1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp hạn chế rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại ngân ngân hàng thương mại quốc tế mega chi nhánh thành phố hồ chí minh

83 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình phát triển đó, thanh toán quốc tế là một dịch vụ ngày càng trở nên quan trọng đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam, nó là một mắt xích quan trọng thúc đẩy các hoạt đ

Trang 1

NGÔ THỊ TUYẾT MINH

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ MEGA – CHI NHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013

Trang 2

NGÔ THỊ TUYẾT MINH

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ MEGA – CHI NHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng

Mã số : 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ THÚY VÂN

TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự giúp đỡ của TS Nguyễn Thị Thúy Vân; số liệu thống kê trung thực và được lấy từ các nguồn tin cậy Nội dung, kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào cho tới thời điểm hiện nay

TP.HCM, ngày 25 tháng 11 năm 2013 Tác giả

Ngô Thị Tuyết Minh

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG THỨC TDCT VÀ RỦI RO

TRONG PHƯƠNG THỨC TDCT 1

1.1 TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ (TTQT) 1

1.1.1 Khái niệm TTQT 1

1.1.2 Vai trò của TTQT 2

1.2 PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ (TDCT) 3

1.2.1 Cơ sở ra đời của TDCT 3

1.2.2 Khái niệm, đặc trưng, vai trò của phương thức TDCT 4

1.2.2.1 Khái niệm phương thức TDCT 4

1.2.2.2 Đặc trưng của phương thức TDCT 5

1.2.2.3 Ưu và nhược điểm của phương thức TDCT 5

1.2.3 Thư tín dụng (L/C) 7

1.2.3.1 Khái niệm 7

1.2.3.2 Các chủ thể tham gia 8

1.2.3.3 Phân loại thư tín dụng 9

1.2.4 Cơ sở pháp lý của phương thức TDCT 11

1.3 RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC TDCT 1.3.1 Khái niệm rủi ro trong phương thức TDCT 13

Trang 5

1.4 QUẢN LÝ RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC TDCT

1.4.1 Khái niệm 19

1.4.2 Nội dung quản lý rủi ro trong phương thức TDCT 19

1.4.2.1 Quản lý bằng các biện pháp né tránh rủi ro 19

1.4.2.2 Quản lý bằng các biện pháp ngăn ngừa rủi ro 20

1.4.2.3 Quản lý bằng các biện pháp dự phòng và giảm thiểu rủi ro 21

1.5 BÀI HỌC KINH NGHIỆM THANH TOÁN BẰNG PHƯƠNG THỨC TDCT 21 1.5.1 Bài học kinh nghiệm của các ngân hàng trên thế giới 21

1.5.1.1 Kinh nghiệm của Citibank N.A., Malaysia 21

1.5.1.2 Kinh nghiệm của Deutsche Bank 21

1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho các NHTM Việt Nam 22

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG THANH TOÁN TDCT TẠI NGÂN HÀNG TMQT MEGA CN TP HCM 25

2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMQT MEGA 25

2.1.1 Tổng quan về Ngân hàng TMQT Mega Đài Loan 25

2.1.2 Tổng quan về Ngân hàng TMQT Mega CN TP HCM 26

2.2 QUY TRÌNH THANH TOÁN TDCT TẠI NGÂN HÀNG TMQT MEGA CN TP HCM 2.2.1 Quy trình thanh toán TDCT hàng nhập khẩu 27

2.2.1.1 Giai đoạn mở thư tín dụng 27

2.2.1.2 Giai đoạn thực hiện và thanh toán thư tín dụng 29

2.2.2 Quy trình thực hiện TDCT hàng xuất khẩu 30

2.2.2.1 Quy trình thông báo L/C xuất khẩu 30

Trang 6

NGÂN HÀNG TMQT MEGA CN TP HCM

2.3.1 Kết quả hoạt động thanh toán TDCT tại Ngân hàng TMQT Mega CN TP HCM

34

2.3.1.1 Doanh số thanh toán theo phương thức TDCT qua các năm 34

2.3.1.2 Doanh số TTQT hàng xuất 35

2.3.1.3 Doanh số TTQT hàng nhập 36

2.3.1.4 So sánh doanh số TTQT với một số NHTM khác 37

2.3.2 Những rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện thanh toán TDCT tại Ngân hàng TMQT Mega CN TP HCM 38

2.3.2.1 Rủi ro quốc gia, rủi ro chính trị pháp lý 39

2.3.2.2 Rủi ro tác nghiệp về phía ngân hàng 40

2.3.3 Những nguyên nhân chủ yếu gây ra rủi ro trong thanh toán theo phương thức TDCT tại Ngân hàng TMQT Mega CN TP HCM 49

2.3.3.1 Nguyên nhân khách quan 49

2.3.3.2 Nguyên nhân chủ quan 52

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 56

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC TDCT XNK TẠI NGÂN HÀNG TMQT MEGA CN TP HCM 57

3.1 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC TDCT TẠI NGÂN HÀNG TMQT MEGA CN TP HCM 57

3.1.1 Chú trọng đào tạo và nâng cấp chất lượng nhân viên 57

3.1.2 Chú trọng theo dõi thông tin liên quan đến các ngân hàng TMQT trên thế giới mà có rủi ro trong thanh toán XNK 59

3.1.3 Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng 59

3.1.4 Nâng cao chất lượng các hoạt động nghiệp vụ 60

Trang 7

3.2.2 Đề xuất đối với NHNN 63

3.2.3 Đề xuất đối với khách hàng 64

3.2.3.1 Giai đoạn ký kết hợp đồng TMQT 64

3.2.3.2 Giai đoạn tổ chức, thực hiện giao dịch L/C 65

3.2.3.3 Giai đoạn kiểm tra L/C 67

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 68

KẾT LUẬN 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

CN : Chi nhánh

eUCP : Quy tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ điện tử (The

Uniform Customs and Practice for Documentary Credits for electric presentation)

ISBP : Thực hành nghiệp vụ ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế về kiểm

chứng từ theo L/C (The International Standard Banking Practice for Examination of Documents under Documentary Credits)

L/C : Thư tín dụng (Lettter of credit)

SWIFT : Hiệp hội viễn thông liên ngân hàng và tài chính quốc tế (The

Society for Worldwide Interbank Financial Telecommunication)

TTR : Thanh toán chuyển tiền có bồi hoàn (Telegraphic Transfer

Reimbursement) UCP : Quy tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ (The

Uniform Customs and Practice for Documentary Credits)

Trang 9

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức ngân hàng TQMT Mega CN TP HCM

Sơ đồ 2.2 Quy trình mở L/C

Sơ đồ 2.3 Quy trình thực hiện và thanh toán L/C

Bảng 2.2 Tỷ trọng doanh số thanh toán theo phương thức TDCT trong TTQT từ năm 2010-2012

Biểu đồ 2.l Tỷ trọng doanh số thanh toán L/C trong TTQT từ nằm 2010 - 2012

Bảng 2.3 Doanh số TTQT hàng xuất

Biểu đồ 2.2 Doanh số TTQT hàng xuất từ năm 2010 - 2012

Bảng 2.4 Doanh số TTQT hàng nhập

Biểu đồ 2.3 Doanh số TTQT hàng nhập từ năm 2010 - 2012

Bảng 2.5 Doanh số TTQT của một số ngân hàng

Biểu đồ 2.4 Doanh số TTQT của một số Ngân hàng

Trang 10

1 Ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, TMQT đã trở thành một bộ phận không thể thiếu đối với mọi quốc gia Mở rộng TMQT không chỉ đơn thuần là tìm kiếm lợi nhuận, phát huy lợi thế so sánh mà còn là cách tốt nhất để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế Mở rộng quan hệ buôn bán với các nước đồng nghĩa với việc phải chấp nhận các luật chơi chung, tuân thủ các quy định thống nhất, chặt chẽ của phương thức thanh toán trong TMQT

Trong quá trình phát triển đó, thanh toán quốc tế là một dịch vụ ngày càng trở nên quan trọng đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam, nó là một mắt xích quan trọng thúc đẩy các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng phát triển; đồng thời nó còn hỗ trợ và thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp phát triển Thanh toán quốc tế ra đời dựa trên nền tảng TMQT, nhưng TMQT có tồn tại và phát triển còn phụ thuộc vào khâu thanh toán

có thông suốt, kịp thời, an toàn và chính xác được hay không

Vì vậy, trong nhiều năm qua các ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng TMQT Mega – CN TP HCM nói riêng đã không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế, đa dạng hóa các phương thức thanh toán như chuyển tiền, nhờ thu, TDCT… Trong đó, thanh toán theo phương thức TDCT là một nghiệp vụ chính, phục vụ đắc lực cho hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp, là nguồn thu tiềm năng của ngân hàng

Tuy nhiên, TDCT không phải là một nghiệp vụ đơn giản, nó đòi hỏi phải được đầu tư thích đáng về nghiệp vụ và công nghệ Thực tế cho thấy, TDCT vẫn còn

Trang 11

động thanh toán quốc tế theo phương thức TDCT Bên cạnh những thành quả đạt được, hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức TDCT của Ngân hàng cũng vấp phải những khó khăn, gặp phải những rủi ro, chưa thật sự hoàn thiện Xuất

phát từ những khó khăn đó, tôi muốn đi sâu vào nghiên cứu đề tài: “GIẢI PHÁP

HẠN CHẾ RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG TMQT MEGA CN TP HCM”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản sau:

- Tổng hợp tình hình hoạt động thanh toán quốc tế hàng xuất nhập khẩu theo phương thức TDCT tại Ngân hàng TMQT Mega CN TP HCM và những rủi ro phát sinh (giai đoạn 2010 - 2012)

- Phân tích những rủi ro thực tế đã xảy ra và nguyên nhân chủ yếu của những rủi

ro đó

- Đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro, hoàn thiện phương thức TDCT hàng xuất nhập khẩu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: phương thức TDCT hàng xuất nhập khẩu trong thanh toán quốc tế

Phạm vi nghiên cứu:

- Không gian: thanh toán hàng xuất nhập khẩu bằng phương thức TDCT tại ngân hàng TMQT Mega CN TP HCM

- Thời gian: giai đoạn 2010 - 2012

4 Tính mới của luận văn

Trang 12

thanh toán chứng từ hàng xuất nhập khẩu cũng như là những cách giải quyết đã thực hiện để xử lý rủi ro đó của Ngân hàng TMQT Mega CN TP HCM

5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng kết hợp trong đề tài: điều tra, phân tích thực tế, thống kê, tổng hợp, so sánh dựa trên cơ sở số liệu thống kê của Ngân hàng TMQT Mega

-6 Nội dung nghiên cứu

- Chương 1: Lý luận cơ bản về phương thức TDCT và rủi ro trong phương thức TDCT

- Chương 2: Thực trạng rủi ro trong thanh toán TDCT tại ngân hàng TMQT Mega CN TP HCM

- Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro trong phương thức TDCT tại ngân hàng TMQT Mega CN TP HCM

Trang 13

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG THỨC TDCT VÀ RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC TDCT

1.1 TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ (TTQT)

1.1.1 Khái niệm TTQT:

TTQT ra đời từ lâu nhưng nó chỉ thật sự phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỷ 20 khi mà khối lượng mua bán, đầu tư quốc tế và chuyển tiền quốc tế ngày càng tăng, từ đó làm cho khối lượng các giao dịch thanh toán qua ngân hàng cũng tăng theo Việc thanh toán qua ngân hàng làm gia tăng việc sử dụng các đồng tiền của các nước để chi trả lẫn nhau TTQT đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hoạt động của nền kinh tế của các quốc gia ngày nay

Có nhiều định nghĩa khác nhau về TTQT như:

Thứ nhất: việc trao đổi các hoạt động kinh tế và thương mại giữa các quốc gia làm phát sinh các khoản thu và chi bằng tiền của nước này đối với một nước khác trong từng giao dịch hoặc từng định kỳ chi trả do hai nước quyết định Trong mối quan hệ chi trả này, các quốc gia phải cùng nhau quy định những yếu tố cấu thành cơ chế thanh toán giữa các quốc gia như quy định về chủ thể tham gia thanh toán, lựa chọn tiền tệ, các công cụ và các phương thức thanh toán Tổng hợp các yếu tố cấu thành cơ chế đó tạo thành TTQT giữa các quốc gia (1)

Thứ hai: TTQT là quá trình thực hiện các khoản thu chi tiền tệ quốc tế thông qua hệ thống ngân hàng trên thế giới nhằm phục vụ cho các mối quan hệ trao đổi quốc tế phát sinh giữa các nước với nhau (2)

Từ hai định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy được một số đặc điểm của TTQT như sau:

- TTQT diễn ra trên phạm vi toàn cầu, phục vụ các giao dịch thương mại, đầu tư, hợp tác quốc tế thông qua mạng lưới các ngân hàng trên thế giới

(1)

Đinh Xuân Trình (2006), “Giáo trình thanh toán quốc tế”, NXB Lao động – Xã hội

(2) Trầm Thị Xuân Hương (2006), “Thanh toán quốc tế”, NXB Thống kê, Tp HCM

Trang 14

- TTQT khác với thanh toán trong nước vì nó liên quan đến các trao đổi tiền của quốc gia này lấy tiền của quốc gia khác Vì vậy khi ký kết các hợp đồng mua bán ngoại thương các bên phải thỏa thuận với nhau lấy đồng tiền của nước nào là tiền tệ tính toán

và thanh toán trong hợp đồng, đồng thời phải tính toán thận trọng để lựa chọn các biện pháp phòng chống rủi ro khi tỷ giá hối đoái biến động

- Tiền tệ trong TTQT không phải là tiền mặt mà nó tồn tại dưới hình thức các phương tiện thanh toán như thư chuyển tiền, điện chuyển tiền, hối phiếu, kỳ phiếu và séc ghi bằng ngoại tệ

- TTQT được thực hiện dựa trên nền tảng pháp luật và tập quán thương mại quốc tế, đồng thời nó cũng bị chi phối bởi pháp luật của các quốc gia, qua chính sách kinh tế, ngoại thương và chính sách ngoại hối của các quốc gia tham gia vào quá trình thanh toán

1.1.2 Vai trò của TTQT

Khi việc thanh toán giữa các đối tác với nhau vượt ra phạm vi của một quốc gia, nó đòi hỏi phải có những tổ chức trung gian tài chính đứng ra dàn xếp, thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn của mình, hệ thống NHTM là một định chế tài chính trung gian có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình này Nó đặc biệt quan trọng bởi vì các NHTM với những chức năng của mình là cầu nối không thể thiếu trong hoạt động thanh toán giữa các nước với nhau và cũng bởi vì nó có các mối quan hệ đại lý rộng khắp với các ngân hàng khác trên thế giới Những mối quan hệ đó giúp cho việc thanh toán diễn ra nhanh chóng và thuận tiện, rút ngắn thời gian thu hồi vốn và tiết kiệm được chi phí

Với sự uỷ thác của khách hàng trong việc thu tiền, các NHTM không chỉ bảo

vệ quyền lợi của khách hàng trong các giao dịch thanh toán mà còn tư vấn cho họ nhằm tạo nên sự tin tưởng, hạn chế rủi ro trong quan hệ thanh toán với các đối tác

Trang 15

nước ngoài Phí thu được từ hoạt động TTQT góp phần không nhỏ vào tổng thu nhập của các ngân hàng TTQT không chỉ đem lại nguồn thu dịch vụ cho ngân hàng, mở rộng vốn, đa dạng hoá các dịch vụ mà còn nâng cao vị thế, uy tín của các ngân hàng trên thị trường tài chính quốc tế

Trong quá trình lưu thông hàng hoá, TTQT là khâu cuối cùng, do vậy nếu thanh toán thực hiện nhanh chóng và liên tục, giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu được thực hiện sẽ có tác dụng thúc đẩy tốc độ thanh toán và giúp các doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh Thông qua TTQT còn tạo nên các mối quan hệ tin cậy giữa doanh nghiệp

và ngân hàng, từ đó có thể tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp được các ngân hàng tài trợ vốn trong trường hợp doanh nghiệp thiếu vốn, hỗ trợ về mặt kỹ thuật thanh toán thông qua việc hướng dẫn, tư vấn cho doanh nghiệp, hạn chế thấp nhất rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thanh toán với các đối tác

TTQT còn có tác dụng khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu gia tăng qui mô hoạt động, tăng khối lượng hàng hoá giao dịch và mở rộng quan hệ giao dịch với các nước

TTQT cũng tạo ra nguồn thu ngoại tệ cho các ngân hàng thông qua việc chuyển tiền vào tài khoản của các khách hàng xuất khẩu, các ngân hàng có thể sử dụng nguồn ngoại tệ đó cho các khách hàng nhập khẩu vay để thanh toán với phía đối tác

Do đó TTQT có liên quan mật thiết đến nghiệp vụ huy động vốn, cấp tín dụng, thanh toán trong nước, bảo lãnh và kinh doanh ngoại tệ của các NHTM

Qua những phân tích trên cho thấy TTQT ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động của các NHTM trong nước nói riêng và các ngân hàng khác trên thế giới nói chung

1.2 PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ (TDCT)

1.2.1 Cơ sở ra đời của phương thức TDCT

Khi hàng hoá được mua hoặc bán ngoài lãnh thổ quốc gia, các giao dịch này

Trang 16

có thể trở nên rất phức tạp bởi rất nhiều lý do như: thời gian vận chuyển hàng, rủi ro trên hành trình vận chuyển, các thủ tục hải quan, các quy định về XNK, quản lý ngoại

tệ và một thực tế là người bán và người mua ở cách xa nhau bởi các đường biên giới Thêm vào đó hai bên có thể chưa bao giờ gặp gỡ nhau và vì vậy hoàn toàn lạ lẫm về thực trạng và sự trung thực trong kinh doanh của nhau Ngoài ra nhiều quốc gia còn đang lún sâu vào gánh nợ chồng chất trong những năm gần đây

Do vậy, cái cần thiết cho nghiệp vụ này là một thể thức tiến hành đảm bảo lợi ích của các bên liên quan Người mua cần được biết rằng anh ta đã thanh toán và sẽ nhận được hàng hoá phù hợp Lợi ích của người bán là nhận được sự thanh toán ngay lập tức Để thỏa mãn cả hai, TDCT đã được sử dụng rộng rãi, hình thức này được xử lý trong mạng lưới các ngân hàng quốc tế, yêu cầu người xuất khẩu xuất trình cho ngân hàng các chứng từ chứng minh sự giao hàng hoặc gửi các hàng hoá đ ã yêu cầu, qua đó nếu các chứng từ hợp lệ, người bán sẽ đ ư ợ c thanh toán Yêu cầu sử dụng thư tín dụng phải được ghi rõ trong hợp đồng mua bán

Thư tín dụng là một cam kết có điều kiện của ngân hàng Chi tiết hơn, nó là một cam kết bằng văn bản của ngân hàng giao cho người bán theo yêu cầu và trên

cơ sở các chỉ dẫn của người mua thanh toán ngay hoặc vào một ngày xác định trong tương lai một số tiền đã định, trong một giới hạn thời gian và trên cơ sở các chứng từ

đã được quy định

Thư tín dụng là một phương thức tiện lợi và an toàn nhất cho thanh toán xuất nhập khẩu so với các hình thức thanh toán hiện hành như nhờ thu, thanh toán ứng trước, thanh toán bằng séc…

1.2.2 Khái niệm, đặc trưng và vai trò của phương thức TDCT

1.2.2.1 Khái niệm phương thức TDCT

Phương thức TDCT là một sự thoả thuận mà trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) cam kết hay cho phép một ngân hàng khác chi trả một số tiền nhất định cho người thụ

Trang 17

hưởng thư tín dụng hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó, khi người thụ hưởng xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều khoản, điều kiện quy định trong thư tín dụng

1.2.2.2 Đặc trưng của phương thức TDCT

Trong nghiệp vụ TDCT, tất cả các bên liên quan chỉ giao dịch bằng chứng từ mà không giao dịch bằng hàng hoá, các dịch vụ và/ hoặc các công việc khác mà chứng

cơ sở của thư tín dụng Các ngân hàng không liên quan đến hoặc bị ràng buộc bởi các hợp đồng như thế, thậm chí ngay cả trong thư tín dụng có bất cứ sự dẫn chiếu nào đến các hợp đồng như thế Vì vậy sự cam kết của một ngân hàng để thanh toán, thương lượng thanh toán hoặc thực hiện bất cứ nghĩa vụ nào khác trong thư tín dụng không phụ thuộc vào các khiếu nại hoặc các biện hộ của người yêu cầu phát sinh từ các quan hệ của họ với ngân hàng phát hành hoặc với người thụ hưởng”

1.2.2.3 Ưu và nhược điểm của phương thức TDCT:

Phương thức TDCT ngày càng được sử dụng rộng rãi trong TTQT bởi vì nó có nhiều ưu điểm hơn so với các phương thức thanh toán khác, với phương thức thanh toán này quyền lợi của người xuất khẩu và người nhập khẩu đều được đảm bảo Cụ thể:

Đối với người xuất khẩu:

Ưu điểm:

- Có được một cam kết chắc chắn không phải từ người mua mà từ một ngân

Trang 18

hàng Do vậy, khả năng nhận được tiền sau khi giao hàng và xuất trình bộ chứng từ phù hợp với L/C là gần như 100%

- Hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro có thể xảy ra đối với các khách hàng mới chưa có uy tín và thương hiệu trên thị trường

- Có thể yêu cầu một ngân hàng khác xác nhận thư tín dụng trong trường hợp người bán chưa tin tưởng tuyệt đối vào ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng phát hành là một ngân hàng nhỏ, quy mô hoạt động không lớn, chưa được biết đến nhiều

- Được hưởng những dịch vụ tư vấn về mặt chuyên môn trong nghiệp vụ thanh toán bằng thư tín dụng từ một tổ chức tài chính trung gian là ngân hàng

Nhược điểm:

- Đòi hỏi người bán phải đáp ứng đầy đủ các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng nếu muốn nhận được tiền thanh toán từ ngân hàng phát hành L/C

- Phí dịch vụ có liên quan đến việc thanh toán bằng thư tín dụng thường cao hơn

so với các phương thức thanh toán khác

Đối với người nhập khẩu

Ưu điểm:

- Người nhập khẩu được đảm bảo rằng chỉ khi nào người bán đáp ứng đầy đủ các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng thì việc thanh toán mới thực hiện

- Người nhập khẩu có thể thương lượng những điều khoản thanh toán thương mại có lợi hơn khi sử dụng phương thức thanh toán bằng L/C

- Người nhập khẩu có thể chứng minh khả năng thanh toán của mình thông qua việc được một ngân hàng đứng ra phát hành L/C Đây là một điều rất quan trọng trong việc ký kết những hợp đồng thương mại với các khách hàng mới

- Được hưởng những dịch vụ tư vấn về mặt chuyên môn trong nghiệp vụ thanh toán bằng thư tín dụng từ một tổ chức tài chính trung gian là ngân hàng

Trang 19

Nhược điểm:

- Thư tín dụng không thể đảm bảo cho người mua hàng rằng hàng hóa được giao có chất lượng và số lượng đúng như hợp đồng đã ký kết Do vậy, điều quan trọng là người mua phải tự xem xét, đánh giá uy tín của người bán khi thực hiện phương thức thanh toán này

- Để được ngân hàng phát hành mở L/C cho mình buộc người mua hoặc phải có tiền ký quỹ hoặc phải thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay

- Phí dịch vụ có liên quan đến việc thanh toán bằng thư tín dụng thường cao hơn

so với các phương thức thanh toán khác

Đối với các ngân hàng:

- Nghiệp vụ TDCT là nghiệp vụ mang lại cho các ngân hàng những khoản thu phí dịch vụ rất lớn như phí phát hành L/C, phí thông báo, phí tu chỉnh, phí chiết khấu,… Những khoản phí này thường chiếm tỷ trọng cao trên tổng thu dịch vụ hàng năm của các ngân hàng

- Nếu thực hiện tốt nghiệp vụ này sẽ nâng cao vị thế, uy tín của ngân hàng trên trường quốc tế Mối quan hệ giữa ngân hàng và các tổ chức quốc tế sẽ không ngừng được mở rộng, từ đó càng làm tăng khả năng xử lý và giải quyết nghiệp

vụ tại các ngân hàng

- Thông qua nghiệp vụ thanh toán TDCT các ngân hàng còn có thể cung cấp các dịch vụ khác như tín dụng, chuyển tiền, tư vấn, bảo lãnh cho khách hàng… Điều này vừa giúp tăng thu dịch vụ vừa tạo điều kiện tăng trưởng các thị phần khác

1.2.3 Thƣ tín dụng (L/C)

1.2.4.1 Khái niệm:

Thư tín dụng (Letter of credit – viết tắt là L/C) là một cam kết thanh toán có điều kiện bằng văn bản của một tổ chức tài chính (thông thường là ngân hàng) đối với người thụ hưởng L/C (thông thường là người xuất khẩu, người bán hàng hay người cung cấp dịch

Trang 20

vụ) với điều kiện người thụ hưởng phải xuất trình bộ chứng từ phù hợp với tất cả các điều khoản được quy định trong L/C, phù hợp với Quy tắc thực hành thống nhất về TDCT (UCP) được dẫn chiếu trong thư tín dụng và phù hợp với Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ trong phương thức TDCT (ISBP)

1.2.4.2 Các chủ thể tham gia

- Người đề nghị mở L/C (Applicant): là người yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành một L/C và có trách nhiệm pháp lý về việc thanh toán tiền của ngân hàng cho người bán theo L/C này Người đề nghị mở L/C có thể là người mua (Buyer), người nhập khẩu (Importer), người trả tiền (Accountee)

- Người thụ hưởng L/C (Beneficiary): là người được hưởng tiền thanh toán hay

sở hữu hối phiếu chấp nhận thanh toán Người thụ hưởng L/C có thể là người bán (Seller), người xuất khẩu (Exporter) hay người ký phát hối phiếu (Drawer)

- Ngân hàng phát hành L/C (Issuing bank) hay ngân hàng mở L/C (Opening bank) là ngân hàng mà theo yêu cầu của người đề nghị mở L/C phát hành một L/C cho người thụ hưởng Ngân hàng phát hành thường được hai bên mua bán thỏa thuận và quy định trong hợp đồng mua bán

- Ngân hàng thông báo (Advising bank): là ngân hàng được ngân hàng phát hành yêu cầu thông báo L/C cho người thụ hưởng Ngân hàng thông báo thường là một ngân hàng đại lý hoặc một chi nhánh của ngân hàng phát hành ở nước người thụ hưởng

- Ngân hàng xác nhận (Confirming bank): trong trường hợp nhà xuất khẩu muốn có sự đảm bảo chắc chắn của thư tín dụng, thì một ngân hàng có thể đứng ra xác nhận L/C theo yêu cầu của ngân hàng phát hành Thông thường ngân hàng xác nhận là một ngân hàng lớn có uy tín và trong nhiều trường hợp ngân hàng thông báo được đề nghị là ngân hàng xác nhận L/C

Trang 21

- Ngân hàng chỉ định (Nominated bank): là ngân hàng được ngân hàng phát hành ủy nhiệm để khi nhận được bộ chứng từ phù hợp với những quy định trong L/C thì:

+ Thanh toán (pay) cho người thụ hưởng

+ Chấp nhận (accept) hối phiếu kỳ hạn

+ Chiết khấu (negotiate) bộ chứng từ

+ Chịu trách nhiệm trả chậm (Defferer payment) giá trị của L/C Trách nhiệm của ngân hàng được chỉ định là giống như ngân hàng phát hành khi nhận được

bộ chứng từ của nhà xuất khẩu gửi đến

1.2.4.3 Phân loại thư tín dụng:

Phương thức thanh toán TDCT có tính ưu việt hơn hẳn những phương thức TTQT khác Tuy nhiên hiệu quả của phương thức này sẽ được thể hiện đầy đủ hơn khi ta biết lựa chọn loại thư tín dụng phù hợp với yêu cầu của từng tình huống cụ thể trong mối quan hệ thương mại quốc tế nảy sinh giữa các bên Theo quy ước quốc tế, thư tín dụng bao gồm nhiều loại Có thể phân biện chúng dưới các góc độ khác nhau dưới dây:

- Thư tín dụng không thể hủy ngang (Irrevocable L/C): là loại thư tín dụng mà sau khi được mở, người đề nghị mở L/C sẽ không được đơn phương yêu cầu ngân hàng sửa đổi,

bổ sung hay hủy bỏ nếu không được sự đồng ý của người thụ hưởng L/C Để đảm bảo được tính chất và tác dụng của thư tín dụng, ngày nay hầu hết các thư tín dụng đều được

mở theo hình thức không thể hủy ngang này

● Căn cứ theo thời điểm thanh toán:

Trang 22

- Thư tín dụng trả ngay (At sight L/C): là loại thư tín dụng mà ngân hàng phải thanh toán ngay cho người thụ hưởng khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với những quy định, điều khoản trong thư tín dụng Trong trường hợp này, người xuất khẩu sẽ ký phát hối phiếu trả ngay để yêu cầu thanh toán

- Thư tín dụng trả chậm (Usance L/C): là loại thư tín dụng mà ngân hàng cam kết sẽ thanh toán cho người thụ hưởng sau một thời gian nhất định được quy định trong L/C

- L/C tuần hoàn (Revolving L/C): là loại thư tín dụng không thể hủy ngang mà sau khi thực hiện hết giá trị hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì L/C lại tự động có giá trị như cũ và tiếp tục được sử dụng một cách tuần hoàn trong một thời hạn nhất định cho đến khi tổng giá trị hợp đồng được thực hiện

- L/C giáp lưng (Back to back L/C): là loại thư tín dụng mà sau khi người xuất khẩu nhận dùng chính L/C mà người nhập khẩu mở cho mình thế chấp để mở một L/C khác cho người thụ hưởng khác L/C đem đi thế chấp là L/C gốc, L/C sau gọi là L/C giáp lưng

- L/C đối ứng (Reciprocal L/C): là loại L/C chỉ bắt đầu có hiệu lực khi một L/C đối ứng với nó đã được mở

- L/C có điều khoản đỏ (Red clause L/C): là L/C có điều khoản (trước đây thường in bằng mực đỏ) cho phép ngân hàng chỉ định ứng trước một phần tiền cho người thụ hưởng để mua nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và giao hàng theo L/C đã mở

Trang 23

- L/C dự phòng (Stand by L/C): là loại L/C do ngân hàng của người xuất khẩu phát hành, cam kết hoàn trả tiền đặt cọc, ứng trước và chi phí mở L/C cho người nhập khẩu nếu người xuất khẩu không thực hiện nghĩa vụ của mình

1.2.4 Cơ sở pháp lý của phương thức TDCT:

TDCT là giao dịch của ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng nhằm thực hiện công đoạn cuối cùng của hàng loạt giao dịch thương mại quốc tế giữa hai bên mua và bán, đáp ứng yêu cầu của cả hai phía: Người bán giao hàng và được trả tiền, Người mua trả tiền và được nhận hàng Ngân hàng, người đảm bảo thanh toán,

đã trở thành nhịp cầu nối đáng tin cậy của nền mậu dịch các nước Tầm quan trọng của giao dịch TDCT đòi hỏi phải có hành lang pháp lý để các ngân hàng thực hiện Bản quy tắc thể hiện đầy đủ thông lệ và tập quán quốc tế và được các NHTM trên thế giới chấp nhận và áp dụng Nhưng TDCT còn là các phát sinh trong nước từ mối quan

hệ giữa ngân hàng - người mở, ngân hàng - người thụ hưởng Nó luôn được chi phối bởi Luật pháp Quốc gia Như vậy giao dịch TDCT được tiến hành trên hành lang pháp

lý của Quốc tế và Quốc gia

Quy tắc và Thực hành Thống nhất TDCT (UCP) mặc dầu chỉ là những quy định được soạn thảo bởi phòng thương mại quốc tế (Paris) nhưng được coi là Luật quốc tế về ngân hàng trong giao dịch TDCT và được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới Điều này nói lên vai trò của nó trong việc kiến tạo hành lang pháp lý cho mọi giao dịch quốc tế của ngân hàng, phục vụ nền thương mại thế giới

Kể từ khi phát hành lần đầu tiên với mục đích thiết lập một bộ quy tắc thống nhất về TDCT, mạch máu của giao thương quốc tế Tháng 11-1989, Uỷ ban Kỹ thuật

và nghiệp vụ ngân hàng thuộc phòng thương mại quốc tế được phép sửa đổi Quy tắc

và Thực hành thống nhất TDCT, số xuất bản 400 Yêu cầu của lần sửa đổi này là nêu bật sự phát triển của nền công nghiệp vận tải và ứng dụng công nghệ mới vào các lĩnh vực trên thế giới Sửa đổi lần này cũng nhằm hoàn chỉnh chức năng của bản quy tắc Qua sáu lần sửa đổi nhằm theo kịp sự phát triển của nền mậu dịch, kỹ thuật truyền

Trang 24

thông, vận tải,… của thế giới Năm 1993 bản UCP 500 đã ra đời, có hiệu lực từ 01/01/1994, gồm 49 điều khoản được đánh giá là bản sửa đổi toàn diện, sâu sắc và hoàn chỉnh nhất Từ đó đến nay, sau hơn 10 năm áp dụng, bản UCP 500 vẫn còn tồn tại một số bất cập đ ò i hỏi phải được sửa đổi, hoàn thiện hơn nữa để đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng và phức tạp của nền mậu dịch thế giới Gần đây nhất là ngày 25/10/2006 ICC đã công bố UCP600 có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2007 UCP là một văn bản mang tính quốc tế không mang tính chất bắt buộc các bên mua bán quốc tế phải áp dụng Do đó nếu áp dụng UCP thì phải dẫn chiếu điều ấy trong thư tín dụng của mình Đến nay đã có hơn 160 nước trên thế giới công nhận và tuyên bố áp dụng UCP Điều đáng lưu ý là các văn bản ra đời sau không huỷ bỏ các văn bản trước đó, cho nên các văn bản đều có giá trị thực hành trong thanh toán quốc tế Ngoài bản thực hành TDCT còn có thêm các bản khác cũng có giá trị tham khảo trong phương thức này

đó là:

- eUCP (the Supplement to the Uniform Customs and Practise for Documentary Credits for electric presentation) xuất bản tháng 01/2002 áp dụng cho xuất trình chứng

từ điện tử theo L/C eUCP có 12 điều khoản

- ISBP (The International Standard Banking Practice for Examination of Documents under Documentary Credits): Tập quán Ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế về kiểm tra chứng từ theo L/C Cùng với UCP600, ISBP được xem như một cuốn cẩm nang hướng dẫn không thể thiếu đối với các ngân hàng, các công ty XNK, các chuyên gia logistics, các công ty bảo hiểm… trong việc lập và kiểm tra các chứng từ xuất trình theo thư tín dụng Phiên bản đầu tiên có tên gọi là ISBP 645 được Phòng thương mại Quốc tế ICC phát hành năm 2002 Sau hơn 4 năm sử dụng, ICC quyết định tiến hành sửa đổi ISBP645 và thông qua phiên bản 2007 với tên gọi là ISBP681 Tuy nhiên, sau gần hai năm áp dụng, trong chừng mực nào đó, ISBP681 vẫn còn bộc lộ nhiều thiếu sót

và chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế về kiểm tra chứng từ theo L/C Do vậy, tại cuộc họp Dubai vào tháng 3/2009, ICC một lần nữa quyết định sửa đổi ISBP681 Mới đây,

Trang 25

vào ngày 17/04/2013, ICC họp tại Lisbon (Bồ Đào Nha) đã thông qua Bản Dự thảo cuối cùng ISBP với tên gọi ISBP745

1.3 RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC TDCT

1.3.1 Khái niệm rủi ro trong phương thức TDCT

Rủi ro trong phương thức TDCT là vấn đề xảy ra ngoài ý muốn trong quá trình tiến hành hoạt động thanh toán TDCT và ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng Trong hoạt động TTQT theo phương thức TDCT, rủi ro xảy ra khi quyền lợi của một bên tham gia bị vi phạm Rủi ro không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là chứng từ không được thanh toán mà còn được hiểu rộng hơn là bất kỳ một sự chậm trễ nào trong các khâu của phương thức TDCT

1.3.2 Phân loại rủi ro trong phương thức TDCT

1.3.2.1 Căn cứ vào đối tượng bị thiệt hại:

Rủi ro đối với nhà nhập khẩu:

Việc thanh toán của ngân hàng cho nhà xuất khẩu chỉ căn cứ vào bộ chứng từ xuất trình

mà không căn cứ vào việc kiểm tra thực tế hàng hóa Ngân hàng chỉ kiểm tra tính hợp lệ

bề ngoài của bộ chứng từ Nếu nhà xuất khẩu có chủ tâm gian lận sẽ xuất trình chứng từ giả mạo cho ngân hàng chỉ định để thanh toán Như vậy, sẽ không có sự đảm bảo nào cho nhà nhập khẩu rằng hàng hóa được giao sẽ đúng như hợp đồng về số lượng, chất lượng và không bị hư hỏng gì Trong trường hợp này nhà nhập khẩu vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền đã thanh toán cho ngân hàng

Rủi ro đối với nhà xuất khẩu:

Khi nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ không phù hợp với L/C thì mọi khoản thanh toán (chấp nhận) đều có thể bị từ chối và nhà xuất khẩu sẽ phải tự giải quyết bằng cách

dỡ hàng, lưu kho, bán đấu giá… cho đến khi vấn đề được giải quyết hoặc phải chở hàng quay về nước Nhà xuất khẩu phải trả các khoản chi phí như lưu tàu quá hạn, phí lưu kho, mua bảo hiểm hàng hóa… trong khi không biết nhà nhập khẩu có đồng ý nhận hàng hay từ chối nhận hàng vì lý do bộ chứng từ có sai sót Nếu ngân hàng phát hành hoặc

Trang 26

ngân hàng xác nhận mất khả năng thanh toán thì mặc dù bộ chứng từ xuất trình có hoàn hảo cũng không được thanh toán Cũng tương tự như vậy, nếu ngân hàng chấp nhận hối phiếu kỳ hạn bị phá sản trước khi hối phiếu đến hạn thì hối phiếu cũng không được trả tiền Trừ khi L/C được xác nhận bởi một ngân hàng hạng nhất trong nước, còn lại nhà xuất khẩu sẽ phải chịu rủi ro về hệ số tín nhiệm của ngân hàng phát hành cũng như rủi ro chính trị hay rủi ro do cơ chế chính sách của nhà nước thay đổi

Rủi ro đối với NHTM:

♦ Rủi ro đối với ngân hàng phát hành (Ngân hàng mở L/C – issuing bank):

Rủi ro do nhà nhập khẩu mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản: Đây là loại rủi ro gây thiệt hại nặng nề nhất cho ngân hàng phát hành, do ngân hàng phải thanh toán cho bộ chứng từ hoàn hảo trong khi không thể thu hồi lại vốn từ nhà nhập khẩu

Rủi ro do nhà xuất khẩu có hành vi lừa đảo, giả mạo chứng từ: ngân hàng phát hành mặc

dù đã kiểm tra chứng từ với sự cẩn thận hợp lý nhưng không phát hiện sai sót và tiến hành thanh toán Nếu phía xuất khẩu là một tổ chức “ma” hoặc bị phá sản, trong khi nhà nhập khẩu không đủ năng lực tài chính để bồi thường thì ngân hàng phát hành cuối cùng

sẽ là người phải gánh chịu rủi ro đó

Rủi ro do nhà nhập khẩu không nhận hàng: khi tỷ giá biến động theo hướng bất lợi hoặc giá hàng trên thị trường giảm mạnh, nhà nhập khẩu không muốn nhận hàng vì sợ thua lỗ nên không tiến hành thanh toán Trong trường hợp này, nếu tỷ lệ ký quỹ L/C không bù đắp được tỷ lệ trượt giá của nội tệ thì rủi ro này sẽ do ngân hàng phát hành gánh chịu Ngân hàng phát hành còn có thể chịu rủi ro trong khâu kiểm tra chứng từ của chính ngân hàng mình, ví dụ như:

- Ngân hàng phát hành không phát hiện ra sai sót trên cơ sở bộ chứng từ không hoàn hảo và tiến hành thanh toán Nếu nhà nhập khẩu phát hiện sai sót của bộ chứng từ,

họ có quyền từ chối thanh toán và ngân hàng phát hành phải gánh chịu rủi ro

- Kiểm tra không hết sai sót, dẫn đến mất quyền từ chối bởi ngân hàng không có quyền từ chối hai lần

Trang 27

- Bắt sai lỗi của bộ chứng từ, tức bộ chứng từ hoàn hảo lại cho là có sai sót và tiến hành từ chối thanh toán, dẫn đến bị nhà xuất khẩu khiếu kiện

- Tiến hành kiểm tra chứng từ vượt quá 5 ngày làm việc của ngân hàng dẫn đến mất quyền từ chối bộ chứng từ có sai sót, trong khi đó nhà nhập khẩu có quyền từ chối thanh toán cho ngân hàng đối với những lỗi đó

♦ Rủi ro đối với ngân hàng thông báo L/C (advising bank):

Ngân hàng thông báo là ngân hàng được ngân hàng mở yêu cầu thông báo một L/C do ngân hàng mở phát hành cho người bán Ngân hàng thông báo chịu trách nhiệm về tính chân thật, hợp lệ của thư tín dụng (bao gồm cả việc xác minh chữ ký, mẫu điện…) trước khi gửi thông báo cho nhà xuất khẩu Rủi ro đối với ngân hàng thông báo xảy ra khi gặp phải một L/C giả (hoặc tu chỉnh giả) mà không có ghi chú gì Theo thông lệ quốc tế thì ngân hàng thông báo phải chịu hoàn toàn trách nhiệm với các bên liên quan

♦ Rủi ro đối với ngân hàng xác nhận (confirming bank):

Ngân hàng xác nhận thường là ngân hàng lớn có uy tín hoặc ngân hàng có quan hệ tiền gửi, tiền vay với ngân hàng mở, được ngân hàng mở yêu cầu xác nhận và cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu như ngân hàng mở không thực hiện được nghĩa vụ của mình Đối với ngân hàng xác nhận, khi tham gia xác nhận là họ đã tự ràng buộc trách nhiệm của mình vào nghĩa vụ thanh toán L/C khi có tranh chấp giữa hai bên Rủi ro đối với ngân hàng xác nhận xảy ra khi hô không nắm vững được năng lực tài chính của ngân hàng mở mà xác nhận theo yêu cầu của họ để nếu khi xảy ra hậu quả thì phải chịu trách nhiệm thanh toán thay cho ngân hàng mở L/C do ngân hàng mở L/C thiếu thiện chí hay mất khả năng thanh toán, thậm chí bị phá sản

♦ Rủi ro đối với ngân hàng chiết khấu (negotiating bank):

Ngân hàng chiết khấu là ngân hàng được chỉ định cụ thể hoặc bất cứ ngân hàng nào nếu L/C cho chiết khấu tự do Cũng như ngân hàng phát hành, ngân hàng chiết khấu có thể gặp phải rủi ro nếu như không thực hiện chính xác nghiệp vụ cũng như không tuân thủ theo các điều khoản của UCP Rủi ro xảy ra đối với ngân hàng chiết khấu phần nhiều

Trang 28

phụ thuộc vào thiện chí của ngân hàng mở và nhà nhập khẩu Các rủi ro mà ngân hàng chiết khấu có thể gặp phải là: rủi ro do những nguyên nhân bất khả kháng; rủi ro do nhà nhập khẩu trì hoãn thanh toán; rủi ro trong quá trình vận chuyển; rủi ro do nhà nhập khẩu

từ chối thanh toán bộ chứng từ; rủi ro do ngân hàng mở bị phá sản; rủi ro do ngân hàng chiết khấu không hành động đúng theo quy định của UCP

1.3.2.2 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro:

♦ Rủi ro tín dụng:

Là những rủi ro phát sinh do việc cấp tín dụng cho các bên liên quan nhưng không có khả năng hoàn trả Rủi ro tín dụng liên quan trực tiếp đến tình hình tài chính, khả năng thanh toán của các bên Trong phạm vi của bản luận văn này chỉ xem xét đến các khoản tín dụng được cấp thông qua nghiệp vụ thanh toán theo phương thức TDCT

- Đối với ngân hàng phát hành: Khi phát hành L/C, ngân hàng phát hành đã thực

hiện việc cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu vì thông thường L/C được phát hành với mức

ký quỹ thấp hơn 100% trị giá L/C Nhà nhập khẩu chưa phải thanh toán tiền nhưng đã được nhà xuất khẩu giao hàng vì tin tưởng vào cam kết của ngân hàng phát hành Rủi ro tín dụng đối với ngân hàng phát hàng xảy ra khi nhà nhập khẩu mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản Ngân hàng phát hành phải thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng theo quy định của L/C nhưng không có khả năng đòi hoàn trả từ nhà nhập khẩu

- Đối với ngân hàng chiết khấu: Khi thực hiện chiết khấu miễn truy đòi bộ chứng

từ xuất khẩu, ngân hàng chiết khấu đã thực hiện việc mua lại quyền đòi tiền của nhà xuất khẩu từ ngân hàng phát hành L/C Nếu ngân hàng phát hành mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản thì rủi ro tín dụng thuộc về ngân hàng chiết khấu

- Đối với ngân hàng xác nhận: Khi thực hiện xác nhận L/C nhưng không yêu cầu

ngân hàng phát hành ký quỹ 100% trị giá L/C, ngân hàng xác nhận có thể phải đối mặt với rủi ro tín dụng khi ngân hàng phát hành mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản

♦ Rủi ro mặt đạo đức kinh doanh:

Trang 29

Là những rủi ro khi một bên tham gia cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình,

làm ảnh hưởng tới quyền lợi của các bên liên quan Trong TMQT, các bên đối tác thường ở cách xa nhau, thậm chí không hề gặp nhau trong quá trình mua bán nên rất khó nắm rõ những thông tin về uy tín, đạo đức kinh doanh, năng lực tài chính của đối tác Trong điều kiện như vậy, các rủi ro đạo đức xảy ra gây hậu quả rất nghiêm trọng đối với

cả khách hàng lẫn ngân hàng Đặc biệt trong phương thức TDCT, các hành vi đạo đức của bất kỳ một đối tác nào cũng đều ảnh hưởng đến các ngân hàng tham gia

- Rủi ro đạo đức của nhà xuất khẩu: Ngân hàng phát hành chỉ có khả năng và

trách nhiệm kiểm tra tính phù hợp của chứng từ xét trên bề mặt, mà không thể thẩm định tính xác thực của chứng từ, càng không thể kiểm tra được tình trạng của lô hàng nhập khẩu Nếu nhà xuất khẩu cố tình giao hàng hóa không phù hợp với quy định của L/C để đòi tiền, ngân hàng phát hành theo cam kết phải trả tiền cho nhà xuất khẩu trong khi nhà nhập khẩu không được nhận hàng theo đúng hợp đồng Nhà nhập khẩu là người gánh chịu rủi ro cuối cùng song nếu ngân hàng phát hành là người cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu thì rủi ro của nhà nhập khẩu cũng chính là rủi ro của ngân hàng

- Rủi ro đạo đức của nhà nhập khẩu: hầu hết các trường hợp L/C đều được phát

hành với mức ký quỹ nhỏ hơn 100%, do vậy khi ngân hàng phát hành thông báo cho nhà nhập khẩu nộp tiền vào để thanh toán, nếu nhà nhập khẩu vì những lý do cá nhân cố tình không thanh toán thì ngân hàng phát hành bị rủi ro phải thanh toán thay

- Rủi ro đạo đức của ngân hàng phát hành: Ngân hàng phát hành cũng có thể

thông đồng với nhà nhập khẩu cố tình tìm kiếm những bất đồng của bộ chứng từ để từ chối thanh toán cho nhà xuất khẩu dù những lỗi đó không phù hợp với UCP hay thông lệ quốc tế, hoặc đang có nhiều ý kiến tranh cãi Ngân hàng chiết khấu và nhà xuất khẩu có thể kiện ra phòng thương mại quốc tế nhưng cũng mất nhiều thời gian và tốn kém

- Rủi ro đạo đức của ngân hàng chiết khấu: L/C cho phép đòi tiền bằng điện có

thể bị ngân hàng chiết khấu lợi dụng đòi tiền dù bộ chứng từ có bất hợp lệ Khi ngân hàng phát hành nhận được bộ chứng từ và kiểm tra thấy bất hợp lệ thì tiền đã thanh toán

Trang 30

cho ngân hàng chiết khấu rồi Về mặt lý thuyết, ngân hàng phát hành có quyền đòi tiền lại từ ngân hàng chiết khấu nhưng nếu ngân hàng chiết khấu không chịu trả tiền lại thì ngân hàng phát hành sẽ phải gặp rất nhiều khó khăn để đi khiếu kiện

- Rủi ro từ phía người chuyên chở: Đã có trường hợp, người chuyên chở nhận

hàng từ người bán, lấy tiền cước rồi biến mất Khi đó, ngân hàng vẫn phải có trách nhiệm thanh toán cho nhà xuất khẩu, còn việc kiện hãng tàu, chủ tàu hoặc đòi bồi thường bảo hiểm hoàn toàn tách rời với L/C

đó, các bên tham gia cần phải tính toán, dự đoán trước những rủi ro để có biện pháp rào chắn hợp lý như mua bảo hiểm với những điều kiện bảo hiểm phù hợp

Rủi ro chính trị:

Là những rủi ro có quan hệ với nhiều đối tượng ở nhiều quốc gia khác nhau Mỗi một sự

thay đổi về kinh tế, chính trị đều ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và sự đáp ứng các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng của các bên Suy thoái kinh tế và biến động chính trị sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và giao lưu thương mại quốc tế Ngoài ra còn một số rủi ro khác như thiên tai, hỏa hoạn…

1.4 QUẢN LÝ RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC TDCT

1.4.1 Khái niệm:

Trang 31

Cho đến nay, chưa có khái niệm thống nhất về quản lý rủi ro Có nhiều trường phái nghiên cứu về rủi ro và quản lý rủi ro, đưa ra những khái niệm về quản lý rủi ro rất khác nhau, thậm chí mâu thuẫn, trái ngược nhau

Có những nhà nghiên cứu cho rằng quản lý rủi ro đồng nghĩa với việc mua bảo hiểm Đó chính là việc chỉ quản lý rủi ro thuần túy, những rủi ro có thể phân tán, những rủi ro có thể mua bảo hiểm Trong khi đó, trường phái hiện đại lại cho rằng cần phải quản lý tất cả mọi rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ Hơn thế nữa, quản lý rủi ro còn là một chức năng chung để nhận dạng, đối phó với nguyên nhân và hậu quả của rủi ro đối với một tổ chức

Quan điểm của trường phái hiện đại có thể coi là một quan điểm quản lý rủi ro toàn diện Theo đó, có thể hiểu “Quản lý rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro”

1.4.2 Nội dung quản lý rủi ro trong phương thức TDCT:

1.4.2.1 Quản lý bằng các biện pháp né tránh rủi ro:

Thứ nhất, chủ động né tránh từ trước khi rủi ro xảy ra Ví dụ: Ngân hàng A chuẩn

bị mở L/C cho khách hàng B Tuy nhiên, trong quá trình thẩm định, ngân hàng đánh giá khả năng thanh toán của khách hàng không được đảm bảo nên ngân hàng quyết định ngừng cung cấp dịch vụ

Thứ hai, né tránh bằng cách loại bỏ những nguyên nhân gây rủi ro Ví dụ: hợp đồng quy định nhà nhập khẩu mở một L/C cho nhà xuất khẩu hưởng, trong đó bộ chứng

từ yêu cầu xuất trình vận đơn theo lệnh nhà nhập khẩu Đây chính là nguyên nhân gây rủi roc ho ngân hàng phát hành do nhà nhập khẩu không cần hoàn thành nghĩa vụ thanh toán với ngân hàng mà vẫn có thể nhận hàng Để ngăn ngừa rủi ro này, ngân hàng phát hành phải yêu cầu vận đơn theo lệnh của ngân hàng phát hành

1.4.2.2 Quản lý bằng các biện pháp ngăn ngừa rủi ro:

Trang 32

Ngăn ngừa rủi ro là sử dụng các biện pháp để giảm thiểu số lần xuất hiện rủi ro hoặc giảm thiểu mức độ thiệt hại do rủi ro mang lại Nhóm biện pháp ngăn ngừa rủi ro bao gồm:

- Các biện pháp tập trung tác động vào chính mối nguy để ngăn ngừa rủi ro Chẳng hạn trước khi ký kết hợp đồng với đối tác nước ngoài, để hạn chế thiệt hai, doanh nghiệp có thể chủ động tư vấn luật, nhờ các chuyên gia giỏi nghiệp vụ ngoại thương thương thảo hợp đồng

- Các biện pháp tập trung tác động vào môi trường rủi ro: môi trường rủi ro ở đây

có thể là môi trường văn hóa, chính trị, luật pháp Rủi ro sẽ xảy ra nếu nhân viên của doanh nghiệp không có những hiểu biết cần thiết về môi trường văn hóa, chính trị,… của nước đối tác, dẫn đến hành xử không đúng và gặp rủi ro Biện pháp phòng ngừa là đào tạo, huấn luyện, nâng cao trình độ cho cán bộ đặc biệt là kiến thức về văn hóa, luật pháp

và các ứng xử

- Các biện pháp tập trung vào sự tương tác giữa nguy cơ và môi trường rủi ro Ví dụ: khi ngân hàng ban hành các quy trình, quy chế mới điều chỉnh phương thức TDCT cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn nhưng không phải chi nhánh, cán bộ nao cũng có thể thích ứng ngay Các phòng ngừa là phải theo dõi thường xuyên, cập nhật đầy đủ, kịp thời các thông tin, chính sách, quy trình, quy chế của ngân hàng

1.4.2.3 Quản lý bằng các biện pháp dự phòng và giảm thiểu rủi ro

Đây là các biện pháp để giảm thiểu những tổn thất, mất mát, thiệt hại do rủi ro mang lại, bao gồm:

- Cứu vớt những tài sản còn sót lại

- Chuyển nợ Ví dụ: sau khi thanh toán cho người hưởng lợi theo phương thức TDCT, ngân hàng phát hành sẽ đòi tiền thanh toán từ người yêu cầu mở L/C

- Xây dựng và thực hiện các kế hoạch phòng ngừa rủi ro

Trong hoạt động kinh doanh, ngân hàng và các doanh nghiệp có thể đưa ra nhiều biện pháp dự phòng, hạn chế rủi ro Ví dụ: khi nhập khẩu hàng hóa có giá trị lớn, hàng

Trang 33

phân bón,xăng dầu hay sắt thép,…người bán thường yêu cầu người mua mở L/C tuần hoàn hoặc L/C cho phép đòi tiền bằng điện Khi đó, độ rủi ro trong thanh toán là rất cao Nhà nhập khẩu sẽ yêu cầu người bán cung cấp bảo lãnh thực hiện hợp đồng hay L/C dự phòng hoặc không chấp nhận mở L/C tuần hoàn hay đòi tiền bằng điện

1.5 BÀI HỌC KINH NGHIỆM THANH TOÁN BẰNG PHƯƠNG THỨC TDCT 1.5.1 Bài học kinh nghiệm của các ngân hàng trên thế giới

1.5.1.1 Kinh nghiệm của Citibank N.A., Malaysia

Để phòng ngừa rủi ro trong phương thức TDCT, Ngân hàng Citibank N.A áp dụng mô hình xử lý TTQT tập trung theo khu vực, ví dụ như, Citibank N.A, Malaysia sẽ chịu trách nhiệm xử lý nghiệp vụ TTQT cho tất cả các chi nhánh thuộc khu vực Châu Á

Phụ lục 3: Cơ cấu tổ chức của Trung tâm xử lý TTQT Citibank

1.5.1.2 Kinh nghiệm của Deutsche Bank:

Nhận thức được tầm quan trọng của đào tạo, ngay từ tháng 9 năm 200, Deutsche Bank đã bắt đầu chương trình đào tạo UCP600 Trong vòng hơn một năm, ngân hàng này đã thực hiện hơn 80 khóa đào tạo trên toàn thế giới cho hơn 6000 đại diện hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, giao nhận vận tải, bảo hiểm và ngân hàng Theo Deutsche Bank, đây chỉ là bước đầu tiên của quá trình đào tạo và ngân hàng sẽ đưa ra những đánh giá phản hồi thị trường sau khi UCP600 có hiệu lực và tiếp tục chương trình đào tạo của mình

Không chỉ tiến hành đào tạo trong nội bộ, Deutsche Bank còn tổ chức các khóa đào tạo, thảo luận bằng 2 cách:

- Mời các ngân hàng dại lý đến thăm trụ sở và tổ chức thảo luận ngay tại Ngân hàng mình

- Cử các chuyên gia kinh nghiệm đi khắp các quốc gia trên thế giới để tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn về UCP600

Trong các buổi đào tạo này, Deutsche Bank kết hợp giữa đào tạo về lý thuyết và

đi sâu phân tích các tình huống, các bài học kinh nghiệm trong quá trình áp dụng

Trang 34

UCP600 hay phân tích các giải thích của ICC về các điều gây tranh cãi trong UCP600 Như vậy, Deutsche Bank vừa có thể quảng bá thương hiệu của mình với các ngân hàng bạn để giới thiệu và chào bán sản phẩm, vừa tiến hành đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu cho các ngân hàng đại lý nhằm nâng cao trình độ và giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra trong phương thức TDCT

1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho các NHTM Việt Nam:

Qua kinh nghiệm về mô hình tổ chức của Citibank và cách thức đào tạo của Deutsche Bank, ta có thể rút ra một số bài học nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức TDCT của các NHTM Việt Nam:

Thứ nhất: cần xây dụng mô hình quản lý, tổ chức phù hợp nhằm tạo điều kiện cho nghiệp vụ TTQT và phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra Mô hình quản lý tập trung TTQT tại trung tâm của Citibank có những thuận lợi trong việc quản lý rủi ro như:

- Nâng cao chất lượng dịch vụ

- Kiểm soát rủi ro về mặt hoạt động: thứ nhất, khi xử lý tập trung và phân định trách nhiệm của bộ phận chứng từ và xử lý chứng từ nên hai bộ phận này có thể kiểm tra chéo nhau Thứ hai, hạn chế được tối đa rủi ro tác nghiệp do TTQT xử lý tập trung ở một trung tâm sẽ dễ quản lý, đào tạo và kiểm soát hơn trường hợp được xử lý tại nhiều chi nhánh khác nhau

- Tạo chất lượng nhân viên đồng đều, theo tiêu chuẩn

- Do chuyên nghiệp nên có nhiều điều kiện tạo ra sản phẩm mới và cải tiến quy trình, biểu mẫu

- Giảm thiểu chi phí tác nghiệp

- Có bộ phận kiểm soát, phân định quyền hạn và trách nhiệm kiểm tra toàn bộ hoạt động của trung tâm nên có thể hạn chế rủi ro ở mức cao nhất

- Trình độ công nghệ tiên tiến hiện đại nên trung tâm có thể hoạt động thông suốt cho tất cả các chi nhánh trong khu vực Châu Á mà vẫn đảm bảo về mặt chất lượng giao

Trang 35

dịch, thời gian và tính bảo mật thông tin nhờ quy trình mã khóa, giải mã các bản chứng

từ scan

Thứ hai: cần tập trung đào tạo nghiệp vụ trên toàn hệ thống ngân hàng, nhất là về những thay đổi của UCP600 so với UCP500, sự am hiểu tường tận các điều khoản của UCP600 và ISBP681 Các NHTM phải lên kế hoạch đào tạo cụ thể để có thể đạt được chất lượng đào tạo cao nhất

Trang 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong ngoại thương, việc thanh toán giữa các nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu thuộc hai quốc gia khác nhau phải được tiến hành thông qua ngân hàng bằng những phương thức thanh toán nhất định Việc lựa chọn phương thức thanh toán nào là tùy thuộc vào sự thương lượng giữa hai bên và phù hợp với tập quán cũng như luật lệ trong thanh toán và mua bán quốc tế Nhìn chung trong ngoại thương hiện nay người ta thường sử dụng các phương thức thanh toán như phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu, phương thức ghi sổ và phương thức TDCT

Chương 1 chú trọng trình bày khát quát hoạt động TTQT, vai trò của nó trong nền kinh

tế nói chung và ngân hàng nói riêng Cũng trên cơ sở hoạt động TTQT, chương này giới thiệu những kiến thức cơ bản về phương thức thanh toán TDCT như khái niệm, đặc trưng, quy trình cũng như vai trò của phương thức này…Việc trình bày những cơ sở lý luận chung nhất về phương thức TDCT, việc vận dụng phương thức này vào thực tế của các NHTM nói chung và ngân hàng Mega ICBC chi nhánh Hồ Chí Minh nói riêng sẽ gặp những thuận lợi, khó khăn như thế nào? Những vấn đề nào còn tồn đọng và cần

được giải quyết? Những câu hỏi đó sẽ được giải đáp ở chương tiếp theo

Trang 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG THANH TOÁN TDCT TẠI NGÂN HÀNG TMQT MEGA CN TP HCM

2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMQT MEGA

2.1 1 Tổng quan về Ngân hàng TMQT Mega Đài Loan

Ngân hàng TMQT Mega ra đời vào ngày 21/08/2006 từ sự sáp nhập của hai ngân hàng có lịch sử lâu đời ở Đài Loan là Ngân hàng TMQT Trung Quôc và Ngân hàng Chiao Tung

Vào năm 1971, Ngân hàng Trung Quốc được tư nhân hóa trở thành Ngân hàng TMQT Trung Quốc (ICBC) mà tiền thân là sự kết hợp của Ngân hàng Ta Ching và ngân hàng Hupu Ngân hàng TMQT Trung Quốc được biết đến như là một ngân hàng chuyên

về TMQT và ngoại hối Với lợi thế về mạng lưới CN và ngân hàng đại lý rộng khắp trên thế giới, tài sản ngân hàng khổng lồ và kết quả kinh doanh xuất sắc, Ngân hàng TMQT Trung Quốc trở thành ngân hàng hàng đầu tại nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Ngân hàng Chiao Tung được thành lập vào năm 1928, được chuyển thành ngân hàng công nghiệp vào năm 1975, trở thành ngân hàng phát triển vào năm 1979 và chuyển mình từ một ngân hàng nhà nước thành ngân hàng tư nhân vào năm 1999 Trong nhiều năm qua, Ngân hàng Chiao Tung đã có những đóng góp đáng kể trong việc cải thiện cơ cấu công nghiệp bằng cách hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp chiến lược

và quan trọng phù hợp với chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế của chính phủ

Vào ngày 21/08/2006, nhằm mở rộng quy mô kinh doanh và tăng thị phần, Ngân hàng TMQT Trung Quốc và ngân hàng Chiao Tung chính thức sáp nhập thành Ngân hàng TMQT Mega Tính đến cuối năm 2012, ngân hàng TMQT Mega có 107 CN ở trong nước, 21 CN và 3 văn phòng đại diện ở nước ngoài

Trang 38

Bảng 2.1 Mức xếp hạng tín dụng của Ngân hàng TMQT Mega Đài Loan

Nguồn: báo cáo tài chính năm 2012 của Hội sở Mega Đài Loan

2.1 2 Tổng quan về Ngân hàng TMQT Mega CN TP HCM

Ngân hàng TMQT Mega CN TP HCM được thành lập vào ngày 10/8/1996 theo giấy phép kinh doanh số 25/GP-NHNN cấp ngày 3/5/1996, trực thuộc tập đoàn tài chính Mega ở Đài Loan Việc thành lập CN với vốn điều lệ ban đầu là 15 triệu USD (nay là 90 triệu USD) nhằm mục đích mở rộng mạng lưới dịch vụ tài chính với mong muốn cung cấp những dịch vụ chất lượng và hiệu quả cho khách hàng của mình

Các hoạt động chính của ngân hàng:

- Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các tổ chức, cá nhân

- Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho các tổ chức, cá nhân

- Dịch vụ TTQT theo tính chất và năng lực về vốn của Ngân hàng gồm các dịch

vụ chuyển tiền (TTR), thư tín dụng (L/C), nhờ thu (D/P và D/A)…

- Thực hiện các giao dịch ngoại hối và cung cấp dịch vụ liên quan đến các giao dịch giữa các khách hàng với các dịch vụ ngân hàng khác trên cơ sở được sự chấp nhận của NHNN

Ngân hàng có trụ sở tại tầng trệt, tòa nhà Landmark, số 5B Tôn Đức Thắng, Quận

1, TP HCM

Cơ cấu tổ chức ngân hàng TMQT Mega CN TP HCM

Trang 39

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức ngân hàng TMQT Mega CN TP HCM

Trong cơ cấu tổ chức của ngân hàng TMQT Mega CN TP HCM có sự khác biệt

so với các ngân hàng khác khi tách biệt hoàn toàn nghiệp vụ TTQT theo phương thức chuyển tiền (T/T) với phương thức L/C và nhờ thu

2.2 QUY TRÌNH THANH TOÁN TDCT TẠI NGÂN HÀNG TMQT MEGA CN

TP HCM

2.2.1 Quy trình thanh toán TDCT hàng nhập khẩu:

2.2.1.1 Giai đoạn mở thư tín dụng (L/C):

TỔNG GIÁM ĐỐC

PHÒNG CHUYỂN TIỀN VÀ KINH DOANH NGOẠI HỐI

PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC

PHÒNG

TÍN

DỤNG

PHÒNG THANH TOÁN QUỐC TẾ

PHÒNG HÀNH CHÁNH NHÂN SỰ

Trang 40

(4) Khi nhận được L/C từ ngân hàng phát hành, ngân hàng thông báo phải thực hiện việc xác thực L/C

- Nếu L/C được chuyển bằng thư tín thì ngân hàng thông báo đối chiếu chữ ký trên L/C với hồ sơ lưu trữ của mình

- Nếu L/C được chuyển bằng điện thì ngân hàng thông báo sẽ kiểm tra mã khóa của ngân hàng phát hành

Ngày đăng: 20/09/2020, 10:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w