1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ tại quỹ phát triển đại học quốc gia hà nội theo hướng xã hội hóa giáo dục

132 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 2,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù Chính phủ là nhà đầu tư chủ yếu cho giáo dục đại học ở hầu hết các quốc gia, nhưng ngày càng có nhiều nguồn tài chính khác giúp chia sẻ chi phí này: người học, doanh nghiệp, các t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ HÀ

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN TÀI TRỢ TẠI QUỸ PHÁT TRIỂN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

THEO HƯỚNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ HÀ

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN TÀI TRỢ TẠI QUỸ PHÁT TRIỂN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

THEO HƯỚNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 8140114

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thị Thu Hằng

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tác giả đã hoàn thành luận văn Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới tới Ban Giám hiệu trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội cùng với quý Thầy cô trực tiếp giảng dạy lớp Cao học Quản lý giáo dục khóa 15 – S5, các Thầy cô là giảng viên, các Nghiên cứu sinh, các nhà khoa học trong và ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Đỗ Thị Thu Hằng – người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên, định hướng, cung cấp kiến thức lý luận và thực tiễn đồng thời trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tác giả tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Đại Học Quốc gia Hà Nội, Lãnh đạo Quỹ Phát triển ĐHQGHN, Lãnh đạo các trường thành viên, các khoa trực thuộc, các phòng ban thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp số liệu, cho ý kiến và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình khảo nghiệm thực tế Trong quá trình thực hiện đề tài tác giả đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, sai sót trong luận văn Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp, chỉ dẫn quý báu của thầy cô, các bạn đồng nghiệp và các nhà khoa học trong hội đồng khoa học để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Nguyễn Thị Hà

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASXH : An Sinh Xã Hội

ĐHQGHN : Đại học Quốc gia Hà Nội

GD & ĐT : Giáo dục và đào tạo

HS-SV : Học sinh – sinh viên

Quỹ : Quỹ Phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội UBND : Ủy Ban Nhân Dân

NQTW2 : Nghị quyết trung ƣơng 2

NQTW4 : Nghị quyết trung ƣơng 4

NQTW6 : Nghị quyết trung ƣơng 6

QLGD : Quản lý giáo dục

XHH : Xã hội hóa

XHHGD : Xã Hội hóa Giáo dục

KTĐG : Kiểm tra đánh giá

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN TÀI TRỢ TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THEO HƯỚNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC 7

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Những nghiên cứu về huy động và sử dụng nguồn tài trợ cho giáo dục 11

1.1.2 Những nghiên cứu về xã hội hóa giáo dục 12

1.2 Các khái niệm cơ bản 15

1.2.1 Nguồn tài trợ 16

1.2.2 Huy động nguồn tài trợ 17

1.2.3 Sử dụng nguồn tài trợ 18

1.2.4 Xã hội hóa giáo dục 18

1.2.5 Quỹ Phát triển 20

1.3 Lý luận về huy động và sử dụng nguồn tài trợ tại quỹ phát triển các cơ sở giáo dục đại học 21

1.3.1 Xã hội hóa giáo dục và sự phát triển của các cơ sở giáo dục đại học 21

Nội dung xã hội hóa giáo dục 23

1.3.2 Mục tiêu xây dựng và phát triển Quỹ Phát Triển tại các cơ sở giáo dục đại học 24

1.3.3 Đặc thù của Quỹ Phát triển trong các cơ sở giáo dục Đại học 25

1.3.4 Nguyên tắc trong tài trợ và quản lý sử dụng nguồn tài trợ 26

1.4 Nội dung quản lý hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ 29

1.4.1 Quản lý mục tiêu hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ 29

1.4.2 Quản lý nội dung hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ 30

1.4.3 Quản lý phương pháp hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ 33

Trang 6

1.4.4 Quản lý hình thức hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ 34

1.4.5 Giám sát hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ 36

1.5 Những yếu tố ảnh hưởng 37

1.5.1 Yếu tố khách quan 37

1.5.2 Yếu tố chủ quan 38

Kết luận chương 1 39

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN TÀI TRỢ TẠI QUỸ PHÁT TRIỂN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI THEO HƯỚNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC 40

2.1 Giới thiệu về Đại học Quốc gia Hà Nội và Quỹ Phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội 40

2.1.1 Sơ lược về Đại học Quốc gia Hà Nội 40

2.1.2 Quỹ Phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội 42

2.2 Giới thiệu khảo sát thực trạng quản lý hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ tại Quỹ Phát triển ĐHQGHN 43

2.2.1 Mục đích khảo sát 43

2.2.2 Nội dung khảo sát 43

2.2.3 Đối tượng 43

2.2.4 Phương pháp khảo sát 44

2.3 Thực trạng hoạt động huy động và sử dụng Quỹ Phát triển ĐHQGHN theo hướng xã hội hóa giáo dục 44

2.3.1 Thực trạng về nhận thức của CBQL về vai trò của quỹ phát triển ĐHQGHN 44

2.3.2 Thực trạng hoạt động huy động nguồn tài trợ 45

2.3.3 Thực trạng sử dụng nguồn tài trợ trong Quỹ phát triển của Đại học Quốc gia Hà Nội 50

2.4 Thực trạng quản lý hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ tại Quỹ Phát triển ĐHQGHN theo hướng xã hội hóa giáo dục 54

2.4.1.Thực trạng quản lý mục tiêu hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ tại Quỹ Phát triển ĐHQGHN theo hướng xã hội hóa giáo dục 54

Trang 7

2.4.2 Thực trạng quản lý nội dung hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ

tại Quỹ Phát triển ĐHQGHN theo hướng xã hội hóa giáo dục 57

2.4.3 Thực trạng quản lý hình thức và phương pháp hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ tại Quỹ Phát triển ĐHQGHN theo hướng xã hội hóa giáo dục 59

2.4.4 Thực trạng quản lý quá trình kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động huy động và sử dụng Quỹ Phát triển ĐHQGHN 66

2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động và sử dụng Quỹ phát triển ĐHQGHN 69

2.6 Đánh giá thực trạng hoạt động và quản lý hoạt động huy động, sử dụng nguồn tài trợ tại Quỹ Phát triển ĐHQGHN theo hướng xã hội hóa giáo dục 70

2.6.1 Những điểm mạnh 70

2.6.2 Những hạn chế 71

2.6.3 Nguyên nhân 72

Kết luận chương 2 73

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN TÀI TRỢ TẠI QUỸ PHÁT TRIỂN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI THEO HƯỚNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC 74

3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 74

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 74

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 74

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ và hệ thống 74

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và tính khả thi, hiệu quả 75

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp 75

3.2 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động tài trợ và sử dụng Quỹ Phát triển ĐHQGHN theo hướng xã hội hóa giáo dục 75

3.2.1 Nâng cao nhận thức về vai trò của Quỹ Phát triển 75

3.2.2 Chỉ đạo đổi mới cách thức xây dựng, xác định mục tiêu hoạt động huy động nguồn tài trợ 77

3.2.3 Tổ chức tìm kiếm các hình thức và phương pháp huy động nguồn tài trợ hiệu quả 79

Trang 8

3.2.4 Tổ chức xác định các nội dung huy động và sử dụng nguồn tài trợ 80

3.2.5 Tối ưu hóa hoạt động tiếp nhận và phân bổ nguồn tài trợ 82

3.2.6 Đổi mới các hoạt động giám sát, kiểm tra hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ 82

3.3 Mối liên hệ giữa các biện pháp quản lý huy động và sử dụng nguồn tài trợ tại Quỹ Phát triển ĐHQGHN theo hướng xã hội hóa giáo dục 83

3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp 85

Kết luận chương 3 89

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90

1 Kết luận 90

2 Kiến nghị 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 Danh sách thu hút tài trợ từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước 46

Bảng 2.2 Huy động nguồn tài trợ tự nguyện, của các tổ chức, cá nhân trong nước 49

Bảng 2.3 Chi tài trợ cho các nhiệm vụ được giao 51

Bảng 2.4 Hỗ trợ công bố các bài báo ấn phẩm quốc tế cho Câu lạc bộ Nhà Khoa học ĐHQGHN (VSL) 52

Bảng 2.5 Các khoản sử dụng quỹ năm 2017 53

Bảng 2.6: Ý kiến về mục tiêu hoạt động huy động và sử dụng Quỹ Phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội theo hướng xã hội hoá 55

Bảng 2.7 Kết quả điều tra nội dung hoạt động huy động và sử dụng Quỹ phát triển ĐHQGHN 57

Bảng 2.8 Ý kiến đánh giá về trình tự, thủ tục tiếp nhận tài trợ: 59

Bảng 2.9 Ý kiến đánh giá về việc thực hiện phương pháp, hình thức huy động tài trợ 61

Bảng 2.10 Ý kiến về thực hiện nguyên tắc sử dụng nguồn tài trợ 63

Bảng 2.11 Ý kiến đánh giá về quản lý trình tự, thủ tục chi tài trợ 64

Bảng 2.12 Kết quả điều tra thực trạng quá trình KTĐG hoạt động huy động và sử dụng Quỹ phát triển ĐHQGHN 67

Bảng 2.13 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động huy động và sử dụng Quỹ phát triển ĐHQGHN 70

Bảng 3.1 Kết quả mức độ cấp thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 87

Sơ đồ 2.1 Thu hút tài trợ của Quỹ giai đoạn 2011-2016 48

Sơ đồ 3.1: Mối quan hệ giữa các biện pháp thể hiện 85

Biểu đồ 3.2 Tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp quản lý 88

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xã hội hoá giáo dục là thu hút mọi tổ chức quần chúng, mọi thành phần kinh

tế, mọi công dân có điều kiện tham gia đầu tư các dự án phát triển giáo dục trong khi nguồn ngân sách nhà nước cấp cho giáo dục còn hạn hẹp, chưa đáp ứng được sự phát triển của giáo dục

Xã hội hoá là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục Xã hội hoá là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng

về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho hoạt động giáo dục phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn, là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, chứ không phải là biện pháp tạm thời, chỉ có ý nghĩa tình thế, trước mắt do Nhà nước thiếu kinh phí cho hoạt động này Khi nhân dân ta có mức thu nhập cao, ngân sách nhà nước dồi dào vẫn phải thực hiện xã hội hoá, bởi vì giáo dục là sự nghiệp lâu dài của nhân dân, sẽ phát triển không ngừng mọi nguồn lực to lớn của toàn dân Ở mỗi địa phương, đây là cộng đồng trách nhiệm của Đảng bộ, HĐND, UBND, các cơ quan nhà nước, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp đóng tại địa phương và của từng người dân

Xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, là một chủ trương lớn của Nhà nước Chủ trương này có mục tiêu chính là phát huy sức mạnh toàn dân, tạo

ra những chuyển biến tốt hơn về chất lượng giáo dục bậc cao Xã hội hóa trong giáo dục với ý nghĩa đó bao gồm sự tham gia của nhiều bên, nhiều thành phần xã hội trong quá trình quản trị trường đại học và hệ thống đại học, nhằm giúp trường đại học thực hiện tốt nhất vai trò và sứ mạng của nó để phục vụ cho lợi ích của quốc gia

Khi thu nhập xã hội tăng lên, nhiều gia đình đã tự túc về các nhu cầu giáo dục,

y tế (như du học tự túc, khám chữa bệnh ở các cơ sở tư nhân) thì Nhà nước vẫn sử dụng chính sách bao cấp qua chế độ phí thấp cho tất cả mọi người, đặt Nhà nước luôn ở trong tình trạng hạn hẹp về ngân sách, không đủ điều kiện để chăm lo tốt hơn cho các đối tượng chính sách, cho người nghèo, vùng nghèo, vùng khó khăn, đồng

Trang 11

thời cũng không tập trung được cho những mục tiêu ưu tiên

Trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, các cơ sở công lập chiếm

tỷ trọng lớn vẫn áp dụng cơ chế quản lý như các cơ quan hành chính nên đã không phát huy được tính năng động, tự chủ và trách nhiệm Các cơ sở ngoài công lập chưa nhiều, cơ sở vật chất còn đơn sơ, nghèo nàn, đội ngũ cán bộ còn thiếu và yếu Chất lượng và hiệu quả hoạt động chưa cao, còn có những biểu hiện tiêu cực, thậm chí có những cơ sở đã vi phạm pháp luật

Nguyên nhân của những hạn chế trước hết là do nhận thức còn chưa đầy đủ, xem xã hội hoá chỉ là biện pháp huy động sự đóng góp của nhân dân trong điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹp Tư tưởng và thói quen bao cấp vẫn còn khá nặng nề Trong chính sách xã hội hoá, chưa quy định rành mạch về sở hữu của các cơ sở ngoài công lập (bán công, dân lập); chưa phân định rõ sự khác biệt giữa các hoạt động có bản chất lợi nhuận và phi lợi nhuận trong các cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao, giữa phúc lợi cho người dân và việc bao cấp cho các cơ sở công lập

Thực tế đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, giải pháp để vừa bảo đảm định hướng phát triển, vừa khuyến khích, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao

Huy động nguồn lực xã hội là giải pháp cốt lõi cần làm để đẩy mạnh XHHGD ở nước ta, trước hết là để từ đó có thể huy động tất cả các nguồn lực có thể trong xã hội thông qua các mạng lưới xã hội và các quan hệ xã hội khác mà nguồn lực xã hội cung cấp, đặc biệt là huy động các nguồn lực tài chính cho các hoạt động phát triển giáo dục Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) là cơ sở giáo dục đại học công lập bao gồm tổ hợp các trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp để đào tạo các trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ có cơ cấu đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, trong đó tập trung vào lĩnh vực khoa học, công nghệ cao và một số lĩnh vực kinh tế - xã hội mũi nhọn; có chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo, nghiên cứu khoa học tiên tiến; có đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trình độ cao; có đội ngũ cán bộ quản lý chuyên nghiệp và đồng bộ; kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng, giữa các

Trang 12

ngành khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn, giữa khoa học và công nghệ để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và bồi dưỡng nhân tài khoa học, công nghệ; định hướng phát triển thành đại học nghiên cứu ngang tầm với các đại học có uy tín trong khu vực và trên thế giới

Sau hơn 20 năm xây dựng và phát triển, các mục tiêu do chính ĐHQGHN đặt

ra cũng như các kỳ vọng của xã hội đối với ĐHQGHN đang từng bước vững chắc được thực hiện Trong chặng đường đã qua ấy, ĐHQGHN đã không chỉ khẳng định và phát triển mô hình, mà còn đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều mặt: đào tạo, nghiên cứu khoa học - chuyển giao công nghệ, xây dựng đội ngũ, phát triển cơ sở vật chất, tạo nên nền tảng bước đầu quan trọng cho quá trình xây dựng ĐHQGHN theo

mô hình trở thành đại học định hướng nghiên cứu, đa ngành, đa lĩnh vực có tính hội nhập cao, trong đó, một số trường đại học, viện nghiên cứu thành viên thuộc các lĩnh vực khoa học cơ bản, công nghệ cao và kinh tế - xã hội mũi nhọn đạt trình độ tiên tiến châu Á Phát triển tài chính đại học là một trong các vấn đề trọng yếu của bất kỳ hệ thống giáo dục đại học nào trên thế giới Mặc dù Chính phủ là nhà đầu tư chủ yếu cho giáo dục đại học ở hầu hết các quốc gia, nhưng ngày càng có nhiều nguồn tài chính khác giúp chia sẻ chi phí này: người học, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước, sự tài trợ của quốc tế,… Bản thân các trường đại học cũng đang ngày càng nâng cao khả năng tăng nguồn thu thông qua các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, dịch vụ cộng đồng,…

Trong phạm vi ĐHQGHN, ngoài ý chí và quyết tâm của lãnh đạo, đội ngũ cán

bộ, giảng viên, sinh viên, nguồn lực tài chính là vô cùng quan trọng, nếu không nói

là có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển ĐHQGHN thành một Đại học nghiên cứu tầm cỡ khu vực và quốc tế Mặc dù nhà nước đã quan tâm

và đầu tư ngày càng nhiều hơn cho giáo giáo dục, song cũng chưa thể đáp ứng được yêu cầu phát triển giáo dục như hiện nay, với thực tế nguồn kinh phí phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu ở các trường đại học Việt Nam nói chung và ở ĐHQGHN nói riêng vẫn còn hết sức eo hẹp và khó khăn Vì vậy Quỹ Phát triển ĐHQGHN đã được thành lập với phương châm hoạt hoạt động không vì lợi nhuận, nhằm mục đích hỗ trợ cán bộ, viên chức và học sinh, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu

Trang 13

sinh của ĐHQGHN có nhiều cơ hội thuận lợi trong công tác giảng dạy, nghiên cứu, học tập để nâng cao trình độ và chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học đồng thời nâng cấp cơ sở vật chất, kỹ thuật góp phần xây dựng và phát triển ĐHQGHNngang tầm các trường đại học tiên tiến trong khu vực, tiến tới đạt trình độ quốc tế

Để có thể xây dựng và phát triển ĐHQGHN thành một đại học nghiên cứu tầm cỡ khu vực và quốc tế, cần phải có một nguồn tài chính đủ lớn và đủ mạnh Trong khi đó, hiện nay nguồn kinh phí phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu ở các trường đại học Việt Nam nói chung và ở ĐHQGHN nói riêng vẫn còn rất hạn hẹp, chủ yếu là từ ngân sách và học phí Kinh phí từ chuyển giao công nghệ và các nguồn khác không lớn và không thường xuyên Trước những vấn đề khó khăn, hạn chế nói trên về tài chính cho giáo dục đại học, ĐHQGHN đã năng động nghiên cứu, tìm tòi, tham khảo mô hình của các trường đại học trên thế giới, mạnh dạn đề xuất thành lập “Quỹ phát triển Đại học quốc gia Hà Nội” (Quỹ) Đây là mô hình không mới đối với các cơ sở giáo dục đào tạo nhưng chưa được thực hiện bài bản và chính thống, chưa được nhà nước cấp phép chính thức chính vì vậy còn gặp nhiều hạn chế từ đơn vị đứng lên huy động cũng như cá nhân, tổ chức cấp kinh phí tài trợ cho các hoạt động liên quan đến giáo dục Vì vậy việc ra đời của Quỹ Phát triển tại ĐHQGHN là rất cần thiết Được thành lập theo quyết định số 3737/QĐ-UBND ngày16/8/2011, Quỹ phát triển ĐHQGHN là đơn vị thứ 2 trong cả nước (sau Quỹ Phát triển ĐHQG- HCM) hoạt động theo mô hình Quỹ Xã Hội và chính thức được đi vào hoạt động từ tháng 9/2013, trong 6 năm hoạt động Quỹ đã có những đóng góp nhất định trong sự phát triển chung của ĐHQGHN

Chính vì vậy việc lựa chọn đề tài Quản lý hoạt động huy động và sử dụng

nguồn tại trợ tại Quỹ Phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội theo hướng Xã hội hóa Giáo dục (XHHGD) làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình để có thể có

những đóng góp để Quỹ Phát triển ĐHQGHN hoạt động được hiệu quả hơn

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận về hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ theo hướng xã hội hóa giáo dục và thực tiễn huy động, sử dụng quỹ nguồn tài trợ tại Quỹ Phát triển ĐHQGHN để từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả việc

Trang 14

quản lý hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ tại Quỹ phát triển ĐHQGHN

3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu:

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ tại Quỹ Phát triển đại học theo hướng XHHGD

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ tại Quỹ tại Quỹ Phát triển ĐHQGHN theo hướng XHHGD

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận của hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ tại các trường ĐH công lập theo hướng XHHGD

Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ tại Quỹ Phát triển ĐHQGHN

- Đề xuất các biện pháp, phương hướng để quản lý hoạt động của Quỹ Phát triển ĐHQGHN

5 Câu hỏi nghiên cứu

- Quản lý hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ tại Quỹ Phát triển ĐHQGHN theo hướng XHHHGD gồm những nội dung nào?

- Giải pháp nào để duy trì và sử dụng hiệu quả nguồn tài trợ tại Quỹ Phát triển ĐHQGHN

6 Giả thuyết nghiên cứu

Việc thực hiện tốt những nội dung Quản lý hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ, đề xuất các giải pháp duy trì và sử dụng hiệu quả nguồn tài trợ tại Quỹ Phát triển ĐHQGHN theo hướng XHHHGD sẽ góp phần đồng hành cùng nhà nước đóng góp, thúc đẩy vào sự phát triển, đào tạo chất lượng ngày một tốt hơn cho giáo dục và cho sự phát triển chung của ĐHQGHN Tuy nhiên hoạt động huy động

và sử dụng nguồn tài trợ tại Quỹ Phát triển ĐHQGHN còn gặp nhiều khó khăn do nhiều lý do khách quan và chủ quan cần hoàn hoàn thiện nên việc đề xuất các biện pháp để duy trì và sử dụng hiệu quả nguồn tài trợ tại Quỹ Phát triển ĐHQGHN sẽ góp phần hoàn thiện công tác quản lý tại Quỹ Phát triển ĐHQGHN

Trang 15

7 Phạm vi nghiên cứu

* Về nội dung: Các hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ tại Quỹ Phát triển ĐHQGHN

* Thời gian nghiên cứu : Từ khi thành lập đến năm 2019

8 Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại tài liệu (bao gồm văn kiện, tài liệu lý luận, sách, báo, tạp chí và các công trình nghiên cứu) nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra, phỏng vấn, quan sát, lấy ý kiến chuyên gia, tổng kết kinh nghiệm nhằm khảo sát, đánh giá công tác quản lý hoạt động giáo dục và thu thập thêm các thông tin có liên quan đến vấn

10 Cấu trúc luận văn

Nội dung nghiên cứu đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động và sử dụng nguồn tài trợ tại các cơ sở Giáo dục Đại học theo hướng XHHGD

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động và sử dụng nguồn tài trợ của Quỹ Phát triển ĐHQGHN theo hướng XHHGD

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ tại Quỹ Phát triển ĐHQGHN theo hướng XHHGD

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN TÀI TRỢ TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THEO HƯỚNG

XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Thuật ngữ: Xã hội hóa “xuất hiện những năm đầu thế kỷ XX Từ đó đến nay thuật ngữ này được dùng trong nhiều lĩnh vực với nhiều ý nghĩa và được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm

Theo quan điểm xã hội học thì “Xã hội hoá là quá trình tương tác, lan toả

các chuẩn mực, các giá trị, các khung mẫu, hành vi xã hội giữa các cá thể và các nhóm xã hội”[50,tr.571] Như vậy có thể hiểu XHH một lĩnh vực nào đó là quá trình

làm sao cho nội dung, thành quả của lĩnh vực đó phải lan tỏa và thấm sâu đến từng người dân và toàn xã hội, làm cho mọi người, mọi nhà hiểu và tích cực tham gia đóng góp xây dựng cho lĩnh vực đó ngày càng phát triển, kể cả vật chất và tinh thần, đồng thời họ cũn được hưởng thụ thành quả từ lĩnh vực đó mang lại từ đó họ sẽ có trách nhiệm tham gia đóng góp sức lực trí tuệ làm cho lĩnh vực đó ngày một tốt hơn lên

Theo từ điển giáo dục học (Bùi Hiền) nhà xuất bản từ điển bách khoa Hà Nội 2001 định nghĩa "Xã hội hoá giáo dục, chủ trương, biện pháp biến sự nghiệp giáo dục trong nhà trường thành công việc chung của toàn xã hội để thu hút mọi thành phần, thành viên trong xã hội tích cực tham gia vào hoạt động giáo dục thế

hệ trẻ tuỳ theo chức năng, điều kiện của mình Tư tưởng xã hội hoá giáo dục không phải xuất phát từ những khó khăn trước mắt của ngành giáo dục, mà là từ bản chất của giáo dục Bởi vậy xã hội hoá giáo dục bao gồm những hoạt động hết sức đa dạng của các lực lượng xã hội hỗ trợ cho công tác giáo dục của nhà trường: đó là việc tuyên truyền vận động, huy động nhân lực, tài lực của xã hội cùng tham gia sự nghiệp giáo dục thông qua việc hình thành hội bảo trợ, hội khuyến học, quỹ học bổng, quỹ sáng tạo, câu lạc bộ tài năng trẻ, cơ sở đỡ đầu, nhà tài trợ, người cố vấn

Ở các nước phát triển và đang phát triển, xã hội hoá giáo dục là một xu hướng tất yếu Bản chất của xã hội hoá giáo dục là sự tham gia, đóng góp trực tiếp

Trang 17

của xã hội vào giáo dục trên phương diện tiếp nhận giáo dục và đóng góp vào sự phát triển của giáo dục Một số nhà nghiên cứu của Trung Quốc cho rằng “Xã hội hoá giáo dục trước hết chính là giáo dục phải thích nghi với xã hội, phục vụ nền kinh tế xã hội, đồng thời phục vụ cuộc sống xã hội" Ở nhiều quốc gia khác nhau quan niệm xã hội hóa giáo dục cũng có nhiều quan niệm rất đa dạng và khác nhau Giáo dục là bộ phận không thể tách rời hệ thống xã hội, giáo dục có tính chất xã hội vì giáo dục bắt nguồn từ

xã hội và phục vụ xã hội Trong thực tế còn nhiều người nhầm lẫn giữa tính chất xã hội của giáo dục và xã hội hoá giáo dục Hai khái niệm này không phải là một và không đồng nhất Xã hội hoá giáo dục nói ở đây thuộc về phương thức, phương châm, là huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước để xây dựng một xã hội học tập[1]

Thực hiện xã hội hoá giáo dục tức là thực hiện mối quan hệ giữa giáo dục

và cộng đồng Xây dựng mối quan hệ này làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã hội Bản thân ngành giáo dục phải không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục và luôn tự đổi mới theo kịp sự phát triển của khoa học công nghệ , đáp ứng nhu cầu, quyền lợi học tập của nhân dân

Xã hội hoá giáo dục không phải là giải pháp tình thế mà là tư tưởng chiến lược lâu dài Nó huy động sức mạnh, tiềm lực của toàn xã hội nhưng đòi hỏi giáo dục phát triển có chất lượng và hiệu quả

Như vậy, chúng ta xác định xã hội hoá giáo dục là làm cho người dân thấy được những lợi ích từ giáo dục mang lại cho người dân và cho xã hội để từ đó họ

tự nguyện đến với giáo dục, huy động nhân lực, tài lực, vật lực của toàn xã hội để giải quyết mọi vấn đề, mọi tồn tại của giáo dục, không phó mặc cho ngành giáo dục Đây thực sự là cuộc vận động lớn trong xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và ngành giáo dục

Xã hội hóa giáo dục (XHHGD) là một chủ trương giáo dục được thực hiện ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, không chỉ những quốc gia nghèo, kém phát triển mà ngay cả ở các quốc gia phát triển, công tác xã hội hóa giáo dục càng được thực hiện rộng rãi và có hiệu quả Tuy nhiên, qua các giai đoạn và tùy từng quốc gia, thuật ngữ xã hội hóa giáo dục có nhiều cách hiểu với những nội hàm ít nhiều liên quan

Trang 18

đến các khía cạnh như: phi tập trung hóa, giáo dục suốt đời, xã hội học tập, giáo dục cộng đồng…

Chủ trương xã hội hóa giáo dục được Nghị quyết Đại hội VIII, IX của Đảng làm rõ hơn: xã hội hóa công tác giáo dục là huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước; các chính sách xã hội được tiến hành theo tinh thần xã hội hoá, đề cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân và sự tham gia của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội

Nghị quyết Đại hội X khẳng định Nhà nước tiếp tục tăng nguồn lực, đầu tư tập trung cho các chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục, y tế đồng thời phát huy trí tuệ và các nguồn lực vật chất trong nhân dân, của toàn xã hội để cùng Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội và chăm lo phát triển các lĩnh vực dịch vụ công cộng

Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XI của Đảng tiếp tục nêu yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách xã hội hóa giáo dục, đào tạo trên cả 3 phương diện: động viên các nguồn lực trong xã hội; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện

để người dân được học tập suốt đời; tăng đầu tư nhà nước đồng thời với đẩy mạnh

xã hội hóa các hoạt động y tế

Trên cơ sở quan điểm của Đảng, các cơ quan nhà nước đã ban hành các chủ trương, chính sách đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục và y tế Nghị quyết

số 90/CP ngày 21-8-1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế và văn hoá đã nêu rõ các nội dung xã hội hóa Theo

đó, “xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hoá và sự phát triển

về thể chất và tinh thần của nhân dân

Xã hội hoá là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá ở mỗi địa phương, đây là cộng đồng trách nhiệm của Đảng

bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế,

Trang 19

các doanh nghiệp đóng tại địa phương và của từng người dân ”

Xã hội hóa giáo dục là làm cho giáo dục trở thành của xã hội, hay nói cách khác là huy động toàn xã hội tham gia làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân,

tổ chức xã hội, cá nhân, tập thể… góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân và sự nghiệp phát triển giáo dục, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực cho giáo dục; kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội; tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh mọi nơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể Với tình thế hiện tại, khi ngân sách của nhà nước đầu tư cho giáo dục vẫn còn hạn hẹp thì việc huy động đẩy mạnh XHHGD là rất cần thiết

Xã hội hóa giáo dục nhằm thu hút sự hợp tác, đầu tư trong nước và nước ngoài để phát triển giáo dục và đào tạo ở nước ta đã trở thành một chủ trương lớn, lâu dài và có chiến lược, được đưa vào chỉ đạo quyết liệt và triển khai rộng khắp đến các cấp, các ngành, tổ chức chính trị - xã hội và mọi đối tượng thành phần dân

cư trong toàn xã hội Công tác xã hội hóa đã đem lại hiệu quả không nhỏ, đóng góp tích cực cho nền giáo dục và đào tạo trong thời gian qua

Nhằm củng cố, tăng cường hiệu quả của hệ thống giáo dục để phục vụ tốt việc học tập của nhân dân , nâng cao ý thức trách nhiệm và sự tham gia của toàn dân đối với giáo dục.[49]

Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới, ngoài việc ngày càng dành nhiều nguồn lực hơn cho giáo dục đại học, còn tạo điều kiện về cơ chế để huy động các nguồn lực khác, từ các chủ thể khác cho đầu tư phát triển giáo dục đại học Nhà nước có thể tăng cường đầu tư hoặc ban hành những cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo được tiếp cận giáo dục, hướng hoạt động giáo dục đến những mục tiêu đã định một cách hiệu quả nhất góp phần quan trọng tạo lập sự công bằng trong xã hội

Tại các cơ sở giáo dục đại học, nguồn tài chính được được cấp từ nhiều nguồn khác nhau: Kinh phí nhà nước phân bổ cho hoạt động, đặc biệt là giảng dạy và nghiên cứu khoa học; Kinh phí phân bổ cho nghiên cứu hoặc hỗ trợ cho các dự án nghiên cứu từ các nguồn khác nhau (từ các bộ); Học phí và các loại phí khác thu được từ sinh viên trong nước và sinh viên nước ngoài; Nguồn thu từ các hợp đồng nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, hợp đồng đào tạo, dịch vụ tư vấn, bản

Trang 20

quyền ; Nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ trong khuôn viên nhà trường phục vụ giảng viên, sinh viên và cộng đồng; Nguồn thu từ hiến tặng, tài trợ, quà biếu, đầu tư

từ các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước

1.1.1 Những nghiên cứu về huy động và sử dụng nguồn tài trợ cho giáo dục

Vấn đề huy động các nguồn lực tài trợ cho phát triển giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học đã thu hút và nhận được sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý trong nước Huy động nguồn tài chính cho giáo dục đại học, thông

qua việc xã hội hóa các nguồn lực, tác giả Trần Xuân Hải (1999) cho rằng cần huy

động nguồn vốn từ nội bộ cơ sở giáo dục đại học thông qua các hình thức hợp đồng cung cấp dịch vụ giáo dục đại học, khuyến khích sự đóng góp, tài trợ của các tổ chức,

cá nhân [28] Trần Xuân Trường (2012) đã tổng kết hai phương thức thực hiện xã hội hóa các nguồn lực cho giáo dục đại học, thứ nhất là huy động từ đội ngũ cán bộ, giáo viên của trường thông qua góp vốn cổ phần, thứ hai là liên kết giữa trường với doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động, thông qua hỗ trợ học bổng, kinh phí đào tạo

và đặt ra yêu cầu về kiến thức, kỹ năng của người được đào tạo, trao đổi các cán bộ tham gia một số nội dung giảng dạy [39] Hoàng Văn Châu (2013) trong bài tham luận “Tự đảm bảo kinh phí của trường đại học Ngoại thương và đề xuất cơ chế tài chính”[12] cho rằng đối với các chương trình đào tạo, cung cấp dịch vụ theo nhu cầu

xã hội, các mức thu và khoản thu được xây dựng dựa trên cơ sở thỏa thuận, đảm bảo cân đối các khoản chi và có tích lũy Tác giả Đinh Thị Nga (2017) trong bài: “Đầu tư của nhà nước cho giáo dục đào tạo: Thực trạng và một số đề xuất” [13]thì cho rằng: Một là, điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho giáo dục, đào tạo theo hướng tăng chi đầu

tư phát triển, giảm chi thường xuyên Trước hết, đầu tư mua giáo trình các môn học khoa học tự nhiên, công nghệ của các cấp học từ các nước có nền giáo dục hiện đại Đầu tư trú trọng, ưu tiên, đặc biệt cho những ngành đào tạo khoa học cơ bản, ít đáp ứng nhu cầu xã hội, khả năng xã hội hóa không cao

Hai là, điều chỉnh cơ cấu chi giữa các bậc học, ngành học Cần ưu tiên phát triển hài hòa tỷ lệ giữa các ngành đào tạo, thực hiện tiêu chuẩn hóa và hiện đại hóa giáo dục

Ba là, tăng chi tiêu cho đào tạo nghề Cơ chế tài chính cho các cơ sở giáo dục, đào tạo cần được đổi mới theo hướng tăng quyền tự chủ

Trang 21

Có thể nói, gần đây có rất nhiều các công trình nghiên cứu khoa học, các bài báo dưới nhiều góc độ khác nhau, một số luận văn, luận án, các tham luận khoa học… đã phân tích khá toàn diện cơ chế quản lý tài chính, chính sách tài chính đối với giáo dục đại học và tình hình tài chính của các cơ sở giáo dục đại học Số lượng các công trình nghiên cứu ở nhiều khía cạnh về quản lý tài chính, điều hành ngân sách giáo dục đào tạo theo hướng tự chủ và trách nhiệm xã hội có nhiều kết quả khá

đồ sộ, tập trung của các trường đại học từ quản lý vĩ mô đến cơ chế, chính sách, tiêu chí cụ thể, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về

cơ chế huy động và sử dụng nguồn tài trợ tại cơ sở giáo dục, chưa đề xuất các giải pháp cho việc huy động và sử dụng tài trợ sao cho hiệu quả trong điều kiện ngân sách nhà nước rất hạn hẹp; Những yêu cầu về đảm bảo chất lượng đào tạo, phát triển nghiên cứu khoa học của các trường đại học công lập mang tính cấp thiết trong bối cảnh hiện nay và vì vậy, việc huy động nguồn tài trợ tại các cơ sở giáo dục đại học là yêu cầu cấp thiết Việc nghiên cứu toàn diện và chi tiết các vấn đề liên quan đến huy động và sử dụng ngồn vốn đầu tư cho giáo dục sẽ giúp các cơ sở giáo dục đào tạo hoạt động hiệu quả hơn góp phần thúc đẩy toàn xã hội phát triển theo kịp tốc độ phát triển của thế giới

1.1.2 Những nghiên cứu về xã hội hóa giáo dục

Khi đời sống xã hội loài người phát triển, giáo dục xuất hiện và phát triển theo

Sự tồn tại và phát triển của giáo dục luôn chịu sự chi phối của trình độ phát triển kinh tế xã hội và ngược lại và giáo dục lại có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh

tế xã hội khi thực hiện chức năng của mình Xã hội loài người coi giáo dục là công

cụ, phương tiện để cải biến xã hội Giáo dục được coi vừa là động lực, vừa là mục tiêu cho việc phát triển đi lên của xã hội Khi xã hội phát triển lên một mức mới, chính xã hội lại là tiền đề tạo điều kiện mới cho giáo dục và đặt ra những mục tiêu mới cho giáo dục nói chung, nhà trường nói riêng và buộc giáo dục phải tự thay đổi

để đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng mới của xã hội đồng thời tận dụng tốt những điều kiện mà xã hội mới tạo cho Cứ như thế mối quan hệ giữa giáo dục và cộng đồng xã hội thường xuyên được diễn ra thành một vòng tròn khéo kín trong sự cân bằng động và phát triển đi lên theo đường xoắn ốc cùng với quá trình phát triển của

xã hội loài người Để sự nghiệp giáo dục đào tạo phát triển, chúng ta phải tiến hành

Trang 22

công tác xã hội hoá giáo dục Chính vì vậy xã hội hoá giáo dục là huy động toàn xã hội tham gia vào công tác giáo dục, làm giáo dục, kêu gọi động viên các tầng lớp nhân dân đóng góp sức xây dựng một nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý điều hành của nhà nước

Việc xã hội hóa giáo dục từ lâu đã là một chủ trương đúng đắn, xuyên suốt của Đảng, qua đó thu hút được mọi tầng lớp, thành phần xã hội hưởng ứng, tham gia; song song với quá trình đó đã hình thành nhiều công trình khoa học nghiên cứu về

xã hội hóa giáo dục nhằm giúp cho quá trình thực hiện tại các cơ sở giáo dục cũng như các nhà quản lý giáo dục dễ dàng thực hiện, kiểm soát đánh giá hiệu quả và định hướng phát triển theo đúng đường lối chủ trương của Đảng đề ra

Đáng chú ý là các công trình nghiên cứu bàn về công tác XHH các hoạt động giáo dục của các tác giả có nhiều nghiên cứu ở mức độ toàn xã hội nói chung cũng như

ở từng khía cạnh của vấn đề XHHGD và các khái niệm có liên quan như: bàn về khái niệm XHH, nguồn lực xã hội, nội dung, mục tiêu, bản chất XHHGD, vai trò của cộng đồng xã hội với giáo dục và quản lý giáo dục, cơ sở của XHHGD, mức độ XHHGD cho từng cấp học Trong đó, phải kể đến một số tác giả tiêu biểu như: Bùi Gia Thịnh -

Võ Tấn Quang - Nguyễn Thanh Bình Phạm Minh Hạc, Phạm Tất Dong, Đặng Quốc Bảo, Đặng Xuân Hải, Trần Kiểm, Hồng Lê Thọ, Trần Kiều, các luận văn Thạc sĩ và nhiều tác giả khác…

Đặng Quốc Bảo đưa ra quan niệm: "Xã hội hoá giáo dục phản ánh bản chất của

luận đề: Giáo dục cho tất cả mọi người, tất cả cho sự nghiệp giáo dục" (Education for all, All for Eduction EFA-AFE) Vậy việc huy động toàn xã hội làm GD, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước không phải là một ý tưởng mới lạ [2,tr 6]

Phạm Minh Hạc "Làm cho xã hội nhận rõ trách nhiệm đối với giáo dục, giáo

dục phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện việc kết hợp giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường, tạo điều kiện để giáo dục kết hợp với lao động, học đi đôi với hành; xã hội hoá giáo dục có quan hệ hữu cơ với dân chủ hoá giáo dục" [27, Tr.17]

Xã hội hoá giáo dục không chỉ là chủ trương ở các nước kém phát triển mà

Trang 23

ngay cả những nước giàu, nước phát triển cũng đã từng thực hiện nhiều giải pháp đẩy mạnh XHHGD để phát triển sự nghiệp GD, bởi vì XHHGD là một hệ thống định hướng hoạt động của mọi người, mọi lực lượng xã hội, nhằm hoàn lại bản chất xã hội của giáo dục cho giáo dục và trả lại nhiệm vụ GD của xã hội cho chính xã hội, để tiến tới xây dựng một xã hội học tập Tổchức văn hoá giáo dục Liên hiệp quốc (Unesco) đã

khuyến nghị: “giáo dục không chỉ bó hẹp trong nhà trường phải cải tổ toàn diện nền

giáo dục Giáo dục phải trở thành phong trào quần chúng thực hiện”

Vấn đề xã hội hoá giáo dục đã được nghiên cứu cả về lý luận lẫn thực tiễn khá sâu rộng và lâu dài, trong lịch sử nước ta và các nước trên thế giới Một số tác giả như Nguyễn Thanh Bình, Phạm Minh Hạc, …đã có nhiều công trình nghiên cứu Bên cạnh đó các công trình nghiên cứu khoa học về công tác XHHGD trong những năm gần đây được nhiều cán bộ quản lý Giáo dục nước ta quan tâm, có những luận văn Thạc sĩ đã đề cập đến và nêu ra nhiều giải pháp tăng cường công tác XHHGD như luận văn Thạc sĩ của Lê Ngọc Quân về một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý trường chuẩn quốc gia THCS huyện Lâm Thao, Phú Thọ, đề tài tác động của chính sách xã hội hoá giáo dục đối với loại hình trường PT ngoài công lập ở Hà Nội của Đinh Thị Minh Châu, Luận văn thạc sỹ của tác giả Hoàng Duy Đỉnh với đề tài Các biện pháp tăng cường quản lý nhằm đẩy mạnh XHH giáo dục cấp THPT ở Hải Phòng, …Tuy nhiên đó là những vấn đề có tính nghiên cứu chuyên sâu, gắn với công tác quản lý phát sinh ở từng địa phương trong phạm vi công tác tại các đơn vị cụ thể, các hoạt động của xã hội hoá giáo dục là vấn đề rất rộng lớn,

do vậy việc nghiên cứu xã hội hoá giáo dục vẫn có ý nghĩa thực tiễn lớn lao

Xã hội hoá giáo dục là hoạt động tạo nên một xã hội học tập, cộng đồng hoá trách nhiệm của giáo dục và của cộng đồng, xã hội, tạo cơ hội học tập cho mọi người, đa dạng hoá loại hình, hình thức giáo dục, đa phương hoá nguồn lực và huy động cộng đồng, đưa các chủ trương xã hội hoá giáo dục để chủ trương này nhanh chóng đi vào cuộc sống Bằng việc đối chiếu các mục tiêu quản lí giáo dục, quản lí nhà trường lên với sự tác động các nội dung xã hội hoá giáo dục chúng ta cảm thấy rất rõ vai trò của quá trình xã hội hoá giáo dục đối với việc thực hiện các mục tiêu quản lí giáo dục nói chung và quản lí nhà trường nói riêng

Trang 24

Xã hội hoá giáo dục nhằm mục tiêu “giáo dục cho mọi người”, làm cho mọi thành viên của cộng đồng được hưởng thụ giáo dục một cách thường xuyên, liên tục, được đào tạo suốt đời Các lực lượng xã hội được huy động vào đa dạng hoá các hình thức giáo dục và các loại hình nhà trường, nhằm mở ra khả năng huy động nhiều lực lượng xã hội tham gia vào công tác giáo dục, tạo điều kiện cho giáo dục phát triển mạnh

mẽ hơn, thực hiện có hiệu quả hơn nhiệm vụ “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài’.Khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực, tài lực trong xã hội, mở rộng các nguồn đầu tư , phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân tạo điều kiện cho giáo dục phát triển Phát triển sự nghiệp giáo dục bằng cách tổng hợp, huy động của các ngành có liên quan đến giáo dục

Trong giai đoạn hiện nay, xã hội hoá giáo dục là một trong những phương diện quan trọng của xã hội hoá hoạt động quản lý Nhà nước, là chủ trương đúng đắn để phát triển giáo dục - đào tạo của Đảng và nhà nước ta

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Khái niệm quản lý

Ngày này hầu như tất cả mọi người đều công nhận tính thiết yếu của quản lý (QL) và vấn đề quản lý đã trở thành sự quan tâm của nhiều người từ nhà lãnh đạo đến người dân bình thường

Như vậy, QL đã trở thành một hoạt động phổ biến, mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp và có liên quan đến mọi người Đó là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công hợp tác để làm một công việc nhằm đạt mục tiêu chung

Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý, nhưng khái niệm sau đây được nhiều người có cùng quan điểm hơn cả:

“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý) tới khách thể quản lý (người bị quản lý), trong một tổ chức chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội,… bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể,… nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục tiêu của tổ chức”

Trang 25

1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản

lý trong lĩnh vực hoạt động/công tác giáo dục Nói một cách đầy đủ hơn, quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản

lý giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ quan giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yếu cầu phát triển của xã hội

1.2.3 Nguồn tài trợ

Theo từ điển tiếng Việt “Tài trợ” hay còn gọi là đài thọ hay cấp quỹ hay chu cấp

kinh phí là việc cung cấp tài nguyên, nguồn lực thường là dưới hình thức tiền (làm tài chính) hoặc các giá trị khác như nỗ lực hoặc thời gian cho một dự án, một người, một doanh nghiệp hoặc bất kỳ tổ chức tư nhân hoặc công cộng nào khác

Các nguồn tài trợ bao gồm: tín dụng, vốn mạo hiểm, quyên góp, viện trợ, tiết kiệm, trợ cấp và thuế, bao gồm:

- Nguồn lực trong nước: đóng vai trò quan trọng, có tính chất quyết định trong việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia

- Nguồn lực nước ngoài: Nguồn lực nước ngoài bao gồm: nguồn vốn; nguồn khoa học kỹ thuật và công nghệ; kinh nghiệm về tổ chức và quản lý sản xuất Nguồn lực nước ngoài có vai trò quan trọng đối với nhiều quốc gia đang phát triển ở những giai đoạn lịch sử cụ thể

Mặc dù có vai trò khác nhau, nhưng giữa nguồn lực trong nước và nguồn lực nước ngoài có mối liên hệ mật thiết với nhau, đó là mối quan hệ hỗ trợ, hợp tác, bổ sung cho nhau trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi và tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau Theo sự phát triển chung, các quốc gia cần cố gắng kết hợp nguồn lực trong nước với nguồn lực nước ngoài thành sức mạnh tổng hợp để phát triển kinh tế văn hóa, giáo dục…

Dựa vào khái niệm trên, đối với phạm vi là cơ sở giáo dục đại học ta thấy nguồn lực xã hội nằm ngay trong và cả bên ngoài của cơ sở giáo dục đó

Nguồn lực trong nhà trường (gọi là nội lực) - Bao gồm: con người, cơ sở vật chất, cảnh quan, trang thiết bị, vị thế nhà trường, thương hiệu, chất lượng và uy tín của

Trang 26

và huy động các nguồn lực xã hội Hai nguồn lực này đều là động lực cho sự phát triển giáo dục, phát triển nhà trường Cả hai nguồn lực trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển; Tất cả tạo nên nguồn lực xã hội to lớn mà ta cần huy động

và thu hút các nguồn lực này về với nhà trường, về với giáo dục

Như vậy nguồn tài trợ bao gồm các khoản quyên góp, viện trợ, trợ cấp, hỗ trợ từ các nguồn lực xã hội của cá nhân, tổ chức ở trong và ngoài nước trên tinh thần tự nguyện Trong lĩnh vực giáo dục; nguồn tài trợ là nguồn tự nguyện được huy động từ chính trong nội lực của các cơ sở giáo dục hoặc nguồn không hoàn lại bằng tiền, hiện vật

từ nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước, của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Tài trợ cho giáo dục thường là các hoạt động để tăng cường cơ sở vật chất trường lớp, hỗ trợ học sinh, sinh viên nghèo có cơ hội học tập, hỗ trợ phát triển các nghiên cứu khoa học chưa có kinh phí, điều kiện đưa vào thực tiễn, hỗ trợ hoạt động dạy - học, hoạt động giáo dục tại các cơ sở giáo dục, thực hiện tốt chủ trương xã hội hoá giáo dục

1.2.4 Huy động nguồn tài trợ

Huy động nguồn tài trợ là quá trình tập hợp và thu thập gây Quỹ, là tìm cách tác động đến các nguồn lực của xã hội bằng nhiều giải pháp và cách thức khác nhau, để thu hút và kéo các nguồn lực xã hội ấy về với giáo dục, đồng thời thúc đẩy giáo dục phát triển bằng cách thức vận động quyên góp, tài trợ từ các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước tuân thủ quy định của pháp luật thông qua biên bản thỏa thuận hoặc hợp đồng tài trợ, trong đó thống nhất các điều khoản, quy định rõ số tiền (hoặc hiện vật) tài trợ, thời gian tài trợ và đối tượng được nhận tài trợ cùng các điều khoản thỏa thuận ràng buộc khác của phía nhận tài trợ và phía tài trợ phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành [20]

Trang 27

Như vậy, huy động nguồn tài trợ trong giáo dục là hình thức kêu gọi các nguồn lực xã hội bao gồm các nguồn lực trong và ngoài nước; các tổ chức, cá nhân và cả sự ủng

hộ của phụ huynh học sinh tùy mức độ khả năng đầu tư bằng tiền hoặc hiện vật cho phát triển giáo dục Quá trình huy động các khoản thu không áp đặt cào bằng, không lợi dụng việc tài trợ cho giáo dục để ép buộc đóng góp và coi là điều kiện cho việc cung cấp dịch

vụ đào tạo Việc vận động, tiếp nhận, quản lý các khoản tài trợ phải được công bố, niêm yết công khai tại cơ sở giáo dục được nhận tài trợ và tuân thủ đúng quy định của pháp luật hiện hành về việc huy động tài trợ

- Hỗ trợ tài trợ các hoạt động không dùng ngân sách Nhà nước

Việc quản lý, sử dụng các khoản tài trợ phải theo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả, đúng mục đích, đúng đối tượng và không để thất thoát, lãng phí

1.2.6 Xã hội hóa giáo dục

1.2.6.1 Xã Hội hóa

Theo F.w.Krow:”Quá trình xã hội hóa được hiểu chung là quá trình biện chứng,

trong đó mỗi người có tư cách là thành viên của xã hội trở nên có năng lực hành động và mặt khác, thông qua quá trình này duy trì và tái sản xuất xã hội”[14]

Trang 28

Theo từ điển Mouveau Petit Larousse 1969 và Petit Larousse en Couleurs: “Xã

hội hóa là biến các tư liệu sản xuất và trao đổi thành của công”

Theo Côlin Fasen: “Xã hội hoá là một quá trình động viên mọi tầng lớp nhân dân tham gia tích cực và chủ động vào một lĩnh vực xã hội nào đó, huy động hợp lý

và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của Nhà nước và của nhân dân nhằm đạt được mục tiêu phát triển xã hội[51]

Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng khi đề cập Xã hội hóa người ta thường nhấn mạnh về xã hội hóa cá nhân và Xã hội hóa là quá trình tăng tính xã hội trong các lĩnh vực

Ở Việt Nam thuật ngữ “Xã hội hóa” mới bắt đầu xuất hiện từ NQHNTW4 (khóa VII) Đến đại hội lần thứ VIII, khái niệm Xã hội hóa được chính thức đưa vào trong văn kiện của Đảng: Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần

Xã hội hóa Nhà nước giữ vai trò nòng cốt đồng thời động viên các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các cá nhân, mỗi người dân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết các vấn đề xã hội Trong Nghị quyết Đại hội lần thứ IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định: Các chính sách Xã hội được tiến hành theo tinh thần Xã hội hóa, đề cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân và sự tham gia của các đoàn thể trong nhân dân, các tổ chức Xã hội Đến đại hội lần thứ VIII Ban Chấp hành trung ương khóa XI đảng ta nhấn mạnh: “Đẩy mạnh Xã hội hóa, khuyến khích các tổ chức cung ứng dịch vụ công thuộc các thành phần ngoài nhà nước, trên cơ sở các định mức, tiêu chuẩn, các quy định của pháp luật và sự kiểm tra giám sát của các cơ quan nhà nước và nhân dân”[26]

Như vậy, có thể hiểu: Xã hội hóa là quá trình mọi tầng lớp xã hội (cả trong

và ngoài nước) bằng nguồn lực của mình cùng chung tay góp sức vào làm một việc

cụ thể nào đó trong một lĩnh vực nào đó góp phần phát triển xã hội và xây dựng đất nước Nhân tố góp phần tích cực trong phong trào xã hội hóa là tất cả các thành phần kinh tế ,mọi tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước Quá trình xã hội hóa được thực hiện trên cơ sở các định mức, tiêu chuẩn, các quy định của pháp luật và sự kiểm tra giám sát của các cơ quan chức năng đảm bảo theo đúng mục tiêu, định hướng của nhà nước

Trang 29

1.2.6.2 Xã Hội hóa giáo dục

Xã hội hoá giáo dục là hoạt động duy trì sự cân bằng động giữa hoạt động Giáo dục

và xã hội nhằm tạo động lực cho việc huy động cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển giáo dục, là việc thực hiện mối liên hệ phổ biến giữa hoạt động Giáo dục

và cộng đồng xã hội, làm cho Giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã hội, thích ứng với xã hội Xã hội hoá giáo dục là hoạt động luôn vận động, luôn phát triển phù hợp với mọi không gian, thời gian càng ngày càng linh hoạt và phong phú Như vậy có

thể thấy "XHH GD là chính sách huy động mọi nguồn lực của nhân dân, của các tổ chức

KT - XH tham gia vào sự nghiệp GD, đầu tư vào hoạt động GD trên cơ sở phù hợp với khả năng tài chính và trình độ chuyên môn nhằm xây dựng xã hội học tập" [27, Tr.17]

1.2.7 Quỹ Phát triển

Để thu hút các nguồn lực vật chất, phi vật chất, để thúc đẩy quá trình giáo dục nhằm xây dựng các điều kiện thiết yếu phục vụ giáo dục ở nhà trường như: CSVC, trường lớp, đội ngũ, cán bộ giáo viên; tạo môi trường giáo dục trong sạch, lành mạnh thống nhất giữa nhà trường - gia đình - xã hội góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, thực hiện mục tiêu đào tạo con người Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới của đất nước cần có một tổ chức chính thống được thành lập dựa trên quy định của pháp luật, được pháp luật công nhận, các nguồn lực tài trợ được sử dụng đúng mục đích, đúng quy định và quyền lợi của những cá nhân, tổ chức tham gia được đảm bảo vì vậy mà tổ chức QUỸ ra đời [42]

- “Quỹ”: Là tổ chức phi chính phủ do cá nhân, tổ chức tự nguyện dành một khoản tài sản nhất định để thành lập hoặc thành lập thông qua hợp đồng, hiến tặng,

di chúc; có mục đích tổ chức, hoạt động theo quy định tại Điều 2 Nghị định 30/2012/NĐ-CP quy định về Quỹ Xã hội, Quỹ từ thiện; được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập, công nhận điều lệ

“Quỹ xã hội”: Là quỹ được tổ chức, hoạt động với mục đích chính nhằm hỗ trợ và khuyến khích phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, khoa học và các mục đích phát triển cộng đồng, không vì mục đích lợi nhuận với nguyên tắc: + Thành lập và hoạt động không vì lợi nhuận

+ Tự nguyện, tự tạo vốn, tự trang trải và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật bằng tài sản của mình

Trang 30

+ Hoạt động theo điều lệ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận, theo quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật liên quan

+ Công khai, minh bạch về thu, chi, tài chính, tài sản của quỹ

+ Không phân chia tài sản của quỹ trong quá trình quỹ đang hoạt động

Quỹ Phát triển (Quỹ quyên góp, Quỹ ủng hộ, Quỹ khuyến học…) là Qũy Xã hội, thành lập và hoạt động không vì lợi nhuận với mục đích hỗ trợ cán bộ, viên chức và học sinh, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh có nhiều cơ hội thuận lợi trong công tác giảng dạy, nghiên cứu, học tập để nâng cao trình độ và chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học đồng thời nâng cấp cơ sở vật chất, kỹ thuật góp phần xây dựng và phát triển có

Tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản, tên, biểu tượng và trụ sở của quỹ được thực hiện theo quy định của Nghị định 30/2012/NĐ-CP và Thông tư số 02/2013/TT-BNV

1.3 Lý luận về huy động và sử dụng nguồn tài trợ tại quỹ phát triển các

cơ sở giáo dục đại học

1.3.1 Xã hội hóa giáo dục và sự phát triển của các cơ sở giáo dục đại học

Xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, là một chủ trương lớn của Nhà nước Chủ trương này có mục tiêu chính là phát huy sức mạnh toàn dân, tạo ra những chuyển biến tốt hơn về chất lượng giáo dục bậc cao Tuy nhiên khi đi vào thực tế, chủ trương này đã bị nhiều người hiểu đơn giản chỉ là chuyển gánh nặng tài chính sang vai người dân Xã hội hóa dịch vụ công trong giáo dục với ý nghĩa đó bao gồm sự tham gia của nhiều bên, nhiều thành phần xã hội trong quá trình quản trị trường đại học và hệ thống đại học, nhằm giúp trường đại học thực hiện tốt nhất vai trò và sứ mạng của nó để phục vụ cho lợi ích của quốc gia Trong nhiều bên tham gia ấy, tác nhân quan trọng nhất vẫn là Nhà nước[29]

Số lượng trường đại học và cao đẳng tư thục tăng nhanh trong vòng một thập

kỷ qua là một hiện tượng tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu to lớn về giáo dục bậc cao của công chúng mà các trường đại học công không thể đáp ứng đầy đủ Do nguồn ngân sách hạn hẹp, chính các trường đại học công cũng đang trở thành những nhà cung cấp dịch vụ giáo dục qua các hệ đào tạo ngoài chính quy để có những nguồn thu ngoài ngân sách Nguồn tài chính cho giáo dục đang ngày càng dựa nhiều hơn vào xã hội và người dân

Trang 31

Trong vấn đề quản trị đại học, xã hội hóa giáo dục là khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội trong việc giám sát hoạt động của nhà trường

Vấn đề chất lượng có thể tiếp cận từ đầu vào (input), quá trình (process) và đầu

ra (output) Từ đó, để cải thiện chất lượng, có thể nghĩ đến việc cải cách tuyển sinh (cách tiếp cận từ đầu vào), thay đổi quy trình đào tạo như phương pháp giảng dạy, chất lượng người thầy, các phương tiện hỗ trợ như thư viện hay dịch vụ mạng, cách thi cử

và đánh giá kết quả học tập, v.v (cách tiếp cận từ quá trình), hay dựa vào kết quả đánh giá của xã hội đối với sinh viên ra trường để cải thiện chương trình và nội dung đào tạo (tiếp cận từ đầu ra)

Khuyến khích sự tham gia của xã hội ở đây là mở rộng sự tham gia của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức sử dụng lao động, v.v… trong việc xây dựng chương trình đào tạo và chuẩn đầu ra Muốn vậy, cần tăng cường mối liên kết hợp tác chặt chẽ giữa nhà trường và các doanh nghiệp

Việc tăng cường sự tham gia và hợp tác của các doanh nghiệp trong quá trình đào tạo của nhà trường, qua các hoạt động như hợp tác nghiên cứu, xây dựng chương trình, hỗ trợ thực tập, mời giảng, tổ chức sinh hoạt chuyên đề, v.v giúp nâng cao hiệu quả đào tạo, nâng cao chất lượng sản phẩm đầu ra cho giáo dục - Đó cũng là một khía cạnh quan trọng của xã hội hóa giáo dục tại các cơ sở giáo dục đại học

Nghị quyết TW6 Ban chấp hành TW khoá IX nêu quyết tâm thực hiện giải pháp: "Đẩy mạnh XHHGD, xây dựng xã hội học tập, coi GD là sự nghiệp của toàn dân là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển GD Nhà nước khuyến khích mọi đóng góp, mọi sáng kiến của xã hội cho GD" [25]Trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, Chính phủ đã ban hành các văn bản pháp quy và tổ chức thực hiện rộng rãi chủ trương xã hội hoá giáo dục

Văn kiện Đại hội X của Đảng: “Thực hiện xã hội hoá giáo dục Huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, các tổ chức chính trị xã hội,

xã hội nghề nghiệp để mở mang giáo dục”[26, Tr.97 ] Xã hội hoá giáo dục phải được hiểu trên phương diện rộng là toàn thể nhân dân, toàn thể xã hội tham gia vào

sự nghiệp GD, làm cho hoạt động GD trở thành hoạt động chung của toàn xã hội

Trang 32

Nhưng để cho công tác XHHGD đạt mục tiêu thì phải đặt nó thành hoạt động quản

lý để nhà quản lý, tác động định hướng, điều khiển và kiểm soát các quá trình XHHGD đúng đường lối, chủ trương, kế hoạch phát triển GD của đất nước, địa phương, đảm bảo các nguyên tắc quản lý về giáo dục và phù hợp pháp luật

Nội dung xã hội hóa giáo dục

Xã hội hoá giáo dục bao gồm nhiều nội dung, nhưng có thể khái quát bằng 5 nội dung cơ bản:

- Giáo dục cho mọi người

Là các hình thức, nội dung, biện pháp tuyên truyền vận động toàn dân tham gia học tập, học thường xuyên, học suốt đời, học bằng mọi hình thức, tạo ra khả năng thu nhập cao hơn, đảm bảo có cuộc sống tốt đẹp hơn và tham gia vào sự nghiệp xây dựng và phát triển quê hương, đất nước Như vậy, giáo dục cho mọi người là tạo lập phong trào học tập sâu rộng trong cộng đồng xã hội, làm cho xã hội

ta trở thành một xã hội học tập

- Huy động cộng đồng tham gia phát triển giáo dục

Là xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh mà mỗi người đều tự ý thức và xác định được trách nhiệm của mình trong việc tham gia, chăm sóc, giáo dục thế hệ tương lai của đất nước; Huy động cộng đồng tham gia phát triển giáo dục thực chất

là thực hiện tốt nguyên lý 3 môi trường giáo dục: Giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, tạo lập một không gian khép kín trong hoạt động giáo dục

- Đa dạng hoá loại hình

Là mở rộng các loại hình trường lớp, các hình thức đào tạo, hình thức học tập Bên cạnh hệ thống trường học công lập được xây dựng và phát triển ổn định gần một nửa thế kỷ qua, phát triển thêm các loại hình trường ngoài công lập, bao gồm trường bán công, dân lập, tư thục ở tất cả các ngành học, bậc học, từ giáo dục Mầm non đến Cao đẳng và Đại học Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của xã hội, đa dạng hoá loại hình trường lớp còn là việc hình thành hệ thống các trung tâm, bao gồm các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm dạy nghề, trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp - dạy nghề, trung tâm đào tạo, bồi dưỡng theo chuyên ngành (ngoại ngữ, tin học, điện tử viễn thông…),

Trang 33

đặc biệt gần đây là sự ra đời của các trung tâm học tập cộng đồng cấp xã, phường

- Đa phương hoá nguồn lực

Là việc mở rộng nguồn đầu tư cho phát triển giáo dục Bên cạnh nguồn ngân sách chủ yếu của Nhà nước, giáo dục có thể tranh thủ sự đầu tư hỗ trợ của các cơ quan kinh tế, các tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng, các cá nhân và cả cộng đồng

về nhân lực, vật lực, tài lực, góp phần xây dựng cơ sở vật chất trường lớp, cung cấp trang thiết bị phục vụ dạy và học

Nguồn lực tài chính theo hướng đa phương hoá có thể được phân loại như sau: Nguồn ngân sách của Nhà nước

Nguồn ngân sách của địa phương

Nguồn đóng góp của cha mẹ học sinh và người học

Nguồn đóng góp của các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất

Nguồn đóng góp của các tổ chức phi Chính phủ

Nguồn tài chính của cá nhân đầu tư cho giáo dục

Nguồn đóng góp của các nhà từ thiện, các nhà hảo tâm, các tôn giáo

Nguồn đóng góp từ các hiệp hội thông qua các quỹ học bổng

1.3.2 Mục tiêu xây dựng và phát triển Quỹ Phát Triển tại các cơ sở giáo dục đại học

Việc xây dựng Quỹ Phát Triển tại các cơ sở giáo dục đại học với chức năng chính là huy động các nguồn vốn xã hội hóa phục vụ cho mục đích phát triển giáo dục; theo đó các cơ sở đào tạo giáo dục Đại học thông qua đơn vị có chức danh có pháp nhân , tài khoản, con dấu và được nhà nước công nhận, hoạt động đúng quy định của pháp luật – Mô hình Quỹ Phát triển là mục tiêu các cơ sở giáo dục Đại học phải hướng đến, ngày càng được mở rộng, phát triển để giảm gánh nặng cho Ngân sách nhà nước, thúc đẩy sự phát triển, tính sáng tạo và đa dạng của người học

Quỹ Phát triển ra đời nhằm thu hút mọi tổ chức quần chúng, mọi thành phần kinh tế, mọi công dân có điều kiện tham gia đầu tư các dự án phát triển giáo dục trong khi ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu Thông qua Quỹ Phát triển, huy động nguồn Xã hội hoá là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh

Trang 34

tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, giúp mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho hoạt động giáo dục phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn, là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước

Khi nhân dân ta có mức thu nhập cao, ngân sách nhà nước dồi dào vẫn phải thực hiện xã hội hoá, bởi vì giáo dục là sự nghiệp lâu dài của nhân dân, sẽ phát triển không ngừng mọi nguồn lực to lớn của toàn dân Ở mỗi địa phương, đây là cộng đồng trách nhiệm của Đảng bộ, HĐND, UBND, các cơ quan nhà nước, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp đóng tại địa phương và của từng người dân

1.3.3 Đặc thù của Quỹ Phát triển trong các cơ sở giáo dục Đại học

Giáo dục đại học là một loại dịch vụ đặc biệt vừa đáp ứng nhu cầu tri thức

và trang bị kỹ năng chuyên môn cho công chúng; vừa gắn chặt với lợi ích và tương lai của quốc gia Do đó chính sách đối với giáo dục đại học cần phản ánh được nét đặc thù ấy Thừa nhận sự tồn tại của thị trường giáo dục như một phần tất yếu của

xã hội hóa giáo dục không phải là thương mại hóa giáo dục mà là để thiết kế khung chính sách phù hợp để giúp nó phát triển lành mạnh Một điều cốt yếu là xã hội hóa giáo dục nên được hiểu là tăng cường vai trò tham gia tích cực của mọi thành phần

và tổ chức xã hội trong việc định hình và phát triển hệ thống giáo dục đại học

Hiện nay, nguồn ngân sách cấp cho giáo dục hàng năm được cấp căn cứ vào quy mô giáo dục, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng theo dự toán ngân sách được giao đáp ứng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định[35] Vì vậy mà các nội dung, định mức chi cho các hoạt động phát triển giáo dục còn rất hạn chế, đặc biệt là ở các cơ sở giáo dục Đại học – nơi mà cả người thầy và trò cần phát huy tính sáng tạo, tính ứng dụng cao; có nhiều dự án nhằm kết nối, liên kết giữa các cơ sở giáo dục với nhau nhằm chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm, hợp tác… nhằm phát triển các cơ sở giáo dục Đại học nhưng chưa được ngân sách nhà nước cấp cho các nhiệm vụ này Trong khi

đó tiềm năng huy động được từ các cá nhân, tổ chức sẵn sàng chi cho các hoạt động giáo dục: tài trợ cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật, tài chính hỗ trợ học sinh, sinh

Trang 35

viên xuất sắc, sinh viên nghèo, nghiên cứu sinh, các cán bộ…lại rất lớn Và nếu như các cá nhân, tổ chức tài trợ trực tiếp cho các đơn vị, các trường đại học đã được cấp nguồn ngân sách hàng năm cho các hoạt động giáo dục thì việc quản lý các nguồn tài trợ này sẽ khó khăn hơn, nguồn kinh phí tài trợ này chủ yếu chỉ được chi học bổng cho học sinh, sinh viên xuất sắc, gặp hoàn cảnh khó khăn trong khi tiềm lực của các cá nhân, tổ chức có thể chi cho các hoạt động khác như đầu tư xây dựng cơ

sở vật chất, phát triển khoa học kỹ thuật … nhưng lại không được phép chi hoặc các đơn vị này không được phép đứng ra ký kết thỏa thuận tài trợ đối với các cá nhân,

tổ chức do không có tư cách pháp nhân Chính vì vậy, tại các cơ sở giáo dục Đại học cần có một đầu mối chính thống, một tổ chức được nhà nước cho phép, có tài khoản, có con dấu, có chức năng nhiệm vụ, có vai trò huy động các nguồn lực từ các cá nhân, tổ chức xã hội, cần quản lý tốt các nguồn lực huy động được sử dụng đúng mục đích, phát huy tốt các nguồn lực phục vụ cho sự phát triển giáo dục của

cơ sở giáo dục đại học đó tuân thủ đúng theo quy định của nhà nước, phù hợp với định hướng phát triển ngắn hạn và dài hạn của cơ sở giáo dục đại học

1.3.4 Nguyên tắc trong tài trợ và quản lý sử dụng nguồn tài trợ

Thông tư số 29/2012/TT-BGDĐT Quy định về tài trợ cho các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân của Bộ Giáo dục và Đào Tạo đã quy định Tài trợ cho giáo dục để tăng cường cơ sở vật chất trường lớp, hỗ trợ hoạt động dạy - học, hoạt động giáo dục tại các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện tốt chủ trương xã hội hoá giáo dục:

Nguyên tắc và yêu cầu về tài trợ

- Tài trợ cho giáo dục để tăng cường cơ sở vật chất trường lớp, hỗ trợ hoạt động dạy - học, hoạt động giáo dục tại các cơ sở giáo dục, thực hiện tốt chủ trương

xã hội hoá giáo dục

- Các cơ sở giáo dục không coi huy động tài trợ là điều kiện cho việc cung cấp dịch vụ giáo dục và không quy định mức tài trợ cụ thể đối với các nhà tài trợ Các khoản tài trợ cần được tiếp nhận, quản lý và thực hiện một cách hiệu quả, tuân thủ đúng quy định của pháp luật hiện hành

- Các nhà tài trợ không gắn điều kiện ràng buộc việc tài trợ với việc thụ

Trang 36

hưởng dịch vụ giáo dục hoặc quyền khai thác lợi ích kinh tế phát sinh từ các khoản tài trợ cho cơ sở giáo dục

- Việc quản lý và sử dụng các khoản tài trợ phải đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch theo quy định tại Thông tư số 19/2005/TT-BTC ngày 11 tháng 3 năm 2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc công khai tài chính đối với các quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nước và các quỹ có nguồn từ các khoản đóng góp của nhân dân và Thông tư số 09/2009/TT-BGDĐT ngày 07 tháng 5 năm 2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế thực hiện công khai đối với cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân

- Khuyến khích các nhà tài trợ tự tổ chức thực hiện việc đầu tư xây dựng, mua sắm, lắp đặt thiết bị dạy - học với sự thỏa thuận và hướng dẫn của cơ sở giáo dục

Nguyên tắc Quản lý và sử dụng các khoản tài trợ

Theo điều 7 thông tư số 16/2018/TT-BGDĐT về tàu trợ cho các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân:

- Cơ sở giáo dục lập Kế hoạch sử dụng khoản tài trợ, trong đó xác định rõ mục đích, đối tượng hưởng lợi; cách thức tổ chức thực hiện, tiến độ thực hiện; chất lượng hoạt động, chất lượng sản phẩm, công trình kèm dự toán kinh phí chi tiết phù hợp với các quy định về tiêu chuẩn, định mức hiện hành Kế hoạch sử dụng khoản tài trợ phải được công bố và niêm yết công khai trước khi tổ chức thực hiện ít nhất 15 ngày làm việc để lấy ý kiến đóng góp của giáo viên, cán bộ, nhân viên, học sinh, sinh viên, cha

mẹ học sinh và nhà tài trợ[15]

- Quá trình thực hiện Kế hoạch phải tuân thủ đúng mục đích đã đề ra, đảm bảo tiến độ thời gian, chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn, định mức quy định, tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục đầu tư xây dựng và mua sắm đấu thầu Cơ sở giáo dục phải lập báo cáo quyết toán công việc hoàn thành và niêm yết công khai để người học và

xã hội giám sát, đánh giá

- Các sản phẩm, công trình hình thành từ các nguồn tài trợ phải được sử dụng đúng mục đích và được bố trí kinh phí duy tu, bảo dưỡng thường xuyên để phát huy hiệu quả sử dụng, không để thất thoát, lãng phí

- Các khoản tài trợ đột xuất cho cơ sở giáo dục để khắc phục khó khăn do

Trang 37

thiên tai, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng, hỗ trợ cán bộ, nhân viên, học sinh mắc bệnh hiểm nghèo thực hiện theo Thông tư số 72/2008/TT-BTC ngày 31 tháng 7 năm

2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 64/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ về vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ nhân dân khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng, các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo

Trong trường hợp nhà tài trợ tự tổ chức thực hiện việc nâng cấp, sửa chữa hoặc xây mới, mua sắm mới tài sản cho cơ sở giáo dục hoặc tổ chức các hoạt động hỗ trợ dạy

- học, các hoạt động ngoại khoá thì cơ sở giáo dục có trách nhiệm như sau:

- Hướng dẫn và giúp nhà tài trợ sử dụng khoản tài trợ đáp ứng đúng nhu cầu

và phù hợp với kế hoạch phát triển của cơ sở giáo dục

- Phối hợp với nhà tài trợ thực hiện các biện pháp kỹ thuật, quy trình, thủ tục trong quá trình thực hiện để đảm bảo chất lượng, mỹ quan của sản phẩm, công trình

- Nghiệm thu, tiếp nhận sản phẩm, công trình do nhà tài trợ tự thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và có trách nhiệm quản lý, duy tu, bảo dưỡng để đảm bảo sản phẩm, công trình được sử dụng hiệu quả, đúng mục đích

1.3.5 Chủ thể quản lý, Hình thức huy động tài trợ và sử dụng nguồn tài trợ

Chủ thể quản lý: Hội đồng quản lý Quỹ, đứng đầu là Giám đốc ĐHQGHN Hình thức huy động tài trợ, đối tượng huy động tài trợ:

- Hình thức huy động tài trợ: Quỹ Phát triển ĐHQGHN dựa trên nhu cầu thực tế hoặc các nhiệm vụ của ĐHQGHN giao sẽ dự thảo các bản chào tài trợ liên quan đến các nhiệm vụ tương ứng, thuyết minh sự cần thiết, tính khả thi và mục đích huy động tài trợ gửi đến các cá nhân, tổ chức để vận động tài trợ

- Đối tượng huy động tài trợ: Hội đồng quản lý Quỹ Phát triển ĐHQGHN đứng đầu

là Giám đốc ĐHQGHN

Hình thức nhận tài trợ: Quỹ Phát triển ĐHQGHN đứng đầu là hội đồng

quản lý Quỹ đại diện Nhận tài trợ bằng tiền hoặc hiện vật tùy theo mục đích sử dụng tài trợ của Quỹ Phát triển ĐHQGHN hoặc tùy vào khả năng, nhu cầu của nhà tài trợ, các cá nhân, tổ chức thông qua các Biên bản thỏa thuận tài trợ

Hình thức sử dụng kinh phí/ hiện vận đã huy động:

Trang 38

- Quỹ Phát triển ĐHQGHN trình xin ý kiến chỉ đạo từ Giám đốc ĐHQGHN

phê duyệt chủ trương về việc chuyển kinh phí tài trợ cho các nhiệm vụ, các đơn vị

được hưởng tài trợ

- Thông qua các hợp đồng tài trợ Quỹ Phát triển ĐHQGHN sẽ tài trợ cho các

cá nhân, tổ chức theo hình thức đã được phê duyệt bằng tiền mặt hoặc hiện vật Hiện vật hoặc tiền mặt sẽ được trao hoặc cấp kinh phí theo tiến độ, theo nội dung quy định trong hợp đồng phù hợp với các quy định về quản lý tài chính, tài trợ của Quỹ Phát triển ĐHQGHN và của ĐHQGHN

1.4 Nội dung quản lý hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ

1.4.1 Quản lý mục tiêu hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ

Huy động các nguồn vốn Xã hội hóa, thu hút mọi tổ chức quần chúng, mọi thành phần kinh tế, mọi công dân có điều kiện tham gia đầu tư các dự án phát triển giáo dục, tài trợ cho các hoạt động của giáo dục trong khi ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu của Giáo dục và Đào tạo

Hiện nay, nhiều tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp không phải không có kinh phí

để tài trợ mà họ e ngại nguồn tài trợ của mình sẽ bị sử dụng sai mục đích hoặc sẽ bị thất thoát Sử dụng nguồn tài trợ một cách hiệu quả nhất, đúng quy định của pháp luật, các hoạt động tài trợ rõ ràng, khách quan, đúng mục đích, đúng đối tượng sẽ khiến các nhà tài trợ , các mạnh thường quân có niềm tin, có động lực để thực hiện xứ mệnh xã hội hóa, đồng tiền của mình được sử dụng một cách hiệu quả và đúng với tinh thần được tài trợ cho một tổ chức giáo dục, đóng góp cho sự phát triển của các cá nhân, học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh, cán bộ vào sự phát triển chung của cơ sở giáo dục đó và

sự phát triển chung của sự nghiệp Giáo dục trong cả nước

Đối với quản lý mục tiêu, những vẫn đề sau cần được quan tâm, chú ý:

- Rà soát hệ thống các văn bản, chính sách về xã hội hóa đã ban hành, hệ thống hóa các quy định về huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục theo từng lĩnh vực và nhóm vấn đề cụ thể, phát hiện những quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn và còn thiếu, đề xuất hướng chỉnh sửa, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ cho phù hợp; kịp thời cập nhật những chủ trương, định hướng mới về xã hội hóa và có liên quan Dựa trên các quy định của hệ thống pháp luật sẽ thiết các cách thức huy động

Trang 39

tài trợ phù hợp với các đối tượng, cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp cần chi tài trợ sao cho các hoạt động tài trợ được thực hiện đúng với cả đối tượng tài trợ và đối tượng được nhận tài trợ

- Các kế hoạch xây dựng huy động và sử dụng nguồn tài trợ cần phải được giao nhiệm vụ cụ thể cho đơn vị, phòng ban phụ trách Căn cứ vào định hướng, kế hoạch phát triển cụ thể hàng năm của tổ chức, cân đối với các nguồn lực trong, ngoài hiện có để xây dựng mục tiêu và kế hoạch hành động Lãnh đạo, người đứng đầu đơn vị, tổ chức có trách nhiệm giám sát, kiểm tra đánh giá và xem xét phê duyệt mục tiêu hoạt động huy động và sử dụng vốn hàng năm của tổ chức

1.4.2 Quản lý nội dung hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ

Việc vận động tài trợ cho giáo dục đóng vai trò hết sức to lớn, trong bối cảnh ngân sách nhà nước đang còn gặp nhiều khó khăn Chính từ sự tài trợ của các doanh nghiệp, của phụ huynh và cộng đồng xã hội thì việc đầu tư cơ sở vật chất, trường lớp ở nhiều địa phương đã được hoàn thiện đầy đủ hơn, hiện đại hơn phục vụ tốt nhu cầu dạy và học Tuy nhiên, để hoạt động huy động và sử dụng nguồn tài trợ được thực hiện có hiệu quả thì quá trình triển khai các nội dung thực hiện cần phải được quản lý chặt chẽ theo đúng quy định của pháp luật

 Quản lý hoạt động kêu gọi tài trợ

Hoạt động kêu gọi tài trợ được thực hiện theo quy trình:

Thứ nhất: lên kế hoạch vận động quyên góp, tài trợ từ các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước bằng cách xây dựng đề cương xin tài trợ gửi tới các cá nhân, tổ chức nhằm giới thiệu về nhu cầu cần tài trợ, mục đích, ý nghĩa của việc tài trợ đối với các hoạt động phát triển giáo dục

Căn cứ vào kế hoạch hoạt động năm học và dự toán ngân sách được cơ quan nhà nước giao, định kỳ hoặc đột xuất, cơ sở giáo dục xây dựng kế hoạch vận động tài trợ báo cáo phòng giáo dục và đào tạo phê duyệt đối với cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục cấp tiểu học, trung học cơ sở; báo cáo sở giáo dục và đào tạo phê duyệt đối với cơ sở giáo dục cấp trung học phổ thông và các cơ sở giá dục khác trực thuộc sở giáo dục và đào tạo, trước khi tổ chức vận động tài trợ

Đối với trường trung cấp sư phạm, trường cao đẳng sư phạm, cơ sở giáo dục

Trang 40

đại học, kế hoạch vận động tài trợ phải trình Hội đồng trường hoặc Hội đồng quản trị phê duyệt trước khi vận động tài trợ và báo cáo cơ quan cấp trên trực tiếp

Thứ 2: Phê duyệt kế hoạch vận động quyên góp, tài trợ:

Sở giáo dục và đào tạo, phòng giáo dục và đào tạo; Hội đồng trường; Hội đồng quản trị có trách nhiệm thẩm định phê duyệt kế hoạch vận động tài trợ trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ của cơ sở giáo dục Trường hợp phát hiện

kế hoạch vận động tài trợ không đúng quy trình, quy định và không công khai minh bạch thì phải yêu cầu cơ sở giáo dục dừng triển khai kế hoạch vận động tài trợ

Thứ 3: Kế hoạch vận động tài trợ phải xác định rõ nội dung, mục đích, đối tượng thụ hưởng, dự toán kinh phí và kế hoạch triển khai hoạt động cần tài trợ

 Quản lý hoạt động tiếp nhận tài trợ

Các tổ chức, cá nhân tiếp nhận, quản lý và sử dụng tài trợ đúng theo quy trình, thực hiện có hiệu quả tuân thủ quy định của pháp luật hiện hành, cụ thể:

- Đơn vị đầu mối thực hiện các thủ tục tiếp nhận tài trợ thông qua biên bản thỏa thuận hoặc hợp đồng tài trợ, trong đó thống nhất các điều khoản, quy định rõ

số tiền (hoặc hiện vật) tài trợ, thời gian tài trợ và đối tượng được nhận tài trợ cùng các điều khoản khác phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với mục đích được tài trợ

- Kinh phí nhận và chi tài trợ được báo cáo đầy đủ và cụ thể tới các bên liên quan và cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu hoặc nằm trong khuôn khổ báo cáo thường niên thuộc các cấp quản lý của cá nhân, tổ chức đó

 Chấn chỉnh mặt trái của vận động tài trợ trong giáo dục

Thực tiễn cho thấy, hoạt động huy động và sử dụng nguồn vốn tài trợ cho giáo dục thời gian qua bên cạnh những kết quả đáng khích lệ thì vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, thiếu sót; nhiều khe hở để cho các đơn vị lợi dụng để lạm thu, sử dụng không đúng mục đích, chi sai tiền tài trợ, gây lãng phí, không hiệu quả Nhiều trường hợp đã lợi dụng danh nghĩa huy động tài trợ để thu các khoản kinh phí ngoài quy định, gây nên sự bức xúc trong dư luận và chính những điều đó đã làm mất đi tính tự nguyện cũng như bản chất tốt đẹp của các hoạt động tài trợ cho giáo dục

Nhận thức được điều đó, ngày 3/8/2018, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số

Ngày đăng: 20/09/2020, 07:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w