông tin là sự kết hợp của kiến thức, sự hểubiết, các kỹ năng và thái độ mà mỗi thành viên cần hội tụ đầy đủ trong xã hội thôngtin Khi mỗi cá nhân có KTTT thì họ sẽ phát triển khả năng lựa chọn, đánh giá, sử
dụng và trình bày thông tin một cách hiệu quả” [39, tr.10].
Theo Hiệp hội Thư viện đại học và Thư viện nghiên cứu Hoa Kỳ (ACRL,2000): “Kiến thức thông tin là một tập hợp các khả năng đòi hỏi cá nhân để nhận rakhi thông tin là cần thiết và có khả năng xác định vị trí, đánh giá và sử dụng có hiệuquả các thông tin cần thiết” [37, tr.3]
Theo Hiệp hội Thư viện Hoa Kỳ (ALA): “Kiến thức thông tin là khả năngnhận biết nhu cầu thông tin của bản thân, cũng như khả năng định vị, đánh giá và sửdụng hiệu quả thông tin tìm được” [35, tr.2]
Viện Kiến thức thông tin Úc và New Zealand thì cho rằng, một người cóKTTT là người có khả năng [36, tr.3-4]:
Trang 21- Nhận dạng được nhu cầu tin của bản thân;
- Xác định được phạm vi của thông tin mà mình cần;
- Thẩm định thông tin và nguồn của chúng một cách tích cực và hiệu quả;
- Phân loại, lưu trữ, vận dụng và tái tạo nguồn thông tin được thu thậphay tạo ra;
- Biến nguồn thông tin được lựa chọn thành cơ sở tri thức;
- Sử dụng thông tin vào việc học tập, tạo tri thức mới, giải quyết vấn đề,
và ra quyết định một cách có hiệu quả;
- Nắm bắt được các khía cạnh kinh tế, pháp luật, chính trị và văn hóatrong việc sử dụng thông tin;
- Truy cập và sử dụng các nguồn thông tin hợp pháp và hợp đạo đức;
- Sử dụng thông tin và tri thức để thực hiện các quyền công dân và tráchnhiệm xã hội;
- Trải nghiệm KTTT như một phần của học tập độc lập cũng như tựhọc suốt đời
“Kiến thức thông tin” trong tiếng Việt đôi khi còn được gọi là kỹ năng thôngtin, hiểu biết thông tin Gần đây, ở Việt Nam trên các diễn đàn, các tạp chí chuyênngành đã có một số tác giả nghiên cứu về “Kiến thức thông tin” Tác giả Trương ĐạiLượng đã có một số bài viết về kiến thức thông tin [7, 8,9,10,11,12,] Và một số tácgiả như Nghiêm Xuân Huy [5,6], Vũ Thị Nha [17, 18], Ngô Thanh Thảo [30], VũDương Thúy Ngà [15],… Còn tác giả Huỳnh Thị Trúc Phương xem là “kỹ năngthông tin” [19,20] Các khái niệm đã sử dụng trên có cùng nội hàm và được sử dụngnhiều trong các bài viết
Qua tìm hiểu các tài liệu liên quan, chúng ta có thể thấy rằng hầu hết các tácgiả đều có một điểm chung là xem KTTT là khả năng nhận biết nhu cầu thông tin,khả năng định vị, tìm kiếm, đánh giá, sử dụng thông tin cũng như thái độ sẵn sàngchia sẻ thông tin với mọi người
Trang 221.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kiến thức thông tin
Trong quá trình phát triển KTTT cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau
1.1.2.1 Hoàn cảnh xã hội
Trong tất cả những mối quan hệ xã hội, nhân cách không chỉ là một kháchthể mà còn là một chủ thể Cá nhân là một tồn tại có ý thức, có thể lựa chọn phươngthức sống của mình và do đó, nó lựa chọn những phản ứng khác nhau trước tácđộng của hoàn cảnh xã hội
Điều kiện xã hội là yếu tố có ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực như kinh tế xã hội,văn hóa, giáo dục Đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, yếu tố xã hội đã tác động đếnquá trình hình thành KTTT Trong xã hội văn minh hay ở các nước phát triển, cónền giáo dục tiên tiến như một số nước như Mỹ, Australian and New Zealand thìKTTT sớm được hình thành và phát triển mạnh hơn [23, 36] so các nước với xã hộinghèo nàn, lạc hậu Và một điều chắc chắn ở một xã hội phát triển có những điềukiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng, điều kiện kinh tế thì nhận thức của con người sẽ caohơn, họ có điều kiện tốt hơn để tiếp cận với nền tri thức, tiếp cận và sử dụng thôngtin sớm hơn, nhanh hơn Ngay trong một đất nước giữa các vùng, miền có điều kiện
xã hội khác nhau cũng sẽ khác nhau về khả năng tiếp nhận, thu thập và xử lý thôngtin khác nhau Trong các cộng đồng dân cư ở các đô thị phát triển, văn minh sẽ cóđiều kiện tiếp cận nhiều với các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình,báo chí, internet, KTTT cao hơn so với cu dân các vùng sâu, vùng xa, hải đảo.Chính những điều kiện xã hội trên đã có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành vàphát triển KTTT của mỗi cá nhân trong xã hội đó
1.1.2.2 Điều kiện kinh tế
Cũng như điều kiện xã hội, điều kiện kinh tế nó có tác động và ảnh hưởngmạnh đến các hoạt động của con người Để phát triển được KTTT thì cần phải cócác yếu tố như cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn lực thông tin… Và điều kiệnkinh tế là cơ sở tiên quyết, quyết định cho yêu cầu đó
Thực tế, trên thế giới ở các nước phát triển về kinh tế thì KTTT được pháttriển mạnh so với các nước đang phát triển và chậm phát triển Khi đời sống con
Trang 23người được nâng cao về nhu cầu vật chất thì nhu cầu thông tin cũng cần phải đượcđáp ứng Trước những yêu cầu đó thì KTTT của con người cũng được nâng cao.Cũng như ở các trường đại học có điều kiện kinh tế thì vấn đề cơ sở hạ tầng trườnghọc, trang thiết bị máy móc hiện đại cùng với nguồn nhân lực mạnh thì vấn đề đàotạo và phát triển KTTT được quan tâm và đầu tư tương xứng Ở Việt Nam cáctrường đại học như Trung tâm học liệu Đại học Cần Thơ, Trung tâm học liệu Đạihọc Huế, Thư viện Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP Hồ Chí Minh, Thư việnTrường Đại học Y tế Công cộng nhờ có được điều kiện kinh tế tốt nên vấn đềKTTT được quan tâm và phát triển mạnh [7,10].
1.1.2.3 Văn hóa nhà trường
Văn hóa nhà trường là một tập hợp các giá trị, niềm tin, hiểu biết, chuẩn mực
cơ bản được các thành viên trong nhà trường cùng chia sẻ và tạo nên bản sắc củanhà trường đó Căn cứ theo hình thức biểu hiện thì văn hóa nhà trường gồm phầnnổi có thể nhìn thấy như: không gian cảnh quan nhà trường, lôgô, khẩu hiệu, hành
vi giao tiếp và phần chìm không quan sát được như: niềm tin, cảm xúc, thái độ
Phát triển KTTT có mối liên hệ chặt chẽ với quan điểm, chủ trương, chínhsách của nhà trường về sự mệnh, tầm nhìn, chương trình đào tạo, đội ngũ cán bộ,giảng viên Văn hóa nhà trường cần tạo ra cho sinh viên những điều kiện thuận lợinhất trong các điều kiện họ có cơ hội được trang bị KTTT đầy đủ và bài bản, bámsát chương trình đào tạo cho sinh viên
1.1.2.4 Năng lực tư duy
Chúng ta đang sống trong thời đại có quá nhiều biến động khó lường trên tất
cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội cho đến khoa học, kỹ thuật và công nghệ Trongmột môi trường sống, điều kiện sống như nhau thì năng lực tu duy của mỗi ngườiluôn có sự khác nhau Cùng trong một môi trường sống, nhưng người có năng lựctuy duy tốt họ sẽ là những người nhận biết thông tin nhanh hơn, tư duy phán đoán,
xử lý thông tin sẽ nhanh hơn và đương nhiên họ sẽ có KTTT tốt hơn những người
có năng lực tư duy hạn chế
Trang 24Năng lực tư duy này có được một phần do khả năng bẩm sinh, phần nữa là
do học tập, rèn luyện, tích lũy kinh nghiệm mà có Để có được kiến thức, ngoài tưduy bẩm sinh, con người cần phải rèn luyện, học tập vì “kiến thức chỉ có được qua
tư duy của con người” (A Einstin) Người có năng lực tư duy sẽ thuận lợi hơn trongviệc xác định nhu cầu thông tin, xây dựng các biểu thức tìm tin, lựa chọn và xácminh nguồn tin, thẩm định thông tin, tổng hợp và sử dụng thông tin có hiệu quả.Trong thực tế, người có năng lực tư duy tốt họ sẽ làm cho thời gian lao động rútngắn và hiệu quả lao động cao Đối với hoạt động đào tạo KTTT cho sinh viêntrường đại học, nếu trong môi trường, cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ nhânlực tốt cùng với năng lực tư duy giữa người dạy và người học tốt thì hiệu quả củaphát triển KTTT sẽ tốt hơn
1.1.2.5 Phương pháp học tập của sinh viên
Học tập trong xã hội thông tin là quá trình thu thập thông tin, xử lý thông tin
và tích lũy thông tin dưới dạng tri thức, từ nhà trường hay trong môi trường sống,làm cho người học tự biến đổi về trí tuệ và làm phong phú thêm tri thức của mình,điều đó cũng làm thỏa mãn nhu cầu tự nhiên của mỗi người học Từ năm 2007, BộGD&ĐT đã triển khai chương trình giáo dục chuyển từ học niên chế sang đào tạotheo học chế tín chỉ ở các trường đại học, cao đẳng nhằm đổi mới chương trình giáodục Vì vậy, phương pháp học tập của sinh viên là một trong những yếu tố nâng caochất lượng giáo dục bằng việc tự học của họ
Để phát triển khả năng tự học sinh viên cần các kỹ năng của KTTT như: Xácđịnh nhiệm vụ; xác định chiến lược tìm kiếm; định vị và tìm kiếm thông tin; sửdụng thông tin; phân tích thông tin; đánh giá thông tin
Việc cung cấp cho sinh viên khả năng học tập một cách độc lập và hiệu quảtrong giáo dục đã được Viện Kiến thức thông tin Úc và New Zealand khẳng định: “Việc phát triển người học có khả năng học tập suốt đời đóng vai trò trung tâm đốivới nhiệm vụ đào tạo của các cơ sở đào tạo, đồng thời vấn đề này đang ngày càngđược phản ánh rõ trong các tiêu chí tốt nghiệp đối với sinh viên Bằng việc hướng
Trang 25dẫn người học lối tư duy tích cực và giúp đỡ họ xây dựng quy trình nắm bắt phươngpháp học tập” [36, tr.5]
1.1.2.6 Phương pháp giảng dạy của giảng viên
Phương pháp giảng dạy tích cực đang được khuyến khích phổ biến trongtrường đại học, là một trong những yếu tố quan trọng và ảnh hưởng rất lớn chấtlượng giáo dục Song song với thay đổi trong khái niệm KTTT thì vai trò phươngpháp giảng dạy có tác động tích cực trong quá trình học tập và nghiên cứu của sinhviên Giảng viên không những là người dạy, phân phối thông tin mà còn là người hỗtrợ để giúp sinh viên học cách tiếp cận và sử dụng các nguồn thông tin một cáchhiệu quả Hơn nữa, người dạy còn tạo ra môi trường học tập đầy thách thức cho sinhviên bằng cách đặt ra các bài tập yêu cầu giải quyết vấn đề sử dụng nguồn thông tin
đã xác định được Phương pháp giảng dạy dựa trên nguồn tài liệu này đã tăng thêmnhu cầu được giảng dạy cách truy cập và đánh giá các nguồn thông tin và sử dụngmột cách hiệu quả của sinh viên
Trước thực tế hiện nay với lượng thông tin khổng lồ, làm thế nào để sinh viên
có thể tìm được thông tin mình cần và sử dụng được những thông tin đó một cáchhiệu quả là điều không đơn giản Do đó, để có thể tự học, tự nghiên cứu sinh viên cầnphải được trang bị các kỹ năng: tìm kiếm, thu thập thông tin; phân tích, đánh giáthông tin; ứng dụng thông tin thu được vào giải quyết nội dung bài học; chia sẻnhững thông tin đã thu thập, đánh giá, phân tích với thầy cô, bạn bè Những kỹ năngnày chính là các kỹ năng cơ bản của KTTT Phương pháp giảng dạy của giảng viên
đã làm thay đổi từ đơn giản chỉ là nguồn thông tin đơn lẻ hay ban đầu sang người cốvấn hay quản lý tạo nên môi trường học tập giúp cho sinh viên học được cách học Vìvậy, KTTT là một yêu cầu không thể thiếu trong phương pháp giảng dạy của giảngviên trong nền giáo dục đại học trong thời đại hội nhập quốc tế
1.1.2.7 Trình độ cán bộ thư viện
Để đào tạo KTTT cho sinh viên tốt đòi hỏi CBTV cần phải có trình độ nhấtđịnh Theo một khảo sát của tác giả Trương Đại Lượng về trình độ chuyên môn của
Trang 26CBTV một số trường đại học Việt Nam hiện nay: CBTV có trình độ cử nhân caonhất với 65%, thạc sĩ với 35% [9, 11], điều này chứng tỏ rằng về trình độ chuyênmôn của CBTV đã đạt chuẩn.
Để đào tạo KTTT cho sinh viên tốt, đạt hiệu quả cao, thì trình độ CBTV phảiđược thể hiện ở trên nhiều phương diện khác nhau như: kinh nghiệm giảng dạy,trình độ chuyên môn (khoa học TT-TV), trình độ ngoại ngữ và tin học, kiến thức vềcác chuyên ngành đào tạo của nhà trường, năng lực KTTT và kỹ năng giao tiếp Đối
vớ CBTV giảng dạy KTTT nếu thiếu các loại trình độ trên sẽ không thể đảm bảogiảng dạy KTTT có hiệu quả cho sinh viên Về trình độ khoa học TT-TV sẽ giúpCBTV nắm được các nguồn lực thông tin, cách tổ chức và khai thác thông tin, kỹnăng đánh giá thông tin và sử dụng thông tin; Trình độ về tin học sẽ giúp choCBTV ứng dụng và sử dụng hiệu quả về phần cứng và phần mềm ứng dụng trong tổchức lưu trữ và khai thác thác thông tin thông qua mạng lưới truyền thông thông tin;Trình độ ngoại ngữ đặc biệt là tiếng Anh sẽ giúp họ nắm bắt được và giới thiệu chosinh viên các nguồn lực thông tin thông tin có giá trị trên phạm vi toàn cầu; Trình
độ KTTT sẽ giúp CBTV có khả năng nhận biết nhu cầu thông tin, khả năng định vị,tìm kiếm, đánh giá và sử dụng thông tin có hiệu quả, ngoài ra KTTT có thể giúpCBTV nâng cao được kiến thức khác như tin học, ngoại ngữ, văn hóa – xã hội, luậtbản quyền, sở hữu trí tuệ; Kỹ năng giao tiếp giúp CBTV trong giảng dạy, truyền đạt
và thuyết trình nội dung KTTT cho sinh viên [9,10]
1.1.2.8 Sự phối hợp giữa cán bộ thư viện với giảng viên
Hiện nay, trên thế giới và ở Việt Nam, các trường đại học đã quan tâm đến pháttriển KTTT cho sinh viên, KTTT đã nổi lên như một vấn đề quan trọng trong việc đàotạo sinh viên, đặc biệt là cho những người đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau [17] Đã
có nhiều công trình nghiên cứu công bố và khẳng định rằng lồng ghép KTTT vào cácchương trình giáo đại học là cách làm hiệu quả nhất khi trang bị và phát triển KTTTcho sinh viên ở các trường đại học [7,10,12,25] Nếu thiếu đi sự cộng tác của giảngviên và CBTV thì không thể triển khai cụ thể và sâu sắc trong tư vấn và huấn luyện,
Trang 27đào tạo KTTT [21] Để lồng ghép KTTT vào chương trình đào tạo hiệu quả cần sựphối hợp giữa CBTV và giảng viên trong việc thiết kế chương trình giảng dạy, phươngpháp kiểm tra đánh giá kết quả đầu ra cho sinh viên Trong khi CBTV có kiến thức vềTT-VT, kiến thức chuyên ngành hạn chế, còn giảng viên có kiến thức sâu về chuyênngành nhưng lại thiếu về kiến thức TT-TV Vì vậy, cần có sự phối hợp và hợp tác vớinhau giữa CBTV và giảng viên để có một chương trình KTTT tổng thể giúp cho sinhviên có được những nguồn thông tin đầy đủ và tốt nhất [10, tr.17].
1.1.2.9 Công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin ngày càng phát triển và tác động rất lớn trên nhiều lĩnhvực của xã hội Sự phát triển của CNTT, đặc biệt là sự bùng nổ của thông tininternet đã có những tác động mạnh mẽ đến giáo dục nói chung và hoạt động TT-
TV nói riêng Việc tìm kiếm và khai thác thông tin đã trở nên đa dạng, song songvới nguồn lực thông tin truyền thống là nguồn lực thông tin hiện đại [10]
Hiện nay, việc lưu trữ và truy cập thông tin thông qua các thiết bị và công cụhiện đại cùng với sự bùng nổ internet đã giúp sinh viên ở các trường đại học có thểtruy cập thông tin ở mọi lúc, mọi nơi Cùng với việc đào tạo KTTT truyền thống vàlồng ghép vào chương trình đào tạo đại học, nhiều thư viện trên thế giới và ở ViệtNam đã triển khai đào tạo KTTT trực tuyến thông qua các mạng xã hội như blog,facebook [9, tr.30]
Ứng dụng CNTT vào quá trình phát triển KTTT ở thư viện đã và đang đượcnhiều trường đại học quan tâm như Trung tâm học liệu Đại học Huế, Cần Thơ, ĐàNẵng, Thái Nguyên, Thư viện đại học Hoa Sen, Trung tâm TT-TV Đại học Quốcgia Hà Nội,… Việc hình thành chương trình đào tạo KTTT trực tuyến - môi trườnghọc tập điện tử tương tác được xây dựng nhằm hỗ trợ sinh viên nắm bắt KTTT mộtcách hiệu quả Khi đào tạo KTTT trực tuyến sẽ đem lại những lợi ích như: Chophép sinh viên chủ động sắp xếp việc học theo cách của mình; Dễ dàng học ngaynhững kiến thức, kỹ năng cần thiết khi có nhu cầu; Cho phép sinh viên có thể học đihọc lại nhiều lần, cho đến khi nắm vững kiến thức, kỹ năng cần thiết… Cũng qua
Trang 28chương trình này tạo thuận lợi cho CBTV, phát triển sự hợp tác giữa CBTV vàgiảng viên trong việc lồng ghép KTTT trong các môn học [30].
1.1.2.10 Kỹ năng mềm của sinh viên
Kỹ năng mềm chủ yếu là những kỹ năng thuộc về tính cách con người,không mang tính chuyên môn, không thể sờ nắm, không phải là kỹ năng cá tính đặcbiệt, chúng quyết định khả năng bạn có thể trở thành nhà lãnh đạo, thính giả, nhàthương thuyết hay người hòa giải xung đột
Nhiệm vụ của giáo dục đại học là đào tạo sinh viên viên toàn diện Sinh viên
đó không những chỉ được trang bị những kiến thức chuyên môn, thái độ, tình cảmvới nghề nghiệp mà còn cần được trang bị những kiến thức cần thiết Một trongnhững kỹ năng đó là kỹ năng mềm Phát triển kỹ năng mềm đem lại nhiều lợi ích
mà mỗi sinh viên đều có cơ hội được rèn luyện trên giảng đường đại học
Hiện nay, kỹ năng mềm có rất nhiều nhận định khác nhau Trong luận vănnày tác giả đề cập đến một số kỹ năng của kỹ năng mềm tác động đến KTTT Kỹnăng mềm có mối quan hệ với KTTT bao gồm các kỹ năng như: kỹ học tập suốtđời, kỹ năng làm việc nhóm, tư duy phân tích, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ nănggiao tiếp và kỹ năng thuyết trình, kỹ năng tin học và ngoại ngữ Đây là những kỹnăng mềm có tác động trực tiếp, nếu sinh viên có những kiến thức về kỹ năng này
sẽ hỗ trợ đến việc phát triển KTTT của sinh viên
1.1.3 Các tiêu chí đánh giá kiến thức thông tin
KTTT là khái niệm với nội hàm khá rộng, để đánh giá KTTT tại nhiều nướctrên thế giới, và đặc biệt ở các nước Australian và New Zealand để phổ biến KTTTngười ta đưa ra khung tiêu chuẩn của KTTT Trong quá trình triển khai KTTT chosinh viên các trường đại học ở Việt Nam chúng ta có thể vận dụng và áp dụng cáctiêu chí sau đây [36, tr 12-23]
1.1.3.1 Khả năng nhận biết nhu cầu thông tin
Người có khả năng nhận biết nhu cầu thông tin của chính mình là người biết:
Trang 29- Xác định, định vị và liên kết nhu cầu thông tin: tìm hiểu các nguồn thôngtin cơ bản phù hợp với chủ đề cần nghiên cứu; nhận dạng các từ khoá và thuật ngữcốt lõi; xác định hoặc sửa đổi nhu cầu thông tin của vấn đề; hỏi ý kiến của nhữngngười xung quanh để hiểu rõ chủ đề nghiên cứu hay nhu cầu thông tin khác.
- Hiểu được mục đích, phạm vi và sự thích hợp của các nguồn thông tin khácnhau: hiểu được cách tổ chức thông tin, phổ biến và sự phù hợp với nội dung chủ đềnghiên cứu; hiểu được sự khác nhau giữa các giá trị, các nguồn thông tin tiềm năng;hiểu được sự khác nhau giữa nguồn thông tin cấp một và nguồn thông tin cấp hai,hiểu cách sử dụng chúng một cách khoa học với mỗi chủ đề
- Biết đánh giá lại bản chất của nhu cầu thông tin: Xem lại nhu cầu thông tinban đầu nhằm làm rõ hơn, xem xét lại hoặc thu gọn câu hỏi tìm kiếm; liên kết và sửdụng các tiêu chuẩn để tạo ra các lựa chọn, tạo ra các quyết định thông tin
- Sử dụng các nguồn thông tin phục vụ cho công việc của mình: Hiểu đượccác nguồn thông tin khác nhau sẽ biểu hiện dưới những dạng khác nhau; sử dụngcác nguồn thông tin một cách có hệ thống để hiểu các vấn đề cần nghiên cứu; sửdụng thông tin cho việc ra quyết định và giải quyết vấn đề
- Ý thức sẵn sàng chia sẻ thông tin với mọi người: Chia sẻ thông tin là việc đónggóp tích cực đến cộng đồng học tập và cho xã hội Khi có thông tin sẵn sàng tham giavào các hoạt động thông tin, tham gia hiệu quả vào quá trình tìm tòi, tiếp thu và chia sẻthông tin Sẵn sàng chia sẻ tri thức và thông tin với người khác Tôn trọng ý kiến vàkiến thức của người khác và tiếp thu những đóng góp của họ Hợp tác và chia sẻ cùngmọi người để xác định các vấn đề thông tin và để tìm kiếm các giải pháp
1.1.3.2 Khả năng tìm kiếm thông tin một cách hiệu quả
Nếu như khả năng nhận biết nhu cầu thông tin giúp cho người ta biết đượcmình muốn thông tin gì và cần thông tin gì, thì việc tìm kiếm thông tin chính là cách
để thỏa mãn được nhu cầu đó Tìm kiếm thông tin là nội dung rất quan trọng trongtổng thể KTTT, nó vạch ra phương thức, chiến lược để thu thập được thông tin bằngnhững bước cụ thể Để tìm kiếm thông tin chính xác, hiệu quả cần tuân thủ cácbước sau:
Trang 30- Lựa chọn phương pháp hoặc công cụ phù hợp nhất để tìm kiếm thông tin:xác định phương pháp nghiên cứu phù hợp; hiểu được những thuận lợi và khả năng
áp dụng của các phương pháp nghiên cứu khác nhau; xác định được mục tiêu, nộidung và cấu trúc của các công cụ truy cập thông tin; tham khảo thủ thư và cácchuyên gia thông tin để xác định các công cụ tìm kiếm
- Xây dựng và thực hiện các chiến lược tìm kiếm hiệu quả: phát triển kếhoạch tìm kiếm phù hợp với phương pháp nghiên cứu; xác định chính xác từ khoá,
từ đồng nghĩa và các thuật ngữ liên quan đến nhu cầu thông tin; xây dựng và thựchiện một chiến lược tìm kiếm sử dụng câu lệnh phù hợp; thực hiện tìm kiếm sửdụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với chủ đề, môn học
- Sử dụng các phương pháp phù hợp để tìm kiếm thông tin: sử dụng các công
cụ truy cập thông tin phù hợp để truy cập thông tin dưới nhiều dạng khác nhau; sửdụng dịch vụ thông tin phù hợp để tiếp cận nhu cầu thông tin như cung cấp tài liệu,phổ biến tin….; sử dụng các điều tra, thư, phỏng vấn và các hình thức thẩm địnhkhác để truy cập tới nguồn thông tin cấp một (thông tin gốc)
- Cập nhật các nguồn thông tin, CNTT, các công cụ truy cập thông tin: Duytrì kiến thức về vai trò của thông tin và công nghệ truyền thông; Tạo được thói quenđọc lướt các nguồn tin in ấn và điện tử
1.1.3.3 Khả năng đánh giá thông tin và kết quả tìm kiếm thông tin
- Đánh giá các nguồn thông tin hữu ích và có liên quan: Đánh giá chất lượng và
sự phù hợp của kết quả tìm kiếm và sử dụng công cụ tìm kiếm thông minh hoặcphương pháp phù hợp; Nhận dạng và xác định lỗ hổng thông tin và thay đổi chiến lượctìm kiếm; Thực hiện tìm kiếm lại, sử dụng chiến lược tìm kiếm mới nếu cần thiết
- Xác định và đánh giá các chuẩn đánh giá thông tin: Đánh giá và so sánhthông tin từ các nguồn khác nhau theo phương diện: mức độ phù hợp, giá trị pháp
lý, độ chính xác, bản quyền, mức độ cập nhật…
- Xem xét đến quá trình tìm kiếm thông tin và thay đổi chiến lược tìm kiếmnếu cần thiết
Trang 311.1.3.4 Khả năng quản lý thông tin thu thập được và thông tin phát sinh
- Ghi chép lại thông tin và nguồn của thông tin đó: Quản lý nội dung cơ bảncủa thông tin như: gạch đầu dòng, bản nháp hoặc bảng ghi nhớ; Trích dẫn nguồnthông tin và quản lý các nguồn thông tin tìm được một cách có hệ thống; Ghi lạitoàn bộ thông tin phù hợp nhằm phục vụ mục đích tra cứu, tham khảo về sau
- Tổ chức thông tin (sắp xếp, phân loại, lưu trữ…): Biên soạn, sưu tập tài liệutham khảo theo dạng thư mục; Xây dựng hệ thống quản lý, tổ chức thông tin tìmđược bằng các phần mềm như: Endnote, …
1.1.3.5 Sử dụng thông tin trong việc học tập, sáng tạo tri thức mới
- Biết so sánh và tiếp cận các nguồn kiến thức cũ nhằm xác định giá trị cònlại, các mâu thuẫn hay những đặc điểm khác lạ của thông tin
- Có kỹ năng phổ biến, chia sẻ thông tin, tri thức và sáng tạo tri thức mới mộtcách hiệu quả
1.1.3.6 Nắm bắt được các khía cạnh kinh tế, pháp luật, chính trị, văn hoá và
xã hội trong việc sử dụng thông tin
- Hiểu biết văn hóa, tôn giáo và các vấn đề kinh tế xã hội liên quan đến việc truycập và sử dụng thông tin: Nhận dạng được và có khả năng liên kết các vấn đề liên quanđến bản quyền và bảo mật trong môi trường thông tin dưới dạng in ấn và điện tử; Nhậndạng và hiểu được các vấn đề liên quan đến việc kiểm duyệt và tự do ngôn luận; Hiểu
và tôn trọng sự riêng biệt, sự đa dạng về văn hóa trong việc sử dụng thông tin
- Công nhận những quy ước, quy định liên quan tới việc truy cập và sử dụngthông tin: Hiểu được thế nào là đạo văn và biết cách trích dẫn kiến thức, ý tưởngcủa người khác
- Vấn đề pháp luật trong việc lưu trữ, phổ biến nguyên bản, hình ảnh, âmthanh: Chấp nhận quyền truy cập thông tin của mọi NDT và không phá hoại cácnguồn thông tin hoặc làm “ô nhiễm” môi trường thông tin; Thu thập, lưu trữ và phổ
Trang 32biến thông tin, dữ liệu, hình ảnh hay âm thanh trong giới hạn của pháp luật chophép; Hiểu được và chấp hành các quy ước trong việc sở hữu, bản quyền và sửdụng tài liệu có bản quyền.
1.1.4 Các yêu cầu đối với kiến thức thông tin của sinh viên
1.1.4.1 Về hiểu biết kiến thức thông tin
Hiểu biết KTTT là những kiến thức, lý luận chung của kiến thức và kiến thứcchuyên môn mà sinh viên phải nắm được Sinh viên phải có những hiểu biết KTTT:
- Quá trình hình thành thông tin, tri thức và nơi lưu trữ thông tin, cũng nhưnguồn gốc của thông tin mình đang và sẽ sử dụng; Biết được vai trò của thông tin,tri thức trong đời sống của bản thân và trong xã hội
- Sinh viên phải hiểu biết về thư viện, cơ quan thông tin, trong đó bao gồm
cả những kiến thức về mạng lưới thư viện, thông tin của quốc gia và thế giới, các cơ
sở dữ liệu chuyên ngành, đặc biệt là thư viện, cơ quan thông tin cụ thể nơi họ đanghọc tập và nghiên cứu
- Biết được và xác định được nhu cầu và yêu cầu tìm tin của mình trong từnggiai đoạn, thời điểm để giải quyết vấn đề trong học tập cũng như NCKH của sinh viên
- Biết được vốn tài liệu, nguồn lực thông tin, các dịch vụ, sản phẩm TT-TV củathư viện trường đại học nơi sinh viên đang theo học và các thư viện và cơ quan thôngtin trong cả nước Ngoài ra, sinh viên cần biết một số thư viện, cơ quan thông tin trênthế giới có nguồn lực thông tin có thể phục vụ được nhu cầu thông tin của mình
- Sinh viên phải hiểu biết tốt về bộ máy tra cứu, truy hồi thông tin truyềnthống và hiện đại trong quá trình tìm kiếm thông tin
- Sinh viên phải hiểu biết tốt về các công cụ, chiến lược tìm và các phươngpháp tìm tin
- Biết ứng dụng tin học, internet, website để tìm tin và khai thác thông tintrên mạng internet hiệu quả
Trang 33- Hiểu biết về các kiến thức khác như pháp lệnh thư viện, luật sở hữu trí tuệ,luật bản quyền, phương pháp trích dẫn tài liệu trong học tập và sử dụng thông tin.
1.1.4.2 Về kỹ năng kiến thức thông tin
- Sinh viên phải biết kỹ năng xác định NCT của mình Hiện nay, với lượngthông tin rộng, vì vậy, sinh viên phải biết xác định được những thông tin cần chomôn học, từ đó giới hạn được phạm vi tìm kiếm, giúp cho việc tìm kiếm thông tinđúng hướng và chính xác
- Kỹ năng biết định hướng trong các bộ sưu tập, bộ máy tra cứu, tìm kiếmthông tin của thư viện và các cơ quan thông tin nơi mình học tập, trong nước và trênthế giới
- Kỹ năng khai thác và sử dụng các vật mang tin, kỹ năng đọc để có thể thunhận thông tin từ những nguồn lực thông tin đã đọc, đã nghiên cứu
- Các kỹ năng nghiên cứu và đánh giá thông tin, biết xử lý, đánh giá, tổnghợp và phân tích kết quả thông tin tìm kiếm được
- Biết kỹ năng diễn đạt và trình bày thông tin tìm được phục vụ cho công táchọc tập và nghiên cứu
- Khả năng tổng hợp, tổng quan, tổng luận các nguồn lực thông tin tìm kiếmđược Sử dụng thông tin có hiệu quả phục vụ cho học tập là sinh viên biết cách vậndụng những thông tin tìm được vào giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra trong học tập
1.2 Trường Đại học Hà Tĩnh và Trung tâm Thông tin - Thư viện
1.2.1 Trường Đại học Hà Tĩnh
1.2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngày 19 tháng 3 năm 2007, Thủ tướng Chính Phủ ra Quyết định số:318/QĐ-TTg ”Thành lập Trường Đại học Hà Tĩnh trên cơ sở sáp nhập và nâng cấpTrường Cao đẳng Sư phạm Hà Tĩnh, Phân hiệu Trường Đại học Vinh tại Hà Tĩnh
và Trường Trung cấp Kinh tế Hà Tĩnh”
1.2.1.2 Đội ngũ cán bộ của Trường Đại học Hà Tĩnh
Trang 34Về trình độ chuyên môn và chức danh khoa học: 01 GS.TS, 01 PGS.TS, 15 tiếnsĩ; 121 thạc sĩ.
1.2.1.3 Đặc điểm đào tạo
Trường ĐHHT với đặc điểm đào tạo đa cấp, đa ngành với loại hình đào tạo
sư phạm và ngoài sư phạm Các ngành sư phạm tuyển sinh những sinh viên có hộkhẩu thường trú ở Hà Tĩnh ba năm trở lên Còn các ngành ngoài sư phạm tuyển sinhtrong cả nước
Đến nay, Trường đã được Bộ GD&ĐT giao nhiệm vụ đào tạo 62 mã ngành,trong đó bậc đại học có 19 mã ngành, bậc cao đẳng có 32 mã ngành, bậc trung cấpchuyên nghiệp có 11 mã ngành; bao gồm 5 khối ngành cơ bản: Sư phạm (47%);Kinh tế - Quản trị kinh doanh (15%); Kỹ thuật - Công nghệ (9%); Nông nghiệp(18%); Nhân văn (12%)
1.2.1.4 Chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo của Trường ĐHHT hiện nay có ba chương trình đàotạo đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, tuy nhiên trong luận văn này tác giảchỉ đề cập đến hai chương trình đào tạo đại học và cao đẳng
Chương trình đào tạo đại học gồm có chương trình đào tạo cử nhân sư phạm
và kỹ sư/ cử nhân với khối lượng kiến thức 227-134 tín chỉ
Chương trình đào tạo cao đẳng gồm có chương trình đào tạo cử nhân caođẳng sư phạm và cử nhân cao đẳng ngoài sư phạm với khối lượng kiến thức 100-
105 tín chỉ
Trong chương trình thiết kế đào tạo đại học và cao đẳng của Nhà trường khốikiến thức được chia làm hai phần đó là khối kiến thức đại cương chiếm 1/3 và kiếnthức giáo dục chuyên nghiệp chiếm 2/3 chương trình đào tạo Chương trình đào tạongoài khối lượng kiến thức chuyên môn, còn có khối kiến thức ngoài chuyên môn
đó là kiến thức chuẩn đầu ra Kiến thức chuẩn đầu ra bao gồm chứng chỉ ngoại ngữ,tin học và kỹ năng mềm, điều kiện bắt buộc đối với sinh viên tốt nghiệp
1.2.1.5 Sinh viên
Trang 35Năm học 2014 – 2015, tổng số sinh viên hệ chính quy của Trường ĐHHT
là 4408 em Sinh viên Trường ĐHHT chủ yếu là con em của 12 huyện, thị trongtỉnh Tổng số sinh viên nội tỉnh 3441 em, số lượng sinh viên ngoại tỉnh ít hơn,chỉ có 222 em Hơn nữa, Trường có vị trí địa lý gần với Trường Đại học Vinh,một trường đã có bề dày về thành tích đào tạo nên hạn chế về sự nhập học củasinh viên các tỉnh khác Hơn nữa, đặc điểm các huyện của tỉnh Hà Tĩnh chủ yếu
là vùng nông thôn, sự phát trển của kinh tế còn gặp khó khăn nên điều kiện họctập cũng gặp một số khó khăn
Về thành phần dân tộc: Hà Tĩnh là một tỉnh có rất ít đồng bào dân tộc thiểu
số sinh sống Vì vậy, sinh viên của Trường ĐHHT đại đa số là dân tộc Kinh, chỉ có
06 sinh viên dân tộc thiểu số trong tổng số 4408 sinh viên
Năm học 2014 – 2015 Trường có 745 sinh vên Lào đang được đào tạo tạitrường Việc thu hút các du học sinh Lào sẽ mở ra môi trường học tập có sự đa dạng
về văn hóa để sinh viên có thể chia sẻ, giao lưu, tiếp nhận các tinh hoa văn hóa củacác quốc gia khác nhau cũng như truyền đạt các giá trị văn hóa của đất nước mìnhcho các sinh viên nước bạn
Đặc điểm tôn giáo: Hiện nay, Trường ĐHHT có 236 sinh viên theo các tôngiáo khác nhau, chủ yếu là theo đạo Thiên chúa giáo
1.2.2 Trung tâm Thông tin – Thư viện
1.2.2.1 Sơ lược về lịch sử hình thành
Trung tâm TT-TV Trường ĐHHT được thành lập từ năm 2007 trên cơ sở sápnhập tổ Thư viện Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tĩnh, tổ Thư viện trường Trung
cấp Kinh tế Hà Tĩnh và tổ Thư viện Phân hiệu Trường Đại học Vinh tại Hà Tĩnh (ba
trường tiền thân của Trường ĐHHT hiện nay)
Tại Trường ĐHHT, Trung tâm TT-TV đã trở thành một đơn vị độc lập,tương đương với các phòng, khoa trong cơ cấu tổ chức của trường đúng như quychế mẫu về tổ chức và hoạt động của thư viện các trường đại học do Bộ Văn hoá,
Trang 36Thể thao và Du lịch ban hành (ban hành kèm theo Quyết định số BVHTTDL ngày 10/03/2008).
13/2008/QĐ-1.2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ
* Về chức năng
Trung tâm TT-TV Trường ĐHHT có chức năng phục vụ hoạt động giảngdạy, học tập, nghiên cứu, đào tạo và quản lý của Nhà trường thông qua việc khaithác sử dụng các loại hình tài liệu có trong thư viện
* Về nhiệm vụ
- Tham mưu giúp Hiệu trưởng xây dựng quy hoạch, kế hoạch hoạt động dàihạn và ngắn hạn của Trung tâm TT-TV Trường ĐHHT theo hướng thư viện điện tử,thư viện số;
- Nghiên cứu, đề xuất các ý kiến và phương án xây dựng, củng cố và pháttriển thông tin, thư viện nhằm phục vụ công tác đào tạo, NCKH của cán bộ, giảngviên, sinh viên của trường;
- Lập kế hoạch tổ chức thực hiện việc: Mua, tiếp nhận, trao đổi, bổ sung,phát triển nguồn lực thông tin trong và ngoài nước đáp ứng nhu cầu giảng dạy, họctập, NCKH và chuyển giao công nghệ của Nhà trường; thu nhận các tài liệu do nhàtrường xuất bản, các công trình NCKH đã được nghiệm thu, tài liệu hội thảo, khoáluận của sinh viên, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ của cán bộ giảng viên, chươngtrình đào tạo, tập bài giảng và các dạng tài liệu khác của nhà trường, các ấn phẩmtài trợ, biếu tặng, tài liệu trao đổi giữa các thư viện;
- Tổ chức các hoạt động thông tin thư mục, giới thiệu sách mới và các hoạtđộng thông tin tư liệu khác tạo điều kiện cho bạn đọc khai thác và sử dụng hiệu quảcác nguồn thông tin; tổ chức in ấn các loại sách giáo trình tham khảo của Trường;
- Tổ chức các khoá học đầu năm hướng dẫn sinh viên sử dụng thư viện; thựchiện công tác hướng dẫn thực hành nghiệp vụ cho sinh viên thực tập; phục vụ cán
bộ, giảng viên, sinh viên; hướng dẫn bạn đọc mượn giáo trình, sách báo và tài liệutham khảo khác;
- Quản lý, sử dụng hiệu quả các tài sản được giao bao gồm toàn bộ các trang
Trang 37thiết bị, hệ thống giáo trình, sách báo và các tài liệu tham khảo khác; kiểm kê định
kỳ vốn tài liệu, tài sản khác của thư viện theo quy định hiện hành;
- Thực hiện các hoạt động nghiệp vụ: Kiểm tra, phân loại, biên mục tài liệu,làm thư mục, bảo quản vốn tài liệu và thanh lý ra khỏi kho những tài liệu lạc hậu,
hư nát… theo đúng các quy định về công tác thông tin, thư viện Xây dựng hệ thốngtra cứu, tìm và truy cập thông tin;
- Tổ chức các hoạt động, dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ đượcgiao và phù hợp với quy định của pháp luật; tổ chức làm thẻ thư viện cho học sinhsinh viên
- Không ngừng đáp ứng yêu cầu và tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, sinhviên trong việc sử dụng vốn tài liệu của Trung tâm TT-TV; tổ chức thông tin,tuyên truyền, giới thiệu vốn tài liệu Trung tâm TT-TV, tham gia xây dựng và hìnhthành thói quen đọc sách, báo trong cán bộ, học sinh sinh viên
- Ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và CNTT vào côngtác thư viện; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho CBTV để phát triểnnguồn nhân lực có chất lượng nhằm nâng cao hiệu quả công tác; thực hiện cácnhiệm vụ khác do Hiệu trưởng giao
1.2.2.3 Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của Trung tâm TT-TV được chia thành 3 bộ phận chính: tổlàm công tác nghiệp vụ thư viện, tổ chịu trách nhiệm về phục vụ NDT của Trungtâm và tổ Tin học Các tổ này đều chịu sự chỉ đạo của lãnh đạo Trung tâm theonhững nguyên tắc nhất định, sự thống nhất và sự phối hợp hoạt động giữa các bộphận là nhân tố quyết định đến hiệu quả hoạt động của Thư viện
* Ban Giám đốc: Gồm 01 Giám đốc và 01 Phó giám đốc Giám đốc chịu trách
nhiệm trước Hiệu trưởng về thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Trung tâm TT-TV
và điều hành chung mọi hoạt động của Trung tâm Chức năng và nhiệm vụ của Trungtâm đã được ban Giám hiệu giao phó, ngoài ra Ban Giám đốc còn chịu trách nhiệmviệc phát triển vốn tài liệu, thanh lý tài liệu, đầu tư trang thiết bị và các hoạt động khác
Trang 38* Tổ nghiệp vụ: Gồm có 03 cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ chuyên
xử lý nghiệp vụ toàn bộ tài liệu trong thư viện, biên tập cổng thông tin, viết bàitrang web, biên tập bản tin, in thẻ sinh viên, in mã vạch và nhãn gáy sách
* Tổ phục vụ bạn đọc: Gồm có 4 phòng ở cả 3 cơ sở, có 04 cán bộ có nhiệm
vụ là: Quản lý phòng đọc cán bộ giáo viên và phòng đọc sinh viên ở 3 cơ sở; Quản
lý kho sách, giới thiệu nguồn tài liệu của Trung tâm TT-TV tới NDT, phục vụ NDT,cung cấp các dịch vụ TT khác
*Tổ Tin học: Gồm có 02 người, có nhiệm vụ Quản lý trang thiết bị, Hệ thống
máy tính, Quản lý phòng máy của Trung tâm, Quản trị cổng thông tin
Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Thông tin – Thư viện
Trường Đại học Hà Tĩnh
Hiện nay, Thư viện có 10 cán bộ (03 nam và 07 nữ) trong đó có 07 người đượcđào tạo về nghiệp vụ chính quy về thư viện còn lại là tốt nghiệp chuyên ngành khác
và đã được đào tạo về nghiệp vụ thư viện Nhìn chung trên 80% CBTV độ tuổi
25-35, đây là độ tuổi khá trẻ có năng lực, luôn sẵn sàng tiếp thu cái mới, và đây cũng làđộng lực lớn góp phần cho Thư viện chuyển mình trong xu thế hội nhập
1.2.2.4 Nguồn lực thông tin
Đối với mỗi cơ quan TT-TV, nguồn lực thông tin là vô cùng quan trọng Nóvừa là nguyên liệu hoạt động, vừa là công cụ đắc lực để thoả mãn nhu cầu thông tincủa bạn đọc Trong giai đoạn hiện nay, khái niệm nguồn lực thông tin đã được mở
Trang 39rộng bởi vì ngoài nguồn lực thông tin hiện có trong thư viện còn là các nguồn tincần thiết ở các nơi khác nhau, không tuỳ thuộc vào nơi bảo quản, lưu trữ và người
xử lý chúng
Vốn tài liệu của Trung tâm TT-TV Trường ĐHHT từ khi được thành lập đếnnay, mỗi năm lại được bổ sung thêm một số lượng nhất định để đáp ứng nhu cầucủa bạn đọc Tính đến hết năm 2014, số lượng vốn tài liệu của Trung tâm là 66.007bản tương đương với 8.075 tên tài liệu Trung tâm hàng năm đều có chính sách bổsung sách, báo đều đặn bằng việc mua theo hợp đồng Tuy nhiên, chi phí bổ sunghàng năm không cố định theo một quy định cụ thể nào mà phụ thuộc phần lớn vàongân sách của Trường cũng như sự quan tâm của Ban Giám hiệu Ngoài ra, Trungtâm cũng chú trọng tranh thủ thêm các nguồn biếu tặng từ các cá nhân, các nhà xuấtbản và các trường bạn để làm phong phú thêm vốn tài liệu
Với đặc thù là TV của một trường đại học nên vốn tài liệu tại Trung tâm TT-TV Trường ĐHHT chủ yếu là giáo trình, sách tham khảo, báo tạp chí.
Đầu mục (8.075)
Số bản (66.007)
5 Tài liệu nội sinh (luận án, luận văn,
bài giảng, đề tài nghiên cứu KH ) 425 425 0,6
Bảng 1.1: Vốn tài liệu tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Hà Tĩnh
Nguồn: Trung tâm TT-TV Trường ĐHHT
Ngoài ra, Trung tâm cũng có các loại tài liệu tra cứu như: Bách khoa thư, từđiển, sổ tay,…Các tài liệu tra cứu này cung cấp cho NDT những thông tin về các kháiniệm, những giải thích ngữ nghĩa được coi là chuẩn mực và đã được công nhận trong
Trang 40một phạm vi nhất định Số tài liệu này chiếm tỉ lệ rất nhỏ trong tổng số đơn vị tài liệu(1,9%) nhưng chúng là công cụ hỗ trợ đắc lực cho NDT trong việc tra cứu thông tin.
Vốn tài liệu trong Trung tâm TT-TV Trường ĐHHT chủ yếu là tài liệu tiếngViệt với 63.919 bản, chiếm tới 96,84 % Mặc dù, tiếng Anh là môn học chung bắtbuộc đối với tất cả các chuyên ngành đào tạo, trong trường lại có khoa Ngoại ngữnhưng tài liệu tiếng Anh chỉ có 1.169 bản, chiếm 1,77% Các ngôn ngữ khác có 919bản, chiếm 1,39%
Bên cạnh việc bổ sung các tài liệu truyền thống, Trung tâm cũng đang chútrọng xây dựng nguồn tài liệu số, tài liệu điện tử, tài liệu nội sinh nhằm đáp ứng tốthơn nữa nhu cầu ngày càng cao của NDT
1.3 Vai trò của kiến thức thông tin đối với sinh viên Trường Đại học Hà Tĩnh
1.3.1 Nâng cao chất lượng học tập
Ở Việt Nam hiện nay, trong quá trình chuyển từ đào tạo niên chế sang đàotạo tín chỉ, yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục bậc đại học đòi hỏi người học phải
có KTTT để phục vụ yêu cầu học tập của bản thân Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai,ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1996) đã khẳng định: “Đổi mới mạnh
mẽ phương pháp giáo dục đào tạo… bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tựnghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học; phát triển mạnh mẽ phong trào
tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên”
Theo UNESCO đã khái quát: “Giáo dục là yếu tố cơ bản của phát triển bềnvững, giúp nâng cao khả năng của mọi người trong việc biến tầm nhìn thành hànhđộng thực tế Giáo dục vì phát triển bền vững dạy mỗi cá nhân cách ra quyết địnhtrong đó có xem xét những yếu tố mang tính chất dài hạn về mặt kinh tế, sinh thái vàcông bằng cho tất cả cộng đồng” [18, tr.219] Điều đó đã khẳng định giáo dục vừacông cụ vừa là yếu tố quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xãhội của một quốc gia Một cộng đồng có KTTT không chỉ tìm kiếm thông tin - nhữngkiến thức mới mà còn tạo ra thông tin mới và tham gia vào quá trình đào tạo