hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất, Lê Văn Bé và cộng sự 2003 nhậnthấy 7 ngày sau khi xử lý hàm lượng kali trao đổi trong đất tăng lên so với đốichứng.Trong số các hóa chất xử lý ra
Trang 1Năm
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VA PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
***
TÀI LIỆU MÔ HÌNH NÔNG NGHIỆP
QUI TRÌNH KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC
VƯỜN NHÃN
Đồng Nai, tháng 5 năm 2019
Mẫu TLNN
Trang 2I Giới thiệu tổng quan
Các giống nhãn được trồng phổ biến ở phía Nam là: nhãn xuồng (xuồngcơm vàng, xuồng cơm ráo), nhãn tiêu, nhãn long, nhãn Idor (Edor) Tuy nhiênnhững năm từ 2007-2012, dịch bệnh chỗi rồng đã gây thiệt hại lớn cho nhàvườn trồng nhãn tiêu, do đó diện tích nhãn tiêu giảm đáng kể, thay vào đó nhàvườn thay thể bằng giống nhãn xuồng, nhãn Idor,
Qui trình trồng và chăm sóc cây nhãn được áp dụng cho tất cả các giốngnhãn, tuy nhiên liều lượng phân bón và thời điểm bón sẽ thay đổi tùy thuộcvào giống, độ tuổi, dinh dưỡng của cây và dinh dưỡng đất trồng, mức độ đầu
tư thâm canh của nhà vườn
Các biện pháp kỹ thuật được trình bày cụ thể trong qui trình từ khâu:chọn giống, thiết kế vườn trồng, đào hố, bón phân, trồng và chăm sóc, xử lý
ra hoa, phòng trừ sâu bệnh hại đều được trình bày đầy đủ, chi tiết, dễ hiểu và
dễ áp dụng đối với điều kiện đất đai, khí hậu và tập quán canh tác của ngườidân ở huyện Cần Giờ và các huyện có điều kiện tương tự ở TP Hồ Chí Minh
4 Các yêu cầu của mô hình:
Tài liệu kỹ thuật này áp dụng cho việc trồng và chăm sóc nhãn ở thànhphố Hồ Chí Minh và các địa phương có điều kiện tương tự
Nhãn là cây trồng cả ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Nhiệt độ tối ưu
có cây nhãn ra hoa và đậu quả là 20-250C Vào thời kỳ ra hoa nhiệt độ tíchhợp nhất là 15-220C, trên 400C trái sẽ bị rụng
Lượng mưa tối thiểu khoảng 1.200-1.500 mm/năm Nhãn là cây chịu hạnkhá tốt, nhưng ở vùng đất có tưới thường cho năng suất cao hơn và dễ làm tráihơn
Nhãn ưa đất cát pha, đất thịt và đất xám Tránh đất thấp, đất sét, chân đấtcần sâu và thoát nước tốt Độ pH thích hợp 5,5 - 6,5 Tại Cần giờ nhãn đượctrồng ở trên đất cát ven biển
Nhãn chịu úng kém nên cần phải làm mương thoát nước (Mục II 1.Chuẩn bị, xây dựng mô hình)
Trang 3Địa điểm thực hiện mô hình phải có điện để vận hành hệ thống tưới phunmưa
Nhãn không cần nhiều công lao động và nước tưới như các cây trồngkhác Lao động đơn giản chỉ cần 60 công/ha/năm
5 Tổng quan về mô hình trên thế giới, ở Việt Nam
Nhãn có nguồn gốc từ Bắc Myanmar tới phía nam Trung Quốc TrungQuốc là nước có lịch sử trồng nhãn hàng ngàn năm và có diện tích và sảnlượng trồng nhãn lớn nhất thế giới, sản lượng năm 2016 đạt 283,2 triệu tấn.Tuy nhiên vẫn không đủ tiêu thụ trong nước Tiếp đến là Thái Lan 706.000tấn/năm, đây là nước dẫn đầu về xuất khẩu trái nhãn
Ở Việt Nam, cả nước năm 2016 có 73.344 ha sản lượng đạt 504.079 tấn/năm, diện tích trồng nhãn ở miền Nam và miền Bắc tương đương nhau
Thị trường tiêu thụ nhãn ngoài nội địa còn xuất khẩu chủ yếu sang 1 sốnước như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Canada,…
Phân bón cho nhãn xuồng cơm vàng
Theo tập quán nông dân trồng nhãn thì rất ít vườn nhãn được bón phânhữu cơ Một số vườn cá biệt được bón phân bò hoặc phân heo cho thấy tìnhhình sinh trưởng và năng suất có cải thiện đáng kể so với không bón Phân đalượng bón cho nhãn trên đất xám hầu như chưa có khuyến cáo cụ thể, chỉ cómột số khuyến cáo về phân bón áp dụng chung cho nhãn Thí nghiệm trên đấtcát pha, Singh (1965) ghi nhận thiếu N cây sẽ cằn cỗi, ít cành, lá dựng đứng,nhỏ và có màu hơi vàng; thiếu Kali làm giảm chiều cao cây và kích cỡ lá, gâycháy ở mép và đỉnh lá; việc trổ hoa và đậu quả rất kém trong điều kiện thiếu
cả N và K Ghost và ctv (1986) đề nghị liều lượng N-P2O5-K2O (g/cây/năm)
từ 400-200-400 đến 600-300-600 đối với cây 6 năm tuổi Theo Vũ Công Hậu(1999) nên bón hàng năm với liều lượng 500-1.000g Urê, 300-500g Superlân, 500-1000g KCl cho nhãn (giai đoạn cho trái năm thứ 10) và 10-15 kgphân chuồng Theo Tôn Thất Trình (1995), thiếu lân thì năng suất chỉ bằng1/2 hay 1/5 vườn có bón phân đầy đủ, trái nhỏ và tỷ lệ cơm ít đi; cây 5 tuổitrở lên nên bón khoảng 600gN, 150gP2O5 và 800gK2O, sau đó tăng dần mỗinăm 20-30% cho đến gấp đôi vào năm thứ 10
Theo Bùi Xuân Khôi, 2011, lượng phân bón cho cây nhãn 8 năm tuổi ởvùng đất cát pha BR-VT là 800g N-600gP2O -1.200gK2O, theo Nguyễn Văn
Kế, 2014, lượng phân bón cho đất cát ở miền Đông Nam bộ: 800g 600gP2O -1.000gK2O
N-Nhãn chủ yếu được trồng trên vùng đất cát giồng ở Bà Rịa Vũng Tàu
và TP Hồ Chí Minh và một số vùng đất xám phù sa cổ Các nghiên cứu củaCông Doãn Sắt và Đỗ Trung Bình (1997) về thành phần khoáng sét của một
số loại đất chính ở miền Nam cho thấy sự biến động của hàm lượng Kalitrong các loại đất rất lớn, đất cát ven biển và đất xám phù sa cổ đã bị cạn kiệt
Trang 4Kali, đây cũng là loại đất có thành phần khoáng 1:1 (Kaolinit) không những
có nguồn Kali dự trữ gần cạn kiệt mà khả năng cố định Kali cũng rất kém Do
đó nhãn xuồng trồng trên các vùng đất này cần chú ý được bón tăng cườngKali Theo Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam, lượng bón cho nhãn nămthứ 4 (g/cây/năm) là 300gN + 100gP2O5 + 200gK2O (tỷ lệ 3:1:2) Theo TrầnThế Tục (2000): phân tích trong 1000kg quả tươi thì cây lấy đi của đất 4,01 –4,80kgN; 1,46 – 1,58kg P2O5 và 7,54 – 8,96kgK2O và đề nghị bón phân chovườn nhãn cao sản là 2,7kgUrê + 3,5kg Super lân+ 3kgKCl tương đương1242gN + 560gP2O5 + 1800gK2O (tỷ lệ 2:1:3) Tại Thái Lan, lượng phân bóncho nhãn chia làm 4 lần như sau: lần 1 sau thu hoạch bón khoảng 1kg/câyphân NPK có tỷ lệ 20-10-10 kết hợp 6-10kg phân hữu cơ; lần 2 bón đón hoakhoảng 1 kg/cây NPK 16-11-14 hoặc 15-15-15; lần 3 bón sau đậu trái 2 tuầnvới lượng bón như lần 2; lần 4 bón làm nhiều lần nuôi trái với lượng phân 2-3kg/cây NPK 14-14-21
Về tỷ lệ bón và mức bón phân cho nhãn xuồng giúp đạt năng suất caonhìn chung đã có nhiều khuyến cáo tuy nhiên với những công thức bón nêutrên có ảnh hưởng đến dư lượng nitrate trong trái hay không vẫn chưa đượcbáo cáo do đó vấn đề này rất cần được nghiên cứu
Xử lý ra hoa cho nhãn
Nhãn Xuồng là cây trồng của vùng nhiệt đới có đặc điểm ra hoa đầucành Tổng đơn vị nhiệt mà cây hấp thu đóng vai trò quan trọng trong quátrình thuần thục phân hóa mầm hoa và ra hoa Từ đó cho thấy thời tiết là mộttrong những yếu tố quan trọng giúp cho nhãn xuồng ra hoa thuận lợi.Manochai và cộng sự (2005) cho biết khi gặp điều kiện mưa nhiều, ít nắng thìnhãn xuồng rất khó ra hoa và cần có biện pháp kỹ thuật kích thích ra hoa
Biện pháp khoanh cành đã được áp dụng xử lý ra hoa thành công trênnhãn Tiêu Da bò tuy nhiên áp dụng trên nhãn xuồng thì không mang lại hiệuquả Bắt đầu từ năm 1999, việc sử dụng chlorat kali (KClO3) kích thích ra hoa
có hiệu quả trên cây nhãn DO (giống nhãn nổi tiếng của Thái Lan) trồng ởĐồng Nai và những kết quả từ Thái Lan cho biết việc sử dụng chlorate kali đểkích thích cho nhãn ra hoa có hiệu quả tốt hơn so với biện pháp khoanh cànhthường không ổn định trước đây Do đó, việc tìm ra một hóa chất kích thích rahoa có hiệu quả và ổn định rất có ý nghĩa về mặt khoa học cũng như sản xuất.Manochai và cộng sự (2005) cho biết có thể tưới chlorat kali vào đất với liềulượng 4-8g/m2 tùy theo giống, phun lên lá ở nồng độ 1000ppm hoặc tiêm vàothân với liều lượng 0,25 g/cm đường kính nhánh Thời điểm xử lý là khi lá40-45 ngày tuổi Trong mùa khô xử lý có tỷ lệ ra hoa cao hơn so với mùamưa Theo Lê Văn Bé và cộng sự (2008) nhận thấy xử lý chlorat kali bằngcách phun lên lá ở nồng độ 2000 – 4000 ppm giúp cây nhãn tiêu da bò ra hoa100% sau khi xử lý 30 ngày Theo Wong (2000) nồng độ KClO3 tùy thuộcvào một số yếu tố sau: tán cây, loại đất, nguồn nước, sức khỏe của cây, cáchquản lý vườn và giống Khảo sát tác động của chlorate kali lên sự biến đổi
Trang 5hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất, Lê Văn Bé và cộng sự (2003) nhậnthấy 7 ngày sau khi xử lý hàm lượng kali trao đổi trong đất tăng lên so với đốichứng.
Trong số các hóa chất xử lý ra hoa thì Paclobutrazol được coi là chất ứcchế tăng trưởng (Plant Growth Retardants) giúp cây hạn chế sinh trưởng sinhdưỡng, thuần thục và chuyển sang sinh trưởng sinh thực phân hóa mầm hoa,đóng vai trò quan trọng trong quá trình ra hoa (Trần Văn Hâu và ctv., 2002).Thiourea được coi là chất phá vỡ miên trạng ngủ nghỉ, kích thích cây ra hoa(đối với những chồi đã phân hóa mầm hoa) hoặc đâm tượt non (đối với nhữngchồi chưa phân hóa mầm hoa), chất này có khả năng kích thích được 80,9%mầm hoa và giúp cây măng cụt ra hoa sớm hơn so với sự ra hoa tự nhiên(Poonnachit et al., 1990) Charnvichit and Tongumpal (1991) ghi nhận rằngphun Thiourea lúc 90 ngày sau khi xử lý Paclobutrazol giúp xoài NamdokMai
ra hoa 100%, ngoài ra đạm dưới dạng NH4NO3 (2% và 4%) thúc đẩy xoàiManila và Antaulfo ra hoa sớm hơn 37 và 22 ngày Biện pháp phun Thioureasau khi xử lý Paclobutrazol cũng thúc đẩy các đỉnh sinh trưởng của xoài CátHòa Lộc phân hóa mầm hoa đồng loạt (Võ Thế Truyền và Nguyễn ThànhHiếu, 2004) Ngoài ra KNO3 cũng được xem là chất ức chế sự ra đọt non giúpcho quá trình ra hoa thuận lợi (Trần Văn Hâu và ctv., 2002)
Tỉa cành cũng được xem là biện pháp giúp hổ trợ cho cây ra hoa Đốivới đa số cây ăn quả lâu năm, tỉa cành giúp cho cây quang hợp, sinh trưởngphát triển tốt, đọt non ra đồng loạt nên dễ kiểm soát sâu bệnh, dễ xử lý ra hoađồng loạt, tăng năng suất và chất lượng quả
Với những kết quả trên cho thấy rằng việc thử nghiệm tìm ra biện phápphù hợp để xử lý ra hoa cho nhãn xuồng là cần thiết Ngoài việc tỉa cành,cung cấp dinh dưỡng và chế độ tưới phù hợp thì một số hóa chất hổ trợ ra hoacũng cần được quan tâm
Sâu đục trái gây hại trên nhãn Xuồng cơm vàng
Sâu đục trái được xem là loài côn trùng gây hại quan trọng nhất TheoNguyễn Thị Thu Cúc (2000), trên nhãn có 2 loài sâu đục trái phổ biến là:
Sâu đục trái Conopomorpha sinensis Bradley, thành trùng phần trán ở đầu có túm lông màu trắng C sinensis có chiều dài sải cánh khoảng 10,5-11
mm; chiều dài thân 6-7 mm, cơ thể màu trắng hơi trong, các đốt bụng đều cókích thước tương tự nhau Nhộng dài khoảng 1 cm, lúc đầu có màu vàng lợt,khi sắp vũ hóa chuyển sang màu nâu, thời gian nhộng: 7-8 ngày Sâu gây hạitrên trái bằng cách đục vào trái làm trái dễ bị thối và rụng sớm Gây hại chủyếu từ giai đoạn trái lớn và sắp thu hoạch Sâu đục vào trái nhãn nơi gầncuống trái, ăn xung quanh phần cuống trái làm trái dễ bị rụng, sâu thường tấncông và làm trái rụng rất nặng vào giai đoạn trái lớn (khi trái đã có cơm) vàtrái bị thiệt hại nhiều nhất vào giai đoạn trái gần thu hoạch, vào mùa nhãntháng 6-7 dương lịch Khi đến tuổi trưởng thành, sâu thường đục lỗ nhỏ gầncuống trái bò lên trên phần lá gần chùm trái, kéo một lớp màng mỏng màutrắng, hóa nhộng trong đó Loài này đã được ghi nhận hiện diện phổ biến trên
Trang 6nhãn và vải tại Thái Lan Tương tự như loài sâu đục gân lá nhãn, loài nàycũng chỉ mới bộc phát mạnh trong những năm gần đây
Sâu đục trái Conogethes punctiferalis có trứng hình bầu dục, dài
khoảng 2-2,5 mm Trứng mới nở có màu trắng sữa sau đó trở nên vàng nhạt
Ấu trùng phát triển đầy đủ dài khoảng 22 mm, đầu nâu, thân mình sâu có màutrắng ửng hồng, hai đốt ngực (trước và giữa) và hai đốt thân ở cuối đuôithường có màu trắng hơi hồng, các đốt còn lại có màu hồng Trong mỗi đốt ởsống lưng cơ thể có 4 đốm nâu nhạt, 2 đốm trên to, hai đốm dưới dài và hẹp,trên mỗi đốm đều có lông cứng nhỏ, mỗi đốt cơ thể cũng có một đốm nhỏmàu nâu ở bên hông cơ thể, kế bên khí khổng màu đen Cả phần mặt bụng của
cơ thể cũng có những đốm nâu nhạt với lông nhỏ Thành trùng hoạt động chủyếu vào ban đêm, chiều dài sải cánh: 2,5 mm, chiều dài thân: 12 mm Toànthân và cánh màu vàng, trên cánh có nhiều chấm đen Nhộng lúc đầu màuvàng hơi nâu, dần dần chuyển sang màu nâu khi sắp vũ hóa, dài khoảng 13
mm, chiều ngang 4 mm Kích thước thành trùng (ấu trùng, nhộng) và sốlượng chấm đen cũng như cách phân bố của chấm đen trên cánh tùy thuộc vào
thức ăn và các cây ký chủ Thường C punctiferalis có kích thước lớn nhất khi
gây hại trên ổi và nhỏ nhất khi gây hại trên mãng cầu Xiêm Thành trùng hoạtđộng về đêm, trong khoảng từ 20-22 giờ cho đến 5 giờ sáng, ban ngày ẩntrong các tán lá Cả thành trùng đực và cái thường sinh sống trên mật hoa củacây ký chủ và những cây khác trong vườn Sau khi vũ hóa, con cái thường tiếtpheromone để hấp dẫn con đực Hai cho đến 3 ngày sau khi bắt cặp, thànhtrùng đẻ trứng, trứng được đẻ trên trái, mỗi con cái đẻ khoảng 20-30 trứng.Trứng thường nở vào lúc sáng sớm, thời gian ủ trứng từ 4-6 ngày Ấu trùngtuổi 1 bò rất nhanh và sau đó đục vào trong trái Sâu có thể tấn công từ khitrái còn rất non cho đến khi sắp thu hoạch, gây hại bằng cách đục phá vàotrong trái và ăn rỗng cả phần hột của trái non Sâu thường nhả tơ kết dính cáctrái non và ăn phá bên trong trái Giai đoạn trái lớn, sâu đục trái làm trái bị hư
và mất phẩm chất Hóa nhộng bằng cách nhả tơ cùng với phân của chúng kếtthành một lớp kén mỏng và hóa nhộng trong kén trên cuống trái hoặc bêntrong phần hột đã đục Giai đoạn ấu trùng gồm 5 ngày tuổi, kéo dài khoảng14-16 ngày Giai đoạn nhộng 7 ngày Thời gian sống của thành trùng biếnđộng từ 10-18 ngày Toàn bộ chu kỳ sinh trưởng biến động trong khoảng 29-
32 ngày Sâu hiện diện và gây hại đều khắp trên các vùng trồng nhãn, và gâyhại nặng vào mùa nhãn tháng 12-1 dương lịch
Để phòng trị sâu đục trái nhãn cần thu gom những trái bị nhiễm, chônsâu dưới đất để diệt sâu còn hiện diện trong trái Sau khi thu hoạch, cắt tỉacành cho vườn thông thoáng để dễ phát hiện thành trùng trong vườn nhằm cóbiện pháp xử lý kịp thời Sử dụng thuốc hóa học khi 1% số trái trong vườn bịtấn công Ở những vùng thường xuyên bị nhiễm nặng, xử lý thuốc trừ sâu(gốc lân hoặc cúc tổng hợp) khi trái vừa mới tượng, nếu sau lần áp dụng thứnhất, mật số sâu vẫn còn cao, phun lần thứ hai khoảng 7-10 ngày sau đó(Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
Trang 7Biện pháp phòng trừ sâu đục trái đã có nhiều khuyến cáo, tuy nhiênbiện pháp phòng trừ áp dụng cho qui trình GAP cần chú trọng về dư lượngthuốc hóa học trong trái và mức độ an toàn sản phẩm, người sử dụng và môitrường nên những vấn đề này cần được nghiên cứu
Bệnh thối nâu trái gây hại trên nhãn xuồng cơm vàng
Tác nhân gây bệnh thối trái nhãn lần đầu tiên được quan sát thấy tạihuyện Mae Suai, tỉnh Chiang Rai, Thái Lan trong thời gian 1998-2000 Loài
Phytophthora sp đã được phân lập từ vỏ của các trái có triệu chứng bệnh
bằng phương pháp nuôi cấy mô (Kooariyakul & Bhavakul, 2005) Các nghiên
cứu khác tại Việt Nam cũng cho thấy bệnh thối trái do nấm Phytophthora sp.
(Nguyễn Văn Huỳnh và Võ Thanh Hoàng, 1997) Theo Drenth & Guest
(2004) thì bệnh thối trái do Phytophthora gây hại phổ biến trên nhiều loại cây
trồng khác nhau, bao gồm cây có múi, sầu riêng, cacao, đu đủ, nhãn và ớt
Triệu chứng bệnh thường xuất hiện và gây hại nặng trên trái nhãn lúcsắp già, chín và đặc biệt là trong mùa mưa, nơi có độ ẩm cao thì bệnh phát
triển và lây lan rất nhanh chóng Do nấm Phytophthora thường lưu tồn trong
đất nên các chùm trái gần mặt đất dễ bị nhiễm bệnh hơn trong mùa mưa, từđây sẽ là nguồn lây lan cho các chùm trái phía trên và lây lan sang cây kháctrong cả vườn Trái bị bệnh thường xuất hiện những đốm nâu đen, sau đó lớndần và ăn sâu vào trong thịt trái làm thối nhũn có mùi chua, trái bị thối nâu,lan dần từ vùng cuống trái trở xuống, làm trái nứt, thịt trái thối nhũn, chảynước có mùi hôi chua và có thể thấy tơ nấm trắng phát triển trên vết bệnh.Quả thối có thể vẫn treo trên cây, nếu bị nặng và vết bệnh gần cuống thì trái
dễ bị rụng
Giai đoạn phát triển bệnh thối trái do nấm Phytophthora là trái nhãn
sắp chín Bệnh lan truyền rộng rãi tại các vùng trồng nhãn lớn ở nước ta.Thiệt hại nghiêm trọng trên trái đã được ghi nhận vào những tháng mùa mưa.Điều kiện đất ẩm và nhiệt độ ấm, mưa nhiều thường xuyên hoặc theo mùacũng như độ ẩm không khí cao thường xảy ra tại các vùng đồng bằng nhiệt
đới là điều kiện hoạt động tốt của Phytophthora Vùng đồi và cao nguyên
nhiệt đới còn có nhiều sương và sương mù nặng vào buổi sáng và cuối buổichiều, sản sinh nhiều nước tự do vào ban đêm và tạo ra nhiều điều kiện thuậnlợi cho bào tử nang hình thành, di chuyển và phát triển Bào tử động nhỏ và
dễ lây nhiễm do vườn cây rậm rạp, cành mang trái tiếp giáp mặt đất Sau khi
lây nhiễm, Phytophthora phát triển và sản xuất bào tử động tại các túi nang,
đặc biệt là khi đất ẩm và thời tiết ấm áp, bào tử được sản sinh vào đất Do vậy
số bào tử động có thể phát triển lên khá nhanh chóng Bào tử động di chuyểntrong nước và có thể lây nhiễm những trái lân cận Các bào tử có thể dễ dànglan truyền qua nước mưa, đất dính trên giày dép và các loại xe Hai loại bào
tử được sản sinh là hậu bào tử và bào tử noãn, ngừng sản sinh bào tử khi điềukiện sống trở nên bất lợi như nguồn thức ăn cạn kiệt, vào thời kỳ nhiệt độthấp hoặc khô hạn Các bào tử có khả năng sống sót trong một khoảng thờigian dài, khi gặp điều kiện thuận lợi chúng nảy mầm và tiếp tục chu kỳ cuộc
Trang 8sống Điều này cho phép Phytophthora tồn tại trong tế bào thực vật chết và
trong đất một thời gian dài
Chu kỳ sống của Phytophthora có thể bao gồm 3 dạng sinh sản vô tính
- bào tử nang, bào tử động, hậu bào tử và bào tử noãn với dạng sinh sản hữutính mà có thể nảy mầm trực tiếp hoặc có thể phân chia để sản sinh ra 8-12bào tử động, mỗi bào tử động trải qua một quá trình lan truyền và bơi vào
nang trước khi nảy mầm Một số loài như P cinnamoni cũng sản sinh số
lượng lớn hậu bào tử từ sợi nấm Tái sinh lưỡng tính là kết quả của việc sảnsinh bào tử noãn Tất cả các kiểu bào tử đều có khả năng nhiễm bệnh, bào tửhậu và bào tử noãn đều có thể tồn tại qua đông và ở trạng thái nghỉ Tất cả các
loài Phytophthora đều có giai đoạn truyền qua đất và hơn nữa một số loài như
P palmivora còn truyền qua không khí (Drenth & Guest, 2004)
Biện pháp hóa học phòng trừ bệnh thối nâu: sử dụng nhóm hóa chấtPhenylamides (acylanilides) gồm có Furalaxyl (fongarid), chất metalaxyl(Ridomil) và benalaxyl (Galben) Tất cả 3 chất hóa học này đều có phản ứngvới Peronsporales, tuy nhiên chất metalaxyl được sử dụng phổ biến nhất(Erwin & Ribeiro, 1996) Metalaxyl có thể hòa tan được trong nước, có tác
dụng đối với tất cả các loài Phytophthora trong phòng thí nghiệm chỉ với một
liều lượng thuốc thấp hơn nhiều so với việc sử dụng thuốc trừ nấm bảo vệ Nó
có tác dụng ức chế cao đối với việc hình thành các túi bào tử, và cũng gópphần làm giảm sự hình thành các hậu bào tử và noãn bào tử (Cohen & Coffey,1986) Metalaxyl cũng tồn tại rất lâu trong cây trồng nên có thể giúp ngănchặn sự xâm nhập của sợi nấm vào mô cây, bởi vì thuốc này có tác dụng ứcchế sự lây lan của thể sợi nấm (Erwin & Ribeiro, 1996) Sử dụng thuốc trừnấm bệnh Metalaxyl có tác động nội hấp, khả năng lưu dẫn mạnh, phổ tác
dụng rộng, đặc biệt có hiệu quả với các nấm Phytophthora Có thể sử dụng
Metalaxyl phòng trừ các bệnh thối quả trên nho, nhãn, vải
Một thử nghiệm đánh giá về hiệu quả của các loại thuốc diệt nấm chỉ rarằng Benomyl, Carbendazim, Procymidone, Tebuconazole, Difenoconazole
và Carbendazim + Benomyl đã có hiệu quả để chấm dứt sự tăng trưởng của 5khuẩn ty sợi nấm, mặt khác chỉ Procymidone và Tebuconazole đã làm ngừngtăng trưởng của nấm bệnh (Sittigul và ctv, 2005) Lê Độ và ctv (2003) đã tiếnhành thử nghiệm 6 loại thuốc hóa học (Ridomil, Aliette, Carbendazim,
Mancozeb, Dithane, metalaxyl) trên bệnh thối trái nhãn do Phytophthora sp.
gây ra Kết quả cho thấy ở điều kiện ngoài đồng phun các loại thuốc Ridomil(2,72 ga.i), Aliette (8 ga.i), Carbendazim (10 ga.i), Dithane-M-45 (32 ga.i),
Metalaxyl (2,5 ga.i) có khả năng làm giảm bệnh thối trái nhãn Phytophthora
sp Tuy nhiên nên sử dụng thuốc Ridomil (2,72 ga.i), Aliette (8 ga.i),Metalaxyl (2,5 ga.i) phun vào giai đoạn trái sớm hơn một tháng trước thuhoạch và Carbendazim (10 ga.i), Dithane-M-45 (32 ga.i) có thể phun vào thờiđiểm một tháng trước thu hoạch Nguyễn Khánh Ngọc và ctv (2003) đã tiếnhành điều tra thành phần bệnh hại chính trên nhãn năm 2003 Kết quả cho
thấy bệnh bệnh thối trái (Phytophthora sp.) chiếm 14,81% Nấm gây thối trái nhãn Phytophthora sp phát triển nhanh nhất vào khoảng thời gian 3-4 ngày
Trang 9sau cấy Trong điều kiện thí nghiệm: sử dụng thuốc Ridomil (0,34 ga.i),Aliette (0,2 ga.i), Dithane (0,4 ga.i), Metalaxyl (0,03 ga.i) có khả năng khống
chế nấm gây thối trái nhãn Phytophthora sp cao (100%) Sau đó khi liều
lượng giảm xuống Ridomil (0,68 mg a.i), Dithane-M-45 (0,8 mg a.i),Metalaxyl (0,25 mg a.i) vẫn cho hiệu quả hạn chế sự phát triển của nấm gây
thối trái nhãn Phytophthora sp và tốt hơn Aliette (0,8 mg a.i).
Những hoạt chất phòng trừ có hiệu quả bệnh thối nâu trái cần đượcnghiên cứu thêm về dư lượng thuốc tồn dư trong trái khi thu hoạch và nhữngảnh hưởng của chúng đến sức khỏe người lao động và môi trường để áp dụngtheo GAP nhằm sản xuất bền vững hơn
Độ chín thu hoạch của nhãn
Đối với trái cây, từ khi trái non hình thành đến lúc thu hoạch, cấu trúctrái không ngừng thay đổi thể hiện sự gia tăng kích thước khối lượng, trọnglượng và thành phần sinh hóa
Biến đổi kích thước khối lượng và trọng lượng của trái: Trái lớn lênnhờ sự phát triển của vỏ trái, phôi và nội nhũ Lúc này tế bào phân chia rấtmạnh đồng thời kích thước tế bào cũng tăng lên Tiếp đó, sự sinh trưởng củatrái chậm lại và trong mô xảy ra những biến đổi rất quan trọng về chất làmcho trái chín khác hẳn trái còn xanh Nhìn chung trong quá trình chín kíchthước của trái biến đổi rất ít mà chủ yếu tăng trọng lượng và thể tích Nguyênnhân tăng trọng lượng của trái trong những giai đoạn cuối của sự chín là sựtăng hàm lượng các chất hữu cơ mà chủ yếu là đường Nhờ đó mà trọnglượng của trái tăng
Những biến đổi thành phần hóa học: Trái cây sau khi đậu trái sẽ khôngngừng biến đổi tích tụ dần dần các chất dinh dưỡng Quá trình này là sự biếnđổi các thành phần hóa học khác nhau xảy ra dưới sự điều khiển của các chấtkích thích và các hệ men làm cho trái có thành phần hóa học, hình dạng, kíchthước, màu sắc, hương vị thơm ngon đặc trưng cho từng loại Sự thay đổi nàyrất phức tạp, phụ thuộc tùy vào từng loại cây Trong các chất hợp phần thìglucid, acid hữu cơ, chất chát, chất thơm và chất màu là biến đổi nhiều hơn cả
và trong đó sự thay đổi của đường và acid hữu cơ là chủ yếu
Biến đổi độ Brix: Trong quá trình chín của trái, glucid biến đổi rõ rệt.Điều này được chứng minh qua sự giảm hàm lượng tinh bột và sự tăng lượngđường đơn do tinh bột bị thủy phân dưới tác dụng của men cũng như sựchuyển đường từ lá về trái Khi nghiên cứu quá trình quang hợp có thể thấyrằng sản phẩm đầu tiên của quá trình đó là acid phosphoglicetinic Chất nàytiếp tục được chuyển hóa để tạo nên các loại monosaccharic như glucose,fructose, hoặc các sản phẩm đồng phân của chúng như manose, galactose Sau
đó tới giai đoạn tạo saccarose và tinh bột từ các monosaccharic nhờ các hệmen tương ứng Khi cung cấp thêm các loại đường glucose fructose và cácloại khác như manose, galactose, lactose, mantose cũng như aldehydglicerinic đều nhận thấy tăng sự tích lũy saccarose ở thực vật Tuy nhiên cung
Trang 10cấp đường pentose như arabinose lại không tạo được saccarose (Lê Ngọc Tú
và ctv, 1997)
Độ chín của trái: Do phẩm chất và hương vị cũng như hình dáng bềngoài của trái phụ thuộc vào độ chín của trái nên trong từng trường hợp cụ thểviệc xác định độ chín của chúng rất quan trọng Người ta phân biệt bốn mức
độ chín cho trái: độ chín thu hoạch, độ chín ăn được, độ chín kỹ thuật và độchín sinh lý (Lê Văn Tú, 1977) Đối với sản xuất nhãn xuồng ngoài đồngruộng độ chín thu hoạch được quan tâm hơn cả
Những biến đổi về màu sắc: Hiện tượng thay đổi của các chất màu màchúng ta có thể quan sát bằng mắt rõ nhất là sự thay đổi màu sắc bên trong vàbên ngoài khi trái chín Sự thay đổi này được được giải thích bởi 2 hiệntượng Trước hết là sự mất màu xanh do sự biến mất của chloprophyl, thôngthường hàm lượng chloprophyl a giảm nhanh hơn hàm lượng chloprophyl b,điều này được giải thích bởi sự giảm tỉ lệ nồng độ chloprophyl a/chloprophyl
b Sự biến mất chloprophyl có 2 tác dụng: làm mất màu xanh và để lộ ranhững chất màu khác, đặc biệt là các carotenonic Hiện tượng thứ hai là sựtổng hợp những chất màu mới: carotenonic (vàng, cam hay đỏ) được tích tụtrong thể hạt (như trong trường hợp đối với cà chua) và anthocyane (đỏ, xanhhay tím) hòa tan trong không bào (như trong trường hợp đối với trái anh đàohay các giống táo đỏ) (Hartmann, 1992; Salunkhe và ctv, 1991) Đối với tráinhãn đó là sự mất màu xanh và khi chín nhãn có màu vàng (phụ thuộc vàogiống cùng với sự tổng hợp chất màu mới trong quá trình chín)
Những thay đổi của thành phần hóa học: Những trái chứa tinh bột phảitrải qua sự giảm hàm lượng tinh bột và sự tăng lượng đường đơn sau thuhoạch, mặt khác lượng acid cũng giảm trong quá trình này Sự chuyển hóacác glucid là một trong những đặc tính quan trọng của quá trình chín Một mặthiện tượng chín là sự thủy phân tinh bột, mặt khác sự tăng lượng đường Cáchợp chất pectin ở thành tế bào cũng bị phân hủy tạo thành những hợp chất tan,điều này được giải thích bởi sự mềm nhanh của thịt trái khi chín Các hợpchất bay hơi cấu thành hương thơm đặc trưng của trái được hình thành(Hartmann, 1992) Tuy nhiên trái được thu hoạch quá sớm hay ở giai đoạnxanh để vận chuyển cho thị trường xa thì trái không thể có được hương thơmđặc trưng của nó như trường hợp đối với trái đào (Salunkhe và ctv, 1991)
Những thay đổi về cấu trúc: Phần lớn trái mềm đi trong quá trình chín.Quá trình này có thể là kết quả của 1 trong 3 cơ chế sau: Sự mất trọng lượngtrái, sự phân hủy tinh bột, sự phân hủy các pectin -cellulose ở thành tế bào Sựmất trọng lượng trái là một tiến trình không thuộc về sinh lý, gây nên bởi sựmất nước của trái Sự mất nước này khoảng 5-10% so với trọng lượng tươicủa trái, mặc dù chúng có ảnh hưởng rất nhỏ đối với thành phần sinh hóa củatrái nhưng chúng có thể dẫn đến sự giảm đáng kể về chất lượng thương mạicủa trái Sự phân hủy tinh bột có thể được xem như là sự thay đổi về cấu trúc,đặc biệt đối với những trái như chuối có chứa hàm lượng tinh bột quan trọng
so với trọng lượng tươi của trái Tuy nhiên đối với phần lớn trái sự thay đổi về
Trang 11cấu trúc trong quá trình chín thường là do kết quả của sự phân hủy các hợpchất pectin-cellulose của thành tế bào Các polyosid chiếm từ 90-95% trongthành tế bào, chúng bao gồm: cellulose, hemicellulose và pectin (Turker,1993)
Bảo quản nhãn xuồng sau thu hoạch
Nếu không có điều kiện bảo quản tốt thì thiệt hại trong quá trình tồn trữnhãn xuồng sau thu hoạch là rất lớn Những biểu hiện thường thấy sau thuhoạch đối với nhãn xuồng là hiện tượng trái rụng khỏi chùm, màu vỏ thay đổi
bị thối nâu và cuối cùng là trái bị nhũn nước và bị thối
Các quá trình xảy ra sau thu hoạch bao gồm sự thoát hơi nước, sự hôhấp, hiện tượng hóa nâu của vỏ trái sau thu hoạch, sự giảm khối lượng tựnhiên, sự sinh nhiệt Bốc hơi nước là hiện tượng mất nước tự nhiên do bayhơi, phụ thuộc vào cấu trúc của biểu bì và bề mặt tiếp xúc với không khí Mặtkhác còn phụ thuộc vào sự chênh lệch nhiệt độ giữa không khí và sản phẩm,phụ thuộc vào ẩm độ và hỗn hợp không khí trong phòng Sự mất nước tích tụdần trong suốt thời gian bảo quản và là nguyên nhân chính dẫn đến hao hụttrọng lượng Ngoài ra, mất nước còn dẫn đến mất chất lượng nghiêm trọngnhư héo, nhũn, hình thức xấu đi (Trần Kim Đồng và ctv., 1991) Hô hấp làmột chu trình phản ứng hóa học phức tạp, thể hiện chủ yếu bằng việc mất chấtnền (đường, acid) cần cho quá trình tạo ra năng lượng cho các mô Quá trìnhnày tiêu hao O2, thải khí CO2 và tỏa nhiệt Lượng nhiệt này cần được giải tỏabằng cách làm lạnh để giảm hô hấp thì chúng ta sẽ kéo dài được thời gian bảoquản (Trịnh Xuân Vũ và Nguyễn Đình Huệ, 1976) Theo trích dẫn của báocáo hàng năm của Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam (2000), người taphân biệt trái cây thành hai loại: trái tăng đột phát hô hấp và trái không tăngđột phát hô hấp (Hartmann, 1992; Salunkhe và ctv, 1991; Laville, 1994) Tuynhãn là loại trái cây không tăng đột phát hô hấp, nhưng nhãn cũng không cókhả năng tổng hợp etylen ở mức độ rất thấp ngay sau khi thu hoạch Thôngthường lượng etylen này không thể phân tích được Do đó cường độ hô hấpcủa nhãn sẽ giảm dần cho đến khi ngừng hoàn toàn ở cuối giai đoạn thoái hóa
Sự hóa nâu của nhãn được giải thích là sự mất màu vàng đặc trưng làm lộ ramàu nâu Sự hóa nâu này cũng là một phần xảy ra trong quá trình hô hấp củatrái cây (trong quá trình bảo quản trái cây tiếp tục hô hấp, lấy oxy của khôngkhí xung quanh và năng lượng của chính mình) làm cho các tế bào của tráicây tiêu hao năng lượng và tế bào sẽ già đi (tế bào chết và phân hủy) dẫn đếnmàu của sản phẩm bị hóa nâu (Wills & ctv, 1998) Sự giảm khối lượng tựnhiên của trái cây là do sự mất nước và tiêu tốn các chất hữu cơ trong khi hôhấp Sự giảm khối lượng này không thể tránh khỏi trong bất kỳ điều kiện tồntrữ nào, nhưng có thể làm giảm đến tối thiểu khi tạo được điều kiện tồn trữ tối
ưu như bao gói, bảo quản lạnh Tất cả nhiệt sinh ra trong trái tươi khi tồn trữ
là do quá trình hô hấp Khoảng 2/3 lượng nhiệt sinh ra được tỏa ra môi trườngxung quanh Lượng nhiệt còn lại được dùng vào các quá trình trao đổi chấtbên trong tế bào, tạo ra sự bốc hơi và một phần dự trữ ở dạng năng lượng hóahọc: adenozintriphotphat (ATP)
Trang 12Các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến thời hạn bảo quản như là nhiệt
độ, độ ẩm không khí, thành phần khí quyển bảo quản, và vi sinh vật Nhiệt độ
là yếu tố môi trường có ảnh hưởng lớn đến quá trình sống của trái cây khi bảoquản Nhiệt độ cao đến một mức nào đó thường làm tăng cường độ hô hấp,làm giảm khối lượng của quả Để bảo quản trái cây được lâu cần hạ thấp nhiệt
độ, tuy nhiên nhiệt độ đó không dưới điểm đóng băng để không gây ra các tácđộng cơ học do phá vỡ cấu trúc tế bào bởi các tinh thể nước Ngoài việc duytrì nhiệt độ thích hợp cần phải ổn định nhiệt độ trong suốt quá trình bảo quản
Độ ẩm tương đối của không khí trong bảo quản có ảnh hưởng mạnh đến sựthoát hơi nước, gây nên hiện tượng giảm khối lượng tự nhiên và làm héo quả.Thành phần của khí quyển bảo quản ảnh hưởng lớn đến quá trình hô hấp củanhãn khi bảo quản Khi tăng nồng độ của CO2 và giảm nồng độ O2 sẽ làmgiảm cường độ hô hấp, kéo dài thời gian bảo quản Vi sinh vật là một trongnhững nguyên nhân gây thối hỏng quả, làm giảm chất lượng, giảm hiệu quảcủa quá trình bảo quản
Trong điều kiện thông thường chỉ bảo quản quả trong thời gian ngắn.Người ta thường dùng hệ thống thông gió cho kiểu bảo quản này Có 3 hìnhthức thông gió là thông gió tự nhiên, thông gió cưỡng bức và thông gió tíchcực Nông dân ở các vùng nông thôn Việt Nam không có điều kiện xây dựngcác kho chứa hiện đại như nước ngoài mà thông thường bảo quản các loại rauquả ở những nơi thoáng mát (có không khí lưu thông) trong nhà hay kho chứaxây dựng thô sơ (Quách Đỉnh & ctv, 1996; Trần Minh Tâm, 1996)
Phương pháp bảo quản lạnh đã được ứng dụng rộng rãi để bảo quản tráicây tại các nước tiên tiến trên thế giới Nhưng ở nước ta tại các vùng trực tiếpsản xuất thì việc áp dụng phương pháp này còn gặp nhiều khó khăn vì không
có hoặc có thiết bị nhưng ở qui mô nhỏ Đối với sản xuất lớn thường sử dụngkho lạnh để bảo quản, ở qui mô nhỏ có thể sử dụng tủ mát Nhiệt độ bên trongcác kho bảo quản được điều chỉnh từ -5oC đến 15oC tùy theo đặc tính của từngloại cây ở vùng nhiệt đới hay ôn đới mà có mức nhiệt độ thích hợp, có thể cóhoặc không có hệ thống kiểm soát khí quyển (Controled Atmosphere) Nhiệt
độ trong quá trình bảo quản lạnh được hạ xuống nhằm giảm cường độ hô hấpcũng như sự mất dinh dưỡng, hạn chế vi sinh vật phát triển và giảm sự bốchơi nước (Nguyễn Văn Thoa, 1982 và Trần Đức Ba, 1989) Vấn đề quan tâmtrong bảo quản lạnh là hiện tượng tổn thương lạnh xuất hiện hầu hết ở nhữngtrái cây nhiệt đới và cận nhiệt đới khi đưa vào bảo quản ở nhiệt độ 12 – 14oChoặc thấp hơn, ở chuối hiện tượng này xảy ra khi tồn trữ trái dưới 12oC Tổnthương lạnh có thể xảy ra ở trái chín hoặc chưa chín Sự tổn thương lạnh trênnhãn làm cho vỏ trái bị hóa nâu đen Lạnh quá mức cũng ảnh hưởng sinh lýtrái chín qua biểu hiện giảm đỉnh hô hấp và sinh ra nhiều phân đoạn hô hấp,mặt khác còn ảnh hưởng giảm hương vị Tổn thương lạnh còn làm cho tráichín không đều hoặc không chín
Bảo quản bằng khí quyển điều chỉnh CA (Controllled Atmosphere)thường được sử dụng kết hợp với tồn trữ lạnh Phương pháp này đòi hỏi mộtphòng lạnh với một van mở để theo dõi nồng độ CO2 và O2, một bộ phận lọc
Trang 13khí CO2 hoặc O2 Phòng bảo quản giống như phòng lạnh và kín để giữ chothành phần các chất khí bên trong phòng đúng như yêu cầu Có thể tạo đượcđiều kiện CA bằng cách lọc khí N2 từ N2 lỏng hoặc từ thiết bị tách N2 Cónhiều phương pháp loại bỏ CO2 đã được áp dụng như cho khí CO2 qua nướchoặc nước vôi, dùng than hoạt tính Có thể làm tăng nồng độ CO2 bằng cáchthêm nước đá khô Gần đây, một số chất khí được tạo thêm vào đã được thửnghiệm như dùng khí CO để làm giảm sự biến màu và hiện tượng thối trái.(Hà Văn Thuyết và Trần Quang Bình, 2000).
Bảo quản bằng khí quyển điều chỉnh MA (Modified Atmosphere) là hệ
thống bảo quản rẻ, đơn giản hơn CA và thích hợp với khối lượng sản phẩmnhỏ Có thể áp dụng phương pháp MA trong quá trình tồn trữ, vận chuyển vàtrưng bày ở siêu thị với mục đích tiêu thụ tươi hay chế biến Trong phươngpháp này quả được giữ bên trong màng mỏng (plastic film) Tuy nhiên, phổbiến nhất là đóng gói sản phẩm bằng kỹ thuật MAP (Modified AtmospherePackaging) Việc áp dụng phương pháp MA có lợi hay hại phụ thuộc vào loạiquả, giống, độ chín sinh lý, thành phần khí, nhiệt độ và thời gian muốn tồntrữ
Phương pháp bảo quản bằng hóa chất người ta thường dùng các loạithuốc diệt vi sinh vật như thuốc diệt nấm (Benomyl, Topsin –M,Carbendazim, Thiabendazim, SO2, H2SO4…), thuốc diệt khuẩn (Flumequine),thuốc diệt côn trùng (Bromur Methyl), chất kiềm hãm sự chín (2,4D, GA3).Theo trích dẫn của Hà Văn Thuyết và Trần Quang Bình (2000); Trần MinhTâm (1996), để bảo quản nhãn tươi người ta thường áp dụng các phương pháptương tự như đối với việc bảo quản vải tươi Etienne Laville (1994) cho rằngnhãn và vải rất mẫn cảm với nhiệt độ thấp, thường xuất hiện hiện tượng tổnthương lạnh (vỏ trái bị hóa nâu) Nhãn có thể được bảo quản vài tuần ở 4oC,
ẩm độ tương đối là 90% và vải có thể bảo quản được 4-5 tuần trong túi PE
6-10oC, độ ẩm tương đối là 95%
Phương pháp bảo quản bằng chiếu xạ ứng dụng bức xạ các chất đồng vịphóng xạ trong công nghiệp thực phẩm, đặc biệt là để bảo quản đã có từ lâunhưng không được triển khai trong thương mại do đắt tiền, hiếm và do ngườitiêu dùng còn ngại (Hà Văn Thuyết và Trần Quang Bình, 2000; Trần MinhTâm, 1996)
Bảo quản bằng phương pháp sinh học được thiết lập trên việc ứng dụngcác mối quan hệ đối kháng giữa hai hay nhiều quần thể vi sinh vật Phươngpháp này ít được ứng dụng vì chưa hoàn thiện nhưng có nhiều triển vọngtrong tương lai (Nguyễn Văn Thoa, 1982)
Nhìn chung theo xu hướng phát triển sản xuất theo GAP, sản phẩmnhãn thường phải vận chuyển xa bằng xe lạnh, sau đó được bán ở các siêu thịhoặc tại các cửa hàng trái cây có thiết bị làm lạnh nên phương pháp bảo quảnlạnh cần được quan tâm và nghiên cứu
Trang 146 Nguồn gốc, xuất xứ của mô hình từ các đề tài/dự án đã được
nhóm nghiên cứu thực hiện và những kết quả nghiên cứu của các Viện, Trường.
Nguyễn Văn Kế, 2014 Cây ăn quả nhiệt đới, giống – kỹ thuật trồng và chăm
sóc một số cây đặc sản Nhà xuất bản Nông nghiệp
Bùi Xuân Khôi, Nguyễn An Đệ , Vũ Mạnh Hà và Lê Thị Chung 2011
Nghiên cứu quy trình canh tác nhãn xuồng hàng hóa theo Eurep GAP
ở tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Nguyễn Ngọc Mỹ, 2018 Tuyển chọn giống và kỹ thuật thâm canh nhãn năng
suất cao chất lượng ngon ở huyện Hòa Thành, Tây Ninh
Bùi Thị Mỹ Hồng, Trần Minh Trí và Nguyễn Minh Châu, 2002 Ảnh hưởng
của NAA và GA3 đến sự rụng trái, năng suất và phẩm chất nhãnxuồng cơm vàng Kết quả NCKHCN cây ăn quả Viện nghiên cứu cây
ăn quả miền Nam Nhà XB Nông Nghiệp TPHCM, 2002 Trang 259
250-Dương Minh, Lê Thị Xua và Nguyễn Thị Xuân Thu, 1996 Kết quả bước đầu
điều tra bình tuyển giống cây ăn trái (xoài, nhãn, măng cụt) tại Cần Thơ
và Sóc Trăng Trường Đại học Cần Thơ
Huỳnh Ngọc Tư, Võ Văn Sang, Mai Văn Trị và Bùi Xuân Khôi, 2003 Ảnh
hưởng của lượng nước tưới nhỏ giọt đến năng suất, thành phần năngsuất và phẩm chất của cây nhãn trên đất xám tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.Trong Kỷ yếu Hội thảo BVTV phục vụ chủ trương chuyển đổi cơ cấucây trồng ở các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên Tổ chức tại Vũng Tàu24-25/6/2003 Trang 192-195
Khoi B X and Tri M V., 2003 Fertilizer recommendations for sustainable
production of orchard fruit in the South of Vietnam Extension Bulletin
535 – Food and Fertilizer Technology Center
Lê Độ, Huỳnh Văn Thành và Nguyễn Văn Hòa, 2003 Kết quả điều tra bệnh
hại trên nhãn tiêu da bò và đánh giá khả năng kháng thuốc của nấm
Phytophthora sp Trong điều kiện phòng Lab Kết quả NCKHCN cây
ăn quả Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam Nhà XB Nông NghiệpTPHCM, 2003 Trang 369-376
Phạm Ngọc Liễu và Nguyễn Văn Hùng, 1999 Chọn giống nhãn ở các tỉnh
Nam bộ Báo cáo hội nghị khoa học năm 1999 – Trung tâm cây ăn quảLong Định
Trần Thế Tục, 2001 Cây nhãn và kỹ thuật trồng Nhà xuất bản lao động – xã
hội, Hà Nội