Hiện nay, áp dụng các biện pháp bảo đảm mà tài sản bảo đảm là các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ chưa được các tổ chức tín dụng áp dụng rộng rãi bởi lẽ quy định pháp luật điều chỉnh về v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn “Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng quyền
sở hữu trí tuệ” là công trình khoa học của chính tôi
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong Luận văn, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của Luận văn này chưa từng được công bố hoặc sử dụng để nhận bằng cấp ở nơi khác
Không có nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong Luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019
Tác giả
Vũ Yến Nhi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Luật, Khoa Đào tạo sau đại học, Thư viện Trường cùng toàn thể quý thầy cô Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Lâm Tố Trang – Trưởng Bộ môn Luật dân sự đã hết lòng giúp đỡ, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo
và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện việc nghiên cứu luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn ở bên cạnh hỗ trợ, giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Cuối cùng, xin trân trọng cám ơn các thầy, cô trong Hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những ý kiến đóng góp quý báu để tôi hoàn chỉnh luận văn này
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Sự phát triển của nền kinh tế của quốc gia dẫn đến sự phát triển đa dạng của việc thiết lập các quan hệ dân sự trong đời sống hằng ngày Vai trò của của các quan hệ dân sự trong xã hội rất quan trọng mà hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia đó phải đảm bảo điều chỉnh phù hợp với các mối quan hệ xã hội
đó Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong các giao dịch dân sự trải qua một thập
kỷ đến nay đã là một hoạt động phổ biến trong các giao dịch thương mại, đặc biệt là hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng trong việc tiếp cận với nguồn vốn tín dụng để phát triển kinh doanh, sản xuất
Biện pháp thế chấp là một trong những biện pháp đảm bảo, hữu dụng được sử dụng nhằm hạn chế những rủi ro trong quan hệ vay vốn tín dụng Tài sản thế chấp rất đa dạng bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản, trong đó quyền tài sản là một dạng tài sản vô hình và quy định cụ thể tại Điều
115, Bộ luật dân sự 2015 gồm các đối tượng quyền SHTT, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác Trong thời gian vừa qua, hoạt động thế chấp quyền sử dụng đất trở nên phổ biến, đặc biệt kể từ khi ban hành Luật đất đai năm 2013 quy định chi tiết việc thế chấp quyền sử dụng đất tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức và các tổ chức tín dụng tham gia hoạt động cho vay để tham gia đầu tư sản xuất, kinh doanh phát triển mạnh mẽ Mặc dù cùng đối tượng giao dịch như quyền sử dụng đất nhưng các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ lại chưa được quy định cụ thể tại Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 mà xu hướng của đối tượng tài sản này lại ngày càng phát triển phục vụ cho đời sống, xã hội, con người
Hiện nay, áp dụng các biện pháp bảo đảm mà tài sản bảo đảm là các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ chưa được các tổ chức tín dụng áp dụng rộng rãi bởi lẽ quy định pháp luật điều chỉnh về vấn đề này vẫn còn hạn chế Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích các đặc điểm để xác định các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ
là tài sản đảm bảo được áp dụng phổ biến trong các giao dịch dân sự có bảo đảm tương tự như quyền sử dụng đất đã được áp dụng trong thời gian qua, kết luận biện
Trang 6pháp nào áp dụng phù hợp với các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ và đưa kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm phát triển loại tài sản này trong các giao dịch dân sự có bảo đảm
Bộ luật dân sự 2015 là công cụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia các giao dịch dân sự, tuy nhiên qua quá trình triển khai thực hiện trên thực
tế, pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ mà tài sản bảo đảm là các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn bất cập, đặc biệt là trong quá trình thực hiện, các tổ chức tín dụng vẫn còn mơ hồ trong việc áp dụng các quy định pháp luật Hiện nay, chỉ có Bộ luật dân sự năm 2015 đề cập đến tài sản được bảo đảm trong đó bao gồm các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, tuy nhiên Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi,
bổ sung năm 2009 chưa quy định cụ thể Điều này làm hạn chế các doanh nghiệp chưa mạnh dạn dùng tài sản trí tuệ của mình để thực hiện vay vốn, tìm kiếm chi phí đầu tư cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp mình Pháp luật nên
mở rộng, thống nhất, khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện lao động sáng tạo để tạo ra nhiều sản phẩm trí tuệ phục vụ cho đời sống, xã hội và những tài sản đó đều mang lại giá trị lợi ích nhất định, nếu khai thác tốt giá trị tài sản sẽ đem lại hiệu quả kinh tế tốt cho các doanh nghiệp và cho sự phát triển kinh tế
Từ những vấn đề trên, với mong muốn nghiên cứu một cách sâu sắc và thực
tế về tài sản bảo đảm là các đối tượng quyền SHTT, đề tài “Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng quyền sở hữu trí tuệ” với cơ cấu hai chương nhằm giải quyết
những vấn đề cơ bản sau:
Chương 1: Tổng quan về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng quyền sở hữu trí tuệ
Nội dung Chương 1, tác giả nêu các nội dung chủ yếu sau:
1 Khái quát về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ: Trong nội dung này, tác giả đề cập đến khái niệm, đặc điểm phân loại của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và đề cập các loại tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Dựa trên những đặc điểm cơ bản, tác giả phân tích từng biện pháp gắn liền với việc thực hiện cụ thể đối với từng biện pháp, tìm ra đặc trưng cơ bản và sự khác nhau của các
Trang 7biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Bên cạnh đó, việc phân loại tài sản giúp hiểu
rõ nội hàm cơ bản của các loại tài sản và việc áp dụng cho từng loại tài sản khác nhau được quy định cụ thể tại Bộ luật dân sự năm 2015
2 Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ: Theo nội dung này, tác giả đề cập đến
sự ra đời và quan điểm một số nhà triết học về quyền sở hữu trí tuệ Căn cứ theo Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, tác giả nêu các khái niệm, phân loại quyền sở hữu trí tuệ; một số đặc điểm, bản chất để phân biệt quyền sở hữu trí tuệ với các tài sản khác và các quy định pháp luật về việc xác lập và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
3 Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng quyền sở hữu trí tuệ: Từ các khái niệm, nội dung cơ bản theo quy định pháp luật về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và quyền sở hữu trí tuệ, tác giả phân tích những đặc điểm cơ bản, nội hàm của từng biện pháp để tìm ra biện pháp áp dụng phù hợp đối với quyền sở hữu trí tuệ Theo đó, căn cứ đặc điểm của các biện pháp và cho rằng biện pháp thế chấp
là biện pháp phù hợp áp dụng đối với tài sản bảo đảm là các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ Các bên đăng ký biện pháp thế chấp là biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng, thì hợp đồng thế chấp chính là sự thỏa thuận của các bên trong việc ràng buộc nhau thực hiện hợp đồng chính Hợp đồng thế chấp cũng được thực hiện các bước theo quy trình từ việc xác lập, thay đổi, thực hiện và chấm dứt hợp đồng theo quy định của pháp luật
Chương 2: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản là quyền sở hữu trí tuệ và kiến nghị hoàn thiện
Nội dung Chương 2, tác giả nêu các nội dung chủ yếu sau:
1 Các giai đoạn phải trải qua của một hợp đồng thế chấp bao gồm việc xác lập, đăng ký biện pháp thế chấp, thực hiện hợp đồng và các trường hợp chấm dứt hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sở hữu trí tuệ Nội dung này được căn cứ theo
Bộ luật dân sự 2015, bên cạnh đó các điều kiện về chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức cũng phải đảm bảo phù hợp Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009
Trang 82 Nhận định vai trò của sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế tại Việt Nam: Tác giả đề cập đến vai trò của sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và tầm quan trọng trong nền nền kinh tế từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Tác giả phân tích sự phát triển của tài sản là các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ ngày càng gia tăng và là tài sản chiếm ưu thế trong doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ từ đó nhận định tài sản là đối tượng quyền sở hữu trí tuệ phần nào mang lại giá trị cao trong khối tài sản của một doanh nghiệp, tuy nhiên việc khai thác giá trị mang lại của tài sản này chưa đúng mực
3 Tác giả đánh giá việc ban hành quy định về thế chấp tài sản là quyền sở hữu trí tuệ với những ưu điểm và hạn chế nhất định, từ đó tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về thế chấp tài sản là quyền sở hữu trí tuệ
Luận văn “Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng quyền sở hữu trí tuệ” là
một công trình nghiên cứu tổng quan, toàn diện về vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ bằng quyền sở hữu trí tuệ thông qua căn cứ quy định pháp luật của Bộ luật dân
sự 2015 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 nhằm mục tiêu chỉ ra vai trò của quyền sở hữu trí tuệ có tầm quan trọng trong nền kinh tế Đưa ra
đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật để mở rộng, khuyến khích các doanh nghiệp,
tổ chức tín dụng mạnh dạn thực hiện hoạt động vay vốn mà tài sản bảo đảm là quyền sở hữu trí tuệ Vì lẽ đó mà đối tượng quyền sở hữu trí tuệ sẽ được khai thác
một cách tốt nhất, triệt để các lợi ích kinh tế mà loại tài sản này mang lại
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iii
MỤC LỤC vii
DANH MỤC VIẾT TẮT ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Câu hỏi nghiên cứu: 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Ý nghĩa nghiên cứu 7
8 Kết cấu luận văn 8
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 9
1.1 Khái quát về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ 9
1.1.1 Khái niệm của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ 9
1.1.2 Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ 11
1.1.3 Phân loại các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ 12
1.1.4 Các loại tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ 15
1.2 Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ 19
1.2.1 Sự ra đời của quyền sở hữu trí tuệ 19
1.2.2 Khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ 24
1.2.3 Phân biệt quyền sở hữu trí tuệ với các tài sản khác 27
1.2.4 Phân loại quyền sở hữu trí tuệ 33
1.2.5 Xác lập và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 36
1.3 Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng quyền sở hữu trí tuệ 38
Trang 10CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN LÀ
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 42
2.1 Thành lập hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sở hữu trí tuệ 42
2.1.1 Điều kiện về chủ thể của hợp đồng thế chấp 43
2.1.2 Điều kiện về hình thức của hợp đồng thế chấp 45
2.1.3 Điều kiện về nội dung của hợp đồng thế chấp 46
2.2 Đăng ký biện pháp thế chấp tài sản là quyền sở hữu trí tuệ 49
2.3 Thực hiện hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sở hữu trí tuệ 50
2.3.1 Quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp 50
2.3.2 Quyền và nghĩa vụ của bên nhận thế chấp 52
2.4 Chấm dứt hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sở hữu trí tuệ 53
2.4.1 Chấm dứt hợp đồng thế chấp theo quy định pháp luật 53
2.4.2 Chấm dứt hợp đồng thế chấp theo thoả thuận của các bên 58
2.5 Nhận định vai trò của sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế tại Việt Nam Error! Bookmark not defined 2.6 Đánh giá việc ban hành quy định pháp luật về thế chấp tài sản là quyền sở hữu trí tuệ 59
2.6.1 Ưu điểm 59
2.6.2 Hạn chế 61
2.7.Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về thế chấp tài sản là quyền sở hữu trí tuệ 65
KẾT LUẬN 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường tạo cơ hội cho các giao dịch dân
sự, thương mại ngày càng phát triển Song song đó, các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành kịp thời đáp ứng cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thiết lập quan hệ dân sự Điều đó cho thấy các quan hệ dân sự có vai trò chủ yếu trong xã hội mà mỗi quốc gia phải hoàn thiện hệ thống pháp luật, phải
mở rộng, thống nhất tạo cơ sở cho việc thi hành pháp luật theo khuôn khổ, bên cạnh
đó cũng là công cụ hỗ trợ cho các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện công tác quản lý góp phần cho sự ổn định và phát triển kinh tế, xã hội
Bộ luật dân sự năm 1995 lần đầu tiên quy định về các biện pháp nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự tại Mục 5, Chương I, phần “Nghĩa vụ dân sự và Hợp đồng dân sự” đã tạo ra một hành lang pháp lý cho các giao dịch bảo đảm, là cơ sở
để các chủ thể căn cứ khi tham gia vào các giao dịch dân sự có bảo đảm theo một chuẩn mực pháp lý nhất định, tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ cho các giao dịch dân
sự chính được thực hiện một cách hoàn chỉnh nhất Thay thế cho BLDS 1995, việc ban hành BLDS 2005 và BLDS 2015 là các giai đoạn thay đổi lớn trên cơ sở kế thừa luật cũ tiến tới hoàn thiện cơ sở pháp lý cho các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng, trong đó những quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cũng được sửa đổi, bổ sung nhằm điều chỉnh cụ thể, có hiệu quả hơn cho các giao dịch dân sự có bảo đảm
Trong khoảng hơn một thập kỷ đến nay, đi cùng với sự phổ biến các giao dịch dân sự còn có sự phát triển đa dạng các đối tượng giao dịch dân sự, trong đó chủ yếu là tài sản Theo Khoản 1 Điều 105, BLDS 2015 liệt kê tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Như vậy vật, tiền, giấy tờ có giá là những tài sản hữu hình có thể cầm, nắm, quản lý và nhận biết thông qua bản chất vật lý của
nó, còn quyền tài sản là loại tài sản có trị giá được bằng tiền, không nhận biết được thông qua bản chất vật lý do đó có thể hiểu quyền tài sản thuộc loại tài sản vô hình
Trang 13Theo Điều 115, BLDS 2015 quy định về quyền tài sản bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền SHTT, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác Trong đó tài sản là các đối tượng quyền SHTT ngày càng phát triển, là thành quả được tạo ra
do trình độ, tri thức, sáng tạo của con người nhằm phát triển khoa học công nghệ,
kỹ thuật phục vụ cho đời sống, xã hội Sự ra đời của Luật SHTT vào năm 2005 cùng với sự phát triển của BLDS 1995, 2005, 2015 đã mang lại một hành lang pháp
lý bảo vệ, tạo điều kiện cho con người sáng tạo, phát minh khoa học, công nghệ, kỹ thuật phục vụ cho đời sống con người Đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, các đối tượng quyền SHTT đang ngày càng tăng, ví dụ số lượng đơn đăng ký bảo hộ sáng chế tại năm 2009 là 258 đơn, năm 2018 số lượng tăng gấp đôi
là 574 đơn; đối với đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá tại năm 2009 là 23.378 đơn, năm 2019 là 33.799 đơn1 Để chạy theo sự phát triển liên tục đó, pháp luật cũng cần hoàn thiện nhằm đáp ứng nhu cầu và thể hiện vai trò, chức năng trong công tác điều chỉnh các quan hệ dân sự, đặc biệt liên quan đến các giao dịch dân sự
có bảo đảm bằng quyền SHTT Hiện nay, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng quyền SHTT chưa được các tổ chức tín dụng áp dụng rộng rãi bởi lẽ quy định pháp luật điều chỉnh về vấn đề này vẫn còn hạn chế Do đó, tác giả tập trung nghiên cứu, phân tích các đặc điểm để xác định các đối tượng quyền SHTT là tài sản đảm bảo được áp dụng phổ biến trong các giao dịch dân sự có bảo đảm tương tự như quyền sử dụng đất đã được áp dụng trong thời gian qua, kết luận biện pháp nào áp dụng phù hợp với các đối tượng quyền SHTT và đưa kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm phát triển loại tài sản này trong các giao dịch dân sự có bảo đảm
Từ những vấn đề trên, với mong muốn nghiên cứu một cách sâu sắc và thực
tế về tài sản bảo đảm là các đối tượng quyền SHTT, tác giả chọn đề tài “Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng quyền sở hữu trí tuệ” làm đề tài nghiên cứu cho luận
văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
1
Số liệu được thống kê tại website của Cục sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ
http://www.ipvietnam.gov.vn và dựa trên các báo cáo thường niên hoạt động sở hữu trí tuệ từ năm
2005 đến 2017 của Cục Sở hữu trí tuệ
Trang 14Hiện nay, các tài liệu nghiên cứu khoa học về các biện pháp bảo đảm bằng quyền SHTT còn rất hạn chế, giáo trình giảng dạy cũng chưa đề cập đến nội dung này Hầu như chỉ có các công trình nghiên cứu, tạp chí, bài báo khoa học đề cập và chủ yếu đánh giá về sự hoàn thiện của quy định pháp luật trong việc sử dụng quyền SHTT là tài sản bảo đảm, đánh giá giá trị của quyền SHTT và dựa trên các quy định tương tự như quyền sử dụng đất, từ đó nhận định quyền SHTT có những đặc trưng
mà cần các nhà làm luật khai thác các đối tượng quyền SHTT là tài sản bảo đảm và nên được áp dụng rộng rãi Luận văn chủ yếu dựa trên một số bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành và một số luận văn, công trình khoa học về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, cụ thể như sau:
- Luận án tiến sĩ luật học năm 2014 của Bà Nguyễn Bích Thảo – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội: “Legal Frameworks for Intellectual Property-Based Secured Financing: Proposals for Reform in Vietnam” (Khung pháp lý cho hoạt động tài trợ vốn có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ: Kiến nghị hoàn thiện ở Việt Nam)
- Bài báo “Giao dịch bảo đảm bằng tài sản vô hình: một số gợi ý hoàn thiện quy định hiện hành” của Ông Bùi Đức Giang, đăng trên Tạp chí ngân hàng số 17, tháng 9 năm 2014; Tác giả cho rằng việc sử dụng tài sản vô hình đảm bảo nghĩa vụ
có nhiều ưu điểm so với tài sản hữu hình vì giúp tránh được nguy cơ tài sản bị mất,
bị phá hủy hay giảm giá trị, thuận lợi cho việc lưu trữ và chuyển giao bằng phương tiện điện tử Tuy nhiên, ở Việt Nam việc cho vay có đảm bảo bằng tài sản vô hình chưa thực sự phổ biến, quy định pháp luật hiện nay còn thiếu, ít tính khả thi đang là rào cản cho việc xác lập và xử lý các giao dịch bảo đảm bằng tài sản vô hình Ông nêu rõ khái niệm, bản chất pháp lý và cho rằng tài sản vô hình không thể chiếm hữu hay chuyển giao về mặt vật chất nên chỉ có thế chấp là biện pháp không đặt ra yêu cầu chuyển giao tài sản cho chủ nợ có bảo đảm mới có thể áp dụng được cho tài sản
vô hình Ông đưa ra những bất cập, hạn chế và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thế chấp tài sản vô hình trong đó có thế chấp quyền SHTT
- Bài báo “Cho vay đảm bảo bằng tài sản trí tuệ: Cũ người, mới ta” của Linh Chi, đăng trên báo điện tử Doanh nhân Sài Gòn, năm 2015 Tác giả bài viết
Trang 15cho rằng thị trường bất động vào năm 2015 chưa phát triển, việc sử dụng tài sản bảo đảm là bất động sản để vay rất khó khăn, do đó động lực thúc đẩy sản xuất, kinh doanh của doanh chính là tài sản trí tuệ và cũng là giải pháp hiệu quả đối với các ngân hàng thương mại Bà Nguyễn Xuân Thảo, giáo sư luật, chuyên gia về giao dịch bảo đảm, Đại học Luật MC Kinney và Trường Tổng hợp Indiana (Mỹ) cho biết tài trợ vốn có bảo đảm là tài sản trí tuệ lâu nay đã được các ngân hàng ở Mỹ triển khai, do đó Việt Nam cho vay theo hình thức này cũng hoàn toàn phù hợp, đồng thời hệ thống pháp liên quan phải tiếp tục được hoàn thiện
- Bài báo “Nên có quy định thế chấp tài sản vô hình” của Phạm Hà Nguyên, đăng trên báo điện tử Thời báo ngân hàng ngày 21 tháng 3 năm 2016; Bài viết thể hiện các doanh nghiệp không có tài sản thế chấp để vay vốn tín dụng nên các chuyên gia kinh tế, một số nhà quản lý đặt vấn đề có thể thế chấp tài sản vô hình, cụ thể là phát minh, sáng chế, ý tưởng kinh doanh,… tuy nhiên khi đem ra là tài sản thế chấp nợ vay cần phải có quy định về giá thị trường cho tài sản đó, việc thương mại hóa các tài sản vô hình cần sự đỡ đầu, quan tâm của các cơ quan quản lý Nhà nước để thúc đẩy cho sự phát triển của doanh nghiệp
Dựa vào các tài liệu vừa nêu và một số tài liệu khác, tác giả đưa ra các lý luận, quan điểm, nhận xét thông qua việc tham khảo, nghiên cứu của các chuyên gia Bên cạnh đó, luận văn tập trung phân tích những tính mới trên cơ sở so sánh với quy định về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ do pháp luật hiện hành quy định Nhận định vai trò, vị trí của các biện pháp bảo đảm bằng quyền SHTT theo sự phát triển đa dạng của các giao dịch dân sự có bảo đảm trong xã hội hiện nay Từ đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về biện pháp bảo đảm bằng quyền SHTT
3 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về các biện pháp biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng quyền SHTT ở Việt Nam hiện nay, đề tài tập trung nghiên cứu với các mục đích:
Trang 16Thứ nhất, tìm hiểu các quy định pháp luật về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng quyền SHTT ở Việt Nam hiện nay
Thứ hai, đánh giá tình hình thực tiễn hiện nay (ưu điểm, nhược điểm, hạn chế phát sinh, lợi ích của các bên)
Thứ ba, đưa ra đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
4 Câu hỏi nghiên cứu:
Những nội dung cần nghiên cứu:
- Pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ?
- Trong các biện pháp bảo đảm, biện pháp nào phù hợp cho tài sản là đối tượng quyền SHTT?
- Pháp luật quy định như thế nào về hợp đồng thế chấp quyền SHTT?
- Những rủi ro có thể xảy ra đối với doanh nghiệp (bên có tài sản thế chấp),
- Pháp luật cần sửa đổi, bổ sung như thế nào để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tham gia vào giao dịch dân sự có bảo đảm bằng quyền SHTT?
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung các vấn đề sau đây:
- Nghiên cứu quy định pháp luật về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ bằng quyền SHTT, tập trung nghiên cứu về thế chấp quyền SHTT
- Đánh giá ưu điểm, hạn chế quy định pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ bằng quyền SHTT
Trang 17- Kiến nghị, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng quyền SHTT
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về biện pháp bảo đảm bằng quyền SHTT theo quy định của BLDS 2015, Luật SHTT 2005, sửa đổi,
bổ sung năm 2009 và các văn bản pháp luật liên quan khác
Quyền SHTT nghiên cứu trong luận văn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
Luận văn phân tích, đánh giá chủ yếu dựa trên lý luận, cơ sở pháp lý theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành
Trong các biện pháp do pháp luật quy định, căn cứ vào tính chất, đặc trưng của biện pháp thế chấp do pháp luật quy định, luận văn sẽ nghiên cứu về thế chấp quyền SHTT thông qua phân tích những đặc điểm của biện pháp thế chấp phù hợp với tài sản là đối tượng quyền SHTT và đưa ra đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện
quy định pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng quyền SHTT
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp lịch sử được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ qua các giai đoạn phát triển của BLDS;
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi phân tích các vấn đề liên quan đến bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng quyền SHTT, chỉ ra biện pháp nào phù hợp với đối tượng tài sản là quyền SHTT Vì đây là một vấn đề mới chưa được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật do đó cần phân tích các quy định thực tại, tìm ra mối liên hệ giữa các chủ thể để tổng hợp các quan điểm nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trong phần câu hỏi giả thuyết
- Phương pháp thống kê, so sánh được sử dụng phần nghiên cứu nhằm khẳng định vị trí, vai trò của quyền SHTT trong các giao dịch bảo đảm và việc sử dụng quyền SHTT như là một đối tượng tài sản trong các giao dịch có gì khác so với loại
Trang 18tài sản thông thường Từ đó đánh giá vai trò của giao dịch này trong doanh nghiệp
và thị trường., tìm ra những ưu điểm, nhược điểm, hạn chế về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng quyền SHTT, đưa ra đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật
7 Ý nghĩa nghiên cứu
Nội dung của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy luật học tại các cơ sở đào tạo luật ở nước ta, đặc biệt đối với chuyên ngành luật dân sự
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn sẽ tìm hiểu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật về hợp đồng thế chấp tài sản là quyền SHTT nhằm tìm ra ưu điểm đem lại quyền lợi cho doanh nghiệp, tổ chức tín dụng và cơ quan quản lý nhà nước Đưa ra đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng quyền SHTT
Những phân tích ứng dụng vào thực tiễn do tác giả nghiên cứu phần nào có ý nghĩa thiết thực cho các nhà làm luật hoặc ứng dụng đối với các doanh nghiệp về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng quyền SHTT Tác giả tin rằng những kiến nghị khoa học trong luận văn được sử dụng là nguồn để tham khảo trong công tác xây dựng pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng quyền SHTT Đây cũng là lĩnh vực cần thiết bởi lẽ tri thức, sự sáng tạo của con người ngày càng phát triển không giới hạn, nếu không nâng tầm quan trọng của quyền SHTT sẽ không tạo một hành
Trang 19lang pháp lý bảo vệ cho công dân Nội dung luận văn sẽ góp phần hỗ trợ thông tin, kiến thức để các chuyên gia tham khảo và hoàn thiện các công trình nghiên cứu tiến
bộ hơn
8 Kết cấu luận văn
Kết cấu luận văn “Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng quyền sở hữu trí tuệ” bao gồm các nội dung sau:
Trang 20CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ
BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 1.1 Khái quát về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
1.1.1 Khái niệm của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Giao dịch dân sự, kinh doanh, thương mại là những hoạt động tất yếu, thường xuyên và phổ biến trong đời sống kinh tế, xã hội Nhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của các bên trong giao kết, pháp luật quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, việc bảo đảm gắn với trách nhiệm dân sự về tiền, tài sản và việc trả nợ, nên trong nhiều trường hợp còn được gọi là bảo đảm nghĩa vụ tài chính, bảo đảm nghĩa vụ tài sản hay bảo đảm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng
Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng nói chung lần đầu tiên quy định trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989, sau đó BLDS 1995 lần đầu tiên quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và được điều chỉnh, bổ sung, bãi bỏ một số điều khoản trong BLDS 2005 và BLDS 2015 để áp dụng phù hợp với tình hình thực tiễn theo từng giai đoạn Biện pháp bảo đảm được áp dụng rộng rãi, phổ biến trong kinh doanh, đầu tư và các giao dịch dân sự khác (mua bán, vay, thuê, mướn, dịch vụ, đại lý, đấu giá, gửi giữ, chuyển nhượng,…) Ngoài quy định chủ yếu trong BLDS 2015 còn được đề cập trong các đạo luật khác như Luật doanh nghiệp năm 2014, Luật đất đai năm 2013, Luật nhà ở năm 2014, Luật kinh doanh bất động sản 2014, Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015,… Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tuy chỉ là hợp đồng phụ nhưng trong nhiều trường hợp lại đóng vai trò quan trọng hơn cả hợp đồng chính bởi lẽ việc bảo đảm có thể gây ra trường hợp không thực hiện nghĩa vụ nếu như hợp đồng phụ đó vô hiệu, các bên có thể bị ảnh hưởng hậu quả pháp lý do hợp đồng phụ đó quy định
Như vậy, có thể hiểu bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là việc các bên thoả thuận
áp dụng biện pháp dự phòng để bảo đảm lợi ích của bên có quyền bằng cách cho phép bên có quyền được xử lý những tài sản thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ chính Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa
Trang 21vụ sẽ nâng cao ý thức thực hiện nghĩa vụ đúng và đầy đủ của bên có nghĩa vụ Bên cạnh đó, các biện pháp này cũng giúp cho bên có quyền bảo vệ quyền và lợi ích của mình trong các giao dịch Theo đó, khi phát sinh các tranh chấp trong quá trình thực hiện nghĩa vụ, để bảo đảm lợi ích cho các bên tham gia giao kết và chủ thể khác có liên quan thì các biện pháp bảo đảm là cơ sở để các bên căn cứ thực hiện việc giải quyết hậu quả khi xảy ra tranh chấp,
Chủ thể của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Chủ thể của giao dịch bảo đảm bao gồm bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm Bên bảo đảm là bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình hoặc bằng việc thực hiện công việc nhất định để cam kết trước bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ chính Bên nhận bảo đảm là bên chấp nhận sự cam kết của bên kia về việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản hoặc bằng việc thực hiện công việc nhất định Như vậy bên bảo nhận bảo đảm là bên có quyền trong quan hệ bảo đảm
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp chỉ có hai chủ thể trong giao dịch bảo đảm Đối với biện pháp bảo lãnh có ba chủ thể gồm bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh Trong trường hợp này, bên bảo lãnh không còn là bên buộc phải thực hiện nghĩa vụ chính mà sẽ trở thành người thứ ba thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh (bên phải thực hiện nghĩa vụ) trước bên nhận bảo lãnh (bên có quyền và nhận lợi ích của giao dịch)
Đối tượng của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Giao dịch dân sự có bảo đảm sẽ có hai quan hệ pháp luật: Quan hệ nghĩa vụ chính và quan hệ bảo đảm cho quan hệ nghĩa vụ chính Quan hệ bảo đảm nhằm bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ chính Quan hệ bảo đảm có thể dựa trên sự uy tín của cá nhân, tổ chức hoặc việc thực hiện một công việc do các bên thoả thuận hoặc dựa trên tài sản để bảo đảm Trong các biện pháp đa phần sử dụng tài sản làm đối tượng bảo đảm, tuy nhiên trong một số trường hợp không sử dụng tài sản làm công
cụ bảo đảm như biện pháp tín chấp sử dụng uy tín của bên bảo đảm cho bên được bảo đảm vay một khoản tiền hoặc biện pháp bảo lãnh (trừ bảo lãnh bằng tài sản)
Trang 22được áp dụng khi cam kết thực hiện một công việc nào đó của bên bảo lãnh thay cho bên được bảo lãnh
1.1.2 Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Căn cứ vào tính chất, nội dung quy định và điều kiện mà từng biện pháp có những đặc trưng riêng biệt, tuy nhiên các biện pháp vẫn có những đặc điểm chung như sau:
Thứ nhất, các biện pháp được xác lập phải gắn liền với nghĩa vụ chính Theo đúng bản chất của tên gọi các biện pháp này nhằm bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ
đã giao kết trong hợp đồng chính, như vậy chúng không tồn tại độc lập mà nội dung phải luôn phụ thuộc vào nghĩa vụ chính do các bên xác lập, gọi là nghĩa vụ phụ (gọi
là hợp đồng phụ)
Thứ hai, các biện pháp được xác lập nhằm đảm bảo trách nhiệm của các bên khi tham gia giao dịch dân sự Theo tinh thần của pháp luật, việc thoả thuận xác lập các biện pháp bảo đảm không nhằm mục đích chính là răn đe mà nhằm tạo sự trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của một hoặc các bên khi tham gia giao kết Các bên có ý thức bảo vệ uy tín, có trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ để không xảy ra hậu quả pháp lý, phù hợp áp dụng đối với các hợp đồng có giá trị lớn
Thứ ba, các biện pháp được xác lập bởi những lợi ích vật chất, trong thời buổi kinh tế phát triển, không thể dùng hoàn toàn quyền nhân thân hoặc uy tín của các bên mà phải dùng lợi ích vật chất để bảo đảm, tức là dùng tài sản hoặc buộc thực hiện một công việc để bảo đảm cho nghĩa vụ chính, mang lại lợi ích nhất định cho các bên dù là vật chất hay phi vật chất
Thứ tư, phạm vi bảo đảm của các biện pháp thông thường không vượt quá phạm vi nghĩa vụ đã được xác định trong nội dung quan hệ nghĩa vụ chính Căn cứ theo Khoản 1 Điều 293, BLDS 2015 quy định việc thoả thuận bảo đảm có thể bảo đảm cho một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ, nếu không thoả thuận thì nghĩa vụ được bảo đảm toàn bộ Pháp luật không cấm việc giá trị của các biện pháp bảo đảm lớn hơn nghĩa vụ chính, tuy vậy việc cấm này cũng không cần thiết bởi lẽ nếu giá trị của
Trang 23đối tượng bảo đảm có lớn hơn giá trị của nghĩa vụ chính thì khi thực hiện hợp đồng, các bên cũng chỉ thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi được xác định
Thứ năm, các biện pháp được áp dụng khi xảy ra vi phạm nghĩa vụ Nếu các bên hoàn thành nghĩa vụ chính thì biện pháp bảo đảm chấm dứt Nhưng nếu xảy ra các trường hợp thuộc quy định tại Điều 299 BLDS 2015 thì biện pháp bảo đảm được chính thức áp dụng, tài sản bảo đảm sẽ được xử lý để bảo vệ cho quyền và lợi ích vật chất cho các bên Do đó khi khi giao kết hợp đồng, các bên phải mang tính
tự nguyện, tự giác, trách nhiệm cao để hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ đã giao kết
Thứ sáu, các bên có thể thoả thuận nhằm lựa chọn một trong số các biện pháp bảo đảm để áp dụng, tuy nhiên, trong một số trường hợp chỉ được lựa chọn một hoặc một số biện pháp để phù hợp với giao dịch chính hoặc phù hợp tính chất của biện pháp do pháp luật quy định Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định một số trường hợp không được phép áp dụng biện pháp bảo đảm, vì thế việc lựa chọn do thoả thuận hay tuân theo quy định của pháp luật thì các bên cũng phải tìm hiểu cụ thể, rõ ràng để áp dụng phù hợp Việc lựa chọn dựa trên sự thoả thuận, tự nguyện của các bên, đảm bảo không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội, sự lựa chọn có thể bị hạn chế trong các trường hợp ảnh hưởng đến quốc phòng,
an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội và sức khoẻ của cộng đồng (Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013)
Từ khái niệm và những đặc điểm chung của các biện pháp bảo đảm, ta thấy các biện pháp bảo đảm là một loại “chế tài” vì tạo sự ràng buộc các bên thực hiện nghĩa vụ của nhau Các bên có thể tự thoả thuận áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật hoặc nếu không thoả thuận thì có thể yêu cầu cơ quan nhà nước
có thẩm quyền để bảo đảm quyền và lợi ích của các bên
1.1.3 Phân loại các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
BLDS 2015 quy định có 9 biện pháp bảo thực hiện nghĩa vụ là cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp và cầm giữa tài sản Có thể phân loại các biện pháp này thành hai nhóm như sau:
Trang 24- Nhóm biện pháp bảo đảm được xác lập theo quy định của luật, không dựa
trên sự thoả thuận là biện pháp cầm giữ tài sản
Cầm giữ tài sản đã xuất hiện tại Điều 416 BLDS 2005 bảo đảm cho thực
hiện hợp đồng dân sự trong hợp đồng song vụ, không được quy định là biện pháp bảo đảm, do đó đây là biện pháp mới được quy định tại BLDS 2015 Căn cứ theo Điều 346, BLDS 2015, cầm giữ tài sản có những đặc điểm như không được xác lập dựa trên thoả thuận; tài sản trong quan hệ cầm giữ là đối tượng của hợp đồng song vụ; bên có quyền đang nắm giữ hợp pháp tài sản và phát sinh trong trường hợp bên
có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ2 Pháp luật không quy định trong quan hệ cầm giữ, tài sản bảo đảm thuộc quyền sở hữu của bên có nghĩa vụ nhưng bên có quyền cầm giữ phải được xác định là người nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ3
- Nhóm biện pháp bảo đảm được xác lập dựa trên sự thoả thuận gồm 8 biện pháp còn lại Trong nhóm này gồm 02 nhóm nhỏ với tính chất bảo đảm khác nhau
là nhóm biện pháp bảo đảm bằng tài sản hay còn gọi là “đối vật” (cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ và bảo lưu quyền sở hữu) và biện pháp bảo đảm không bằng tài sản hay còn gọi là “đối nhân” (bảo lãnh và tín chấp)
Cầm cố tài sản là việc bên cầm cố giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình
cho bên nhận cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (Điều 309 BLDS 2015) Tài sản cầm cố bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Việc cầm cố phải thực hiện chuyển giao tài sản, tuy nhiên cũng có trường hợp chỉ giao giấy tờ về tài sản còn tài sản do bên thứ ba giữ như tiền gửi đang do ngân hàng giữ4
Thế chấp tài sản là việc bên thế chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để
bảo đảm và không giao tài sản cho bên nhận thế chấp (Điều 317 BLDS 2015) Tài sản thế chấp bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Dựa vào khái niệm
2
Xem thêm Hồ Quang Huy, “Thực tiễn thi hành một số quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong BLDS năm 2015”, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao- doi.aspx?ItemID=2396 , đăng ngày 08/11/2018, truy cập ngày 25/7/2019
Trang 25cho thấy cầm cố và thế chấp đều là sử dụng tài sản để bảo đảm cho nghĩa vụ chính nào đó, tuy nhiên, hai biện pháp có sự khác nhau ở việc có hoặc không có vấn đề chuyển giao tài sản cho bên kia Việc có hay không việc chuyển giao sẽ dẫn đến việc giao kết hợp đồng khác nhau và xử lý tài sản bảo đảm khác nhau
Đặt cọc là việc bên đặt cọc giao cho bên nhận đặt cọc một khoản tài sản
trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng (Điều 328 BLDS 2015) Tài sản đặt cọc gồm tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác Điểm cơ bản mà biện pháp đặt cọc khác với các biện pháp còn lại ngoài việc thực hiện hợp đồng chính là nhằm bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng Tài sản đặt cọc cũng không bao gồm quyền tài sản, giấy tờ có giá và bất động sản, còn vật là động sản cũng không phải vật nào cũng được mang ra để đặt cọc mà giới hạn lại một số động sản
Ký cược là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê tài sản ký
cược trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê (Điều 329 BLDS 2015) Tài sản ký cược gồm tiền hoặc kim khí, đá quý hoặc vật có giá trị khác, không gồm quyền tài sản, giấy tờ có giá và bất động sản Theo khái niệm, ký cược chỉ áp dụng đối với các hợp đồng thuê động sản nhằm bảo đảm trả lại tài sản thuê, đồng nghĩa với việc đối với các hợp đồng thuê khác không phải là động sản sẽ không được áp dụng với biện pháp ký cược như hợp đồng thuê bất động sản
Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi tài sản vào tài khoản phong toả tại một tổ
chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ (Điều 330 BLDS 2015) Tài sản
ký quỹ gồm tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá, không gồm động sản (trừ kim khí quý, đá quý), quyền tài sản và bất động sản
Bảo lưu quyền sở hữu là việc thực hiện bảo lưu quyền sở hữu tài sản của bên
bán trong hợp đồng mua bán cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được thực hiện đầy đủ (Điều 331 BLDS 2015) Trước đây, bảo lưu quyền sở hữu được quy định tại Điều
457 BLDS 1999 và Điều 461 BLDS 2005 được áp dụng để bảo đảm cho hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần mà không được quy định chung với các biện pháp khác như BLDS 2015 Theo BLDS 2015 quy định chung các biện pháp đều là biện pháp
Trang 26bảo đảm, thay vì thuật ngữ “giao dịch bảo đảm” theo BLDS 2005, do đó biện pháp bảo lưu quyền sở hữu và biện pháp cầm giữ tài sản phù hợp khi được quy định tại Điều 292 BLDS 2015 về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, phạm vi bảo đảm của bảo lưu quyền sở hữu cũng được mở rộng hơn trong các hợp đồng mua bán (không chỉ áp dụng riêng cho hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần)
Bảo lãnh việc người thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên
nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) nếu khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ (Điều 335 BLDS 2015) Việc bảo lãnh có thể hoặc không áp dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản dựa trên thoả thuận của các bên Bên bảo lãnh cũng có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa cho bên được bảo lãnh và được hưởng thù lao nếu bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh có thoả thuận
Tín chấp là việc bảo đảm của tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở đối với cá
nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng theo quy định của pháp luật (Điều 344 BLDS 2015) Điều kiện, hoàn cảnh của cá nhân, hộ gia đình nghèo phải được xác nhận bởi một trong các tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Hội Nông dân Việt Nam) Theo khoản 3 Điều 49 NĐ 163/2006/NĐ-CP, chuẩn nghèo áp dụng trong từng thời kỳ theo quy định pháp luật và giai đoạn 2016-2020, chuẩn nghèo của hộ gia đình phải phù hợp một trong hai tiêu chí hộ nghèo được nêu tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg
1.1.4 Các loại tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
1.1.4.1 Khái niệm của tài sản bảo đảm
Bộ luật dân sự 1995 đã quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ dân sự tại Mục 5, Phần thứ ba “Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự”, theo đó, tại các Điều 326, 327, 328, BLDS 1995 quy định về các loại tài sản được sử dụng
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm: vật, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và
Trang 27quyền tài sản Vật được dùng bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của người bảo đảm
và được phép giao dịch; Tiền phải là Đồng Việt Nam trừ trường hợp pháp luật quy định khác; Giấy tờ trị giá bằng tiền được liệt kê bao gồm: trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ khác trị giá được bằng tiền; Quyền tài sản thuộc sở hữu của người bảo đảm, trị giá được bằng tiền, không bị tranh chấp và được phép giao dịch Tuy nhiên, đến BLDS 2005 quy định chi tiết về vật, theo đó vật được dùng là tài sản bảo đảm là vật hiện có hoặc vật được hình thành trong tương lai (bao gồm động sản
và bất động sản) (Điều 320); Quy định về tiền là tài sản bảo đảm không quy định là Đồng Việt Nam như BLDS 1995, giấy tờ cũng quy định là
Theo quy định tại Điều 105, BLDS 2015: “Tài sản là vật, tiền, các giấy tờ có giá và quyền tài sản; Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai” Như vậy, tài sản bảo đảm cũng chính là tài sản được quy định theo pháp luật Bên cạnh đó, các quy định về pháp luật về kế toán còn có thuật ngữ phân loại bất động sản và động sản thành tài sản cố định và tài sản lưu động, trong tài sản cố định phân loại thành tài sản cố định hữu hình và tài sản vô hình (Điều 2 và 3 Thông tư 45/2013/TT-BTC, sửa đổi bổ sung theo hai Thông tư 147/2016/TT-BTC và Thông
là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu
Trang 28huỷ tài sản” (Điều 192) Trường hợp bên bảo đảm sử dụng tài sản không thuộc sở
hữu của mình để bảo đảm thì chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản theo quy định tại Điều 13, NĐ 163/2006/NĐ-CP
Thứ hai, tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được Tài sản bảo đảm phải được xác định rõ ràng, cụ thể, có cơ sở, riêng đối với tài sản hình thành trong tương lai chỉ có thể xác định một cách tương đối Điều kiện này được cho là yếu tố xác định hiệu lực của giao dịch bảo đảm khi các bên tham gia giao dịch phải biết và xác định được rõ ràng tài sản bảo đảm Hiện nay, việc mô
tả tài sản bảo đảm được thực hiện theo quy định tại Điều 10 Thông tư BTP đối với các loại tài sản như phương tiện giao thông cơ giới, hàng hoá luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh, hàng tồn kho, quyền tài sản, công trình phụ trợ; Thông tư 01/2019/TT-BTP đối với tàu bay, tàu biển; Thông tư liên tịch 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT đối với quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất
08/2018/TT-Thứ ba, tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai Theo quy định tại Khoản 2 Điều 108, BLDS 2015 quy định tài sản hình thành trong tương lai bao gồm tài sản chưa hình thành hoặc tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sỡ hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch Tài sản hình thành trong tương lao bao gồm động sản và bất động sản, trừ quyền sử dụng đất (Điểm c Khoản 2 Điều 4 NĐ 163/2006/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung theo NĐ 11/2012/NĐ-CP)
Thứ tư, giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm Việc xác định giá trị chỉ mang tính chất tương đối vì khi xử
lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ thì có thể thay đổi Điều này cũng phù hợp với quy định, một tài sản bảo đảm có thể sử dụng để đảm bảo cho nhiều nghĩa vụ của một người hoặc nhiều người nhận bảo đảm
1.1.4.2 Phân loại tài sản bảo đảm
Trong các điều kiện nhằm xác định hiệu lực của hợp đồng, tài sản bảo đảm cũng là yếu tố để xác định hợp đồng bảo đảm có hiệu lực hay không Căn cứ vào quy định pháp luật có thể phân tích tài sản bảo đảm bao gồm như sau:
Trang 29Thứ nhất, tài sản bảo đảm là vật gồm bất động sản và động sản Vật tồn tại dưới hình thái vật chất mà con người có thể nhận biết bằng giác quan của mình như cầm, nắm, quản lý, vận hành, đang hiện có hoặc sẽ hình thành trong tương lai Bất động sản được liệt kê tại Khoản 1 Điều 107, BLDS 2015 bao gồm đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng và tài sản khác Đồng thời, pháp luật quy định động sản theo phương pháp loại trừ đó là những tài sản không phải là bất động sản như vậy động sản là tất cả những vật có thể xác định giá trị như tiền, giấy tờ có giá, kim khí quý, đá quý, hàng hoá,… Trên thực tế vàng, bạc bị cấm làm phương tiện sử dụng thanh toán (căn cứ Khoản 4, Điều 19, Nghị định 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012) nhưng vẫn được sử dụng làm tài sản bảo đảm, tuy vậy vẫn là công cụ được ít sử dụng bởi lẽ thiếu sự bảo đảm cần thiết cũng như sự ổn định về giá trị vì phải phụ thuộc vào thị trường
Thứ hai, tài sản bảo đảm là tiền bao gồm tiền Việt Nam và tiền nước ngoài Hiện nay pháp luật Việt Nam chưa công nhận đồng tiền ảo (Bitcoine, Onecoine, )
do đó tuy được xem là đồng tiền vận hành trong hoạt động tài chính, chứng khoán nhưng khi xảy ra các hậu quả pháp lý liên quan đến tiền ảo thì pháp luật vẫn khó khăn trong việc giải quyết Cũng như vật, tiền là loại tài sản được áp dụng trong nhiều biện pháp bảo đảm (trừ biện pháp Tín chấp)
Thứ ba, tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá bao gồm công cụ chuyển nhượng, chứng khoán và giấy tờ có giá khác như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch (Khoản 9 Điều 3, NĐ 163/2006/ND8-CP, sửa đổi bổ sung theo NĐ 11/2012/NĐ-CP) Giấy tờ có giá không bao gồm giấy nhận nợ thông thường, giấy chứng nhận phần vốn góp vào công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty hợp danh Giấy tờ có giá được xác định có giá trị như tiền, khi giao dịch bằng giấy tờ có giá với hình thức nào thì bản chất đó là chuyển nhượng quyền sở hữu đối với loại giấy
tờ đó
Thứ tư, tài sản bảo đảm là quyền tài sản Theo quy định tại Điều 115, BLDS
2015 quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với
Trang 30quyền SHTT, quyền sử dụng đất và quyền tài sản khác Từ khái niệm cho thấy quyền tài sản chỉ có một đặc điểm duy nhất là “quyền trị giá được bằng tiền”, tức là quyền nào đem lại giá trị kinh tế sẽ được coi là quyền tài sản, việc có được chuyển giao hay không chỉ nhằm xác định quyền tài sản nào là đối tượng của giao dịch dân
sự (so với Điều 181 BLDS 2005, quyền tài sản có hai yếu tố là quyền có trị giá bằng tiền và có thể được chuyển giao trong giao dịch dân sự) 5 Hiện nay, ngoài quyền sử dụng đất và quyền SHTT được nêu tại các văn bản pháp luật chuyên ngành, quyền tài sản hầu như chỉ xuất hiện trong BLDS 2015 Quyền tài sản có thể bắt buộc phải đăng ký hoặc không phải đăng ký theo quy định của BLDS 2015 hoặc các luật chuyên ngành như Luật Đất đai năm 2013, Luật SHTT năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, như vậy những quyền tài sản nào pháp luật không quy định phải đăng ký thì không bắt buộc phải đăng ký
1.2 Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ
1.2.1 Sự ra đời của quyền sở hữu trí tuệ
Triết học về sở hữu trí tuệ (SHTT) đa số bắt nguồn từ triết học về quyền sở hữu Ở các nước tư bản chủ nghĩa, việc bao hộ quyền sở hữu trí tuệ bắt nguồn từ ba
cơ sở triết học: triết học về giá trị lao động (của John Locke) 6, về quyền tự do sáng tạo (của Emmanual Kant và George Hegel) và về phương tiện (utilitarialism của Jeremy Bentham) 7 Nhìn chung tư tưởng của các nhà triết học trên cho rằng quyền
sở hữu là công cụ để đạt được tự do, đề cao tính sở hữu cao trong xã hội, do đó Nhà nước có trách nhiệm khuyến khích mỗi người phải lao động nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ cho đời sống con người và xã hội Đối với Triết học Marx-Lenin cũng công nhận cơ sở của quyền sở hữu là lao động, bên cạnh đó, hệ tư tưởng này cho rằng giai cấp nào sở hữu nhiều của cải hơn sẽ trở thành giai cấp thống trị
5
Nguyễn Hoàng Long (Đại học Luật Hà Nội), Quyền tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015”, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/quyen-tai-san-theo-quy-dinh-cua-bo-luat-dan-su-nam-2015, đăng ngày 24/7/2018, truy cập ngày 30/7/2019
6
Butler, B E (2001) Internet Ecyclopedia of Philosophy, University of North Carolina at
Asheville (re: Legal Pragmatism, G.W.F Hegel, J Locke, Right to Private Property) Available at
http://www.utm.edu/research/iep/
7
Schofield, P S and Harris, J (1998) The Collected Works of Jeremy Bentham – Legislator of the World: Writing on Codification, Law and Education Clarendon, Oxford
Trang 31Những giai cấp không có quyền sở hữu, đặc biệt là sở hữu tư liệu sản xuất thì những giá trị “tự do, “bình đẳng sẽ không có ý nghĩa, do đó theo tư tưởng này, con người được giải phóng thông qua các hoạt động lao động nhằm tạo ra sản phẩm, sở hữu của cải, từ đó con người mới có được tự do, đáp ứng các nhu cầu cơ bản cho đời sống và tiếp tục lao động để sản xuất ra thêm nhiều của cải để sở hữu Tuy nhiên, việc sở hữu không phải không có khía cạnh tiêu cực như việc tập trung quá nhiều tài sản vào tay số ít người có quyền lực, dẫn tới việc những người này có khả năng lạm dụng quyền sở hữu, điển hình cho trường hợp này là việc tập trung tư liệu sản xuất vào một số công ty sẽ dẫn đến việc các công ty này trở nên độc quyền, nâng giá sản phẩm và kìm hãm sự phát triển của các công ty khác Như vậy, triết học Marx-Lenin một mặt coi trong quyền tự do sáng tạo, mặt khác cũng coi trọng kiểm soát việc lạm dụng quyền sở hữu vì mục đích cá nhân
Nhìn chung, các triết học bàn về quyền sở hữu tài sản tuy nhiên vì đặc trưng
cơ bản của tài sản hữu hình (TSHH) với tài sản vô hình (TSVH) là không giống nhau do đó theo các hệ tư tưởng này, TSVH không được đề cập theo đúng bản chất như TSHH bởi các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, TSHH ít khi tạo nên tình trạng cạnh tranh độc quyền, ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của đối thủ Ví dụ Công ty sản xuất nước uống A mua một thiết bị hiệu X để chế biến công thức mới cho nước uống thì Công ty sản xuất nước uống B cũng có quyền mua một thiết bị hiệu Y để chế biến một thức uống tương tự
Sự cạnh tranh trong trường hợp này không phải là các công ty có thiết bị nào để phục vụ cho việc sản xuất thức uống mà sự cạnh tranh nằm ở công thức chế biến thức uống Tương tự, một người có bằng sáng chế về giải pháp sản xuất nước uống
có thể ngăn cấm những người khác sử dụng giải pháp của mình khi chưa có sự đồng
ý của chủ văn bằng sáng chế Như vậy, triết học của Locke cho rằng lao động đến đâu hưởng quyền sở hữu đến đó là không phù hợp cho TSVH
Thứ hai, việc định đoạt một TSHH cần phải đi kèm với chiếm hữu Điều này không diễn ra đối với TSVH vì thế triết học của Hegel (cần có quyền sở hữu để tự do) không chính xác đối với TSVH Điển hình trong trường hợp này là một nhạc sĩ
Trang 32không thể kiểm soát được có bao nhiêu người đang hát bài hát do mình sáng tác, hát tại đâu và vào thời gian nào Những người hát bài hát của nhạc sĩ không thể chiếm hữu bài hát, tuy nhiên họ vẫn có thể sử dụng bài hát đó cho mình Trái ngược với tài sản hữu hình, một người muốn chuyển giao quyền sử dụng một chiếc xe máy, người
đó phải chuyển giao cả quyền chiếm hữu cho người sử dụng thì mới sử dụng được được tài sản
Thứ ba, giá trị TSVH có thể cao hơn giá trị TSHH gấp nhiều lần Các tài sản
vô hình nói chung, tài sản trí tuệ nói riêng là thành quả của sự lao động sáng tạo, nó
có thể giúp tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm do đó rất nhiều người muốn chiếm hữu tài sản ấy dù hợp pháp hay không để mang lại lợi nhuận kinh tế, chủ sở hữu không thể kiểm soát được ai đã sử dụng tài sản của mình cũng như có thể bị “đánh cắp” bất cứ lúc nào
Thứ tư, bảo hộ quyền SHTT là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tuy nhiên bảo hộ quá lâu, quá nhiều hay chưa đúng lúc sẽ là sự cản trở phát triển nền kinh tế Sẽ có lúc quyền sở hữu trí tuệ trở nên lạc hậu, không đúng lúc, đúng thời điểm Là tài sản đặc biệt, pháp luật cần có những quy định phù hợp cho từng loại tài sản trí tuệ để vận hành sự phát triển kinh tế của đất nước
Như vậy, việc xác định quyền SHTT dựa trên các triết học đều có điểm phù hợp và chưa phù hợp, tuy nhiên cũng phải nhìn nhận rằng quyền SHTT là một then chốt quan trọng trong việc sản xuất kinh doanh của các cá nhân, tổ chức, tiến tới tạo
ra sản phẩm do lao động sáng tạo phục vụ cho đời sống xã hội Tương tự với TSHH
về bản chất, người sở hữu tài sản trí tuệ ít nhiều cũng nhận được giá trị do sản phẩm trí tuệ mang lại Vì thế ngoài việc áp dụng các quy định pháp luật về TSHH, pháp luật các nước đã ban hành các quy định điều chỉnh mối quan hệ liên quan đến quyền SHTT Đây là một bước tiến mạnh mẽ để khuyến khích cho các hoạt động lao động trí tuệ, cũng như thúc đẩy cho sự phát triển kinh tế của đất nước
Pháp luật về quyền SHTT tại Việt Nam lần đầu tiên được quy định vào năm
1957 với tên gọi “Luật thương hiệu”, năm 1958 Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà mới ban hành “Thể lệ về thương phẩm và thương hiệu” Tuy nhiên, tại thời
Trang 33điểm này giá trị thực tiễn của các văn bản này chưa cao, mãi đến năm 1976, Việt Nam đã tham gia vào Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), Quốc hội bắt đầu ban hành các văn bản pháp luật khác liên quan đến SHTT Luật về sở hữu trí tuệ mới thực sự phát huy khi Nhà nước ban hành Hiến pháp năm 1992 với nội dung:
“Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp” (Điều 60)
Từ năm 2005, Việt Nam chính thức ban hành Luật SHTT để điều chỉnh các mối quan hệ liên quan đến các đối tượng quyền SHTT Trước năm 2005, quyền SHTT được quy định trong BLDS, việc sáp nhập hay tách rời chỉ mang tính chất hình thức, tuy nhiên, ý kiến cho rằng cần ban hành một đạo luật riêng về SHTT bởi các lập luận tập trung vào ba nhóm sau đây8:
Thứ nhất, quan hệ pháp luật về SHTT mang tính chất hành chính lẫn tính chất dân sự Ví dụ, việc đăng ký bảo hộ mang tính chất hành chính nhưng quyền và nghĩa vụ mang tính chất dân sự
Thứ hai, các quy định về SHTT tương đối phức tạp về khái niệm, cách phân biệt và các vấn đề về giao dịch dân sự liên quan đến quyền SHTT, tuy nhiên BLDS
2005 lại ít đề cập đến quyền SHTT trong các phần khác, cũng không có sự đan xen kết hợp giữa các phần khác với phần 6 “Quyền SHTT và chuyển giao công nghệ” của BLDS 2005 Đến khi BLDS 2015 ra đời thì chính thức huỷ bỏ các nội dung của Phần 6 BLDS 2005 trong BLDS 2015, mà tách thành một đạo luật mới là Luật SHTT 2005
Thứ ba, việc ban hành các quy định về SHTT, một loại quy định mới và vẫn đang tiếp tục kiểm chứng bởi thực tiễn, việc quy định chung một bộ luật có tính ổn định cao như BLDS sẽ khiến việc sửa đổi những quy định bất hợp lý về SHTT gặp nhiều khó khăn
8
Xem “Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ (tái bản có bổ sung), Trường Đại học Luật TP.HCM, xuất bản 2017 Nội dung được tổng kết lại dựa trên các ý kiến đóng góp xây dựng Luật SHTT trên website www.vibonline.com.vn của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, cũng như trên nhiều tạp chí khoa học xuất bản trong thời kỳ này
Trang 34Dựa trên các nhóm ý kiến đóng góp của các chuyên gia được nêu trên, nhằm đáp ứng cho công tác bảo hộ quyền SHTT và khuyến khích con người lao động sáng tạo, Quốc hội thống nhất ban hành đạo luật riêng cho quyền SHTT tại kỳ họp Quốc khoá X, kỳ họp thứ 10, ngày 29/11/2005 với số phiếu tán thành rất cao (368 phiếu tán thành/370 tổng số phiếu) có hiệu lực từ ngày 01/7/2006, Luật SHTT chính thức trở thành một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật, tiếp thu được những giá trị thực tiễn đã được áp dụng trước đây từ những luật khác Các điều khoản phù hợp tương ứng với các điều ước quốc tế có liên quan, các Hiệp định song phương đảm bảo thuận lợi cho việc hội nhập vào cộng đồng quốc tế, phát triển lĩnh vực sở hữu trí tuệ của Việt Nam trong và ra ngoài nước
Tuy ra đời sau so với các nước khác, nhưng Việt Nam cũng đã có những bước đi đúng đắn khuyến khích cho sự phát triển hoạt động dân sự liên quan đến quyền SHTT Năm 2006, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), theo sự phát triển kinh tế, xã hội bắt đầu có nhận thức, hiểu biết về hoạt động liên quan đến quyền SHTT, đặc biệt là các doanh nghiệp Từ năm 2015 đến nay, đặc biệt kể từ khi Việt Nam tham gia ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào năm 2016, vấn đề về SHTT càng được quan tâm mạnh mẽ hơn bao giờ hết
Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, dưới áp lực đó, các doanh nghiệp buộc phải quan tâm đến tài sản trí tuệ, phải trả tiền cho các hoạt động dùng chất xám hoặc mua lại sản phẩm chất xám của người khác, phải đầu tư nhiều hơn nữa vào các quyền sở hữu trí tuệ9
Ông Trần Việt Thanh – Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ cho rằng Báo cáo “Việt Nam 2035: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ” được công bố vào tháng 2 năm 2016 đã thể hiện sự quyết tâm của Nhà nước trong công tác đưa Việt Nam trở thành một quốc gia công nghiệp hoá, một trong các yếu tố quan trọng nhất đối với sự phát triển kinh tế đó là sở hữu trí tuệ và điều này đã được khẳng định qua
9
Cẩm nang Sở hữu trí tuệ, năm 2016, tr.62, Đỗ Trọng, Chuyên gia quản trị doanh nghiệp Đỗ Hoà:
“Sắp hết thời dùng chùa tài sản trí tuệ”
Trang 35kinh nghiệm của các quốc gia phát triển10 Ta cũng nhận thấy rằng, trong tất cả các lĩnh vực, đều có sự xuất hiện của tài sản trí tuệ, vì chỉ có trí tuệ, sáng tạo mới giúp cho một quốc gia phát triển vượt trội, các nước phát triển bền vững nhờ vào các sản phẩm của khoa học và công nghệ, việc định giá tài sản hữu hình cho một doanh nghiệp hiện nay chỉ chiếm khoảng 20% trên tổng số giá trị của một doanh nghiệp, như vậy khoảng 80% còn lại là giá trị của tài sản vô hình11
Bên cạnh đó, xã hội nước ta đã có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của quyền SHTT trong các hoạt động lao động sáng tạo của các cá nhân, tổ chức Khi hoạt động đào tạo và giáo dục phát triển, tạo động lực thúc đẩy cho các hoạt động trí tuệ phát triển, từ đó các sản phẩm trí tuệ ra đời ngày càng nhiều và phổ biến Tương tự TSHH, bản chất pháp lý và đặc trưng của tài sản trí tuệ cũng có những nét tương đồng, ta đã nghiên cứu về TSHH trong nhiều lĩnh vực dân sự, hình sự, kinh tế nhưng lại hạn chế nghiên cứu khai thác công dụng các đối tượng của quyền SHTT, gây lãng phí giá trị của loại tài sản này trong một thời gian dài
1.2.2 Khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ
Tại Khoản 1, Điều 4, Luật SHTT 2005, được sửa đổi bổ sung năm 2009 đã
đưa ra khái niệm: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng” Khái niệm này đã đề cập đến các
đối tượng của quyền SHTT, chủ thể quyền SHTT và phân loại các quyền SHTT Định nghĩa không đưa ra một cách chung chung về đặc trưng cơ bản của quyền SHTT mà liệt kê cụ thể các đối tượng của quyền SHTT Điều này mang lại sự thuận lợi cho việc xác định quyền nào là quyền SHTT, tuy nhiên nếu tương lai có phát sinh một loại quyền tương tự có cùng đặc trưng, bản chất sẽ là điều khó khăn trong việc xác định có được áp dụng Luật SHTT để điều chỉnh hay không
10
Cẩm nang Sở hữu trí tuệ, năm 2016, tr.10, Trần Việt Thanh, “Sở hữu trí tuệ - Cầu nối Việt Nam
đến thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ”
11
Linh Chi, Doanh nhân Sài Gòn, Cho vay đảm bảo bằng tài sản trí tuệ: Cũ người, mới ta,
1062255.html , đăng ngày 15/5/2015, truy cập ngày 25/7/2019 Thông tin được chiếu theo số liệu thống kê về cơ cấu tài sản theo giá trị thị trường của 500 công ty S&P được nêu trong bài báo
Trang 36https://doanhnhansaigon.vn/chung-khoan/cho-vay-dam-bao-bang-tai-san-tri-tue-cu-nguoi-moi-ta-1.2.2.1 Đặc điểm quyền sở hữu trí tuệ
Khái niệm về quyền SHTT không nêu lên đặc điểm của quyền SHTT mà chỉ liệt kê các đối tượng của quyền SHTT, tuy nhiên quyền SHTT có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, quyền SHTT có tính vô hình Việc sáng tạo về bản chất không thể chiếm hữu về mặt vật chất, ta không thể cầm, nắm, chiếm hữu chúng như TSHH, không tiêu hao trong quá trình sử dụng và có thể được phát tán trong không gian rất nhanh chóng khi được công khai Vì thế, rất khó khăn trong việc kiểm soát hành vi
sử dụng, khai thác của người khác đối với quyền SHTT của chủ sở hữu (như sao chép tác phẩm, bài hát,…) Đặc điểm này ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác lập, nội dung và giới hạn, chuyển giao, khai thác, chấm dứt cũng như việc bảo hộ các quyền SHTT
Thứ hai, những vấn đề liên quan đến các đối tượng quyền SHTT được điều chỉnh bởi quy định pháp luật, những tài sản trí tuệ không được quy định là đối tượng của quyền SHTT sẽ không được bảo hộ bằng quyền SHTT Bên cạnh đó, một
số đối tượng của quyền SHTT không phải mặc nhiên được bảo hộ mà phải thực hiện các quy trình, thủ tục đăng ký để được công nhận quyền SHTT Việc sử dụng các đối tượng quyền SHTT của chủ sở hữu cũng phải tuân thủ theo quy định pháp luật
Thứ ba, quyền SHTT mang tính độc quyền Với bản chất là tài sản vô hình không thể nắm, giữ và quản lý về mặt vật chất nên các đối tượng này chỉ quản lý về mặt pháp lý Cần phải phân biệt đây là độc quyền việc sử dụng quyền SHTT, không phải độc quyền của chủ sở hữu khi áp dụng quyền SHTT trên thị trường cạnh tranh Việc độc quyền sử dụng, khai thác quyền SHTT bao gồm quyền của chủ sở hữu được sử dụng, cho phép người khác sử dụng và quyền cấm người khác sử dụng Với độc quyền này, việc sử dụng đối tượng SHTT khi chưa được chủ sở hữu cho phép
có thể xem là hành vi xâm phạm quyền SHTT, người thực hiện hành vi này có thể
bị áp dụng hoặc yêu cầu áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định của Luật SHTT Tuy nhiên, pháp luật không được thừa nhận độc quyền sử dụng này đối với một số
Trang 37chỉ dẫn thương mại như: biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, kiểu dáng bao bì của hàng hóa, nhãn hàng hóa và tên miền Các đối tượng này được bảo hộ bằng quyền chống cạnh tranh không lành mạnh, cũng là một phần của quyền sở hữu công nghiệp (Điều 130, Luật SHTT)
Thứ tư, quyền SHTT có tính giới hạn (Điều 7 Luật SHTT) Quyền SHTT là một quyền tài sản đặc biệt, ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế, chính trị Có thể là động lựa để thúc đẩy nhưng cũng có thể là rào cản hạn chế cho sự phát triển kinh tế bởi lẽ phải áp dụng trực tiếp vào thực tiễn mới đánh giá được phần nào giá trị thực của quyền SHTT, do đó phải quy định về giới hạn mặt thời gian, không gian và phải phù hợp với Hiến pháp, chủ trương phát triển kinh tế của Nhà nước Có ba loại giới hạn cơ bản sau :
- Chủ thể quyền SHTT chỉ được thực hiện quyền của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định của Luật SHTT Trong từng đối tượng, pháp luật quy định rõ phạm vi được bảo hộ và thời gian, thời hạn hiệu lực của việc bảo hộ đối với đối tượng đó Các đối tượng có thể được quy định khác nhau tùy vào mục đích của từng đối tượng Thí dụ sáng chế chỉ được bảo hộ trong phạm vi đã đăng ký bảo hộ với cơ quan có thẩm quyền theo bản mô tả sáng chế và có hiệu lực từ ngày cấp kéo dài đến hết hai mươi năm kể từ ngày nộp đơn xin cấp bằng độc quyền sáng chế (Điều 93, Điều 102, Luật SHTT)
- Việc thực hiện quyền SHTT không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật (Khoản 2 Điều 7, Luật SHTT)
- Trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội quy định tại Luật SHTT, Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền thực hiện quyền của mình hoặc hoặc buộc chủ thể phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng hoặc một số quyền của mình với những điều kiện của mình (Khoản 3 Điều 7, Luật SHTT) Ví dụ Điều 145 Luật SHTT quy định một số trường hợp bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế
Trang 38Việc giới hạn quyền đối với sáng chế thuộc bí mật nhà nước được thực hiện theo quy định của Chính phủ (Chương IIIa, Nghị định 112/2012/NĐ-CP)
Thứ năm, quyền nhân thân thuộc quyền SHTT (Điều 19, Luật SHTT) Chủ thể quyền nhân thân là người trực tiếp sáng tạo ra đối tượng SHTT vì thế quyền nhân thân của tác giả chỉ được thừa nhận khi chủ thể đó là người sáng tạo ra giá trị tinh thần hoặc sản phẩm được tạo ra do lao động trí tuệ như tác phẩm, các đối tượng của quyền liên quan, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí hay giống cây trồng Những đối tượng khác như chỉ dẫn thương mại, tên miền không có quyền nhân thân đi kèm Tuy nhiên, nếu chỉ dẫn thương mại đó đồng thời là một tác phẩm hoặc kiểu dáng công nghiệp thì gắn liền với quyền nhân thân đối với tác phẩm hoặc kiểu dáng công nghiệp đó
1.2.3 Phân biệt quyền sở hữu trí tuệ với các tài sản khác
1.2.3.1 Phân biệt quyền sở hữu trí tuệ với tài sản trí tuệ
Hiện nay, các văn bản pháp luật Việt Nam chưa quy định khái niệm về tài sản vô hình (TSVH), tuy nhiên Điều 105, BLDS 2015 liệt kê các loại tài sản, trong
đó quyền tài sản là dạng tài sản không có bản chất vật chất nên được xem TSVH, có bản chất pháp lý như TSHH Như vậy ta hiểu rằng TSVH là những tài sản không nhìn thấy được, có giá trị đo lường bằng tiền và có thể trao đổi trong các giao dịch dân sự Các văn bản luật chưa quy định về khái niệm, tuy nhiên các văn bản dưới luật như nghị định, thông tư,…đã có đề cập đến thuật ngữ “tài sản cố định vô hình” trong các lĩnh vực dân sự Tuỳ vào mục tiêu nghiên cứu mà phân loại TSVH, nhưng tìm hiểu nguồn lực vô hình đối với một tổ chức cụ thể, có thể phân loại TSVH thành 7 nhóm sau12: các mối quan hệ; tri thức; kỹ năng; hệ thống, quy trình; uy tín, thương hiệu; văn hoá; lãnh đạo và truyền thông Trong các nhóm nguồn lực vô hình, ta thấy có một số nguồn lực là do hoạt động trí tuệ như tri thức, kỹ năng, hệ thống, quy trình, thương hiệu, chiếm đa số trong các nguồn lực vô hình của một doanh nghiệp Vì thế, điều cần thiết của các doanh nghiệp cần quan tâm, đầu tư,
12
Lê Thu Hương, “Tài sản vô hình”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam số 2 năm 2018
Trang 39phát triển chính là các tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp, đặc biệt là các tài sản trí tuệ thuộc các đối tượng quyền SHTT do pháp luật quy định
Tài sản trí tuệ là một dạng tài sản vô hình, không có bản chất vật chất nhưng
có thể xác định được giá trị Có thể hiểu tài sản trí tuệ là các sản phẩm của hoạt động trí tuệ: các ý tưởng, các tác phẩm sáng tạo văn học/nghệ thuật, các công trình khoa học, các sáng chế, phần mềm máy tính13 Các đối tượng quyền SHTT được quy định tại Khoản 1 Điều 4, Luật SHTT là tài sản trí tuệ, nhưng tài sản trí tuệ chưa chắc là đối tượng quyền SHTT bởi lẽ có những tài sản được tạo ra do lao động trí
óc, sáng tạo của con người tuy nhiên không thuộc các đối tượng được quy định, không được bảo hộ theo pháp luật nên không là đối tượng của quyền SHTT (ví dụ phương pháp toán học dù rất tốn công sức, tiền bạc để nghiên cứu ra nhưng không được bảo hộ dưới với danh nghĩa sáng chế14 hoặc phương pháp lãnh đạo của một chủ thể không được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả)
Theo nguồn gốc phát sinh, có thể phân loại các tài sản trí tuệ thành các nhóm: sản phẩm sáng tạo khoa học kỹ thuật; sản phẩm sáng tạo văn học, nghệ thuật; sản phẩm sáng tạo kinh doanh, thương mại15 Căn cứ vào bản chất, nguồn gốc, phân loại, tài sản trí tuệ có những đặc điểm như sau:
- Tài sản trí tuệ là loại tài sản vô hình, chúng tồn tại dưới dạng tri thức, thông tin, quyền lợi và có thể thể hiện sự tồn tại bằng một dạng vật chất
- Tài sản trí tuệ có tính mới và sáng tạo, mỗi tài sản trí tuệ đều là một đối tượng mới hoặc được bổ sung, cải tiến thành cái mới Con người phải nắm được thông tin và tri thức để làm nền tảng bảo đảm cho hoạt động sáng tạo độc quyền
- Tài sản trí tuệ có thể xác định giá trị thông qua định giá, tính toán, có thể tạo ra hoa lợi, lợi tức, xác định được nội dung, phạm vi và công dụng của tài sản trí tuệ phục vụ cho đối tượng cụ thể
- Tài sản trí tuệ có những quyền sử dụng, quyền định đoạt như chuyển giao,
13
Phạm Đình Chướng, “Giới thiệu chung về tài sản trí tuệ”, được trình bày tại Hội thảo “Kỹ thuật
xác định giá trị tài sản trí tuệ” – Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 04/12/2013
Trang 40cho thuê, trao đổi Vì tài sản trí tuệ là tài sản vô hình nên ít quyền chiếm hữu tài sản trí tuệ ít được đề cập đến trong pháp lý
Trên thực tế, cũng chưa có định nghĩa nào về “tài sản trí tuệ” do đó khái niệm về tài sản trí tuệ thông thường được sử dụng phương pháp liệt kê các loại tài sản có bản chất là tài sản trí tuệ như: sáng chế, kiểu dáng, nhãn hiệu, tên thương mại, ý tưởng, sáng kiến, thông tin, tác phẩm, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý,
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quyền sở hữu trí tuệ là một chế định pháp lý gồm quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng được pháp luật quy định và bảo hộ Đó là một loại hình quyền sở hữu đặc biệt
mà đối tượng là các sản phẩm sáng tạo do lao động trí óc con người tạo ra
1.2.3.2 Phân biệt quyền sở hữu trí tuệ với tài sản hữu hình
Tài sản hữu hình là những tài sản phát huy tác dụng trong doanh nghiệp, mang thuộc tính vật chất có khả năng mang lại lợi nhuận cho chủ sở hữu một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua sản phẩm được sản xuất ra Đầu tư vào TSHH là việc sử dụng vốn đầu tư để phục hồi năng lực sản xuất cũ và tạo thêm năng lực sản xuất mới bởi lẽ do TSHH tham gia nhiều lần vào quá trình sản xuất, giá trị bị giảm dần; do nhu cầu sản xuất xã hội ngày càng mở rộng đòi hỏi phải đầu tư thêm TSHH mới và do sự tiến bộ của khoa học công nghệ yêu cầu cải tiến trang thiết bị để thay
thế các thiết bị cũ lạc hậu
Quyền SHTT là TSVH, không có hình thái vật chất cụ thể, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình Đầu tư vào tài sản trí tuệ là hành động bỏ vốn để nâng cao năng lực, giá trị, vai trò của TSVH đối với công ty như: thương hiệu, công nghệ, bí quyết mới Điều này làm gia tăng lượng hàng tiêu thụ cũng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Dựa vào đặc điểm và tính pháp lý của hai loại tài sản, có thể phân biệt THSS
và tài sản là quyền SHTT theo bảng so sánh sau16:
Bảng 1 So sánh tài sản hữu hình và tài sản là quyền SHTT
16
Tham khảo các tiêu chí so sánh của bài viết “Sự khác biệt giữa sở hữu trí tuệ so với sở hữu
những tài sản hữu hình”, voi-so-huu-nhung-tai-san-huu-hinh-144026.aspx , đăng ngày: 15/3/2016, truy cập ngày: 03/9/2019