1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số đặc điểm tính cách và cảm nhận hạnh phúc của sinh viên trường đại học kinh tế kỹ thuật

115 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, hạnh phúc và cảm nhận về hạnh phúc vẫn là đề tài thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, không chỉ trong lĩnh vực xã hội như triết học, tâm lý học, xã hội học,… mà còn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN DUY TƯỞNG

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÍNH CÁCH

VÀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA SINH VIÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Hà Nội, 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN DUY TƯỞNG

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÍNH CÁCH

VÀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA SINH VIÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Tâm lý học

Mã số: 60.31.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trương Thị Khánh Hà

Hà Nội, 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều ghi rõ nguồn gốc

Hà nội, Ngày 27 tháng 05 năm 2020

Học Viên

Nguyễn Duy Tưởng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, giảng viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại

học Quốc Gia Hà Nội

Cảm ơn giáo viên hướng dẫn đã quan tâm giúp đỡ tôi trong quá trình

thực hiện đề tài

Xin cảm ơn Ban giám hiệu và các bạn sinh viên Trường Đại học Kinh

tế Kỹ thuật đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc thu thập dữ liệu khảo sát thực tiễn

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, gia đình và những người

thân luôn ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn của mình

Tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng do khả năng còn hạn chế nên luận văn của tôi còn nhiều thiết sót, kính mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn để tôi có thể hoàn thành tốt hơn luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 27 tháng 05 năm 2020

Học Viên

Nguyễn Duy Tưởng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng nghiên cứu 2

3 Khách thể nghiên cứu 2

4 Mục đích nghiên cứu 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Giả thuyết nghiên cứu 3

8 Các phương pháp nghiên cứu 3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ ĐẶC ĐIỂM TÍNH CÁCH VÀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC 5

1.1 Tổng quan một số nghiên cứu về đặc điểm tính cách và cảm nhận hạnh phúc 5

1.1.1 Một số nghiên cứu về tính cách 5

1.1.2 Một số nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc 7

1.1.3 Lòng biết ơn và cảm nhận hạnh phúc 12

1.1.4 Tính đố kỵ và cảm nhận hạnh phúc 14

1.1.5 Đặc điểm của lòng biết ơn 16

1.1.6 Đặc điểm của tính đố kỵ 18

1.2 Một số khái niệm cơ bản 22

1.2.1 Khái niệm tính cách 22

1.2.2 Khái niệm về lòng biết ơn và tính đố kỵ 22

Trang 6

1.2.3 Khái niệm về hạnh phúc và cảm nhận hạnh phúc của sinh viên 24

Tiểu kết chương 1 27

Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Tổ chức nghiên cứu 28

2.1.1 Giai đoạn 1: Nghiên cứu lý luận 28

2.1.2 Giai đoạn 2: Nghiên cứu thực tiễn 29

2.2 Phương pháp nghiên cứu 30

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: 30

2.2.2 Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi 31

2.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 37

Tiểu kết Chương 2 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TÍNH CÁCH VÀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP 40

3.1 Thực trạng một số đặc điểm tính cách và cảm nhận hạnh phúc 40

3.1.1 Một số đặc điểm tính cách cá nhân 40

3.1.2 Sinh viên với việc tự cảm nhận về hạnh phúc của bản thân 46

3.1.3 Thực trạng về tính biết ơn 49

3.1.4 Thực trạng sự hài lòng của bản thân 52

3.2 Tương quan giữa tính cách và cảm nhận hạnh phúc của sinh viên 55

3.2.1 Tương quan giữa các đặc điểm tính cách và cảm nhận hạnh phúc 55

3.2.2 Tương quan giữa sự hài lòng và lòng biết ơn với việc cảm nhận hạnh phúc 58

Tiểu kết chương 3 68

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 69

1 KẾT LUẬN 69

2 KHUYẾN NGHỊ 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu 31

Bảng 2.2: Sự hài lòng của sinh viên về các vấn đề xung quanh cuộc sống 34

Bảng 2.3: Ở thang đo về lòng biết ơn của sinh viên chúng tôi thu được điểm số về độ tin cậy của từng item như sau: 35

Bảng 2.4: Thang đo tính cách của sinh viên trong cuộc sống, với 5 đặc điểm tính cách khác nhau chúng tôi có bảng: 36

Bảng 3.1 Cảm nhận về tính cách của bản thân 40

Bảng 3.2 Cảm nhận hạnh phúc về toàn bộ cuộc sống của sinh viên (%) 46

Bảng 3.3 Cảm nhận hạnh phúc của nam và nữ sinh viên (ĐTB) 47

Bảng 3.5: ĐTB Tính biết ơn của bản thân 49

Bảng 3.6: ĐTB sự hài lòng của bản thân 53

Bảng 3.7 Tương quan mối quan hệ giữa tính cách với hạnh phúc của sinh viên 55 Bảng 3.8 Tương quan Person giữa sự hài lòng; cảm thấy hạnh phúc ở sinh viên 59

Bảng 3.9 Tương quan Person giữa lòng biết ơn; cảm thấy hạnh phúc ở sinh viên 62

Bảng: 3.10 Mối tương quan của việc không cảm thấy biết ơn; cảm nhận hạnh phúc 66

Trang 9

về tính cách của bản thân mình cũng như tính cách của người khác Trong khi

đó, tính cách lại có một vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống, nó giúp bản thân hòa nhập được với cuộc sống đầy biến động xung quanh

Hạnh phúc là gì? Có lẽ mỗi người trong chúng ta đều đã từng đặt câu hỏi như vậy Người ta có thể cảm nhận được hạnh phúc nhưng để mô tả nó một cách rõ ràng thì không phải là điều đơn giản Sinh viên là độ tuổi ở giai đoạn chuyển giao từ tuổi thanh niên sang tuổi trưởng thành, đồng thời, đây là giai đoạn chuyển đổi từ bậc học phổ thông sang việc học ở bậc đại học Sinh viên bắt đầu với cuộc sống tự lập và tự định hướng cho cuộc sống của bản thân Vì vậy, việc nắm bắt các đặc điểm về tính cách cũng như cách cảm nhận hạnh phúc của họ có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong cuộc sống sau này của họ

Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp là trường có truyền thống lâu đời về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về kinh tế - kỹ thuật Bên cạnh việc nâng cao chất lượng đào tạo, Nhà trường cũng rất quan tâm đến việc cân bằng đời sống tinh thần của các bạn SV

Trang 10

Nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu trong nước và trên thế giới quan tâm Nó được coi là hướng nghiên cứu mới mẻ trong lĩnh vực tâm lý học Trong khi đó, các đặc điểm tính cách được coi là vấn đề trọng tâm khi nghiên cứu về tâm lý học Tuy nhiên, việc kết hợp nghiên cứu giữa một số đặc điểm tính cách với cảm nhận hạnh phúc trên nhóm khách thể là SV thì dường như chưa được khai thác Vì vậy, có thể nói rằng triển khai đề nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Một số đặc điểm tính cách và

cảm nhận hạnh phúc của sinh viên Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp” nhằm làm rõ ảnh hưởng của một số đặc điểm của tính cách

đến cảm nhận hạnh phúc của sinh viên, từ đó đưa ra những nhận định giúp sinh viên rèn luyện những tính cách tốt, nâng cao cảm nhận hạnh phúc của bản thân

2 Đối tượng nghiên cứu

Chỉ ra một số đặc điểm tính cách và cảm nhận hạnh phúc của SV và mối liên hệ giữa một số đặc điểm tính cách đó với cảm nhận hạnh phúc của

SV trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận:

+ Đọc, phân tích, tổng hợp tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

Trang 11

+ Đề xuất một số khái niệm công cụ của đề tài như khái niệm tính đố

kỵ, tính biết ơn, cảm nhận hạnh phúc

- Nghiên cứu thực tiễn:

+ Nghiên cứu chỉ ra thực trạng tính đố kỵ, tính biết ơn, cảm nhận hạnh phúc của sinh viên Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp + Phân tích mối quan hệ giữa tính đố kỵ, tính biết ơn, cảm nhận hạnh phúc của sinh viên Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp + Rút ra kết luận và đề xuất một số kiến nghị

7 Giả thuyết nghiên cứu

Một số đặc điểm của tính cách của sinh viên Trường Đại học Kinh tế

Kỹ thuật Công nghiệp có tương quan thuận với cảm nhận hạnh phúc Mối quan hệ này có bị ảnh hưởng bởi các yếu tố giới tính, địa bàn sinh sống, điều kiện kinh tế xã hội của gia đình

8 Các phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

Phương pháp này giúp chúng tôi có thêm nhiều cơ sở để tiến hành nghiên cứu đề tài Qua đây, chúng tôi biết được rằng, những nghiên cứu trước đã làm được những gì, nghiên cứu của chúng tôi góp phần củng cố luận điểm nào, bổ sung luận điểm nào Những tài liệu mà chúng tôi sử dụng để viết tổng quan cho đề

Trang 12

tài nghiên cứu được tham khảo từ các tạp chí khoa học, từ luận văn, luận án tiến sĩ cũng như trên những trang Web cả Tiếng Việt lẫn Tiếng Anh

8.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Phương pháp này được chúng tôi sử dụng nhằm mục đích thu thập được các thông tin định lượng liên quan đến tính đố kỵ, tính biết ơn, cảm nhận hạnh phúc, và một số thông tin nhân khẩu của khách thể

8.3 Phương pháp sử dụng thang đo

Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi có sử dụng các thang đo của nước ngoài để đánh giá tính đố kỵ, tính biết ơn, cảm nhận hạnh phúc của sinh viên

Các cuộc phỏng vấn sâu được xây dựng với các kỹ thuật hỏi chuyện

8.5 Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học

(SPSS):

Đề tài sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 22.0 để thực hiện các phép toán phục vụ cho mục đích nghiên cứu

Trang 13

lý học xã hội, tâm lý học cá nhân và tâm bệnh học

Lý thuyết về tính cách xã hội: Mỗi cá nhân có những đặc điểm tính

cách riêng biệt và độc đáo Theo E.S Fromm cho rằng nhân cách của mỗi người chính là kết quả của quá trình tương tác giữa các nhu cầu bẩm sinh và

áp lực của chuẩn mực xã hội, ông có hai xu hướng tính cách xã hội: kiểu hiệu

quả và kiểu không hiệu quả

Theo Bratus nhà tâm lý học người Nga, ông quan tâm đến thái độ của

cá nhân đối với người khác và đối với bản thân Dựa vào những thái độ đặc trưng mà cá nhân ứng xử với môi trường xung quanh, ông đã phân chia thành bốn cấp độ tính cách: cấp độ tự kỷ trung tâm, cấp độ nhóm trung tâm, cấp độ nhân văn và cấp độ tinh thần- siêu linh

Trang 14

Lý thuyết về tính cách cá nhân: Trong hệ thống lý thuyết phân tâm học

của mình, S Freud đã đề cập đến vấn đề tính cách của cá nhân Có 3 luận điểm chính: thứ nhất, tính cách của cá nhân là một hệ thống các đam mê cá nhân quy định chứ không phải hành vi của họ; thứ hai, đặc điểm tính cách của mỗi cá nhân có nguồn gốc từ một hình thức đặc biệt đó là xung năng sống (libido) là xung năng tính dục giữ vai trò chủ đạo; thứ ba, ông cho rằng bản chất của tính cách không phải bắt nguồn từ một thuộc tính đơn lẻ nào đó mà

là một cấu trúc tâm lý hoàn chỉnh của tập hợp liên quan chặt chẽ và phụ thuộc

lẫn nhau của các thuộc tính riêng lẻ Carl Jung lại cho rằng những khác biệt

tâm lý cá nhân là bẩm sinh và dựa vào đó ông đã phân chia thành hai nhóm người là nhóm hướng ngoại và nhóm hướng nội: Nhóm hướng ngoại có đặc điểm như hướng ra thế giới bên ngoài, do vậy ý kiến của người khác, những chuẩn mực chung hay những tình huống khách quan là những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của họ nhiều hơn so với thái độ chủ quan của họ đối với hiện thực xung quanh Những người thuộc nhóm hướng nội thường định hướng vào cảm xúc của bản thân nhiều hơn so với hoàn cảnh bên ngoài và

những người xung quanh

Các lý thuyết về tính cách ranh giới: Các lý thuyết về tính cách ranh

giới đều xuất phát từ cách tiếp cận tâm bệnh học và phần lớn các tác giả của

lý thuyết này là các nhà tâm thần học, tâm bệnh học và tâm lý học lâm sàng Khái niệm “tính cách ranh giới” được dịch nghĩa từ thuật ngữ “Akzentuierte”

do Karl Leonhrd một nhà tâm thần học đồng thời là nhà tâm lý học người Đức đưa ra vào năm 1968 Ông cho rằng những dạng tính cách này được đặc trưng bởi tính sẵn sàng phát triển thành các nhân cách đặc biệt: hoặc trở thành người có hành vi xã hội tích cực hoặc trở thành người có hành vi xã hội tiêu

cực Karl Leonhard (1904- 1988) trong cuốn sách của mình xuất bản ở Berlin

năm 1976 đưa ra phân loại các dạng tính cách ranh giới gồm những kiểu sau: kiểu phô diễn; kiểu cố chấp; kiểu hoang tưởng; kiểu kích động; kiểu tăng

Trang 15

động; kiểu nặng nề; kiểu lo âu; kiểu nhẹ dạ; kiểu biểu cảm; kiểu bất ổn; kiểu hướng ngoại; kiểu hướng nội Trong hoạt động giao tiếp tính cách của con người được bộc lộ rất rõ ràng, ngay cả việc lựa chọn hành động để tiến hành, trên cơ sở mục tiêu, hứng thú, niềm tin riêng biệt, mỗi cá nhân có phương thức hành động riêng, bày tỏ xúc cảm riêng và đặc biệt là tỏ ra khác biệt về tính cách Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài trong tính cách cá nhân chúng tôi tập trung vào biểu hiện về lòng biết ơn và tính đố kỵ trong việc cảm nhận hạnh phúc của cá nhân

1.1.2 Một số nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc

Descartes có sự phân biệt giữa hạnh phúc thông thường và hạnh phúc linh thánh Hạnh phúc thông thường “chỉ phụ thuộc vào các sự vật bên ngoài”, và điều này là đối lập với hạnh phúc linh thánh (béatitude) bao hàm

“một sự toại ý hoàn hảo của trí tuệ cùng sự thỏa mãn nội tâm”

Ngày nay, hạnh phúc và cảm nhận về hạnh phúc vẫn là đề tài thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, không chỉ trong lĩnh vực xã hội như triết học, tâm lý học, xã hội học,… mà còn lan sang cả những ngành thuộc khoa học tự nhiên như sinh học, kinh tế học,… Hạnh phúc trở thành một ngành khoa học, khoa học nghiên cứu về hạnh phúc Đặc biệt, không dừng lại ở những lý thuyết, nhận định, các nghiên cứu về hạnh phúc bắt đầu được hình thành, được đo đạc, tính toán định lượng Kết quả là các nhà khoa học chỉ ra vai trò của từng yếu tố cụ thể trong cấu trúc hạnh phúc của con người Đầu tiên là vai trò của các yếu tố sinh học: Nhóm nghiên cứu Lauri Nummenmaa, tại Phần Lan đã khảo sát trên 700 khách thể bằng cách cho họ xem hai bóng thân thể đồng thời với các lời, câu chuyện, bộ phim tạo ra cảm xúc hay các biểu hiện trên khuôn mặt, sau đó tô màu những vùng trên cơ thể

mà họ cảm thấy làm tăng hay giảm hoạt động của mình Kết quả nghiên cứu cho thấy, tương ứng với màu vàng biểu thị mức độ hoạt động cao nhất, hạnh

Trang 16

phúc được xem là “cảm xúc duy nhất khiến cơ thể tràn ngập hoạt động, sẵn sàng lao vào hoạt động hay khiến ta muốn nhảy cẫng lên”

Vai trò của tiền bạc: Chúng ta đều biết rằng tiền bạc – đại diện cho của cải, vật chất đóng một vị trí quan trọng trong đời sống của con người Vậy, liệu tiền có làm cho con người hạnh phúc? Nhà tâm lý học Daniel Kahneman thuộc Trường Đại học Princeton (Mỹ) – người giành giải thưởng Nobel Kinh

tế năm 2003 vì những đóng góp của ông trong việc nghiên cứu nguyên nhân tiền bạc có thể mua được hạnh phúc nhưng không làm con người hạnh phúc Qua việc nghiên cứu về hạnh phúc, ông đưa ra một công cụ mới xem xét hạnh phúc gọi là “phương pháp lượng giá ngày hôm trước” Theo phương pháp này, những người tham gia ghi lại việc làm của mình trước đó, sống với ai, làm gì với ai, lượng giá mỗi việc làm và mỗi cảm xúc theo thang 7 điểm Theo ông, các nhà tâm lý nên chú trọng đến các trải nghiệm của người ta hơn

là chỉ thăm dò những cảm nghĩ của họ Về quan hệ giữa trí thông minh - khả năng trí tuệ với hạnh phúc: Cũng trong nghiên cứu nói trên của Ectward Diener, kết luận được nêu đáng để phải suy nghĩ là, thông minh không có ảnh hưởng gì đến hạnh phúc Diener giải thích, người thông minh thường nuôi những ước vọng cao và rất cao Bởi vậy, họ sẽ khó thỏa mãn với những gì không phải thành quả cao nhất Người bình thường mơ ước thành đạt được như họ Nhưng với họ, thành đạt như thế có thể vẫn là quá ít, và đó là nguyên nhân khiến họ ít thấy mình hạnh phúc

Trong nghiên cứu kéo dài 15 năm với hơn 30 ngàn người Đức, Diener

và công sự đã rút ra kết luận thú vị rằng những người hạnh phúc thường dễ kết hôn và chấp nhận đời sống hôn nhân sau đó Trong tạp chí nghiên cứu về hạnh phúc do ông làm chủ biên, ông đã phát biểu: "Loài người được tự nhiên ban cho một quá trình tiến hoá mà theo đó chúng ta cần phải có những người khác để cùng nhau tồn tại Vì thế, chúng ta hạnh phúc khi có những người chung quanh cổ vũ nâng đỡ mình, và sẽ rất buồn khi thiếu vắng họ" Có thể

Trang 17

nói, khát khao tìm kiếm, phân tích hạnh phúc của con người là vô cùng to lớn Bên cạnh việc tìm ra những nhân tố có vai trò làm nên hạnh phúc của mỗi người, các nhà khoa học không ngừng hướng tới việc tìm ra một công thức tổng quát, định lượng để đo đạc hạnh phúc Năm 2003, Carol Rothwell và Pete Cohen đã đưa ra công thức để tính hạnh phúc Dựa trên kết quả khảo sát

xã hội học ở 1000 nghiệm thể là người Anh, công thức được đưa ra dưới dạng (Hạnh phúc = P + (5xE) + (3xH)) Trong đó, P là chỉ số cá tính bao gồm: quan niệm sống, khả năng thích nghi và sự bền bỉ dẻo dai trước thử thách E

là chỉ số hiện hữu (Existence) phản ánh tình trạng sức khỏe, khả năng tài chính và các mối quan hệ thân hữu H là chỉ số thể hiện nhu cầu cấp cao (Higher Order) bao gồm lòng tự tôn, niềm mơ ước, hoài bão và cả óc hài hước Dĩ nhiên không nhiều người kỳ vọng ở công thức này, song ở một phạm vi nào đấy, người ta cũng thấy công thức này có giá trị gợi mở nhất định Một công trình nghiên cứu trên quy mô lớn nữa của Quỹ kinh tế mới NFF về chỉ số hạnh phúc hành tinh HPI, công bố lần đầu tiên vào tháng 7/

2006, các nhà khoa học (Marks, Abdallah, Simms, Thompson, et al, 2006) đã chỉ ra được bức tranh về thực trạng hạnh phúc của 178 quốc gia trên thế giới Trong đó, HPI được tính theo công thức: [Mức độ hài lòng của người dân (Life Satisfaction) x Tuổi thọ (Life Expectancy)]/ Môi sinh (Ecological Footprint) Đáng chú ý, trong báo cáo này, Việt Nam đứng thứ 12 về chỉ số hạnh phúc, vượt xa các cường quốc có nền kinh tế phát triển như: Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc Ba năm tiếp theo, năm 2009, NFF tiếp tục có những điều tra về chỉ số hạnh phúc HPI Việt Nam lại vươn lên đứng vị trí thứ 5 trong tổng số 143 quốc gia khảo cứu và là nước châu Á duy nhất nằm trong top 10 nước đầu bảng Đây là một kết quả đáng mừng, tuy nhiên lại gây tranh cãi nhiều ở báo chí trong nước Gần đây nhất, năm 2012, Việt Nam tiếp tục đứng

ở thứ hạng thứ hai trên tổng số 151 nước điều ra về chỉ số này Lý giải cho băn khoăn về độ tin cậy của nghiên cứu, Nick Mark – người sáng lập ra chỉ số

Trang 18

HPI khẳng định: “Những quốc gia có thứ hạng cao nhất trong bảng xếp hạng không nhất thiết là những quốc gia hạnh phúc nhất thế giới, mà nó chỉ có ý nghĩa rằng người dân ở đây có thể đạt được hạnh phúc trong cuộc sống mà không cần phải khai thác và sử dụng tràn lan các nguồn tài nguyên sinh thái” Theo đó, chúng ta có thể thấy, hạnh phúc không nhất thiết đi liền với trình độ giàu – nghèo, phát triển hay kém phát triển, của mỗi quốc gia mà nó phụ thuộc vào số năm, mức độ hài lòng của con người trong cuộc đời của họ và việc không làm tổn hại đến môi trường xung quanh

Bên cạnh đó, chúng ta không thể không nhắc đến một chương trình nghiên cứu khá đồ sộ khác nữa, có tên “Dữ liệu thế giới về Hạnh phúc” (World Databases of Happiness – WDH) do giáo sư Ruut Veenhoven thuộc đại học Erasmus Rotterdam, Netherland công bố năm 2009 “Ông đã tiến hành khảo sát ở 148 quốc gia từ năm 2000-2009 bằng nhiều thang đo có giá trị khoa học khác nhau đã mang lại cho cho chúng ta một cái nhìn khá chuẩn xác về vấn đề và mức độ hạnh phúc của người dân từng quốc gia Câu hỏi căn bản của chương trình khảo sát này là: Bao nhiêu người hạnh phúc với cuộc sống của họ trên tổng thể theo thang đo từ 0 đến 10 Các yếu tố được xét đến trong những khảo sát này bao gồm: Môi trường sống, xã hội vĩ mô, tình trạng

xã hội của cá nhân, các mối liên kết thân tình, năng lực, tính cách, sở thích, hành vi, sự kiện đang diễn ra, lịch sử cuộc đời; và các yếu tố như sự nhận thức, tính xác quyết, hệ quả, việc theo đuổi, niềm tin phổ biến, và triết lý của hạnh phúc (Veenhoven, 06/2009)” Như vậy, cách tiếp cận của WDH khá tổng thể, đi sâu vào những yếu tố thuộc về chủ quan, bên trong con người Khác với cách tiếp cận trước, cảm nhận hạnh phúc, mức độ hài lòng về cuộc sống chỉ là một trong ba thành phần tạo nên chỉ số HPI thì cách tiếp cận của

vị giáo sư này tập trung nhắm vào đo lường mực độ hạnh phúc của người dân một cách toàn diện trên tất cả các phương diện bên trong lẫn bên ngoài ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc của họ Với tổng điểm là 6.1, Việt Nam đứng

Trang 19

vị trí 63-66, cùng với các nhóm nước Hàn Quốc, Indonexia… sau các nước như Nhật bản, Lào… Đặc biệt hơn, Carol Ryff (1989) đã có một bài đánh giá mang tính hệ thống về các lý thuyết và quan điểm trong tâm lý học, ở đó bà xác định được 6 khía cạnh làm nên cảm nhận hạnh phúc như sau: 1) sự chấp nhận bản thân; 2) cảm nhận về các mối quan hệ tích cực; 3) sự tự chủ; 4) khả năng thích ứng với thay đổi của môi trường; 5) cảm nhận về mục đích sống và 6) cảm giác phát triển cá nhân

Bàn về hạnh phúc, bên cạnh các công trình nghiên cứu, các tác giả còn cho ra đời những cuốn sách chia sẻ những kinh nghiệm mà họ tích lũy được qua quá trình nghiên cứu lâu dài, bền bỉ Một trong những tác phẩm đi đầu trong nghiên cứu về hạnh phúc là của Dr Tal Ben-Shahar “The Science of Happiness, (1861) và Happier (2007) trong tác phẩm này ông đưa ra giả thuyết về 4 mẫu người tìm kiếm hạnh phúc Thứ nhất là mẫu người tìm kiếm hạnh phúc trong tương lai, là những người xem hạnh phúc trong tương lai là đích đến chứ không phải là một hành trình, vì vậy họ trở thành nô lệ của tương lai Thứ hai, là kiểu người tìm kiếm hạnh phúc trong hiện tại, có xu hướng tìm kiếm niềm vui và tránh đau khổ, thích thỏa mãn những mong muốn tạm thời trước mắt mà không chú ý tới hậu quả sau này, theo ông họ lại trở thành nô lệ của hiện tại Theo chủ nghĩa hư vô là mẫu người thứ 3, cho rằng cuộc sống là vô nghĩa, không thể có hạnh phúc, luôn ám ảnh bởi những thất bại trong quá khứ Cuối cùng là kiểu người tìm lối sống hạnh phúc, hòa hợp giữa hiện tại và tương lai

Tác giả Martin Seligman với cuốn “Hạnh phúc đích thực”, (2004) (Authenic happiness) cho rằng: “Người hạnh phúc là người say mê hoạt động quên bản thân và thời gian, sống theo bản năng và không trông đợi vào những hoàn cảnh cũng như tác động của xã hội” Ông xác định các yếu tố trụ cột tạo nên hạnh phúc, đó là: cảm xúc tích cực, sự gắn kết, cuộc sống có ý nghĩa Sau

Trang 20

này, ông bổ sung thêm hai tiêu chí nữa trong cuốn Well – Being (2011) chính là: các mối quan hệ tích cực và đạt được thành tựu (Achievement)

Tác giả Matthieu Recard với cuốn Bàn về hạnh phúc nêu ra ba biểu hiện của hạnh phúc là: 1 Khoảnh khắc hạnh phúc (Một cảm xúc dễ chịu, một trạng thái thanh thản, một niềm vui tràn trề,…); 2 Hạnh phúc của cuộc sống đầy đủ (điều kiện sống tốt) và 3 Hạnh phúc an lạc (trước mọi hoàn cảnh dù khó khăn hay thuận lợi vẫn an nhiên tự tại vui sống, cảm thấy cuộc đời có ý nghĩa) Theo tác giả, nếu 2 yếu tố đầu được xem là yếu tố hạnh phúc đến từ bên ngoài, từ những điều kiện ngoại cảnh thì Hạnh phúc an lạc được xem là

hạnh phúc từ bên trong, phụ thuộc vào các điều kiện nội tâm

1.1.3 Lòng biết ơn và cảm nhận hạnh phúc

Lòng biết ơn đã được coi là một cảm xúc đạo đức có liên quan mạnh

mẽ với ảnh hưởng tích cực (Watkins et al., 2009) Theo Fredrickson (2004), lòng biết ơn hoạt động giống như những cảm xúc tích cực khác, mở rộng tiết mục về khả năng hành động tư tưởng và xây dựng nguồn lực cá nhân lâu dài

Do đó, có thể việc nuôi dưỡng lòng biết ơn có thể thúc đẩy hạnh phúc trong khi cũng tạo ra hy vọng Lòng biết ơn đã được tương quan tích cực với sự hài lòng với cuộc sống, ảnh hưởng tích cực và hạnh phúc (Watkins, Woodward, Stone, & Kolts, 2003) Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng các kiểu phản ứng đặc trưng của lòng biết ơn đặc trưng cho hạnh phúc (trên và ngoài tính cách, được đo bằng Big Five) dựa trên thông tin và tự báo cáo (McCullough et al., 2002) Hill và Allemand (2011) phát hiện ra rằng những đặc điểm biết ơn và tha thứ mà mỗi người chiếm giữ hạnh phúc khi kiểm soát người kia Tác giả khuyên các nhà nghiên cứu thử nghiệm nhiều biến số đặc điểm liên quan đến đạo đức để thúc đẩy nghiên cứu về hạnh phúc và áp dụng phương pháp này để nghiên cứu hy vọng và hạnh phúc

Sự đánh giá cao những điều tốt đẹp trong cuộc sống của một người có thể khiến những người biết ơn tránh được lợi ích và được duy trì hạnh phúc

Trang 21

và sự hài lòng của họ theo thời gian (McCullough et al., 2002) Watkins, Woodward, Stone và Kolts (2003) đã đưa ra một khung lý thuyết xác định ba đặc điểm riêng biệt trong một cá nhân biết ơn, đặc điểm đầu tiên là thiếu cảm giác thiếu thốn; thứ hai là xu hướng đánh giá cao những thú vui đơn giản, và cuối cùng là xu hướng đánh giá cao những đóng góp của người khác đối với hạnh phúc của một người khác và bày tỏ lòng biết ơn này Trong khi lòng biết

ơn và hạnh phúc gắn liền với sự phong phú, hy vọng được định hướng để có được sự phong phú, để thỏa mãn sự thiếu hụt hoặc để giảm bớt rắc rối trong tương lai (gần hoặc xa) Nghiên cứu tính cách Big five với cảm nhận hạnh phúc (Arsh Ziapour, Alireza Khatony, Faranak Jafanak Jafari, Neda Kianipour, 2018) Những phát hiện của nghiên cứu này cho thấy mối quan hệ tích cực đáng kể giữa tổng số đặc điểm tính cách và tổng hạnh phúc Hơn nữa,

sự vượt trội có mối tương quan mạnh mẽ với hạnh phúc, trong khi sự cởi mở

để trải nghiệm có mối tương quan thấp nhất với hạnh phúc

Các nghiên cứu thực nghiệm gần đây đã cho thấy mối liên hệ tích cực của khuynh hướng biết ơn với hạnh phúc chủ quan (Emmons & McCullough, 2003; McCullough và cộng sự, 2002; Thomas & Watkins, 2003; Watkins et al., 2003; Wood, Froh, & Geraghty, 2010) Kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy tầm quan trọng của lòng biết ơn là một yếu tố bảo vệ có thể có trong chăm sóc sức khỏe và do đó tầm quan trọng của các biện pháp đánh giá tình trạng biết ơn

Trong môn nghiên cứu tâm lý học tích cực tại Trường Y Harvard, lòng biết ơn thường được định nghĩa là sự cảm kích của chúng ta với những thứ có giá trị hay ý nghĩa mà chúng ta có được Lòng biết ơn không chỉ thiên về

“không nói như những gì bạn làm”, theo Emmons Tờ NBC khẳng định rằng: phàn nàn về vấn đề của ai đó có thể gây ra lo lắng và suy nhược Tuy vậy, nghiên cứu cũng đưa ra lợi ích của việc “nói ra” (chia sẻ) nhưng cần nhất vẫn

là có sự cân bằng

Trang 22

Theo chia sẻ của Emmons, những người biết ơn thường có ngôn phong đặc biệt và thường nói về các nội dung như: quà tặng, sự cho đi, những điều

an lành,… Trái lại, người kém lòng biết ơn thường có xu hướng nói về sự tước đoạt, sự xứng đáng, điều hối tiếc, thiếu thốn, nhu cầu, sợ hãi và mất mát… Ông khuyên rằng nên cẩn trọng với những điều mình nói, nếu không dần dà chúng ta sẽ trở thành người kém biết ơn Bên cạnh đó, họ ít ghen tị với những người giàu có vì họ có tính xã hội cao hơn và có xu hướng chia sẻ tài sản của họ với những người khác so với những người ít biết ơn hơn Như vậy,

từ nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy lòng biết ơn và cảm nhận với hạnh phúc luôn có mối tương quan chặt chẽ thuận chiều nhau, đây cũng là cơ sở hình thành được nhiều cảm xúc tích cực khác cho cá nhân trong cuộc sống

1.1.4 Tính đố kỵ và cảm nhận hạnh phúc

Tính đố kỵ là một cảm xúc phổ biến trong cuộc sống của con người, đó

là do các mối đe dọa, cạnh tranh và bảo vệ, khi một người cảm thấy những gì

họ có thể bị lấy đi từ họ do một điều gì đó tốt hơn Họ được bảo vệ và ghen tị nếu các mối đe dọa phát sinh Tính đố kỵ được định nghĩa là một phản ứng cảm xúc đối với sự từ chối xã hội Sợ bị từ chối và mất những gì họ có nên họ bảo vệ nó hết mức có thể, và nếu họ cảm thấy họ không thể bảo vệ nó hoặc làm bất cứ điều gì về các mối đe dọa, điều đó gây ra sự căng thẳng lớn cho lòng tự trọng và hạnh phúc của người này và điều này có thể gây thiệt hại cho những mối quan hệ trong tương lai của những người có cảm xúc tích cực hoặc bất kỳ mối quan hệ nào họ có thể có (DeSteno, Valdesolo & Bartlett, 2006)

Theo quan điểm của Nadler & Dotan (1992) cho rằng tính đố kỵ liên quan đến hai mối đe dọa khác nhau, đó là mối đe dọa đối với mối quan hệ hiện tại và suy nghĩ về việc mất đi những gì họ có và mối đe dọa khác về lòng

tự trọng bởi đối tác chọn ai đó tốt hơn ở vị trí của họ, khiến họ trở nên tốt hơn cảm thấy không tốt hoặc không hạnh phúc và cũng có thể không mong muốn Chính điều đó tạo cho họ cảm giác ghen tuông trong mối quan hệ hoặc mối

Trang 23

quan hệ tương lai mà họ có thể có Một số người có thể có cảm giác ghen tuông trong mối quan hệ của họ ngay cả khi không có dấu hiệu nguy hiểm trong mối quan hệ của họ, điều này là do người có lòng tự trọng thấp và luôn cảm thấy rằng họ không đủ tốt cho người họ ở cùng, vì vậy họ luôn nghĩ rằng khi đối tác của họ không ở bên họ thì họ sẽ tìm thấy ai đó tốt hơn họ, điều này

có thể gây căng thẳng lớn cho mối quan hệ

Tính đố kỵ là phổ biến trong rất nhiều mối quan hệ và một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng hầu hết những điều này là do người hành động ghen tuông, chịu đựng lòng tự trọng thấp Ghen tỵ có mối quan hệ nhất định với hạnh phúc của mỗi cá nhân, mặt khác tính đố kỵ còn được định nghĩa là cảm xúc, suy nghĩ và hành động có thể gây tổn thương và căng thẳng cho một mối quan

hệ hạnh phúc do bản thân cảm thấy bị đe dọa bởi một vài yếu tố tác động đến tính cách của mỗi người Những người có tính đố kỵ thấp có khả năng tưởng tượng ra những tình huống về mối quan hệ xung quanh và không cảm thấy hạnh phúc với họ Họ tưởng tượng rằng đối tác của họ sẽ không đủ hạnh phúc với họ và tìm ai đó mà họ cảm thấy tốt hơn họ Đó là nỗi sợ bị từ chối và hoang tưởng và không cảm thấy tốt về bản thân, cảm giác chiếm hữu và kiểm soát của nó và nó có thể làm tổn thương người và những người gần gũi với

họ, vì bất hạnh và tức giận và đó là cảm giác mà hầu hết mọi người không thể kiểm soát (Firestone, 2011)

Mặt khác, tác giả Melamed (1991) Nói rằng những người ghen tị rất lo lắng và không hài lòng với mọi thứ Họ không an toàn và phụ thuộc vào người khác Một nghiên cứu cho thấy tính đố kỵ phụ thuộc vào loại mối quan

hệ của những người này, họ phụ thuộc vào nhau rất nhiều, điều này có thể gây

ra sự xung đột về mối quan hệ hạnh phúc và tính đố kỵ cao lên

Trong khi đó tác giả White (1981) đã chỉ ra rằng rằng tính đố kỵ là khi mọi người có những cảm xúc, suy nghĩ, đe dọa và hành vi lẫn lộn xuất phát từ lòng tự trọng mà họ mang theo và thể hiện khi họ ở trong mối quan hệ có sự

Trang 24

cảm nhận hạnh phúc Nghiên cứu này được thực hiện vào năm 1981 nhằm tìm

ra những mối tương quan khác nhau của sự đố kỵ trong các mối quan hệ lãng mạn Phần lớn những người tham gia là sinh viên tại một trường đại học ở Los Angeles tuổi đối với nam tham gia là 22 và đối với nữ là 21,50% số người tham gia được xếp hạng Kết quả cho thấy cả nam và nữ đều có mối tương quan ngược chiều với cảm giác không thỏa đáng, cảm giác không tốt trong các mối quan hệ lãng mạn Do đó giới tính cũng là một yếu tố để xác định được mức độ đố kỵ so với sự cảm nhận hạnh phúc cá nhân

Như vậy, tính đố kỵ có mối tương quan nghịch với cảm nhận hạnh phúc Nếu như mỗi cá nhân có tính đố kỵ thấp thì sự cảm nhận hạnh phúc cao hơn so với những người có tính đố kỵ cao Nghiên cứu này tiến hành đo lường thực trạng tính cách của cá nhân có tác động đến sự cảm nhận hạnh phúc của cá nhân

1.1.5 Đặc điểm của lòng biết ơn

Gia đình là tế bào của xã hội ở đó chúng ta luôn có nhiều quy tắc khác nhau từ những việc phải làm, được phép làm và không được phép thực hiện,… đó chính là những khuôn mẫu, đạo đức xã hội, ở đó là những khuôn mẫu mà mỗi cá nhân cần phải làm theo và những điều cần tránh và có những điều nếu vi phạm sẽ bị lên án từ mọi người xung quanh cũng như từ xã hội Lòng biết ơn cũng là một trong nhiều điều nằm trong khuôn mẫu đạo đức đó,

vì vậy cho nên đây cũng là điều được quan tâm từ nhiều hướng khác nhau, từ gia đình tới xã hội Trong gia đình ông bà, cha mẹ thường xây dựng và dạy con cháu cần có lòng biết ơn với người đi trước, được biểu hiện nhỏ nhất từ việc biết nói “cảm ơn”, lòng biết ơn được xem như là một trong số nhiều chuẩn mực xã hội cơ bản mà một cá nhân cần có nó vừa là cảm nhận của cá nhân vừa được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành động Việc dành thời gian bày tỏ lòng biết ơn và cảm kích những điều mà một cá nhân nhận được từ những người xung quanh nói riêng và từ cuộc sống nói chung, dù là hữu hình

Trang 25

hay vô hình, sẽ khiến chúng ta cảm nhận được nhiều cảm xúc tích cực hơn, tận hưởng những trải nghiệm tốt đẹp, cải thiện sức khỏe để đương đầu với nghịch cảnh và xây dựng các mối quan hệ vững chắc Tất cả đều là những điều cần thiết cả trong công việc lẫn cuộc sống Là một trong những giá trị đạo đức quan trọng, lòng biết ơn cũng nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau trong sự kết nối với nhiều yếu tố khác Lòng biết ơn là một cảm giác biết ơn và niềm vui khi nhận được một món quà, cho dù món quà là một lợi ích hữu hình từ một người khác hoặc một khoảnh khắc của hạnh phúc, vui vẻ được gợi lên bởi vẻ đẹp tự nhiên Steven Toepfer, thông qua nghiên cứu của mình đã khẳng định mối liên hệ gần gũi giữa lòng biết ơn và sự khỏe mạnh (thể chất và tinh thần) của

cơ thể Emmons cũng khẳng định rằng lòng biết ơn giúp cho cuộc sống tự do, nhẹ nhàng và dễ chịu hơn, cũng từ lòng biết ơn giúp chúng ta có sức mạnh để kiểm soát đời sống cảm xúc của chính bản thân mình Đặc biệt trong nhiều năm trở lại đây các nghiên cứu về lòng biết ơn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm cả về các trải nghiệm cũng như sự biểu hiện của nó về mặt tình cảm,

xã hội hay thể chất cá nhân (Emmons & McCullough, 2003; Froh et al, 2008; Watkins, Woodward, Stone, & Kolts, 2003) Nhiều tác giả cũng đã tìm thấy mối quan hệ của lòng biết ơn với chất lượng của cuộc sống như sự hạnh phúc, niềm lạc quan và các ảnh hưởng tích cực Nghiên cứu tại đại học Pennsylvania, (2005) cũng đã khẳng định một trong những yếu tố góp phần quan trọng nhất vào hạnh phúc nói chung trong cuộc sống là việc chúng ta thể hiện lòng biết ơn nhiều thế nào, chúng ta có thể trải nghiệm sự khác biệt đáng

kể mỗi ngày chỉ với một thể hiện rất nhỏ như 3 từ “Cảm ơn vì…” Các nhà nghiên cứu đã chứng minh những lợi ích to lớn mà việc thực hành lòng biết

ơn mang lại cho sức khỏe thể chất lẫn tinh thần như: giúp khỏe mạnh hơn, cải thiện giấc ngủ và thậm chí còn giúp tăng cường sức đề kháng cho cơ thể Một nghiên cứu năm 2011 trên 200 sinh viên đại học có cuộc sống hạnh phúc cho

Trang 26

thấy rằng, những ai viết một lá thư ý nghĩa về lòng biết ơn mỗi tuần trong khóa học suốt 3 tuần (dành khoảng 15-20 phút cho mỗi lần viết thư) thì có được sự gia tăng đáng kể về sự hài lòng về cuộc sống, niềm vui và giảm được các triệu chứng phiền muộn, suy nhược ở nhiều nghiên cứu, các tác giả cũng khẳng định rằng dường như không có sự khác biệt ở giới tính về lòng biết ơn

đã được phát hiện, mặc dù công việc trước đây cho thấy phụ nữ có thể có lợi thế hơn nam giới trong việc trải nghiệm và hưởng lợi từ lòng biết ơn (Kashdan, Mishra, Breen, & Froh, 2009; Schwartz & Rubel, 2005; Timmer, Fischer, & Manstead, 1998) Nhưng mức độ biết ơn lại được thấy rằng luôn

có sự thay đổi theo tuổi tác (McAdams & Bauer, 2004), trong đó người cao tuổi có thể dễ dàng xem lòng biết ơn như một trải nghiệm tích cực, bổ ích, thiết yếu so với người trẻ tuổi (Kashdan et al., 2009) Về vấn đề này, kết quả của chúng tôi cho thấy mối tương quan khiêm tốn với tuổi, sẽ biến mất khi so sánh các nhóm người trưởng thành trẻ hơn (từ 29 tuổi trở lên) và lớn tuổi hơn (mặc dù có thể phụ thuộc vào mẫu tương đối trẻ, không đủ biến thiên liên quan đến tuổi Sự đánh giá cao những điều tốt đẹp trong cuộc sống của một người có thể khiến những người biết ơn tránh được lợi ích và được duy trì hạnh phúc và sự hài lòng của họ theo thời gian (McCullough et al., 2002) Watkins, Woodward, Stone và Kolts (2003) đã đưa ra một khung lý thuyết xác định ba đặc điểm riêng biệt trong một cá nhân biết ơn, đặc điểm đầu tiên

là thiếu cảm giác thiếu thốn; thứ hai là xu hướng đánh giá cao những thú vui đơn giản, và cuối cùng là xu hướng đánh giá cao những đóng góp của người khác đối với hạnh phúc của một người khác và bày tỏ lòng biết ơn này

1.1.6 Đặc điểm của tính đố kỵ

Sự ghen ghét luôn là một đặc tính của con người Nó không phải phát sinh

từ xã hội hiện đại, mà có từ rất xa xưa Loài người là những con vật xã hội xây dựng hình ảnh cái tôi bằng cách phân biệt với người khác “Chừng nào con người còn so sánh lẫn nhau thì còn có sự đố kỵ” (S Neckel) Trong xã

Trang 27

hội hiện nay, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, mối quan hệ giữa người với người ngày càng phức tạp dẫn đến việc mỗi cá nhân

Tính đố kỵ là một cảm giác khó chịu, mãnh liệt xuất hiện khi một người nhận ra rằng người khác có thứ gì đó mà người đó khao khát, phấn đấu hoặc mong muốn (Parrott & Smith, 1993; Smith et al., 1996) Tính đố kỵ còn là một cảm xúc xã hội, vì nó phát sinh từ một so sánh tiêu cực đi lên với một người khác (Salovey & Rodin, 1984; Smith, 2000)

Các phương pháp tiếp cận trước đây đã coi sự đố kị có khuynh hướng như một xu hướng chung là ghen tị với những người khác không khác nhau giữa các lĩnh vực so sánh khác nhau (Belk, 1985; Gold, 1996; Lange & Crusius, 2015; Smith et al., 1999) Tuy nhiên, nghiên cứu về trải nghiệm tạm thời đã chỉ ra rằng sự đố kị của nhà nước thay đổi đáng kể giữa các lĩnh vực so sánh (DelPriore, Hill, & Buss, 2012; Salovey & Rodin, 1991) Những khuynh hướng thói quen này đã được khái niệm hóa như một đặc điểm tính cách ổn định (sự đố kị có chủ đích (Ben-Ze’ev, 2000; Gold, 1996) Theo quan điểm của tác giả Belk (1985) sự đố kị như một nhánh của chủ nghĩa duy vật Trong cách tiếp cận này, sự đố kị có khuynh hướng được mô tả như một xu hướng đơn phương để tập trung vào một người khác sở hữu khác Một người có tính

đố kỵ cao luôn có khuynh hướng mong muốn nhiều tài sản khác nhau của người khác, chẳng hạn như đồ vật, kinh nghiệm hoặc cá nhân Theo cách tiếp cận này, Thang đo duy vật (Belk, 1985) đánh giá sự đố kị có tính phân tán như là một thành phần của chủ nghĩa duy vật bên cạnh các thành phần của tính chiếm hữu và tính không đồng nhất

Một khái niệm khác về sự khác biệt đáng kể của cá nhân về mức độ ghen tị đã được cung cấp bởi Gold (1996) Khái niệm sự đố kị có khuynh hướng như một xu hướng chung không theo chiều hướng mong muốn những

gì người khác có, để phẫn nộ người này và thể hiện ý chí xấu xa đối với người ghen tị Dựa trên quan niệm này, Thang đo Độ rõ ràng của York (Gold, 1996)

Trang 28

bao gồm các mục về các tuyên bố cá nhân ngắn, chẳng hạn như “Khi bạn bè của tôi thành công, tôi cảm thấy bị tổn thương” và “Tôi cảm thấy hài lòng với những gì tôi đã nhận được” Mặt khác theo tác giả Smith et al (1999) mô tả

sự đố kị có tính cách như một sự so sánh, dựa trên so sánh đặc điểm cảm xúc bao gồm xu hướng trải nghiệm sự đố kị, cảm giác chung về sự thấp kém và oán giận của những người thành công Smith và cộng sự lập luận rằng một người có xu hướng ghen tị với người khác cũng có xu hướng diễn giải những

so sánh xã hội không thuận lợi là chỉ số của một người kém cỏi Ngược lại, sự thất vọng phát sinh từ những so sánh xã hội không thuận lợi như vậy, dẫn đến

xu hướng chung là phẫn nộ những người khác so sánh (Smith et al., 1999) Dựa trên phương pháp này, Smith et al (1999) đã phát triển Thang đo ghen tị (DES) DES bao gồm tám mục với một số được xây dựng về sự đố kị (ví dụ:

“Tôi cảm thấy ghen tị mỗi ngày”) và một số khía cạnh đo lường sự thấp kém (“Sự thật cay đắng là tôi thường cảm thấy thua kém người khác”) và phẫn nộ (“Thẳng thắn, thành công của hàng xóm khiến tôi bực bội với họ”)

Để giải quyết các phản ứng đố kị khác nhau, Lange và Crusius (2015) tập trung vào hai khuynh hướng khác nhau là các hình thức phản ứng đố kị ở cấp độ đặc điểm Sự đố kị lành tính có khuynh hướng mô tả xu hướng được thúc đẩy nhằm tăng vị thế của người này để phù hợp với người kia, trong khi

sự đố kị độc hại có khuynh hướng mô tả xu hướng giảm tư thế khác để phù hợp với một người khác Cả hai hình thức thuộc về một đặc điểm cảm xúc dựa trên so sánh có liên quan đến sự thất vọng phát sinh từ so sánh xã hội tiêu cực, nhưng chúng khác nhau trong các động lực và hành động liên quan đến cảm giác đó Để đánh giá các khía cạnh động lực và hậu quả hành vi của sự

đố kị, Thang đo ghen tị và ác ý đã được phát triển (Lange & Crusius, 2015)

Nó đo lường xu hướng phấn đấu để có được đối tượng mong muốn khi cảm thấy ghen tị (ví dụ: “Khi tôi ghen tị với người khác, tôi tập trung vào cách tôi

có thể thành công như nhau trong tương lai” và xu hướng phản ứng thù địch khi ghen tị “Cảm giác ghen tị khiến tôi không thích người khác”

Trang 29

Mặc dù những quan điểm và biện pháp khái niệm này khác nhau theo những cách quan trọng, nhưng tất cả chúng đều coi sự đố kị như một hội chứng rộng lớn hơn chứa đựng những khuynh hướng khác nhau đến muộn trong quá trình ghen tị cảm xúc, như phản ứng thù địch với người so sánh Ngược lại, chúng tôi khái niệm sự đố kị có khuynh hướng như một khuynh hướng ổn định đối với những trải nghiệm cảm xúc xuất hiện sớm hơn trong quá trình ghen tị cảm xúc (Ekman, 1972; Gross, 2001; Lazarus, 1991; Levenson, 1994; Plutchik, 1980; Rosenberg, 1998; Scherer, 1984) Chúng tôi lập luận rằng điều quan trọng là phải giải quyết các khác biệt cá nhân trong các trải nghiệm đặc biệt ghen tị với các kết quả liên quan hoặc các cấu trúc liên kết Do đó, chúng tôi khái niệm hóa sự đố kị có khuynh hướng như xu hướng ổn định để trải nghiệm cảm giác khó chịu dữ dội khi phải đối mặt với kết quả so sánh xã hội tiêu cực

Một đặc điểm thứ hai của các cách tiếp cận trước đây đối với sự đố kị

là giả định rằng sự đố kị là một cấu trúc chung không thay đổi giữa các lĩnh vực so sánh Mặc dù các nhà nghiên cứu đã đề cập đến các lĩnh vực so sánh khác nhau của sự đố kị, chẳng hạn như sở hữu của cải và sự hấp dẫn lãng mạn trong Thang đo duy vật (Belk, 1985), xu hướng đố kị vẫn được định nghĩa là chung miền Ngược lại, chúng tôi cho rằng rất hữu ích khi chỉ định các lĩnh vực so sánh xã hội Ghen tị liên quan đến ghen tị định đoạt Xem xét hàng hóa

cụ thể có ý nghĩa quan trọng đối với vị thế xã hội của chúng ta trong xã hội, Bourdieu (1986) đã đưa ra ba hình thức vốn: vốn kinh tế như tiền hoặc tài sản, vốn xã hội như mạng xã hội hoặc những người gần gũi với chính họ và vốn văn hóa như giáo dục hoặc hiểu biết Thật vậy, các lĩnh vực so sánh đặc biệt

có khả năng khơi gợi sự đố kị đã được xác định, sự hấp dẫn lãng mạn, sự hấp dẫn về thể chất, sự giàu có về tài chính, tài sản, thành công trong học tập, sự nổi tiếng, địa vị và trí thông minh (DelPriore et al., 2012) Mọi người khác nhau trong đó miền so sánh đặc biệt quan trọng đối với họ (Salovey & Rodin,

Trang 30

1991) Ví dụ, những người tham gia có sức hấp dẫn rất quan trọng cũng báo cáo cảm giác ghen tị mãnh liệt hơn trong lĩnh vực đó so với lĩnh vực của sự giàu có (Salovey & Rodin, 1991) Bởi vì đố kị có tính cách là một đặc điểm dựa trên so sánh xã hội, chúng tôi lập luận rằng các lĩnh vực của so sánh xã hội là vấn đề khi nói đến sự đố kị

Nghiên cứu trước đây đã tập trung vào các lĩnh vực của sự giàu có hoặc năng lực trong sự đố kị có điều kiện (ví dụ: Belk, 1985; Smith et al., 1999) Dựa trên những phát hiện làm nổi bật tầm quan trọng của lĩnh vực thu hút (ví

dụ DelPriore và cộng sự, 2012), chúng tôi cũng coi các khía cạnh của sự hấp dẫn (tức là thể chất, lãng mạn và xã hội) là một lĩnh vực quan trọng khác của

và thái độ cả cá nhân đó” Các nhà tâm lý học đã nghiên cứu rất nhiều và đưa

ra các quan điểm và các khung lý thuyết khác nhau về tính cách

Tính cách mang đặc điểm ổn định và bền vững; tính thống nhất và đồng thời; tính độc đáo riêng biệt và cuối cùng tính cách mang đặc điểm cá nhân Với những đặc điểm này, tính cách của cá nhân là sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng, cái điển hình và cái cá biệt, tính cách cá nhân luôn chịu sự chế ước của xã hội

1.2.2 Khái niệm về lòng biết ơn và tính đố kỵ

a) Khái niệm về lòng biết ơn

Lòng biết ơn là nhận thức và biết ơn những điều tốt đẹp xảy ra trong cuộc sống của bạn và dành thời gian để bày tỏ sự đánh giá cao và trở lại lòng tốt

Trang 31

Biết ơn nhiều hơn là nói lời cảm ơn Khi bạn bày tỏ lòng biết ơn, nó thực sự

có thể dẫn đến một cảm giác hạnh phúc mạnh mẽ hơn

Lòng biết ơn khác với những cảm xúc quan tâm khác như sự đồng cảm

và lòng trắc ẩn bởi vì nó được học Đó là tin tốt, vì có nhiều cách để dạy nó

và làm mẫu cho trẻ em của bạn Dành thời gian để đánh giá cao những gì bạn có là một trong những chìa khóa để trau dồi lòng biết ơn Tạo một

"môi trường biết ơn" tại nhà cũng có thể giúp trẻ em mang lòng biết ơn vào thế giới trực tuyến

Lòng biết ơn còn được định nghĩa là thái độ trân trọng, ghi nhớ những gì tốt đẹp mà người khác đã dành cho mình Ông bà ta cho rằng, những điều tốt đẹp không tự dưng xuất hiện rồi đến với ta một cách dễ dàng mà đó là sự phấn đấu gây dựng, là cả quá trình đánh đổi, gìn giữ của thế hệ đi trước Nhiều nghiên cứu cho thấy lòng biết ơn có bản chất tự tồn tại Nghĩa là nếu bạn càng thực hành lòng biết ơn, bạn càng có thể tận hưởng nhiều lợi ích của

nó, như một cảm giác an toàn

Lòng biết ơn đã được coi là một cảm xúc đạo đức có liên quan mạnh mẽ với ảnh hưởng tích cực (Watkins et al., 2009) Trong môn nghiên cứu tâm lý học tích cực tại Trường Y Harvard, lòng biết ơn thường được định nghĩa là sự cảm kích của chúng ta với những thứ có giá trị hay ý nghĩa mà chúng ta có được

Trang 32

1.2.3 Khái niệm về hạnh phúc và cảm nhận hạnh phúc của sinh viên

“Subjective Well – being” Các tác giả đi trước như Diener, Matthieu Recard, Tal – Ben Shahar hay Marti Siligman đều đồng ý rằng cảm nhận nhận hạnh phúc chính là sự hài lòng về cuộc sống trên các mặt khác nhau như đã nêu ở trên Đặc biệt, Carol Ryff (1989) cho rằng, đa số nghiên cứu về well- being hiện nay đều được hiểu là hạnh phúc hay trạng thái an lạc Bà đưa ra 6 tiêu chí để đánh giá về trạng thái tâm lý “Well – being”

Như vậy hạnh phúc được hai tác giả Keyes và Waterman cho rằng:

“Cảm nhận hạnh phúc chủ quan là nhận thức của từng người và những đánh giá của họ về đời sống của mình trong tâm trạng khỏe và các chức năng về

tâm lý và hoạt động xã hội”

Từ các khái niệm trên chúng tôi xin đưa ra khái niệm về cảm nhận hạnh

phúc là “những đánh giá, nhận định của bản thân về sự hài lòng và dễ chịu

của bản thân về cuộc sống của mình

b) Khái niệm sinh viên

Sinh viên, tiếng Anh là Students, theo nguồn gốc tiếng Latin nghĩa là

“người làm việc nhiệt tình, người tìm hiểu khai thác tri thức” Theo “Từ điển Tiếng Việt” Hoàng Phê, sinh viên được hiểu là “Người học ở bậc đại học” Còn theo tác giả Vũ Thị Nho thì sinh viên là lứa tuổi từ sau tuổi Phổ thông trung học đến khoảng 24-25 tuổi Đây là lớp người đang theo học ở các trường Đại học, cao đẳng, là tầng lớp tri thức của xã hội Sinh viên là tầng lớp quan trọng trong mỗi chính thể, là đội ngũ chuyển tiếp, chuẩn bị cho nguồn

Trang 33

lực lao động xã hội có trình độ cao của đất nước Hoạt động chủ đạo của tuổi sinh viên là hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học và các hoạt động nghề nghiệp Theo chúng tôi, sinh viên có thể hiểu là những người đã tốt nghiệp trung học phổ thông, hiện đang theo học các hệ cao đẳng và đại học trong các trường thuộc hệ thống giáo dục hiện nay

c) Khái niệm cảm nhận hạnh phúc của sinh viên

Hạnh phúc được giới hạn trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ tập trung vào sự cảm nhận hạnh phúc của sinh viên vì vậy đây là một nhận định, đánh giá mang tính cá nhân và chủ quan Hạnh phúc chủ quan cũng đã được Diener (2000) định nghĩa là sự đánh giá nhận thức và tính cảm của một người đối với cuộc sống của họ Những đánh giá này bao gồm các phản ứng cảm xúc đối với các sự kiện, cũng như những đánh giá nhận thức về sự hài lòng và thỏa mãn với cuộc sống Có thể thấy rằng tác giả đánh giá hạnh phúc chủ quan là môt khái niệm rộng bao gồm các trải nghiệm thỏa mãn hay trạng thái cảm xúc tiêu cực ở mức thấp cũng như sự hài lòng cuộc sống ở mức cao Bên cạnh đó, hai tác giả Keyes và Waterman cho rằng: “Cảm nhận hạnh phúc chủ quan là nhận thức của từng người và những đánh giá của họ về đời sống của bản thân trong tâm trạng khỏe mạnh và các chức năng về tâm lý và hoạt động xã hội.” Theo cách hiểu của ông hạnh phúc có 3 thành tố: hạnh phúc cảm xúc, hạnh phúc tâm lý và hạnh phúc xã hội Hạnh phúc cảm xúc thể hiện qua một loạt các dấu hiệu biểu hiện trạng thái cảm xúc tích cực về cuộc sống, nó được đo bằng các trạng thái cảm xúc dương tình hoặc sự hài lòng của cuộc sống nói chung Hạnh phúc tâm lý thể hiện ở sự chấp nhận, hài lòng với bản thân, mối quan hệ tích cực với những người khác; sự phát triển cá nhân; mục tiêu trong cuộc sống; làm chủ môi trường xung quanh Hạnh phúc xã hội thể hiện ở sự hài lòng với các mối quan hệ liên cá nhân và với môi trường xung quanh Hạnh phúc xã hội được đánh giá qua những tiêu chí mang tính công khai và

xã hội; sự gắn kết xã hội; sự hiện thực hóa xã hội; sự hòa nhập hóa xã hội; sự

Trang 34

chấp nhận xã hội & sự đóng góp xã hội Định nghĩa này đã chỉ ra rằng: Cảm nhận hạnh phúc là đánh giá mang tính chủ quan của chủ thể về sự hài lòng về cuộc sống của chính họ Cảm nhận hạnh phúc chủ quan có hai thành phần chính là nhận thức và cảm xúc Nếu thành phần nhận thức hướng đến suy nghĩ của chủ thể về sự hài lòng cuộc sống nói chung và các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống thì phần cảm xúc không chỉ có cảm xúc dương tình mà

nó bao gồm cả âm tính Cảm nhận hạnh phúc của mỗi chủ thể khác nhau thể hiện quan điểm cá nhân của họ về chất lượng cuộc sống của chình mính Vì vậy mà đánh giá này mang nhiều tình chủ quan

Từ các khái niệm trên của các tác giả về cảm nhận hạnh phúc, chúng tôi

xin đưa ra khái niệm cảm nhận hạnh phúc của sinh viên như sau: “Cảm nhận

hạnh phúc của sinh viên là những nhận định và đánh giá của sinh viên về sự hài lòng, dễ chịu với cuộc sống của bản thân trên các mặt cảm xúc, tâm lý và

xã hội” Cảm giác này vừa thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá mang tính chất

nhận thức, vừa thể hiện tình cảm điều này mang tính cảm xúc của sinh viên Điều này hướng tới việc nhận định đánh giá việc dinh viên nghĩ như thế nào

về sự hài lòng với của sống cả các em nói chung, xem xét trên phương diện toàn bộ cuộc sống và cả trong các lĩnh vực khác nhau (trong các nhu cầu của

cá nhân, trong điều kiện vật chất, tình thần, và cả các mối quan hệ gia đình, bạn bè…)

Trang 35

Tiểu kết chương 1

Tóm lại, qua nghiên chúng tôi thấy rằng tính cách cũng như hạnh phúc trên thực tế đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong tâm lý học Đặc biệt vấn đề về tính cách trong việc cá nhân cảm nhận về mức độ hạnh phúc của bản thân Nếu tính cách được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm và theo nhiều trường phái khác nhau thì hạnh phúc lại là vấn đề tương đối phức tạp và khó định lượng một cách rõ ràng Nghiên cứu về tính cách trong việc cảm nhận hạnh phúc cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm ở nhiều khía cạnh, cả những tính cách tích cực và sự tiêu cực trong tính cách trong việc cảm nhận về hạnh phúc Trong đề tài của mình ngoài đặc điểm tính cách nói chung, chúng tôi quan tâm đặc biệt tới lòng biết ơn và tính đố kỵ trong việc cảm nhận hạnh phúc Đối tượng khách thể nghiên cứu của đề tài là

SV từ năm nhất tới năm thứ tư tại trường Đại học Kinh tế- Kỹ thuật, với môi trường sống mới, cấp học mới, bạn bè mới đặc biệt là phần lớn các em sống

xa gia đình và hoàn toàn tự lập, đây là độ tuổi các em có rất nhiều nét đặc thù riêng Chính vì vậy đây là đối tượng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên nhiều khía cạnh khác nhau Mặc dù vậy đề tài mà chúng tôi tập trung nghiên cứu ở trên các bạn SV lại chưa nhận được sự quan tâm nhiều Vì vậy, trong đề tài này chúng tôi khai thác sâu hơn về thực trạng về tính cách cũng như cảm nhận hạnh phúc của sinh viên và những đặc điểm tính cách đó mà chúng tôi đặc biệt quan tâm tới lòng biết ơn và tính đố kỵ trong mối quan hệ với việc các em cảm nhận về sự hạnh phúc của bản thân

Trang 36

2.1.1 Giai đoạn 1: Nghiên cứu lý luận

Hệ thống hóa các nghiên cứu về tính cách giữa lòng biết ơn và tính đố

kỵ với cảm nhận về hạnh phúc ở trong và ngoài nước

Xây dựng cơ sở lý luận về tính cách và cảm nhận hạnh phúc nói chung

và sinh viên nói riêng Chỉ ra thực trạng về lòng biết ơn, tính đố kỵ và cảm nhận về hạnh phúc của sinh viên trong thời đại hiện nay

Phân tích tổng hợp và đánh giá những công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài xung quanh vấn đề về tính cách của cá nhân tác đối với việc cảm nhận hanh phúc nói chung, mối quan hệ này ở sinh viên nói riêng Chỉ ra thực trạng về mối quan hệ của lòng biết ơn và tính đố kỵ với việc cảm nhận về hạnh phúc nói chung

Để xây dựng cơ sở lý luận của luận văn, chúng tôi đã sử dụng chủ yếu

là phương pháp nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu lý thuyết như phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu và các văn bản đã được đăng tải ở các sách, báo, tạp chí, cũng như các đề tài nghiên cứu khoa học… bàn về những vấn đề liên quan tới tính cách, lòng biết ơn, tính đố kỵ đối với việc cảm nhận hanh phúc để hiểu và làm rõ hơn các quan điểm trong vấn đề này

Trang 37

2.1.2 Giai đoạn 2: Nghiên cứu thực tiễn

A Thiết kế nghiên cứu thực tiễn:

a Mục đích nghiên cứu thực tiễn

Lập kế hoạch tổ chức nghiên cứu, chỉ ra thực trạng, các yếu tố về tính cách giữa lòng biết ơn, tính đố kỵ trong việc cảm nhận hạnh phúc của sinh viên tại địa bàn nghiên cứu hiện nay Sử dụng các phương pháp nghiên cứu để thu thập các thông tin và cách thức tiến hành công tác nghiên cứu thực tiễn

b Nội dung nghiên cứu thực tiễn

Điều tra, nghiên cứu chính về hai yếu tố của tính cách của sinh viên là lòng biết ơn và tính đố kỵ đối với việc họ cảm nhận về hạnh phúc tại trường Đại học Kinh tế- Kỹ thuật tại cơ sở Số 456 Minh Khai, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội chỉ ra thực trạng của ba yếu tố lòng biết ơn, tính đố kỵ và cảm nhận hạnh phúc, làm rõ mối quan hệ của lòng biết

ơn và tính đố kỵ với cảm nhận hạnh phúc Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao cảm nhận hạnh phúc của sinh viên trong việc cảm nhận hạnh phúc

- Địa bàn nghiên cứu:

Việc điều tra khảo sát được thực hiện trên địa bàn trường Đại học Kinh Tế- Kỹ Thuật tại cơ sở Số 456 Minh Khai, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

Trường Đại học Kinh Tế- Kỹ Thuật, là một trường được thành lập theo Quyết định số 1206/QĐ-TTg ngày 11 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I, tiền thân là Trường Trung cấp Kỹ thuật III, được thành lập năm 1956

Nhà trường tiếp tục đào tạo đa cấp, đa ngành với số lượng 10 ngành đại học, 15 ngành cao đẳng và 15 ngành trung cấp chuyên nghiệp Thương hiệu của Nhà trường luôn được giữ vững và quy mô đào tạo ngày càng tăng cao, thể hiện rất rõ qua các kỳ tuyển sinh với số lượng thí sinh dự tuyển hàng năm rất đông, kết quả tuyển sinh luôn đạt và vượt chỉ tiêu trong phạm vi cho phép

Trang 38

và đến nay nguồn tuyển sinh vẫn đang rất dồi dào Đến nay, trường đã có 660 cán bộ giáo viên cơ hữu, trong đó có 540 giảng viên với 72 tiến sĩ và nghiên cứu sinh; 360 thạc sĩ và cao học, chiếm tỷ lệ gần 80% giáo viên cơ hữu Ngoài ra, cũng có gần 300 PGS, TS, ThS và kỹ sư có kinh nghiệm của các trường đại học, các viện và doanh nghiệp tham gia thỉnh giảng

- Công tác nghiên cứu khoa học đã được đưa vào định mức cho từng giảng viên, Hội đồng khoa học của Nhà trường được kiện toàn và hoạt động theo quy chế mới của trường đại học Kết quả trong 5 năm qua đã hoàn thành

12 đề tài cấp Bộ, 17 chương trình khung và tiêu chuẩn kỹ năng nghề cấp Tổng cục Dạy nghề, 255 đề tài cấp trường và cấp khoa, ứng dụng có hiệu quả trong công tác của Nhà trường và cho sản xuất tại một số địa phương

c) Thu thập dữ liệu

Thu thập dữ liệu định lượng

Bảng hỏi xây dựng được hỏi thử để kiểm tra, chỉnh sửa về cách diễn đạt, nội dung trả lời cho phù hợp với khách thể nghiên cứu Sau đó tiến hành nghiên cứu trên diện rộng ở 298 sinh viên trường Đại học Kinh tế Kỹ Thuật Công nghiệp

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sự dụng các phương pháp sau trong quá trình thực hiện đề tài:

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

cơ sở lý luận cho luận văn – cơ sở để xây dựng bảng hỏi điều tra về lòng biết

ơn và tính đố kỵ với việc cảm nhận hạnh phúc cá nhân ở sinh viên

công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước và nước ngoài được đăng tải trên sách báo, tạp chí các đề tài nghiên cứu, các báo cáo được đăng tải trên các trang web liên quan đến lòng biết ơn, tính đố kỵ, mối quan hệ giữa lòng biết ơn và tính đố kỵ trong việc cá nhân cảm nhận hạnh phúc Phân tích đánh

Trang 39

giá tổng quát các nghiên cứu về vấn đề này, từ đó xây dựng cơ sở lý luận, thiết kế công cụ nghiên cứu và lấy tư liệu sử dụng trong quá trình phân tích,

lý giải và đánh giá kết quả thu được từ thực tiễn cũng như đưa ra được một số

đề xuất nhằm đề xuất một số khuyến nghị nâng cao cảm nhận hạnh phúc trong cuộc sống đối với sinh viên

2.2.2 Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi

a) Mục đích của phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi: đánh giá thực trạng

về lòng biết ơn, và tính đố kỵ ở sinh viên tại trường Đại học Kinh Tế Kỹ Thuật

Công nghiệp trong việc cảm nhận của họ về hạnh phúc

b) Hình thức điều tra: nghiên cứu sử dụng hình thức khảo sát trực tiếp sinh viên thông qua việc tự điền vào bảng hỏi

c) Chọn mẫu khảo sát Nghiên cứu được thực hiện trên 298 sinh viên trưởng

Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp tại cơ sở Số 456 Minh Khai, phường Vĩnh

Tuy, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

d) Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Bảng 2.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu

Trang 40

Cao hơn nhiều so với mức

trung bình

Từ bảng trên có thể khái quát như sau: trong tổng số 298 bảng hỏi có hiệu lực trong đó có số lượng sinh viên nam là 148 (49.7%), sinh viên nữ 150 (50.3%) trong đó nơi ở của gia đình sinh viên trong mẫu nghiên cứu này tập trung chính ở nông thôn 143 (48.0%), vùng đang đô thị hóa là 61 sinh viên (20.5%); và hiện đang ở thành phố là 94 (31.5%) Năm sinh của khách thể nghiên cứu tập trung rải rác từ 1994 tới 2001, trong đó tập trung chính ở 3 năm là 1997 là 66 em tương ứng 22.1%; sinh năm 1998: 169 sinh viên (56.7%); và sinh năm 1999 là 49 em (16.4%)

Ngày đăng: 20/09/2020, 08:34

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w