1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cải cách quân đội trung quốc từ đại hội 18 đến nay

101 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bài “Vài nét về việc Trung Quốc cải cách quân đội” của tác giả Đức Cường - Hồng Cường đăng trên tạp chí Quốc phòng toàn dân ngày 21 tháng 06 năm 2016; bài “Về các cải cách quân đội toàn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN VĂN THIỆU

CẢI CÁCH QUÂN ĐỘI TRUNG QUỐC

TỪ ĐẠI HỘI 18 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

Hà Nội - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN VĂN THIỆU

CẢI CÁCH QUÂN ĐỘI TRUNG QUỐC

TỪ ĐẠI HỘI 18 ĐẾN NAY

Chuyên ngành: QUAN HỆ QUỐC TẾ

Mã số: 60 31 02 06

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Xuân Cường

XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG Chủ tịch hội đồng chấm luận văn

thạc sĩ khoa học

Giáo viên hướng dẫn

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của tôi Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc công bố ở các công trình nghiên cứu khác Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Văn Thiệu

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

Chương 1: CÁC NHÂN TỐ CHỦ YẾU CHI PHỐI ĐẾN CẢI CÁCH

QUÂN ĐỘI CỦA TRUNG QUỐC 11

1.1 Bối cảnh tình hình thế giới khu vực và quan điểm của các nước

về cải cách quân đội 11

1.1.1 Bối cảnh tình hình thế giới, khu vực thời gian qua 11

1.1.2 Sự thay đổi hình thái chiến tranh và điều chỉnh phương thức tác chiến

trên thế giới 16

1.2 Tình hình Trung Quốc 20

1.2.1 Lịch sử cải cách quân đội của Trung Quốc trước Đại hội 18 20

1.2.2 Quốc phòng - quân đội của Trung Quốc trước Đại hội 18 25

1.2.3 Tình hình chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh và quan hệ đối ngoại của Trung Quốc thời gian qua 31

Tiểu kết chương 1 38

Chương 2: THỰC TRẠNG CẢI CÁCH CẢI QUÂN ĐỘI TỪ ĐẠI HỘI 18 ĐẾN NAY 39

2.1 Chủ trương, mục tiêu cải cách quân đội Trung Quốc từ sau Đại hội 18

đến nay 39

2.1.1 Quan điểm của Trung Quốc về cải cách 39

2.1.2 Chủ trương chiến lược và mục tiêu 42

2.1.3 Các giai đoạn thực hiện cải cách quân đội 46

2.2 Các biện pháp cải cách quân đội Trung Quốc 49

2.2.1 Nhóm biện pháp chính trị - tư tưởng 49

2.2.2 Nhóm cơ cấu tổ chức 51

Tiểu kết chương 2 64

Trang 5

Chương 3: TÁC ĐỘNG VÀ TRIỂN VỌNG CẢI CÁCH QUÂN ĐỘI

TRUNG QUỐC ĐẾN THẾ GIỚI 65

3.1 Một số đáng giá, nhận xét về quá trình tiến hành cải cách quân đội

Trung Quốc 65

3.1.1 Về những thuận lợi, khó khăn của Trung Quốc trong quá trình tiến hành cải cách 65

3.1.2 Dự báo những thay đổi căn bản cải cách Quân đội Trung Quốc

đến năm 2021 và những năm tiếp theo 67

3.1.3 Dự báo khả năng đối phó với các cuộc xung đột quân sự của Quân đội Trung Quốc 76

3.2 Tác động đến thế giới, khu vực và Việt Nam 81

3.2.1 Tác động đối với thế giới, khu vực 81

3.2.2 Tác động đối với Việt Nam 84

3.3 Một số giải pháp đối với Việt Nam 87

3.3.1 Đối với Đảng, Nhà nước 87

3.3.2 Nhóm các giải pháp của Quân đội 89

Tiểu kết chương 3 91

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Tiếng Việt

Trang 7

Tiếng Anh

Diễn đàn khu vực ASEAN

Các quốc gia Bra-xin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi

Hội nghị thượng đỉnh Đông Á

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ sau Đại hội 18 cuối năm 2015, “thế hệ lãnh đạo thứ 5” của Trung Quốc với Tổng Bí thư Tập Cận Bình làm “hạt nhân” đã phát động một đợt cải cách Quân đội mới, với quy mô, tính chất sâu rộng chưa từng có, tạo tiền đề để thúc đẩy cải cách toàn diện quốc phòng - quân đội, nhằm thực hiện mục tiêu đưa Trung Quốc trở thành cường quốc quân sự tầm cỡ thế giới, hỗ trợ cho thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa”, đưa Trung Quốc trở thành siêu cường thế giới, cạnh tranh vị thế, vai trò với

Mỹ trên phạm vi toàn cầu Đợt cải cách lần này sẽ tạo ra những thay đổi to lớn về chất, không chỉ làm thay đổi cơ bản diện mạo của Quân đội Trung Quốc, mà còn làm thay đổi cả diện mạo Trung Quốc, đồng thời nó cũng sẽ là một tác nhân làm biến đổi cục diện thế giới, tác động nhiều mặt đến thế giới, khu vực và Việt Nam, tích cực và tiêu cực đan xen lẫn nhau

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng gần gũi, có quan hệ truyền thống lâu đời, nhưng cũng hết sức phức tạp Trong những năm qua, với sự nỗ lực của hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước, quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt - Trung phát triển khá toàn diện, từng bước đi vào chiều sâu Tuy nhiên, cùng với sự tác động của lực kéo và đẩy trong quan hệ quốc tế, những tồn lại do lịch sử để lại trong quan hệ hai nước, nhất là trong vấn đề tranh chấp chủ quyền, lợi ích ở Biển Đông, đã, đang và sẽ tác động sâu sắc đến quan hệ Việt - Trung, tiềm ẩn nhiều nguy cơ Do vậy, đợt cải cách toàn diện quốc phòng - quân đội của Trung Quốc lần này sẽ tác động sâu sắc, trực tiếp và nhiều mặt đến Việt Nam, tích cựu và tiêu cực đan xen lẫn nhau Đòi hỏi Việt Nam phải nhanh chóng và tích cực, nhất là vận dụng “mô hình” này vào sự nghiệp xây dựng quân đội và thế trận quốc phòng - an ninh, vừa hạn chế tối đa những tác động tiêu cực của đợt cải cách quân đội Trung Quốc mang lại, góp phần duy trì ổn định và phát triển của đất nước trong mọi tình huống

Đây là một vấn đề mới và nhận được quan tâm theo dõi sát sao của hầu hết các nước trên thế giới, nhất là các nước lớn và các nước láng giềng của

Trang 9

Trung Quốc Cho đến nay, giới nghiên cứu trong ngoài nước đã có nhiều chuyên

đề, bài viết về đợt cải cách quân đội của Trung Quốc lần này, nhưng chưa có các nghiên cứu sâu sắc toàn diện, có hệ thống và cụ thể về âm mưu, ý đồ của Trung Quốc, triển vọng thời gian tới, tác động với thế giơi, khu vực, Việt Nam và nhất

là đề xuất đối sách của ta Do đó, nghiên cứu đề tài “Cải cách Quân đội Trung Quốc từ năm 2015 đến năm 2018” là vấn đề hết sức cấp thiết, góp phần nhận diện chính xác, toàn diện về đợt cải cách quốc phòng - quân đội để đề xuất đối sách phù hợp, góp phần phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa (XHCN)

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Chủ đề liên quan đến cải cách quân đội Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình

kể từ sau Đại hội 18 đến nay đã thu hút sự quan tâm chú ý của giới nghiên cứu

trong và ngoài nước Đã có rất nhiều hội thảo, chuyên đề, bài viết, bài phỏng vấn

của các chuyên gia, học giả trong lĩnh vực quân sự - quốc phòng trong và ngoài nước về vấn đề này ở mức độ và khía cạnh khác nhau, nhưng cho đến nay vẫn chưa

có công trình nghiên cứu nào đưa ra những phân tích, đánh giá, dự báo về việc cải cách quân đội Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình kể từ sau Đại hội 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc và đưa ra được những nhận định, đánh gitác động đối với thế giới, khu vực và Việt Nam mang tính hệ thống, khái quát và toàn diện

Theo đó để làm rõ những vấn đề cải cách quân đội Trung Quốc, đề tài luận văn đi theo hướng tiếp cận, khai thác nhiều nguồn tại liệu khác nhau cả trong và ngoài nước, nhưng có thể chia theo hai hướng tiếp cận chính như sau:

Thứ nhất là thông qua các tài liệu tiếng Việt, trong đó tập trung chủ yếu vào

các bài viết, công trình nghiên cứu của các tác giả thuộc các viện nghiên cứu, lãnh

đạo cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam, Viện nghiên cứu Viện hàn lâm khoa học Việt Nam; hội thảo do Bộ Quốc phòng Việt Nam tổ chức… như bài phát biểu của

kỷ niệm 70 năm thành lập quân đội nhân dân Việt Nam đăng trên báo Quân đội Nhân dân (ngày 21 tháng 12 năm 2014); bài viết “Đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” của Ngô Xuân Lịch (Bộ trưởng Quốc phòng) trên tạp chí Quốc phòng toàn dân số ra tháng 4 năm 2016;

Trang 10

bài “Vài nét về việc Trung Quốc cải cách quân đội” của tác giả Đức Cường - Hồng Cường đăng trên tạp chí Quốc phòng toàn dân ngày 21 tháng 06 năm 2016; bài “Về các cải cách quân đội toàn diện của Trung Quốc” đăng trên

NghiencuuBienDong.Vn của Vũ Hiền (tháng 4.2016); Hội thảo “Một số đánhgiá ban đầu về cải cách quân đội Trung Quốc thời gian gần đây” của Viện Nghiên cứu Kinh tế và chính sách và viện Kinh tế và chính trị phối hợp tổ chức vào

tháng 01.2015… các tài liệu này đã cơ bản khái quát được chủ trương phương châm

xây dựng quân đội Việt Nam, trong đó đều nhấn mạnh đến việc xây dựng quân đội Việt Nam thời gian tới cách mạng chính quy, tinh nhuệ từng bước hiện đại, trong đó

sẽ có một số lĩnh vực tiến lên hiện đại đồng thời đây cũng là những tư liệu quan trọng, đề cập đến tác động, ảnh hưởng của việc cải cách quân đội Trung Quốc đối với Việt Nam và một số gợi mở hàm ý đối với Việt Nam trong thời gian tới, nhất là trước việc Trung Quốc tiến hành cải cách quân đội

Thứ hai là nghiên cứu, tham khảo nguồn tài liệu tiếng Trung Quốc, Anh, trong đó chú trọng vào nguồn tài liệu tiếng Trung Quốc, coi đây là nguồn tài liệu được được khai thác và sử dụng nhiều trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu những nội dung liên quan đến luận văn Theo đó, quá trình nghiên cứu, tìm tòi thông tin

sẽ tập trung chủ yếu vào các tài liệu như “Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng Công sản Trung Quốc khóa 18 năm 2012” (đăng trên www.CPCNews.Cn tháng 10.2012); “Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng Công sản Trung Quốc khóa 19 năm 2017” (đăng trên www.CPCNews.Cn, tháng 10.2017), trong đó tại Báo cáo chính trị trình Đại hội XIX của Đảng Cộng sản Trung Quốc Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chỉ ra mục tiêu xây dựng quân đội đó là: Kiên trì đi con đường xây dựng quân đội hùng mạnh đặc sắc Trung Quốc, thúc đẩy toàn diện hiện đại hóa quốc phòng và quân đội và đưa ra 3 thời gian biểu cho con đường xây dựng của quân đội Trung Quốc: Một là bảo đảm đến năm 2020 cơ bản thực hiện xây dựng cơ giới hóa, thông tin hóa đạt được tiến triển quan trọng, năng lực chiến lược tăng mạnh Hai là tranh thủ đến năm 2035 cơ bản thực hiện hiện đại hóa quốc phòng và quân đội Ba là đến giữa thế kỷ 21 xây dựng thành công quân đội Trung

Trang 11

Quốc thành quân đội hàng đầu thế giới… Báo cáo Công tác Chính phủ Trung Quốc hàng năm tại các kỳ họp “Lưỡng hội” (đăng trên www.gov.cn) đều được thông báo đến việc chi ngân sách quốc phòng hằng năm của Chính phủ Trung Quốc cho lực lượng quân đội; các bài phát biểu, chỉ đạo về cải cách quân đội Trung Quốc của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Hứa Kỳ Lượng và Trương Hựu Hiệp như tại buổi lễ duyệt binh nhân kỷ niệm 70 năm ngày chiến thắng phát xít vào ngày 03 tháng 09 năm 2015, Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch quân ủy Trung ương, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập cận Bình tuyên bố, từ nay cho đến năm 2017, quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) sẽ cắt giảm 300.000 quân…; các công trình nghiên cứu, bài viết đánh giá, nhận định về mục tiêu, biện pháp, thuận lợi khó khăn khi Trung Quốc tiến hành cải cách quân đội như bài “Một số vấn đề đáng chú ý trong cải cách quân đội Trung Quốc thời gian qua” (Tân Hoa xã, tháng 01.2016) đã nêu bật những ưu điểm trong cải cách quân đội Trung Quốc… Thông qua các nguồn tài liệu này đã để phân tích, làm rõ quan điểm, chủ trương, mục tiêu, biện pháp cũng như tiến trình Trung Quốc tiến hành cải cách quân đội Trung Quốc từ năm

2012 đến nay, đồng thời nhằm rút ra được những thuận lợi, khó khăn thách thức

và xu hướng phát triển quân đội Trung Quốc trong thời gian tới

Qua quá trình nghiên cứu cho thấy mặc dù các tài liệu liên quan đến cải cách quân đội Trung Quốc có nhiều và có nhiều bài viết của các chuyên gia, học giả đánh giá về cải cách quân đội Trung Quốc Tuy nhiên, các bài viết chưa được đánh giá, nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ về những vấn đề liên quan đến quá trình cải cách quân đội Trung Quốc sau Đại hội 18 Do đó, việc hệ thống hóa lại về tiến trình cải cách quân đội Trung Quốc từ Đại hội sau Đại hội 18 là thực

sự cần thiết

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu làm rõ bản chất đợt cải cách quân đội của Trung Quốc, dự báo thời gian tới và tác động của nó đối với quốc phòng - an ninh thế giới, khu vực, Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp chiến lược đối với Đảng, Nhà nước, Quân đội

Trang 12

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những yếu tố chi phối đến cải cách quân đội của Trung Quốc

- Nghiên cứu chủ trương, mục tiêu, bước đi và các biện pháp cụ thể của Trung Quốc trong cải cách quân đội và dự báo thời gian tới

- Nghiên cứu tác động của cải cách quân đội của Trung Quốc đối với quốc phòng - an ninh thế giới, khu vực và Việt Nam, đề xuất một số giải pháp đối với Đảng, Nhà nước, Quân đội

5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: quân đội của Trung Quốc

Về phạm vi nghiên cứu, trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, đề tài tập trung làm rõ mục đích, chủ trương, biện pháp, đánh giá việc cải cách quân đội Trung Quốc và tác động của nó với thế giới, khu vực, nhất là với Việt Nam từ Đại hội 18 đến nay Theo đó, thời gian nghiên cứu từ năm 2012 đến năm 2019 và không gian nghiên cứu Luận văn nghiên cứu đối tượng trong tiến trình cải cách quân đội

6 Phương pháp nghiên cứu

- Trên cơ sở pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đường lối quan điểm của điểm của Đảng và tư tưởng quân sự của chủ tịch Hồ Chí Minh, đề tài vận dụng các phương pháp phân tích - tổng hợp, so sánh - đối chiếu, hệ thống - cấu trúc, hội thảo

- Luận văn vận dụng một số lý thuyết về quan hệ quốc tế như chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự do mới, chủ nghĩa kiến tạo, chủ nghĩa Mác-xít mới để luận giải những bản chất của vấn đề cần nghiên cứu, đặt vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh quốc tế và khu vực đang biến động đa chiều, phức tạp

7 Đóng góp của đề tài và hướng ứng dụng, sử dụng kết quả nghiên cứu

- Đánh giá chính xác chủ trương, mục tiêu và những bước đi, hành động cụ

thể của Trung Quốc trong cải cách Quân đội, góp phần nắm chắc những tác động của nó đối với quốc phòng - an ninh thế giới, khu vực và Việt Nam, làm cơ sở để kịp thời tham mưu cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội có những giải pháp ứng

xử phù hợp, tận dụng tốt những tác động tích cực, ngăn chặn hiệu quả những tác động tiêu cực từ vấn đề này

Trang 13

- Làm tài liệu tham khảo và định hướng cho lãnh đạo quân đội các cấp trong: (1) Nghiên cứu, vận dụng trong chỉ đạo, tổ chức xây dựng lực lượng, xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh phù hợp; (2) Nghiên cứu, xây dựng phương án xử lý các tình huống có thể xảy ra trong quan hệ Việt - Trung, nhất là trên hướng Biển Đông; (3) Nghiên cứu, vận dụng trong hợp tác quốc phòng quốc tế, nhất là trong quan hệ với Trung Quốc

8 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1: Các nhân tố chi phối đến cải cách quân đội của Trung Quốc

Chương 2: Thực trạng cải cách quân đội của Trung Quốc từ năm 2012 đến nay Chương 3: Tác động và triển vọng của cải cách quân đội Trung Quốc đối với

an ninh thế giới, khu vực và hàm ý đối với của Việt Nam

Trang 14

Chương 1 CÁC NHÂN TỐ CHỦ YẾU CHI PHỐI ĐẾN CẢI CÁCH

QUÂN ĐỘI CỦA TRUNG QUỐC

1.1 Bối cảnh tình hình thế giới khu vực và quan điểm của các nước về cải cách quân đội

1.1.1 Bối cảnh tình hình thế giới, khu vực thời gian qua là một trong những nhân tố tác động không nhỏ tới cải cách quân đội Trung Quốc

- Tình hình thế giới, khu vực trong những năm qua, kể từ năm 2008 đến nay

có nhiều thay đổi mạnh mẽ trên các mặt của đời sống kinh tế, chính trị và quốc phòng an ninh, diễn biến ngày càng phức tạp, lợi ích và xung đột luôn đan xen lẫn nhau là gia tăng cạnh tranh giữa các nước nhằm bảo toàn các giá trị lợi ích của minh Đồng thời, cạnh tranh ảnh hưởng trên trường quốc tế giữa các nước lớn trong

và ngoài khu vực ngày càng ngày gia tăng và xu thế đa cực hóa ngày càng rõ nét, nhất là các quốc gia đang gia thực hiện cách mạng khoa học công nghệ dẫn đến và

xu thế toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ, tác động sâu rộng đến hầu hết các quốc gia, khu vực Trong đó Trung Quốc cũng đang bị ảnh hưởng sâu rộng trên các lĩnh vực, nhất là trong việc xây dựng “cường quốc”, trở thành một cực trong thế giới đa cực… Theo đó, một số nhân tố của tình hình thế giới tác động đến việc Trung Quốc tiến hành cải các quân đội, gồm:

Một là, kinh tế thế giới thời gian qua tuy đã tăng trưởng trở lại, nhưng đà phục hồi chậm và không đồng đều giữa các quốc gia và khu vực Theo đó, sau khi

kinh tế thế giới chạm đáy do khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu 2008, thì đã bắt đầu tăng trưởng trở lại và đạt 4,2% trong năm 2010 (so với 1,84% của năm 2008

và âm 1,68% của năm 2009) [13] Tuy nhiên, cho đến nay, kinh tế thế giới vẫn chưa phục hồi được tốc độ tăng trưởng như trước khủng hoảng, với tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn từ năm 2009 - 2018 chỉ đạt bình quân hơn 3,1%, thấp hơn so với giai đoạn trước khủng hoảng từ năm 1990 - 2007 tăng trưởng bình quân 3,7% Đồng thời, hiện nay kinh tế thế giới đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức, trong đó tranh dành ảnh hưởng trở thành trở thành “người dẫn dắt” nền kinh tế thế giới đã khiến các nước gia tăng xu hướng bảo hộ, cũng như đẩy mạnh thực hiện các biện

Trang 15

pháp kiềm chế lẫn nhau tại các khu vực trọng yếu dẫn tới các nước phải gia tăng các biện pháp đảm bảo an ninh để bảo vệ các lợi của mình Bên cạnh đó cạnh tranh ảnh hưởng này sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế thế giới, kéo theo nhiều hệ lụy khôn lường và cũng sẽ dễ dẫn tới xung đột lợi ích kinh tế giữa các nước phát triển Mỹ,

EU, Nhật Bản Nga và Trung Quốc, hơn nữa đã xuất hiện tình trạng bất ổn chính trị, xung đột quân sự xảy ra ờ nhiều nơi trên thế giới… Đây cũng là một nhân tố khiến Trung Quốc tiến hành cải cách quân đội để đảm bảo lợi ích an ninh của mình trên toàn cầu, trong đó trọng tâm là bảo đảm lợi ích kinh tế

Hai là, do giành giật ảnh hưởng địa - chính trị giữa các nước lớn, nhiều khu vực trên thế giới xảy ra những bất ổn nghiêm trọng về chính trị và an ninh Thời

gian qua khu vực Trung Đông - Bắc Phi tiếp tục là khu vực bất ổn nhất thế giới Trong đó, mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo đã khiến cho chủ nghĩa khủng bố bùng phát, các tổ chức khủng bố quốc tế như An Kê-da, Ta-li-ban, nhất là tổ chức Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) đẩy mạnh hoạt động, gây ra nhiều vụ khủng bố đẫm máu Đặc biệt, cuộc khủng hoảng tại Xy-ri, Ly-bi diễn biến phức tạp và lâm vào bế tắc, khiến xung đột quân sự diễn ra trên diện rộng và đã biến khu vực này trở thành nơi tranh dành ảnh hưởng địa chính trị của các nước lớn trên thế giới Theo đó, nhiều nước thông qua nhiều cách khác nhau trong hệ thống chỉ huy tác chiến của minh đã phái cử lực lượng quân đội đến khu vực ngày để cạnh tranh, duy trì sức mạnh quân

sự của minh đối với khu vực và trên thế giới Đồng thời khu vực châu Âu đang phải đối mặt với một số khó khăn, thách thức, trong đó chủ nghĩa khủng bố đã và ngày càng phát triển mạnh, trở thành một trong các mối đe dọa cấp bách và nghiêm trọng nhất đối với an ninh của nhiều quốc gia châu Âu, nhất là những nước có nhiều thành phần Hồi giáo cực đoan trú ẩn như Pháp, Đức, Bỉ, Đan Mạch Đặc biệt, xung đột tại miền Đông U-crai-na và Mỹ thúc đẩy mở rộng NATO về phía Đông làm gia tăng nguy cơ bất ổn và đối đầu giữa các nước Nga - NATO Bên cạnh đó, khu vực Mỹ La-tinh liên tục trải qua những bất ổn về chính trị, khó khăn về kinh tế tại những nước do lực lượng cánh tả nắm quyền, đặc biệt là Vê-nê- xu-ê-la, Ê-cu-a-đo và Bô-li-vi-a nhất là đối với Vê-nê-xu-ê-la kinh tế nước này đã lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, lạm phát bùng phát, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn dẫn đến

Trang 16

biểu tình phản kháng ở nhiều nơi Điều này cũng đã tác động sau sắc tới việc Trung Quốc tiến hành cải cách quân đội nhằm gia tăng hiện diện quân sự ở những khu vực địa chính trị quan trọng và thể hiện vai trò nước lớn

Ba là, trong thời gian qua thế giới luôn phải đối mặt với các vấn đề an ninh phi truyền thống nảy sinh và diễn biến phức tạp, đe dọa nghiêm trọng đến sự ổn định và phát triển của thế giới Trong đó vấn đề an ninh mạng đang nổi lên là mối

đe dọa đối với toàn cầu, thời gian gần đây, đã xảy ra nhiều vụ tin tặc tấn công vào các trang mạng của chính phủ, gây tổn hại rất lớn về tài sản cũng như những bí mật liên quan đến quốc phòng - an ninh Đặc biệt, nếu như chúng tấn công, kiểm soát, hoặc điều khiển hệ thống vũ khí chiến lược của các nước lớn, có nguy cơ dẫn đến chiến tranh hạt nhân ngoài ý muốn Đồng thời, nạn cướp biển xảy ra ở một số khu vực trên thế giới, nhất là vùng biển Xô-ma-li, eo biển Ma-lác-ca hoặc cạnh giữa các nước trong vấn đề hang hải như giữa Mỹ - Trung tại Biển Đông, Nhật - Trung tại biển Hoa Đông, Nga - Nhật tại quần đảo Xen-ca-cư khiến cho an ninh hàng hải ở một số khu vực này ngày càng diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ Đây cũng

là một nhân tố tác động không nhỏ tới việc Trung Quốc tiến hành cải cách quân đội, trong đó có lực lượng tác chiến không gian mạng và Hải quân…

Bốn là, các nước lớn như Mỹ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản… đẩy mạnh điều chỉnh chiến lược, nhằm giành giật vị thế, vai trò trong một thế giới đang thay đổi Theo

đó, Mỹ triển khai hàng loạt biện pháp chiến lược nhằm thực hiện tham vọng “thế giới đơn cực” do Mỹ lãnh đạo, trong đó tập trung chống phá, ngăn chặn Nga và Trung Quốc, như gây sức ép với Nga trong vấn đề U-crai-na, chia rẽ quan hệ Nga - EU; tiến hành “tái cân bằng” ở châu Á, những năm gần đây đẩy mạnh chiến lược chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở”, lôi kéo các nước hình thành các liên minh ba, bốn bên; lợi dụng tranh chấp chủ quyền để tăng cường hiện diện quân sự ở khu vực Nga có nhiều hành động vừa quyết liệt, vừa khôn khéo linh hoạt nhằm củng cố vị thế cường quốc trên trường quốc tế như tăng cường tiềm lực quân sự; thúc đẩy quan hệ, phối hợp với Trung Quốc chống lại trật tự thế giới do Mỹ và phương Tây áp đặt; kiên quyết không nhượng bộ Mỹ, EU trong vấn

Trang 17

đề U-crai- na, sẵn sàng đáp trả cấm vận của Mỹ và EU; tiến hành can dự vào Xy-ri với danh nghĩa chống IS Nhật Bản đẩy mạnh điều chỉnh chiến lược nhằm thực hiện mục tiêu trở thành “cường quốc bình thường”, có sức mạnh chính trị, quân sự tương xứng với sức mạnh kinh tế (đẩy mạnh điều chỉnh chiến lược quân sự, cho phép quân đội tham gia phòng vệ tập thể và đưa quân ra nước ngoài; tăng cường liên minh với Mỹ, tích cực can dự vào các vấn đề khu vực…) Ấn Độ đẩy mạnh triển khai chính sách “Hành động Hướng Đông”, coi trọng quan hệ với ASEAN, tìm cách tăng cường hiện diện ở Biển Đông nhằm phòng thủ từ xa, ngăn chặn Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng sang Ấn Độ Dương… Đây cũng là nhân tố thôi thúc Trung Quốc tiến hành cải cách quân đội một cách toàn diện để sớm trở thành một cực trong thế giới đa cực

Năm là, chiến tranh, xung đột xảy ra ở nhiều nơi, nhưng hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn giữ xu thế chủ đạo Trong thời gian qua, hòa bình, hợp tác vẫn là xu

hướng chủ đạo, vai trò của các thể chế đa phương, nhất là Hội đồng bảo an (HĐBA) LHQ tiếp tục được duy trì, các nước lớn vẫn đạt được sự đồng thuận trong các vấn đề như chống khủng bố, chống phổ biến vũ khí hủy diệt, biến đổi khí hậu Tuy nhiên,

do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có cả yếu tố nội bộ của mỗi nước và do tác động từ bên ngoài, trên thế giới xảy ra nhiều cuộc chiến tranh, xung đột cục bộ, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và của, đe dọa đến hòa bình, an ninh và phát triển của thế giới, như: miền Đông U-crai-na, Xy-ri, Y-ê-men, Ly-bi và việc IS mở rộng phạm vi hoạt động sang những khu vực mới; vấn đề tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông và biển Hoa Đông; vấn đề hạt nhân, tên lửa của Triều Tiên

- Bối cảnh khu vực châu Á - Thái Bình Dương phát triển năng động, tiến trình liên kết khu vực diễn ra mạnh mẽ, nhưng cũng đang trở thành tâm điểm cạnh tranh giành giật ảnh hưởng giữa các cường quốc trên các lãnh vực kinh tế, quân sự… trong đó nổi lên hai đặc chính khiến Trung Quốc tiến hành cải cách quân đội cho phù hợp với môi trường an ninh khu vực:

Một là, châu Á - TBD tiếp tục phát triển năng động, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế thế giới Châu Á - TBD tiếp tục là một điểm sáng về tăng trưởng kinh tế,

Trang 18

trở thành đầu tàu nền kinh tế thế giới Mặc dù chịu tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế thế giới, nhưng luôn duy trì tốc độ tăng trưởng ở mức cao (năm 2015), tăng trưởng GDP của cả khu vực đạt khoảng 5,6%, so với mức dưới 2,4% của cả thế giới), xuất khẩu chiếm hơn 30% tổng lượng xuất khẩu toàn cầu; dự trữ ngoại hối chiếm 2/3 tổng dự trữ của thế giới Dự báo đến năm 2020, tăng trường kinh tế bình quân khu vực đạt từ 4,8 - 5%/năm và sẽ có 7/10 nền kinh tế đứng đầu thế giới thuộc khu vực châu Á - TBD (Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga, In-đô-nê-xi-a) [22, tr204] Tuy nhiên, các chuyên gia đánh giá, châu Á - TBD đang và

sẽ đối mặt với một số khó khăn về kinh tế như: Xu hướng bảo hộ thương mại, cạnh tranh giữa các nền kinh tế lớn ngày càng quyết liệt, trong đó cạnh tranh đối đầu trực diện giữa Mỹ - Nga, Mỹ - Trung ngày càng gay gắt không chỉ trên lĩnh vực kinh tế

mà trong cả quân sự nhằm đảo bảo nhân tố phát triển đất nước, nhất là nhu cầu năng lượng, các tuyến đường hàng hải… dẫn đến việc các nước ngày càng phải đối mặt với thách thức trong vấn đề này

Hai là, châu Á - TBD hội đủ các yếu tố hòa bình - xung đột, hợp tác - cạnh tranh, thời cơ - thách thúc, nguy cơ bất ổn ngày càng gia tăng Về tổng thể châu Á -

TBD là khu vực tương đối ổn định, hòa bình và hợp tác vẫn là xu hướng chủ đạo Mặc dù còn tồn tại nhiều vấn đề về an ninh (tranh chấp biên giới, lãnh thổ, lãnh hải…), nhưng châu Á - TBD đang được coi là điểm sáng về hợp tác và hội nhập, các định chế, cơ chế như ASEAN, APEC, ARF Tuy nhiên, châu Á - TBD cũng ngày càng phải đối mặt với nhiều thách thức an ninh cả truyền thống và phi truyền thống Do có vị thế địa - chính trị quan trọng, lại phát triển năng động, nên châu Á - TBD trở thành nơi giao thoa lợi ích chiến lược giữa các nước Các cường quốc đẩy mạnh thực hiện chiến lược nhằm tranh giành ảnh hưởng, khiến cho môi trường an ninh khu vực thêm căng thẳng, phức tạp Đồng thời, các “điểm nóng” ở khu vực (Đài Loan, Triều Tiên, biển Hoa Đông, Biển Đông) diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ xung đột quân sự Đặc biệt, Mỹ đã triệt để lợi dụng những vấn đề này để củng cố liên minh, tăng cường sức mạnh quân sự ở khu vực, nhất là thúc đẩy thiết lập hệ thống Phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối - THAAD ở Hàn Quốc Bên cạnh đó các vấn đề an ninh phi truyền thống, nhất là khủng bố cũng diễn biến phức tạp đã xảy ra nhiều vụ khủng bố đẫm máu ở Trung Quốc, Pa-ki-xtan, Áp-ga-ni-xtan, Trung Á và một số nước Đông Nam Á (In-dô-nê-xi-a, Phi-líp-pin )

Trang 19

1.1.2 Sự thay đổi hình thái chiến tranh và điều chỉnh phương thức tác chiến trên thế giới

- Thời gian qua, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ đã có tác động sâu sắc đến lĩnh vực quốc phòng, quân sự, nhiều hình thái chiến tranh mới ra đời, tiêu biểu là các hình thái chiến tranh dưới đây:

Một là, chiến tranh công nghệ cao: Là cuộc chiến tranh, trong đó vũ khí

phương tiện công nghệ cao được sử dụng phổ biến, hoặc là vũ khí phương tiện chủ yếu, có tác dụng quyết định việc thực hiện các nhiệm vụ tác chiến [8] Chiến tranh công nghệ cao có một số đặc điểm nổi bật sau: Thứ nhất là, vũ khí công nghệ cao,

vũ khí chính xác được sử dụng chiếm tỷ lệ lớn (trong cuộc chiến tranh xâm lược Nam Tư của Mỹ và đồng minh năm 1999, vũ khí công nghệ cao chiếm 90%; chiến tranh Áp-ga-ni-xtan năm 2001 là 60%; chiến tranh I-rắc năm 2003 là khoảng 60% ) Thứ hai là, hiệu suất sử dụng vũ khí trang bị rất cao Trong chiến tranh vùng Vịnh (1991), mặc dù tỷ lệ máy bay F-117A xuất kích chỉ chiếm 2,5%, nhưng

đã phá hủy 40% mục tiêu chiến lược và 30% tổng số mục tiêu đánh phá trong ngày Trong chiến tranh Nam Tư, chỉ 6 máy bay tàng hình B-2 đã đảm nhiệm 30% mục tiêu trọng yếu [8] Thứ ba là, công tác tổ chức chỉ huy được tự động hóa cao Hệ thống C4I (chỉ huy, kiểm soát, truyền tin, máy tính, tình báo) đã liên kết các khâu trong quá trình nắm bắt, xử lý các tình huống và nâng cao hiệu quả, khả năng chỉ huy Thứ tư là, tiến công đường không ngày càng khẳng định vị trí quan trọng, tính hủy diệt ngày càng cao Thứ năm là, không gian tác chiến mở rộng, thời gian ngắn (chiến tranh vùng Vịnh 42 ngày, chiến tranh Nam Tư 78 ngày, chiến tranh I- rắc 25 ngày ) Thứ sáu là, kết hợp nhiều hình thức, thủ đoạn chiến tranh, toàn diện trên các mặt kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa, xã hội

Hai là, chiến tranh ủy nhiệm: Còn gọi là chiến tranh qua tay người khác, về

bản chất vẫn là một cuộc chiến tranh xâm lược, nhưng được thực hiện dưới hình thức khác Đó là cuộc chiến tranh mà kẻ xâm lược (có thể là một quốc gia hoặc liên minh quân sự) thực hiện can thiệp, hỗ trợ, chi viện cho lực lượng khác (có thể là một nước khác hoặc lực lượng đối lập của quốc gia bị xâm lược) tiến hành chiến

Trang 20

tranh lật đổ chính quyền đương nhiệm, dựng lên chính quyền mới theo ý định của

kẻ xâm lược Đây là loại hình chiến tranh vừa bao hàm đầy đủ tính chất và đặc điểm của chiến tranh thông thường, vừa có những đặc thù của chiến tranh xâm lược trong điều kiện mới Bên cạnh đó, sự hình thành các lực lượng vũ trang đối lập cùng các hoạt động quân sự là sơ sở chủ yếu để bạo loạn chính trị quy mô lớn phát triển thành chiến tranh ủy nhiệm Đặc biệt, can thiệp quân sự từ bên ngoài là nhân tố quyết định của chiến tranh ủy nhiệm Không có can thiệp từ bên ngoài bằng quân sự thì không thể hình thành chiến tranh ủy nhiệm, thậm chí sự can thiệp này còn giữ vai trò quyết định đến kết cục của chiến tranh

Ba là, chiến tranh phi đối xứng: Là phương thức chiến tranh sử dụng các

trang bị, vũ khí, phương tiện và các phương pháp quân sự một cách có hiệu quả của lực lượng chiếm ưu thế tiến công lực lượng kém ưu thế; hoặc của phía yếu hơn bị tiến công, phòng thủ chống lại đối phương có trang bị, vũ khí, phương tiện, kĩ thuật,

số lượng quân sự vượt trội hơn Các nước có tiềm lực kinh tế, KHCN, quốc phòng, quân sự yếu hơn, chưa đủ khả năng đối mặt trực tiếp với đối phương thường áp dụng phương thức này Trong chiến tranh phi đối xứng, vũ khí, phương tiện có vai trò đặc biệt quan trọng, thậm chí là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của chiến tranh Các hệ thống vũ khí, phương tiện sử dụng trong chiến tranh phi đối xứng phải bảo đảm được các yêu cầu: Hỏa lực mạnh, chi phí thấp, dễ sử dụng, linh hoạt, cơ động cao, dễ dàng trong ngụy trang, che giấu

Bốn là, chiến tranh mạng: Là một dạng tác chiến của chiến tranh thông tin,

là hành động công kích thông tin và phòng thủ thông tin có mục đích, có kế hoạch,

có tổ chức với hệ thống thông tin mạng được chỉ định trong không gian mạng thông tin Chiến tranh mạng có 4 đặc điểm nổi bật sau: Một, không gian tác chiến chủ yếu

là không gian thông tin mạng; hai, phương thức tác chiến là tiến công lây nhiễm vi rút; ba, tác chiến mạng được tiến hành ở nhiều cấp độ; bốn, việc xác định chính xác

kẻ thù trong chiến tranh mạng khó hơn so với chiến tranh thông thường

Năm là, chiến tranh phi quy ước: Đây là một loại hình chiến tranh đối lập với

“chiến tranh quy uớc” được tiến hành để hậu thuẫn cho phong trào phản kháng hoặc

Trang 21

nổi dậy nhầm gây sức ép, chống phá hoặc lật đổ chính quyền nước đối tượng Để tiến hành chiến tranh “phi quy ước” đối với một quốc gia, các thế lực bên ngoài thường sử dụng 03 lực lượng chủ yếu sau đó là lực lượng ngầm, lực lượng hỗ trợ và lực lượng bạo loạn

- Bên cạnh đó, thời gian gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của KHCN, các

nước lớn như Mỹ, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ đã có sự điều chỉnh quan trọng chiến lược quân sự, tiến hành cải cách quân đội nhằm nâng cao thế và lực trong cạnh tranh với các nước lớn khác Cụ thể:

+ Mỹ đã và đang chỉnh chiến lược quân sự Với mục tiêu duy trì vị thế

“siêu cường quân sự số 1 thế giới”, Mỹ đã tiến hành điều chỉnh chiến lược quân sự

và tiến hành cải cách Quân đội nhằm nâng cao khả năng tác chiến Theo đó, Mỹ tiếp tục duy trì mức chi phí quốc phòng cao nhất thế giới (năm 2015 là 598 tỷ USD; năm 2016 là 607 tỷ USD; năm 2017 là 618,7 tỷ USD, năm 2018 là 700 tỷ USD) [30] Mỹ cũng đẩy mạnh cắt giảm quân số (năm 2013, Mỹ đã cắt giảm 135.000 quân, năm 2016 cắt giảm 52.800 quân), đưa tổng lực lượng thường trực xuống còn khoảng 1.392.000 quân Đồng thời, Mỹ đẩy mạnh tái bố trí lại lực lượng toàn cầu theo hướng chú trọng khu vực châu Á - TBD (có kế hoạch điều chuyển 60% lực lượng Hải quân sang khu vực này), tái cơ cấu lực lượng tại châu Âu… Mỹ tăng cường sử dụng lực lượng đồng minh trong các cuộc chiến tranh nhằm giảm bớt tổn thất sinh mạng binh lính Mỹ, đồng thời gây sức ép với các đồng minh “chia sẻ” gánh nặng “bảo đảm an ninh” với Mỹ để giảm bớt chi phí quân sự Đặc biệt, Mỹ tăng cường bố trí binh lực, vũ khí trang bị hiện đại nhằm vào Trung Quốc… Những điều chỉnh, cải cách của Quân đội Mỹ, nhất là việc gia tăng bố trí binh lực, vũ khí hiện đại ở khu vực đã đe dọa nghiêm trọng đến an ninh Trung Quốc Do vậy, đây là một trong những nguyên nhân quan trọng thúc đẩy Trung Quốc cải cách Quân đội

+ Nga từng bước điều chỉnh chiến lược quân sự và cải cách Quân đội Để

thích ứng với môi trường an ninh mới và đáp ứng nhu cầu chiến lược quốc gia, Nga cũng đẩy mạnh điều chỉnh chiến lược quân sự và tiến hành cải cách Quân đội Từ năm 2003 Nga bắt đầu thúc đẩy việc sáp nhập các quân khu và lập một hệ thống chỉ huy chung Theo đó, Nga chia Quân đội thành 4 quân khu (Tây, Nam, Đông, Trung

Trang 22

Tâm) thay vì 6 quân khu như trước đây Đồng thời, lần lượt thành lập các bộ tư lệnh tác chiến liên hợp tại các quân khu này Đặc biệt, tháng 10.2008, Nga khởi động chương trình cắt giảm quân số quy mô lớn, giảm lừ 1.134.000 quân xuống còn 1.000.000 quân, sỹ quan giảm từ 355.000 người xuống còn 150.000 người, số lượng học viện, nhà trường trong Quân đội giảm từ 65 xuống chỉ còn 10 do vậy cải cách Quân đội Nga là một “mô hình” tham khảo tốt cho Trung Quốc trong cải cách Quân đội lần này

+ Nhật Bản đẩy mạnh hiện thực xây dựng nâng cấp Lực lượng Phòng về thành quân đội và điều chính chính sách quân sự Thời gian qua, Nhật Bản đã

thông qua Nghị quyết diễn giải lại Điều 9 Hiến pháp, cho phép Nhật Bản thực hiện

“quyền phòng vệ tập thể” Đồng thời Nhật Bản cũng liên tục tăng ngân sách quốc phòng (năm 2013 tăng 0,8%; năm 2014 tăng 3%; năm 2015 tăng 2%; năm 2016 tăng 1,5%, năm 2017 tăng , năm 2018) [30], để tăng cường mua sắm vũ khí trang

bị cho Lực lượng Phòng vệ như máy bay, tàu chiến, hệ thống trinh sát, tên lửa, tàu ngầm Ngoài ra, Nhật Bản cũng tích cực tham gia và có nhiều đề xuất trong các diễn đàn an ninh khu vực; tăng cường diễn tập quân sự song phương và đa phương trong và ngoài khu vực… do vậy sự điều chỉnh chính sách quốc phòng - an ninh của Nhật Bản cũng là một trong những nhân tố thúc đẩy Trung Quốc đẩy mạnh cải

của Ấn Độ Thời gian qua, Ấn Độ đẩy mạnh điều chỉnh đường lối quốc phòng và

chiến lược quân sự, chuyển từ “phòng thủ bị động” sang “phòng thủ chủ động và tích cực”, trong đó Ấn Độ đã tập trung phát triển khoa học quân sự và ứng dụng những công nghệ mới, hiện đại để tăng cường sức mạnh cho Quân đội và coi trọng phát triển tên lửa đạn đạo và vũ khí hạt nhân nhằm gia tăng khả năng “răn đe chiến lược” Đồng thời, Ấn Độ tiếp tục tăng ngân sách quốc phòng, điều chỉnh cơ cấu, tổ chức, vừa phát triển lực lượng Lục quân theo hướng cơ động nhanh, vừa coi trọng phát triển và hiện đại hóa lực lượng Hải quân và Không quân Đồng thời tăng cường diễn tập, cả đơn phương, song phương và đa phương Ấn Độ cũng là một “đối thủ” của Trung Quốc, hai nước lại có tranh chấp biên giới, nên sự điều chỉnh chiến lược quân sự của Ấn Độ cũng là một trong những nhân tố thúc đẩy Trung Quốc cải cách Quân đội

Trang 23

1.2 Tình hình Trung Quốc

1.2.1 Cải cách quân đội của Trung Quốc trước Đại hội 18

Trong lịch sử 90 năm (1927 - 2017), Quân đội (Quân Giải phóng Nhân dân - PLA) Trung Quốc đã trải qua rất nhiều lần cải cách thể chế chỉ huy lãnh đạo, điều chỉnh và tinh giản cơ cấu tổ chức, biên chế lực lượng Theo một thống kê của báo

“Quân Giải phóng Nhân dân”, đến năm 2012, PLA đã trải qua 13 lần cải cách Loại trừ những lần điều chỉnh chỉ đơn thuần là tăng hay giảm biên chế, lịch sử phát triển của Quân đội Trung Quốc có thể chia làm 4 giai đoạn cụ thể như sau:

- Giai đoạn từ cuối chiến tranh giải phóng đến năm 1955, thiết lập, kiện toàn thể chế lãnh đạo, chỉ huy và xây dựng lực lượng Thiết lập thể chế chỉ huy lãnh đạo,

bước đầu hình thành bộ khung lãnh đạo tối cao lực lượng vũ trang, cụ thể:

Thiết lập QUTW “Cương lĩnh chung Hội nghị Chính trị Hiệp thương Nhân dân toàn quốc Trung Quốc” (Hiến pháp lâm thời; 9.1949) quy định “PLA và Công

an Nhân dân chịu sự thống soái của Ủy ban Quân sự Cách mạng Chính phủ Nhân dân Trung Quốc” Ngày 19.10.49, Hội nghị lần thứ 3 Ủy ban Chính phủ Nhân dân Trung ương quyết định thành lập Ủy ban Quân sự Cách mạng Trung ương do Mao Trạch Đông làm Chủ tịch Ngày 27.09.54, Trung ương ĐCS Trung Quốc quyết định thành lập Ủy ban Quân sự Trung ương (gọi tắt là QUTW) do Mao Trạch Đông làm Chủ tịch Tháng 7.1958, Hội nghị mở rộng QUTW khẳng định: “QUTW là cơ quan công tác quân sự của Trung ương ĐCS Trung Quốc, là cơ quan thống soái lãnh đạo thống nhất toàn quân”

Thành lập Bộ Quốc phòng và Ủy ban Động viên Quốc phòng Quốc gia Ngày 27.09.54, Kỳ họp thứ nhất Quốc hội Trung Quốc Khoá I quyết định thành lập

Bộ Quốc phòng và Ủy ban Động viên Quốc phòng Quốc gia trực thuộc Quốc Vụ viện, nhưng đặt dưới sự lãnh đạo song song của Quốc Vụ viện và QUTW

Thiết lập thể chế Tổng bộ Tháng 10,11.1949 và tháng 4.1950, Trung Quốc

đã lần lượt thiết lập Tổng bộ Tham mưu, Tổng bộ Hậu cần Hậu phương, Tổng bộ Chính trị trực thuộc Ủy ban Quân sự Cách mạng Nhân dân Từ năm 1950 - 1955, QUTW lần lượt thiết lập thêm 05 Tổng bộ, cục, gồm: Tổng bộ Quản lý Cán bộ

Trang 24

(9.1950); Tổng bộ Quân giới (11.1954); Cục Huấn luyện, Cục Giám sát Lực lượng

Vũ trang và Tổng bộ Tài chính (1955)

Trong giai đoạn này, PLA đã nhiều lần tiến hành tinh giản biên chế, cắt giảm mạnh quân số Năm 1950, Trung Quốc cắt giảm 1,5 triệu quân; năm 1952, Trung Quốc tiếp tục cắt giảm thêm gần 2 triệu quân

- Giai đoạn 1955 -1978, kiện toàn thể chế, tổ chức biên chế:

Trong giai đoạn này, cuộc cải cách Quân đội được triển khai toàn diện theo hướng hoàn thiện thể chế chỉ huy lãnh đạo, tối ưu hoá cơ cấu lực lượng, cụ thể: Điều chỉnh, cải cách và kiện toàn thể chế Tổng bộ Tháng 01.1957, QUTW Trung Quốc đưa ra đề án rút gọn thể chế biên chế Quân đội Bắt đầu từ tháng 5.1957, lần lượt đã giải thể và sáp nhập 5 Tổng bộ thành 03 Tổng bộ, gồm Tổng bộ Tham mưu, Tổng bộ Chính trị, Tổng bộ Hậu cần Theo đó:

Xóa bỏ thể chế quân khu 4 cấp, kiện toàn hệ thống quân khu các cấp Tháng

7.1955, QUTW Trung Quốc quyết định hủy bỏ cách phân chia Quân khu cấp I, II, III và IV, hợp nhất Quân khu cấp II và cấp III gọi chung là quân khu tỉnh Từ đó, thể chế quân khu 4 cấp trước kia chuyển thành thể chế quân khu 3 cấp là ĐQK, quân khu tỉnh, quân khu phân khu (riêng Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải, Trùng Khánh thiết lập các khu cảnh bị hoặc khu phòng bị) Từ giữa những năm 1950 đến những năm 1960, Trung Quốc đã lần lượt thành lập 27 quân khu cấp tỉnh, gồm: Hà Bắc, Sơn Tây, Nội Mông Cổ, Liêu Ninh, Cát Lâm, Hắc Long Giang, Sơn Đông, Giang Tô, An Huy, Chiết Giang, Giang Tây, Phúc Kiến, Hà Nam, Hồ Bắc, Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Thiểm Tây, Ninh Hạ, Cam Túc, Thanh Hải, Tân Cương, Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam, Tây Tạng

Tải cơ cấu, kiện toàn tổ chức, biên chế ĐQK Ngày 11.02.1955 QUTW

Trung Quốc ra thông báo “Quyết định quy hoạch lại các quân khu trong toàn quốc”, trong đó, chia tách 06 Quân khu cấp I thành 12 ĐQK (Thẩm Dương, Bắc Kinh, Nội Mông, Nam Kinh, Tế Nam, Quảng Châu, Vũ Hán, Lan Châu, Tân Cương, Thành

Đô, Côn Minh và Tây Tạng) Tháng 4.1956, để tăng cường phòng ngự trên hướng chiến trường Hoa Đông và tăng cường sức chiến đấu cho Phúc Kiến, Trung Quốc quyết định thành lập ĐQK Phúc Kiến trên cơ sở hai Quân khu tỉnh Phúc Kiến và

Trang 25

Giang Tây thuộc ĐQK Nam Kinh Tháng 5.1967, để thống nhất chỉ huy tác chiến trên chiến trường Đông Bắc, QUTW quyết định chuyển ĐQK Nội Mông thành Quân khu tỉnh, đặt dưới sự lãnh đạo của ĐQK Bắc Kinh Tháng 12.1969, chuyển ĐQK Tây Tạng thành quân khu tỉnh, đặt dưới sự lãnh đạo của ĐQK Thành Đô Trong giai đoạn này, Trung Quốc đã nhiều lần cắt giảm quân số, điều chỉnh tỉ lệ của các quân binh chủng nhằm tối ưu hoá cơ cấu lực lượng Đến năm 1959, tổng quân

số của PLA giảm xuống còn 2,49 triệu Tuy nhiên, 10 năm cuộc “Đại Cách mạng Văn hoá” (1966 - 1976), do chuẩn bị “đánh sớm, đánh lớn, đánh chiến tranh hạt nhân” và phục vụ các hoạt động trong cuộc “cách mạng” này, biên chế bị hỗn loạn, quân số tăng mạnh Đến năm 1978, tổng quân số của PLA tăng lên 5,03 triệu quân Năm 1977, Đặng Tiểu Bình được bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch QUTW kiêm Tổng Tham mưu trưởng, tiến hành điều chỉnh thể chế biên chế, cắt giảm quân số xuống còn 4,2 triệu quân

- Giai đoạn 1978 -1985, kiện toàn thể chế, tồ chức biên chế, xây dựng Quân

đội cách mạng, chính quy và hiện đại

Tháng 12.1978 tại Hội nghị Trung ương 3 Khoá XI đã thông qua chiến lược

“4 hiện đại hoá” trong đó có hiện đại hoá quốc phòng Năm 1985, Trung Quốc đề ra quyết sách “thực hiện chuyển đổi mang tính chiến lược về tư tưởng chỉ đạo xây dựng Quân đội”, chuyển trạng thái chuẩn bị “đánh sớm, đánh lớn, đánh chiến tranh hạt nhân” sang “thời kỳ xây dựng hoà bình”, đề ra mục tiêu tổng quát là “xây dựng Quân đội Trung Quốc thành lực lượng Quân đội cách mạng, chính quy, hiện đại” Trong giai đoạn này, Trung Quốc tiến hành 03 lần tinh giản, cải cách thể chế, điều chỉnh biên chế lần lượt vào năm 1980, 1982, 1985, với trọng điểm là giảm quy mô Quân đội Cụ thể:

Cải cách thể chế chỉ huy lãnh đạo trung ương Tháng 12.1982, Kỳ họp thứ 5

Quốc hội Trung Quốc Khoá V đã thông qua “Hiến pháp nước CHND Trung Hoa” sửa đổi Trong đó quy định, “Ủy ban Quân sự Trung ương nước CHND Trung Hoa lãnh đạo lực lượng vũ trang toàn quốc”, đồng thời thiết lập Ủy ban Quân sự Trung ương nước CHND Trung Hoa Như vậy, từ đây Trung Quốc có hai Ủy ban Quân sự Trung ương là: Ủy ban Quân sự Trung ương Nhà nước (Quận ủy Nhà nước) và Ủy

Trang 26

ban Quân sự Trung ương ĐCS Trung Quốc (Quân ủy Trung ương), trên thực tế là hai tên gọi, một cơ cấu

Thực hiện mục tiêu cắt giảm 01 triệu quân Từ năm 1978 đến 1985, PLA tiến

hành 03 lần tinh giản, điều chỉnh biên chế quy mô lớn, lần lượt vào năm 1980,

1982, 1985 Theo đó, từ tháng 6.1985 - 12.1986, Lục quân đã giải thể 31 đơn vị từ cấp quân đoàn trở lên, điều chỉnh cắt giảm hơn 4.000 đơn vị cấp sư đoàn, lữ đoàn và trung đoàn Bên cạnh đó, các ĐQK, các quân, binh chủng cũng giải thể và cắt giảm phần lớn nhân viên thuộc các cơ quan, tổ chức lâm thời ngoài biên chế (ĐQK Thẩm Dương giải thể 300 cơ quan và cất giảm 10.000 quân; ĐQK Lan Châu giải thể 30 cơ quan; ĐQK Thành Đô giải thể 13 cơ quan; Không quân cắt giảm 120.000 quân, Hải quân giải thể 80 đơn vị với hàng nghìn quân )

Tái cơ cấu các ĐQK Từ tháng 6.1985, QUTW Trung Quốc lần lượt tái điều

chỉnh, hợp nhất 11 ĐQK thành 7 ĐQK Theo đó, Trung Quốc đã giải thể ĐQK Vũ Hán và sáp nhập vào ĐQK Quảng Châu và ĐQK Tế Nam; sáp nhập ĐQK Phúc Châu vào ĐQK Nam Kinh; sáp nhập ĐQK Côn Minh vào ĐQK Thành Đô; sáp nhập ĐQK Tân Cương với ĐQK Lan Châu Như vậy, sau đợt điều chỉnh này, Trung Quốc còn 7 ĐQK (Bắc Kinh, Thẩm Dương, Lan Châu, Tế Nam, Quảng Châu, Nam Kinh, Thành Đô)

Cải cách thể chế biên chế quân đoàn Năm 1981, Trung Quốc thí điểm xây

dựng các Tập đoàn quân (TĐQ) có đủ 4 lực lượng (tác chiến, chi viện, bảo đảm và hậu cần - kỹ thuật) Đến năm 1985, Trung Quốc quyết định chuyển đổi 33 Quân đoàn Bộ binh thành 24 TĐQ loại A, loại B, loại C Biên chế của TĐQ loại A gồm

06 sư đoàn (01 Sư đoàn tăng, 01 Sư bộ binh cơ giới, 02 Sư đoàn bộ binh, 01 Sư đoàn pháo, 01 Sư đoàn phòng không); TĐQ loại B gồm 04 sư đoàn và 03 lữ đoàn (01 Sư đoàn bộ binh cơ giới, 02 Sư đoàn bộ binh, 01 Lữ đoàn tăng, 01 Lữ đoàn pháo, 01 Lữ đoàn phòng không); TĐQ loại C gồm 03 Sư đoàn bộ binh, 01 Trung đoàn tăng, 01 Lữ đoàn pháo và 01 Lữ đoàn phòng không Ngoài ra, cả 3 loại TĐQ đều được biên chế 06 Trung đoàn chi viện (chống tăng, công trình, cầu phà, thông tin, phòng hoá ) và 04 tiểu đoàn bảo đảm (trinh sát, chiến tranh điện tử, cảnh vệ và sửa chữa ), 01 Sư đoàn huấn luyện

Trang 27

- Giai đoạn 1989 - 2012, tiến hành hiện đại hóa, tối ưu hóa tổ chức lực

lượng, bước đầu xây dựng Quân đội theo mô hình tác chiến liên hợp

Cuộc chiến tranh Mỹ tấn công xâm lược I-rắc (1991) đã tác động mạnh mẽ đến tư duy quân sự, tạo áp lực thúc đẩy Trung Quốc phải cơ cấu lại Quân đội nhằm chuẩn bị đối phó với “chiến tranh cục bộ trong điều kiện kỹ thuật hiện đại, công nghệ cao” Tiếp đó, cuối những năm 1990, QUTW Trung Quốc đề ra chiến lược “3 bước” xây dựng hiện đại hóa Quân đội và quốc phòng, gồm: Bước 1, từ cuối những năm 1990 đến năm 2010, đặt nền móng vững chắc cho hiện đại hoá quốc phòng và Quân đội Bước 2, từ năm 2010 - 2020, đẩy mạnh phát triển vũ khí trang bị kỹ thuật cao, thúc đẩy công cuộc xây dựng hiện đại hoá quốc phòng và Quân đội Bước 3, từ năm 2020 - 2050, thực hiện hiện đại hoá quốc phòng và Quân đội, đưa Trung Quốc trở thành “siêu cường quân sự” thế giới

Thực hiện chủ trương chiến lược trên, QUTW Trung Quốc yêu cầu PLA thực hiện “hai chuyển biến” (chuyển trọng điểm chuẩn bị chiến tranh từ “đánh thắng cuộc chiến tranh cục bộ trong điều kiện thông thường” sang chuẩn bị “đánh thắng cuộc chiến tranh cục bộ trong điều khoa học công nghệ cao, hiện đại”; chuyển

từ tập trung con người sang “tập trung kỹ thuật”) Theo đó, QUTW Trung Quốc tiến hành 02 lần cải cách, cắt giảm quân số (1997 - 1998; 2003), giảm tổng quân số của PLA xuống còn 2,3 triệu quân Cụ thể:

Cải cách thể chế cơ quan lãnh đạo Tổng bộ Tháng 4.1998, QUTW Trung

Quốc quyết định thành lập Tổng bộ Trang bị để nâng cao hiệu quả lãnh đạo hoạt động nghiên cứu, phát triển, chế tạo và mua sắm vũ khí trang bị, công nghiệp quốc phòng trong toàn quân Như vậy, Trung Quốc đã hình thành thể chế 04 Tổng bộ trực thuộc QUTW Tháng 9.1992, QUTW Trung Quốc quyết định thành lập Bộ Đặc chủng trực thuộc Tổng bộ Tham mưu, sáp nhập toàn bộ cơ quan chỉ huy các binh chủng (Cục Pháo binh, Cục Tăng thiết giáp, Cục Bộ đội Công trình) vào Bộ Đặc chủng

Tinh giản, tải cơ cấu và kiện toàn thể chế biên chế TĐQ Theo đó, PLA đã

giải thể 06 TĐQ cùng một loạt sư đoàn Năm 1997, Trung Quốc đã giải thể 02 TĐQ

có phiên hiệu là 28, 67 Năm 2003, PLA giải thể tiếp 04 TĐQ có phiên hiệu là 23,

24, 64, 63 Như vậy, PLA còn lại 18 TĐQ và được biên chế như sau: ĐQK Thẩm

Trang 28

Dương có TĐQ 16, 40, 39; ĐQK Bắc Kinh có TĐQ 27, 38, 65; ĐQK Lan Châu có TĐQ 21, 47; ĐQK Tế Nam có TĐQ 26, 54, 20; ĐQK Nam Kinh có TĐQ 1, 31, 12; ĐQK Quảng Châu có TĐQ 41, 42; ĐQK Thành Đô có TĐQ 14 và 13

Thục hiện “lữ đoàn hoá" các sư đoàn Lục quân, chuyển đổi các sư đoàn và

lữ đoàn Tăng thành các sư đoàn, lữ đoàn Thiết giáp Từ năm 1998 - 2003, toàn bộ

các TĐQ Lục quân đã thực hiện chuyển đối thể chế biên chế từ mô hình 04 cấp

“TĐQ - sư đoàn - lữ đoàn/trung đoàn - tiểu đoàn” sang mô hình 03 cấp “TĐQ - lữ đoàn/trung đoàn - tiểu đoàn” Đồng thời, PLA cũng tiến hành chuyển đổi các sư đoàn và lữ đoàn Tăng thành các sư đoàn, lữ đoàn Thiết giáp, các lữ đoàn pháo cao

xạ thành các lữ đoàn pháo phòng không trực thuộc các TĐQ

Điều chỉnh thể chế biên chế các cấp theo hướng "tinh gọn, đa năng, liên hợp

và hiệu quả cao” Trung Quốc đã tiến hành giải thể hoặc chuyển đổi biên chế một

loạt sư đoàn thành bộ đội Vũ Cảnh hoặc lực lượng dự bị, cắt giảm các đơn vị như văn hoá, giáo dục, thể dục thể thao, y tế như: Chuyển đổi 17 sư đoàn bộ binh thành các sư đoàn cơ động trực thuộc Vũ Cảnh; giải thể một loạt sư đoàn và lữ đoàn Lục quân; cắt giảm các đội văn nghệ, thể thao theo hướng giải thể hoặc chuyển sang dân

sự, chỉ giữ lại đoàn văn công của Tổng bộ Chính trị và đoàn văn công của Cục Chính trị Hải quân PLA Từ năm 1997 - 2003, Trung Quốc đã cắt giảm tổng cộng 800.000 quân, xuống còn 2,3 triệu quân

Thiết lập các lực lượng mới Ngày 03.10.86, QUTW Trung Quốc chính thức

phê chuẩn thành lập lực lượng Không quân Lục quân, thiết lập Cục Quản lý lực lượng Không quân Lục quân ở Tổng bộ Tham mưu Từ năm 1988, các TĐQ thành lập đại đội máy bay trực thăng và đến năm 1998, các đại đội trực thăng mở rộng thành Trung đoàn Hàng không Lục quân

1.2.2 Quốc phòng - quân đội của Trung Quốc trước Đại hội 18

- Về học thuyết, chiến lược quân sự và đối tượng tác chiến của Quân đội Trung Quốc Quân ủy Trung ương Trung Quốc đã chuyển từ “Chiến tranh nhân

dân” sang “Chiến tranh cục bộ sử dụng công nghệ cao” hoặc “Chiến tranh hiện đại” Thời kỳ đấu tranh cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông, Trung Quốc từng bước hình thành học thuyết quân sự “Chiến tranh nhân dân” Theo đó,

Trang 29

qua nghiên cứu các lịch sử trong thời kỳ kháng chiến trường chinh của Đảng cộng sản Trung Quốc cho thấy nguyên nhân Đảng Cộng sản Trung Quốc giành thắng lợi là: thứ nhất kết hợp được giữa binh đoàn chủ lực với lực lượng địa phương, trong

đó binh đoàn chủ lục có vai trò thực hiện nhiệm vụ chiến lược vượt quá phạm vi địa phương, đối phó và tiêu diệt quân chính quy của địch; lực lượng địa phương có nhiệm vụ bảo vệ địa phương và phối hợp với binh đoàn chủ lực tiến hành chiến đấu

trong các chiến dịch quy mô tương đối lớn Thứ hai, kết hợp giữa quân chính quy và

tổ chức vũ trang quần chúng Trong thời kỳ chiến tranh cách mạng, tổ chức vũ trang quần chúng có tương đối nhiều tên gọi, nhưng đều có nhiệm vụ chung là kết hợp giữa lao động và vũ trang Thứ ba, kết hợp giữa quần chúng vũ trang và quần chúng phi vũ trang, tức là kết hợp giữa lực lượng quần chúng cầm súng chiến đấu (binh đoàn chủ lực, binh đoàn địa phương, dân binh ) với số quần chúng không trực tiếp cầm súng chiến đấu

Đến sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, “thế hệ lãnh đạo thứ ba” của ĐCS Trung Quốc với Giang Trạch Dân làm “hạt nhân” tiếp tục kế thừa nhận định của

“thế hệ lãnh đạo thứ hai” về việc Trung Quốc không còn phải đối mặt với chiến tranh xâm lược toàn diện, thay vào đó là các cuộc “chiến tranh cục bộ” liên quan đến tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải Đặc biệt, việc Mỹ đưa vào sử dụng các loại vũ khí công nghệ cao (tàng hình, dẫn đường chính xác…) trong Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất (1991) đã khiến giới lãnh đạo Quân đội Trung Quốc nhận định, sự phát triển của khoa học - công nghệ đã tạo ra hình thái chiến tranh mới là “Chiến tranh cục bộ công nghệ cao”, còn gọi là “Chiến tranh hiện đại” Theo học thuyết này, các

nhà quân sự Trung Quốc cho rằng “Chiến tranh hiện đại” có 5 đặc điểm chính: Một

là, chiến tranh hạn chế, tiến hành ở một khu vực địa lý nhất định với mục tiêu chiến

lược cụ thể và hành động chiến đấu quyết định ngay trong giai đoạn đầu của chiến

tranh; hai là, quy mô hạn chế, nhung là lực lượng tinh nhuệ và được trang bị vũ khí công nghệ cao; ba là, khung thời gian chiến tranh sẽ ngắn hơn buộc phải có nhũng quyết định nhanh chóng, xử lý kịp thời các tình huống chiến dịch, chiến thuật; bốn

là, không gian chiến trường gồm trên bộ, trên không, trên biển và trên vũ trụ mà lực

Trang 30

lượng chủ yếu là Không quân với những đòn đánh chính xác, từ xa; năm là, tổ chức

và chỉ huy phức tạp hơn và phạm vi của chiến tranh rất rộng

Từ những đặc điểm đó, các nhà quân sự Trung Quốc cho ràng, học thuyết

quân sự Trung Quốc cần hướng theo các yếu tố sau: Một là, phát triển các vũ khí đánh chặn tầm xa nhằm tiêu diệt các lực lượng đối phương; hai là, thu thập các tin tức tình báo một cách toàn diện, kể cả thông qua các kênh thương mại; ba là, duy trì các đường thông tin mở để không bị gián đoạn chỉ huy và kiểm soát; bốn là, tiến hành cuộc tiến công tập trung bằng tên lửa đạn đạo chiến thuật; năm là, áp

dụng nhiều thủ đoạn chiến đấu để có thể sử dụng lực lượng có trình độ công nghệ

thấp hơn đánh lại lực lượng có trình độ công nghệ cao hơn; sáu là, vận dụng linh

hoạt các biện pháp kháng cự thụ động, phân tán, ngụy trang, nghi binh nhằm bảo tồn lực lượng

- Về chiến lược quân sự, Trung Quốc tiếp tục thực hiện chiến lược “phòng

ngự tích cực” Những năm gần đây, trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước

Trung Quốc, phần nội dung về “Xây dựng quốc phòng và Quân Giải phóng Nhân dân” thường nhấn mạnh đến việc quán triệt phương châm chiến lược quân sự phòng ngự tích cực, nâng cao khả năng tác chiến phòng ngự, đánh thắng chiến tranh cục

bộ trong điều kiện kỹ thuật cao Chiến lược quân sự phòng ngự tích cực đã được ĐCS Trung Quốc đề cập ngay từ thời kỳ chiến tranh giải phóng, trong đó bao gồm: Phòng ngự tích cực, còn gọi là phòng ngự thế công, hay phòng ngự quyết chiến Phòng ngự tiêu cực, còn gọi là phòng ngự chuyên thủ hay phòng ngự đơn thuần Phòng ngự tiêu cực trên thực tế là phòng ngự giả, chỉ có phòng ngự tích cực mới là phòng ngự thật, mới là phòng ngự để phản công và tiến công

“Thế hệ lãnh đạo thứ hai” của ĐCS Trung Quốc với Đặng Tiểu Bình làm

“hạt nhân” nhận thấy, việc thực hiện phương châm chiến lược “phòng ngự tích cực,

dụ địch vào sâu” đã bộc lộ sự hạn chế trong chiến tranh chống xâm lược quy mô lớn trong tương lai Theo đó, Trung Quốc đã điều chỉnh phương châm chiến lược theo hướng không “dụ địch vào sâu” như trước, mà tiến hành “phòng ngự tích cực” chống xâm lược trên toàn lãnh thổ, đánh bại quân xâm lược ngay tại biên giới Trung Quốc Tuy nhiên, trong khoảng thời gian từ 1980 - 1985, do vẫn xác định nguy cơ

Trang 31

Quân đội Liên Xô có thể tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn vào lãnh thổ Trung Quốc, nên trong thực hiện phương châm chiến lược “phòng ngự tích cực”, Quân đội Trung Quốc tiếp tục bố trí trọng điểm phòng ngự ở khu vực phía

Bắc, đồng thời thực hiện biện pháp đối phó theo các bước cụ thể sau: Một là, khi

chưa xảy ra chiến tranh, chú trọng xây dựng quốc phòng, chuẩn bị phòng ngự tại các vị trí đối phương có thể đột phá, giữ vững trận địa trong vòng từ 3 - 6 tháng giai

đoạn đầu chiến tranh; hai là, ổn định cục diện chiến tranh, hỗ trợ đất nước chuyển sang tình trạng chiến tranh; ba là, lập kế hoạch, chờ đợi thời cơ, tự tạo điều kiện

thích hợp để tiến công tiêu diệt lực lượng lớn đối phương

Trước những biến đổi về môi trường an ninh quốc gia và quốc tế “thế hệ lãnh đạo thứ 3” của ĐCS Trung Quốc tiếp tục có sự điều chỉnh đối với chiến lược quân

sự “phòng ngự tích cực” Tháng 01.1993, Hội nghị QUTW Trung Quốc mở rộng đã xác định, chiến lược quân sự của Trung Quốc tiếp tục kiên định phương châm

“phòng ngự tích cực” của thời kỳ trước, nhưng có sự điều chỉnh trọng tâm nhằm đánh thắng “chiến tranh cục bộ trong điều kiện kỹ thuật hiện đại” Sách Trắng Quốc phòng Trung Quốc năm 2002 [26] cũng nêu rõ: “Trung Quốc thực hiện phương châm chiến lược “phòng ngự tích cự” theo nguyên tắc tiến hành tác chiến phòng ngự, tự vệ và chỉ tiến công sau khi bị tấn công Để đáp ứng những thay đổi trên phương diện quân sự thế giới và những đòi hỏi của chiến lược phát triển quốc gia, Trung Quốc đưa ra phương châm chiến lược quân sự là “phòng thủ tích cực trong thời kỳ mới” dựa trên cơ sở đánh thắng các cuộc chiến tranh cục bộ trong điều kiện

kỹ thuật hiện đại”

Theo đó, để đối phó với “chiến tranh cục bộ trong điều kiện kỹ thuật hiện đại”, Quân đội Trung Quốc tiếp tục thực hiện “phòng ngự tích cực” theo 03 giai đoạn, gồm: Phòng ngự chiến lược - phòng ngự trận địa nhằm ngăn chặn và đẩy lùi các cuộc tấn công bất ngờ của kẻ địch; phản công chiến lược - khi phòng thủ có hiệu quả, chặn đứng các cuộc tiến công của đối phương thì tồ chức phản công chiến lược; tiến công chiến lược - khi kẻ địch đã suy yếu và khi có điều kiện, tiến hành tiến công mang tính quyết định để kết thúc cuộc chiến

Trang 32

Đặc biệt, Quân đội Trung Quốc điều chỉnh mạnh mẽ phương thức tiến hành chiến tranh, lấy tác chiến hiệp đồng các quân, binh chủng làm hình thức tác chiến cơ

bản, với một số định hướng phát triển cụ thể như sau: Lục quân chuyển từ phương

thức phòng thủ khu vực sang phương thức cơ động liên khu vực, nâng cao khả năng tác chiến đồng bộ cả trên không và mặt đất, cơ động đường xa, đột kích nhanh và tác

chiến đặc nhiệm; Hải quân từng bước mở rộng chiều sâu chiến lược phòng ngự biển gần, nâng cao năng lực tác chiến tổng hợp trên biển và năng lực đánh trả hạt nhân;

Không quân nhanh chóng chuyển đổi từ phòng không trên đất liền sang công thủ toàn

diện, nâng cao năng lực tiến công đường không, đánh chặn tên lừa, trinh sát cảnh giới

và vận tải chiến lược; Pháo binh 2 từng bước hoàn thiện hệ thống cả lực lượng vũ khí

hạt nhân và vũ khí thông thường, nâng cao khả năng răn đe chiến lược và tiến công bằng vũ khí thông thường trong điều kiện tin học hóa

- Về đối tượng tác chiến, trong lịch sử hình thành và phát triển của Quân đội

Trung Quốc, trong mỗi giai đoạn khác nhau, Trung Quốc xác định nhiều đối tượng tác chiến chiến lược khác nhau: Trong thời kỳ đấu tranh cách mạng, giải phóng đất nước (trước năm 1949), Quân đội Trung Quốc xác định phát-xít Nhật và Quân đội Quốc dân đảng là đối tượng tác chiến chủ yếu; từ năm 1949 - 1957, Trung Quốc xác định Quân đội Mỹ là đối tượng tác chiến chủ yếu; từ năm 1958 - đầu thập kỹ 70 của thế kỹ XX, Trung Quốc xác định Mỹ và Liên Xô là “kẻ thù” và Quân đội Liên Xô, Quân đội Mỹ là đối tượng tác chiến chủ yếu; từ đầu thập kỳ 70 của thế kỹ XX đến năm 1991, Trung Quốc xác định Quân đội Liên Xô là đối tượng tác chiến chủ yếu, Quân đội Mỹ, Nhật Bản, Việt Nam là đối tượng tác chiến thứ yếu; từ năm 1991 đến nay, Trung Quốc xác định Quân đội Mỹ là đối tượng tác chiến chủ yếu, Quân đội Đài Loan và các nước có tranh chấp với Trung Quốc (Ấn Độ, Nhật Bản, Phi-líp-pin ) là đối tượng tác chiến cơ bản

- Trước cải cách Quân đội Trung Quốc vẫn còn một số tồn tại, hạn chế sau:

Thứ nhất, cơ chế chỉ huy tác chiến của Quân đội Trung Quốc tập trung cho đối phó với tình huống thời bình, do đó không phù hợp với thực chiến Ví dụ, Quân đội Trung Quốc có 4 Tổng bộ, trong khi các ĐQK, quân khu, quân, binh chủng cũng có 4 cơ quan bảo đảm tương ứng Các cơ quan bảo đảm này thực chất đang thực hiện cơ chế

Trang 33

chỉ huy theo ngành dọc, trong khi đó ít bị chỉ huy bởi chính lực lượng quản lý cùng cấp Do đó, mặc dù duy trì cơ chế này sẽ giúp các cơ quan bảo đảm này nâng cao năng lực xây dựng, phát triển nhưng lại không phù hợp với tình hình tác chiến thực tế nếu có chiến sự xảy ra Chính vì vậy, nhìn một cách tổng thể, cơ chế chỉ huy của Quân đội Trung Quốc phải được cải cách, mang tính thực chiến cao hơn

Thứ hai, chức năng chồng chéo, khả năng hiệp đồng quân, binh chủng hạn

chế Ví dụ, đối với lực lượng đổ bộ đánh chiếm đảo, cơ chế lãnh đạo được thực hiện phải trải qua 5 cấp gồm Quân ủy- Bộ Tổng tham mưu - ĐQK - Cơ quan chỉ huy binh chủng thuộc ĐQK - Lực lượng tác chiến Trong khi đó, lực lượng Không quân

và Hải quân phải chịu sự quản lý điều hành và ra mệnh lệnh trực tiếp từ Bộ Tư lệnh Không quân và Bộ Tư lệnh Hải quân Như vậy, để thực hiện được hoạt động tác chiến đánh chiếm đảo phải trải qua nhiều cấp và nhiều khâu trung gian khiến hoạt động tác chiến hết sức khó khăn Sau khi tiến hành cải cách, hoạt động tác chiến đánh chiếm đảo chỉ còn phải trải qua 3 khâu đó là Quân ủy - Chiến khu - Lực lượng tác chiến

Thứ ba, cơ chế quản lý của Quân đội Trung Quốc trước cải cách đa phần

đều do lực lượng Lục quân nắm quyền Ví dụ, các quân, binh chủng như Hải quân, Không quân và Pháo binh 2 đều có Bộ Tư lệnh riêng, nhưng chỉ có lực lượng Lục quân mới chịu sự chỉ huy, lãnh đạo hoàn toàn của Bộ Tổng tham mưu Điều này,

vô hình trung giao phó chức năng lãnh đạo chỉ huy lực lượng toàn quân, các quân, binh chủng cho Lục quân Do đó, thời gian qua, Lục quân được đầu tư hiện đại hóa mạnh nhất

Thứ tư, việc duy trì quân số thường trực lên tới 2,3 triệu quân phải tiêu tốn

khoản ngân sách rất lớn cho công tác nuôi quân Bên cạnh đó, Quân đội nước này

có quá nhiều các đơn vị không chiến đấu như lái xe, văn công tạo thêm gánh nặng cho ngân sách Ngoài ra, tình trạng tham nhũng, công tác đào tạo cán bộ kém làm suy giảm tinh thần chiến đấu và tính kỹ luật trong Quân đội

Thứ năm, năng lực tác chiến của Quân đội Trung Quốc có bước phát triển

đáng kể nhưng vẫn giới hạn ở trong nước và các vùng biển gần Quân đội Trung Quốc với vũ khí trang bị hiện đại, thường xuyên tiến hành các hoạt động huấn

Trang 34

luyện, diễn tập trong điều kiện thực chiến Do vậy khả năng tác chiến của Quân đội Trung Quốc phát triển mạnh mẽ, song chỉ ở trên đất liền, khu vực biển gần, đối với khu vực biển xa và ngoài lãnh thổ vẫn còn rất hạn chế Nguyên nhân chính là do khả năng đảm bảo hậu cần liên hợp, khả năng tiếp dầu trên không hạn chế, chưa có các căn cứ bên ngoài lãnh thổ và chưa từng tham chiến

1.2.3 Tình hình chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh và quan hệ đối ngoại của Trung Quốc thời gian qua

Từ Đại hội XVIII (11.2012) đến nay, tình hình chính trị - nội bộ Trung Quốc cơ bản ổn định, vị thế và quyền uy của Tổng Bí thư Tập Cận Bình được khẳng định, nhưng cũng tồn tạt nhiều vấn đề phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ, trong đó nổi lên một số điểm sau: Tổng Bí thư Tập Cận Bình sớm khẳng định được vị thế, quyền uy trong nội bộ, trở thành nhà lãnh đạo mạnh, có quyền lực tuyệt đối Theo

đó, Tập Cận Bình đã kiểm soát toàn bộ các mặt công tác của Trung Quốc, cả về chính trị, kinh tế, quân sự, an ninh và ngoại giao Tập Cận Bình cũng đã chính thức xác lập vị thế “hạt nhân lãnh đạo” của Đảng Cộng sản (ĐCS) Trung Quốc, đồng thời sớm hình thành hệ thống lý luận riêng của bản thân Đặc biệt, uy tín của Tập Cận Bình trong nội bộ Đảng và trong xã hội tăng cao nên ông thực hiện các chính sách đề ra một cách quyết liệt mà không bị cản trở Trung Quốc đẩy mạnh chỉnh đốn, xây dựng Đảng, quyết liệt trong cuộc chiến chống tham nhũng và đã đạt được những thành công quan trọng Theo đó, Trung Quốc đã thực hiện cuộc chiến chống tham nhũng toàn diện, quyết liệt và không có vùng cấm Từ năm

2013 đến tháng 12.2018, Trung Quốc đã xử lý hơn 1,5 triệu đảng viên, trong đó có hơn 200 cán bộ từ cấp Thứ trưởng trở lên (điển hình là nguyên ủy viên Thường vụ

Bộ Chính trị Chu Vĩnh Khang; nguyên ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch QUTW Quách Bá Hùng và Từ Tài Hậu; ủy viên Bộ Chính trị Tôn Chính Tài; 18 ủy viên Trung ương và 15 ủy viên dự khuyết Trung ương đương nhiệm ) Trong Quân đội, đã có khoảng 60 sỹ quan từ cấp Thiếu tướng trở lên bị bắt, điều tra, hoặc truy

tố, trong đó có 7 Thượng tướng, 4 Trung tướng [27] Tuy nhiên, tình hình chính trị

- nội bộ và an ninh trật tự xã hội có nhiều phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ, cụ thể:

Trong nội bộ xuất hiện tư tường bất mãn, thậm chí là bất tuân lệnh, hình thành lực lượng “chống đối ngầm”, nhất là từ những nhân vật “dính chàm” bị mất chức,

Trang 35

hoặc bị xử lý kỹ luật trong Đảng, chính quyền và Quân đội; xảy ra nhiều vụ việc mất trật tự, an toàn xã hội, trong đó có những vụ việc được cho là hoạt động phá hoại ngầm; phong trào đấu tranh đòi “dân chủ” diễn ra ở nhiều nơi, nhất là ở Hồng Công, Ma Cao; quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan có xu hướng xấu đi, chủ yếu

do “Tổng thống” Đài Loan Thái Anh Văn có nhiều tuyên bố và hành động theo hướng “đòi Đài Loan độc lập”

Kinh tế Trung Quốc đạt được nhiều thành tựu quan trọng, cả trong kinh tế đối nội và kinh tế đối ngoại Mặc dù tăng trưởng GDP có xu hướng suy giảm,

nhưng vẫn giữ ở mức khá cao (năm 2013 là 7,7%; năm 2014 là 7,4%, năm 2015 là 6,9%; năm 2016 đạt 6,7%, năm 2017 đạt 6,8%, năm 2018 đạt 6,6%) [22, tr290] Trong khi đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đạt kết quả quan trọng, tỷ trọng nông nghiệp và công nghiệp trong GDP giảm, tỷ trọng dịch vụ tăng, mức độ phụ thuộc vào đầu tư và xuất khẩu giảm… Trung Quốc đã chuyển từ nước thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là chủ yếu sang thành một nhà đầu tư ra nước ngoài hàng đầu thế giới Nổi bật nhất là trong năm 2016, Trung Quốc thu hút được 124 tỷ USD FDI; trong khi các doanh nghiệp Trung Quốc đã đầu tư ra nước ngoài khoảng 370

tỷ USD (170 tỷ USD đầu tư trực tiếp, 200 tỷ USD mua bán sáp nhập doanh nghiệp) Nhiều ngành KHCN của Trung Quốc, nhất là trong các ngành KHCN mới, mũi nhọn (công nghệ thông tin, vũ trụ, gien, công nghệ xanh ) được xếp hàng đầu thế giới Đáng chú ý, Trung Quốc đã đề ra mục tiêu ứng ngân sách cho nghiên cứu và phát triển lên 2,5% GDP vào năm 2020, phấn đấu đến năm 2050 trở thành cường quốc “số 1” thế giới về “sáng tạo KHCN” Trong khi đó, tiến trình “quốc tế hóa” đồng NDT đạt được thành công quan trọng Từ 01.10.16, đồng NDT của Trung Quốc đã chính thức trở thành đồng tiền dự trữ trong “giỏ tiền tệ” quốc tế, trờ thành

1 trong 6 đồng tiền dự trữ của hệ thống tài chính quốc tế (USD, bảng Anh, yên Nhật, Ơ-rô của EU, Franc Thụy Sĩ) Tuy nhiên, nền kinh tế Trung Quốc vẫn còn gặp nhiều khó khăn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ, cụ thể là: Tăng trưởng GDP tiếp tục xu hướng suy giảm; dự trữ ngoại tệ tiếp tục giảm, tính đến cuối tháng 9.2017 chỉ còn khoảng 3.100 tỷ USD, giảm 300 tỷ USD so với tháng 12.2015; thâm hụt ngân sách tăng Trong năm 2016, thâm hụt ngân sách của Trung Quốc lên 340 tỷ USD, tăng 85,84 tỷ USD so với năm 2015

Trang 36

Tăng cường đầu tư cho quốc phòng, tiềm lực quốc phòng - an ninh được củng

cố mạnh mẽ Theo đó, Trung Quốc luôn duy trì ngân sách quốc phòng ở mức cao

Năm 2016, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc tăng 7,6%, lên 146,28 tỷ USD, năm 2017 tăng 7% lên khoảng 150 tỷ USD, năm 2018 tăng 8,1% lên khoảng 160 tỷ USD, năm 2019 tăng 7,5% lên khoảng 171 tỷ USD, tiếp tục là nước có chi phí quốc phòng cao thứ 2 thế giới (sau Mỹ) [30] Ngành công nghiệp quốc phòng của Trung Quốc đạt được nhiều thành tựu quan trọng Trung Quốc đã nghiên cứu, sản xuất được nhiều loại vũ khí trang bị tiên tiến, như máy bay tiêm kích tàng hình thế hệ thứ 5 J-

20, thủy phi cơ lớn nhất thế giới AG-600, tàu sân bay Sơn Đông, tên lửa hành trình siêu âm CM-302, tên lửa phòng không HQ-9 Hoạt động quân sự ở bên ngoài được

mở rộng Trung Quốc thường xuyên duy trì một biên đội hộ hàng tham gia “chống cướp biển” ở vịnh A-đen/Xô-ma-li Trung Quốc cũng tăng cường lực lượng tham gia hoạt động “gìn giữ hòa bình” của LHQ Đặc biệt, lần dầu tiên Trung Quốc đã thiết lập

một căn cứ quân sự ở nước ngoài (Di-bu-ti)… Tuy nhiên, nền quốc phòng - an ninh

Trung Quốc đứng trước một số khó khăn, thách thức: Thường xuyên phải đối mặt với

các hoạt động khủng bố ở trong nước; môi trường an ninh xung quanh có nhiều bất

ổn, mâu thuẫn trong tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với các nước láng giềng diễn biến phức tạp; Mỹ tăng cường hiện diện quân sự ở khu vực, thúc đẩy hình thành các liên minh an ninh, dẫn đến nguy cơ va chạm, xung đột

Trung Quốc đẩy mạnh điều chỉnh chính sách, mở rộng hoạt động đối ngoại,

vị thế và ảnh hưởng trên trường quốc tế không ngừng gia tăng Theo đó, Trung

Quốc đã điều chỉnh đường lối, chủ trương từ “giấu mình chờ thời” sang “chủ động hành động”, từ vị thế “chạy theo quy tắc của thế giới” sang “tạo lập trật tự quan hệ quốc tế và quy tắc quan hệ quốc tế mới” Trung Quốc cũng đề xướng và nhấn mạnh nhiều tư tưởng, quan điểm mới về quan hệ đối ngoại và trật tự quốc tế theo

“kiểu Trung Quốc” (“vận mệnh chung”, “bình đẳng, tin cậy, bao dung”, “hợp tác cùng thắng” ) và nhận được sự ủng hộ của nhiều nước Đồng thời, đề xuất và thúc đẩy thực hiện hàng loạt “sáng kiến” mang tầm chiến lược trên các lĩnh vực với Trung Quốc là “hạt nhân”, nổi bật là chiến lược “Một vành đai, một con đường”

Trang 37

Trung Quốc cũng thúc đẩy quan hệ với các nước láng giềng, “quyết đoán” trong quan hệ với các nước lớn, mở rộng ảnh hưởng với các nước, các khu vực khác trên thế giới Đặc biệt, Trung Quốc thúc đẩy ngoại giao kinh tế, tăng cường viện trợ cho các nước nhằm mở rộng “quyền lực mềm” Hiện Trung Quốc đã trở thành một trong những nước viện trợ nước ngoài hàng đầu thế giới Từ năm 2012 đến nay, Trung Quốc đã cam kết viện trợ và cho các nước vay hàng trăm tỷ USD… Tuy nhiên, quan hệ đối ngoại của Trung Quốc cũng đứng trước một số khó khăn phức tạp: vấn đề tranh chấp chủ quyền với các nước láng giềng tiếp tục căng thẳng; Mỹ đẩy mạnh triển khai chiến lược ở khu vực châu Á - TBD, gia tăng kiềm chế, ngăn chặn Trung Quốc; một số nước trên thế giới bày tỏ lo ngại, đề phòng cảnh giác trước sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc, nhất là về kinh tế…

- Chiến lược của Trung Quốc và chiến lược đối với khu vực Châu Á - Thái

Bình Dương

Sau Đại hội XVIII, “thế hệ lãnh đạo thứ 5” của ĐCS Trung Quốc với Tổng

Bí thư Tập Cận Bình làm “hạt nhân” vừa kế thừa đường lối, chính sách của thế hệ tiền nhiệm, vừa điều chỉnh chiến lược toàn cầu cho phù hợp với điều kiện mới, với

chủ trương, biện pháp cụ thể như sau: Chủ trương, mục tiêu chiến lược: Tranh thủ

và tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi để phát triển kinh tế, từng bước tăng cường tiềm lực tổng hợp quốc gia, thực hiện mục tiêu “Giấc mộng Trung Quốc” -

sự nghiệp “phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa”, xác lập vai trò cường quốc thế giới, trở thành một cực trong thế giới đa cực, có khả năng chi phối công việc quốc tế Đồng thời thông qua các văn kiện, chỉ thị của Đảng Cộng sản trong thời gian qua có thể đưa ra một số mục tiêu cụ thể của Trung Quốc hiện nay, gồm: Một

là, duy trì ổn định chính trị, kiên trì con đường xây dựng CNXH đặc sắc Trung Quốc Hai là, thực hiện mục tiêu “xây dựng toàn diện xã hội khá giả” vào năm

2020, trở thành “cường quốc XHCN” hiện đại hoá, giàu mạnh, dân chủ, văn minh, hài hoà vào năm 2049 Ba là, từng bước rút ngắn khoảng cách chênh lệch, tiến tới đuổi kịp trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ của thế giới, có những lĩnh vực chiếm ưu thế, đưa Trung Quốc trở thành “cường quốc sáng tạo” Bốn là, tiềm lực

Trang 38

quốc phòng được tăng cường, đáp ứng được yêu cầu của cuộc chiến tranh hiện đại

kỹ thuật cao Năm là, thống nhất Đài Loan, “thu hồi lãnh thổ” Để thực hiện được những chủ trương, mục tiêu trên có thể nhận thấy Trung Quốc đã và đang thực

hiện một số biện pháp sau: Về chính trị, kiên trì vai trò lãnh đạo của ĐCS và con

đường xây dựng CNXH đặc sắc TQ; đẩy mạnh công tác chống tham nhũng, nâng cao sức chiến đấu của Đảng Đáng chú ý, từ sau Đại hội XVIII, ĐCS Trung Quốc đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, trong đó phòng chống tham nhũng là trọng tâm, nhằm làm trong sạch bộ máy, khôi phục niềm tin của nhân dân Về kinh tế, điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế, hướng tới mục tiêu tăng trưởng “bền vững” và “cân bằng” hơn, xây dựng thành công xã hội khá giả toàn diện vào năm

2020, từng bước rút ngắn khoảng cách chênh lệch, tiến tới đuổi kịp trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ thế giới, có những lĩnh vực chiếm ưu thế, tạo điều kiện cho phát triển sức mạnh tổng hợp của đất nước trong những năm tiếp theo Về quốc phòng, tiếp tục điều chỉnh chiến lược quân sự, tăng cường tiềm lực quốc phòng, đáp ứng yêu cầu của chiến tranh hiện đại kỹ thuật cao, phấn đấu trở thành cường quốc quân sự khu vực trước năm 2020 và cường quốc quân sự toàn cầu vào giữa thế kỹ XXI, có đủ khả năng giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh hiện đại

Về đối ngoại, điều chỉnh mạnh mẽ về đường lối, chủ trương, mục tiêu, phương châm và thứ tự ưu tiên trong chính sách đối ngoại Đặc biệt, Trung Quốc triển khai hàng loạt biện pháp chiến lược đối ngoại mới, như đề xướng thúc đẩy thực hiện nhiều tư tưởng, quan điểm mới về quan hệ đối ngoại và trật tự quốc tế theo

“kiểu Trung Quốc”, nhấn mạnh tư tưởng chiến lược “cộng đồng chung vận mệnh”; chủ động xây dựng “luật chơi” quốc tế, khu vực, tham gia quản trị toàn cầu, theo đó phát huy tích cực vai trò của Trung Quốc trong các tổ chức, diễn đàn không có sự tham gia của Mỹ như SCO, BRICS; đề xuất và thúc đẩy thực hiện các sáng kiến mới như “Giấc mộng châu Á - TBD”; “Cơ chế An ninh mới ở châu Á”; thành lập Ngân hàng Phát triển mới (NDB) và Quỹ dự phòng khẩn cấp (CRA) của BRICS; Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB); “Một vành đai, một con đường” (OBOR)

Trang 39

Chiến lược đối với khu vực châu Á - TBD: Chủ trương, mục tiêu chiến

lược: Phát huy vai trò nước lớn, thực hiện đồng bộ các giải pháp từ chính trị, kinh

tế, văn hóa, đến đối ngoại và quân sự nhằm từng bước mở rộng ảnh hưởng ở khu vực, phá thế bao vây, ngăn chặn của Mỹ, từng bước đẩy lùi ảnh hưởng của Mỹ ra khỏi khu vực Tây Thái Bình Dương, đưa Trung Quốc trở thành cường quốc có ảnh hưởng mang tính quyết định ở khu vực, lấy đó làm bàn đạp mở rộng ảnh hưởng ra phạm vi toàn cầu Thông qua quá trình nghiên cứu và các văn kiện của Trung

Quốc có thể đưa ra một số biện pháp đã và đang thực hiện sau: Một là, kiên trì chủ

trương mở rộng quan hệ với khu vực, phát huy các thế mạnh, đặc biệt là thế mạnh

về kinh tế để gia tăng ảnh hưởng Đẩy nhanh thực hiện sự liên kết với các nước láng giềng thông qua hạ tầng cơ sở giao thông, thông tin và vận chuyển năng lượng, với mục tiêu “mọi con đường đều đến Bắc Kinh” Đồng thời, thúc đẩy sự tương tác ngày càng sâu rộng về kinh tế trong khu vực châu Á - TBD, nhất là với Đông Á và Nam Á, từng bước hình thành “cộng đồng lợi ích” thực chất Hai là, nhanh chóng bổ khuyết về an ninh, tăng cường xây dựng sức mạnh an ninh Theo

đó, Trung Quốc đẩy mạnh tuyên truyền về khái niệm an ninh mới “tin tưởng lẫn nhau, bình đẳng, cùng có lợi”, đề xướng an ninh chung, an ninh hợp tác, an ninh tổng hợp, thúc đẩy hình thành cộng đồng an ninh châu Á - TBD Đồng thời, kiên trì ưu tiên thông qua hiệp thương đối thoại để giải quyết tranh chấp, phải do chính các nước trong cuộc thông qua đàm phán song phương giải quyết bằng biện pháp hòa bình, chống lại sự can thiệp của bên thứ ba Đặc biệt, Trung Quốc từng bước thúc đẩy hiện đại hóa quân sự một cách chắc chắn, tăng cường khả năng tác chiến thực tế, không ngừng can dự mạnh mẽ vào các vấn đề an ninh của khu vực châu Á

- TBD… Ba là, đề cao sách lược tấn công vào lòng người, mềm mỏng với các

nước láng giềng, tăng cường lòng tin chính trị, chú trọng sự xâm nhập bằng văn hóa, tăng cường sức mạnh mềm và sức hấp dẫn đối với các nước châu Á - TBD như: Mở rộng giao lưu với các nước láng giềng, thúc đẩy giao lưu về giáo dục, văn hóa và tôn giáo với các nước láng giềng, mở rộng giao lưu dân gian và địa phương, từng bước tăng cường số lượng lưu học sinh của các nước trong khu vực

Trang 40

đến Trung Quốc học tập, tiếp tục mở rộng các Trung tâm văn hóa Trung Quốc và Học viện Khổng Tử, đưa Trung Quốc trở thành điểm đến hấp dẫn của người dân

trong khu vực châu Á - TBD Bốn là, tiếp tục kiến tạo, chủ động dẫn dắt, thúc đẩy

xây dựng các cơ chế hợp tác trong khu vực Trung Quốc xác định, hợp tác song phương sẽ quan trọng hơn hợp tác đa phương; phản đối chính trị hóa trong Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS); đưa khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN phát triển theo chiều sâu; thúc đẩy đàm phán Hiệp định đối tác toàn diện khu vực

(RCEP)… Năm là, tăng cường sức mạnh trên biển, mở rộng quyền lợi biển Theo

đó, Trung Quốc tăng cường “ngoại giao biển”, duy trì tranh chấp một cách hợp lý, tăng cường quản lý khủng hoảng, thúc đẩy giải quyết song phương các tranh chấp; đẩy mạnh phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật biển, mở rộng khai thác tài nguyên và năng lượng biển; đẩy mạnh hiện đại hóa lực lượng Hải quân, bảo vệ có hiệu quả an ninh trên biển, tăng cường khả năng kiểm soát đường dài của các lực lượng bảo vệ biển, tăng cường xác lập chủ quyền đối với bốn khu vực thuộc biển gần là Hoàng Hải, Đông Hải và eo biển Đài Loan, bảo đảm giao thông chiến lược trên biển thông suốt, phá vỡ sự phong toả của Mỹ đối với Trung Quốc, tiến bước vững chắc vào trung tâm của TBD và Ấn Độ Dương

Ngày đăng: 20/09/2020, 08:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w