1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại tổ chức tín dụng từ thực tiễn xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm của tòa án nhân dân tối cao

184 167 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 184
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thay đổi về cơ cấu tổ chức của hệ thống Tòa án, dẫn đến thẩm quyền thụ lý, giải quyết đơn đề nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các vụ án nói chung và các vụ án tranh

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM VĂN LỢI

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH TIỀN VAY TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM VĂN LỢI

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH TIỀN VAY TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 9.38.01.07

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đinh Văn Thanh

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Phạm Văn Lợi

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 8

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 8

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu hợp đồng bảo lãnh bảo đảm tiền vay tại tổ chức tín dụng 8

1.2 Tình hình nghiên cứu về giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh bảo đảm tiền vay tại tổ chức tín dụng 16

1.3 Tình hình nghiên cứu về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng dân sự 19

2 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận án 25

3 Những kết quả của các công trình nghiên cứu mà tác giả sẽ kế thừa 26

4 Những vấn đề mà luận án tiếp tục nghiên cứu 27

5 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu 28

5.1 Lý thuyết nghiên cứu của đề tài 28

5.2.Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu của đề tài 30

5.3 Hướng tiếp cận nghiên cứu: 30

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH TIỀN VAY TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM 34

2.1.Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại tổ chức tín dụng 34

2.2 Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại tổ chức tín dụng theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 44

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XÉT XỬ GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM ĐỐI VỚI TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH TIỀN VAY TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG TỪ THỰC TIỄN CỦA TÕA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO 64

3.1 Thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh bảo đảm tiền vay tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam 64

Trang 5

3.2 Thực trạng pháp luật về xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm tranh chấp hợp

đồng bảo lãnh tiền vay tại tổ chức tín dụng 81

3.3 Thực tiễn xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm đối với tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại tổ chức tín dụng tại Tòa án nhân dân tối cao 90

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH TIỀN VAY TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO 110

4.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại tổ chức tín dụng theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 110

4.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại tổ chức tín dụng theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 113

4.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh bảo đảm tiền vay tại tổ chức tín dụng theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại Tòa án nhân dân tối cao 142

KẾT LUẬN 150

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

DANH SÁCH CÁC CHUYÊN GIA ĐƯỢC HỎI, PHỎNG VẤN 178

PHỤC VỤ LUẬN ÁN 178

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội

HVKHXH Học viện Khoa học Xã hội

UBTVQH Ủy ban thường vụ Quốc hội

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:

Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến

lược cải cách Tư pháp đến năm 2020”; Kết luận số 79-KL/TW ngày

28/7/2010 và Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức bộ máy các cơ quan Tư pháp, với trọng tâm

là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, với mục tiêu hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu lực, hiệu quả cao Đối với công

tác giám đốc thẩm, tái thẩm, Nghị quyết 49-NQ/TW cũng nêu rõ, “Từng bước

hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng quy định chặt chẽ những căn cứ kháng nghị và quy định rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; khắc phục tình trạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ” [4]

Thể chế hóa những chủ trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp năm

2013 quy định, “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” [Điều 102]; Luật Tổ chức

TAND năm 2014 quy định TAND được tổ chức theo mô hình 04 cấp: Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án án nhân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện Từ thay đổi về cơ cấu tổ chức của hệ thống Tòa án, dẫn đến thẩm quyền thụ lý, giải quyết đơn đề nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các vụ án nói chung và các vụ án tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD nói riêng có nhiều thay đổi Điều 18 BLTTDS năm 2015

quy định, Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các Tòa án; Tòa

án nhân dân cấp cao giám đốc việc xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ Những thay đổi của chế định

giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng dân sự đã khắc phục được nhiều điểm hạn chế của BLTTDS trước đây Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tích cực, vẫn tồn tại nhiều điểm chồng chéo, mâu thuẫn, bất hợp lý dẫn đến tình trạng tồn đọng đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm; chất lượng giải quyết các vụ

Trang 8

án kinh doanh, thương mại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm chưa cao Do vậy, việc tiếp tục phải nghiên cứu, kiến nghị hoàn thiện là việc làm cần thiết

Từ khi BLTTDS 2015 có hiệu lực thi hành, mặc dù số lượng đơn đề nghị giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại TANDTC có giảm về

số lượng (do thay đổi thẩm quyền), nhưng tính tổng cộng số lượng đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án các cấp (TANDTC và ba TANDCC) thụ lý hằng năm tăng trung bình gần 1100 vụ/năm Riêng năm 2019 tổng số thụ lý là 69.141 vụ/năm, với tính chất ngày càng phức tạp, nhất là trong lĩnh

vực kinh doanh, thương mại [140, tr.5]

Thực trạng hoạt động của các TCTD trong thời gian qua cho thấy, nợ xấu của các TCTD được gọi bằng những cái tên như “khối u” của nền kinh tế,

“tảng băng”, “cục máu đông” làm ách tắc dòng vốn tín dụng cung cấp ra nền kinh tế Sau khi Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) ra đời (năm 2013), việc xử lý nợ xấu có được cải thiện, nhưng vẫn còn rất nhiều

“nút thắt” cần tháo gỡ, nhất là vấn đề pháp lý trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm Năm 2017 Quốc hội ban hành Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD Nghị quyết này thể hiện tinh thần, nợ xấu không chỉ của hệ thống tín dụng mà là của nền kinh tế Do vậy, Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, Ngành, địa phương phải chung tay hỗ trợ ngành Ngân hàng xử lý nợ xấu Đối với hệ thống Tòa án, Nghị quyết 42/2017/QH14 đã nêu rõ, Tòa án áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm hoặc tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của TCTD Cụ thể hóa quy định nêu trên, Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã ban hành Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 Tuy nhiên, cho đến nay (tháng 8 năm 2020), vấn đề giải quyết vụ án tranh chấp tài sản bảo đảm đối với khoản tiền vay tại TCTD theo thủ tục rút gọn vẫn còn nhiều vướng mắc và thực tế chưa có vụ án nào được giải quyết theo thủ tục rút gọn Do vậy, việc nghiên cứu đề tài giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm nhằm mục đích chỉ ra những vướng mắc trong thủ tục giải quyết loại tranh chấp này tại Tòa

Trang 9

án, từ đó kiến nghị các giải pháp để nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp

là cần thiết trong giai đoạn hiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

2.1 Mục đích nghiên cứu:

Việc nghiên cứu đề tài này nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại Tòa án nhân dân tối cao, qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại Tòa án nhân dân tối cao, đáp ứng yêu cầu cải cách Tư pháp trong giai đoạn hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được những mục đích đặt ra nêu trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ chính sau đây:

(1) Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về tranh chấp hợp đồng bảo lãnh bảo đảm tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

(2) Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại Tòa án nhân dân tối cao

(3) Tìm ra các giải pháp phù hợp nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh bảo đảm tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại TANDTC, với mong muốn biện pháp bảo lãnh bảo đảm tiền vay tại TCTD trở nên phổ biến; việc giải quyết tranh chấp (nếu có) sẽ nhanh chóng, hiệu quả

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

(i) Các quan điểm, công trình nghiên cứu, học thuyết pháp lý liên quan đến giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

Trang 10

(ii) Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam; một số quy định của các nước như: Liên bang Nga, Cộng hòa Pháp, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Hoa Kỳ, Nhật Bản… liên quan đến giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

(iii) Thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại TANDTC

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống, sâu sắc những khía cạnh pháp lý của quan hệ bảo lãnh tiền vay tại TCTD như các chủ thể tham gia quan hệ bảo lãnh, đối tượng của bảo lãnh, nội dung, bản chất của bảo lãnh, phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh, thời điểm phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh, bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh, xử lý tài sản bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh Luận án chỉ tập trung nghiên cứu các hợp đồng bảo lãnh giữa TCTD (không bao gồm các TCTD nước ngoài) với tổ chức, cá nhân (không bao gồm bảo lãnh ngân hàng

và bảo lãnh đối với các hợp đồng dân sự giữa các cá nhân với nhau, hoặc giữa

cá nhân với pháp nhân không nhằm mục đích sinh lời) đối với khoản vay phát sinh từ hợp đồng tín dụng (bên cho vay là TCTD, bên vay là pháp nhân, cá nhân); và việc giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại TANDTC

Luận án sử dụng các quy định của pháp luật dân sự và tố tụng dân sự năm 2015, Luật TCTD (có tham khảo các quy định trước đó); cơ chế giải quyết tranh chấp tại Tòa án của Việt Nam hiện hành và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ bảo lãnh Nghiên cứu sử dụng nhiều tư liệu (Quyết định kháng nghị, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm) về thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD tại TANDTC từ năm 2013 trở lại,

từ đó đánh giá về quy định của pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD của Việt Nam và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của Việt Nam hiện nay

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu:

Việc nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin

Các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, logic là những phương pháp được sử dụng xuyên suốt luận

án để phân tích, đánh giá, đưa ra kiến nghị về những vấn đề trong nội dung nghiên cứu, cụ thể là:

Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp được sử dụng trong tất

cả các chương để làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo lãnh tiền vay tại TCTD

Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp logic, phương pháp so sánh được sử dụng ở các chương 2, 3, 4 để phân tích các vấn đề trong mối quan hệ chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn ở trong và ngoài nước Các chương này được nghiên cứu trong mối quan hệ logic xuyên suốt từ cơ sở lý luận đến thực trạng, quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật Những vấn

đề lý luận trong Chương 2 được kiểm nghiệm trong Chương 3 để từ đó tạo cơ

sở hình thành những kiến nghị trong Chương 4

Phương pháp phỏng vấn, hỏi đáp chuyên gia được sử dụng để đánh giá thực trạng pháp luật trong Chương 3 và tạo cơ sở cho việc đưa ra các đề xuất, kiến nghị trong Chương 4 Có thể nói tất cả các phương pháp nghiên cứu nêu trên đều rất có giá trị cho việc đạt đến mục tiêu nghiên cứu của luận án

Đặc biệt, trong luận án này tác giả sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống, sự việc thực tế “Case studies” để phân tích các vụ án có tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD được giải quyết tại Hội đồng Thẩm phán TANDTC, và phân tích các Án lệ liên quan đến lĩnh vực này

5 Những đóng góp mới của luận án

Từ quá trình nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh bảo đảm tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại TANDTC, tác giả nhận thấy hoạt động nghiên cứu đạt được một số kết quả cơ bản sau:

Trang 12

- Thứ nhất, Luận án đã đề xuất cần sửa đổi một số quy định của pháp

luật liên quan đến quan hệ bảo lãnh, nhằm mục đích bảo vệ tốt hơn cho bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh (bảo vệ người nhận bảo đảm ngay tình; các quy định về bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh; các quy định về điều kiện của bên bảo lãnh, về nghĩa vụ của bên nhận bảo lãnh và bên bảo lãnh)

- Thứ hai, Từ thực trạng giải quyết tranh chấp, luận án chỉ ra các dạng

tranh chấp phổ biến liên quan đến hợp đồng bảo lãnh bảo đảm tiền vay tại tổ chức tín dụng, từ đó luận án đưa ra khuyến nghị cho các bên khi giao kết hợp đồng bảo lãnh

- Thứ ba, Luận án đã phân tích cơ sở lý luận cũng như sự cần thiết phải

sửa đổi những quy định của pháp luật tố tụng nhằm mục đích rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh bảo đảm tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, nhưng vẫn đạt chất lượng, hiệu quả cao

- Thứ tư, Luận án kiến nghị một số giải pháp mang tính đột phá trong

công tác giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm tại TANDTC

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

- Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần bổ sung, làm rõ một số vấn đề lý

luận cơ bản về quan hệ bảo lãnh và tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD; phương thức giải quyết các tranh chấp của hợp đồng này theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; làm rõ tính đối nhân trong quan hệ bảo lãnh, sự khác biệt của thế chấp bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh với thế chấp tài sản của người thứ ba; đặc biệt, trong đề tài này tác giả nêu cơ sở lý luận cũng như cơ sở thực tiễn

về sự cần thiết phải bảo vệ người nhận bảo đảm ngay tình, từ đó kiến nghị sửa đổi BLDS để có thể áp dụng quy định về người thứ ba ngay tình trong quan hệ bảo đảm Đối với chế định giám đốc thẩm, tái thẩm, đề tài cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để xem xét rút ngắn thời gian giải quyết các tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; giải pháp nâng cao chất lượng kháng nghị, tránh tùy tiện, tràn lan

- Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài khai thác tính cấp thiết của việc hoàn thiện

các quy định pháp luật liên quan tới giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong bối cảnh Việt

Trang 13

Nam đang trong tiến trình cải cách tư pháp theo tinh thần của Nghị quyết NQ/TW, kết hợp với tinh thần của Nghị quyết 42/2017/NQ-QH14, quyết liệt trong vấn đề xử lý nợ xấu của hệ thống tín dụng – một nút thắt của nền kinh

49-tế Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp bách cần sớm có những nghiên cứu một cách tổng thể về hoạt động giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại TANDTC nhằm mục đích rút ngắn thời gian giải quyết, đạt chuẩn mực pháp lý có tính hướng dẫn nghiệp vụ đối với các cấp Tòa án

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các hoạt động nghiên cứu và giảng dạy về pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; đồng thời, là nguồn tham khảo đối với việc ban hành các văn bản hướng dẫn chế định bảo đảm nghĩa vụ trong BLDS 2015 cũng như chế định giám đốc thẩm, tái thẩm trong BLTTDS; đặc biệt có giá trị tham khảo đối với những Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, những người làm công tác Tư pháp khác trong việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng bảo lãnh bảo đảm tiền vay tại TCTD

7 Kết cấu luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm

04 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến

đề tài luận án

Chương 2: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo

lãnh bảo đảm tiền vay tại tổ chức tín dụng theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

Chương 3: Thực trạng pháp luật về xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm

đối với tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD từ thực tiễn của Tòa án nhân dân tối cao

Chương 4: Giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả giải

quyết tranh chấp đối với hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại tổ chức tín dụng theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại Tòa án nhân dân tối cao

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu hợp đồng bảo lãnh bảo đảm tiền vay tại tổ chức tín dụng

1.1.1.Về khái niệm, đặc điểm của bảo lãnh

Khái niệm bảo lãnh nêu trong một số công trình khoa học [88, tr.377], [158, tr.26][1, tr.158][42, tr.19][128, tr.201][33, tr.101] của các tác giả Nguyễn Mạnh Bách, Nguyễn Ngọc Điện, Lê Thị Thu Thủy và trong Luật La

Mã, Quốc triều Hình luật…đều có nội hàm là việc người thứ ba cam kết bảo đảm cho nghĩa vụ của người có nghĩa vụ; và bảo lãnh là một hợp đồng giữa người bảo lãnh với người nhận bảo lãnh

Đặc điểm của bảo lãnh tiền vay tại tổ chức tín dụng:

- Bảo lãnh là biện pháp bảo đảm đối nhân: Tác giả Nguyễn Mạnh

Bách viết, “Ngày nay, sự bảo lãnh ít thông dụng, mỗi khi giao kết trái chủ

thường đòi hỏi một bảo đảm đối vật trên tài sản của trái hộ, bảo đảm này hữu hiệu hơn sự bảo lãnh ” [1, tr.158] Tác giả Nguyễn Thị Nga cũng gián tiếp thừa

nhận bảo lãnh là biện pháp bảo đảm đối nhân khi nhận định “…Đây là biện

pháp bảo đảm mang tính đối nhân… Nghĩa là bên cho vay bỏ ra một khoản tiền vay cho bên kia và khoản vay đó được bảo đảm thông qua [lời hứa] của chủ thể thứ ba…” [81, tr.20]; tác giả Phạm Văn Đàm khẳng định “…so với các biện pháp bảo đảm khác như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh là biện pháp bảo đảm đối nhân…” [46, tr.46] Tác giả Trương Thanh Đức khi nghiên cứu về bảo lãnh có

đưa ra kiến nghị, “Về biện pháp bảo lãnh: Đề nghị sửa đổi Bộ luật Dân sự theo

hướng, quy định rõ bảo lãnh là biện pháp bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba, nhưng không đưa tài sản vào cầm cố, thế chấp” [168]

Trang 15

Ngược lại, các tác giả Lê Thị Thu Thủy, Nguyễn Anh Sơn cho rằng, trong lĩnh vực hoạt động cho vay của ngân hàng, tổ chức tín dụng Việt Nam theo pháp luật hiện hành không chỉ thuần túy là biện pháp bảo đảm đối nhân

mà còn có thể là bảo lãnh đối vật, bởi lẽ người bảo lãnh cũng có thể phải thế chấp hoặc cầm cố tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thanh toán cho người được bảo lãnh Trường hợp thứ hai chính là bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba [150, tr.204] Đồng tình với quan điểm này, tác giả Nguyễn Ngọc Điện có góc nhìn so sánh, theo nghĩa nguyên thủy của bảo lãnh trong Luật

La tinh cổ thì bảo lãnh là hoàn toàn đối nhân, nhưng quá trình sau này, tại Pháp các học thuyết pháp lý và Án lệ đã chấp nhận hình thức bảo lãnh đối vật (Cautionnement réel) và thực tế, bảo lãnh đối vật mới là hình thức được

ưa chuộng [42, tr.56-57]

Tác giả Nguyễn Thúy Hiền diễn giải rõ hơn, “Nhằm giảm sự khác biệt

so với pháp luật của các nước trong quá trình hội nhập quốc tế, BLDS năm

2005 chuyển bảo lãnh bằng tài sản cụ thể trong BLDS 1995 thành cầm cố, thế chấp bằng tài sản của người thứ ba Từ đó, không còn quy định về bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất trong Luật Đất đai năm 2003, mà được chuyển thành thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba và pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm không quy định đăng ký bảo lãnh” [171]

Như vậy, về mặt lý luận thì trên thế giới cũng đã có những trường phái luật theo xu hướng xác định bảo lãnh có thể là biện pháp bảo đảm đối vật Ở Việt Nam, khi xây dựng BLDS năm 1995 đã đi theo hướng này, tuy nhiên từ năm 2005 khi sửa đổi BLDS 1995 thì bảo lãnh lại được quy định theo hướng

là biện pháp bảo đảm đối nhân

- Quan hệ bảo lãnh tồn tại dưới dạng hợp đồng giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh: Ngay trong khái niệm bảo lãnh của một số nước như La

Mã, Pháp, Đức đều thể hiện, bảo lãnh đảm bảo nghĩa vụ dân sự là một hợp đồng Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Thái Lan cũng quy định về hình thức của

Trang 16

hợp đồng bảo lãnh phải bằng văn bản Đặc biệt, Bộ luật Dân sự Pháp còn yêu cầu người bảo lãnh phải viết tay giá trị số tiền cam kết bảo lãnh bằng số

và bằng chữ Bộ luật Dân sự Campuchia còn thừa nhận tính pháp lý của hợp đồng bảo lãnh được thể hiện bằng lời nói, mặc dù tính pháp lý của loại hợp đồng này là không cao [9]

Tác giả cuốn sách “The Modern Contract of Guarantee” (2003) (hợp đồng bảo lãnh hiện đại) cho rằng, “về nguyên tắc hợp đồng bảo lãnh không

nhất thiết phải tồn tại dưới dạng văn bản, nhưng để có bằng chứng cụ thể và

có giá trị đối với người thứ ba thì hợp đồng bảo lãnh phải được lập dưới dạng văn bản” UNCITRAL lại khuyến nghị, “Luật nên quy định hợp đồng bảo đảm có thể bằng miệng nếu bên nhận bảo đảm chiếm hữu tài sản bảo đảm” [200]

Trong bảo lãnh bảo đảm nghĩa vụ dân sự thì nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam đồng tình với quan điểm của các tác giả Phạm Văn Tuyết và Lê

Thị Kim Giang “về bản chất thì quan hệ bảo lãnh là một loại giao dịch dân

sự, quan hệ giữa người bảo lãnh với người nhận bảo lãnh là một hợp đồng”

[149, tr.30] Tác giả Võ Đình Toàn phân tích rõ hơn, thực tiễn pháp lí, quan niệm hợp đồng bảo lãnh là quan hệ hợp đồng là tư tưởng phổ biến;… Đối với cam kết bảo lãnh mà bên bảo lãnh đưa ra thì về bản chất pháp lí đó là dự thảo hợp đồng, nếu không được bên nhận bảo lãnh chấp nhận thì quan hệ bảo lãnh không được thiết lập; hợp đồng bảo lãnh bắt buộc phải có hai bên: bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh [148, tr 41-46] Cùng chung quan điểm về vấn đề

này, tác giả Nguyễn Ngọc Điện khẳng định, “Bảo lãnh là một quan hệ pháp

luật hình thành do sự gặp gỡ ý chí giữa người bảo lãnh với người nhận bảo lãnh Đó thực sự là một hợp đồng chứ không phải là loại giao dịch một bên Tuy nhiên, hợp đồng bảo lãnh là giao ước đơn vụ: chỉ có người bảo lãnh là người có nghĩa vụ…” [ 42, tr.20]

Trang 17

Tác giả Bùi Đức Giang viết, “Nhìn chung, dù được thể hiện bằng hình

thức văn bản nào đi chăng nữa (hợp đồng bảo lãnh, thư bảo lãnh, quyết định bảo lãnh,v.v…) thì phải nhìn nhận cam kết bảo lãnh (văn bản bảo lãnh) là

hợp đồng chứ không phải là một hành vi pháp lý đơn phương ” [54, tr 29-39]

Tác giả Lê Thị Thu Thủy cũng có chung quan điểm này [150, tr.202] Tác giả

Trương Thanh Đức cũng cho rằng, “ở Việt Nam, mặc dù bảo lãnh chỉ là một

biện pháp bảo đảm gắn với hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ chính, nhưng bảo lãnh có đầy đủ các yếu tố của một hợp đồng, nhưng trong khoảng thời gian dài biện pháp bảo lãnh không được gắn tên hợp đồng” [50, tr 322]

Tuy nhiên, tác giả Lê Nguyên quan niệm, “hành vi phát hành cam kết

bảo lãnh của bên bảo lãnh là hành vi pháp lý đơn phương, không phải hợp đồng” [83, tr.44]

Về hình thức tồn tại của hợp đồng bảo lãnh, tác giả Trương Thanh Đức cho rằng, bảo lãnh là một trong 6 biện pháp bảo đảm luật buộc phải được lập thành văn bản và điều này còn có điểm chưa hợp lý [50, tr 324] Đồng tình với quan điểm hợp đồng bảo lãnh phải được lập thành văn bản (có thể lập riêng hoặc trong cùng với hợp đồng tín dụng) và có thể phải được công chứng, chứng thực, còn có các tác giả Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang [149, tr.158], tác giả Phạm Văn Đàm [46, tr.68]

Về việc đăng ký biện pháp bảo đảm, tác giả Lê Thị Thu Thủy cho rằng, pháp luật quy định chủ thể của hợp đồng bảo lãnh có quyền thỏa thuận về việc đăng ký hay không đăng ký hợp đồng và việc không đăng ký không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh Tương tự áp dụng đối với việc công chứng, chứng thực hợp đồng bảo lãnh [150, tr.214-215] Tác giả Phạm Văn Đàm cũng cho rằng, trong trường hợp pháp luật có quy định thì hợp đồng bảo lãnh phải được công chứng, chứng thực; về vấn đề hợp đồng bảo lãnh có phải đăng ký giao dịch bảo đảm hay không thì tác giả theo hướng bản chất của bảo lãnh là đối nhân, nên không phải đăng ký giao dịch bảo đảm [46, tr.68]

Trang 18

1.1.2 Những nội dung chính của quan hệ bảo lãnh tiền vay tại tổ chức tín dụng

1.1.2.1 Chủ thể của quan hệ bảo lãnh tiền vay tại tổ chức tín dụng

Như đã trình bày ở phần trên của luận án [tr.10], quan hệ bảo lãnh được xác định là một hợp đồng và đây là hợp đồng được giao kết giữa bên nhận bảo lãnh và bên bảo lãnh

Đối với bên bảo lãnh: Tác giả Phạm Văn Đàm cho rằng, “luật của Pháp đặc biệt chú ý đến khả năng có tài sản để thực hiện nghĩa vụ của người bảo lãnh” [46, tr.63] Pháp luật Nhật Bản cũng quy định, để xác lập biện pháp

bảo lãnh thì người bảo lãnh phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có đầy

đủ các phương tiện để thực hiện trái vụ Tương tự, Bộ luật Dân sự của Campuchia cũng quy định về năng lực và khả năng thanh toán nợ của người bảo lãnh [46, tr.64]

Ở Việt Nam, tác giả Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang cho rằng, “Đối

với bảo lãnh dân sự, bên bảo lãnh có thể là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự Bên bảo lãnh không phải tuân thủ bất kỳ điều kiện nào khác của pháp luật ngoài việc được bên nhận bảo lãnh đồng ý đưa ra cam kết bảo lãnh” [149, tr.211] Tác giả Hồ

Quang Huy có chung quan điểm này và còn nói rõ hơn là trong pháp luật dân

sự Việt Nam chưa có quy định về điều kiện của người bảo lãnh, từ đó kiến nghị cần có quy định về điều kiện của người bảo lãnh [173] Tác giả Lê Thị Thu Thủy cho rằng, để tham gia quan hệ hợp đồng bảo lãnh bên bảo lãnh phải

có các điều kiện sau, “ phải có năng lực tài chính, có chỗ làm ổn định, có

thu nhập thường xuyên…có thể thực hiện được nghĩa vụ bảo lãnh…” [150, tr

223-224] Đồng thời, nhằm tránh đan xen lợi ích giữa cá nhân và pháp nhân, tránh việc giao kết hợp đồng bảo lãnh nhằm tạo ra quan hệ khép kín, mà trong quan hệ đó, quyền, lợi ích của tổ chức tín dụng luôn có nguy cơ bị xâm phạm, Luật các tổ chức tín dụng cũng quy định thêm các trường hợp tổ chức tín dụng không được giao kết hợp đồng bảo lãnh với một số chủ thể là cán bộ có

Trang 19

thẩm quyền của tổ chức tín dụng [150, tr.225] Tác giả Nguyễn Ngọc Điện phân tích thêm, dưới mắt của tổ chức tín dụng, các quan chức kể trên và những người thân của họ không có năng lực bảo lãnh [42, tr.138]

Đối với bên bảo lãnh là cá nhân: Tác giả Trương Thanh Đức cho rằng,

cá nhân tham gia giao dịch dân sự nói chung, giao dịch bảo đảm nói riêng thì phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự [50, tr.333-334]

Điều kiện đối với pháp nhân bảo lãnh: Theo tác giả Nguyễn Ngọc

Điện, vấn đề trở nên phức tạp khi người đại diện theo pháp luật không trực tiếp ký kết hợp đồng bảo lãnh mà uỷ quyền cho người khác tham gia ký kết hợp đồng này [42, tr.134-137] Tác giả Trương Thanh Đức cũng phân tích và chỉ ra những rủi ro khi giao kết hợp đồng bảo lãnh với đại diện hợp pháp của pháp nhân (bao gồm cả đại diện theo ủy quyền và đại diện theo pháp luật) [50, tr 330-331]

Đối với bảo lãnh của vợ hoặc chồng, Tác giả Nguyễn Ngọc Điện quan

niệm, cá nhân vợ hoặc chồng đều có quyền đứng ra bảo đảm cho một nghĩa

vụ nào đó Trường hợp bảo lãnh đối vật, nếu vợ hoặc chồng dùng tài sản riêng thuộc sở hữu của mình để bảo lãnh thì không có vấn đề gì, nhưng nếu họ dùng tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng để bảo lãnh mà không được sự đồng

ý của bên còn lại thì hợp đồng bảo lãnh không có giá trị [42, tr.139-140]; trường hợp bảo lãnh đối nhân thì không vấn đề, chỉ vướng trong việc xác định tài sản bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh [42, tr.139-140] Tác giả Trương Thanh Đức không đồng tình với quan điểm này, theo tác giả Đức thì nếu có thành viên trong hộ gia đình là vợ hoặc chồng không đồng ý với hợp đồng thế chấp, thì nguy cơ vẫn bị Tòa án tuyên bố vô hiệu [50, tr.352]

- Bên nhận bảo lãnh: Đối với tổ chức tín dụng, Tác giả Trương Thanh Đức phân chia thành đại diện theo pháp luật của pháp nhân, đại diện theo ủy quyền trong nội bộ pháp nhân và ủy quyền với người ngoài pháp nhân [50, tr.352], đối với đại diện theo ủy quyền thì pháp luật dân sự hiện hành vẫn quy định người được ủy quyền có thể ủy quyền lại nếu được sự đồng ý của người

Trang 20

ủy quyền; ngoài ra còn có điểm mới là người ủy quyền có thể ủy quyền lại mà không cần sự đồng ý của người ủy quyền ban đầu, với điều kiện: trong trường hợp bất khả kháng nếu không áp dụng ủy quyền lại thì mục đích xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vì lợi ích của người ủy quyền không thể thực hiện được; việc ủy quyền lại không được vượt quá phạm vi ủy quyền ban đầu, hình thức của hợp đồng ủy quyền lại phải phù hợp với hợp đồng ủy quyền ban đầu [50, tr.355]

1.1.2.2 Những nội dung chính của hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại tổ chức tín dụng:

Luật không quy định cụ thể nội dung hợp đồng bảo lãnh mà hoàn toàn

do các bên thỏa thuận, với điều kiện những thỏa thuận đó không trái luật, trái đạo đức xã hội Tuy nhiên, “đạo đức” thì khá trừu tượng và không phải là bất

biến [123, tr 9 – 19, tr.13 -17] Tới mức, có tác giả kiến nghị, “khái niệm

„đạo đức‟ khó hiểu nếu đưa vào BLDS sẽ gây tâm lý hoang mang cho các chủ thể tham gia giao dịch, dẫn đến các chủ thể hạn chế tham gia một số giao lưu dân sự…” [21, tr.29]

Về các nội dung không trái luật, đây là quy định mới so với pháp luật dân sự trước đó, pháp luật dân sự trước khi có BLDS 2015 đều ghi nhận các nội dung thỏa thuận trong hợp đồng không được trái “pháp luật” Như vậy, phạm vi cấm của Bộ luật Dân sự 2015 đã thu hẹp lại rất nhiều [50, tr.284]

Tác giả Lê Thị Thu Thủy cho rằng, hợp đồng bảo lãnh cần có những nội dung chủ yếu sau: Tên, địa chỉ các bên, ngày, tháng, năm….[ 150, tr.215] Đồng tình với quan điểm này, tác giả Trương Thanh Đức phân tích sâu về các nội dung cơ bản của hợp đồng bảo lãnh [50, tr.371]

1.1.2.3 Hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại tổ chức tín dụng:

- Về các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh: Các tác giả

Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang cho rằng, “Để có hiệu lực, giao dịch bảo

đảm phải tuân thủ các điều kiện được BLDS quy định, ngoài ra cần xem xét mối quan hệ giữa hiệu lực của giao dịch bảo đảm và hiệu lực của hợp đồng tín dụng được bảo đảm bằng giao dịch bảo đảm đó” [ 149, tr.131] Trong khi

Trang 21

đó, Lê Minh Hùng phân chia điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thành hai loại, đó là: các điều kiện bắt buộc để hợp đồng có hiệu lực và hình thức của hợp đồng – điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp pháp luật có quy định [91, tr.39; tr.49-82] Tác giả Phạm Văn Đàm khẳng định, pháp luật của các quốc gia đều khẳng định hợp đồng bảo lãnh có hiệu lực từ thời điểm giao kết hợp pháp và hợp đồng bảo lãnh không thuộc đối tượng phải đăng ký giao dịch bảo đảm [46, tr.69] Tác giả Trương Thanh Đức phân chia thời điểm

có hiệu lực của hợp đồng bảo đảm thành hai loại là hiệu lực đối với các bên giao kết hợp đồng và hiệu lực đối với người thứ ba hay còn gọi là hiệu lực đối kháng đối với người thứ ba Tác giả cho rằng, về nguyên tắc thì thời điểm có hiệu lực giữa các bên tham gia hợp đồng là thời điểm giao kết hợp đồng bảo đảm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Còn hiệu lực đối kháng với người thứ ba có hiệu lực từ thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm Tuy nhiên, trong một số trường hợp thì hai loại hiệu lực này trùng nhau [50, tr.485-486] Các tác giả Lê Kim Giang, Phạm Văn Tuyết cũng đồng tình với quan điểm cho rằng, hiệu lực đối kháng với người thứ ba của giao dịch bảo đảm có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm [57, tr.60]

1.1.2.4 Thời điểm phát sinh quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh:

Tác giả Bùi Đức Giang so sánh, pháp luật Anh quy định theo hướng nghĩa vụ bảo lãnh là nghĩa vụ liên đới, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận là nghĩa vụ dự bị [54] Pháp luật của Pháp đi theo hướng ngược lại [54], từ đó

đưa ra nhận định, Luật của Việt Nam “« có lợi » rõ ràng cho bên nhận bảo

lãnh” [55] Tác giả Nguyễn Ngọc Điện quan niệm, “xét đến cùng thì nghĩa vụ trả nợ vẫn thuộc về người vay, nên chỉ khi nào người vay không còn tài sản

để trả nợ thì chủ nợ mới có quyền yêu cầu người bảo lãnh…” Tác giả Hồ

Quang Huy cũng đồng tình với quan điểm này, “…BLDS chưa có quy định về

việc bên nhận bảo lãnh phải yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản của mình trước Điều này chưa thực sự hợp lý, vì suy cho cùng, thì bên bảo lãnh chỉ là người có nghĩa vụ thứ hai” [173]

Trang 22

Về nghĩa vụ liên đới giữa những người đồng bảo lãnh: Pháp luật dân sự Việt Nam quy định về vấn đề này có nét tương đồng với pháp luật một số nước như Anh, Pháp Tuy nhiên, còn có ý kiến cho rằng quy định này là chưa

phù hợp vì, những người bảo lãnh liên đới là bảo lãnh đồng thời, không phải

là tái bảo lãnh nên khi nghĩa vụ đã được thực hiện thì nghĩa vụ của họ cũng không còn Người bảo lãnh đã thực hiện nghĩa vụ hộ bên được bảo lãnh phải đòi lại tài sản từ bên được bảo lãnh chứ không phải từ những người bảo lãnh

còn lại [197] Tác giả Bùi Đức Giang cũng chỉ ra điểm bất hợp lý của đồng

bảo lãnh và khuyến cáo, các bên nên thỏa thuận trước phạm vi bảo lãnh”[55]

1.2 Tình hình nghiên cứu về giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh bảo đảm tiền vay tại tổ chức tín dụng

1.2.1 Vấn đề tranh chấp về hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh:

Tác giả Trương Thanh Đức lý giải tại sao trong một giai đoạn dài các hợp đồng bảo lãnh đều được lập dưới hình thức thế chấp, cầm cố tài sản của người thứ ba, vì nếu sử dụng hình thức hợp đồng bảo lãnh thì các Văn phòng Công chứng sẽ từ chối công chứng hợp đồng, và hợp đồng bảo lãnh cũng không thuộc diện phải đăng ký giao dịch bảo đảm Cho nên, nhiều hợp đồng

đã được thể hiện dưới dạng bảo lãnh-thế chấp hoặc thế chấp-bảo lãnh [175,

193, 162, 177, 180, 57, tr.244-246] Bên cạnh đó, các tác giả Phạm Tuấn Anh,

Đỗ Văn Đại phân tích giá trị pháp lý của chứng thư bảo lãnh của cá nhân

[163]; công văn cam kết bảo lãnh [39, tr.468]; chứng thư bảo lãnh không nêu

cụ thể tài sản bảo lãnh [163]; chứng thư bảo lãnh không ghi ngày tháng [190]

Tác giả Đỗ Văn Đại còn nêu thực tế, “một người chỉ ký tên vào phần “người

bảo lãnh” mà không có bất kỳ nội dung nào khác, không nói rõ là sẽ thực hiện thay cho bên có nghĩa vụ nên đã phát sinh tranh chấp về việc có tồn tại hay không tồn tại cam kết bảo lãnh” [39, tr.464-465]

Các tác giả Trương Thanh Đức, Nguyễn Văn Cường phân tích các vướng mắc, bất cập trong việc dùng tài sản hình thành trong tương lai để bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh [162, 57, tr.243-244] Để minh chứng thêm cho lập luận

Trang 23

trên, trong bài viết “Bảo lãnh trong tín dụng ngân hàng: rủi ro và lợi ích", tác

giả Nguyễn Thùy Trang cũng nêu một vụ án cụ thể mà Tòa án đã tuyên bố hợp đồng bảo lãnh vô hiệu vì không được công chứng và không đăng ký giao dịch bảo đảm [190] Tác giả Duy Kiên nêu vụ án tranh chấp hợp đồng bảo lãnh, do bên bảo lãnh giả mạo chữ ký của đồng chủ sở hữu tài sản [72]

1.2.2 Vô hiệu do nội dung hợp đồng vi phạm các điều kiện có hiệu lực:

- Người bảo lãnh không phải là chủ sở hữu tài sản dùng để bảo lãnh, như nhà đất là của cha mẹ (đều đã chết), nhưng một trong số những

người con dùng tài sản này để bảo lãnh tiền vay tại ngân hàng, sau đó những người đồng thừa kế phát hiện sự việc, nên yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng bảo lãnh vô hiệu [196] Tác giả Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang phân tích trường hợp vì lý do khách quan nào đó bên bảo lãnh không còn là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản dùng để bảo lãnh Theo các tác giả, trường hợp này tổ chức tín dụng chỉ có thể viện dẫn các quy định của pháp luật về bảo vệ người thứ ba ngay tình để xác định giao dịch bảo đảm không bị vô hiệu [57, tr.255]

- Hợp đồng bảo lãnh không được sự đồng ý của đồng chủ sở hữu tài sản dùng để bảo lãnh: Các tác giả Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Thị Bích

phân tích những rủi ro khi nhận bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất của hộ gia đình [57, tr.239] Tương tự, tác giả Minh Quân có nêu một vụ án cụ thể tranh chấp hợp đồng bảo lãnh, theo đó tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất của hộ gia đình, nhưng hợp đồng bảo lãnh chỉ có một thành viên trong hộ gia đình ký tên [184, 177], [57, tr.241]

- Bên bảo lãnh yêu cầu tuyên bố hợp đồng bảo lãnh vô hiệu do vi

phạm pháp luật: Tác giả Đỗ Văn Đại đề cập đến trường hợp “người đại diện

không được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó…” để yêu cầu

tuyên bố hợp đồng bảo lãnh vô hiệu Tác giả nhận thấy, thực tế đa số các Tòa

án không tuyên bố giao dịch này vô hiệu [39, tr.524-525]

Trang 24

1.2.3 Tranh chấp về các nội dung trong hợp đồng bảo lãnh tiền vay:

- Tác giả Duy Kiên, phân tích vụ án cụ thể liên quan đến việc khó xác

định chính xác phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh khi các bên chỉ thỏa thuận “bảo

đảm cho khoản vay tối đa” hoặc “bảo lãnh cho các khoản vay phát sinh trong khoảng thời gian” [72] Tác giả Nguyễn Anh Đức nêu trường hợp “hợp đồng bảo lãnh kết thúc vì thời hạn bảo lãnh đã chấm dứt” [167] [194] Về nội dung

này, tác giả Quách Tú Mẫn cho rằng, “khi gia hạn hoặc thay đổi điều khoản

hợp đồng vay ban đầu, hợp đồng bảo lãnh đương nhiên chấm dứt” [181] Tác

giả Lê Đình Việt nêu khó khăn trong việc hiểu thế nào về nghĩa vụ hình thành trong tương lai, khoản vay trước khi ký hợp đồng bảo lãnh, nhưng được đảo

nợ sau khi ký hợp đồng bảo lãnh có được coi là nghĩa vụ trong tương lai không? [192] Tác giả Đỗ Văn Đại nêu một số vụ án cụ thể về trường hợp các bên không thỏa thuận rõ phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh hoặc không ghi phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh [39, tr.492-497]

Người có tài sản nhờ người khác vay giúp tiền tại tổ chức tín dụng

và người vay giúp đã yêu cầu người có tài sản ký hợp đồng bảo lãnh để vay số tiền lớn hơn (vay thêm): Nội dung này có rất nhiều tác giả đề cập,

phân tích, nội dung chính của quan hệ này là người có tài sản nhờ người khác vay giúp một số tiền nhỏ tại TCTD, nhưng người được nhờ đã lợi dụng việc này để vay số tiền lớn hơn, số tiền chênh lệch sẽ giữ lại Việc vay số tiền lớn hơn có thể được người bảo lãnh đồng ý, với điều kiện người bảo lãnh sẽ không phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền vay mà người được nhờ đứng tên vay sẽ trả toàn bộ lãi cho ngân hàng; có trường hợp người có tài sản hoàn toàn không biết mà do tin tưởng nên ký vào tất cả các giấy tờ do người vay giúp đưa ra; còn có trường hợp người có tài sản ủy quyền cho người vay giúp đứng ra lập hợp đồng bảo đảm để bảo đảm cho khoản vay của Công ty của người vay giúp hoặc chính người vay giúp [165, 196]

- Về thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh: tác giả Đỗ Văn Đại phân

tích 04 bản án của Tòa án các cấp và chỉ ra thực tế, “các Tòa án vẫn xác định

Trang 25

quy chế dự bị của người bảo lãnh, mặc dù các bên không có thỏa thuận vấn

đề này trong hợp đồng bảo lãnh” [39, tr.528-550]; hoặc “nhiều Tòa án đều tuyên theo hướng nghĩa vụ giữa những người đồng bảo lãnh là liên đới và liên đới luôn với người được bảo lãnh, mặc dù hợp đồng bảo lãnh đã thỏa thuận rất rõ về bảo lãnh theo phần (không liên đới)” [39, tr.551-568] Về

nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh lâm vào tình trạng phá sản, tác giả Đỗ Văn Đại có quan điểm cho rằng, pháp luật phá sản và Quyết

định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC ấn định, “quan hệ bảo lãnh cần phải

tạm đình chỉ để đợi kết quả phá sản, trường hợp tài sản của bên bị phá sản không đủ trả nợ thì bên nhận bảo lãnh có quyền khởi kiện yêu cầu bên bảo lãnh tiếp tục thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh” là không phù hợp, phải căn cứ vào

thỏa thuận của các bên trong hợp đồng bảo lãnh [39, tr.570-586] Tác giả Hoàng Yến nêu những khó khăn trong việc xác định người phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp người bảo lãnh chết [193, 194] Tác giả

Đỗ Văn Đại phân tích trường hợp người bảo lãnh từ chối thực hiện nghĩa

vụ do người nhận bảo lãnh vi phạm, từ đó đưa ra kiến nghị giải pháp trên

cơ sở tham khảo pháp luật nước ngoài [39, tr.592-597] Tác giả Quách Tú Mẫn phân tích trường hợp bên nhận bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ thông báo cho bên bảo lãnh biết về thời điểm bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ thanh toán [181]

1.3 Tình hình nghiên cứu về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong

tố tụng dân sự

1.3.1.Về khái niệm giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng dân sự

Tác giả Đào Xuân Tiến đưa ra khái niệm, “Thủ tục xét lại bản án,

quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là thủ tục đặc biệt nhằm kiểm tra, xem xét, xác định bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được xét xử đúng pháp luật và xét lại đối với bản án, quyết định của Tòa án

đã có hiệu lực pháp luật nhưng có sai lầm nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới làm thay đổi nội dung hoặc kết quả giải quyết vụ án” [152, tr.20] Tác giả

Trang 26

cũng cho rằng việc đưa ra khái niệm này còn nhằm phân biệt với thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật là thủ tục phúc thẩm Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội [34, tr.325]; Giáo trình Luật tố tụng dân sự của Học viện Tư pháp [61, tr.417] đã đưa ra khái niệm về giám đốc thẩm, tái thẩm Tuy nhiên, các khái niệm này đều trên cơ sở quy định của Luật TTDS

Tác giả Hà Thị Thúy Hà nêu quan điểm về giám đốc thẩm: Giám đốc

thẩm trong tố tụng dân sự là thủ tục tố tụng đặc biệt của tố tụng dân sự, theo

đó Hội đồng giám đốc thẩm xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trên cơ sở kháng nghị của người có thẩm quyền nhằm xác định những sai lầm, vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong bản án, quyết định của Tòa án đã

có hiệu lực pháp luật [58, tr.12] Tuy nhiên, tác giả Mai Ngọc Dương lại có

các cách tiếp cận, nhìn nhận giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự là một chế

1.3.3.Về căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm:

Các tác giả Đào Xuân Tiến, Hà Hoàng Hiệp và Hà Thị Thúy Hà đều thống nhất, về cơ bản pháp luật tố tụng dân sự các thời kỳ đều quy định các căn cứ chính để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bao gồm: kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của

vụ án; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; có sai lầm nghiêm trọng

Trang 27

trong việc áp dụng pháp luật Tuy nhiên, có điểm khác biệt trong các giai đoạn: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) thì

một trong những căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm là “việc điều tra không

đầy đủ” Tuy nhiên, luật tố tụng dân sự sau này không quy định việc điều tra

– thu thập chứng cứ không đầy đủ là căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm nữa [152, tr.35-38; 69, tr.23-25, 58, tr.36-41] Để tránh việc kháng nghị tràn làn, kéo dài vụ án không cần thiết, Bộ luật tố tụng dân sự hiện tại quy định theo hướng các vi phạm đó phải dẫn tới hậu quả là gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì mới kháng nghị [170, 58]

1.3.4.Về người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm

Tác giả Ngô Anh Dũng, Đào Xuân Tiến, Trần Anh Tuấn, Chu Thị Hồng Nhung nêu điểm chung của Tố tụng dân sự đều quy định Chánh án TANDTC, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị đối với tất

cả các bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC Chánh án TAND tỉnh, Viện trưởng VKSND tỉnh có quyền kháng nghị đối với bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án nhân dân cấp dưới (cấp huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh) [25, tr.38-39; 152, tr.40-43; 151; 82; 58, tr.35] Một điểm khác biệt trong các văn bản pháp luật

tố tụng là trong Pháp lệnh TTGQCVADS thì Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị bản án, quyết định của các Tòa án cấp tỉnh, cấp huyện Sau này các BLTTDS không pháp điểm hóa lại quy định này [25, 69] Theo Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành, Chánh án TAND tỉnh và Viện trưởng VKSND tỉnh không còn thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, thay vào đó là Chánh án TAND cấp cao, Viện trưởng VKSND cấp cao có thẩm quyền kháng nghị đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ [178]

Trang 28

1.3.5.Về thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm

Tác giả Ngô Anh Dũng, Hà Hoàng Hiệp và Hà Thị Thúy Hà phân tích các quy định của Luật và chỉ ra, nguyên tắc chung thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm là 3 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật

Ngoài ra, Pháp lệnh TTGQCVADS còn có thêm quy định, “…việc kháng

nghị theo hướng không gây thiệt hại cho bất cứ đương sự nào thì không bị hạn chế về thời gian” Tuy nhiên, quy định này sau đó không được các Bộ

luật Tố tụng dân sự pháp điển hóa [25; 69; 58, tr.31-32] Bắt đầu từ BLTTDS sửa đổi năm 2011 có quy định đương sự có quyền đề nghị xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực theo thủ tục giám đốc thẩm trong thời hạn 01 năm

kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật Người có quyền kháng nghị được quyền kháng nghị trong thời hạn 03 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật Trường hợp đã hết thời hạn 03 năm nhưng có các điều kiện như, đương sự đã có đơn trong thời hạn 1 năm, sau khi hết hạn 03 năm vẫn tiếp tục có đơn đề nghị; Bản án, quyết định có sai sót nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba, của Nhà nước thì thời hạn kháng nghị được kéo dài thêm hai năm, tức là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.[2, 71]

Trang 29

Đến giai đoạn Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 có hiệu lực thi hành thì không còn Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nên những bản án, quyết định mà trước đây thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì nay chuyển lên cho Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; các quy định cụ về thẩm quyền giám đốc thẩm cơ bản giữ nguyên [58]

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bỏ thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, nên cũng không quy định thẩm quyền giám đốc thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án cấp tỉnh mà toàn

bộ thẩm quyền đối với các loại việc này chuyển lên cho Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao; và các bản án, quyết định trước kia thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm của Tòa dân sự thì nay cũng chuyển về cho Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao chỉ Giám đốc thẩm đối với các Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao

Thêm một điểm nữa có khác biệt đó là tại Hội đồng Thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao và Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng chia

ra thành những vụ phải đưa ra xét xử tại phiên toàn thể và những vụ xét xử tại Hội đồng 5 Thẩm phán (đối với Hội đồng Thẩm phán) hoặc 03 Thẩm phán ( đối với Ủy ban Thẩm phán) [82]

1.3.7.Về thủ tục tái thẩm

Tác giả Ngô Anh Dũng, Đào Xuân Tiến phân tích luật thực định về các căn cứ kháng nghị tái thẩm, bao gồm: mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự không thể biết được khi giải quyết vụ án; kết luận giám định hoặc lời dịch của người phiên dịch rõ ràng không đúng sự thật; Thẩm phán, Kiểm sát viên cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố tình kết luận trái pháp luật; Bản án hoặc quyết định có hiệu lực mà Tòa án căn cứ vào

đó để giải quyết vụ án đã bị hủy [25, 152] Thời kỳ Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự có hiệu lực thi hành thì một trong những căn cứ để kháng nghị

Trang 30

tái thẩm là việc lời khai của người làm chứng không đúng sự thật Đây là một căn cứ gây nhiều tranh cãi giữa các nhà khoa học và những người làm thực tiễn Thực tiễn cho thấy, rất ít vụ án Tòa án áp dụng căn cứ này để kháng nghị, vì trong quá trình giải quyết vụ án thì lời khai của người làm chứng cũng chỉ là một nguồn chứng cứ để tham khảo, khi đánh giá giá trị lời khai của người làm chứng phải đặt trong mối quan hệ chung với các chứng cứ khác, tức là lời khai của người làm chứng chỉ là một chứng cứ gián tiếp, nên không đóng vai trò quyết định đối với việc đưa ra phán quyết của Tòa án [25, 152, 151]

1.3.8.Về thời hạn kháng nghị tái thẩm

Các văn bản tố tụng đều quy định là một năm kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm phát hiện được những tình tiết là căn cứ tái thẩm; Pháp lệnh có quy định thêm là việc kháng nghị không gây thiệt hại cho đương

sự nào thì không giới hạn về thời gian Trong các quy định này, vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau là việc xác định ngày mà người có thẩm quyền kháng nghị phát hiện được những tình tiết làm căn cứ tái thẩm Thực tế, người có thẩm quyền kháng nghị không phải là người trực tiếp tiếp nhận đơn đề nghị

và trực tiếp nghiên cứu hồ sơ vụ án, mà thông thường có một bộ máy giúp việc chuyên trách làm công tác này, trong nhiều trường hợp kể từ khi tiếp nhận đơn đề nghị và những chứng cứ làm căn cứ tái thẩm đến khi người có thẩm quyền biết được là khoảng thời gian rất dài, cho nên nhiều ý kiến cho rằng mốc thời gian phải là từ ngày người có thẩm quyền nhận được; quan điểm khác lại cho rằng mốc thời gian phải tính từ ngày bộ phận chuyên trách nhận được các tài liệu này [25, 152, 2]

1.3.9 Về kiến nghị hoàn thiện pháp luật cũng như giải pháp hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

Các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu ở phần trên, hầu hết đều

có những kiến nghị về sửa đổi, bổ sung hoàn thiện pháp luật liên quan đến giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh bảo đảm tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Tùy theo từng đề tài cụ thể mà tác giả đưa ra

Trang 31

kiến nghị liên quan đến pháp luật nội dung hoặc pháp luật tố tụng và trình tự giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm tại TANDTC Chẳng hạn, các công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Điện, Lê Thị Thu Thủy và Trương Thanh Đức, Bùi Đức Giang, Đỗ Văn Đại thường kiến nghị các nội dung liên quan đến chế định bảo lãnh; ngược lại các công trình nghiên cứu của các tác giả Ngô Anh Dũng, Hà Thị Thúy Hà, Đào Xuân Tiến, Ngô Tiến Hùng…lại có những kiến nghị liên quan đến chế định giám đốc thẩm, tái thẩm trong Tố tụng dân sự Những kiến nghị này hầu hết đã được tiếp thu, sửa đổi hoặc không còn ý nghĩa thực tiễn Tuy nhiên, vẫn còn một số kiến nghị mang tính thời sự và tác giả luận án sẽ tiếp thu làm rõ để tiếp tục kiến nghị, như vấn đề bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh có thể bằng một biện pháp bảo đảm đối nhân khác, hoặc nên quy định nghĩa vụ bảo lãnh là nghĩa vụ dự bị (theo luật) của tác giả Nguyễn Ngọc Điện, Phạm Văn Đàm; hoặc cần phải thu phí giám đốc thẩm, tái thẩm của tác giả Hà Thị Thúy Hà

2 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận án

Có thể nói, tình hình nghiên cứu trong, ngoài nước về chế định bảo lãnh là rất sôi động, bằng chứng là có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này Các công trình này phần lớn nghiên cứu về lý thuyết bảo lãnh, thực trạng pháp luật bảo lãnh và thực trạng hoạt động bảo lãnh

Về lý thuyết bảo lãnh: có hai trường phái nghiên cứu chính là nghiên cứu bảo lãnh dưới góc độ đối nhân và trường phái coi bảo lãnh có thể là đối nhân cũng có thể là đối vật Do có sự nhận thức chưa nhất quán về vấn đề này, cộng thêm sự không đồng bộ giữa các văn bản quy phạm pháp luật, cho nên các công trình nghiên cứu này chưa phân định rạch ròi bản chất của bảo lãnh (đối nhân hay cả đối nhân và đối vật; và chưa phân biệt bảo lãnh đối vật với các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh; chưa nhìn thấy sự tiến triển của bảo lãnh đối vật thành cầm cố, thế chấp tài sản của người thứ ba)

Trang 32

Đặc biệt, mặc dù hợp đồng bảo lãnh tồn tại một cách độc lập tương đối, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về hợp đồng bảo lãnh

và các tranh chấp thường gặp của loại hợp đồng này cũng như đường lối giải quyết các tranh chấp đó

Chưa có công trình nào tiến hành nghiên cứu thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh thông qua hoạt động giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa

án nhân dân tối cao, từ đó chỉ ra những bất cập, những vấn đề chưa được quy định từ đó kiến nghị hoàn thiện, tức là tổng kết thực tiễn giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động giám đốc thẩm, tái thẩm để kiến nghị hoàn thiện

3 Những kết quả của các công trình nghiên cứu mà tác giả sẽ kế thừa

Đã có một số công trình nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển các quy định về bảo lãnh trên thế giới và ở Việt Nam Đây là những kết quả rất hữu ích khi nghiên cứu đề tài này Các kết quả này cho nghiên cứu sinh nhìn nhận sự vận động của quan niệm về bảo lãnh qua các thời kỳ và ở mỗi quốc gia khác nhau, tức là nhìn nhận bảo lãnh ở trạng thái động, không nhìn nhận đánh giá ở trạng thái tĩnh của các quy định này Chính nhờ có các kết quả nghiên cứu này

mà nghiên cứu sinh không bị tuyệt đối hóa bản chất của bảo lãnh là đối nhân, mà

có cái nhìn linh hoạt hơn trong mỗi giai đoạn, có những giai đoạn luật thực định

đã quy định bảo lãnh là biện pháp bảo đảm đối vật và quy định này cũng đã có tiền lệ quốc tế Do vậy, tác giả kế thừa quan điểm, bảo lãnh theo nguyên nghĩa gốc là biện pháp bảo đảm đối nhân, nhưng trong quá trình phát triển nhiều hệ thống đã chấp nhận bảo lãnh đối vật, và trên thực tế bảo lãnh đối vật mới là biện pháp bảo đảm có sức hấp dẫn Hiện nay, ở Việt Nam không chấp nhận bảo lãnh đối vật, nhưng cho phép thỏa thuận biện pháp bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh bằng tài sản, tức là vẫn hướng về đối vật

Tác giả kế thừa quan điểm bảo lãnh đối vật được phát triển lên và chính là thế chấp, cầm cố tài sản của người thứ ba theo quy định của BLDS hiện hành

Về vấn đề hợp đồng bảo lãnh: Tác giả kế thừa những vấn đề lý luận về hợp đồng bảo lãnh là hợp đồng độc lập giữa người bảo lãnh và người nhận

Trang 33

bảo lãnh, không phải là hợp đồng phụ của hợp đồng tín dụng; Đối tượng của nghĩa vụ bảo lãnh không thể vượt quá nghĩa vụ chính, nếu các bên thỏa thuận bảo lãnh vượt quá thì phần vượt quá sẽ bị vô hiệu

Một số quy định của pháp luật nước ngoài cũng sẽ được tác giả nghiên cứu và đề xuất trong phần kiến nghị, như: Cách thức bảo vệ tốt hơn đối với người bảo lãnh để đảm bảo người được bảo lãnh phải là người có nghĩa vụ trả

nợ trước; Các cách thức xử lý tài sản bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh theo phương thức nhanh, gọn, không trái pháp luật để bảo đảm quyền lợi cho người nhận bảo lãnh; nghĩa vụ cảnh báo, cung cấp thông tin, thông báo thời điểm nghĩa

vụ bảo lãnh phát sinh của người nhận bảo lãnh

Về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm các tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD:

- Về thẩm quyền kháng nghị: Mặc dù hệ thống Tòa án được tổ chức theo

mô hình Tòa án 04 cấp Tuy nhiên, tác giả kế thừa quan điểm cho rằng cần sửa đổi Luật Tổ chức Tòa án 2014 và BLTTDS 2015 theo hướng, giao lại thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện cho Chánh án TAND cấp tỉnh

- Về thời hạn kháng nghị: tác giả kế thừa quan điểm cho rằng cần phải rút ngắn thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, và không quy định các trường hợp được kéo dài đến 05 năm

- Tác giả cũng kế thừa các quan điểm cho rằng phải thu phí đối với yêu cầu giám đốc thẩm, tái thẩm; Chấp nhận hình thức nộp đơn đề nghị bằng phương tiện điện tử (email)

4 Những vấn đề mà luận án tiếp tục nghiên cứu

4.1 Như đã nói ở các phần trên, bảo lãnh theo nguyên nghĩa gốc là bảo đảm đối nhân, nhưng nếu là đối nhân thì rất ít TCTD chấp nhận biện pháp này Do vậy, cần phải nghiên cứu để làm thế nào bảo lãnh vẫn giữ bản chất đối nhân, đồng thời vẫn có sức hấp dẫn đối với các TCTD, như phát triển các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh; quy định điều kiện chủ thể bảo lãnh (có

Trang 34

uy tín, có tài sản ổn định; các biện pháp chống việc người bảo lãnh tẩu tán tài sản trước khi nghĩa vụ bảo lãnh đến hạn thực hiện…)

4.2 Thông qua nghiên cứu thực trạng tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tại Tòa án, tác giả sẽ chỉ ra những bất cập của luật thực định về bảo lãnh; bất cập trong hoạt động bảo lãnh vay tiền tại các TCTD và bất cập trong giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại TANDTC

4.3 Kiến nghị các giải pháp để hoàn thiện chế định bảo lãnh; khuyến nghị bổ sung, thay đổi một số hoạt động bảo lãnh tại TCTD nhằm giảm thiểu rủi ro pháp lý có thể xảy ra, đồng thời cân bằng quyền lợi giữa người bảo lãnh

và người nhận bảo lãnh; cần phải nghiên cứu để xây dựng các quy định theo hướng bảo vệ tốt hơn người nhận bảo lãnh (TCTD) và người bảo lãnh trong mối quan hệ với người được bảo lãnh, vì xét đến cùng thì nghĩa vụ chính vẫn thuộc về bên được bảo lãnh; Kiến nghị sửa đổi một số quy định của Tố tụng dân sự liên quan đến hoạt động xét xử tranh chấp hợp đồng bảo lãnh theo hướng giải quyết theo thủ tục rút gọn

4.4 Tác giả tiếp tục nghiên cứu các quy định của Tố tụng dân sự về giám đốc thẩm, tái thẩm, đặc biệt là quy định về rút ngắn thời hạn giám đốc thẩm, không kéo dài thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm (5 năm); quy định về triệu tập đương sự trong phiên tòa giám đốc thẩm; quy định về phí đề nghị giám đốc thẩm; quy định về nộp đơn bằng phương tiện điện tử…

5 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu

5.1 Lý thuyết nghiên cứu của đề tài

Luận án nghiên cứu “Giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD từ thực tiễn xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân tối cao” dựa trên các lý thuyết sau:

- Lý thuyết về hợp đồng nói chung và lý thuyết về hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại các TCTD nói riêng Những nội dung cơ bản của lý thuyết này sẽ được

áp dụng trong luận án, đó là sự tự nguyện, tự do giao kết hợp đồng trên nguyên

Trang 35

tắc bình đẳng, thiện chí, tức là các bên được thỏa thuận mọi vấn đề liên quan đến hợp đồng và sự thỏa thuận đó không trái Luật và đạo đức xã hội

- Lý thuyết về bảo vệ quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại các TCTD Hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong các quan hệ này (bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh, bên được bảo lãnh) Bảo vệ tốt nhất quyền lợi của các bên trong quan hệ này là bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của các bên theo quy định của Luật

- Lý thuyết về phòng ngừa rủi ro trong bảo lãnh tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là lĩnh vực chứa đựng nhiều rủi ro, nên các lý thuyết về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động này đều hướng đến mục đích bảo vệ tốt nhất quyền lợi của tổ chức tín dụng, tránh thất thoát vốn trong quan hệ tín dụng

- Lý thuyết về quyền tự định đoạt của các đương sự, về bảo vệ quyền lợi chính đáng của các đương sự trong vụ án; Trong quan hệ tố tụng dân sự, quyền định đoạt thuộc về đương sự, tức là đương sự tự quyết định việc bảo

vệ, từ bỏ quyền lợi của mình mà không bị hạn chế bởi cá nhân, tổ chức khác Điều này có nghĩa, đương sự có thể không tiếp tục khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình, nếu thấy rằng việc làm đó là tốn thời gian, không cần thiết

- Lý thuyết về Tòa án xét xử đảm bảo công lý, công bằng; Chức năng của Tòa án là phán xử, phán quyết một vụ việc nhằm đảm bảo công lý, công bằng giữa các bên Để đạt được mục tiêu đó Tòa án cần dựa trên các quy định của Luật, nhưng Luật pháp cũng chỉ là một phương tiện, công cụ để quyết định của Tòa án đạt tới công lý Do vậy, ngoài chức năng cơ bản là xét xử thì Tòa án còn có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để giải thích luật và xây dựng án lệ để bổ sung cho hệ thống pháp luật

- Lý thuyết về đảm bảo độc lập xét xử của Tòa án Tòa án phải độc lập, đây là yêu cầu của Nhà nước pháp quyền Tuy nhiên, trong điều kiện của Việt Nam, sự độc lập của Tòa án đôi khi còn chưa được đảm bảo, điều này đòi hỏi bản lĩnh, trí tuệ của đội ngũ Thẩm phán

Trang 36

5.2.Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu của đề tài

Luận án được triển khai với các câu hỏi về khía cạnh lý luận, khía cạnh pháp luật thực định để làm rõ mục đích của luận án đó là:

Câu hỏi thứ nhất, thực trạng hệ thống pháp luật về bảo lãnh tiền vay tại

TCTD đã hoàn chỉnh chưa, những vấn đề gì còn thiếu quy định của pháp luật? Quy định nào không hợp lý?

Với giả thuyết, cơ sở lý luận của pháp luật bảo lãnh tiền vay tại các TCTD ở Việt Nam chưa đầy đủ, toàn diện; Các quy định của pháp luật về hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại các TCTD còn bất cập, thiếu sót, tản mạn, chưa có tính hệ thống;

Câu hỏi thứ hai, những vấn đề thường xảy ra tranh chấp trong hợp

đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD? Nguyên nhân của những tranh chấp này?

Giả thuyết, các nội dung thường xảy ra tranh chấp liên quan đến phạm

vi nghĩa vụ bảo lãnh; biện pháp bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh; thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh Nguyên nhân do chưa có đầy đủ các quy định của pháp luật; chưa thỏa thuận rõ trong quá trình giao kết hợp đồng

Câu hỏi thứ ba, thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng

bảo lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đã hoàn thiện chưa, còn có điểm gì bất cập?

Giả thuyết, pháp luật tố tụng dân sự về giám đốc thẩm, tái thẩm còn chưa hoàn thiện, đặc biệt là về thời hạn giám đốc thẩm, tái thẩm, về thẩm quyền kháng nghị và về căn cứ để xem xét kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm

Câu hỏi thứ tư, thực tiễn quy trình giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo

lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại TANDTC đã phù hợp chưa, cần khắc phục những hạn chế nào?

Giả thuyết, thủ tục tiếp nhận, thụ lý đơn đề nghị còn chưa hợp lý; các bước tiến hành nghiên cứu, báo cáo vụ án chưa thật sự khoa học

5.3 Hướng tiếp cận nghiên cứu:

Giải quyết các tranh chấp hợp đồng bảo lãnh bảo đảm tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện theo các quy định

Trang 37

chung của BLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật này, đặc biệc

là các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng Thẩm phán TANDTC

Hợp đồng tín dụng giữa TCTD với bên vay chính là một dạng cụ thể của hợp đồng vay tài sản quy định trong Bộ luật Dân sự; bảo lãnh với tư cách

là một trong chín biện pháp bảo đảm theo quy định của BLDS Do vậy, hướng tiếp cận nghiên cứu của luận án này được thực hiện từ các quan điểm của pháp luật Tố tụng dân sự về giám đốc thẩm, tái thẩm và pháp luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng biện pháp bảo lãnh

Trang 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương này, tác giả tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu trên các sách, báo, Tạp chí, Đề tài khoa học cấp Bộ, các Luận án tiến sĩ, Luận văn thạc sĩ, Giáo trình, sách tham khảo, các Hội thảo khoa học, bài viết của các tác giả trong và ngoài nước về những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài

"giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại Tòa án nhân dân tối cao", thông qua tổng quan, tác giả có

một số kết luận sơ bộ sau:

1 Những công trình nghiên cứu có liên quan tới biện pháp bảo lãnh bảo đảm tiền vay tại TCTD: Đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, Pháp lệnh hợp đồng dân

sự cũng như các Bộ luật Dân sự sau này

Đối với bảo lãnh, số lượng công trình nghiên cứu riêng biệt về biện pháp bảo đảm này là chưa nhiều Chỉ có hai công trình nghiên cứu chuyên sâu là Luận văn Thạc sĩ của chính tác giả và Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Văn Đàm

Tùy theo thời điểm tiến hành nghiên cứu, các tác giả đưa ra các quan điểm còn có điểm khác nhau về bản chất của bảo lãnh là đối nhân hay cả đối nhân và đối vật Chỉ đến thời điểm BLDS 2015 có hiệu lực thì quan điểm về bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh mới được các tác giả bắt đầu đề cập đến theo tinh thần của Luật thực định Quan niệm bảo lãnh là hợp đồng, không phải là hành

vi pháp lý đơn phương cũng là quan niệm phổ biến của các tác giả và hợp đồng bảo lãnh tồn tại độc lập tương đối với hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ cũng nhận được sự đồng tình của đông đảo các tác giả

- Những công trình nghiên cứu về giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng dân sự: Mặc dù đã có khá nhiều tác giả nghiên cứu về giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng dân sự Tuy nhiên, so sánh với các chế định khác trong tố tụng dân sự thì số lượng công trình nghiên cứu về chế định này có phần khiêm tốn hơn

Trang 39

Các công trình nghiên cứu về giám đốc thẩm, tái thẩm được tác giả tổng quan đều bám sát các quy định của luật thực định (Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự hoặc BLTTDS) Quá trình sửa đổi luật thực định, các quy định về giám đốc thẩm, tái thẩm ít nhiều có thay đổi, chẳng hạn về thẩm quyền kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm: do có thay đổi về tổ chức hệ thống Tòa án từ 03 cấp thành 04 cấp như hiện nay, nên Chánh án TAND cấp tỉnh không còn thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm thay vào đó là thẩm quyền của Chánh án TAND cấp cao theo khu vực; về thẩm quyền của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm cũng có sự thay đổi Đặc biệt là Bộ luật Tố tụng dân sự hiện nay còn quy định về thủ tục đặc biệt, tức là có thể xem xét lại Quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC

3 Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại TANDTC Tuy nhiên những kết quả nghiên cứu riêng lẻ về bảo lãnh,

về giám đốc thẩm, tái thẩm nêu trên là tài liệu tham khảo có giá trị, gợi mở nhiều ý tưởng cho tác giả nghiên cứu các nội dung của luận án, nhất là đề xuất sửa đổi, bổ sung pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh bảo đảm tiền vay tại TCTD với tư cách là một nhóm giải pháp nhằm mục đích nâng cao giá trị, độ hấp dẫn của biện pháp bảo lãnh bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nói chung và thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong quan hệ tín dụng nói riêng Dựa trên kết quả nghiên cứu của các công trình trên, tác giả xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án trên các phương diện lý luận về giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, phân tích đánh giá thực trạng và đề xuất các quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả của phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tại Tòa án

Trang 40

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH TIỀN VAY TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG

THEO THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM

2.1.Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại tổ chức tín dụng

2.1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại tổ chức tín dụng

Khi nghiên cứu về sự ra đời của bảo lãnh trong lịch sử lập pháp còn nhiều

ý kiến khác nhau về hoàn cảnh ra đời của khái niệm này Có tác giả cho rằng,

“Bảo lãnh xuất hiện đầu tiên ở Mĩ vào những năm 60 của thế kỉ”[67, tr.5]; quan

điểm khác cho rằng, “Bảo lãnh đã có từ thời kỳ Trung cổ tại Hy Lạp” [159,

tr.3] Tuy nhiên, quan điểm được nhiều nhà khoa học đồng tình nhất là quan

điểm cho rằng, “Bảo lãnh có trong Luật La Mã cổ đại” [89, tr.377]

Hiện nay, có rất nhiều thuật ngữ được dùng để chỉ hoạt động bảo lãnh

như: “guarrantee”, “traditional guarrantee”, “Standby letters of credit”,

“suretyship”… Tuy nhiên, các hệ thống pháp luật đều ghi nhận hai dạng bảo

lãnh phổ biến, đó là bảo lãnh truyền thống và bảo lãnh độc lập: Theo hệ thống

pháp luật Châu Âu lục địa thì thuật ngữ “traditional guarrantee” là bảo lãnh truyền thống, còn “guarrantee” mang ý nghĩa bảo lãnh độc lập; Pháp luật Hoa

Kỳ thì “Standby letter of credit” có nghĩa là bảo lãnh độc lập, “letter

guarantee” là bảo lãnh truyền thống, còn “suretyship” lại bao hàm cả bảo lãnh

truyền thống và bảo lãnh độc lập [210, tr 4-5; 36, tr.16]

Ở Việt Nam, dưới góc độ ngôn ngữ, bảo lãnh được định nghĩa như

sau: “Việc bảo đảm và chịu trách nhiệm trước pháp luật về người nào đó” [160] Hoặc “việc một người hay một tổ chức (gọi là người bảo lãnh) cam kết

với bên có quyền (gọi là người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (gọi là người được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà người

Ngày đăng: 20/09/2020, 01:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w