SỞ KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ VIỆN SINH HỌC NHIỆT ĐỚI MÔI TRƯỜNG TỈNH LÂM ĐỒNG PHÂN VIỆN SINH THÁI, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO KHOA HỌC ĐIỀU TRA CƠ BẢN BẢO VỆ TÍN
Trang 1SỞ KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ VIỆN SINH HỌC NHIỆT ĐỚI MÔI TRƯỜNG TỈNH LÂM ĐỒNG PHÂN VIỆN SINH THÁI, TÀI NGUYÊN VÀ
MÔI TRƯỜNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO KHOA HỌC
ĐIỀU TRA CƠ BẢN BẢO VỆ TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC TRONG VÙNG BẢO TỒN THIÊN NHIÊN CÁT LỘC, HUYỆN CÁT TIÊN, TỈNH LÂM ĐỒNG
THÁNG 12 - 1998
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau một chặng đường nghiên cứu khoa học, 2 năm chưa phải là dài, nhưng cũng đã đến lúc cần phải báo cáo lại những kết quả của mình Trên hết tất cả những gì sẽ làm, những gì phải viết ra sau đây, điều đầu tiên mà chúng tôi muốn nói đó là một lời càm tạ Chúng tôi xin được gởi tới Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường tỉnh Lâm Đồng, cùng với các cơ quan ban ngành trong tỉnh đã tạo điều kiện cho chúng tôi có cơ hội tham gia nghiên cứu về vùng Cát Lộc Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ tận tình của Uỷ Ban Nhân Dân huyện Cát Tiên, Ban Quản lý rừng đặc dụng tê giác Cát Lộc, Hạt Kiểm lâm Nhân dân huyện Cát Tiên, về tất cả những gì mà các đồng chí đã tham gia khảo sát trên thực địa Những ngày vừa qua chúng tôi đã đi xuống các buôn làng, đi đến những cánh rừng thật xa, làm sao mà có thể quên được tình cảm của bà con dân tộc thiểu số Châm Mạ trong vùng thôn 5b, thôn 4, xã Lộc Bắc,
bà con S’tiêng của thôn 3 và xã Đồng Nai, làm sao có thể quên được hương vị ngọt ngào hương lúa mới và say nồng của mùi rượu cần và những chiếc vòng tay bằng đồng óng ánh Chúng tôi xin được cảm ơn Uỷ ban Nhân Dân các xã: Phước Cát 1, và 2, xã Tiên Hoàng, xã Gia Viễn, xã Đăng Hà, xã Thống Nhất,
xã Đồng Nai Đi đến đâu chúng tôi đều nhận được những tình cảm rất chân thành của cộng đồng Để có thể hoàn chỉnh báo cáo này, chúng tôi vô cùng cảm ơn Ban lãnh đạo Vườn Quốc gia Cát Tiên, Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên - WWF Đông Dương, xin cảm ơn tổ chức CARE quốc tế tại Việt Nam và các cơ quan bạn đã cùng chúng tôi phối hợp khảo sát và thực hiện nghiên cứu này Chúng tôi luôn nhận thấy rằng “một cây làm chẳng nên non” do đó không có những sự giúp đỡ như đã nói trên thì không thể có một kết quả nghiên cứu như ngày hôm nay.
Vì sự nghiệp bảo tồn tính đa dạng sinh học của thiên nhiên Việt Nam, vì sự phát triển của cộng đồng Việt Nam, một lần nữa chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và tình cảm nồng ấm nhất đến với tất cả các cơ quan
và các cá nhân có liên quan.
Thay mặt những người thực hiện
Trang 3PGS Đoàn Cảnh Phó Viện Trưởng Viện Sinh học Nhiệt Đới
Trang 4TỔ CHỨC THỰC HIỆN
ĐỀ TÀI: ĐIỀU TRA CƠ BẢN VỀ TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC TRONG
VÙNG BẢO TỒN THIÊN NHIÊN CÁT LỘC, HUYỆN CÁT TIÊN, TỈNHLÂM ĐỒNG
CƠ QUAN CHỦ QUẢN:
SỞ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH LÂM ĐỒNG.
CN LÊ BỬU THẠCH (VIỆN SINH HỌC NHIỆT ĐỚI).
NGUYỄN ANH HOA (SỞ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH LÂM ĐỒNG ).
CÁC CƠ QUAN THAM GIA CHÍNH:
Trang 5- VIỆN SINH HỌC NHIỆT ĐỚI- TRUNG TÂM KHOA HỌC TỰ NHIÊN VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA.
- VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT- TRUNG TÂM KHOA HỌC
TỰ NHIÊN VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA.
- SỞ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH LÂM ĐỒNG.
- VIỆN ĐỊA LÝ - TRUNG TÂM KHOA HỌC TỰ NHIÊN VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA.
- KHOA SINH HỌC - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI.
- BỘ MÔN THỰC VẬT, SINH MÔI- ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN
Phan Kế Lộc PGS.PTS Đại Học Quốc Gia Hà Nội.
Nguyễn Tiến Hiệp PTS Viện Sinh Thái, Tài Nguyên Sinh Vật.
Trang 6Trần Văn Thuỵ PTS Viện Địa Lý.
Vũ Ngọc Quang KS Viện Sinh Thái, Tài Nguyên Sinh Vật.
Lệ Xuân Cảnh PTS Viện Sinh Thái, Tài Nguyên Sinh Vật.
Hoàng Minh Khiên PTS Viện Sinh Thái, Tài Nguyên Sinh Vật.
Lê Đìanh Thuỷ PTS Viện Sinh Thái, Tài Nguyên Sinh Vật.
Hồ Thu Cúc PTS Viện Sinh Thái, Tài Nguyên Sinh Vật.
Hoàng Vũ Trụ PTS Viện Sinh Thái, Tài Nguyên Sinh Vật.
Dương Tiến Dũng GV Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh.
Nguyễn Phi Ngà CN Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh.
Đoàn Cảnh PGS PTS Viện Sinh Học Nhiệt Đới.
Trương Quang Tâm KS Viện Sinh Học Nhiệt Đới.
Nguyễn Trần Vỹ CN Viện Sinh Học Nhiệt Đới.
Trần Việt Dũng CN Viện Sinh Học Nhiệt Đới.
Lưu Hồng Trường CN Viện Sinh Học Nhiệt Đới.
Diệp Đình Phong CN Viện Sinh Học Nhiệt Đới.
Phạm Văn Miên KSC Viện Sinh Học Nhiệt Đới.
Trang 7Đỗ Bích Lộc CN Viện Sinh Học Nhiệt Đới.
Thái Minh Trang CN Viện Sinh Học Nhiệt Đới.
Nguyễn Thị Mai Linh CN Viện Sinh Học Nhiệt Đới.
MỤC LỤC
Trang 8Lời mở đầu 1
PHẦN I: KHÁI QUÁT VỀ CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN CỦA KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN CÁT LỘC. 1 Vị trí địa lý 5
2 Đặc điểm địa chất 5
3 Đặc điểm địa hình- địa mạo 6
4 Đặc điểm khí hậu 7
5 Đặc điểm thổ nhưỡng. 5.1 Đất phù sa 11
5.2 Các loại đất đỏ vàng 12
5.3 Đất đen 13
5.4 Đất dốc tụ 13
PHẦN II: HIỆN TRẠNG KINH TẾ XÃ HỘI 1 Giới thiệu nguồn gốc sự hình thành và phát triển. 1.1 Huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng 15
1.2 Xã Đak Lua, Huyện Tân Phú, Tỉnh Đồng Nai 24
1.3 Huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước 25
1.4 Xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng 27
Trang 92 Dân số và phát triển cộng đồng
2.1 Vùng đệm huyện Cát Tiên 28
2.2 Vùng đệm huyện Bảo lâm, tỉnh Lâm Đồng, xã Lộc Bắc 43
2.3 Vùng đệm huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước 44
3 Các hình thức kiếm sống và canh tác sử dụng đất 3.1 Chủ quyền đất 51
3.2 Sản xuất lương thực- lúa 52
3.3 Trồng cây lương thực khác 59
3.4 Trồng cây công nghiệp 60
3.5 Chăn nuôi 63
3.6 Hình thức sử dụng đất ở xã Lộc Bắc 64
4 Tình hình giáo dục và y tế 4.1 Giáo dục 65
4.2 Y tế 68
PHẦN III: ỨNG DỤNG HỆ THỐNG TIN ĐỊA LÝ CHO
LOẠT BẢN ĐỒ THUỘC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN CÁT LỘC.
1 Xây dựng bản đồ địa mạo- thổ nhưỡng khu
bảo tồn thiên nhiên Cát Lộc tỷ lệ 1:25.000
Trang 101.1 Cơ sở dữ liệu 71 1.2 Phương pháp nghiên cứu 71 1.3 Nội dung bản đồ địa mạo thổ nhưỡng khu
bảo tồn thiên nhiên Cát Lộc tỉ lệ 1:25.000 73
2 Xây dụng bản đồ thảm thực vật khu bảo tồn thiên nhiên
Cát Lộc tỉ lệ 1:25.000
2.1 Cơ sở khoa học, nguyên tắc của phương pháp phân tích và
thành lập bản đồ thảm thực vật 76 2.2 Phương pháp thành lập bản đồ thảm thực vật Cát Lộc 78
3 Thành lập bản đồ quần cư động vật khu bảo tồn
thiên nhiên Cát Lộc tỉ lệ 1:25.000
3.1 Cơ sở khoa học, nguyên tắc của phương pháp phân tích và
thành lập bản đồ quần cư động vật (map of animal communities) 79 3.2 Khung phân loại các quần cư động vật trong chú giải bản đồ 82
4 Bản đồ dự báo khu phân bố Tê giác một sừng khu bảo tồn
tự nhiên Cát Lộc tỉ lệ 1:25.000
4.1 Nguyên tắc và phương pháp 84 4.2 Nội dung bản đồ 86
Trang 115 Xây dựng bản đồ sinh thái cảnh quan khu bảo tồn
thiên nhiên Cát Lộc tỉ lệ 1:25.000
5.1 Cơ sở tài liệu 87
5.2 Phương pháp nghiên cứu 87
5.3 Nội dung bản đồ sinh thái cảnh quan khu bảo tồn thiên nhiên Cát Lộc tỉ lệ 1:25.000 89
PHẦN IV: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA GIỚI THỰC VẬT Ở KHU BẢO TỒN TỰ NHIÊN CÁT LỘC. 1 Nhiệm vụ nghiên cứu 93
2 Thời gian, tư liệu và phương pháp nghiên cứu. 2.1 Thời gian 93
2.2 Phương pháp xây dựng bảng “Trích yếu thực vật Cát Lộc” 93
2.3 Phương pháp nghiên cứu cấu trúc 94
3 Kết quả nghiên cứu. 3.1 Bản “Trích yếu thực vật Cát Lộc” 95
3.2 Về thành phần loài thực vật 95
3.3 Thảm thực vật 100
4 Kết luận 122
Trang 125 Một số kiến nghị 124
PHẦN V: TÍNH ĐA DẠNG CỦA CÁC LOẠI HÌNH
SINH THÁI CẢNH QUAN
1 Đánh giá chung 126
2 Các đơn vị cung cấp và phụ loại sinh thái cảnh quan.
2.1 Loại sinh thái cảnh quan phát triển trên các bề mặt
đỉnh cao nguyên Bazan 127 2.2 Loại hình sinh thái cảnh quan phát triển trên các sườn
cao nguyên Bazan 127 2.3 Loại hình sinh thái cảnh quan phát triển trên cao nguyên
đá phiến sét 128 2.4 Loại hình sinh thái cảnh quan phát triển trên các núi đá
phiến sét 128 2.5 Loại hình sinh thái cảnh quan phát triển trên các đồi
có sườn phức tạp 129 2.6 Loại hình sinh thái cảnh quan phát triển trên các
đồi xen thung lũng hẹp 130
Trang 132.7 Loại hình sinh thái cảnh quan phát triển trên các
đồi xen thung lũng rộng 131
2.8 Loại hình sinh thái cảnh quan phát triển trên các máng trũng có dòng chảy thường xuyên 131
2.9 Loại hình sinh thái cảnh quan phát triển trên các máng trũng có dòng chảy tạm thời 132
2.10 Loại hình sinh thái cảnh quan phát triển trên phù sa sông suối 133
3 Kết luận 133
PHẦN VI: TÍNH ĐA DẠNG KHU HỆ ĐỘNG VẬT 1 Nội dung nghiên cứu 135
2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 135
3 Nghiên cứu khảo sát khu hệ thú. 3.1 Mục tiêu nghiên cứu 138
3.2 Phương pháp Nghiên cứu 138
3.3 Kết quả nghiên cứu khu hệ thú 140
3.4 Các giải pháp bảo vệ nguồn lợi thú rừng 152
4 Nghiên cứu khảo sát khu hệ chim.
Trang 144.1 Phương pháp nghiên cứu 153 4.2 Kết quả nghiên cứu 155 4.3 Một số kết luận và kiến nghị 163
5 Nghiên cứu khảo sát khu hệ bò sát và ếch nhái.
5.1 Phương pháp nghiên cứu bò sát, ếch nhái 164 5.2 Kết quả nghiên cứu bò sát ếch nhái 165 5.3 Kết luận 170
6 Nghiên cứu khảo sát khu hệ côn trùng.
6.1 Phương pháp điều tra con trùng 171 6.2 Kết quả nghiên cứu 172 6.3 Kết luận và kiến nghị 174
PHẦN VII: ĐẶC ĐIỂM CÁC LOẠI HÌNH THUỶ VỰC
VÀ KHU HỆ THUỶ SINH VẬT
1 Phương pháp khảo sát và phân tích 176
2 Đặc điểm các loại hình thuỷ vực 178
3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Khu hệ phiêu động vật và động vật đáy 179 3.2 Khu hệ cá 184
Trang 154 Kết luận, đề nghị 186
PHẦN KẾT: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 16LỜI MỞ ĐẦU
Theo truyền thuyết: trên vùng đất nổi tiếng ven sông Đồng Nai trước đây, (nay thuộc về thôn Trung Hưng, xã Gia Viễn), giữa vùng sông nước trắng mênh
Trang 17mông nổi lên một cồn cát với những bãi cát vàng mịn và óng ánh, rất đẹp Xung quanh là những cánh rừng già cây cao thẳng tắp, cành là đan quyện vào nhau như một cung điện trần gian Chuyện kể lại rằng: tại nơi đó trong những ngày đẹp trời, các nàng tiên trên cung đình thường kéo nhau đi xuống để tắm và vui đùa, và vào rừng cây dầu hái quả, hái lộc Người trần thế thường gọi đó là Cát Tiên, cánh rừng dầu bên sông có bải cát vàng ấy vì thế cũng gọi là Cát Lộc “Lộc” là thứ hoa thơm quả lạ mà thiên nhiên ban cho con người.
Cái “Lộc” đó chính là giá trị về tính đa dạng sinh học của Cát Tiên mà khôngđâu có thể sánh được
Chỉ nói về thời gian khoảng mươi mười lăm năm gần đây thôi, trước khi cócác phong trào di dân đi làm kinh tế mới của các tỉnh Ninh Bình và Bình Định thìtoàn bộ cánh đồng lúa nước rộng thẳng cánh có bay của xã Gia Viễn, xã TiênHoàng và xã Nam Ninh là cánh rừng nguyên sinh cây Sao Dỗu trên nền đất ngậpnước theo mùa Những đơn vị bộ đội đầu tiên đến đây làm kinh tế mới lúc ấy cònphải bơi xuồng rất vất vả mới vượt qua được cánh rừng già cổ thụ mà ánh nắngkhông thể nào xuyên qua được Ngày nay ngay trung tâm của xã Gia Viễn còn lưugiữ lại một quầ thể cây Sao Dỗu với 39 cây mà đã được đăng ký chính thức vào sổsách của Uỷ ban để lưu giữ lại cho con cháu mai sau
Loài sinh vật tiền cổ Tê giá một sừng (Rhinoceros sondaicus) là một loài thú
to lớn có bộ da dày như tấm áo giáp và vô cùng nhút nhát đã có mặt trên hành tinhnày từ 60 triệu năm qua Chúng là một loài thú quý hiếm vào bậc nhất trên thế giớ
và cũng là loài có nguy cơ bị đe doạ diệt vong cao nhất
Hiện nay loài Tê giác một sừng chỉ còn hai chủng quần duy nhất tồn tại đạidiện cho hai phân loài khác nhau (50-60 cá thể ở vườn Quốc Gia Ujung Kuloc Gia
Va, Indonesia và 5-7 cá thể ở Việt Nam) Trước đây chúng có mặt ở 14 tỉnh khắpcác miền Nam- Bắc nước ta Ngày nay, cũng như cái “Lộc” của trời cho - loài Têgiác một sừng Cát Lộc đã vượt lên trên mọi biến cố thay đổi trời đất để sống sót vàtrở nên duy nhất hiện nay vẫn cư trú trên vùng rừng Đặc dụng Cát Lộc Cát Lộc sẽcòn bao nhiêu cái “Lộc” nữa nếu chúng ta để “hoá thạch sống” của thời tiền sử đóbiến mất Đến lúc đó thì chúng ta sẽ rất hối tiếc nhưng cũng là vô ích
Trang 18Đa dạng sinh học là một phạm trù bao trùm toàn bộ các thành phần tạo ra vàduy trì một hệ sinh thái đa dạng và phong phú Sự sống trên trái đất phụ thuộc vàotính đa dạng sinh học để duy trì những chức năng sinh thái, để điều hoà nguồn nước
và năng lượng, điều hoà khí hậu, sự màu mỡ của đất đai và những nguồn tài nguyên
có thể canh tác cho con người Do đó công tác bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên của ViệtNam là quan trọng đối với đất nước Việt Nam nói riêng và đối với toàn cầu nóichung
Sau nhiều thập kỷ chiến tranh và hoạt động kinh tế của con người, một bộphận không nhỏ tài nguyên sinh học của Việt Nam đã bị tàn phá hoặc khai thác quámức Hởu quả của nó không chỉ có nguy cơ ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tếtrong tương lai vì cạn kiệt dần một nguồn tài nguyên quý giá, mà nhiều giá trị vănhoá tinh thần của dân tộc vốn rất đa dạng cũng bị mai một, môi trường sống bị đảolộn
Khu rừng Đặc dụng Cát Lộc cũng không tránh khỏi cái nguy cơ đe doạ ấy
Ngày nay, theo quyết định mới nhất của Thủ Tướng Chíng phủ số 1090/ TTg, ngày 5 tháng 12 năm 1998 phê duyệt dự án đầu tư xây dựng Vườn Quốc GiaCát Tiên mở rộng Trong đó, khu rừng Đặc dụng Tê giác Cát Lộc là bộ phận rấtquan trọng trong cấu thành của Vườn Quốc Gia Cát Tiên Những bước đầu tiên đểtiến hành cơ sở xây dựng dự án này thì đã bắt đầu có từ những năm 1991 - 1992.Cũng vào thời gian này loài Tê giác một sừng nổi tiếng Cát Lộc đã được giới khoahọc trong nước và thế giới quan tâm nhiều hơn Lúc này phong trào di dân tự do từcác tỉnh phía Bắc vào trong vùng Cát Tiên đang ở thời điểm cao trào, còn nhữngngười làm kinh tế mới thì đang hoàn thiện cuộc sống mới của mình ngày càng “ổnđịnh hơn” Loài Tê giác một sừng Cát Lộc quý hiếm thực sự b5 đe doạ, không cònđất bùn lầy để tắm
QĐ-Trong thời gian chờ đợi sự ra đời của một dự án lớn và quan trọng như thếnày, các nhóm cộng đồng dân cư trong vùng Cát Tiên - Cát Lộc hàng ngày vẫn cần
có đủ ăn, đủ mặc để mà phát triển Vấn đề nhu cầu lượng thực và an toàn lươngthực cho người nghèo trong đó chủ yếu là người dân tộc thiểu số Châu Mạ vàS’tiêng trong vùng, vấn đề đất canh tác nộng nghiệp cho người Tày và Nùng ởLạng Sơn mới di cư đến, vấn đề vốn dành cho các chương trình phát triển kinh tếtrang trại và hệ thống canh tác nông nghiệp bền vững của người dân xã Gia Viễn,
Trang 19vấn đề khuyến nông canh tác trên đất dốc và thay đổi cơ cấu cây trồng của xãPhước Cát 1, tất cả những vấn đề ấy vẫn là một gánh nặng lên khu rừng Đặc dụng
Tê giác Cát Lộc Cũng trong thời gian chở đợi này thì số trẻ em dân tộc của thôn 3
và 4 xã Phước Cát 2 vẫn không đến trường học, không biết chữ, còn người dân tộcthôn 5b xã Tiên Hoàng vẫn phá thêm rừng trồng cây điều hoàn thành chỉ tiêu kếhoạch định canh định cư của địa phương
Ngày 22 tháng 12 năm 1995 theo quyết định số 845/TTg, Chính phủ cũng đãphê duyệt chính thức “Kế họch hành động bảo vệ Đa dạng Sinh học của Việt Nam -gọi tắt là BAP” Có thể nói, Bap ra đời như một luồng gió mới tăng thêm sức mạnhcho các nhà khoa học mạnh dạn đầu tư vào việc nghiên cứu và bảo vệ tính Đa dạngSinh học phong phú và đặc sắc của Việt Nam trong khuôn khổ phát triển bền vững
BAP đã đến đúng vào lúc mà thời điểm bức xúc nhất trong công việc bảo tồntính đa dạng sinh học của Cát Tiên - Cát Lộc cần phải có những bước đi kịp thờivới dòng phát triển kinh tế, bởi vì nếu nguồn tài nguyên thiên nhiên được bảo tồnthì sẽ là cơ sở cho việc tiếp tục phát triển Những cánh đồng lúa nước mới khaihoang trên vùng Bàu chim xã Phước Sơn (20ha) và khu vực Bàu Sen xã Gia Viễn(6 ha) liệu có đảm bảo một cuộc sống lâu dài cho người dân trong vùng haykhông? Thế còn chương trình hành động bảo vệ tính đa dạng sinh học trong đó cómột quy hoạch bảo tồn đất ngập nước cho Tê giác và các loài chim thú khác sinhsống sẽ được người dân tiếp đón như thế nào? Việc trồng cây Điều trên vùng đất
đó Bazan của thôn 5b xã Tiên Hoàng, thôn 4 xã Phước Cát 2 có phải là một cứucánh duy nhất cho việc ổn định đời sống người dân hay là thay vào đó một kếhoạch tái định cư, cùng với quy hoạch vùng sản xuất và đầu tư vào cơ sở hạ tầng,tăng cường giáo dục và y tế vừa đẩy mạnh được đời sống của cộng đồng vừa tránhcho rừng Cát Lộc một nguy cơ đe doạ đốt nương làm rẫy
Huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng vừa kỷ niệm 10 năm hình thành và pháttriển (1987 - 1997), cũng là 10 năm báo cáo kết quả các chương trình khai hoangđồng ruộng biến những vùng đất ngập trũng theo mùa hoang vu thành cánh đồngmàu mỡ Những vùng đồi cây Điều nay đã được 5-6 tuổi, khép tán hoàn toàn khôngthể canh tác trồng lúa xen Điều nữa, vậy thì người dân sẽ cần khai hoang them baonhiêu đồi đất nữa để trồng lúa rẫy, để đảm bảo có cái ăn trong khi mà hạt điểu vẫnchưa hứa hẹn một tương lai giàu có như mong muốn Một kế hoạch kết hợp hài hoàgiữa Bảo tồn và Phát triển trong vùng thực sự là một nhu cầu không thể thiếu được
Trang 20Phân viện Sinh thái Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh cómặt trên vùng Cát Tiên Cát Lộc từ những năm 1986 Chúng tôi có thể hiểu rất rõnhững dự án đầu tư của Quốc tế và Nhà nước ta nhằm bào tồn vùng Đông Nam Bộrồi cũng sẽ đến Nhưng chúng ta không thể ngồi chờ, khi tài nguyên đa dạng sinhhọc - vùng Cát Tiên - Cát Lộc đã và đang chịu áp lực ngày càng tăng đến mức nếu
không kịp thời thì những gì cần bảo tồn sẽ không còn nữa; một sinh vật bị tuyệt
chủng sẽ không bao giờ có trở lại được Trong chiến tranh loài Tê giác một sừng
Cát Lộc đã không bị huỷ diệt bời bom đạn và chất độc hoá học Nhưngngày nay sựphát triển kinh tế không kết hợp đồng bộ với bảo tồn thiên nhiên sẽ là một công cụhuỷ diệt rất dễ dàng xoá sổ vĩnh viễn loài Tê giác một sừng này Giống như loài Têgiác hai sừng trước kia nếu chúng ta làm thay đổi hoặc làm biến mất nơi cư trú vàcác điểu kiện sinh sống của chúng Phá rừng đồng nghĩa với việc làm mất đi sự đadạng sinh vật Bảo vệ, giữ gìn và tôn tạo vốn rừng là một hành động tích cực vàhữu hiệu nhất đối với việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ cuộc sống củamuôn loài, trong đó có con người
Nhằm mục tiêu bảo vệ hệ sinh thái đặc thù của Cát Lộc- Cát Tiên, bảo vệ các
hệ sinh thái nhạy cảm đang bị đe doạ thu hẹp bởi hoạt động kinh tế của người dân,nhằm bảo vệ một bộ phận của Đa dạng sinh học đang bị con người khai thác quámức hay bị lãng quên, và cũng là để phát huy và phát hiện những giá trị sử dụngcủa các bộ phận đa dạng sinh học trên cơ sở phát triển bền vững các giá trị tàinguyên phục vụ cho các mục tiêu kinh tế của toàn vùng Phân viện Sinh thái Tàinguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với nhiều tập thể và cơquan khoa học khác, theo yêu cầu của Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường Lâm
Đồng thực hiện đề tài “Điều tra cơ bản bảo vệ tính đa dạng sinh học trong vùng
bảo tồn thiên nhiên Cát Lộc, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng”nhằm tiến tới các
mục tiêu cụ thể “Kiểm kê, đánh giá toàn diện tính Đa dạng sinh học vùng Cát
Lộc, bao gồm đa dạng về nguồn gen, đa dạng về loài động thực vật, đa dạng về các loại hình cảnh quan tiêu biểu, xác định các đối tượng cần được bảo tồn khẩn cấp, các hệ sinh thái cần được hồi phục, giữ gìn và giáo dục cho cộng đồng tích cực bảo vệ tài nguyên môi trường”.
Đề tài tiến hành trong hai năm, bắt đầu từ tháng 3 năm 1997 Nhưng do kinhphí được cấp muộn, đề tài thực sự được triển khai từ tháng 9 năm 1997 Trong năm
1997 đề tài đi theo hướng đại cương, mang tính chất kiểm kê và đánh giá chungtoàn diện tính đa dạng sinh học của vùng Trong năm 1997 đề tài đã xác định những
Trang 21nhóm đối tượng cần tập trung vào nghiên cứu thêm và xáx lập một kế hoạch choviệc nghiên cứu trong gia đoạn hai Năm 1998 đề tài tập trung vào nghiên cứuchuyên sâu những nhóm đối tượng chính đó là Tê giác một sừng, Gà so cổ hung, đềtài cũng đã hoàn thành một chuyên đề áp dụng kỹ thuật GIS trong việc quy hoạch
và bảo tồn tính đa dạng sinh học của Cát Lộc
Báo cáo cuối cùng lần này là kết quả tổng hợp của quá trình nghiên cứu gầnhai năm triển khai trên thực địa và phân tích trong phòng thí nghiệm Quá trìnhnghiên cứu triển khai thực hiện đề tài có nhiều thuận lợi do việc triển khai thực hiện
dự án Bảo tồn Vườn Quốc Gia Cát Tiên đã bắt đầu đi vào thực hiện Trên thực tếthì những thông tin thu thập được tích luỹ từ nhiều nguồn khác nhau và cũng có rấtsớm do tác giả đã có điều kiện tham gia thiết kế dự án “ Bảo vệ rừng và phát triểnkinh tế nông thôn” của WB từ cuối năm 1995 - 1996 Báo cáo này cũng mang tínhchất tổng hợp từ nhiều chuyến khảo sát mang tính chất liên ngành và đa chức năng,nhưng cùng chung một địa bàn và do đó cùng phối hợp thực hiên Những thànhviên của đoàn khảo sát và những tác giả phần nhiều là những người có hoạt độngsâu và rộng trong lĩnh vực bảo tồn tính đa dạng sinh học với kinh nghiệm nhiềunăm ngay trên địa bàn này, cho nên lượng thông tin được sử dụng có cả chiều sâu
và bề rộng
Báo cáo gồm 6 phần chính, trong đó đề tài đã làm thêm một hạng mục ngoài
dự kiến đó là thành lập bản đồ dự báo vùng xuất hiện có thể có theo tần suất khácnhau của Tê giác một sừng Cát Lộc Có những phần mà đề tài đã phải bắt đầu từ rấtsớm và kết thúc cũng rất muộn vài ngày trước khi hoàn thành báo cáo cuối cùng: ví
dụ như phần Báo cáo hiện trạng kinh tế xã hội, và phần nghiên cứu chuyên sâu về
Tê giá một sừng
Đề tài nghiên cứu này được tiến hành khi dự án Bảo tồn Vường Quốc gia CátTiên chưa đi vào hoạt động Nay khi hoàn thành báo cáo cuối cùng thì cũng là lúctoàn vùng rừng Đặc dụng Tê giác Cát Lộc đã đi vào dự án nêu trên với những kếtquả đáng lưu ý về tính mới mẻ và cập nhật của mình Dộu chưa được nhìn thấyngay những kết quả qua áp dụng thực tiễn của đề tài, nhưng với sự quan tâm sâusắc và chỉ đạo chặt chẽ của lãnh đạo tỉnh và của Sở Khoa học Công nghệ và Môitrường chúng ta tin chắc rằng tính đa dạng sinh học của khu rừng đặc dụng Tê giácCát Lộc sẽ được bảo vệ bằng những cố gắng vượt bậc và rất sớm trong việc thực
Trang 22hiện “kế hoạch hành động Đa dạng Sinh học của Việt Nam và trên toàn cầu” của
lãnh đạo và nhân dân tỉnh Lâm Đồng
Trang 23PHẦN I:
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
Trang 24PHẦN I:
KHÁI QUÁT VỀ CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN CỦA KHU BẢO TỒN THIÊN
NHIÊN CÁT LỘC
1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ:
Trang 25Khu bảo tồn thiên nhiên Cát Lộc nằm trong khu vực mang tính chất chuyểntiếp cả về lịch sử phát triển cũng như về điều kiện tự nhiên, từ vùng núi TâyNguyên- cực Nam Trung bộ sang đồng bằng Nam Bộ Khu vực này phía Bắc giápvới cao nguyên Đắc Nông, phía Đông giáp với cao nguyên Di Linh, phía Tây vàNam tiếp giáp với vùng Đông Nam Bộ.
Như vậy có thể phác họa cấu trúc địa chất của khu vực này như sau: xưa kiađây là vùng đồng bằng do sông bồi đắp phù sa lên trên nền đá gốc sa - diệp thạchđại trung sinh có nguồn gốc trầm tích biển Trong kỷ đệ tứ, khu vực phía Đông củađồng bằng này bị lôi cuốn vào vận động tạo sơn, hàng loạt núi nhỏ được hình thành
từ nền đá gốc này Trong khi đó phần còn lại tụt sâu xuống đã hình thành nên mộtvịnh biển và được sông Mê Kông vận chuyển một lượng phù sa khổng lồ để bồiđắp nên một châu thổ sông Mê Kông rộng lớn ngày nay Đồng thời với vận độngnâng lên, sụt võng thì các hoạt động phun trào dung nham qua các khe nứt kiến tạo
đã hình thành nên một số dãy đồi núi trên nền đá Bazan Dung nham còn chảy trànlên một số vùng có địa hình thấp tạo nên lớp bọt đá bazan mỏng (vùng Định Quán)
2.2 Đá nền:
Trang 26Là các loại đá trầm tích tuổi Jura trung, đá phun trào bazan tuổi Neogen vàmột ít trầm tích bỏ rời kỷ đệ tứ.
2.2.1 Đá trầm tích tuổi Jura:
Diện lộ 18.557 ha, chiếm hơn 50% diện tích tự nhiên khu vực nghiên cứu
Là thành phần cơ bản của đá nền trong khu vực, hiện diện phổ biến khắp cácsườn thung lũng và các vùng đất ngập trong khu vực Đá này là nền móng của khuvực nhưng bị phủ một lớp phong hoá nên chỉ lộ ra ở các vách lòng sông hoặc trêncác đồi cao Đá có màu thay đổi, phân lớp mỏng, mức độ phong hoá cao Đất trên
đá trầm tích có màu đỏ vàng hoặc vàng với những đặc điểm thay đổi về vùng cơgiới, độ phì tuỳ thuộc đá là sét hay là cát, đô dốc, độ bao phủ cây rừng
2.2.2 Đá phun trào bazan Neogen:
Diện lộ 11.725 ha chiếm hơn 37% diện tích tự nhiên Đá này thuộc thốngPlioxen, phân bố rộng rãi trên các bề mặt đỉnh của toàn vùng ở những vùng thấpchủ yếu là baxan kiềm ( hay còn gọi là bazan trẻ) thành phần chủ yếu là olivin,andezittobazan, đá tuf vụn thuỷ tinh núi lửa, bazan bọt có chứa lẫn nhiều tảng bomnúi lửa ậ những vùng cao thường hiện diện đá bazan tholeit (bazan cổ), khoáng tạo
đá chủ yếu là Plagioclase, Pyroxen, không hoặc chứa ít Olivin, kiến trúc tinh vi Đábazan có màu xám đen, cấu trúc tinh vi, bazan trẻ có hạt thô hơn Đá bazan dễ bịphong hoá tạo đất đỏ hoặc đất nâu rấy đặc trưng, có độ phì cao
2.2.3 Tầm tích bỏ rời đệ tứ:
Phân bố rộng rãi ở các vùng thung lũng của khu vực thành một dãy hẹp dọctheo sông Đồng Nai hoặc ở những nơi là hội tụ của những dòng suối Độ dày củalớp trầm tích này dao động trong khoảng từ 0,5m - 2m Thành phần chủ yếu là cát,sỏi, sạn, đôi nơi cũng có thể sét, bột, bùn lẫn mùn bã thực vật Đá có màu vàng nhạtđến sẫm, tạo nên đết nhẹ, chua, độ phì kém
Ngoài ra còn các trầm tích nguồn gốc deluvi-eluvi tồn tại dưới dạng vò phonghoá
Trang 273 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH - ĐỊA MẠO:
ở đây, quá trình xâm thực bào mòn diễn ra tương đối mạnh, tạo thành kiểu địahình xâm thực bào mòn Đặc trưng của kiểu địa hình này là các dãy đồi cao kéo dài
có đỉnh bằng, sườn thoải với độ cao trung bình 300 - 400m Quá trình địa mạothống trị là bào mòn rửa trôi bề mặt và xâm thực sâu của các sông suối
Địa hình của Khu bảo tồn gồm các dạng địa hình bình sơn nguyên hoặc lànúi mặt bằng Địa hình khu vực thấp dần từ Bắc xuống Nam, bề mặt địa hình có độdốc không lớn, cấp độ dốc >250 thường trùng với bề mặt sườn thung lũng Phầncòn lại chủ yếu là các bề mặt cao nguyên có độ dốc thường từ 8 - 150 Mức độ phâncắt địa hình dọc dao động từ 40 - 180m/km2 Mức độ chia cắt ngang của địa hình từ0,5 - 1,5 km2 Có thể phân ra các dạng chính như sau:
- Từ 100 - 150m: Phân bố ở vùng hạ lưu, chủ yếu là bề mặt của các đầm lầy
- Từ 250 - 300m: là dạng bề mặt đỉnh đồi và dãy đồi dọc hai bờ sông ĐồngNai
- Từ 500 - 600m: đây là dạng cao nguyên với lớp phủ bazan, là dạng phổ biếntrong khu vực
3.2 Đặc điểm địa mạo:
Có thể chia ra ba nhóm sau:
Trang 283.2.1 Nhóm các dạng và yếu tố địa hình bề mặt đỉnh:
Bề mặt đỉnh có thể được bao phủ bởi lớp bazan hoặc bề mặt xâm thực bócmòn
+ Bề mặt phủ lớp bazan: có độ dày từ 450 - 700m, bề mặt lượn sóng, hơi lồi,
có lớp vỏ phong hoá dày, đôi nơi có vỏ boxit- laterit khá liên tục
+ Bề mặt xâm thực bóc mòn: phát triển dọc thung lũng dưới dạng đỉnh củađồi và dãy đồi cao 250 - 300m, có nguồn gốc xâm thực bóc mòn
3.2.2 Nhóm các dạng và yếu tố địa hình bề mặt sườn:
Phần lớn các sườn ở khu vực nghiên cứu có nguồn gốc xâm thực phá huỷ của
bề mặt cao nguyên bazan Tuỳ theo quá trình biến đổi trên sườn có thể chia thànhcác loại sườn bị biến đổi bởi sự rửa trôi bề mặt, bởi quá trình trọng lực chậm, bởiquá trình trọng lực nhanh hoặc bởi quá trình tích tụ
3.2.3 Nhóm dạng và yếu tố địa hình bề mặt đáy:
Gồm các dạng chủ yếu sau: Hệ thống thềm sông không phân chia, bề mặt đáyxâm thực, - tích tụ của dòng chảy thường xuyên, bề mặt đáy xâm thực - tích tụ dòngchảy tạm thời, bề mặt tích tụ nhiều nguồn gốc của các trũng rìa vòm phủ bazan
4 ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU:
4.1 Chế độ mưa:
Chế độ mưa của khu vự thể hiện rõ nét khí hậu nhiệt đới gió mùa, khôngđồng nhất về nhiều mặt vì ảnh hưởng của địa hình và chế độ gió Do ảnh hưởng củagió mùa Tây Nam, lại bị chắn bởi địa hình cao của Tây Nguyên, lượng mưa hàngnăm ở khu vục khá lớn Trị số trung bình năm đạt 2100 - 2300 mm, có nơi lên đến2500mm Đặc biệt ở hạ lưu có thể lên đến 2800 mm Chế độ mưa phân hoá theomùa rõ rệt Mùa mưa kéo dài 9 tháng ( từ tháng III đến tháng XI) (Xem giản đồ vũnhiệt) Mùa mưa tập trung đến 90% lượng mưa cả năm Tháng VII và tháng VIII cólượng mưa trung bình lớn nhất khoảng 300 - 400mm Có những ngày lượng mưa
Trang 29vượt quá 150mm Vào mùa ít mưa, lượng mưa trung bình chỉ đạt khoảng 10%lượng mưa trung bình năm Từ tháng XII đến tháng III lượng mưa trung bình dưới50mm (Số tháng kiệt theo giản đồ trạm Dak Nông là 1 tháng, theo trạm PhướcLong là 2 tháng).
Số ngày mưa trong năm trong khu vực đạt khoảng 150 - 190 ngày Các ngàymưa này tập trung chủ yếu vào tháng v đến tháng XI Trung bình hàng tháng cótrên 10 ngày mưa Tháng VIII, tháng IX có số ngày mưa cao nhất, trung bìnhkhoảng 22- 26 ngày Vào mùa ít mưa, số ngày mưa trung bình đạt dưới 10 ngày/
tháng Từ tháng XII đến tháng II trị số này thấp nhất khoảng 1-5 ngày/ tháng (xem bảng 1.1).
Bảng 1.1 trang 9
4.2 Chế độ nhiệt:
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22 - 250C Tháng IV, tháng V có trị số nhiệt
độ trung bình cao nhất, khoảng 270C trị số này thay đổi tuỳ theo sự phân hoá củađịa hình Nơi có địa hình cao nhiệt độ trung bình giảm Tháng XII, tháng I có nhiệt
Bảng 1.2: Nhiệt độ không khí trung bình tháng và năm ( 0C)
Đak
Nông
19.8 21.5 23.0 23.7 23.8 22.9 22.7 22.5 22.5 22.2 21.6 20.0 22.2
Phước 23.6 25.4 26.8 27.6 26.9 25.7 25.4 25.1 25.0 24.8 24.3 23.3 25.3
Trang 30độ ẩm trung bình giao động trong khoảng 70-80%.Tháng III có độ ẩm thấpnhất ,khỏang 70-75%.Như vậy khu vực khảo sát có khí hậu nóng ẩm của vùng Nam
Bộ Càng lên cao độ ẩm trung bình càng tăng.Tuy nhiên sự phân hóa giữa thời kỳ
ẩm và thời kỳ khô ở đây khà rõ nét so với các khu vực lân cận
4.4 Chế độ thuỷ văn:
Dòng sông chính Đồng Nai bắt nguồn từ dãy núi cao Nam trừơng Sơn chảyqua nhiều miền địa hình khác nhau, từ miền núi cao xuống miền cao nguyên đồngphẳng ở phần thựơng du chuyển tới vùng bình nguyên ,phần trung du lưu vực vàqua miền đồng bằng rồi đổ ra biển Mặc dù độ dốc lưu vực chỉ đạt 4,6%, nhưng trêndòng sông tạo bậc thang ,nhiều thác ghềnh
Các dãy núi cao trên dưới 2000m đựơc phân bố ở phía Đông Bắc và ĐôngNam khu vực có tác dụng như tấm bình phong ngăn chặn các luổng ẩm do gió mùaTây Nam đưa tới đã tạo ra vùng mưa lớn trên diện rộng trên khu vực Lựơng mưathừơng đạt 1800-2400mm tính trung bình cho khu vực
Cũng như yếu tố khí hậu, các dòng chảy trong khu vực có sự phân mùa rõ rệt:mùa lũ và mùa kiệt
-Mùa lũ:Từ tháng VII đến tháng XI ,chiếm 68,2-84,7%tổng lượng dòng chảytrong năm Ba tháng liên tục có dòng chảy lớn nhất là tháng VII, IX, X, lượng dòngchảy chiếm từ 48,8-67,5% tổng lượng dòng chảy toàn năm Lũ trong khu vực làdạng lũ đơn, một đỉnh, thời gian lũ kéo dài, biên độ lũ không cao
Trang 31-Mùa kiệt: Từ tháng VII đến tháng VI năm sau với lượng dòng chảy chỉchiếm 15,3-31,8% tổng lượng dòng chảy cả năm.
Sự phân mùa dòng chảy trên khu vực xuất hiện thòi kỳ khô hạn sâu sắc thểhiện các tỷ lệ dòng chảy trong năm Tháng có dòng chảy lớn nhất gấp 8-39 lần sovới tháng có dòng chảy nhỏ nhất
5.ĐẶC ĐIỂM THỔ NHƯỠNG:
Các loại đất chính chiếm diện tích lớn trong khu vực là:đát phù sa ,đất đỏvàng đất đen và đất dốc tụ
5.1.Đất phù sa:
Ở khu vực này ,sông Đồng Nai có dòng chảy trùng với đường thu nước lớn
và sâu, nhiều đoạn mang tính chảy hẹp vực của vùng đồi núi cấu tạo chủ yếu bởicát bột kết và đá sét với nhiề sườn dốc, vách dốc cao, nên hầu như ít có điều kiệnbồi đắp nên các bãi bồi-thung lũng sông rộng và phì nhiêu.Như vậy, diện tích cácloại đầt phù sa của khu vực vừa hẹp, vừa phân tán và còn rất hoang sơ
Đất phu sa được bồi:đang được bù đắp phù sa hàng vào mùa mưa.Đặc trưngcủa đất này là tầng đất bồi trên mặt dày và bị ngâp hàng năm.Đát này phân bố rấthẹp và phân tán ở các bãi bồi ven sông vừa hẹp,vừa thô,còn các thềm bồi có chiềurộng không quá 200-300m và kéo dài đứt đoạn ven sông không quá 1000m chỉ pháthiện một số nơi trong khu vực khu bảo tồn
Thành phần cơ giới của đất phù sa trên một số bãi bồi trên sông rất thô và trênthực tế đã trở thành các khu khai thác cát, trong khi đất phù sa được bồi ở các thềmbồi ven sông thường có màu nâu tươi đẹp, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ-trungbình, ít chua độ phì nhiêu khá, được khai thác lẻ tẻ ở Đăng Hà ,Cát Lộc để trồngrau, màu, cây ăn quả có thu hoạch
Đất phù sa không được bồi: Thường phân bố ở dãi đất hẹp cao 1-15mvensông, không bị ngập hàng năm Đất này có màu nâu, thành phần cơ giới thịt nhẹ-trung bình, pHkcl từ 5,5-6,0, khá màu mỡ, còn hoang sơ Loại đất này phù hợp choviệc trồng cây ăn trái, rau màu
Trang 325.2.Các loại đất vàng đỏ:
Dưới ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc của điều kiện nhiệt đới ẩm gió mùa, ở độcao thấp hơn 1000m,các loại đá sét và đặc biệt là đá màu đen giàu oxit Fe nhưbazan phong hoá rất mạnh, tạo lớp thủ phổ nhưỡng rất dày và tích lũy fe, Al tươngđối cao
Những đặc điểm chung cơ bản đất đỏ vàng là:
+Màu của tầng B là màu nâu đỏ, đỏ vàng
+Quá trình phong hóa hóa học xảy ra mạnh, các khoáng vật nguyên sinh, trừthạch anh, hầu như không còn trong lớp phủ đát
Thành phần các khoáng vật sét trong đất chủ yếu là kaolinit, nẹn khả nănghấp thụ cantion của đất tháp (thường <15mgđl/100g đất)
+Các chất baz, kể cả baz kiềm thổ, bị rửa trôi rất mạnh, nên phần lớn các chấtferalit đều chua
+Trong thành phần mùn, axit funvic luôn luôn cao vượt trội hơn axit humic
Có hai loại đất đỏ vàng chính sau đây:
Đất nâu đỏ phát triển trên đá bazan:
Thường xuất hiện trên đỉnh đồi cao Khu vực này được đặt trưng bởi các tổhợp đất có quá trình phát triển phức tạp và lâu dài nhất trong khu vực nghiên cứu
Bè mặt các đỉnh đồi cấu tạo chủ yếu bởi hai thành phần đá mẹ là bazanNeogen và đá trầm tích tuổi Jura Sau quá trình thành tạo đất lâu dài suốt từPaleogen, Neogen đến nay, hai loại đá mẹ này cho ra các tổ hợp đất bao gồm cáchợp phần rất khác biệt nhau.Trên các đỉnh đồi bazan, các bề mặt đỉnh còn bảo tồnkhá tốt các tầng đất và vỏ phong hóa được hình thành xuyên suốt lịch sử phát triểnlâu dài.Ở đây được bảo tồn tầng vỏ phong hóa boxit laterit lộ ngay ra dưới lớp đấtmỏng và các đơn vị đất chiếm ưu thế tuyệt đối trên bề mặt này là Xanthic Ferralsols
Trang 33và Haplic Ferralsols Trên các bề mặt sườn có tốc độ lớn hơn của cao nguyênbazan, do quá trình chia cắt , xâm thực, bóc mòn xảy ra khá mạnh mẽ trong khuvực đã làm mất đi các tầng đất và vỏ phong hóa thiếu hụt, thường không tồn tạitầng vỏ phong hóa boxit laterit và nhiều còn lộ ra các phần móng làtầng trầm tíchtuổi Jura, đặc biệt phổ biến là ở các máng trũng có dòng thường xuyên hoặc tạmthời Do đó, trên bề mặt sườn cao nguyên bazan, vai trò thống trị của các nhóm đấtferralsol đã phải nhường chỗ cho nhóm đất Acrisol Sự khác nhau về các hợp phầntham gia trong tổ hợp là cơ sở để phân chia tiếp tục các đất trên bề mặt đỉnh và bềmặt sườn của cao nguyên bazan thành hai phụ loại.
Nhìn chung, đất nâu đỏ và đất nâu vàng thường có tầng rất dày,rất tơi xốp,dung trọng thấp, cấu trúc rõ rệt, hạt kết bền trong nước, thành phần cơ giới nặng vớihàm lượng limon thấp, sét cao.Tuy độ phì nhiêu cao, nhưng đất có độ no baz thấp(V%thường nhỏ hơn 40%), hàm lượng cation kiềm thổ(Ca+ +, Mg+ + ) thấp hơn hai,khả năng trao đổi cation kém(CEC< 16me/100g sét)
Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét:
Hầu hết các đồi cao trung bình được phủ loại đất này Trên bề mặt các đồ nàycấu tạo bằng đá phiến sét tuổi jura, nhóm đất ferralsol hầu như vắng mặt và các đấtphát triển nhất ở đây chỉ gặp các đơn vị ferralic acrisol hoặc dystric Acrisol Ởnhững vùng núi sót, tổ hợp đất phổ biến là cambisols.Quá trình thành tạo đất ở đâykhông chỉ bị chi phối bởi các dòng vật chất di chuyển theo sườn địa hình mà còntác động của dòng vật chất di chuyển theo hướng ngược lại, bao gồm nhiều vật hoàtan trong các dòng nước ngầm dâng lên theo các mao mạch trong mùa khô Do cácđặc điểm nói trên đã tạo thuận lợi cho sự thành tạo các đất “đá ong “-nhóm đấtPlinphosol rất phổ biến trong kiểu đất đồi
Do phân bố ở nơi có độ dốc cao, quá trình trực di xảy ra yếu Ở nơi có độdốc nhỏ, tầng đất khá sâu (4-5m) Ở nơi có độ dốc cao, tầng bị rửa trôi xói mòn nênrất mỏng, đôi nơi chỉ còn trơ lại đá.Thành phần cơ giới nặng, chua, độ phì nhiêutrung bình
Trang 34Do đồng thời diễn ra hai quá trình tích luỹ hữu cơ và quá trình tích tụ tàn tíchphong hoá giàu Ca ++, Mg++ nên đất thường có màu nâu đen hoặc đen, có kết cấuviên nhỏ - trung bình, thành phần cơ giới từ trung bình- nặng Đất đen hoặc nâu đentơi, xốp, ít chua, giàu mùn và thường có độ phì cao.
tụ phụ thuộc rất lớn vào nhiều đặc tính thổ nhưỡng của vùng rừng núi kế cận Trênđất này, nhiều vùng trong khu vựa đã được khai thác làm ruộng Còn một số nơicòn hoang sơ, nhiều cỏ, tre nứa và cây bụi trở thành nơi cư trú và tắm mình cho loài
Tê giác một sừng Java
Trang 35PHẦN II:
HIỆN TRẠNG KINH TẾ, XÃ HỘI
Trang 37PHẦN II
HIỆN TRẠNG KINH TẾ, XÃ HỘI
1 GIỚI THIỆU NGUỒN GỐC SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
Theo thời gian, sự hình thành của các vùng đệm Khu Bảo tồn Tê giác Cát Lộctrên thực tế gắn liền với sự hình thành và phát triển của các nhóm cộng đồng khácnhau:
- Người dân tộc thiểu số là người bản địa có nguồn gốc từ lâu đời qua nhiều thếhệ
- Những người bộ đội xuất ngũ ở lại địa phương làm kinh tế là đầu mối dẫnđường cho phong trào di dân có tổ chức theo kế hoạch của Nhà nước, làm kinh tếmới hoặc là tự do làm kinh tế mới
- Nhóm cộng đồng người dân di cư tự do mà phần lớn là người dân tộc thiểu sốphía Bắc di cư đến
1.1 Huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng.
Trước đây, toàn vùng thuộc về xã Đồng Nai thượng, huyện Bù Đăng, tỉnhSông Bé (cũ) Năm 1982, chia lại ranh giới chuyển qua huyện Đạ Tẻh, tỉnh LâmĐồng
Năm 1987 một huyện mới thành lập trên cơ sở tách ra từ huyện Đạ Tẻh đãchọn địa danh huyền thoại này làm tên riêng của mình, huyện Cát Tiên ra đời từ đó
Trang 38Từ trước năm 1985, vùng đất trũng ngập úng theo mùa hàng năm của xã TiênHoàng và Gia Viễn vẫn còn là một vùng rừng ưu thế cây họ sao dầu, một đặc trưngcho vùng rừng nguyên sinh trên dạng đất thấp cuối cùng của Cao Nguyên Lúc đóhiện trạng rừng còn bị ảnh hưởng bởi con người, chỉ có những ảnh hưởng do chiếntranh như chất độc hóa học màu da cam Nguồi tài nguyên thiên nhiên rất phongphú và có tính đa dạng sinh học cao Điều này đượ thể hiện rất rõ trong những vùngđất ngập nước theo mùa và các bầu nước cùng hệ thống sông suối xung quanh vùngCát Lộc.
Nguồn gốc hình thành huyện Cát Tiên và các xã vùng ven có thể chia thànhmột số giai đoạn chính:
1.1.1 Giai đoạn trước năm 1975 cho đến 1982.
Giai đoạn này đặc trưng bởi các nhóm:
- Người dân tộc thiểu số bản địa với hai nhóm chính là S’Tiêng và Châu Mạ
- Các đơn vị bộ đội vùa kết thúc chiến tranh tham gia khai hoang làm kinh tếnuôi quân
Nhóm người dân tộc Châu Mạ và S’tiêng có mối quan hệ khăng khít từ lâu đời,
họ có chung một họ là Điểu Những người dân tộc giải thích điều này rằng trước kianhững người Châu Mạ sống trong vùng rừng núi thuộc xã Đồng Nai, tỉnh Sông Bé,cho nên mạng họ Điểu; Sau này chuyển về Lâm Đồng, họ vẫn giữ nguyên họ Điểu
và cộng thêm chữ K với con trai hoặc K’ với con gái Như vậy trên thực tế của vùngCát Lộc, hai nhóm người dân tộc bản địa này có quan hệ rất gần nhau về nguồn gốc
cư trú và sự hình thành phát triển
Trước dđây cộng đồng người dân tộc này được phân chia theo một hệ thống 6
xã chung nhau như sau:
- Xã 1, xã 2 và xã 3 là nơi cư trú của người S’tiêng:
Xã 1, xã 2 nay thuộc về xã Thống Nhất, huyện Bù Đăng
Trang 39Xã 3 nay là thôn 3 (do Già Làng K Mốt lãnh đạo) cùa xã Phước Cát.
- Xã 4,5 và xã 6 là của người dân tộc Châu Mạ:
Xã 4 nay là thôn 4 xã Phước Cát 2, do Điểu Khen lãnh đạo
Xã 5 nay là thôn 5b, xã Tiên Hoàng do Già làng Tư Lôi lãnh đạo
Xã 6 nay là thôn Brun 1, xã Gia Viễn do anh em K lo - k it lãnh đạo
Thời gian 1980 - 1981:
Một số chương trình định canh định cư không mấy có kết quả, chính trong
thời gian này có sự di chuyển lại của cộng đồng người dân tộc Châu Mạ trở về nơi cũ của mình Khuđịnh canh định cư mới gần rừng hơn của đồng bào dân tộc
người Châu Mạ nằm trên phần nền cũ của thôn Brun 2 (nay là thôn 6 xã TiênHoàng) Khu định canh định cư làm trên vùng xã Tư Nghĩa với ý định di chuyểnđồng bào Bun Go không thực hiện được Đồng bào Bun Go một số vẫn tiếp tục ở nơiBun Go cũ, một số di chuyển vào sâu hơn trong rừng thuộc khu vực thôn 5b xã TiênHoàng và xã Lộc Bắc ngày nay
Trang 40+ Năm 1982
Có sự bàn giao chuyển dịch ranh giới giữa hai tỉnh Lâm Đồng và Sông Bé.Sông Đồng Nai được coi là ranh giới chính thức giữa hai tỉnh Như vậy phần xãĐồng Nai huyện Bù Đăng tỉnh Sông Bé nằm bên nay sông Đồng Nai được chia cắtcho tỉnh Lâm Đồng và thuộc về huyện Đạ Tẻh
+ Năm 1987
Huyện Cát Tiên chính thức thành lập trên cơ sở tách ra từ huyện Đạ Tẻh Dự
án định canh định cư thôn 5 b người dân tộc Châu Mạ hình thành
* Sự phân hoá về tư tưởng:
Trước chiến tranh, người dân tộc bản địa sống tập trung ven sông Đồng Nai vàhình thành buôn làng mà tiêu biểu là Buôn Go nằm phía sau của thị trấn Đồng Nai.Trong chiến tranh người dân Châu Mạ tiếp thu hai dòng tư tưởng khác nhau:
- Dòng tư tưởng thứ nhất là theo cách mạng, nuôi giấu và tiếp tế lương thựccho cán bộ Theo hướng phát triển này trong quá trình đấu tranh chống giặc, họ
đã di chuyển sâu vào trong rừng Cát Lộc và tập trung trong một số nơi chínhnhư Buôn Brun 1 ( K it - K lo), Brun 3 ( Thung Cọ) ( thuộc về xã Gia Viễn),Brun 2 ( thôn 6 xã Tiên Hoàng) và thôn 5 b ( xã Tiên Hoàng) Do cuộc sống ducanh du cư cho nên phạm vi phân bố của cộng đồng này khá rộng, thậm chíhướng di chuyển rất xa tới tận xã Lộc Bắc, nay là huyện Bảo Lâm tỉnh LâmĐồng
- Dòng tư tưởng thứ hai: xu hướng theo đạo tin lành hoặc thiên chúa giáo Đểchia cắt sự tiếp tế cho cách mạng, chính quyền cũ đã thuyết phục một nhóm nhỏtheo đạo Tin Lành hoặc Thiên chúa giáo Nhóm này di tản về hướng đồng bằngsống trong vùng tập trung như ấp chiến lược và theo đạo (dọc theo quốc lộ 22,huyện Định Quán, huyện Tân Phú/ xã Tà Lài)
* Vùng phân bố