1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cải thiện môi trường đầu tư tỉnh Thanh Hóa định hướng tới năm 2020

93 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 812,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tàiCon đường từ nghèo tới khá hoặc giàu của một địa phương, một đất nước bao giờ cũng là một con đường nhọc nhằn. Để phát triển, một trong những yếu tố quyết định đó chính là các hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, nguồn vốn đầu tư chỉ tập trung vào những nơi có môi trường kinh doanh lành mạnh, đủ sức cạnh tranh, nơi có những chính sách ưu đãi, khuyến khích cho những nhà đầu tư…Việc thu hút được các nguồn vốn đầu tư càng không phải là một vấn đề dễ dàng gì trong bối cảnh nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay. Nó có thể được xem như là một cuộc cạnh tranh quyết liệt mà ở đó người chiến thắng là quốc gia hay địa phương nào biết xây dựng một môi trường đầu tư tốt.Nhận thức được tầm quan trong đó, trong thời gian qua tỉnh Thanh Hoá đã có rất nhiều cố gắng để cải thiện môi trường đầu tư. Thể hiện qua chỉ số đánh giá chất lượng môi trường đầu tư PCI năm 2011 khi Thanh Hoá đã bất ngờ tăng 20 bậc, và trở thành tỉnh được đánh giá là có môi trường đầu tư tốt. Song trên thực tế môi trưòng đầu tư kinh doanh tại Thanh Hoá vẫn còn nhiều tồn tại chưa thực sự thông thoáng, hấp dẫn đối với nhà đầu tư. Trong đó nổi cộm là một số quy hoạch chất lượng còn thấp, tầm nhìn hạn chế, quản lý quy hoạch thiếu nhất quán, thường có điều chỉnh, bổ sung gây khó khăn cho nhà đầu tư. Cơ chế chính sách khuyến khích, đầu tư sản xuất, kinh doanh ban hành chưa đồng bộ, chưa đủ mạnh. Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nói chung ở các khu, các cụm công nghiệp nói riêng còn thiếu . Thủ tục hành chính còn phiền hà, cơ chế phối hợp giải quyết công việc còn nhiều bất cập.Một số bộ phận cán bộ, công chức vừa yếu về chuyên môn nghiệp vụ, vừa thiếu tinh thần trách nhiệm, sách nhiễu, tiêu cực trong thực thi công vụ…Để trở thành một trong 10 tỉnh thành có môi trường đầu tư tốt nhất cả nước,tỉnh Thanh Hoá còn cần phải có những chính sách, giải pháp để giải quyết những vấn đề còn tồn tại. Chính vì lý do đó mà em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “ Cải thiện môi trường đầu tư tỉnh Thanh Hoá đến năm 2020”2. Mục tiêu nghiên cứuTrên cơ sở nghiên cứu lý luận về môi trường đầu tư, các cách để đo lường chất lượng môi trường đầu tư, vận dụng những lý thuyết này vào trong việc đánh giá thực trạng môi trường đầu tư tại tỉnh Thanh Hoá. Trong thời gian qua,môi trường đầu tư của tỉnh đã được cải thiện như thế nào, đã đạt được những thành tựu và còn tồn tại những hạn chế, yếu kém gì. Từ đó, đề ra một số những giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề còn tồn tại, hướng đến một môi trường đầu tư lành mạnh.3. Câu hỏi nghiên cứuĐề tài tập trung vào việc trả lời các câu hỏi sau: Môi trường đầu tư là gì? Những yếu tố nào cấu thành môi trường đầu tư? Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI là gì? Thực trạng môi trường đầu tư tỉnh Thanh Hoá thể hiện như thế nào thông qua các yếu tố cấu thành và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI? Để cải thiện môi thường đầu tư tỉnh Thanh Hoá trong thời gian tới cần những giải pháp gì?4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu về môi trường đầu tư. Phạm vi nghiên cứu:+ Không gian: Môi trường đầu tư tại tỉnh Thanh Hoá+ Thời gian : Đánh giá môi trường đầu tư của tỉnh trong giai đoạn đến năm 2011, giải pháp cải thiện hướng đến 2020.5. Phương pháp nghiên cứuĐể phù hợp với nội dung, yêu cầu, mục tiêu nghiên cứu bài nghiên cứu đã tham khảo số liệu thống kê qua tạp chí, báo điện tử, sách niên giám thống kê tỉnh Thanh Hoá, nguồn số liệu từ Sở Kế Hoạch và Đầu Tư tỉnh Thanh Hoá, tham khảo các bài luận văn và các bài viết cá nhân có liên quan đến nội dung cải thiện môi trường đầu tư. Bài viết sử dụng các phương pháp phân tích số liệu, so sánh nhằm đánh giá thực trạng môi trường đầu tư của tỉnh.6. Cấu trúc của đề tàiChương I: Một số vấn đề lý luận chung về môi trường đầu tư Chương II: Thực trạng môi trường đầu tư tại tỉnh Thanh Hoá Chương III: Giải pháp cải thiện môi trường đầu tư tỉnh Thanh Hoá đến năm 2020

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Con đường từ nghèo tới khá hoặc giàu của một địa phương, một đất nướcbao giờ cũng là một con đường nhọc nhằn Để phát triển, một trong những yếu tốquyết định đó chính là các hoạt động đầu tư Tuy nhiên, nguồn vốn đầu tư chỉ tậptrung vào những nơi có môi trường kinh doanh lành mạnh, đủ sức cạnh tranh, nơi

có những chính sách ưu đãi, khuyến khích cho những nhà đầu tư…Việc thu hútđược các nguồn vốn đầu tư càng không phải là một vấn đề dễ dàng gì trong bốicảnh nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay Nó có thể được xem như làmột cuộc cạnh tranh quyết liệt mà ở đó người chiến thắng là quốc gia hay địaphương nào biết xây dựng một môi trường đầu tư tốt

Nhận thức được tầm quan trong đó, trong thời gian qua tỉnh Thanh Hoá đã córất nhiều cố gắng để cải thiện môi trường đầu tư Thể hiện qua chỉ số đánh giá chấtlượng môi trường đầu tư PCI năm 2011 khi Thanh Hoá đã bất ngờ tăng 20 bậc, vàtrở thành tỉnh được đánh giá là có môi trường đầu tư tốt Song trên thực tế môitrưòng đầu tư kinh doanh tại Thanh Hoá vẫn còn nhiều tồn tại chưa thực sự thôngthoáng, hấp dẫn đối với nhà đầu tư Trong đó nổi cộm là một số quy hoạch chấtlượng còn thấp, tầm nhìn hạn chế, quản lý quy hoạch thiếu nhất quán, thường cóđiều chỉnh, bổ sung gây khó khăn cho nhà đầu tư Cơ chế chính sách khuyến khích,đầu tư sản xuất, kinh doanh ban hành chưa đồng bộ, chưa đủ mạnh Kết cấu hạ tầngkinh tế- xã hội nói chung ở các khu, các cụm công nghiệp nói riêng còn thiếu Thủtục hành chính còn phiền hà, cơ chế phối hợp giải quyết công việc còn nhiều bấtcập.Một số bộ phận cán bộ, công chức vừa yếu về chuyên môn nghiệp vụ, vừa thiếutinh thần trách nhiệm, sách nhiễu, tiêu cực trong thực thi công vụ…Để trở thànhmột trong 10 tỉnh thành có môi trường đầu tư tốt nhất cả nước,tỉnh Thanh Hoá còncần phải có những chính sách, giải pháp để giải quyết những vấn đề còn tồn tại

Chính vì lý do đó mà em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “ Cải thiện môi trường đầu

tư tỉnh Thanh Hoá đến năm 2020”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về môi trường đầu tư, các cách để đo lườngchất lượng môi trường đầu tư, vận dụng những lý thuyết này vào trong việc đánhgiá thực trạng môi trường đầu tư tại tỉnh Thanh Hoá Trong thời gian qua,môi

Trang 2

trường đầu tư của tỉnh đã được cải thiện như thế nào, đã đạt được những thành tựu

và còn tồn tại những hạn chế, yếu kém gì Từ đó, đề ra một số những giải phápnhằm giải quyết những vấn đề còn tồn tại, hướng đến một môi trường đầu tư lànhmạnh

3 Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài tập trung vào việc trả lời các câu hỏi sau:

- Môi trường đầu tư là gì? Những yếu tố nào cấu thành môi trường đầu tư?Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI là gì?

- Thực trạng môi trường đầu tư tỉnh Thanh Hoá thể hiện như thế nào thôngqua các yếu tố cấu thành và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI?

- Để cải thiện môi thường đầu tư tỉnh Thanh Hoá trong thời gian tới cầnnhững giải pháp gì?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu về môi trường đầu tư

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Không gian: Môi trường đầu tư tại tỉnh Thanh Hoá

+ Thời gian : Đánh giá môi trường đầu tư của tỉnh trong giai đoạn đến năm

2011, giải pháp cải thiện hướng đến 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

Để phù hợp với nội dung, yêu cầu, mục tiêu nghiên cứu bài nghiên cứu đãtham khảo số liệu thống kê qua tạp chí, báo điện tử, sách niên giám thống kê tỉnhThanh Hoá, nguồn số liệu từ Sở Kế Hoạch và Đầu Tư tỉnh Thanh Hoá, tham khảocác bài luận văn và các bài viết cá nhân có liên quan đến nội dung cải thiện môitrường đầu tư

Bài viết sử dụng các phương pháp phân tích số liệu, so sánh nhằm đánh giáthực trạng môi trường đầu tư của tỉnh

6 Cấu trúc của đề tài

Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về môi trường đầu tư

Chương II: Thực trạng môi trường đầu tư tại tỉnh Thanh Hoá

Chương III: Giải pháp cải thiện môi trường đầu tư tỉnh Thanh Hoá đến năm 2020

Trang 3

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ

MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ

1.1 Khái niệm và đặc điểm của môi trường đầu tư

1.1.1 Khái niệm môi trường đầu tư

Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạtđộng nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồnlực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó Trong quá trình đầu tư đó, môi trường đầu tư làmột yếu tố vô cùng quan trọng Nó đóng vai trò như một chất xúc tác ban đầu đốivới nhà đầu tư trong quá trình đưa ra quyết định có bỏ vốn hay không Trước tiên, tanên hiểu môi trường đầu tư là gì?

Môi trường đầu tư được xem xét, nhìn nhận dưới nhiều góc độ, phạm vi khácnhau Nếu xét trên phạm vi nhất định, có thể nghiên cứu môi trường đầu tư của mộtquốc gia, của một địa phương, môi trường đầu tư trong nuớc, môi trường đầu tưquốc tế, môi trường đầu tư của một doanh nghiệp, một ngành Nếu xét môi trườngđầu tư trên từngkhía cạnh yếu tố cấu thành của nó thì ta có môi trường tự nhiên, môitrường kinh tế, môi trường văn hoá xã hội, môi trường chính sách pháp luật, môitrường chính trị…Vì vậy, môi trường đầu tư được định nghĩa theo rất nhiều cách

Theo quan điểm của Wim P.M.Vijverberg 2005: “Khái niệm môi trường đầu

tư được hiểu là bao gồm tất cả các điều kiện liên quan đến kinh tế, chính trị, kinh tếhành chính, cơ sở hạ tầng tác động đến hoạt động đầu tư và kết quả hoạt động củadoanh nghiệp.”

Theo quan điểm của World Bank 2004: “Môi trường đầu tư là tập hợp những

yếu tố đặc thù của địa phương đang định hình cho các cơ hội và động lực để doanhnghiệp đầu tư có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng, nâng cao năng lực sản xuất.”

Một số quan điểm khác: Môi trường đầu tư là tổng thể các yếu tố về pháp

luật, kinh tế, xã hội, văn hoá và cácyếu tố về cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường, cảcác lợi thế của một quốc gia có liên quan ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đếnhoạt động đầu tư của nhà đầu tư trong và ngoài nước Hay môi trường đầu tư là sốlượng và chất lượng các dòng vốn đầu tư đổ vào một quốc gia hay một khu vực cụthể nào đó, phụ thuộc hoàn toàn vào các lợi ích và lợi nhuận mà nhà đầu tư sẽ thuđược nhưdự tính, kể cả những lợi ích thu được do các yếu tố tác động ngoài dự tính.Những yếu tố có tác động đến lợi ích của nhà đầu tư có mối liên hệ tương tác lẫn

Trang 4

nhau như các vấn đề về cơ sở hạ tầng; ổn định chính trị; các chính sách về ngoạithương, về đầu tư…

Như vậy, các quan niệm về môi trường đầu tư dù được tiếp cận ở góc độ nàocũng đều đề cập đến môi trường tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh của cácnhà đầu tư; là tổng hoà những yếu tố, điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng, tác độngđến hiệu quả của hoạt động đầu tư

1.1.2 Đặc điểm của môi trường đầu tư

1.1.2.1 Môi trường đầu tư có tính khách quan

Không có bất kỳ một nhà đầu tư hay một doanh nghiệp nào có thể tồn tại mộtcách biệt lập mà không đặt mình vào trong một môi trường đầu tư nhất định Vàngược lại, cũng không tồn tại môi trường đầu tư nào mà không có một nhà đầu tưhay đơn vị sản xuất kinh doanh nào Ở đâu diễn ra hoạt động đầu tư sản xuất kinhdoanh thì sẽ hình thành môi trường đầu tư Môi trường đầu tư có tính khách quan,

nó có thể tạo nên những điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nhưng cũng có thểgây ra những khó khăn, cản trở nhất định cho nhà đầu tư Một mặt, môi trường đầu

tư tạo ra các ràng buộc, mặt khác lại tạo ra những cơ hội thuận lợi cho các nhà đầutư

1.1.2.2 Môi trường đầu tư có tính tổng hợp

Môi trường đầu tư bao gồm nhiều yếu tố cấu thành, có qua lại, tác động vàràng buộc lẫn nhau Số lượng và những bộ phận cấu thành của môi trường đầu tưtuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, trình độ quản lý và ngay chínhnhững bộ phận cấu thành môi trường đầu tư

1.1.2.3 Môi trường đầu tư có tính đa dạng

Môi truờng đầu tư là sự kết hợp, đan xen của các môi trường thành phần.Các yếu tố này đều mang đặc trưng riêng của từng loại và có sự tác động qua lại lẫnnhau Do đó, khi phân tích môi trường đầu tư cần có các nhìn tổng thể, có sự phântích trong mối tương quan giữa các môi trường thành phần này

1.1.2.4 Môi trường đầu tư có tính động

Môi trường đầu tư có tính động bởi vì bản thân các yếu tố cấu thành luôn vậnđộng và biến đổi không ngừng Sự vận động, biến đổi này chịu sự tác động của cácquy luật vận động nội tại của các yếu tố cấu thành và của nền kinh tế Chúng vậnđộng bởi ngay nội tại của hoạt động đầu tư đã là một quá trình vận động trong mộtmôi trường thay đổi không ngừng Chính sự thay đổi của các yếu tố, điều kiện của

Trang 5

môi trường đầu tư mà tính ổn định của môi trường đầu tư chỉ mang tính chất tươngđối trong sự vận động

Để nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư, cần thiết phải có sự báo trước về

sự thay đổi của môi trường đầu tư, giúp quá trình đưa ra quyết định đầu tư chuẩn xáchơn Đồng thời, cũng phải tìm cách ổn định các yếu tố đầu tư trong xu thế luôn vậnđộng và phải cải thiện nó không ngừng Hay nói cách khác, nghiên cứu môi trườngđầu tư không được đứng trên quan điểm tĩnh mà phải đứng trên quan điểm động

1.1.2.5 Môi trường đầu tư có tính hệ thống

Môi trường đầu tư không chỉ chịu sự tác động của các yếu tố cấu thành màcòn chịu sự ràng buộc và ảnh hưởng của các yếu tố thuộc môi trường rộng lớn hơnnhư: môi trường đầu tư quốc gia, môi trường đầu tư quốc tế, môi trường đầu tưngành Người ta có thể dự báo trước được sự biến động của môi trường đầu tư trongmột môi trường ổn định, sự biến đổi của các yếu tố ở mức độ thấp, còn trong môitrường phức tạp, người ta khó có thể đưa ra được một sự dự báo chính xác Do tính

hệ thống, khi xem xét môi trường đầu tư cần phải được xem xét cácyếu tố, điều kiệncủa môi trường đầu tư kinh doanh tổng quát vì nó có nhiều yếu tố ngoại cảnh tácđộng đến nhà đầu tư

1.2 Các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư

1.2.1 Yếu tố tự nhiên

Yếu tố tự nhiên có thể kể tới ở đây như là vị trí địa lý của quốc gia hoặc địaphương; đặc điểm của địa hình; đặc điểm của khí hậu thuỷ văn và các nguồn tàinguyên thiên nhiên gồm đất đai, không khí, nước, các loại năng lượng, khoáng sảntrong lòng đất…

Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên là các yếu tố tồn tại một cách kháchquan Các nguồn tài nguyên thiên nhiên có sự phân bố không đồng đều giữa cácvùng trên trái đất, phụ thuộc vào cấu tạo địa chất, thời tiết khí hậu của từng vùng Ví

dụ như Nga, Mỹ và các nước Trung Đông do những hiện tượng dị thường về địa lý

đã tạo nên những mỏ dầu lớn nhất thế giới, hoặc ở lưu vực sông Amazon là nhữngkhu rừng nguyên sinh lớn, hiện được coi là lá phổi của thế giới Nhưng cũng cónhững quốc gia lại rất nghèo về tài nguyên thiên nhiên chẳng hạn như Nhật Bản.Một số quốc gia, địa phương có vị trí địa lý rất thuận lợi như nằm trong khu vựcphát triển kinh tế sôi động, gần cảng biển, gần sân bay, thuận lợi trong giao thôngvận tải, nhưng trái lại có những quốc gia, địa phương vị trí địa lý lại là cản trở lớn

Trang 6

Một quốc gia hay địa phương có vị trí địa lý thuận lợi và nguồn tài nguyênthiên nhiên dồi dào, phong phú sẽ là cơ hội lớn để thu hút vốn đầu tư hơn nhữngquốc gia có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, khó dự đoán, đặc biệt là trong các ngành

du lịch, ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến…Một nghiên cứu vềcác nhân tố thu hút đầu tư nước ngoài tại các nước đang phát triển trong thời kỳ1980-2005 đã xác định rằng, lợi thế về vị trí địa lý giúp tiết kiệm đáng kể chi phívận chuyển,dễ dàng mở rộng ra các thị trường xung quanh, khai thác có hiệu quảnguồn nhân lực và thúc đẩy các doanh nghiệp tập trung hóa

Sự dồi dào về nguyên vật liệu với giá rẻ cũng là nhân tố tích cực thúc đẩy thuhút đầu tư nước ngoài Trong trường hợp của Malaysia, nguồn tài nguyên thiênnhiên của nước này có sức hút FDI mạnh mẽ nhất Các nhà đầu tư nước ngoài đổ xôđến nước này là nhắm đến các nguồn tài nguyên dồi dào về dầu mỏ, khí đốt, cao su,gỗ Đặc biệt tại các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), khai thác tài nguyên thiênnhiên là mục tiêu quan trọng của nhiều MNEs trong các thập kỷ qua Thực tế chothấy, trước khi có sự xuất hiện của Trung Quốc trên lĩnh vực thu hút đầu tư nướcngoài, FDI chỉ tập trung vào một số quốc gia có thị trường rộng lớn và nguồn tàinguyên thiên nhiên dồi dào Chỉ có 5 quốc gia là Brazil, Indonesia, MalaysiaMexico và Singapore đã thu hút hơn 50% FDI của toàn thế giới trong giai đoạn1973-1984

1.2.2 Yếu tố kinh tế

Yếu tố kinh tế là yếu tố cơ bản, là mối quan tâm hàng đầu đối với các nhàđầu tư Các yếu tố kinh tế thường được nhà đầu tư quan tâm là: tổng giá trị sảnphẩm quốc dân, tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ cấu nền kinh tế, chu kỳ kinh doanh,lãi suất, tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái, chính sách tiền tê…

Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao được duy trì ổn định trong thờigian dài, chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, chu kỳ kinh tế đang ở giai đoạn tăngtrưỏng và phát triển…sẽ thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư Bởi vì, nó

mở ra rất nhiều cơ hội thuận lợi cho nhà đầu tư trong sản xuất kinh doanh, mở rộngsản lượng tiềm năng Sự phát triển mạnh kinh tế của một địa phương nó kéo theo sựphát triển về mọi khía cạnh đời sống đặc biệt là sự tăng lên trong thu nhập củangười dân Khi đời sống được cải thiện thì nhu cầu và khả năng chi trả cho sảnphẩm của người dân sẽ được cải thiện Đó là yếu tố thuận lợi để nhà đầu tư tiếp tục

mở rộng quy mô sản xuất Mặt khác, sự tăng trưởng kinh tế nhanh của địa phương

Trang 7

này so với địa phương khác còn chứng tỏ năng lực quản lý kinh tế của các cấp lãnhđạo, những chính sách kinh tế đưa ra phù hợp và phát huy đựơc hiệu qủa

Tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái thể hiện sự ổn định giá trị đồng tiền của mộtquốc gia, địa phương trong khi sự ổn định về tài chính đối với nhà đầu tư là vô cùngquan trọng Điều đó càng quan trọng hơn bao giờ hết đối với nhà đầu tư nước ngoài.Lạm phát gây ra rất nhiều cản trở cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đẩy chi phíđầu tư lên cao, lợi nhuận giảm Vì vậy, nhà đầu tư sẽ quyết định không tiến hànhhoạt động đầu tư nữa hoặc tìm kiếm thị truờng nào khác có sự ổn định hơn về mặttiền tệ

Các yếu tố như lăi suất, chính sách tiền tệ… ảnh hưởng đến việc tiếp cận nguồnvốn và quy mô vốn kinh doanh của doanh nghiệp do đó ảnh hưởng đến khả năng sảnxuất, kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.3 Yếu tố cơ sở hạ tầng kỹ thuật

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật trước tiên có thể được hiểu là hệ thống giao thông vậntải - đường bộ, đường sông, đường biển, đường sắt, đường hàng không, đường ống;

hệ thống liên lạc viễn thông, hệ thống cung cấp năng lượng, nước, v.v… Hệ thống

cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại có một tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triểncủa mọi nền kinh tế, vì nó đảm bảo vận tải nhanh chóng với chi phí thấp, đảm bảocác quan hệ liên lạc thông suốt kịp thời, cung cấp đủ điện nước cho toàn bộ hoạtđộng của nền kinh tế đất nước…

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên sự hấpdẫn đối với các nhà đầu tư, đặc biệt trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoàiFDI Theo kết quả khảo sát của nhóm 25 nước bao gồm nước: Indonêxia, Hàn Quốc

… trong khu vực Châu Á -Thái Bình Dương cho thấy những chỉ tiêu cụ thể như sốmáy điện thoại trên 100 người dân, mức độ hiện đại của hệ thống thông tin liên lạc,chất lượng của đường bộ, đường sắt … là một trong những điều hiện được xem xét

để duy trì FDI ở nước này Tại Việt Nam, Bình Dương sẽ là minh chứng rõ ràngnhất cho điều này Để trở thành tỉnh dẫn đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư nướcngoài, Bình Dương không chỉ trải chiếu hoa đón các nhà đầu tư với chính sáchthông thoáng, cởi mở, thủ tục hành chính nhanh gọn mà còn phải đảm bảo cơ sở hạtầng đồng bộ, hiện đại cho các nhà đầu tư Với hệ thống giao thôngtừ Bình Dươngtới TP Hồ Chí Minh và các tỉnh khác có mặt đường rộng 3,6m với tổng chi phí 100

tỷ đồng và nhiều tuyến đường đã được nhựa hoá, 100% xã đều có đường ô tô Bưu

Trang 8

chính viễn thông và điện nước luôn được đảm bảo cho nhu cầu thông tin liên lạcthông suốt và sử dụng điện năng trong sinh hoạt.

Nói đến cơ sở hạ tầng kỹ thuật không chỉ nói đến đường sá, cầu cống, khotàng, bến bãi mà còn phải kể đến các dịch vụ hỗ trợ khác như hệ thống ngân hàng,các công ty kiểm toán, tư vấn Thiếu sự hỗ trợ cần thiết của các hoạt động này, môitrường đầu tư cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng Ngoài ra, hiệu quả hoạt động củacác cơ sở công nghiệp địa phương, sự có mặt của các ngành công nghiệp hỗ trợ, sựtồn tại các đối tác tin cậy để các công ty nước ngoài có thể liên doanh liên kết cũng

là những yêu cầu rất quan trọng cần phải được xem xét đến

1.2.4 Yếu tố văn hoá xã hội

Đây cũng là một nhân tố quan trọng có tác động nhiều tới qúa trình quyếtđịnh đầu tư Một số vấn đề thuộc môi trường văn hoá- xã hội mà nhà đầu tư thườngquan tâm như: dân số, nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực, ngôn ngữ, tôngiáo, lối sống, cách ứng xử trong quan hệ giao tiếp, phong tục tập quán, hệ thống y

tế và chăm sóc sức khỏe cho người dân, hệ thống giáo dục và đào tạo, vui chơi giảitrí và các dịch vụ khác…

Yếu tố dân số ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của môi trường đầu tư.Một địa phương có dân số đông cũng là yếu tố hấp dẫn các nhà đầu tư Bởi vì, nhàđầu tư không những có cơ hội trong việc khai thác được nguồn lao động dồi dào,sẵncó tại địa phương mà còn có thể khai thác được một thị trường tiêu thụ sản phẩmđầy tiềm năng Tuy nhiên, đối với một nhà đầu tư, họ cần cả số lượng và chất lượngnguồn lao động Sự dồi dào về số lượng nguồn lao động cũng chưa chắc thu hútđược sự quan tâm của các nhà đầu tư khi tay nghề, trình độ của nguồn lao độngkém Hoặc nguồn vốn đầu tư vào sẽ không lớn, đầu tư chỉ để khai thác được nguồnnhân công rẻ Chất lượng lao động càng cao các dự án đầu tư với quy mô sẽ cànglớn, càng hiện đại bởi khi đó nhà đầu tư mong muốn sẽ khai thác được năng lực củangười lao động.Chất lượng của lao động được đánh giá qua trình độ học vấn,chuyên môn và kỹ năng của lao động cũng như sức khoẻ của họ Điều này lại phụthuộc vào hoạt động giáo dục đào tạo và các dịch vụy tế, chăm sóc sức khoẻ Hệthống cơ sở hạ tầng xã hội văn hoá giáo dục, y tế càng phát triển sẽ tạo ra một lựclượng lao đọng có trình độ, có kỹ năng làm việc với năng suất cao, có sức khoẻ tốt

có thể mang lại những lợi nhuận trực tiếp hoặc gián tiếp bằng việc nâng cao sức bền

bỉ, dẻo dai và khả nănng tập trung cao khi làm việc

1.2.5 Yếu tố chính sách pháp luật

Trang 9

Chính sách pháp luật là công cụ để nhà nước kiểm soát và điều tiết nền kinh

tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, tạo môi trường đầu tư bền vững, đảmbảo quyền lợi cho các nhà đầu tư Một số những chính sách nhà đầu tư hay quan tâmnhư chính sách tiền tệ, chính sách đất đai, chính sách thuế, chính sách khuyến khíchđầu tư…Nhà đầu tư thường quyết định bỏ vốn vào nơi nào có chính sách kinh tếmềm dẻo, linh hoạt, nơi có nhiều chính sách đãi ngộ tạo điều kiện thuận lợi cho họ

Luật và các quy định có ảnh hưởng rất hoạt động thu hút vốn đầu tư Nó làcác nguyên tắc, quy định mang tính bắt buộc các cá nhân, tổ chức, các nhà đâù tư…phải tuân thủ khi tham gia vào bất kỳ một thị trường, lĩnh vực nào đấy Chẳng hạnnhư, Luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Lao động, Luậtkhuyến khích đầu tư trong nước, Luật Hợp tác xã, Luật Đầu tư nước ngoài…Quốcgia nào có hệ thống pháp luật chặt chẽ, nghiêm minh cũng sẽ là điều kiện hấp dẫnđối với nhà đầu tư

1.2.6 Yếu tố chính trị

Sự ổn định chính trị có ý nghĩa quyết định đến việc huy động và sử dụng cóhiệu quả vốn đầu tư Tình hình chính trị không ổn định, đặc biệt là thể chế chính trị(đi liền với nó là sự thay đổi luật pháp) thì mục tiêu và phương thức thực hiện mụctiêu cũng bị thay đổi đột ngột Hậu quả là lợi ích của các nhà đầu tư bị giảm (họphải gánh chịu một phần hay toàn bộ các thiệt hại đó) làm lòng tin của các nhà đầu

tư bị giảm sút Mặc khác, khi tình hình chính trị không ổn định, Nhà nước không đủkhả năng kiểm soát hoạt động của các nhà đầu tư, hậu quả là các nhà đầu tư hoạtđộng theo mục đích riêng, không theo định hướng chiến lược phát triển kinh tế -xãhội của nước nhận đầu tư dẫn tới hiệu qủa sử dụng vốn không cao.Kinh nghiệm chothấy, khi tình hình chính trị bất ổn thì các nhà đầu tư sẽ ngừng đầu tư hoặc khôngđầu tư nữa

1.3 Sự cần thiết phải cải thiện môi trường đầu tư

Sự cần thiết cải thiện môi trường đầu tư xuất phát đồng thời từ hai phía: từchính nhà đầu tư và cũng từ nơi nhận đầu tư Mọi hoạt động đầu tư suy cho cùngđều nhằm mục đích chính là lợi nhuận Để thu được lợi nhuận cao nhà đầu tưthường tìm kiếm những thị trường có môi trường đầu tư tốt và có tính rủi ro thấp.Địa phương nào có điều kiện tự nhiên thuận lợi, có nguồn tài nguyên thiên nhiênphong phú, điều kiện cơ sở hạ tầng hiện đại, nguồn lao động có tay nghề cao, có độingũ các nhà lãnh đạo năng động, sáng tạo, có các chính sách ưu đãi, khuyến khích

Trang 10

Mặt khác, sự cải thiện môi trường đầu tư không chỉ đem lại lợi ích cho nhàđầu tư, mà còn đem lại lợi ích vô cùng to lớn cho chính nơi nhận vốn đầu tư Cảithiện môi trường đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư khai thác lợi thế so sánh để pháttriển kinh tế địa phương, giúp quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của địaphương được đẩy mạnh hơn Việc cải thiện môi trường đầu tư, giúp cho các nhà đầu

tư hoạt động hiệu quả hơn, mở rộng được quy mô sản xuất, tạo ra được các cơ hộiviệc làm cho người dân, nâng cao thu nhập cho người dân, góp phần vào trong côngtác xoá đói giảm nghèo của địa phương Nó mở rộng việc cung cấp chủng loại hànghoá, dịch vụ và giảm giá thành của chúng Nó cũng là nguồn thu thuế bền vững đểtrang trải cho các hoạt động kinh tế xã hội khác Đối với các nguồn vốn đầu tư củanhà đầu tư nước ngoài đầu tư còn giúp địa phương tiếp cận học hỏi với công nghệ

kỹ thuật hiện đại, bí quyết quản lý, tạo động lực thúc đẩy công cuộc cải tổ nền kinhtế: về thể chế chính sách, về thuế, về thủ tục hành chính, về hệ thống thông tin đốingoại, về chính sách điều hành vĩ mô

Hơn nữa, sự cạnh tranh giữa các địa phương trong thu hút vốn đầu tư ngàycàng gay gắt Để đáp ứng được quá trình phát triển, chiến lược, mục tiêu mà địaphương đã đề ra, cần thiết phải có vốn đầu tư Vấn đề chủ yếu hiện nay đối với hầuhết các địa phương là sự hạn hẹp nguồn vốn Để thu hút được các nguồn vốn đầu tư,bản thân các địa phương phải tạo ra các điều kiện hấp dẫn, gợi ra cho họ các kết quảtốt đẹp mà các nhà đầu tư nhận được khi đầu tư vào địa phương mình Chính vì điều

đó, không chỉ dựa trên chính sách đầu tư của nhà nước mà địa phương đó cần phải

có những chính sách riêng nhằm thu hút được nguồn vốn đầu tư

1.4 Các phương pháp và tiêu chí đánh giá môi trường đầu tư

1.4.1 Đánh giá môi truờng đầu tư thông qua các yếu tố cấu thành

Đánh giá thông qua các yếu tố cấu thành là phương pháp đánh giá môitrường đầu tư một cách tổng hợp trên tất cả các phương diện về điều kiện tự nhiên,tình hình kinh tế, cơ sở hạ tầng, văn hoá xã hội, hệ thống luật pháp và chính trị.Phân tích các yếu cấu thành để thấy được sự chuyển biến của nó trong thời gianqua Thực trạng của các yếu tố cấu thành sẽ là điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội vàthách thức đối với môi trường đầu tư Phương pháp này mang đến cho nhà đầu tưmột cái nhìn tổng quát nhất về thực trạng môi trường đầu tư trước khi ra đưa đếnquyết định của mình

1.4.2 Đánh giá môi truờng đầu tư qua chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI

1.4.2.1 Khái niệm chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI

Trang 11

PCI là chỉ số xếp hạng chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnhtrong việc tạo lập môi trường chính sách thuận lợi cho việc phát triển Doanh nghiệpdân doanh PCI là con số nói lên năng lực cạnh tranh giữa các địa phương trong vấn

đề tạo được một môi trường đầu tư thuận lợi cho lực lượng DN phát triển

PCI đảm bảo mang tính đại diện của cộng đồng DN vừa và nhỏ, đồng thời làkênh thông tin tốt đối với chính quyền địa phương cũng như các cấp lãnh đạo trungương trong việc xác định môi trường kinh doanh của địa phương, giúp lãnh đạo địaphương định hướng trong việc cải thiện môi trường đầu tư, cũng như nâng cao nănglực cạnh tranh để thu hút các nguồn lực đầu tư

Thứ bậc xếp hạng trong bảng chỉ số PCI chỉ có ý nghĩa tương đối Điều quantrọng sau chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI là chính quyền mỗi địa phươngphải thấy luôn có cảm nhận của DN và nhân dân địa phương mình - như một công

cụ giám sát về điều hành, quản lý kinh tế - xã hội, từ đó nỗ lực cải cách đểxâydựngđược một môi trường đầu tư thông thoáng

Cạnh tranh trong PCI là sự cạnh tranh về sự hài lòng của DN với chất lượngdịch vụ công Vấn đề không phải là thứ hạng cao thấp, mà vấn đề nằm ở mức độthân thiện, làm hài lòng cộng đồng DN ở địa phương đó, tạo điều kiện tốt nhất cho

DN phát triển, hướng đến một môi trường đầu tư hiệu qủa.Ở nhiều quốc gia, thay vìxem GDP/đầu người là bao nhiêu để đánh giá sự thành công của điều hành, quản lý,chỉ số hạnh phúc và hài lòng của dân chúng được đặt là ưu tiên hàng đầu PCI chính

là dạng chỉ số như vậy, đo sự hài lòng của DN với quản trị địa phương

1.4.2.2 Các chỉ số thành phần

(1) Chi phí gia nhập thị trường

Đánh giá sự khác biệt về chi phí gia nhập thị trường của các doanh nghiệpmới thành lập giữa các tỉnh với nhau.Các chỉ tiêu cụ thể bao gồm:- Thời gian đăng

kí kinh doanh–số ngày- Thời gian đăng kí kinh doanh bổ sung –Số lượng giấy đăng

kí, giấy phép kinh doanh cần thiết để chính thức hoạt động –Thời gian chờ đợi đểđược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất –% doanh nghiệp mất hơn 3 tháng đểkhởi sự kinh doanh –% DN gặp khó khăn để có đủ các loại giấy phép cần thiết (bỏ

từ năm 2009)

(2) Tiếp cận đất đai và Sự ổn định trong sử dụng đất

Đo lường về hai khía cạnh của vấn đề đất đai mà doanh nghiệp phải đối mặt:việc tiếp cận đất đai có dễ dàng không và doanh nghiệp có thấy yên tâm và được

Trang 12

Giấy chứng nhận QSD đất; % diện tích đất có GCNQSD đất; DN đánh giá rủi ro bịthu hồi đất (1: Rất cao đến 5: Rất thấp); Sự thay đổi khung giá đất của tỉnh phù hợpvới sự thay đổi của giá thị trường (% Đồng ý); đánh giá rủi ro về thay đổi các điềukiện cho thuê (1: Rất cao hoặc 5: Rất thấp)…

(3) Tính minh bạch và tiếp cận thông tin

Đo lường khả năng tiếp cận các kế hoạch của tỉnh và các văn bản pháp lý cầnthiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, liệu doanh nghiệp có thể tiếp cậnmột cách công bằng các văn bản này, các chính sách và quy định mới có được thamkhảo ý kiến của doanh nghiệp và khả năng tiên liệu trong việc triển khai thực hiệncác chính sách quy định đó và mức độ tiện dụng của trang web tỉnh đối với doanhnghiệp; trong đó bao gồm cả tính minh bạch của các tài liệu chính sách, quy hoạch;

độ mở của trang web tỉnh; vai trò hiệp hội doanh nghiệp đóng vai trò quan trọngtrong xây dựng và phản biện các chính sách, quy định của tỉnh…

(4) Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước

Đo lường thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hànhchính cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừngkinh doanh để các cơ quan Nhà nước của địa phương thực hiện việc thanh tra, kiểmtra; bao gồm: Mức sử dụng hơn quỹ thời gian để thực hiện các quy định của Nhànước; Số lần thanh tra; Số giờ trung vị làm việc với thanh tra thuế; Mức độ hiệu quảcủa cán bộ nhà nước giải quyết công việc hiệu quả hơn; Thủ tục giấy tờ và các loạiphí, lệ phí của thủ tục; Mức giảm số ngày làm việc với chính quyền địa phương…

(5) Chi phí không chính thức

Đo lường các khoản chi phí không chính thức mà doanh nghiệp phải trả vàcác trở ngại do những chi phí không chính thức này gây ra đối với hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, việc trả những khoản chi phí không chính thức có đem lạikết quả hay “dịch vụ” như mong đợi và liệu các cán bộ Nhà nước có sử dụng cácquy định của địa phương để trục lợi hay không Chẳng hạn như % DN cho rằng các

DN cùng ngành trả chi phí không chính thức; Cán bộ tỉnh sử dụng các quy địnhriêng của địa phương với mục đích trục lợi; Công việc chỉ được giải quyết sau khichi trả chi phí không chính thức; DN trả hoa hồng để có được hợp đồng từ các cơquan nhà nước…

(6) Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh

Đo lường tính sáng tạo, sáng suốt của lãnh đạo tỉnh trong quá trình thực thichính sách Trung ương cũng như trong việc đưa ra các sáng kiến riêng nhằm phát

Trang 13

triển khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời đánh giá khả năng hỗ trợ và áp dụng nhữngchính sách đôi khi chưa rõ ràng của Trung ương theo hướng có lợi cho doanhnghiệp Mức độ linh hoạt trong khuôn khổ pháp luật nhằm tạo môi trường kinhdoanh thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân; Lãnh đạo Tỉnh sáng tạo và sáng suốttrong việc giải quyết những trở ngại đối với cộng đồng doanh nghiệp; Cảm nhậncủa DN về thái độ của chính quyền tỉnh đối với khu vực tư nhân…

(7) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp

Đo lường các dịch vụ của tỉnh để phát triển khu vực tư nhân như xúc tiếnthương mại, cung cấp thông tin tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp, hỗ trợ tìm kiếmđối tác kinh doanh, phát triển và cung cấp các dịch vụ công nghệ cho doanh nghiệp

Cụ thể hơn là: Số hội chợ thương mại do tỉnh tổ chức trong năm; Số lượng các cơ

sở cung cấp dịch vụ doanh nghiệp; % Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tìm kiếmthông tin kinh doanh, tư vấn về thông tin pháp luật, hỗ trợ tìm đối tác kinh doanh;xúc tiến thương mại; các dịch vụ liên quan đến công nghệ; các dịch vụ tư vấn…

(8) Đào tạo lao động

Đo lường các nỗ lực của lãnh đạo tỉnh để thúc đẩy đào tạo nghề và phát triển

kỹ năng nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp tại địa phương và giúp người laođộng tìm kiếm việc làm; Dịch vụ do các cơ quan Nhà nước tại địa phương cungcấp: Giáo dục phổ thong; Giáo dục hướng nghiệp dạy nghề; Số lượng trung tâmgiới thiệu việc làm trên 100,000 dân; % Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tuyểndụng và giới thiệu vệc làm; Tỉ lệ tổng chi phí kinh doanh dành cho đào tạo laođộng; Tổng số cơ sở đào tạo (Đại học, Trung cấp, Trung tâm dạy nghề) trên 100,000dân; Số lượng trung tâm dạy nghề cấp huyện trong một huyện của tỉnh…

(9) Thiết chế pháp lý

Chỉ số này đo lường lòng tin của doanh nghiệp tư nhân đối với hệ thống tòa

án, tư pháp của tỉnh, liệu các thiết chế pháp lý này có được doanh nghiệp xem làcông cụ hiệu quả để giải quyết tranh chấp hoặc là nơi doanh nghiệp có thể khiếu nạicác hành vi nhũng nhiễu của cán bộ công quyền tại địa phương Bao gồm: Hệ thống

tư pháp cho phép các doanh nghiệp tố cáo hành vi tham nhũng của các công chức;

% Doanh nghiệp tin tưởng hệ thống pháp lý sẽ bảo vệ hợp đồng và các quyền tàisản; Số lượng các vụ tranh chấp của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh do Tòa ánkinh tế cấp tỉnh xét xử; Thời gian từ khi nộp đơn cho đến khi tòa án ban hành bản

án có hiệu lực…

Trang 14

Thứ nhất, chỉ số PCI khuyến khích chính quyền các tỉnh cải thiện chất lượng

công tác điều hành bằng cách chuẩn hóa điểm số xung quanh các thực tiễn điềuhành kinh tế tốt sẵn có tại Việt Nam mà không dựa trên các tiêu chuẩn về điều hànhkinh tế lý tưởng nhưng khó đạt được, Do đó đối với từng chỉ tiêu, chúng ta có thểxác định được một tỉnh “ngôi sao” hoặc tỉnh đứng đầu của chỉ tiêu đó, và về lýthuyết ta bất kỳ tỉnh nào cũng có thể tới điểm số PCI tuyệt đối là 100 điểm bằngcách áp dụng các thực tiễn tốt sẵn có của mình

Thứ hai, bằng cách loại trừ ảnh huong của các điều kiện truyền thống ban

đầu chẳng hạn như các nhân tố cơ bản đóng góp vào su tăng trưởng kinh tế trongmột tỉnh thành và gần như không thể thay đổi trong ngắn hạn như vị trí địa lý, hạtầng cơ sở, quy mô của thị trường và nguồn lao động, chỉ số PCI giúp hướng vàocác thực tiễn điều hành kinh tế tốt có thể đạt được ở cấp tỉnh

Thứ ba, bằng cách so sánh và đối chiếu giữa các thực tiễn điều hành với kết

quả phát triển kinh tế, chỉ số PCI giúp lượng hóa sự quan trọng của các thực tiễnđiều hành kinh tế tốt đối với thu hút nguồn lực đầu tư và tăng trưởng Nghiên cứu chỉ rađược mối tương quan giữa thực tiễn điều hành kinh tế tốt với sự đánh giá của doanhnghiệp, và sự cải thiện phúc lợi của địa phương Mối quan hệ cuối cùng này đặc biệt rấtquan trọng vì nó cho thấy các chính sách và sáng kiến thân thiện với doanh nghiệpkhuyến khích họ hoạt động theo hướng đem lại lợi ích cho cả chủ doanh nghiệp, nhà đầu

tư, người lao động và cộng đồng thông qua tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho cảnền kinh tế

Thứ tư, các chỉ tiêu cấu thành của chỉ số PCI được thiết kế theo hướng dễ

hành động, đây là những chỉ tiêu rất cụ thể cho phép các cán bộ công chức của tỉnhđưa thành các mục tiêu phấn đấu và dễ dàng theo dõi được tiến bộ trong thực hiện.Các chỉ tiêu này cũng rất thực chất vì được doanh nghiệp và các nàh đầu tư nhìnnhận là các chính sách quan trọng đối với sự thành công của công việc kinh doanh

Trang 15

nghiệp đang nộp thuế ở các địa phương để đảm bảo tính đại diện cao nhất của mẫuđiều tra.

- Sau khi nhận được câu trả lời của doanh nghiệp, việc xử lý số liệu bằng cáccông cụ thống kê để giảm thiểu các sai số gây ra bởi độ chính xác của phản hồichưa cao của các doanh nghiệp Các thông tin thu được thông qua điều tra doanhnghiệp này được sử dụng để tạo thành hệ thống dữ liệu mềm Bên cạnh đó, nghiêncứu PCI còn thu thập các số liệu thông qua phuơng pháp xin ý kiến chuyên gia, sửdụng bộ câu hỏi có tính so sánh và dùng một số số liệu thống kê để tính toán một sốchỉ số tạo thành hệ thống dữ liệu cứng

- Sau khi thu thập và qua xử lý số liệu, việc tính toán để xây dựng nên chỉ sốtổng hợp PCI được thực hiện bằng cách chuẩn hóa điểm các chỉ tiêu của 64 tỉnh vàthành phố theo, sau đó tính điểm số của các chỉ số thành phần, gắn một trọng số chomỗi chỉ số thành phần và tính toán thành chỉ số PCI tổng hợp

Thời điểm diễn ra điều tra thường vào khoảng từ tháng 3 đến tháng 6 hàngnăm và kết quả thường được công bố thời điểm cuối năm Kết quả PCI cuối cùng làtổng hợp từ các chỉ số thành phần và được phân thành 6 nhóm sau : Rất tốt, tốt, khá,trung bình, tương đối thấp và thấp

1.4.2.5 Ý nghĩa của chỉ số

Thư nhất: Đối với doanh nghiệp

Tuy vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về PCI và chắc chắn cũng còn hạn chếnhưng PCI là một dự án nghiên cứu nghiêm túc, được thực hiện bởi những chuyêngia có năng lực và sử dụng các công cụ nghiên cứu khoa học Do đó, kết quả PCI đã

và đang được nhiều tổ chức, cá nhân đón nhận và sử dụng một cách đa dạng Đốivới các nhà đầu tư, chỉ số này cũng là một nguồn thông tin tham khảo đáng tin cậytrước khi đưa ra quyết định đầu tư vào địa phương nào Dựa vào những kết quảđánh giá tổng hợp của chỉ số PCI trên toàn bộ 64 tỉnh thành, doanh nghiệp có thể cócái nhìn tổng quát về môi trường đầu tư của các địa phương, thuận lợi và những khókhăn gì mà nhà đầu tư sẽ gặp phải nếu tiến hành đầu tư

Thứ hai: Đối với các cấp chính quyền địa phương

Đối với chính quyền địa phương, chỉ số PCI giúp chính quyền nhận ra đượcđiểm mạnh, điểm yếu của địa phương mình trong công tác điều hành kinh tế, tạo áplực thúc đẩy cải cách; chỉ ra những sáng kiến, chính sách tốt để các tỉnh tham khảo,học hỏi Khi lần đầu tiên chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được công bố,

Trang 16

không chấp nhận Sau nhiều năm, PCI đã được chấp nhận như một thực tế kháchquan Không ai công khai phản đối Thay vì im lặng, nhiều tỉnh đã tích cực tìmhướng triển khai hành động Thay vì lặng lẽ "tự cứu" mình, các tỉnh đã chuyển giao,học tập kinh nghiệm lẫn nhau Thay vì chỉ tác động ở những người đứng đầu cấptỉnh, bây giờ diện phủ của PCI đã rộng hơn, tới các cấp chính quyền địa phương,đặc biệt là ở các sở, ban ngành Thay vì lạ lẫm, không hiểu những thông số của PCI,giờ đây, các tỉnh đã có thể tự phân tích và bắt mạch, bốc thuốc cho mình.

1.5 Kinh nghiệm của một số quốc gia và tỉnh thành trong cải thiện môi trường đầu tư

1.5.1 Kinh nghiệm của Đà Nẵng

Thư nhất: Hoàn chỉnh cơ chế chính sách về đầu tư theo hướng thông thoáng, hấp dẫn nhưng vẫn đảm bảo tính chặt chẽ và dễ kiểm soát

Đà Nẵng đã không ngừng nghiên cứu, đề xuất những sửa đổi, điều chỉnh vàhoàn thiện hệ thống luật pháp của mình liên quan đến hoạt động đầu tư nhằm tạođiều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư theo đúngnhững định hướng của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của thành phố đã đặt ra.Bên cạnh đó, Đà Nẵng cũng không ngừng nâng cao trình độ vận dụng luật pháp mộtcách linh hoạt của các cấp chính quyền, thể chế hoá các quy định pháp lý và đầu tưsang hình thức các văn bản quy định có giá trị pháp lý và văn bản hướng dẫn cụ thểviệc thực hiện, tạo một niềm tin vững chắc cho nhà đầu tư hoạt động trên địa bàntỉnh Phổ biến các văn bản dưới luật cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp một cáchnhanh chóng, không để diễn ra tình trạng nghị định đã có mà các thông tư hướngdẫn thực hiện của Bộ, ngành và địa phương chưa được triển khai

Xây dựng, thiết lập một mặt bằng pháp lý chung áp dụng cho cả nhà đầu tưnước ngoài và nhà đầu tư trong nước trong đó bao gồm cả đầu tư của khu vực kinh

tế tư nhân, nhằm tạo lập nên một môi truờng đầu tư bình đẳng ; đồng thời cũng ápdụng một số quy định về điều kiện đầu tư và ưu đãi phù hợp với nhà đầu tư

Đa dạng hoá,phong phú hơn nữa các hình thức hoạt động đầu tư giữa kinh tế

tư nhân với các thành phần kinh tế khác, giữa các nhà đầu tư tư nhân của thành phốvới các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư của địa phương khác

Cải cách hệ thống thuế phù hợp hơn nữa với tình hình phát triển kinh tế- xãhội của thành phố theo cách đơn giản hoá các sắc thuế, từng bước áp dụng hệ thốngthuế chung cho các nàh đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài Xây dựng hệthống thuế khuyến khích đầu tư váo các lĩnh vực như sản xuất linh kiện, phụ tùng

Trang 17

nâng cao tỷ lệ nội địa hoá các sản phẩm, cho phép các dự án sản xuất nguyên vậtliệu phụ trợ phục vụ hàng xuất khẩu được hưởng sự ưu đãi tương tự như đối vớicác dự án đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu Bảo hộ có thời hạn hợp lý và hiệu quả đốivới một số sản phẩm quan trọng.

Kịp thời giải quyết những vướng mắc, khó khăn liên quan đến vấn đề đất đai,giải phóng mặt bằng nhằm thúc đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án Xoá bỏ bớt cácrào cản đối với các nhà đầu tư trong việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất để liêndoanh với nhà đầu tư nước ngoài

Nghiên cứu cách giải quyết linh hoạt phù hợp đối với các yêu cầu của nhàđầu tư khi cần thế chấp giá trị quyền sử dụng đất đã được giao hoặc cho thuê dàihạn để vay vốn đầu tư của các tổ chức tín dụng trên địa bàn cả nước

Thứ hai: Đẩy mạnh cải cách hành chính

Đã Nẵng đã không ngừng nỗ lực đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng

“một cửa, một đầu mối” nhằm tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động đầu tư của các nhàđầu tư thuộc khu vực kinh tế tư nhân bằng các biện pháp có thể kể dưới sau đây:

Tăng cường sự phối hợp càng ngày càngchặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhànước của thành phố trong quản lý hoạt động đầu tư; đã phân định rõ quyền hạn, nhiệm

vụ của từng cơ quan trong việc giải quyết các vấn đề nảy sinh; duy trì thường xuyênviệc tiếp xúc , đối thoại trực tiếp giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các doanhnghiệp , các nhà đầu tư trên địa bàn

Cải tiến mạnh các thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động đầu tư theohướng tiếp tục đơn giản hoá việc cấp các giấy phép đầu tư, mở rộng phạm vi các dự ánthuộc diện đăng ký cấp giấy phép đầu tư Quy định một cách rõ ràng, công khai cácthủ tục hành chính, đơn giản hoá và giảm bớt các thủ tục không cần thiết; kiên quyết xử

lý nghiêm khắc các trường hợp sách nhiễu, tiêu cực, cửa quyền và vô trách nhiệm củacán bộ công quyền

Thứ ba: Xây dựng các dự án gọi vốn đầu tư

Xây dựng các dự án gọi vốn đầu tư đến năm 2020 để định hướng và kêu gọicác nhà đầu tư trong và ngoài địa bàn thành phố tham gia tích cực vào các dự ánđầu tư này

Chú trọng vào các hoạt động xúc tiến đầu tư để thu hút các dự án đầu tư mới

và các hoạt động hỗ trợ nhà đầu tư để có thể triển khai hiệu quả các dự án đầu tưđang hoạt động Biểu dương và có sự khen thưởng kịp thời các doanh nghiệp, nhà

Trang 18

dựng sự phát triển của thành phố Đồng thời cũng có sự phê phán và có hình thức

xử lý nghiêm đối với những trường hợp vi phạm pháp luật xảy ra

Không ngừng nâng cao chất lượng xây dựng quy hoạch và danh mục dự ánthu hút vốn nhằm đảm bảo được tính minh bạch, ổn định và có thể dự đoán trướcđựơc, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc lựa chọn cơhội đầu tư Điều này làm cơ sở để thực hiện các chương trình vận động , huy độngvốn đầu tư Những thông tin về mục tiêu, địa điểm, hình thức, đối tác thực hiện dự

án trong danh mục phải được đảm bảo độ chính xác và tin cậy cao

Khi ban hành danh mục các dự án kêu gọi , thu hút đầu tư mới, cần đưa racác danh mục những dự án mà các doanh nghiệp mong muốn được đầu tư bên cạnhcác dự án mà thành phố đang khuyến khích đầu tư Qúa trình lựa chọn nhà đầu tưcần chú ý đến các tiêu chuẩn sau đây : có thiện chí đầu tư nghiêm túc và hướng đếnđầu tư lâu dài, có khả năng vững chắc về tiềm lực tài chính để thực hiện dự án đầu

tư, có khả năng và kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh cụ thể

Thứ tư: Xây dựng và phát triển hệ thống dịch vụ hỗ trợ

Có thể nói sự phát triển trong lĩnh vực dịch vụ cơ sở hạ tầng là một trongcác nhân tố quan trọng cho quá trình phát triển bền vững đối với hoạt động đầu tư

Đà Nẵng đã chú trọng trong việc xây dựng và phát triển hệ thống các dịch vụ hỗ trợđặc biệt trong lĩnh vực năng lượng, giao thông, viễn thông và cơ sở hạ tầng thôngtin để phục vụ tốt yêu cầu của nhà đầu tư

Giảm dần mức giá hàng hoá và dịch vụ, đặc biệt là giá các dịch vụ là chi phícủa các đầu vào của sản xuất như điện, nước, viễn thông, giá thuê mặt bằng sản xuấtkinh doanh, gia tăng các ưu đãi về thuế và tài chính

Xây dựng các trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp,nhà đầu tư để thực hiện các dịch

vụ tư vấn về quản lý và kinh doanh đáp ứng các nhu cầu của các nhà đầu tư như: tưvấn về hoạch định các chiến lược kinh doanh, bồi dưỡng nâng cao kiến thức quản lý

về tài chính, sản xuất, marketing, nhân sự; cung cấp thông tin về thị trường, kháchhàng, hỗ trợ xúc tiến thương mại; giới thiệu và tư vấn về các nguồn vốn đầu tư để cácnhà đầu tư lựa chọn và tiếp cận

Thứ năm: Xây dựng chương trình xúc tiến đầu tư

Đà Nẵng đã phát triển một chiến lựơc tổng thể các hoạt động xúc tiến dựatrên cơ sở tính đến mục tiêu phát triển kinh tế toàn diện của thành phố.Những hoạtđộng xúc tiến phù hợp là thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo trò chuyện đối vớicác nhà đầu tư, qua đó nhận biết được ý kiến của họ về môi trường đầu tư để kịp

Trang 19

thời có những chính sách, biện pháp cải thiện phù hợp Đối với các dự án đang triểnkhai, tổ chức các buổi làm việc trực tiếp giữa nhà đầu tư, lãnh đạo địa phương đểnhanh chóng giải quyết các vướng mắc, rào cản trong các giai đoạn thực hiện dự án,

để dự án có thể thực hiện một cách thông suốt

Cạnh tranh trong thu hút nguồn vốn đầu tư cũng là cạnh tranh trong lĩnh vựcxúc tiến và vận động đầu tư Để hoạt động này được hiệu quả, các cơ quan chuyêntrách của thành phố đã triển khai và đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu về nhu cầu củanhà đầu tư Xây dựng một hệ thống thông tin về môi trường đầu tư làm cơ sở choviệc hoạch định chính sách, quản lý các hoạt động đầu tư, mở rộng hoạt độngtruyềnthông đến các nhà đầu tư về các yếu tố về kinh tế vĩ mô, các quy định, chính sáchkhuyến khích hoạt động đầu tư, các cơ hội đầu tư tiềm năng, các dự án mới thànhphố gọi đầu tư Xây dựng một hệ thống phần mềm để quản lý dữ liệu về nhà đầu tư,trao đổi thông tin hai chiều giữa Sở KH-ĐT và nhà đầu tư, doanh nghiệp Từ đó,thành phố đủa ra các chính sách mời gọi hợp lý trên cơ sở cân nhắc điều kiện củacác nhà đầu tư và lĩnh vực, ngành nghề thành phố cần đầu tư

1.5.2 Kinh nghiệm của Bắc Ninh

Thứ nhất: Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính

Chỉ đạo việc công khai dữ liệu thủ tục hành chính của từng ngành; thực hiệntốt mô hình một cửa liên thông hiện đại ở các ngành cấp tỉnh nhất là trong lĩnh vựcđầu tư, xây dựng, đất đai; theo dõi, đánh giá chất lượng của cơ chế một cửa hiệnđại; đánh giá công tác cải cách hành chính đối với các sở, ngành, UBND huyện, thị

xã, thành phố; đổi mới lề lối làm việc, tạo thuận lợi cho các tổ chức, doanh nghiệp,nhà đầu tư trong và ngoài nước

Thứ hai: Nâng cao chất lượng quy hoạch

Quy hoạch sử dụng đất có tầm nhìn lâu dài, phục vụ cho quá trình phát triểntrong tương lai của tỉnh Công bố công khai quy định sử dụng đất, quy hoạch xâydựng, công tác giải phóng mặt bằng, đổi mới quản lý ở các cụm công nghiệp, thựchiện tốt việc hỗ trợ các nhà đầu tư trong công tác khảo sát địa điểm, cung cấp thôngtin quy hoạch, giải quyết các thủ tục đầu tư xây dựng; đồng thời kiểm tra việc sửdụng đất, quy hoạch theo đúng quy định

Thứ ba: Hoàn thiện hệ thống cung cấp thông tin

Nâng cao chất lượng của cổng thông tin điện tử tỉnh và các website tại các

sở, ban, ngành; đánh giá và chỉ rõ những hạn chế, hỗ trợ và yêu cầu thực hiện biện

Trang 20

hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, chínhsách, quy định của nhà nước, của tỉnh; hệ thống mẫu đơn, tờ khai, cách thức thựchiện thủ tục hành chính cho nhà đầu tư đối với từng ngành, từng lĩnh vực.

Thứ tư: Nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính

Đẩy mạnh ứng dụng, nâng cao chất lượng hệ thống quản lý chất lượng ISO9001-2008; kiểm tra định kỳ các quy trình liên quan đến giải quyết thủ tục hànhchính cho người dân và doanh nghiệp; niêm yết công khai quy trình tại trụ sở, công

bố thông tin tại cổng thông tin điện tử của tỉnh, Website của ngành, của cơ quanthông tin đại chúng về quy trình của từng thủ tục đã đựơc công nhận đạt tiêu chuẩn

hệ thống quản lý chất lượng để nhân dân, doanh nghiệp giám sát thực hiện

Thứ năm: Nâng cao chất lượng lao động

Đào tạo nguồn nhân lực chất luợng cao, nâng cao chất lượng đào tạo của cáctrường, trung tâm dạy nghề; kết nối, hỗ trợ các nhà đầu tư trong công tác đào tạo vàtuyển dụng lao động; giải quyết tốt các vấn đề đình công, hướng dẫn các nhà đàu tưnâng cao trách nhiệm xã hội, giải quyết tốt các quyền lợi của người lao động, xửlýkịp thời và phòng ngừa các vấn đề bức xúc của người lao động Có kế hoạch đàotạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ công tác theo dõi, quản lý dự án

Thứ sáu: Thực hiện các chính sách ưu đãi, khuyến khích nhà đầu tư

Thực hiện các chính sách ưu đãi và khuyến khích đầu tư phù hợp với quyđịnh chung của pháp luật và tính chất đặc thù của địa phương: chẳng hạn hỗ trợ lãisuất sau đầu tư đối với các các dự án đầu tư vào các lĩnh vực mà tỉnh đặc biệtkhuyến khích, hỗ trợ kinh phí cho nhà đầu tư trong đào tạo lao động…

Thứ bảy: Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội đồng bộ

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước, đồng thời huy độngthêm các nguồn lực khác để xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội đồng

bộ, hiện đại để tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư

1.5.3 Kinh nghiệm của Singapore

Báo cáo môi trường kinh doanh toàn cầu 2013 (Ease of Doing Business) màNgân hàng Thế giới (WB) vừa công bố xếp Singapore ở vị trí đầu bảng Đây là nămthứ bảy liên tiếp đảo quốc sư tử đứng thứ nhất thế giới về môi trường đầu tư kinhdoanh Để có được những thành công đó ta có thể kể đến một số nguyên nhân chínhnhư sau:

Thứ nhất: Quản trị tốt

Trang 21

Singapore nhấn mạnh sự lãnh đạo chính trị mạnh mẽ trong việc điều hànhnền kinh tế và thực hiện các chính sách kinh tế quan trọng Điều này giúp giảmthiểu các rủi ro về chính sách và chính trị đối với các nhà đầu tư nước ngoài làm ăntại Singapore Theo Tổ chức tư vấn rủi ro chính trị và kinh tế (PERC), năm 2010,Singapore là nước đứng thứ hai về mức độ ít rủi ro nhất trong khu vực Đông Nam

Á Singapore có nhiều chỉ số tốt, đặc biệt trong các lĩnh vực như sự ổn định củaChính phủ, ổn định xã hội, hiệu quả của Chính phủ trong việc thực thi các chínhsách kinh tế, và chất lượng chính sách của Chính phủ

Thứ hai: Giám sát, điều hành thận trọng hệ thống tài chính

Trong những năm qua, Ủy ban Tiền tệ Singapore (MAS) đã áp dụng một sốbiện pháp giúp giảm thiểu rủi ro hệ thống tài chính, với các quy định phù hợp vớithông lệ quốc tế tốt nhất Trong một số trường hợp, như quy định tỷ lệ an toàn vốntối thiểu của các ngân hàng, quy định chặt chẽ hơn các tiêu chuẩn quốc tế Nhờ đó,

hệ thống tài chính vận hành ổn định, ngay cả khi diễn ra cuộc khủng hoảng tài chínhtoàn cầu

Thứ ba: Đa dạng hóa cấu trúc kinh tế và các thị trường xuất khẩu

Singapore vừa duy trì một nền sản xuất cạnh tranh toàn cầu, sản xuất hànghóa có giá trị gia tăng cao, vừa tạo ra sức cạnh tranh trong các ngành dịch vụ, baogồm các ngành xuất khẩu, du lịch và các dịch vụ tài chính

Thứ tư: Xây dựng chính sách tài chính hợp lý

Các chính sách tài chính hợp lý, thận trọng, “liệu cơm gắp mắm” và duy trìcác nguồn thu ổn định, đa đạng, nhằm giảm thiểu các rủi ro tài chính Điều này giúpSingapore có nguồn lực tài chính để hạn chế các cú sốc khi có tác động từ bênngoài

Thứ năm: Xây dựngchương trình phát triển tổng thể tốt

Là phải vạch ra được chương trình phát triển tổng thể và nhanh chóng triểnkhai chương trình ấy thành hiện thực Nhà nước cần phải có những chính sách nhấtquán nhằm bảo đảm sự ổn định và liên tục của dòng chảy phát triển; đơn giản hóa

và vi tính hóa thủ tục hành chính nhằm tăng khả năng cạnh tranh về thu hút vốn đầu

tư nước ngoài; chiến lược quy hoạch nhằm cân bằng sự phát triển giữa thành thị vànông thôn

Thứ sáu: Phải chuẩn bị tốt nguồn nhân lực

Trang 22

Bảo đảm lực lượng lao động được trang bị tốt cả về kỹ năng nghề nghiệp lẫntrình độ ngoại ngữ, tin học để có thể nhanh chóng nắm bắt được những tiến bộ khoahọc, kỹ thuật trên thế giới.

Trang 23

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TẠI

Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh tế Trung bộ, ở vị trí cửa ngõ nối liềnBắc Bộ với Trung Bộ nên có nhiều thuận lợi trong liên kết, giao thương hàng hoá,công nghệ, lao động kỹ thuật có điều kiện mở rộng giao lưu kinh tế và thị trườngvới các địa phương khác trong cũng như ngoài tỉnh nhưng cũng phải chịu sự cạnhtranh mạnh mẽ từ nhiều phía

Thanh Hoá có địa hình đa dạng, thấp dần từ Tây sang Đông, chia làm 3 vùng

rõ rệt:

- Vùng núi và Trung du có diện tích đất tự nhiên 839.037 ha, chiếm 75,44%

diện tích toàn tỉnh,độ cao trung bình vùng núi từ 600 -700m, độ dốc trên 25o

- Vùng đồng bằng có diện tích đất tự nhiên là 162.341 ha, chiếm 14,61% diện tích

toàn tỉnh, được bồi tụ bởi các hệ thống Sông Mã, Sông Bạng, Sông Yên và SôngHoạt Độ cao trung bình từ 5- 15m, xen kẽ có các đồi thấp và núi đá vôi độclập.Đồng bằng Sông Mã có diện tích lớn thứ ba sau đồng bằng Sông Cửu Long vàđồng bằng Sông Hồng

- Vùng ven biển có diện tích 110.655 ha, chiếm 9,95% diện tích toàn tỉnh,với

bờ biển dài 102 km, địa hình tương đối bằng phẳng Chạy dọc theo bờ biển là cáccửa sông Vùng đất cát ven biển có độ cao trung bình 3-6 m, có bãi tắm Sầm Sơnnổi tiếng và các khu nghỉ mát khác như Hải Tiến (Hoằng Hoá) và Hải Hoà (Tĩnh

Trang 24

Gia) ; có những vùng đất đai rộng lớn thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản vàphát triển các khu công nghiệp, dịch vụ kinh tế biển

Sự phân biệt 3 vùng sinh tháirõ rệt là điều kiện thuận lợi cho tỉnh bố trí cácloại hình sản xuất đa dạng

2.1.1.2 Nguồn tài nguyên thiên nhiên

a.Tài nguyên đất

Diện tích tự nhiên 1.110.609 ha, của Thanh Hóa gồm 8 nhóm đất chính, cácnhóm đất có diện tích tương đối lớn gồm:

- Nhóm đất xám 717.245 ha chiếm 64,6% diện tích tự nhiên, phân bố chủyếu

ở các huyện miền núi, trung du Quan Hóa, Bá Thước, Như Xuân, Thường Xuân,Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Thích hợp cho phát triển cây lâm nghiệp, cây công nghiệp vàcây ăn quả

- Nhóm đất đỏ diện tích 37.826 ha, chiếm 3,4%, phân bố ở độ cao trên 700m

ở các huyện Quan Hóa, Lang Chánh, Thường Xuân, Như Xuân, thích hợp cho trồngcây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, phát triển cây rừng

- Nhóm đất phù sa: diện tích 191.216 ha, chiếm 17,2% diện tích tự nhiênphân bố chủ yếu ở các vùng đồng bằng và ven biển, thích hợp cho trồng lúa, màu,cây công nghiệp ngắn ngày

- Nhóm đất mặn và đất cát diện tích 41.700 ha, chiếm 3,75% diện tích tựnhiên, phân bố chủ yếu ở vùng ven biển, thích hợp cho trồng cói, trồng rừng, hoamàu và nuôi trồng thủy sản

Trong tổng diện tích tự nhiên, đất nông nghiệp 239.842 ha; đất lâm nghiệp

đã có rừng 436.360 ha; đất chuyên dùng 67.111 ha, đất ở 19.292 ha; đất chưa sửdụng và sông suối, núi đá 348.003 ha

b Tài nguyên rừng

Thanh Hóa là một trong những tỉnh có tài nguyên rừng lớn với diện tích đất

có rừng436.360 ha, trữ lượng khoảng 15,84 triệu m3 gỗ, hàng năm có thể khai thác35.000 - 40.000m3 Rừng Thanh Hóa chủ yếu là rừng cây lá rộng, có hệ thực vậtphong phú, đa dạng về họ, loài Gỗ quí hiếm có lát, pơ mu, sa mu, lim xanh, táu,sến, Các loại thuộc họ tre nứa gồm có: luồng, nứa, vầu, , ngoài ra còn có: mây,song, dược liệu, quế, cánh kiến đỏ các loại rừng trồng có luồng, thông nhựa, mỡ, ,quế, cao su Nhìn chung vùng rừng giàu và trung bình chủ yếu là rừng đầu nguồn,rừng phòng hộ, phân bố trên các dãy núi cao ở biên giới Việt - Lào Thanh Hóa làtỉnhcó diện tích luồng lớn nhất trong cả nước với diện tích trên 80.000 ha

Trang 25

Rừng Thanh Hóa cũng là nơi quần tụ và sinh sống của nhiều loài động vậtnhư: Voi, hươu, nai, , khỉ, lợn rừng, các loài bò sát và các loài chim Đặc biệt ởvùng Tây nam của tỉnh có Rừng Quốc gia Bến En, nơi tồn trữ các nguồn gien, độngvật, thực vật quý, đồng thời là một điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách.

c Tài nguyên biển

Thanh Hóa có trên 100 km bờ biển hình cánh cung và vùng lãnh hải rộnglớn 26.000km2, chịu ảnh hưởng chi phối bởi các dòng hải lưu nóng và lạnh tạothành những bãi cá, bãi tôm có trữ lượng lớn Dọc bờ biển có 5 cửa lạch chính:Lạch Sung, Lạch Trường, , thuận lợi cho tàu thuyền đánh cá ra vào, đây cũng lànhững trung tâm nghề cá của tỉnh Ở vùng cửa lạch là những bãi bồi bùn cát rộnghàng ngàn ha để nuôi trồng hải sản, trồng cói, trồng cây chắn sóng và sản xuấtmuối Diện tích nước mặn ở vùng biển đảo Mê, Biện Sơn có thể nuôi cá song, traingọc, tôm hùm và hàng chục ngàn ha nước mặn ven bờ để nuôi nhuyễn thể vỏ cứng(ngao, sò )

Theo số liệu điều tra, vùng biển Thanh Hóa có trữ lượng khoảng 100.000 120.000 tấn hải sản, trong đó nguồn lợi cá nổi trữ lượng khoảng 50.000 - 60.000tấn, nguồn lợi cá đáy khoảng 40.000 - 50.000 tấn và các loại hải sản khác như tôm,mực khả năng khai thác hàng năm 60.000 - 70.000 tấn với nhiều loại hải sản cógiá trị kinh tế cao

d.Tài nguyên khoáng sản

Thanh Hóa là một trong số ít các tỉnh ở Việt Nam có nguồn tài nguyênkhoáng sản rất phong phú và đa dạng, có tới 250 điểm với 42 loại khoáng sản khácnhau, nhiều loại có trữ lượng lớn so với cả nước như: đá ốp lát (trữ lượng 2 - 3 tỷ

m3), đá vôi làm xi măng (trữ lượng trên 370 triệu tấn), sét làm xi măng (trữ lượng

85 triệu tấn), crôm (trữ lượng khoảng 22 triệu tấn), secpentin (trữ lượng 15 triệutấn), đôlômit (trữ lượng 4,7 triệu tấn), ngoài ra còn có vàng sa khoáng, quặng sắt

e Tài nguyên nước

Thanh Hóa có 4 hệ thống sông chính là sông Hoạt, sông Mã,; các sông thuộc

hệ thống sông Mã là sông Chu, sông Bưởi, có tổng chiều dài 881 km, tổng diện tíchlưu vực là 39.756 km2; tổng lượng nước trung bình hàng năm 19,52 tỷ m3 Mặtkhác, sông suối ThanhHóa chảy qua nhiều vùng địa hình phức tạp, tạo ra khả năngphát triển thủy điện khá lớn Riêng sông Mã, trữ lượng điện nănglý thuyết đạt tới 12

tỷ kwh Nước ngầm ở Thanh Hóa cũng rất phong phú về trữ lượng và chủng loại

Trang 26

bởi có đầy đủ các loại đất đá trầm tích, biến chất, mác ma và phun trào Với trữlượng nước trên có thể bảo đảm cho nhu cầu phát triển sản xuất và đời sống.

Về tài nguyên du lịch tự nhiên, Thanh Hoá được thiên nhiên ưu đãi cho khu

du lịch Sầm Sơn - nơi nghỉ dưỡng, tắm biển vào loại nhất nhì miền Bắc Việt Nam.Đến Sầm Sơn, du khách còn có thể thả bộ trên núi Trường Lệ, viếng chùa Cô Tiên,đền Độc Cước, hòn Trống Mái và thăm khu du lịch sinh thái Quảng Cư

Nằm cách thành phố Thanh Hoá 45 km về phía Tây Nam, vườn quốc gia Bến

En có diện tích tự nhiên 16.634 ha và 30.000 ha vùng đệm trên địa bàn của haihuyện Như Xuân và Như Thanh với một hệ sinh thái tự nhiên rất phong phú, thuộc

hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm với 870 loài thực vật – 125 bộ Vườn quốc gia Bến

En là khu du lịch sinh thái lý tưởng, là nơi nghiên cứu khoa học, vui chơi giải tríhấp dẫn du khách

Vườn quốc gia Bến En và Sầm Sơn có thể “nối mạng” tạo sức lan toả vớiquần thể du lịch Hàm Rồng, Thành nhà Hồ, khu di tích lịch sử Lam Kinh, đền Phủ

Na, Đền Bà Triệu, Cửa Đạt, Động Từ Thức và vươn ra Biện Sơn tạo nên một mạnglưới du lịch đặc sắc của quê hương xứ Thanh

Với tài nguyên - tiềm năng du lịch phong phú và đa dạng, có lợi thế về vị tríđịa lý và giao thông thuận lợi và với lòng hiếu khách của con người xứ Thanh –Thanh Hoá đã và sẽ là điểm đến hấp dẫn đối với du khách mọi miền đất nước vàquốc tế

2.1.2 Yếu tố kinh tế

2.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế

Trang 27

Trong hơn 20 năm đổi mới, cùng với xu hướng phát triển chung của cả nước,kinh tế Thanh Hóa đã từng bước ổn định và đang trên đà phát triển, đời sống ngàycàng được cải thiện rõ rệt Tốc độ tăng trưởng bình quân năm 2007 là 10,5% đếnnăm 2008 đã tăng lên 11,3% và năm 2009 khủng hoảng tài chính thế giới ảnhhưởng mạnh mẽ tới tăng trưởng kinh tế của cả nước, trong đó có Thanh Hoá Nhịp

độ tăng trưởng kinh tế giảm xuống còn khoảng 10,8%, sau đó tăng trở lại với tốc độtăng 13,7% vào năm 2010

Bảng 2.1: Tổng giá trị sản xuất (theo giá so sánh năm 1994) và tốc độ tăng trưởng

kinh tế tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2007 – 2011

GDP(94) (tỷ đồng) 14.503,0 16.143,7 17.887,3 20.330,1 22.827,8

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thanh Hoá

Tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2007-2011 đạt 11,72% trong đóngành công nghiệp và xây dựng có những đóng góp mang tính quyết định chotăng trưởng kinh tế giai đoạn ( 17,36%/ năm) Nhìn chung tốc độ tăng trưởng củaThanh Hóa cao hơn so với tốc độ tăng trung bình của cả nước (năm 2011 là6,41%).Tuy nhiên,sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh không bền vững, điều này đượcthể hiện qua tăng trưởng GDP có dấu hiệu chững lại vào năm 2011 và đặt ra cácyêu cầu cần thiết về cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh cho các năm tiếp theo

2.1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Bảng 2.2.Tổng sản phẩm và cơ cấuphân theo ngành kinh tế thời kỳ 2007-2011

Đơn vị: tỷ đồng

1 Tổng GDP (giá thực tế- tỷ đồng) 25.478,8 35.095,5 41.987,5 51.769,8 66.851,5

Nông-lâm- thuỷ sản 7.283,2 10.510,1 11.355,6 12.537,5 15.935,5Công nghiệp và xây dựng 9.316,5 12.628,1 16.158,5 21.404,3 27.948,5

Nguồn: Sở Kế Hoạch và Đầu tư tỉnh Thanh Hoá

Hình 2.1 : Cơ cấu theo ngành kinh tế giai đoạn 2007-2011

Trang 28

Nguồn: Sở Kế Hoạch và Đầu Tư tỉnh Thanh Hoá

Trong thời kỳ 2007-2011 cơ cấu kinh tế tỉnh Thanh Hoá đã có sự chuyểndịch theo hướng tích cực phù hợp với xu thế phát triển chung của cả nước Nền kinh

tế của tỉnh đang dần hình thành cơ cấu kinh tế công nghiệp-dịch vụ- nông nghiệp Tỷtrọng công nghiệp và xây dựng trong GDP tăng 5,2 điểm (%) từ 36,6% năm 2007lên 41,8% vào năm 2011 Tỷ trọng ngành nông-lâm-thủy sản giảm liên tục từ 29,9%năm 2008 xuống còn 24,2% vào năm 2010 và 23,8% năm 2011.Tuy nhiên, khu vựcdịch vụ có xu hướng giảm tỷ trọng trong GDP từ 34,8 % năm 2007 xuống 34,4%năm 2011.Khu vực dịch vụ là khu vực có tiềm năng nhưng chiếm tỷ trọng còn thấp,

sự chuyển biến còn khá chậm chạp, cần có sự phát triển nhanh hơn, mạnh hơn tạođiều kiện hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý hơn, trong điều kiện công nghiệp vàxây dựng đã và sẽ tiếp tục gia tăng nhanh chóng trong triển vọng sắp tới Hơn nữa,trong tương lai Thanh Hoá đang phấn đấu trở thành một tỉnh công nghiệp, lấy côngnghiệp làm mũi nhọn nhưng trong khoảng thời gian dài chuyển biến về tỷ trọngngành công nghiệp và xây dựng vẫn khá chậm chạp, chưa thực sự cósức bật làmđòn bẩy cho sự phát triển kinh tế của tỉnh

Cơ cấu kinh tế Thanh Hoá cũng đặc trưng bởi khu vực kinh tế ngoài nhà nước

đã và đang gia tăng tỷ trọng nhanh chóng Tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tếngoài nhà nước vào GDP toàn tỉnhnăm 2010 là 68,3%, năm 2011 là 72,8% và tiếp tụcđóng góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế Điều này chứng minh cho sựthành công của Thanh Hoá trong việc chuẩn bị các điều kiện thuận lợi về hạ tầng, về

Trang 29

môi trường kinh doanh nói chung và đó cũng là thành công trong công tác xúc tiếnvận động đầu tư trong nước.

2.1.3 Yếu tố cơ sở hạ tầng

Về đầu tư cơ sở hạ tầng cũng được tỉnh hết sức quan tâm Bằng nguồn vốncủa Trung ương và vốn khác tỉnh đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng xây dựng hạ tầng kỹthuật như: giao thông, điện, thông tin liên lạc, hệ thống cấp thoát nước…phục vụngày càng tốt hơn đời sống và hoạt động sản xuất kinh doanh

2.1.3.1 Hệ thống giao thông

Thanh Hóa có hệ thống giao thông thuận lợi cả về đường sắt, đường bộ vàđường thuỷ Hệ thống giao thông trên địa bàn tỉnh phân bố khá hợp lý, mật độđường giao thông cao Nhiều tuyến được đầu tư đã mang lại hiệu quả to lớn về kinh

tế - xã hội Hệ thống giao thông đô thị và giao thông nông thôn đã được quan tâmđầu tư nâng cấp, đảm bảo thông thương và giao lưu kinh tế giữa các địa phươngtrong tỉnh và với bên ngoài Hệ thống hạ tầng giao thông đối ngoại đã và đang đượcđầu tư hiện đại là những tuyến chính gắn kết quan hệ toàn diện của Thanh Hoá vớicác tỉnh khác trong cả nước và quốc tế

Toàn tỉnh có tổng chiều dài đường ô tô trên 7.700km, 98% số xã có đường ô

tô đến các khu trung tâm Thanh Hóa có các quốc lộ quan trọng chạy qua là Quốc lộ1A (dài 100 km); quốc lộ 15A (dài 178 km); quốc lộ 217 (dài 194 km), quốc lộ 10(dài 43 km), quốc lộ 45 (127 km), quốc lộ 47 (dài 61 km), đường Hồ Chí Minh (dài

130 km)

Thanh Hóa có hơn 1.700 km đường sông, trong đó có 360 km đã được khai

thác cho các loại phương tiệncó sức chở từ 20 đến 1.000 tấn Cảng Lễ Môn cáchtrung tâm thành phố Thanh Hóa 6 km vớinăng lực thông qua 300.000 tấn/năm, cáctàu trọng tải 600 tấn cập cảng an toàn Đặc biệt cảng biển nước sâu Nghi Sơn(huyện Tĩnh Gia) đã được đầu tư xây dựng cầu cảng số 1 đón các loại tàu sức chở 1vạn tấn ra vào và đang được đầu tư tiếp để xây dựng cầu cảng số 2 đón tàu 3 vạn tấn

ra vào Nghi Sơn là cảng biểnnước sâu lớn đã được quy hoạch với hơn 10 cầu cảngcho tàu 5 vạn tấn ra vào, với lượng hàng hóa thông qua hơn 10 triệu tấn/năm

Tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua địa bàn Thanh Hóa dài 92km với 9 nhà

ga, thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa và hành khách

Tuy vậy, hệ thống giao thông còn những hạn chế có ảnh hướng không tốt đốivới phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh:

Trang 30

- Chất lượng các loại đường bộ đều đang trong tình trạng xuống cấp Cáctuyến đường quốc lộ qua địa bàn của tỉnh, tỉnh lộ nhìn chung đều có tiêu chuẩn kỹthuật thấp, quy mô mặt cắt nhỏ, hiện tại chưa đáp ứng được nhu cầu về lưu lượng vàtải trọng của các phương tiện

- Các nhà ga xe lửa đã xây dựng từ khá lâu nên đang xuống cấp cần được cảitạo, nâng cấp; năng lực (chất lượng) vận tải đường sắt còn yếu (khổ đường vẫn là1m, tốc độ vận hành tàu còn chậm) chưa tạo điều kiện mở đường cho các hoạt độngkinh tế - xã hội

- Giao thông đường thủy còn khai thác hạn chế và đầu tư thấp Các cảngsông đều là cảng tạm, phương tiện bốc xếp thủ công, công suất bốc xếp thấp

- Mối liên kết giữa các tuyến đường bộ nối với các nhà ga đường sắt, cáccảng sông chưa tốt vì chất lượng các đường kết nối còn kém

2.1.3.2 Hệ thống cấp điện

Mạng lưới cung cấp điện của Thanh Hóa ngày càng được tăng cường cả sốlượng và chất lượng, bảo đảm cung cấp điện ổn định cho sản xuất và sinh hoạt.Hiện tại điện lưới quốc gia đãcó 456 km đường dây điện cao thế; 3.000 km đườngdây điện trung thế, 3.300 km đường dây điện hạ thế; 7 trạm biến áp 110/35/6-10KV; 32 trạm trung gian; 1.807 trạm phụ tải Năm 2002, điện năng tiêu thụ trên 887triệu KW/h Đến nay, 27/27 huyện, thị xã, thành phố với trên 90% số xã phường và87% số hộ được dùng điện lưới quốc gia Tuy nhiên, với triển vọng phát triển kinh

tế tỉnh trong tương lai, lưới điện của Thanh Hoá cần phải được nâng cấp và hiện đạihóa hơn nữa

2.1.3.3 Hệ thống cấp thoát nước và vệ sinh môi trường

Thanh Hoá có tiềm năng lớn về nguồn nước Nguồn nước mặt, nước ngầm tựnhiên dồi dào đủ để cung cấp cho hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp,thuỷ lợi trên địa bàn Tuy nhiên, hệ thống cấp nước sạch cho sinh hoạt và phát triểncông nghiệp còn chưa được đầu tư lớn Cung cấp nước đô thị chưa tốt và chất lượngnước chưa đạt yêu cầu

Hiện nay các thành phố, thị xã và nhiều thị trấn đã có nhà máy nước, 60%dân sốnông thôn và 80% dân số thành thị đã được dùng nước sạch Bên cạnh Nhàmáy Nước Mật Sơn công suất 20.000m3/ngày, tỉnh đã triển khaixong dự án cấpnước sạch và vệ sinh môi trường thành phố Thanh Hóa - Sầm Sơn với công suất20.000m3/ngày đêm, bảo đảm đủ cấp nước sạchcho thành phố Thanh Hóa, thị xã

Trang 31

Sầm Sơn và các Khu công nghiệp Lễ Môn, Đình Hương Đồng thờiđang xây dựngnhà máy cấp nước cho khu công nghiệp Nghi Sơn.

Hệ thống thoát nước trên địa bàn tỉnh chưa được đầu tư đồng bộ và hoànchỉnh, một số khu vực đô thị mới chỉ được đầu tư xây dựng cống, rãnh thu gomnước thải, các công trình được đầu tư còn nhỏ lẻ, mang tính chắp vá, cục bộ

2.1.3.4 Hệ thống bưu chính viễn thông

Nhìn chung, cùng với sự phát triển nhanh của mạng lưới thông tin trong cảnước, mạng lưới bưu chính, viễn thông, thông tin trong tỉnh tỉnh đã đáp ứng đượcyêu cầu thông tin phục vụ sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của người dân Mạngthông tin phục vụ công tác quản lý ngày càng hiện đại đã đáp ứng được đầy đủ vàkịp thời công tác thông tin phục vụ yêu cầu chỉ đạo, điều hành quản lý của các cấplãnh đạo Hiện nay,tỉnh Thanh Hóa có Trung tâm Bưu điện tỉnh và 80 bưu cục tạicác huyện, thị xã Tổng đài ATZ-G5 và tổng đài điện tử TDX-1B (6.400 số), thựchiện liên lạc trongnước và quốc tế nhanh chóng, thuận lợi Hệ thống vi ba và cápquang cho phép mở rộng và sử dụng các phương tiện viễn thông hiện đại như Telex,Fax và Internet phục vụ thông tin liên lạc trong nước và quốc tế Đến năm2002, có

574 xã, phường đã có điện thoại, bình quân 2,21 máy điện thoại/100 người dân

2.1.3.5 Hệ thống dịch vụ tài chính, ngân hàng

Hệ thống ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh gồm Ngân hàng Côngthương, Ngân hàng Đầu tư phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT, Ngân hàngchính sách, Ngân hàng Sài Gòn thương tín Hiện nay các ngân hàng đang thựchiện đổi mới và đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, áp dụng các công nghệtiên tiến trong việc chuyển phát nhanh, thanh toán liên ngân hàng, thanh toán quốc

tế đảm bảo an toàn và hiệu quả Tổng nguồn vốn huy động hàng năm tăng bìnhquân 18%, doanh số cho vay bình quân tăng 17,3%, tổng dư nợ tăng bình quân hàngnăm 17%

Sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh tạo thuận lợicho nhà đầu tư thực hiện nhanh chóng và an toàn các giao dịch thanh toán, cung cấpcho nhà đầu tư nguồn vốn vay, hỗ trợ nhà đầu tư bằng các khoản vay ưu đãi…

2.1.3.6 Phát triển mạnh các khu công nghiệp và cụm công nghiệp

Đặc điểm của mô hình phát triển các KCN, CCN là các nhà đầu tư trong vàngoài nước cùng đầu tư trên vùng không gian lãnh thổ, là nơi kết hợp sức mạnh củanguồn vốn trong và ngoài nước Việc xây dựng các khu công nghiệp sẽ thu hút được

Trang 32

được thể hiệnở 2 mặt Trước hết, KCN huy động vốn từ nội bộ nền kinh tế đấtnước,đây là nguồnvốn nội bộ có tính chất quyết định, là nhân tố nội lực Thứ hai,KCN huy động vốntừ các nhà đầu tư nước ngoài Trong điều kiện nền kinh tế tíchluỹ nội bộ còn thấp thì việc thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài là vô cùng quantrọng KCN là biện pháp hữu hiệu nhằm huy động các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài Sự phát triển của các KCN, CCN cũng là cơ hội để nhà đầu tư thu đượclợi nhuận lớn Tuy là tỉnh đi sau trong việc đầu tư xây dựng các KCN so với cáctỉnh khác, nhưng KCN của tỉnh sau khi được Chính Phủ cho phép thành lập đãnhanh chóng được quy hoạch đồng bộ và đầu tư cơ sở hạ tầng để thu hút vốn đầu

tư Với vị trí địa lý và chính sách ưu đãi, môi trường đầu tư ngày càng được cảithiện của tỉnh thời gian qua đã khuyến khích được một số nhà đầu tư thuộc cácthành phần kinh tế trong và ngoài nứơc tham gia đầu tư sản xuất Tỉnh cũng đãthống nhất chỉ đạo tập trung và tranh thủ sự hỗ trợ của các ngành ở trung ương đểthực hiện có hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư Tỉnh đã ban hành kịp thời các chínhsách ưu đãi, cơ chế hỗ trợ đầu tư để khuyến khích và huy động được các nguồn vốncủa nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế trong và ngoài nước Việc hình thànhban quản lý các KCN để thực hiện cơ chế một cửa, tại chỗ đã tạo điều kiện thuận lợi

về cải cách thủ tục hành chính cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt đốivới nhà đầu tư ngoài nước để họ yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh

Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số những hạn chế sau:

- Việc đầu tư xây dựng hệ thống kỹ thuật hạ tầng, đặc biệt là hệ thống xử lýchất thải còn chậm được triển khai Công tác vận động, xúc tiến đầu tư trong vàngoài nước vào các KCN còn hạn chế do chương trình kế hoạch, kinh phí và sựphối kết hợp của các cơ quan còn chưa đồng bộ

- Việc giải phóng mặt bằng còn chậm, còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ nênảnh hưởng rất lớn đến tiến độ đầu tư của các nhà đầu tư

- Việc đào tạo nguồn nhân lực để phục vụ cho KCN còn nhiều hạn chế nhất

là nguồn nhân lực chất lượng cao

- Đầu tư xây dựng nhà ở, công trình phúc lợi cho công nhân trong các KCNcòn chậm nên ảnh hưởng đến đời sống của người lao động và gây khó khăn chocông tác quản lý xã hội

Một số các KCN, CCN của tỉnh được nhà đầu tư trong và ngoài nước quantâm như:

Trang 33

-Khu Kinh tế Nghi Sơn

Đây là một khu kinh tế tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực với trọng tâm là côngnghiệp nặng và công nghiệp cơ bản như: công nghiệp lọc hoá dầu, công nghiệpluyện cán thép cao cấp, cơ khí chế tạo, sửa chữa và đóng mới tàu biển, công nghiệpđiện, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất hàng tiêu dùng, cơ chế vàxuất khẩu…gắn với việc xây dựng và khai thác có hiện quả cảng biển Nghi Sơn.Hình thành các sản phẩm mũi nhọn, có chất lượng và khả năng cạnh tranh cao, cácloại hình dịch vụ cao cấp, đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng ra thị trường khu vực vàthế giới.Khu kinh tế Nghi Sơn có tổng diện tích 18.612 ha, nằm cách Thành phốThanh Hoá 40 Km về phía Nam, giáp với tỉnh Nghệ An và Biển Đông Có lợi thếđặc biệt về giao thông như đường bộ, đường thuỷ, đường sắt Hệ thống hạ tầngtrong khu kinh tế từng bước được đầu tư xây dựng Trong đó, cảng nước sâu có quyhoạch 10 cầu cảng, công suất trên 10 tấn/năm, cho tàu 10 vạn tấn; là đầu mối giaolưu kinh tế với cả nước, khu vực và quốc tế Đường bộ và đường sắt nối liền nốiliền các vùng kinh tế Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam bộ.Là vùng kinh tế động lực thúcđẩy phát triển kinh tế của tỉnh Thanh Hoá, vùng Nam Thanh - Bắc Nghệ và BắcTrung Bộ

- Khu công nghiệp Lễ Môn

Đây là khu công nghiệp tập trung lớn của tỉnh nằm cách Thành phố ThanhHoá 5 Km về phía Đông; cách quốc lộ 47 nối liền Thành phố Thanh Hoá với Thị xãSầm Sơn Diện tích quy hoạch 87 ha Khu công nghiệp Lễ Môn đã được đầu tư cơ

sở hạ tầng một cách đồng bộ, đảm bảo cung cấp điện, nước, thông tin liên lạc và cácdịch vụ khác.Tại khu Công nghiệp Lễ Môn, khuyến khích đầu tư các dự án ứngdụng công nghệ cao, chế tạo và gia công từ nguồn nguyên liệu trong tỉnh; sử dụngnhiều lao động và sản xuất các mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao; nhómngành sản xuất hàng tiêu dùng, dệt may, giầy da, chế biến nông, lâm, thuỷ sản, lắpráp cơ khí, điện tử, thiết bị viễn thông

- Khu công nghiệp Đình Hương-Tây Ga

Diện tích: 150 ha Nằm ở phía Bắc Thành phố Thanh Hoá, cách trung tâmThành phố 2 Km, cách cảng Lễ Môn 7 Km; cách ga đường sắt Bắc Nam 3 Km.Cáclĩnh vực ưu tiên đầu tư: sản xuất lắp ráp hàng điện tử, viễn thông; may mặc, bao bì,sản xuất đồ gia dụng, thủ công mỹ nghệ; chế biến nông lâm sản thực phẩm, thức ăngia súc, gia cầm các ngành cơ khí chế tạo, lắp ráp và dịch vụ

Trang 34

-Khu công nghiệpBỉm Sơn

Diện tích: 700 ha Nằm ở phía Bắc của tỉnh; cách Thành phố Thanh Hoá 35

Km Điều kiện giao thông thuận lợi, nằm gần đường quốc lộ 1A và đường sắt BắcNam, cách Hà Nội 110 Km và cách biển Nghi Sơn 75 Km Có hệ thống nhà gathuận tiện cho việc tập kết và trung chuyển hàng hoá.Với ưu thế về diện tích, lợi thếgiao thông, cơ sở hạ tầng , ưu tiên kêu gọi vào Khu Công nghiệp Bỉm Sơn các dựán: sản xuất vật liệu xây dựng, bê tông đúc sẵn, gạch ngói, cơ khí, chế biến hàngnông lâm sản, hàng may mặc

- Khu công nghiệp Lam Sơn

Diện tích quy hoạch > 1000 ha; thuộc huyện Thọ Xuân, nằm phía Tây củatỉnh, cách Thành phố Thanh Hoá 40 Km, cạnh quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh,gần sân bay Sao Vàng Hiện nay đã hình thành trên quy mô 300 ha với nhà máyđường Lam Sơn công suất 6.000 tấn/ngày, nhà máy Giấy Mục Sơn công suất 10ngàn tấn/năm; nhà máy sản xuất phân bón vi sinh có công suất 80.000 tấn/năm vànhiều xí nghiệp khác đang hoạt động Các dự án khuyến khích đầu tư vào khu côngnghiệp là mía đường, giấy, bột giấy, chế biến lâm sản, thực phẩm, cơ khí chế tạo,lắp ráp, phân bón, hoá chất

2.1.4 Yếu tố văn hoá xã hội

2.1.4.1 Dân số và nguồn nhân lực

Dân số trung bình tỉnh Thanh Hoá năm 2010 có khoảng 3.405,9 ngàn người.Trong đó: dân số nam khoảng 1.683,1 ngàn người (chiếm 49,4%), dân số nữ khoảng1.722,8 ngàn người (chiếm 50,9%) Dân số trung bình năm 2011 khoảng 3.412,6ngàn người

Bảng 2.3 Phát triển dân số - lao động tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2009- 2011

Trang 35

Quy mô dân số lớn, dân số của tỉnh tương đối trẻ Theo số liệu báo cáo năm

2011, quy mô dân số ở mức hơn 3 triệu người; lực lượng lao động trong độ tuổichiếm tỷ lệ khá cao, chiếm tới 64,3% dân số Cùng với tốc độ gia tăng dân số, trongnhững năm tới lực lượng lao động sẽ tăng đáng kể do dân số bước vào tuổi lao độngngày càng nhiều Đây là nguồn nhân lực dồi dào cho phát triển kinh tế - xã hội nóichung

Về chất lượng lao động: những năm gần đây chất lợng lao động ở Thanh Hóa

đã được cải thiện một bước, trình độ văn hóa của các lực lượng lao động ngày càngđược nâng cao Tỷ lệ lao động không biết chữ và chưa tốt nghiệp phổ thông giảm,

số lao động tốt nghiệp THCS và THPT ngày càng tăng Số lao động được đào tạotăng đều qua các năm từ 19,6% năm 2000 lên 27% năm2005; 31,5% năm 2007 vàđạt 38% năm 2010 Tuy nhiên, hầu hết số lao động đã qua đào tạo tập trung ở cácthành phố, thị xã và các thị trấn huyện lị

Cơ cấu lao động cũng đã chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng lao độngnông lâm nghiệp giảm từ 72,4% năm 2009 xuống còn 58,4% năm 2010 và 56,3%năm 2011; tỷ trọng lao động công nghiệp – xây dựng tăng từ 12,5% năm 2009 lên19,1% năm 2010 và 20,2% năm 2011 Đây là kết quả đáng khích lệ trong quá trìnhchuyển dịch cơ cấu lao động của tỉnh Mặc dù vậy, cho đến nay số lao động làmviệc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, là lĩnh vực có năng suất lao động thấp vẫnchiếm tỷ lệ cao (trên 50%), số lao động trong các ngành công nghiệp, xây dựng vàdịch vụ còn ít nên năng suất lao động chung của tỉnh còn thấp

Nhìn chung, tỉnh Thanh Hoá có quy mô dân số lớn sẽ là thị trường tiềm năngcho các nhà đầu tư; lực lượng dân số dồi dào, trẻ sẽ là nguồn cung lao động cho các

dự án đầu tư Tuy vậy, chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá là khá hơn so vớinhiều địa phương trong cả nước nhưng chưa đáp ứng được sự phát triển của cácngành kinh tế, nhất là công nghiệp Do chất lượng của nguồn nhân lực chưa đápứng được nhu cầu phát triển, nên dẫn đến tình trạng thừa lao động, nhưng vẫn phảinhập lao động từ các tỉnh ngoài

2.1.4.2 Mức sống dân cư

Thu nhập và đời sống của người dân tỉnh Thanh Hoá những năm gần đây đãdần được cải thiện, nhu cầu và khả năng chi trả của người dân được nâng cao Đó làđiều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư mở rộng thị trường của mình Trong giaiđoạn 2008 – 2011, thu nhập bình quân đầu người tăng với nhịp độ trung bình

Trang 36

một người một tháng của người dân trong tỉnh năm 2008 vào khoảng 604,7 nghìnđồng/người, trong đó nhóm có thu nhập thấp nhất là 223,4 nghìn đồng//người/tháng,nhóm có thu nhập cao nhất là 1.312,4nghìn đồng/người/tháng Chênh lệch giữanhóm người có thu nhập cao nhất và thấp nhất khá ổn định, năm 2010 chỉ tiêu này

là khoảng 6 lần và 5,87 lần của năm 2008 Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh đã giảm khánhanh nhờ thực hiện các chương trình xóa đói, giảm nghèo

2.1.4.3 Giáo dục và đào tạo

Công tác giáo dục luôn được tỉnh Thanh Hoá đặc biệt quan tâm pháttriển.Bởi nó là nền tảng để nâng cao dân trí, nâng cao chất lượng nguồn lao động vàbồi dưỡng nhân tài phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần nâng caochất lượng cuộc sống của nhân dân

Mạng lưới các cơ sở giáo dục và đào tạo của tỉnh Thanh Hoá đã và đang pháttriển ngày càng rộng và phân bố đều khắp các xã, thị trấn, đến tận thôn/bản trên địabàn tất cả các huyện/thị trong tỉnh với hệ thống cơ sở trường, lớp và cơ sở vật chất

kỹ thuật từng bước được cải thiện Năm 2010-2011 trong tỉnh có 653 trường mầmnon, 732 trường tiểu học, 650 trường THCS, 104 trường THPT, 29 trung tâm giáodục thường xuyên

Đội ngũ giáo viên được bổ sung thường xuyên, từng bước hoàn thiện về cơcấu và nâng cao chất lượng giảng dạy, đáp ứng tốt hơn về sự nghiệp giáo dục của tỉnh

Vềmặt đào tạo: công tác giáo dục dạy nghề và đào tạo chuyên nghiệp cóbước phát triển mạnh cả về số lượng cơ sở và số người được đào tạo, phong phúloại hình đào tạo Hệ thống các trường đào tạo đang được xây dựng khá đồng bộ vàhoàn chỉnh Toàn tỉnh hiện có 1 trường đại học, 3 trường cao đẳng, 6 trường trungcấp chuyên nghiệp, 1 trường đại học dự bị dân tộc, 9 trường cao đẳng và trung cấpnghề, 14 trung tâm giáo dục thường xuyên, 1 trung tâm giáo dục thường xuyên cấptỉnh, 3 cơ sở đào tạo của trung ương Ngoài đào tạo chính quy ra tỉnh còn mở thêmkhông chính quy ở mọi cấp đào tạo nên công tác đào tạo đạt kết quả tốt Mạng lưới

cơ sở dạy nghề chủ yếu tập trung ở các thành phố, thị xã và các khu công nghiệpnhằm đáp ứng nhu cầu đạo tạo cho lao động tại chỗ

2.1.4.4 Y tế, chăm sóc sức khoẻ

Trong thời gian vừa qua, mạng lưới y tế trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá đãkhông ngừng được hoàn thiện, đáp ứng cơ bản nhu cầu phòng bệnh và KCB củanhân dân, đảm bảo chất lượng sức khoẻ tốt nhất cho người dân Năm 2011, trên địabàntoàn tỉnh có 44 bệnh viện, 12 phòng khám đa khoa khu vực, 633 trạm y tế xã

Trang 37

phường, 7.247cán bộ ngành y, 399 cán bộ ngành dược Chất lượng KCB ngày càngđược nâng cao Đảm bảo cung cấp đủ và kịp thời thuốc phòng bệnh và chữa bệnh

có chất lượng.Công tác xã hội hoá y tế bước đầu đã được triển khai, đặc biệt tronglĩnh vực KCB - đa dạng các loại hình dịch vụ y tế Tuy nhiên, bên cạnh những kếtquả đã đạt được, mạng lưới y tế tỉnh vẫn còn tồn tại một số hạn chế đó là:

-Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế tuy đã được đầu tư và nâng cấp, tuy nhiên,

so với quy định của Bộ Y tế vẫn còn nhiều hạn chế ở tất cả các tuyến, bao gồmcảnhững trang thiết bị kỹ thuật cao và trang thiết bị cơ bản cho tuyến y tế cơ sở

-Việc áp dụng các kỹ thuật cao trong phòng bệnh và chữa bệnh còn hạn chế ở

tất cả các tuyến

-Đội ngũ cán bộ chuyên môn còn thiếu về số lượng nhất là cán bộ có trình độ

chuyên môn cao và sâu, mất cân đối về cơ cấu cán bộ (tỷ lệ giữa các loại cán bộ y tếchưa hợp lý), chưa có cơ chế chính sách hợp lý để phân bổ nguồn nhân lực đồngđều cho các tuyến đặc biệt là tuyến cơ sở ở những vùng khó khăn, thiếu bác sĩ côngtác tại tuyến cơ sở

-Vẫn còn tình trạng quá tải tại các bệnh viện tại cả tuyến tỉnh và tuyến huyện -Công tác xã hội hoá y tế chưa thực sự đạt hiệu quả cao cả trong lĩnh vực

phòng bệnh và lĩnh vực KCB

-Nguồn tài chính cho y tế còn nhiều hạn chế: ngân sách đầu tư cho y tế hạn

hẹp trong khi việc kêu gọi đầu tư từ những nguồn khác chưa đáng kể

2.1.5 Yếu tố chính sách pháp luật

Thanh Hoá đã xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách khuyến khích và

ưu đãi đầu tư Các cơ chế, chính sách này không chỉ tạo thuận lợi về thủ tục đầu tư

mà còn dành cho nhà đầu tư những ưu đãi kinh tế, tài chính cụ thể - ngoài những ưuđãi theo qui định hiện hành của nhà nước

Các ưu đãi về đất đai của tỉnh Thanh Hoá đều tuân thủ theo Nghị định số108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thihành một số điều của Luật đầu tư Theo đó: tất cả các dự án đầu tư đều được miễn

11 năm tiền sử dụng đất Đối với dự án thuộc lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư,thời gian miễn tiền sử dụng đất lên đến 15 năm Dự án sử dụng đất để xây dựng nhà

ở cho người lao động không vì mục đích kinh doanh, đất xây dựng công trình côngcộng có mục đích kinh doanh (xã hội hóa) thuộc lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa,thể dục, thể thao được miễn tiền sử dụng đất trong suốt thời gian dự án hoạt động

Trang 38

14/11/2005 của Chính Phủ về thu tiền thuế đất, thuê mặt nước và Quyết định1001/QĐ-UBND ngày 29/06 /2006 của UBND tỉnh Thanh Hoá về việc Quy địnhđơn giá thuê đất áp dụng trên địa bàn tỉnh.

Về thuế thu nhập doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu

tư và hoạt động kinh doanh trên địa bàn tỉnh được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp

từ 2 - 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và được giảm 50% số thuế phải nộp từ

2 - 9 năm tiếp theo, tùy thuộc vào ngành nghề và địa bàn đầu tư Các dự án đầu tư

mở rộng quy mô được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp từ 1-4 năm kể từ khi có thunhập chịu thuế và giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp từ 2-7 nămtiếp theo, tuỳ thuộc vào ngành nghề và địa bàn đầu tư Sau thời gian ưu đãi nói trên,các dự án thực hiện thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 28% Thời gian miễn,giảm thuế thu nhập doanh nghiệp

Tỉnh Thanh Hoá có chính sách ưu đãi về thuế nhập khẩu đối với hàng hóa tạothành tài sản cố định, bao gồm: Thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dụngnhập khẩu để tạo thành tài sản cố định của doanh nghiệp hoặc mở rộng quy mô đầu

tư, đổi mới công nghệ; phương tiện vận chuyển chuyên dụng đưa đón công nhân

Ngoài ra khi đến đầu tư tại Thanh Hoá, các doanh nghiệp còn nhận được các

hỗ trợ về Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Tạo điều kiện giải quyết nhanh việc cấp đất, đền

bù giải phóng mặt bằng; hỗ trợ cung cấp dịch vụ viễn thông, điện, nước, đến hàngrào dự án; Hỗ trợ một phần kinh phí đào tạo công nhân kỹ thuật, nâng cao trình độchuyên môn, tay nghề cho lao động là người của địa phương có hợp đồng dài hạntại các dự án đầu tư trên địa bàn Tỉnh; Hỗ trợ một phần kinh phí tham gia hội chợtriển lãm để tiếp cận, khai thác mở rộng thị trường trong và ngoài nước theo danhmục nhóm hàng, mặt hàng ban hành trong từng thời kỳ; hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu,xây dựng thương hiệu Nhà đầu tư được hướng dẫn và cung cấp miễn phí các thôngtin cần thiết để khảo sát và lập dự án đầu tư, trừ các chi phí bắt buộc theo quy định.Định kỳ 6 tháng một lần tỉnh sẽtổ chức gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với các nhà đầu tư

để kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình sản xuất kinhdoanh, triển khai thực hiện dự án để có biện pháp hỗ trợ kịp thời và đầy đủ

2.1.6 Yếu tố chính trị

Cùng với sự ổn định chung của cả nước, môi trường chính trị tỉnh Thanh Hoácũng được đánh giá cao trong con mắt của các nhà đầu tư Trong bối cảnh tình hìnhthế giới diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch ra sức tập hợp lực lượng tấn côngđất nước ta bằng âm mưu “diễn biến hòa bình” và phá ta về chính trị, kinh tế, tư

Trang 39

tưởng, văn hóa Thanh Hoá đã đưa ra những nghị quyết, chính sách riêng của tỉnh

để ổn là thu hút nguồn vốn FDI

2.2.Đánh giá thực trạng môi trường đầu tư tỉnh Thanh Hoá qua chỉ số PCI đến năm 2011

2.2.1 Chỉ số tổng hợp PCI qua các năm

Bảng 2.4 : Tổng hợp kết quả chỉ số PCI giai đoạn 2007-2011

Năm hợp/ 100 điểmĐiểm tổng Vị trí xếp hạng trênbảng xếp hạng

toàn quốc

Vị trí xếp hạng trongkhu vực duyên hảimiền Trung Nhóm điều hành

Nguồn: Tổng hợp báo cáo PCI qua các năm( pcilaocai.vn)

Theo số liệu điều tra, đánh giá của VCCI về năng lực cạnh tranh cấp tỉnhtrong giai đoạn 2007-2011, ta thấy được sự chuyển biến tích cực trong chất lượngmôi trường đầu tư của tỉnhThanh Hoá Năm 2007 và năm 2008 PCI của tỉnh chỉđược xếp vào nhóm trung bình thấp, nhưng đến 2009 và 2010 tỉnh đã được xếp vàonhóm những tỉnh thành có môi trườngđầu tư khá Đặc biệt , năm 2011 đó là một sựchuyển biến mạnh mẽ nhất khi tỉnh đã lọt vào top những tỉnh thành có môi trườngđầu tư tốt với số điểm 60.62 và tăng 20 bậc so với năm 2010, xếp vị trí 24 trongbảng xếp hạng cả nước, thuộc nhóm 7 tỉnh có số bậc tăng nhanh nhất Xếp hạngPCI trong khu vực duyên hải miền Trung cũng đã cải thiện được 2 bậc từ vị trí số 8năm 2010 lên vị trí số 6 năm 2011 Đạt được kết quả như trên bởi vì Thanh Hoá đãlấy năm 2011 là năm cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh bằng việc ra “ Kếhoạch thực hiện năm cải thiệnmôi trường đầu tư kinh doanh”, chương trình hànhđộng thực hiện nghị quyết 02-NQ/TU của tỉnh Thanh Hoá về tăng cường sự lãnhđạo của Đảng trong cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh giai đoạn 2011-2015

Đó là dấu hiệu đáng mừng cho thấy Thanh Hoá đang dần trở địa chỉ hấp dẫn đối vớicác nhà đầu tư

Trang 40

Hình 2.2: So sánh điểm của Thanh Hoá với điểm thấp nhất và cao nhất của cả nước

Nguồn: pcivietnam.org

2.2.2 Chỉ số từng thành phần

2.2.2.1 Chi phí gia nhập thị trường

Bảng 2.5 : Chi phí gia nhập thị trường giai đoạn 2007-2011

Năm Điểm Nhỏ nhất Trung vị Lớn nhất Vị trí trên bảngxếp hạng toàn

quốc

Vị trí xếp hạng trongkhu vực duyên hảimiền trung

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo PCI qua các năm (pcilaocai.vn)

Bảng số liệu trên đã cho thấy được sự khôi phục điểm của chỉ số thành phần:chi phí gia nhập thị trường của tỉnh Thanh Hoá Nếu năm 2009 là 7.98 điểm và bịgiảm xuống còn 6.55 điểm vào năm 2010 thì đến năm 2011 chỉ số đã tăng lên 1.93điểm Tuy vậy vị trí xếp hạng của chỉ số ở khu vực miền Trung vẫn duy trì ổn định

ở vị trí số 9 trong suốt giai đoạn 2009-2011 và giảm 3 bậc vào năm 2011( năm 2010xếp thứ 35, năm 2011 xếp thứ 38) trong bảng xếp hạng toàn quốc do xu hướng tăng

Ngày đăng: 19/09/2020, 00:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Nguyễn Thu Hà, chuyên đề thực tập tốt nghiệp, “Cải thiện môi truờng đầu tư tỉnh Lào Cai nhằm thu hút đầu tư phát triển đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải thiện môi truờng đầutư tỉnh Lào Cai nhằm thu hút đầu tư phát triển đến năm 2020
10. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp “Giải pháp cải thiện môi trường đầu tư tại tỉnh Hoà Bình” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp cải thiện môi trường đầu tư tạitỉnh Hoà Bình
1.PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt- TS Từ Quy Phương, Giáo trình Kinh tế Đầu tư, Nhà xuất bản Hà Nội 2004 Khác
2. GS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng, Giáo trình Kinh tế phát triển, Nhà xuất bản Lao động xã hội 2006 Khác
3. Các nhân tố tác động đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một địa phương. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng- Số 5(40).2010 Khác
4. Đào tạo nhân lực ở Việt Nam- Tạp chí nghiên cứu văn hoá Khác
5. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội tỉnh Thanh Hoá đến năm 2020 Khác
6. Báo cáo tình hình phát triển kinh tế- xã hộitỉnh Thanh Hoá từ năm 2007- 2011 Khác
7. Kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội tỉnh Thanh Hoá đến năm 2020 Khác
8. Đề án nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Quảng Ninh Khác
11. www.pcivietnam. org 12. www. pcilaocai.vn 13. qppl.thanhhoa.gov.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w