HỒ CHÍ MINH ------ NGUYỄN THỊ THẢO VI CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG - NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG K
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
- -
NGUYỄN THỊ THẢO VI
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG - NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG
KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN
MÃ SỐ: 52340301
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
Trang 2i
TÓM TẮT
Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu nhận diện các nhân tố ảnh hưởng, đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó và đề xuất một số hàm ý chính sách để tăng cường mức độ công bố thông tin kế toán môi trường (KTMT) của các doanh nghiệp (DN) thuộc nhóm ngành công nghiệp xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE)
Mô hình nghiên cứu được kế thừa từ nghiên cứu của Nguyen La Soa và cộng sự (2017) bao gồm: 1 biến phụ thuộc (mức độ công bố thông tin KTMT) và 5 biến độc lập (quy
mô DN, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, số năm niêm yết và kiểm toán độc lập) Các biến độc lập được lập luận dựa trên các lý thuyết nền tảng: lý thuyết thể chế, lý thuyết các bên liên quan và lý thuyết hợp pháp Nghiên cứu sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng với kích thước mẫu là 116 biến quan sát trong giai đoạn 2015 – 2018 Nghiên cứu định tính được thực hiện nhằm xác định các nhân tố tác động và xây dựng mô hình nghiên cứu, còn nghiên cứu định lượng nhằm đánh giá mức độ công bố thông tin KTMT thông qua phân tích hồi quy trên phần mềm STATA và thực hiện các kiểm định mô hình
Kết quả phân tích cho thấy có hai biến có ý nghĩa thống kê trong mô hình đó là: kiểm toán độc lập và số năm niêm yết Trong đó biến kiểm toán độc lập có mối quan hệ cùng chiều với biến phụ thuộc và biến số năm niêm yết có mối quan hệ ngược chiều với biến phụ thuộc Ngoài ra, nghiên cứu cũng kết luận rằng nhân tố thể chế có ảnh hưởng mạnh nhất đến biến phụ thuộc nhưng không xuất hiện trong mô hình nghiên cứu
Từ kết quả nêu trên, tác giả đưa ra một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao mức độ công
bố thông tin KTMT của các DN thuộc nhóm ngành công nghiệp xây dựng niêm yết trên HOSE Đồng thời, các cơ quan chức năng có được cái nhìn toàn diện về thực trạng công
bố thông tin KTMT của các DN này, làm cơ sở để xây dựng các chính sách, hướng dẫn các DN thực hiện công bố thông tin KTMT
Trang 3ii
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đề tài nghiên cứu: “Các nhân tố tác động đến công bố
thông tin kế toán môi trường - Nghiên cứu điển hình của ngành công nghiệp xây dựng
niêm yết trên sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” là kết quả nghiên cứu độc lập
của chính tác giả dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học – TS Nguyễn Thị
Mai Hương Đề tài nghiên cứu có sử dụng một số trích dẫn quan điểm khoa học của các
nghiên cứu trước và các ý kiến được đăng tải trên các bài báo, tạp chí khoa học Các
nghiên cứu tham khảo, kế thừa và các nguồn tài liệu tham khảo khác được sử dụng trong
đề tài nghiên cứu này đều được trích dẫn nguồn rõ ràng trong danh mục tài liệu tham
khảo Kết quả nghiên cứu là trung thực, khách quan, chính xác và chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Thành phố Hổ Chí Minh, tháng 2 năm 2020
Nguyễn Thị Thảo Vi
Trang 4iii
LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Lãnh đạo và Giảng viên Khoa Kế Toán – Kiểm Toán cùng toàn thể các quý Thầy Cô Trường Đại Học Ngân Hàng TPHCM đã hỗ trợ, tạo điều kiện học tập tốt nhất
để tôi có được nền tảng kiến thức vững chắc
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn với Giảng viên – TS Nguyễn Thị Mai Hương
đã luôn nhiệt tình chỉ bảo, truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt quá trình làm Khóa luận tốt nghiệp Cảm ơn Cô đã luôn dõi theo và truyền lại nhiệt huyết nghiên cứu
để tôi có thể hoàn thiện bài Khóa luận tốt nghiệp tốt nhất
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè đã luôn đồng hành, ủng hộ
và động viên tinh thần tạo niềm tin vững chắc giúp tôi hoàn thành tốt bài Khóa luận
Tác giả
Nguyễn Thị Thảo Vi
Trang 5iv
MỤC LỤC
TÓM TẮT i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 4
7 Kết cấu đề tài 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 7
1.1.1 Các nghiên cứu về mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính 7
1.1.2 Các nghiên cứu về công bố thông tin môi trường 9
1.1.3 Các nghiên cứu về kế toán môi trường 11
1.1.4 Các nghiên cứu về nhân tố tác động đến công bố thông tin kế toán môi trường 14
1.2 Khe hổng nghiên cứu 28
1.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 30
Trang 6v
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 34
2.1 Mối quan hệ giữa thông tin môi trường và thông tin kế toán môi trường 34
2.1.1 Sự cần thiết công bố thông tin môi trường 34
2.1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của kế toán môi trường 35
2.2 Giới thiệu khái quát về Kế toán môi trường 39
2.2.1 Khái niệm 39
2.2.2 Các nội dung cơ bản trên Báo cáo thường niên 41
2.2.3 Nội dung và kỹ thuận ghi nhận 42
2.2.4 Lý thuyết nền liên quan đến đề tài nghiên cứu 50
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 59
3.1 Quy trình nghiên cứu 59
3.2 Vận dụng phương pháp nghiên cứu 60
3.2.1 Nghiên cứu định tính 60
3.2.2 Nghiên cứu định lượng 61
3.3 Xây dựng thang đo 62
3.3.1 Biến phụ thuộc 62
3.3.2 Biến độc lập 63
3.4 Chọn mẫu nghiên cứu 64
3.5 Công cụ xử lý dữ liệu 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 68
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 69
4.1 Tổng quan về ngành công nghiệp xây dựng và tác động của ngành đến môi trường 69
4.1.1 Tổng quan về ngành công nghiệp xây dựng 69
Trang 7vi
4.1.2 Tác động của ngành công nghiệp xây dựng đến môi trường 70
4.2 Thực trạng báo cáo thông tin kế toán môi trường của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán TPHCM 71
4.3 Phân tích thống kê mô tả 76
4.4 Phân tích tương quan 78
4.5 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 78
4.6 Kết quả kiểm định sự phù hợp của mô hình 79
4.7 Phân tích kết quả mô hình hồi quy 80
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 83
CHƯƠNG 5: 84
BÀN LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 84
5.1 Bàn luận kết quả nghiên cứu 84
5.1.1 Kết quả nghiên cứu định tính 84
5.1.2 Kết quả nghiên cứu định lượng 85
5.2 Hàm ý chính sách 87
5.2.1 Đối với chính phủ và cơ quan chức năng 87
5.2.2 Đối với các hiệp hội nghề nghiệp 88
5.2.3 Đối với doanh nghiệp 88
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu trong tương lai 88
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 90
KẾT LUẬN CHUNG 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC 102
Trang 8vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
I TIẾNG VIỆT
II TIẾNG ANH
cầu)
13 IAS International Accounting Standards (Chuẩn mực kế toán
quốc tế)
chuẩn mực kế toán quốc tế)
báo cáo tài chính quốc tế)
16 IMA Institute of Management Accountants (Hiệp hội kế toán
quản trị Hoa Kỳ)
17 UNCTAD United Nations Conference on Trade and Development
(Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển)
vệ Môi sinh Hoa Kỳ)
Trang 9viii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tổng hợp các nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài 19
Bảng 1.2: Bảng kỳ vọng chiều tác động của các biến 31
Bảng 1.3: Các biến độc lập tác động đến mức độ công bố thông tin KTMT 32
Bảng 2.1: So sánh các chỉ tiêu công bố thông tin môi trường giữa Thông tư 155/2015/TT-BTC và hướng dẫn GRI – G4 (2013) 43
Bảng 3.1: Phương pháp đánh giá mức độ công bố thông tin KTMT 63
Bảng 3.2: Đo lường các biến độc lập 64
Bảng 4.1: Thống kê kết quả mức độ công bố thông tin KTMT trên HOSE giai đoạn 2015 - 2018 72
Bảng 4.2: Bảng thống kê mô tả các biến trong mô hình 76
Bảng 4.3: Phân tích tương quan 78
Bảng 4.4: Kết quả hồi quy 3 mô hình Pooled OLS, FEM, REM 79
Bảng 4.5: Kết quả ước lượng mô hình FGLS 81
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định các giả thuyết 82
Trang 10ix
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 1.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất 31
Hình 3.1: Các bước thực hiện quy trình nghiên cứu 59
Hình 4.1: Tốc độ tăng trưởng GDP và ngành xây dựng 70
Biểu đồ 4.1: Biểu đồ mức độ công bố thông tin KTMT trên HOSE 73
Trang 111
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, với xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế
và tự do hóa thương mại thì các vấn đề môi trường toàn cầu ngày càng diễn biến phức tạp Đứng trước những thách thức đó, các doanh nghiệp (DN) trên thế giới hiện nay đã
và đang thể hiện sự ưu tiên hàng đầu cho các vấn đề môi trường song hành với mục tiêu kinh doanh hiệu quả, tối đa hóa lợi nhuận Bên cạnh đó, chủ động công bố các thông tin
Kế toán môi trường (KTMT) qua Báo cáo thường niên (BCTN) hay Báo cáo phát triển bền vững (BCPTBV) nhằm thể hiện rõ trách nhiệm xã hội (TNXH) của DN trước vấn
đề cấp bách của nhân loại Chính từ đây, sự phát triển ổn định và mạnh mẽ cần phải đặc biệt quan tâm đến trách nhiệm đối với môi trường và xã hội bên cạnh mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, hướng đến việc thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh - yếu tố đảm bảo sự phát triển bền vững của DN
Hiện nay, tình trạng ô nhiễm môi trường tại Việt Nam đang ở mức báo động Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết chỉ khoảng 5% trong tổng 615 cụm công nghiệp trên
cả nước có hệ thống xử lý nước thải tập trung, lượng nước xả thải chưa được xử lý triệt
để chiếm tỷ lệ 70% trong tổng lượng nước thải của gần 300 khu công nghiệp có lưu lượng xả thải trên 2 triệu m3/ngày, tỷ lệ DN FDI xả thải vượt mức cho phép từ 5 – 12 lần là 23%.1 Trong đó, không thể không kể đến các tác động môi trường của ngành công nghiệp xây dựng từ giai đoạn vận chuyển vật liệu xây dựng đến quá trình thực hiện thi công và thu dọn sau thi công Hiện tượng ô nhiễm trong ngành xây dựng có thể kế đến rác thải xây dựng từ bao bì nguyên vật liệu; khí thải độc hại phát sinh từ các loại sơn, nhiên liệu chạy máy móc thi công; tiếng ồn phát ra khi vận hành máy móc và bụi xây dựng trong quá trình đào đất làm móng cọc hay từ các phương tiện vận chuyển vật liệu xây dựng như cát, đá, xi măng 2 Xuất phát từ các tác động trên, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 02/2018/TT-BXD3: “Quy định về bảo vệ môi trường trong thi công xây dựng công trình và chế độ báo cáo công tác bảo vệ môi trường ngành xây dựng”
Trang 122
Để thể hiện TNXH cụ thể là thực hiện bảo vệ môi trường và tuân thủ các quy định pháp
lý liên quan đến môi trường, các DN phải đầu tư vào các tài sản môi trường, các chi phí phát sinh liên quan đến môi trường như chi phí ngăn ngừa và kiểm soát chất thải, chi phí khấu hao của các thiết bị xử lý chất thải, Vì vậy, với nhiều thông tin KTMT phát sinh càng đòi hỏi các DN cần minh bạch và cung cấp rõ ràng cho các bên liên quan bởi thông tin kế toán nói chung và thông tin KTMT nói riêng có tác động mạnh mẽ đến hành
vi của các đối tượng tham gia thị trường, qua đó các nhà đầu tư có thể đưa ra các quyết định đầu tư hiệu quả, tăng năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế
Nhận thức về các vấn đề trên, đã có nhiều văn bản được ban hành về chủ trương phát triển bền vững đối với phát triển kinh tế nói chung và phát triển ngành xây dựng nói riêng Quyết định số 1393/QĐ-TTg4 của Thủ tướng Chính phủ về “Phê duyệt chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh” là một trong những hành động thể hiện rõ chủ trương
mà Nhà nước đang hướng đến đó là sự kết hợp hài hòa và chặt chẽ giữa phát triển kinh
tế - xã hội và bảo vệ môi trường Không nằm ngoài chủ trương đó, Bộ Xây Dựng cũng
đã ban hành Quyết định số 1659/QĐ-BXD5 về “Ban hành kế hoạch hành động của ngành xây dựng triển khai kế hoạch hành động quốc gia thực hiện chương trình nghị sự 2030
vì sự phát triển bền vững” Việc triển khai và công bố các thông tin KTMT có thể xem
là yếu tố then chốt, là điều kiện thiết yếu giúp nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững khi mà Việt Nam là thành viên của nhiều hiệp định thương mại tư do và đang trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu Ngày nay, nhiều DN Việt Nam cũng đã có nhận thức về tầm quan trọng của việc công bố và minh bạch thông tin KTMT Tuy nhiên, mức độ công bố của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam nói chung và Sở giao dịch chứng khoán TPHCM (HOSE) nói riêng có sự khác nhau tương đối Thông tư 155/2015/TT-BTC6, hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, yêu cầu các công ty đại chúng lập báo cáo liên quan đến trách nhiệm về môi trường và xã hội của công ty, đánh giá các chỉ tiêu môi trường, công bố các thông tin môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững Bên
6 Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 06 tháng 10 năm 2015 của Bộ Tài chính: Hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Trang 133 cạnh đó, nghiên cứu giúp các DN trong lĩnh vực xây dựng nhận thức được tầm quan trọng cũng như lợi ích lớn hơn sẽ đạt được khi công bố thông tin KTMT trong báo cáo của DN Từ đó mở ra nhiều cơ hội cho các DN trong bối cảnh cạnh tranh cao giữa các
DN trong nước và ngoài nước
Xuất phát từ các vấn đề đang xảy ra trong thực tiễn cần được giải quyết liên quan đến thông tin môi trường và KTMT nói chung, cùng với KTMT của các DN hoạt động
trong lĩnh vực xây dựng nói riêng, tác giả chọn đề tài “Các nhân tố tác động đến công
bố thông tin kế toán môi trường - Nghiên cứu điển hình của ngành công nghiệp xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” Đề tài hướng đến
việc xem xét và đánh giá các nhân tố tác động và góp phần đề xuất các giải pháp hiệu quả giúp các DN nhìn nhận đầy đủ hơn về thông tin KTMT, thúc đẩy các DN tích cực cung cấp các thông tin KTMT góp phần thúc đẩy quá trình phát triển bền vững của đất nước
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến công bố thông tin KTMT – Nghiên cứu điển hình của ngành công nghiệp xây dựng trên HOSE
Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu 1: Nhận diện các nhân tố tác động đến việc công bố thông tin KTMT
của nhóm ngành công nghiệp xây dựng trên HOSE
Mục tiêu 2: Đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc công bố thông
tin KTMT của nhóm ngành công nghiệp xây dựng trên HOSE
Mục tiêu 3: Đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm tăng cường mức độ công bố
thông tin KTMT của nhóm ngành công nghiệp xây dựng trên HOSE
3 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Nhân tố nào tác động đến việc công bố thông tin KTMT của nhóm
ngành công nghiệp xây dựng trên HOSE?
Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến việc công bố thông tin
KTMT của nhóm ngành công nghiệp xây dựng trên HOSE.như thế nào?
Câu hỏi 3: Giải pháp nào giúp các DN của ngành công nghiệp xây dựng tăng
cường công bố thông tin KTMT?
Trang 144
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin KTMT của nhóm ngành công nghiệp xây dựng trên HOSE
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian:
Trong nhóm ngành công nghiệp xây dựng, nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm
vi các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xây dựng niêm yết trên HOSE và thực hiện nghiên cứu thông qua BCTN và báo cáo tài chính (BCTC) đã được kiểm toán
Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2015 – 2018
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định tính
Tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây, phân tích điểm chung
và điểm khác biệt để xác định khe hở nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu
Kết hợp với nghiên cứu các lý thuyết nền nhằm hệ thống hóa cơ sở lý thuyết cũng như làm cơ sở lập luận đưa ra các giả thuyết nghiên cứu
Nghiên cứu các hướng dẫn về KTMT quốc tế, các văn bản pháp lý các vấn đề liên quan đến môi trường tại Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu định lượng
Tiến hành xác định, thu thập các dữ liệu liên quan đến thông tin KTMT mà DN
đã công bố trong BCTN và các thông số tài chính trong BCTC đã được kiểm toán nhằm tính toán giá trị các biến phụ thuộc và độc lập Phương pháp chỉ số công bố thông tin có trọng số được vận dụng để đo lường mức độ công bố thông tin KTMT
Sau đó tiến hành thống kê mô tả các biến, phân tích tương quan, phân tích mô hình hồi quy và một số kiểm định giả thuyết hồi quy cần thiết để đánh giá mức độ công
bố thông tin KTMT của các DN xây dựng niêm yết trên HOSE Tất cả dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2016 và STATA 13
6 Đóng góp của đề tài
Các thông tin KTMT là một trong những yếu tố đánh giá quá trình tiến đến sự phát triển bền vững của DN cũng như góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của quốc gia Các quốc gia trên thế giới đã sớm nhận thức về vấn đề này, nhiều bài nghiên
Trang 155 cứu khoa học về mức độ công bố thông tin KTMT được thực hiện nhằm nhận diện các nhân tố tác động cũng như đưa ra các giải pháp nâng cao mức độ công bố góp phần thúc đẩy các DN cải tiến thực hiện theo tiêu chí phát triển bền vững Tuy nhiên, tại Việt Nam, vấn đề thông tin KTMT vẫn còn mới, rất ít các bài nghiên cứu về các yếu tố tác động đến việc công bố thông tin KTMT của DN, các nghiên cứu cụ thể về một nhóm ngành càng hạn chế Đặc biệt, nghiên cứu đối với ngành công nghiệp xây dựng - một trong những ngành mang tính chất đặc thù riêng biệt là khan hiếm Do vậy, đề tài nghiên cứu này mang tính cấp thiết nhất là khi đánh giá tình trạng công bố thông tin KTMT của các
DN niêm yết trên HOSE trong giai đoạn có sự xuất hiện của Thông tư BTC - bắt buộc các DN niêm yết phải công bố thông tin về môi trường trên báo cáo kế toán của họ Kết quả nghiên cứu của đề tài đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn như sau:
155/2015/TT-Về mặt lý luận
Đóng góp vào kho dữ liệu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến KTMT và việc công bố thông tin KTMT với kết quả nghiên cứu trong thời gian gần nhất, là tài liệu tham khảo cho sinh viên, các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách đang quan tâm đến vấn đề công bố thông tin KTMT để có cái nhìn toàn diện về thực trạng và mức
độ công bố thông tin KTMT của các DN hiện nay
Về mặt thực tiễn
Điểm khác với các nghiên cứu trước chủ yếu dựa vào dữ liệu các quan điểm đánh giá thông qua phỏng vấn, khảo sát người có chuyên môn để tìm ra kết quả nghiên cứu Kết quả nghiên cứu có tính thực tiễn cao do sử dụng bộ dữ liệu cập nhật mới nhất là các thông tin tài chính và thông tin KTMT trên các báo cáo kế toán để đánh giá, đo lường mức độ tác động Như vậy đề tài là bằng chứng khoa học thực nghiệm phù hợp với tình hình phát triển hiện tại và phản ánh đúng thực tế tình trạng công bố của các DN trong nhóm ngành công nghiệp xây dựng hiện nay
Trước tình hình Việt Nam chưa có các văn bản, quy định hướng dẫn việc công
bố thông tin KTMT thì nghiên cứu này đóng vai trò như một nguồn lực hỗ trợ thêm về các thông tin thực tiễn về thực trạng công bố thông tin KTMT của các DN trong nhóm ngành công nghiệp xây dựng Qua đó, các cơ quan quản lý chức năng sẽ có nhiều cơ sở
để lên kế hoạch và đưa ra các văn bản hỗ trợ việc công bố thông tin KTMT
Trang 166
7 Kết cấu đề tài
Bên cạnh phần mở đầu, tóm tắt, lời cam đoan, lời cám ơn, danh mục các bảng biểu, hình vẽ, tài liệu tham khảo, phụ lục và kết luận, đề tài bao gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Bàn luận kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách
Trang 177
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1 Các nghiên cứu về mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về mức độ công bố thông tin trên BCTC: Nghiên cứu của Singhvi và Desai (1971) sử dụng một danh sách công bố với 34 mục điểm tại 155 tập đoàn công nghiệp lớn của Mỹ và kết quả nghiên cứu được tìm thấy tương tự như kết quả mà Cerf (1961) đã thực hiện Tác giả đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa mức độ công bố thông tin trên BCTN với biên lợi nhuận, quy mô DN và số lượng cổ đông
Nghiên cứu của Cooke (1992) tại Nhật Bản đã sử dụng các nhân tố nhóm ngành công nghiệp, tình trạng niêm yết, quy mô công ty để nghiên cứu mức độ tác động đến công bố thông tin tự nguyện và bắt buộc Kết quả nghiên cứu cho 35 công ty chỉ ra các nhân tố trên đều có tác động tích cực đến mức độ công bố thông tin tự nguyện và bắt buộc Năm 1993, Cooke tiếp tục nghiên cứu về mức độ công bố thông tin tự nguyện trên BCTN của 48 công ty Nhật Bản Kết quả chỉ ra rằng có mối liên hệ giữa mức độ công
bố thông tin tự nguyện và tình trạng niêm yết của công ty
Nghiên cứu của Owusu – Ansah (1998) đã thực hiện nghiên cứu về mức độ tác động của các đặc điểm của công ty đến mức độ công bố thông tin bắt buộc tại Zimbabwe Với dữ liệu nghiên cứu được thu thập trên 49 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Zimbabwe (ZSE), kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ ảnh hưởng tích cực giữa mức độ công bố thông tin bắt buộc của công ty với cấu trúc chủ sở hữu, quy mô công ty, độ tuổi công ty, khả năng sinh lời và liên kết đa quốc gia
Nghiên cứu của Chau và Gray (2002) đã tiến hành nghiên cứu mối quan hệ của cấu trúc sở hữu đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trên BCTN của các công ty niêm yết ở Singapore và Hồng Kông Nghiên cứu chỉ ra rằng quyền sở hữu có ảnh hưởng tích cực đến mức độ công bố thông tin tự nguyện Các công ty nội bộ và kiểm soát bởi gia đình thì không công bố nhiều các thông tin vượt quá ngưỡng bắt buộc so với các công ty có quyền sở hữu rộng hơn
Nghiên cứu của Hossain (2008) đối với lĩnh vực ngân hàng được thực hiện tại
Ấn Độ cho thấy các nhân tố thành phần hội đồng quản trị, lợi nhuận, quy mô và các biến
Trang 188
về thị trường tác động đáng kể đến mức độ công bố thông tin Kết quả cũng chỉ ra việc cung cấp thông tin kịp thời giúp các vấn đề ngân hàng giảm mức độ, tần suất và tăng tính minh bạch Điều đó tạo động lực cho các ngân hàng hoạt động có hiệu quả và kiểm soát rủi ro một cách thận trọng
Tại Việt Nam, nghiên cứu về mức độ tác động của các nhân tố đến công bố thông tin trên BCTC cũng thu hút sự tham gia của nhiều tác giả, điển hình như:
Nghiên cứu của Phạm Thị Thu Đông (2013) với bộ dữ liệu khảo sát gồm 80 công
ty lĩnh vực sản xuất, thương mại và dịch vụ Nghiên cứu đề xuất mô hình với các biến độc lập: quy mô DN, TSCĐ, đòn bẩy nợ, khả năng sinh lời, thời gian hoạt động của DN, chủ thể kiểm toán và khả năng thanh toán Qua kết quả phân tích, chỉ có biến khả năng sinh lời và TSCĐ có quan hệ thuận chiều với mức độ công bố thông tin kế toán Kết quả nghiên cứu có sự khác biệt với nhiều nghiên cứu khác trên thế giới về nhân tố quy mô công ty như nghiên cứu của Singhvi và Desai (1971), Cooke (1992) và Hossain (2008) Tuy nhiên, nghiên cứu của Đoàn Nguyễn Trang Phương (2010) lại cho ra kết quả tương
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hảo (2015) tìm hiểu về các nhân tố ảnh hưởng mức độ công bố thông tin tự nguyện trên BCTN của 106 DN niêm yết trên HOSE Kết quả cho thấy lợi nhuận, quy mô và loại hình sở hữu có yếu tố nước ngoài có mối quan
hệ cùng chiều với mức độ công bố thông tin tự nguyện
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Em (2015) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam với ba nhóm ngành: công nghiệp, xây dựng và tài chính Tác giả xây dựng mô hình với biến phụ thuộc là chỉ số công bố thông tin tự nguyện và 8 biến độc lập bao gồm: quy mô công ty, lợi nhuận, đòn bẩy nợ, tách biệt vai trò chủ tịch HĐQT
và Giám đốc, tỷ lệ sở hữu của Nhà nước, tỷ lệ sở hữu nhà đầu tư nước ngoài, tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập Kết quả phân tích chỉ ra rằng nhân
Trang 199
tố quy mô công ty có tác động cùng chiều đến mức độ công bố thông tin đối với 2 nhóm ngành công nghiệp và xây dựng, không tác động đến nhóm ngành tài chính Kết quả ngược lại được tìm thấy ở nhân tố đòn bẩy tài chính, tác động cùng chiều với nhóm ngành tài chính và không tác động đến 2 nhóm ngành công nghiệp và xây dựng Tỷ lệ
sở hữu nhà đầu tư nước ngoài có mối quan hệ thuận chiều với mức độ công bố thông tin
tự nguyện ở nhóm ngành công nghiệp nhưng không có mối quan hệ với 2 nhóm ngành xây dựng và tài chính Còn 5 nhân tố còn lại không có mối liên hệ với biến phụ thuộc đối với cả 3 nhóm ngành
1.1.2 Các nghiên cứu về công bố thông tin môi trường
Sự phát triển kinh tế kéo theo đó hàng loạt các vấn đề xảy ra với môi trường Các nhà đầu tư ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của các vấn đề liên quan đến môi trường và hoạt động kinh doanh của DN, đó là yếu tố then chốt để tiến gần đến sự phát triển bền vững Sự kỳ vọng của xã hội về các vai trò, trách nhiệm bảo vệ môi trường ngày càng cao, vì vậy, nhiều nhà quản lý, nhà kinh tế học đã chú trọng đến việc công bố thông tin môi trường trên các BCPTBV nói chung Trong nhiều thập niên vừa qua, cụ thể là giữa những năm 90, đã có sự tăng trưởng rõ rệt trong nghiên cứu các vấn đề liên quan đến thông tin môi trường (Deegan, 2002) Việc cung cấp thông tin môi trường ngày càng trở nên thiết yếu bởi vì chúng cung cấp thông tin hiệu suất môi trường và ảnh hưởng đến thị trường vốn (Villiers, Naiker và Staden, 2011)
Một số bài nghiên cứu điển hình về công bố thông tin môi trường có thể kể đến như nghiên cứu của Liu và Anbumozhi (2009) xác định các nhân tố tác động đến việc công bố thông tin môi trường của các công ty niêm yết Trung Quốc Kết quả phân tích cho thấy áp lực từ chính phủ và quy mô công ty có ảnh hưởng tích cực đến mức độ công
bố thông tin môi trường Trong khi đó, tác động của các nhân tố áp lực cổ đông, áp lực chủ nợ đối với mức độ công bố thông tin môi trường là không ảnh hưởng Tác giả cũng đưa ra nhận định rằng các công ty tương đối phát triển mà hoạt động ở khu vực ven biển phía Đông có xu hướng công bố các thông tin về môi trường Công ty hoạt động càng hiệu quả thì càng công bố nhiều thông tin đầu tư liên quan đến môi trường cũng như các chi phí kiểm soát các chất thải gây ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó, việc công bố thông tin môi trường đóng vai trò quan trọng trong quá trình “phủ xanh” trách nhiệm của công
ty, là một chiến lược quản lý môi trường hữu hiệu khi trao đổi với các bên liên quan
Trang 2010 Z.G Liu và cộng sự (2011) phân tích mức độ công bố thông tin môi trường của các công ty trong ngành thép năm 2008 được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải và đánh giá các đặc tính hiệu suất môi trường của thông tin môi trường được công bố từ các công ty này Kết quả cho thấy hình thức công bố thông tin môi trường, nội dung và mức độ công bố có sự khác nhau Tác giả cho rằng không thể phản ánh mức độ hiệu quả môi trường thực tế của các công ty thép niêm yết trên thông qua thông tin môi trường đã được công bố và khả năng các công ty có hiệu suất môi trường thấp sẽ công bố thêm thông tin môi trường
Dion và Rui (2014) sử dụng phiếu ghi điểm phân tích nội dung trên cơ sở các hướng dẫn BCPTBV theo tiêu chuẩn GRI (Global Reporting Initiative) được cải tiến bởi Clarkson, Li, Richardson, and Vasvari (2008) phối hợp với một số chuyên gia về công bố thông tin môi trường để đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến công bố thông tin môi trường của các công ty niêm yết tại Hà Lan, đánh giá cam kết môi trường thực sự của các công ty này Dữ liệu phân tích của nghiên cứu là một mẫu dữ liệu gồm
28 công ty niêm yết Hà Lan, tác giả xác định các biến độc lập bao gồm: quy mô DN, ngành công nghiệp và khả năng sinh lời Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô DN và ngành công nghiệp có mối quan hệ tích cực đến mức độ công bố thông tin môi trường Nhân tố khả năng sinh lời không có mối quan hệ tác động
Chaklader and Gulati (2015) đã nghiên cứu về thực hành công bố thông tin môi trường của các công ty tại Ấn Độ và xem xét các biến độc lập khác nhau tác động như thế nào lên chỉ số công bố môi trường Tác giả cho rằng việc công bố các báo cáo môi trường chịu áp lực ngày một tăng cao từ các cơ quan tài trợ của chính phủ và quốc tế Nghiên cứu dữ liệu dựa trên cơ sở doanh thu bao gồm 50 công ty từ danh sách do ET
500 công bố trong giai đoạn 2009 - 2012, tác giả đã nhận diện các nhân tố: quy mô, loại hình công nghiệp, khả năng sinh lời, chứng nhận về môi trường, tình trạng đa quốc gia
và đòn bẩy tài chính Kết quả phân tích chỉ ra quy mô và chứng nhận về môi trường có ảnh hưởng tích cực đến công bố thông tin môi trường Điều đó chứng tỏ các công ty công bố nhiều thông tin môi trường hơn thường có quy mô lớn và được chứng nhận về môi trường bởi một cơ quan bên ngoài Các biến còn lại không có tác động
Tại Việt Nam, các nghiên cứu liên quan đến công bố thông tin môi trường cũng được quan tâm
Trang 2111 Nguyễn Thị Mai Hương và Nguyễn Thị Kim Tuyến (2017) đã nghiên cứu ảnh hưởng các nhân tố đến công bố thông tin môi trường của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Nghiên cứu này tập trung vào các DN nhỏ và vừa của Việt nam, trên cơ sở vận dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để phục vụ cho quá trình thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2013 – 2017 được chia hai giai đoạn trước và sau khi ban hành Thông tư 155/2015/TT-BTC Kết quả nghiên cứu đã cho thấy yếu tố quy mô và quản trị có tác động mạnh đến mức độ công bố thông tin môi trường
Lê Phạm Mỹ Linh và cộng sự (2019) đã thực hiện nghiên cứu về các nhân tố tác động đến công bố thông tin môi trường của ngành chế biến thực phẩm Tác giả sử dụng phương pháp định lượng để tiến hành nghiên cứu với bộ dữ liệu của 41 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực Sản xuất Thực phẩm niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố
Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội giai đoạn 2014 – 2017 Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận, đòn bẩy tài chính và số năm niêm yết có tác động cùng chiều đến công bố thông tin môi trường, còn nhân tố kiểm toán độc lập không có tác động
1.1.3 Các nghiên cứu về kế toán môi trường
Cùng với quá trình đô thị hóa, các công trình xây dựng ở Việt Nam phát triển ngày càng nhiều Bụi bẩn, tình trạng ô nhiễm môi trường đã trở thành hồi chuông cảnh báo Hơn nữa, các công ty xây dựng tại Việt Nam có những đặc thù riêng không chỉ về
cơ chế quản lý, về cách thức hoạt động mà còn về mức độ khác nhau mà hoạt động sản xuất và kinh doanh của họ đã tác động đến môi trường (Nguyen La Soa và cộng sự, 2017) Những năm gần đây, ngành Xây dựng Việt Nam đã từng bước thay thế các nhà thầu nước ngoài trong các công trình thi công lớn trong nước nhờ vào năng lực quản lý cùng với trình độ kỹ thuật và mức độ thẩm mỹ được nâng cao7 Việc công bố thông tin KTMT cho các bên liên quan càng trở nên cần thiết, thể hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường, nâng cao uy tín của DN trong mắt các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước Nhất là khi nhận thức về vấn đề môi trường và đòi hỏi về công bố thông tin KTMT của các DN nước ngoài là rất cao thì DN trong nước muốn tăng tính cạnh tranh phải nhìn nhận đầy đủ về việc công bố thông tin KTMT
7 Hồng Quân (2017) Quốc tế hoá ngành Xây dựng Việt: Cơ hội cần tận dụng te-hoa-nganh-xay-dung-viet-co-hoi-can-tan-dung-63631.html
Trang 22https://thoibaonganhang.vn/quoc-12 KTMT đã xuất hiện từ rất sớm vào đầu những năm 1970, nhưng mãi đến năm
1990, KTMT mới bắt đầu có những nghiên cứu được thực hiện Các nghiên cứu về KTMT thường xoay quanh các đề tài về nghiên cứu các lý thuyết liên quan đến KTMT, các nghiên cứu về thực hiện KTMT, các áp dụng thực tiễn KTMT vào trong một lĩnh vực cụ thể, các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện KTMT và các nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin KTMT Các vấn đề trên đều là những vấn đề đã có nhu cầu cần nhiều nghiên cứu hơn, và các nhu cầu này sẽ tăng lên trong những năm tới (A.G Hopwood, 2009)
M.J.Jones (2010) đã nghiên cứu KTMT trên quan điểm lý thuyết cho báo cáo liên quan đến môi trường và KTMT Mô hình lý thuyết này gồm có 8 tiền đề Tiền đề cơ bản đầu tiên là hành tinh đối mặt với sự nguy hiểm khi môi trường thay đổi Tác giả cho rằng có sự tác động đáng kể giữa ngành công nghiệp và môi trường Khi các tình huống xảy ra làm môi trường bị ảnh hưởng trầm trọng, ngành công nghiệp có nghĩa vụ phải hành động và một nhu cầu xuất hiện cho mối quan hệ mới giữa ngành công nghiệp và môi trường Tuy vậy, trước mắt mục tiêu chính phải là phát triển bền vững Nghiên cứu cũng cho thấy để đánh giá được các tác động của ngành công nghiệp thì cần có hệ thống
đo lường nhưng hệ thống kế toán hiện tại chưa thể làm được vì nhiều lý do khác nhau như phụ thuộc tiền tệ, tập trung kinh doanh, định hướng tư bản Chính vì vậy, nếu muốn nắm bắt được các tác động môi trường của công ty thì cần phải có hệ thống kế toán tổng thể mới do mô hình kế toán truyền thống chỉ tập trung vào số liệu kế toán, không nắm bắt được tác động tạo ra cho môi trường Cuối cùng, tác giả lập luận rằng các công ty nên lập báo cáo KTMT cho các bên liên quan
S Janković, D Krivačić (2014) đã nghiên cứu sự phát triển của thực hành KTMT của các khách sạn Về cách tiếp cận, tác giả dựa trên các kiến thức được hình thành về trách nhiệm về môi trường của khách sạn, đưa ra cái nhìn tổng quan về các nghiên cứu hiện tại trong KTMT lĩnh vực khách sạn cũng như các báo cáo môi trường Bên cạnh
đó, nghiên cứu cũng được thực hiện dựa trên các đánh giá của các bài báo được công bố trên các tạp chí học thuật Từ đó rút ra kết luận về các yêu cầu mà lĩnh vực khách sạn cần để đạt được sự phát triển bền vững Lập luận được đưa ra rằng nếu kết hợp cam kết quản lý và quản lý môi trường soang hành cùng thực tiễn kinh doanh thì KTMT có thể phát triển Các chi phí môi trường trong khách sạn phải được phát hiện, đo lường, ghi
Trang 2313 nhận và phân để tối ưu hóa chúng Ngoài ra, cần phải thực hiện công bố các thông tin
về chi phí môi trường và các chỉ số hiệu suất môi trường đến các bên liên quan
Che Zuriana Muhammad Jamil và cộng sự (2015) đã tiến hành nghiên cứu các rảo cản và yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hành đến kế toán quản trị môi trường đối với các công ty sản xuất vừa và nhỏ tại Malaysia Tác giả thu thập dữ liệu thông qua bảng câu hỏi và áp dụng lý thuyết thể chế để nghiên cứu Kết quả cho thấy hầu hết ngân sách cho các hoạt động môi trường đều được công ty phân bổ và thực hành kế toán quản trị môi trường Lập luận cho rằng nhân tố chi phối đến việc thực hành KTMT chính là sự
ép buộc Do đó, chính phủ Malaysia và các cơ quan chức năng khác cần khắc phục các rào cản đối với sự phát triển của kế toán quản trị môi trường
Việt Nam cũng thu hút được một số lượng tác giả tham gia nghiên cứu về vấn đề này
Trịnh Hiệp Thiện (2010) đã thực hiện khảo sát 87 DN sản xuất tại Việt Nam để tiến hành nghiên cứu việc vận dụng kế toán quản trị môi trường trong các DN này Kết quả phân tích cho thấy số DN lập báo cáo đánh giá các tác động môi trường là 58 đơn
vị, 16 DN lập báo cáo TNXH trong đó có đề cập đến thông tin liên quan đến môi trường,
9 DN có 100% vốn đầu tư nước ngoài lập báo cáo môi trường và không có DN nào công
bố thông tin môi trường trên BCTC
Hoàng Thụy Diệu Linh (2013) nghiên cứu về kế toán tài chính môi trường và định hướng áp dụng vào Việt Nam Nghiên cứu sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, xem xét thông tin môi trường trên BCTC của 593 công ty niêm yết trên HOSE VÀ HNX Kết quả nghiên cứu cho thấy có 72 công ty chiếm tỷ lệ 72% trình bày các thông tin môi trường trên BCTC Các công ty có công bố thông tin KTMT chủ yếu là các công ty hoạt động trong lĩnh vực nhạy cảm với môi trường như: du lịch, bất động sản, xây dựng, thủy sản, thực phẩm, thép,
Hà Thị Thúy Vân (2017) nhận định hiện nay các DN Việt Nam chưa quan tâm đến kế toán quản trị môi trường mà chỉ mới chú ý đến hệ thống kế toán tài chính Nghiên cứu và khảo sát thực tế về thực trạng áp dụng kế toán quản trị môi trường trong các DN Việt Nam giai đoạn 2011 – 2016 cho thấy có 50 DN như công ty sản xuất hàng may mặc, các công ty sản xuất xi măng đã bắt đầu đưa kế toán quản trị môi trường áp dụng vào DN Kết quả còn chỉ ra các DN đều thu thập thông tin về chi phí, lợi ích môi trường bằng mô hình truyền thống, các chi phí môi trường thường ghi nhận chung vào chi phí
Trang 2414 quản lý DN hay chi phí sản xuất chung, ngoại trừ các chi phí dễ nhận thấy có liên quan đến môi trường thì được đưa vào một mục riêng Và các khoản chi phí môi trường cũng như các khoản lợi ích môi trường không được DN theo dõi riêng
Nguyễn Thị Tấm (2018) đã thực hiện nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán trong các DN xây dựng công trình thủy điện Việt Nam và đưa ra giải pháp hoàn thiện Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết các DN xây dựng công trình thủy điện áp dụng mô hình kết hợp trong thực hiện tổ chức kế toán tài chính và kế toán quản trị DN Các BCTC đều được lập theo quy định của Bộ Tài chính, do đó, các DN chưa trình bày các chỉ tiêu liên quan đến tài sản môi trường, nợ phải trả môi trường, chi phí môi trường và thu nhập môi trường trên BCTC
Nguyễn Thị Hằng Nga (2019) nghiên cứu yếu tố tác động đến thực hiện kế toán quản trị môi trường đối với các DN sản xuất ở tỉnh thành phía Nam Việt Nam Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng thông qua kỹ thuật phỏng vấn chuyên gia và thu thập dữ liệu bằng phiếu khảo sát Tác giả xác định 2 nhóm nhân
tố tác động đến thực hiện kế toán quản trị môi trường Thứ nhất, nhóm nhân tố thuộc bối cảnh thể chế bao gồm: áp lực cưỡng ép, áp lực quy chuẩn và áp lực mô phỏng Thứ hai, nhóm nhân tố thuộc bối cảnh tổ chức bao gồm: nhận thức về sự biến động của MTKD, chiến lược môi trường và sự phức tạp của nhiệm vụ Kết quả nghiên cứu cho thấy các DN sản xuất ở các tỉnh thành khu vực phía Nam chỉ mới ghi nhận lại các thông tin liên quan đến môi trường chứ chưa tiến hành phân tích các thông tin trên cũng như đánh giá hiệu quả về môi trường Nghiên cứu cũng chỉ ra trong các yếu tố ảnh hưởng thì yếu tố áp lực cưỡng ép, áp lực quy chuẩn, áp lực mô phỏng, nhận thức về sự biến động của MTKD và chiến lược môi trường có tác động cùng chiều đến thực hiện kế toán quản trị môi trường Còn nhân tố sự phức tạp của nhiệm vụ có tác động ngược chiều đến thực hiện kế toán quản trị môi trường
1.1.4 Các nghiên cứu về nhân tố tác động đến công bố thông tin kế toán môi trường
Thông tin KTMT ngày càng thu hút nhiều sự quan tâm đòi hỏi các DN phải minh bạch trong việc công bố thông tin KTMT cho các bên liên quan
Wachira (2014) thực hiện nghiên cứu về thực hành KTMT đối với 30 DN thuộc các lĩnh vực khác nhau tại Nairobi, Kenya Tác giả đã vận dụng các lý thuyết như: lý thuyết lập pháp, lý thuyết thể chế và lý thuyết quản lý để xác định mối liên hệ với các nhân tố: quy mô DN, số năm hoạt động, công nghệ, chi phí tuân thủ, hoạt động tài chính
Trang 2515
và chiến lược môi trường Nghiên cứu đưa ra kết quả là yếu tố công nghệ có khuynh hướng tác động nhưng chỉ ở mức độ rất thấp, các nhân tố ảnh hưởng chính đó là chi phí tuân thủ, chiến lược môi trường và hiệu quả tài chính Quy mô DN và số năm hoạt động
là hai nhân tố không cho thấy mối quan hệ đối với mức độ thực hành kế toán quản trị môi trường Nghiên cứu còn chỉ ra rằng văn hóa thứ bậc và chiến lược phòng thủ là những yếu tố cản trở các DN thực hành kế toán quản trị môi trường
Barakat và cộng sự (2015) đã nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ công bố về TNXH của các DN tại Palestine và Jordan Xét trên mọi khía cạnh thì mức độ công bố thông tin KTMT của các DN ở Jordan cao hơn so với các DN ở Palestine, tuy nhiên, mức độ công bố thông tin ở cả hai nước đều thấp nếu so với các nước phương Tây Điều
đó chứng tỏ rằng các DN ở Jordan thể hiện nhiều mối quan tâm hơn đối với các nguồn lực và các cam kết cộng đồng Các nhân tố được xác định là: hệ thống pháp lý, công ty kiểm toán, quản trị DN, kích thước hội đồng quản trị, ủy ban kiểm toán, ủy ban quản trị,
tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập Các biến kiểm soát bao gồm: quy mô DN, khả năng sinh lời, tuổi DN, ngành công nghiệp Nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ thống pháp
lý, công ty kiểm toán độc lập, quản trị DN, kích thước hội đồng quản trị, ủy ban kiểm toán có ảnh hưởng tích cực đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm môi trường của
DN Hai nhân tố ủy ban quản trị, tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập không có sự ảnh hưởng Ngoài ra, nghiên cứu còn chỉ ra quy mô DN, khả năng sinh lời có tác động tích cực đến mức độ công bố TNXH của DN, trong khi tuổi DN và ngành công nghiệp thì không có ảnh hưởng
Hasan và Hosain (2015) cũng đã tiến hành nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin bắt buộc và tự nguyện về môi trường và xã hội của các
DN niêm yết trên sàn chứng khoán Dhaka tại Bangladesh Tác giả đã chọn mẫu dữ liệu bao gồm 54 DN niêm trong giai đoạn 2010 – 2013 và thực hiện nghiên cứu thông qua phương pháp phân tích hồi quy Các nhân tố được xác định bao gồm: quy mô DN, tuổi
DN, khả năng sinh lời và loại ngành công nghiệp Kết quả phân tích cho thấy các DN thực hiện công bố thông tin tự nguyện trên mức trung bình chiếm tỷ lệ 71% Nghiên cứu cũng cho thấy quy mô DN về mặt tổng tài sản và loại ngành công nghiệp có tác động tích cực đến mức độ công bố thông tin tự nguyện Mặt khác, khả năng sinh lời và tuổi
DN không cho thấy tác động Hầu hết các DN đều không đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu công bố thông tin bắt buộc và mức độ tuân thủ công bố là kém Đa số các DN công
Trang 2616
bố trung bình khoảng 50,62% các thông tin công bố trong giai đoạn 2010 – 2013, thấp nhất là 20.89% và cao nhất là 77.08% Kết quả còn chỉ ra rằng các yếu tố quyết định đến việc công bố thông tin bắt buộc đó chính là tuổi DN và loại ngành công nghiệp Trong khi đó, các nhân tố quy mô doanh nghiệp xét về mặt tài sản và doanh thu cùng với nhân tố khả năng sinh lời không có mối quan hệ đối với mức độ công bố thông tin bắt buộc
Yang và Liang (2017) thực hiện nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức
độ công bố thông tin KTMT cho các công ty niêm yết của ngành công nghiệp in và giấy
in giai đoạn 2013 – 2015 Tác giả đã chọn ra 32 công ty niêm yết được thu thập trên Sở giao dịch chứng khoán Thâm Quyến, Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải, cơ sở dữ liệu Wind của Trung Quốc và áp dụng phương pháp phân tích quy nạp kết hợp phân tích thực nghiệm để nghiên cứu Nghiên cứu đã sử dụng chỉ số công bố thông tin KTMT để thể hiện mức độ công bố thông tin KTMT của các công ty niêm yết trong ngành in Xây dựng mô hình nghiên cứu dựa trên 6 nhân tố tác động bao gồm: tỷ lệ cổ phiếu có thể giao dịch, quy mô công ty, mức độ nợ phải trả, khả năng sinh lời, khả năng tăng trưởng
và có chứng nhận ISO 14001 Kết quả phân tích chỉ ra rằng các nhân tố quy mô công
ty, có chứng nhận ISO 14001 có ảnh hưởng tích cực đến mức độ công bố thông tin KTMT Mức độ nợ phải trả, khả năng sinh lời có tác động tiêu cực, trong khi tỷ lệ cổ phiếu có thể giao dịch và khả năng tăng trưởng không có ảnh hưởng đến mức độ công
Nguyen La Soa và các cộng sự (2017) phân tích các nhân tố tác động đến mức
độ công bố thông tin KTMT của các công ty xây dựng tại Việt Nam Dữ liệu được thu thập từ 71 công ty xây dựng được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2013 – 2016 và áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trong nghiên cứu Các nhân tố tác động được xác định là: quy mô DN, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, số năm niêm yết và kiểm toán độc lập Nghiên cứu cho thấy quy mô DN, khả năng sinh lời, số năm niêm yết và kiểm toán độc lập có tác động tích cực đến mức độ công bố thông tin KTMT Trong khi đó, nhân tố đòn bẩy tài chính cho kết quả ngược
Trang 2717 lại Kết quả cũng chỉ ra rằng mức độ công bố thông tin KTMT của các công ty xây dựng
có xu hướng tăng, đặc biệt là năm 2016
Nguyen La Soa và cộng sự (2018) cũng đã thực hiện đánh giá các yếu tố tác động đến mức độ công bố thông tin KTMT của 85 DN Việt Nam đang kinh doanh theo mô hình công ty mẹ - công ty con niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2013-2017 Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để phân tích tác động của các yếu tố như: quy mô DN, số lượng công ty con, kích thước hội đồng quản trị, sở hữu nước ngoài, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, số năm niêm yết, kiểm toán độc lập đến mức độ công bố thông tin KTMT của các DN Kết quả chỉ ra rằng các yếu tố: quy mô công ty, sở hữu nước ngoài, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, số năm niêm yết và kiểm toán độc lập có tác động cùng chiều với mức độ công bố thông tin KTMT
Nguyễn và Thu (2017) đã tiến hành nghiên cứu về việc tăng khả năng tiếp cận tài chính quốc tế của các DN Việt Nam nhờ ảnh hưởng của việc công bố thông tin KTMT Để phục vụ nghiên cứu, 104 nhà đầu tư nước ngoài làm việc tại khu công nghiệp Quảng Minh, Nội Bài và Thăng Long được lựa chọn khảo sát Kết quả cho thấy quyết định đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài có bị ảnh hưởng đáng kể bởi việc công bố thông tin KTMT của DN Thứ tự tăng dần trong mức độ quan trọng của các thông tin KTMT được sắp xếp như sau: (1) tính kịp thời, (2) tính tin cậy, (3) tính đầy đủ Tuy nhiên, nghiên cứu này không phân tích các nhân tố tác động đến công bố thông tin KTMT
Đoàn và Trần (2017) đã xác định các nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin TNXH của các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Các nhân tố được nhận diện là: quy mô DN, đòn bẩy tài chính, kích thước hội đồng quản trị, mức độ độc lập của giám đốc điều hành và kiểm toán viên độc lập Mặc dù tất cả các DN trong các lĩnh vực khác nhau được nghiên cứu nhưng không nhắc đến tác động của các nhân
tố kể trên
Nguyễn Thị Mai Hương và cộng sự (2018) cũng nghiên cứu đề tài các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin KTMT đối với các DN ngành Chế biến thực phẩm niêm yết trên HOSE Nghiên cứu này áp dụng hai phương pháp FEM và REM để xác định sự tác động của hai biến độc lập là quy mô DN và thời gian niêm yết Kết quả
Trang 2818 phân tích chỉ ra cả hai biến quy mô DN và thời gian niêm yết đều có tác động tích cực đến mức độ công bố thông tin KTMT của DN
Lâm Thị Trúc Linh (2019) cũng đã nghiên cứu các nhân tố tác động đến công bố thông tin KTMT tại các DN thủy sản Việt Nam Tác giả đã sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để thực hiện nghiên cứu Sử dụng các lý thuyết nền bao gồm lý thuyết thể chế, lý thuyết hợp pháp, lý thuyết về sự phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên, lý thuyết các bên liên quan làm cơ sở biện luận cho các nhân tố tác động Dựa vào đặc điểm của các DN thủy sản Việt Nam, tác giả nhận diện các nhân tố tác động bao gồm: áp lực từ chính phủ, nhà nhập khẩu, nhà đầu tư, các tổ chức tài chính, cộng đồng về thông tin môi trường; lợi ích khi thực hiện KTMT; có các hướng dẫn thực hiện KTMT; thái độ của nhà quản lý về bảo vệ môi trường; trình độ am hiểu về KTMT của kế toán; nguồn lực tài chính cho thực hiện biện pháp bảo vệ môi trường; có sự giám sát của các cơ quan quản lý đối với các biện pháp bảo vệ môi trường tại DN Qua phân tích nhân tố khám phá, tác giả rút ra 6 nhân tố tác động theo thứ thự giảm dần sau đây: (1) có sự giám sát của các cơ quan quản lý đối với các biện pháp bảo vệ môi trường của
DN, (2) trình độ am hiểu về KTMT của kế toán, (3) thái độ của nhà quản lý về bảo vệ môi trường, (4) có các hướng dẫn thực hiện KTMT, (5) áp lực từ chính phủ, nhà nhập khẩu, nhà đầu tư, các tổ chức tài chính, cộng đồng về thông tin môi trường, (6) lợi ích khi thực hiện KTMT
Từ quá trình xác định và phân tích các nghiên cứu trước trong và ngoài nước, tác giả tiến hành tổng hợp lại các nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu thông qua bảng 1.1 sau đây:
Trang 2919
Bảng 1.1: Tổng hợp các nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài
Tên đề tài
Năm nghiên cứu
Tác giả
Phương pháp nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu Kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu nước ngoài
mức độ công bố thông tin
môi trường: nghiên cứu
Biến phụ thuộc:
- Mức độ công bố thông tin môi trường
Biến độc lập:
- Áp lực chính phủ
- Áp lực cổ đông
- Áp lực chủ nợ Biến kiểm soát:
Trang 3020
“Environmental disclosure
determinants in Dutch
listed companies”
(Yếu tố quyết định công
bố thông tin môi trường tại
các DN niêm yết Hà Lan)
Rui
Phương pháp nghiên cứu định lượng
Biến phụ thuộc:
- Mức độ công bố thông tin môi trường
Biến phụ thuộc:
- Mức độ công bố thông tin môi trường
Biến độc lập:
- Quy mô DN
- Khả năng sinh lời
- Loại hình công nghiệp
- Đòn bẩy tài chính
- Tình trạng đa quốc gia
- Chứng nhận môi trường
- Số năm hoạt động
0
0
Trang 31toán quản trị môi trường
giữa các DN tại Nairobi,
Kenya)
nghiên cứu định lượng
- Mức độ thực hành kế toán quản trị môi trường
Responsibility Disclosure
(CSRD) determinants of
listed firms in Palestine
(PXE) and Jordan (ASE)”
(Nhân tố tác động đến
công bố TNXH của các
DN niêm yết tại Palestine
(PXE) và Jordan (ASE))
2015 Barakat và
cộng sự
Phương pháp nghiên cứu định lượng
Biến phụ thuộc:
TNXH Biến độc lập:
- Hệ thống pháp lý
- Công ty kiểm toán
- Quản trị DN
- Kích thước hội đồng quản trị
- Ủy ban kiểm toán
- Ủy ban kiểm toán
- Ủy ban quản trị
- Tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập
(+) (+) (+) (+)
(+)
0
0
Trang 3222
- Ủy ban quản trị
- Tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập Biến kiểm soát
Evidence from listed
companies of the Dhaka
Stock Exchange”
(Thực hành công bố thông
tin tự nguyện và bắt buộc
tại Bangladesh: Nghiên
cứu tại các DN niêm yết
Nghiên cứu
phần mềm STATA
Biến phụ thuộc
- Tổng điểm công bố Biến độc lập
0
0 (+) (+)
Trang 33phần mềm SPSS
Biến phụ thuộc:
- Mức độ công bố thông tin KTMT
Biến độc lập:
- Tỷ lệ cổ phiếu có thể giao dịch
- Quy mô công ty
- Mức độ nợ phải trả
- Khả năng sinh lời
- Khả năng tăng trưởng
- Có chứng nhận ISO
14001
- Tỷ lệ cổ phiếu có thể giao dịch
- Quy mô công ty
- Mức độ nợ phải trả
- Khả năng sinh lời
- Khả năng tăng trưởng
- Có chứng nhận ISO
14001
0
(+) (-) (-)
0 (+)
Nghiên cứu trong nước
“Kế toán tài chính môi
Trong phương
Nhận diện thông tin KTMT trên thuyết minh BCTC
Có 72 công ty chiếm tỷ lệ 72% trình bày các thông tin môi trường trên BCTC Các công ty có công bố thông tin KTMT chủ yếu là các công ty hoạt động trong lĩnh vực nhạy cảm với môi trường như: du lịch, bất động sản, xây dựng, thủy sản, thực phẩm,
Trang 3424
pháp định lượng, thực hiện khảo sát và phân tích số liệu khảo sát đó bằng
công bố thông tin KTMT:
Trường hợp tại Việt Nam)
2017 Nguyen La
cộng sự
Phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng
Nghiên cứu
phần mềm STATA
Biến phụ thuộc:
- Mức độ công bố thông tin KTMT
Trang 3525
disclosure level of
environmental accounting
information -The case of
Vietnamese firms doing
business under the model
DN Việt Nam hoạt động
dưới mô hình công ty mẹ -
Nghiên cứu
phần mềm STATA
Biến phụ thuộc:
- Mức độ công bố thông tin KTMT
Biến độc lập
- Quy mô DN
- Số lượng công ty con
- Kích thước hội đồng quản trị
- Sở hữu nước ngoài
- Khả năng sinh lời
- Sở hữu nước ngoài
- Khả năng sinh lời
Phương pháp nghiên cứu định lượng
Trang 3626
khoán Thành phố Hồ Chí
Minh”
- Kiểm toán độc lập
- Thái độ của chủ sở hữu
về bảo vệ môi trường
“Các nhân tố tác động đến
việc công bố thông tin kế
toán môi trường – Nghiên
cứu tại các doanh nghiệp
thủy sản Việt Nam”
Trúc Linh
Phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng
Với nghiên cứu định lượng thực hiện thu thập dữ liệu thông qua khảo sát
Nghiên cứu
phần mềm SPSS
tư, các tổ chức tài chính, cộng đồng về thông tin môi trường
- Lợi ích khi thực hiện KTMT
- Có các hướng dẫn thực hiện KTMT
- Thái độ của nhà quản
lý về bảo vệ môi trường
- Trình độ am hiểu về KTMT của kế toán
Qua phân tích nhân tố khám phá, tác giả rút ra 6 nhân tố tác động theo thứ thự giảm dần sau đây: (1) có sự giám sát của các cơ quan quản lý đối với các biện pháp bảo vệ môi trường của
DN, (2) trình độ am hiểu về KTMT của kế toán, (3) thái độ của nhà quản
lý về bảo vệ môi trường, (4) có các hướng dẫn thực hiện KTMT, (5) áp lực từ chính phủ, nhà nhập khẩu, nhà đầu tư, các tổ chức tài chính, cộng đồng về thông tin môi trường, (6) lợi ích khi thực hiện KTMT
Trang 3727
- Nguồn lực tài chính cho thực hiện biện pháp bảo vệ môi trường
- Có sự giám sát của các
cơ quan quản lý đối với các biện pháp bảo vệ môi trường tại DN
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Trang 3828
1.2 Khe hổng nghiên cứu
Thông qua tổng kết các nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy vấn
đề về công bố thông tin KTMT ngày càng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu tại nhiều quốc gia khác nhau Các nghiên cứu về nhân tố tác động đến công bố thông tin KTMT chủ yếu được thực hiện ở các nước phát triển nơi mà nền kinh tế đã có những sự phát triển vượt bậc và cũng đã có những quy định về việc thực hiện và công bố thông tin KTMT Họ nghiên cứu trên nhiều khía cạnh dưới các góc độ khác nhau, từ phân tích quan điểm cá nhân trước thực trạng thực hiện công bố của các nước đến phân tích sâu hơn về tác động của một nhân tố cụ thể lên mức độ công bố thông tin KTMT Có thể nói các nhân tố ảnh hưởng cũng như mức độ tác động của mỗi nghiên cứu là khác nhau tương đối ở mỗi quốc gia riêng biệt và còn phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, quy định pháp lý về KTMT
Tại Việt Nam, KTMT vẫn còn là một vấn đề mới, mặc dù KTMT đã được nhắc đến nhiều hơn trong những năm gần đây, việc nghiên cứu và áp dụng các vấn đề liên quan đến công bố thông tin KTMT ở Việt Nam vẫn còn hạn chế Đa số các bài nghiên cứu trước đây thường tập trung phân tích các nội dung liên quan đến lý thuyết KTMT, việc thực hiện KTMT tại Việt Nam thông qua mức độ công bố thông tin môi trường trên BCTN của DN hay định hướng thực hiện KTMT trong thời gian tới… Hầu hết các nghiên cứu chỉ phân tích, đánh giá tổng quát tầm quan trọng của KTMT, các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trước việc thực hiện KTMT của các DN trên thế giới chứ không trình bày về các mức độ tác động đến công bố thông tin KTMT của DN Trong vài năm trở lại đây, các nghiên cứu về công bố thông tin KTMT mới được đẩy mạnh Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chỉ mới dừng lại ở công bố thông tin môi trường hay các tác động của công bố thông tin KTMT đến các vấn đề ở Việt Nam, rất ít các nghiên cứu nhận diện và phân tích các nhân tố tác động đến công bố thông tin KTMT của DN, nhất là khi nghiên cứu điển hình cho một nhóm ngành cụ thể, đặc biệt trong nhóm ngành công nghiệp xây dựng Bên cạnh đó, pháp luật về kế toán Việt Nam hiện nay cũng chưa
có các quy định hay hướng dẫn liên quan đến thực hiện KTMT và công bố thông tin KTMT Phần lớn các DN có cung cấp các thông tin liên quan đến môi trường đều là những DN hoạt động trong lĩnh vực nhạy cảm với môi trường và chịu sự chi phối bởi các áp lực từ chính phủ, nhà đầu tư, các chính sách thực hiện bảo vệ môi trường và Luật môi trường
Trang 3929 Thông qua bảng 1.1, tác giả nhận thấy rằng điểm chung của các nghiên cứu trước liên quan đến đo lường các nhân tố tác động là đều sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, trong đó phần mềm được sử dụng phổ biến để thực hiện nghiên cứu là phần mềm SPSS và STATA để xử lý dữ liệu thứ cấp Do đó, tác giả cũng lựa chọn phương pháp định lượng để thực hiện nghiên cứu và sử dụng phần mềm STATA để thực hiện nghiên cứu Lý do để chọn phần mềm này là bởi vì dữ liệu nghiên cứu của tác giả cũng
là dữ liệu thứ cấp và phần mềm này cũng là một trong những phần mềm hiện đại và mới nhất để xử lý dữ liệu thứ cấp
Về mô hình nghiên cứu, nhìn chung biến độc lập của các nghiên cứu trước đều được đề xuất biến chung như quy mô DN – đây là biến có ở hầu hết các nghiên cứu định lượng về xác định nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin KTMT Bên cạnh đó, một số mô hình nghiên cứu cũng đề xuất chung các biến như: Biến khả năng sinh lời (7
mô hình nghiên cứu), tuổi DN (3 mô hình nghiên cứu), ngành công nghiệp (4 mô hình nghiên cứu), số năm niêm yết (4 mô hình nghiên cứu), kiểm toán độc lập (3 mô hình nghiên cứu) và biến kích thước hội đồng quản trị (2 mô hình nghiên cứu) Các biến khác của các mô hình nghiên cứu trước được đề xuất khác nhau tùy theo từng mục tiêu nghiên cứu và đặc điểm kinh tế của từng nước khác nhau
Tuy nhiên, trong số các nghiên cứu được tổng hợp, nghiên cứu sát nhất với đề tài của tác giả là nghiên cứu của Nguyen La Soa và cộng sự (2017) Đối tượng phân tích trong nghiên cứu này cũng là DN xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán và cũng đánh giá tác động của các nhân tố đến mức độ công bố thông tin KTMT Bên cạnh đó, nghiên cứu này thực hiện phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng và cũng sử dụng phần mềm STATA để nghiên cứu Hơn nữa, bài nghiên cứu này là đáng tin cậy vì
đã được duyệt và đăng trên tạp chí quốc tế Accounting and Finance Research năm 2017 Các biến độc lập trong mô hình của Nguyen La Soa và cộng sự (2017) cũng có những điểm tương đồng với các nghiên cứu trước Cụ thể, biến quy mô DN, khả năng sinh lời
và đòn bẩy tài chính, số năm niêm yết và kiểm toán độc lập đều là các biến được tìm thấy trong nhiều nghiên cứu trước đó Ngoài ra, mô hình này được nghiên cứu tại Việt Nam nên các nhân tố được sử dụng để phân tích là hoàn toàn phù hợp với các đặc điểm của Việt Nam Do vậy, tác giả quyết định kế thừa các 5 biến độc lập trong mô hình của Nguyen La Soa và cộng sự (2017) áp dụng cho mô hình nghiên cứu của tác giả
Trang 4030 Xét trong nghiên cứu của Nguyen La Soa và cộng sự (2017), dữ liệu nghiên cứu thực hiện trong giai đoạn 2013 – 2016, như vậy, nghiên cứu được thực hiện trong 2 giai đoạn trước và sau khi có Thông tư 155/2015/TT-BTC bởi năm 2016 là thời điểm mới nhất mà Nhà nước, cụ thể là Bộ Tài chính, có quan điểm rõ ràng về công bố thông tin môi trường đối với các DN niêm yết trên sàn chứng khoán thông qua BCTN dưới hình thức được gọi là KTMT Trong khi đó, tác giả thực hiện nghiên cứu trong giai đoạn
2015 – 2018, là giai đoạn đã có sự xuất hiện của Thông tư 155/2015/TT-BTC Do đó, điểm khác biệt trong nghiên cứu của tác giả là đánh giá về khía cạnh tuân thủ trong việc thực thi về công bố thông tin KTMT theo tinh thần của Thông tư 155/2015/TT-BTC mà
Bộ Tài chính đã ban hành cho các DN niêm yết trên sàn chứng khoán
Từ những khe hổng nghiên cứu đã xác định, tác giả thực hiện nghiên cứu về “Các
nhân tố tác động đến công bố thông tin kế toán môi trường - Nghiên cứu điển hình của
ngành công nghiệp xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh”
Trên cơ sở nhận diện các nhân tố tác động từ các nghiên cứu trước và đặc điểm của các
DN trong nhóm ngành công nghiệp xây dựng ở Việt Nam, tác giả đề xuất mô hình và phân tích các nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin KTMT, cụ thể trong các
DN hoạt động trong lĩnh vực xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
1.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Từ các lập luận đã xác định ở phần trên, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu dựa trên mô hình nghiên cứu của Nguyen La Soa và cộng sự (2017) Mô hình bao gồm biến phụ thuộc là: mức độ công bố thông tin KTMT và các biến độc lập là: quy mô DN, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, số năm niêm yết và kiểm toán độc lập Mô hình có dạng như sau:
EAID = 𝜷₀ + 𝜷₁ SIZE + 𝜷₂ PRO + 𝜷₃ LEV + 𝜷₄ AUD + 𝜷₅ AGE + ℇ
Trong đó:
EAID: Công bố thông tin KTMT
β0: Tham số chặn
β1, β2, β3, β4, β5: Tham số chưa biết
SIZE: Quy mô DN
PRO: Khả năng sinh lời
LEV: Đòn bẩy tài chính