CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNGI. DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG1. Khái niệm đầu tư xây dựng và dự án đầu tư xây dựng1.1. Khái niệm đầu tư xây dựng:Có rất nhiều quan niệm khác nhau về đầu tư, tuy ở mỗi góc độ khác nhau người ta có thể đưa ra các quan niệm khác nhau về đầu tư, nhưng một quan niệm hoàn chỉnh về đầu tư phải bao gồm các đặc trưng sau đây: Công việc đầu tư phải bỏ vốn ban đầu Đầu tư luôn gắn liền với rủi ro, mạo hiểm ... Do vậy các nhà đầu tư phải nhìn nhận trước những khó khăn để có biện pháp phòng ngừa. Mục tiêu của đầu tư là hiệu quả. Nhưng ở những vị trí khác nhau, người ta cũng nhìn nhận vấn đề hiệu quả không giống nhau. Với các doanh nghiệp thường thiên về hiệu quả kinh tế, tối đa hóa lợi nhuận. Còn đối với nhà nước lại muốn hiệu quả kinh tế phải gắn liền với lợi ích xã hội. Trong nhiều trường hợp lợi ích xã hội được đặt lên hàng đầu.Vì vậy, một cách tổng quát ta có thể đưa ra khái niệm về đầu tư như sau:Đầu tư là quá trình bỏ vốn để tạo dựng nên một tài sản nào đó (vật chất, tài chính, nghiên cứu phát triển) và sau đó tổ chức, khai thác, vận hành để sinh lợi hoặc thỏa mãn nhu cầu nào đó của người bỏ vốn trong thời gian nhất định trong tương lai.Từ khái niệm về đầu tư ta có khái niệm về đầu tư xây dựng: Đầu tư xây dựng là đầu tư vào các đối tượng, vật chất là các công trình xây dựng.(Nguồn: Giáo trình Kinh tế Xây dựng, trường Đại học sư phạm kỹ thuật Hồ Chí Minh, trang 7)1.2. Khái niệm dự án đầu tư xây dựng:Từ trước đến nay có rất nhiều các nhà khoa học kinh tế cũng như các nhà quản lý đã đưa ra các khái niệm rất khác nhau về dự án. Mỗi một quan niệm nhấn mạnh về một số các khía cạnh của một dự án cùng các đặc điểm quan trọng của nó trong từng hoàn cảnh cụ thể.Nếu xem xét về hình thức, dự án là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống một dự kiến đầu tư trong tương laiNếu xét ở góc độ nội dung, dự án được hiểu là một ý đồ tiến hành một công việc cụ thể nào đó nhằm mục tiêu xác định trong khuôn khổ nguồn lực nhất định và khoảng thời gian nhất định.Nếu xét ở góc độ kế hoạch, dự án được hiểu là một kế hoạch chi tiết về đầu tư phát triển, là đơn vị kế hoạch độc lập nhỏ nhất trong hệ thống kế hoạch hóa, làm cơ sở cho việc ra quyết định về đầu tư phát triểnNếu từ giác độ quan sát các hoạt động cần thiết cho một dự án thì dự án được hiểu là hàng loạt các hoạt động cần thiết nhằm xác định mục tiêu, tiến hành các nghiên cứu khả thi, dự đoán chi phí, hoàn thiện các thủ tục và thiết kế cuối cùng, cũng như việc lắp đặt và hoàn thiện các điều kiện làm việc. Một dự án nhất định sẽ bị giới hạn về thời gian, về con người cùng các nguồn lực khác để hoàn thành mục tiêu đã được xác định.(Nguồn: Giáo trình chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội, Trường Đại học kinh tế quốc dân, trang 79)Kết hợp với khái niệm về đầu tư xây dựng ta có khái niệm về dự án đầu tư xây dựng như sau:Dự án đầu tư xây dựng là một tập hồ sơ tài liệu mà nội dung của nó được trình bày một cách chi tiết việc sử dụng tài nguyên lâu dài để mang lại lợi ích kinh tế xã hội. Nội dung của dự án đầu tư xây dựng phải được tính toán, phân tích một cách chi tiết số liệu về các phương diện pháp lý, thị trường, kỹ thuật, môi trường, quản trị, tài chính và lợi ích kinh tế xã hội.Nói chung, dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định.(Nguồn: Giáo trình Quản lý dự án trường Đại học xây dựng, trang 9)
Trang 1Đề tài: Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng của Công ty cổ
phần tư vấn kinh tế và kỹ thuật xây dựng Việt Nam – VNECT
Trang 2Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô Khoa Kế hoạch và Phát triển đã trang bị cho em nhiều kiến thức chuyên ngành bổ ích để em có thể vận dụng khảo sát thực tế.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo ……… đã tận tình hướng dẫn, đưa ra những gợi ý định hướng và nhận xét rất hữu ích giúp
em thực hiện chuyên đề.
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 7
DANH MỤC BẢNG BIỂU 7
LỜI MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 11
I DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 11
1 Khái niệm đầu tư xây dựng và dự án đầu tư xây dựng 11
1.1 Khái niệm đầu tư xây dựng: 11
1.2 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng: 11
1.3 Phân loại dự án đầu tư xây dựng: 12
2 Tính chất đặc trưng của dự án đầu tư xây dựng 12
3 Chu kỳ của một dự án đầu tư xây dựng 13
II Công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng 15
1 Khái niệm về thẩm định dự án đầu tư xây dựng 15
2 Mục đích của thẩm định dự án đầu tư xây dựng 16
3 Vai trò của thẩm định dự án đầu tư xây dựng trong quản lý dự án đầu tư 16
III Quy trình, nội dung và phương pháp thẩm định dự án đầu tư xây dựng 16
1 Quy trình thẩm định dự án đầu tư xây dựng 16
2 Nội dung thẩm định 19
2.1 Thẩm định theo khía cạnh pháp lý của dự án 19
2.2.Thẩm định khía cạnh công nghệ - kỹ thuật của dự án 20
2.3 Thẩm định khía cạnh tài chính của dự án 21
3 Phương pháp thẩm định 22
3.1 Phương pháp chung 22
3.2 Phương pháp cụ thể 22
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT XÂY DỰNG VIỆT NAM - VNECT 26
I Giới thiệu khái quát về Công ty cổ phần tư vấn kinh tế và kỹ thuật xây dựng Việt Nam – VNECT 26
1 Giới thiệu khái quát về công ty 26
2 Giới thiệu về chức năng thẩm định dự án đầu tư xây dựng của công ty 26
II Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng của công ty 27
1 Kết quả thẩm định dự án đầu tư xây dựng giai đoạn 2009-2011 27
2 Đánh giá công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng của công ty 35
2.1 Đánh giá quy trình thẩm định dự án đầu tư xây dựng của công ty 35 2.1.1 Quy trình thẩm định 35
Trang 42.1.2 Nhận xét 37
2.2 Đánh giá nội dung thẩm định dự án đầu tư xây dựng của công ty 38 2.2.1 Nội dung thẩm định 38
2.2.2 Nhận xét: 40
2.3 Đánh giá phương pháp thẩm định dự án đầu tư xây dựng của công ty 41
2.3.1 Phương pháp chung 41
2.3.2 Phương pháp cụ thể 41
2.3.2.1 Đối với thẩm định khía cạnh thể chế - tổ chức – quản lý dự án 41
2.3.2.2 Đối với thẩm định khía cạnh công nghệ - kỹ thuật: 41
2.3.2 3 Đối với thẩm định khía cạnh tài chính: 46
2.3.3 Nhận xét 48
3 Đánh giá về tổ chức công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng của công ty 48
3.1 Năng lực cán bộ: 48
3.2 Về thông tin: 49
3.3 Về cơ sở vật chất: 50
3.4 Về nguồn vốn cung cấp cho hoạt động thẩm định: 50
3.5 Sự phối hợp tham gia của các bên: 51
4 Tổng kết thực trạng, nguyên nhân của những hạn chế còn tồn tại 51 4.1 Tổng kết kết quả đánh giá thực trạng 51
4.2 Nguyên nhân 53
CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC 55
THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 55
I Quan điểm đổi mới hoàn thiện 55
1 Mục tiêu phát triển mảng thẩm định dự án đầu tư xây dựng: 55
2 Thẩm định dự án đầu tư phải tuân thủ những quy định của pháp luật, đảm bảo tính hợp pháp 55
3 Thẩm định dự án đầu tư phải đảm bảo xem xét, đánh giá toàn diện các nội dung dự án 55
4 Thẩm định dự án đầu tư phải đảm bảo tính khách quan, chính xác 55
5 Thẩm định dự án đầu tư phải đảm bảo tính kịp thời 56
II Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng 56
1 Giải pháp hoàn thiện quy trình, nội dung, phương pháp thẩm định dự án đầu tư xây dựng 56
1.1 Giải pháp hoàn thiện quy trình thẩm định dự án đầu tư xây dựng.56 1.2 Giải pháp hoàn thiện nội dung thẩm định dự án đầu tư xây dựng 57
1.3 Giải pháp hoàn thiện phương pháp thẩm định dự án đầu tư xây dựng 58
Trang 52 Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng của công ty 59
KẾT LUẬN 61 PHỤ LỤC 62
Trang 6DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU DANH MỤC SƠ ĐỒ:
Sơ đồ 1.1: Chu kỳ dự án 13
Sơ đồ 1.2: Quy trình thẩm định đối với tổ chức thẩm định là cơ quan NN 17
Sơ đồ 1.3: Quy trình thẩm định đối với tổ chức thẩm định là tư nhân 17
Sơ đồ 1.4: Phương pháp thẩm định theo trình tự 23
Sơ đồ 1.5: Cơ cấu tỉ lệ hợp đồng ký kết được của công ty năm 2009, 2010, 2011 29
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Phương pháp thẩm định có xem xét đến những yếu tố rủi ro 24 Bảng 1.2: Kết quả hoạt động của công ty năm 2009, 2010, 2011 27 Bảng 1.3: Kết quả doanh thu theo từng lĩnh vực kinh doanh của công ty năm
2009, 2010, 2011 31 Bảng 1.4: Kết quả hoạt động của lĩnh vực thẩm định dự án theo quy mô hợp đồng của công ty năm 2009, 2010, 2011 33 Bảng 1.5: Kết quả hoạt động lĩnh vực thẩm định dự án theo tính chất của dự án 34 Bảng 1.6: Kết quả hoạt động lĩnh vực thẩm định dự án theo khu vực 34 Bảng 1.7: Cơ cấu nguồn vốn 46
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
I LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
Lĩnh vực xây dựng ở Việt Nam luôn là một trong những lĩnh vực quan trọngảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của cả đất nước Các công ty tư vấn xâydựng được mở ra ngày một nhiều tạo nên một thị trường về xây dựng mang tínhcạnh tranh khá cao Công ty cổ phần kinh tế và kỹ thuật xây dựng Việt Nam -VNECT cũng đã được thành lập và đi vào hoạt động được vài năm, và đã rất cốgắng để tồn tại phát triển trên địa bàn thành phố Hà Nội Đặc biệt là trong nhữngnăm vừa qua, khi mà tình hình lĩnh vực xây dựng gặp nhiều khó khăn khiến rấtnhiều công ty phải thua lỗ, phá sản, nhưng công ty cổ phần kinh tế và kỹ thuật xâydựng Việt Nam vẫn phát triển và ngày càng mở rộng hơn
Trong các lĩnh vực hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần tư vấn kinh tế
và kỹ thuật xây dựng Việt Nam – VNECT, lĩnh vực thẩm định dự án đầu tư xâydựng là một trong những lĩnh vực quan trọng đối với công ty vì đây là một trongnhững lĩnh vực kinh doanh đem về số lượng rất lớn hợp đồng ký kết trong nhữngnăm hoạt động vừa qua của công ty Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu thực tậptại công ty tôi thấy công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng của công ty lại có một
số những hạn chế nhất định khiến cho mặc dù số lượng hợp đồng ký kết được là rấtlớn nhưng số lượng hợp đồng hoàn thành và được thanh lý lại chưa đạt tỉ lệ cao(khoảng 85%) Như vậy, vẫn còn 15% số hợp đồng công ty không thể hoàn thànhhoặc chưa đáp ứng đúng yêu cầu của khách hàng và không được thanh lý Mặtkhác, tỉ suất lợi nhuận đem về cho công ty ở lĩnh vực này lại là chưa cao Công tácthẩm định dự án đầu tư xây dựng của công ty mới chỉ tập trung vào một số hoạtđộng nhỏ như là thẩm tra thiết kế, thẩm tra dự toán, quyết toán, trong khi đây chỉ làmột phần nhỏ trong lĩnh vực thẩm định dự án Tất cả quy trình, nội dung cũng như
là phương pháp, công tác tổ chức thẩm định dự án đầu tư xây dựng còn nhiều yếukém và hạn chế Đây cũng chính là các nguyên nhân khiến cho lĩnh vực thẩm định
dự án đầu tư xây dựng chưa đem về được tỉ suất lợi nhuận cao cho công ty Cùngvới việc nắm bắt thị trường xây dựng ngày càng khó khăn, các dự án đầu tư xâydựng yêu cầu phải được thẩm định một cách chi tiết, chính xác, hoàn thiện hơn,đồng thời hiểu được những hạn chế trong công tác thẩm định dự án đầu tư xâydựng, đội ngũ nhân viên cũng như là ban lãnh đạo công ty luôn mong muốn có thểhoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng để có thể đáp ứng nhu cầu vềthẩm định trên thị trường, mở rộng lĩnh vực hoạt động từ đó có thể đem về nhữnghợp đồng với doanh số lớn ở lĩnh vực này nhằm đem về doanh thu lớn cho công ty
Vì vậy tôi xin được chọn đề tài “Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư xâydựng của Công ty cổ phần tư vấn kinh tế và kỹ thuật xây dựng Việt Nam –VNECT” nhằm đưa ra những định hướng, giải pháp giúp cho công ty hoàn thiệncông tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng, nâng cao doanh thu cho công ty trongnhững năm tới
Trang 8II MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Mục tiêu nghiên cứu:
Phân tích và nghiên cứu để phát hiện, chỉ ra các mặt hạn chế trong công tácthẩm định dự án đầu tư xây dựng của Công ty cổ phần tư vấn kinh tế và kỹ thuậtxây dựng Việt Nam - VNECT Từ đó tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất các giải pháphoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng cho công ty
Từ mục tiêu nghiên cứu đặt ra các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Cơ sở lý thuyết về thẩm định dự án đầu tư xây dựng là gì?
- Thực trạng công tác thẩm dự án đầu tư xây dựng của công ty như thế nào?
- Làm thế nào để hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng của công ty?
2 Phương pháp nghiên cứu:
So sánh thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng với quy trình,nội dung, phương pháp, yêu cầu thẩm định dự án đầu tư xây dựng được nêu ra trong
cơ sở lý thuyết và tình trạng chung các công ty tư vấn trên địa bàn
III TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Trong điều kiện thị trường xây dựng ngày càng biến động và khó khăn, côngtác thẩm định dự án đầu tư xây dựng ngày càng được chú trọng hơn và khôngngừng đổi mới và hoàn thiện nhằm đáp ứng nhu cầu đặt ra trong điều kiện mới.Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng là một yêu cầu cần thiết đặt
ra đối với các công ty tư vấn xây dựng nhằm đảm bảo yêu cầu, chất lượng thẩmđịnh từ đó nâng cao doanh thu, mở rộng địa bàn hoạt động cho các công ty
Đã có nhiều bài viết, chuyên đề, luận văn, luận án đề cập đến vấn đề "Côngtác thẩm định dự án đầu tư xây dựng" Tuy nhiên chưa có các bài viết nói đến côngtác thẩm định dự án đầu tư xây dựng cho một công ty tư vấn xây dựng cụ thể Đa sốcác bài viết đề cập đến công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng của các cơ quan
có thẩm quyền của một tỉnh
Ví dụ như trong đề tài "Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư xâydựng công trình giao thông đường bộ tỉnh Phú Thọ" của tác giả Dương Thị MinhHạnh (Kế hoạch 47B), tác giả đã nghiên cứu thực trạng về công tác thẩm định dự ánđầu tư xây dựng công trình giao thông đường bộ tỉnh Phú Thọ trên các bộ phận, đólà: Quy trình, nội dung, phương pháp và công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng.Trong đề tài, tác giả nghiên cứu, phân tích và đánh giá từng bộ phận Việc đánh giádựa trên so sánh thực trạng với cơ sở lý thuyết đưa ra Ưu điểm của đề tài là dễ theodõi, đánh giá Tuy nhiên trong đề tài lại có một số phần tác giả chưa tập trung đi sâukhai thác như là phần về phương pháp thẩm định và phần giải pháp của tác giả cònchung chung, chưa chỉ ra được rõ những hạn chế và những biện pháp cụ thể để khắcphục
Trong đề tài "Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng tại Sở
Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Kiên Giang" của tác giả Phạm Duy Khánh (trường Đại họcXây dựng Hà Nội), tác giả cũng đã nghiên cứu công tác thẩm định dự án đầu tư xâydựng trên bốn bộ phận như đề tài trên Tác giả đã có những giới thiệu khá chi tiết vềphương pháp thẩm định, tuy nhiên cơ sở lý thuyết về quy trình thẩm định và nộidung thẩm định lại chưa được làm rõ, còn sơ sài Đề tài chưa có nhiều sự so sánh,
Trang 9đánh giá, chưa phân tích đi sâu làm rõ những hạn chế, nguyên nhân của công tácthẩm định dự án đầu tư xây dựng của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Kiên Giang, cácgiải pháp mà tác giả đưa ra còn chưa cụ thể.
Tuy công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng của một công ty tư vấn xâydựng khác với công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng của cơ quan có thẩmquyền, nhưng những khung lý thuyết cũng như là những quy trình chuẩn mực lại cónhững nét tương đồng Các đề tài đã đề cập đến những tất cả các mặt của công tácthẩm định dự án đầu tư xây dựng bao gồm: Quy trình, nội dung, phương pháp vàcông tác thẩm định; đã có những đánh giá về thực trạng và đề xuất được một số giảipháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng Đây sẽ là những tài lạitham khảo bổ ích để các công ty tư vấn xây dựng tham khảo để hoàn thiện công tácthẩm định dự án đầu tư xây dựng
IV KẾT CẤU CHUYÊN ĐỀ
Chương I: Cơ sở lý thuyết về thẩm định dự án đầu tư xây dựng
Chương II: Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng của Công ty cổphần tư vấn kinh tế và kỹ thuật xây dựng Việt Nam – VNECT
Chương III: Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng
Trang 10CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THẨM ĐỊNH
DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
I DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
1 Khái niệm đầu tư xây dựng và dự án đầu tư xây dựng
1.1 Khái niệm đầu tư xây dựng:
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về đầu tư, tuy ở mỗi góc độ khác nhaungười ta có thể đưa ra các quan niệm khác nhau về đầu tư, nhưng một quan niệmhoàn chỉnh về đầu tư phải bao gồm các đặc trưng sau đây:
- Công việc đầu tư phải bỏ vốn ban đầu
- Đầu tư luôn gắn liền với rủi ro, mạo hiểm Do vậy các nhà đầu tư phảinhìn nhận trước những khó khăn để có biện pháp phòng ngừa
- Mục tiêu của đầu tư là hiệu quả Nhưng ở những vị trí khác nhau, người tacũng nhìn nhận vấn đề hiệu quả không giống nhau Với các doanh nghiệp thườngthiên về hiệu quả kinh tế, tối đa hóa lợi nhuận Còn đối với nhà nước lại muốn hiệuquả kinh tế phải gắn liền với lợi ích xã hội Trong nhiều trường hợp lợi ích xã hộiđược đặt lên hàng đầu
Vì vậy, một cách tổng quát ta có thể đưa ra khái niệm về đầu tư như sau:Đầu tư là quá trình bỏ vốn để tạo dựng nên một tài sản nào đó (vật chất, tàichính, nghiên cứu phát triển) và sau đó tổ chức, khai thác, vận hành để sinh lợi hoặcthỏa mãn nhu cầu nào đó của người bỏ vốn trong thời gian nhất định trong tươnglai
Từ khái niệm về đầu tư ta có khái niệm về đầu tư xây dựng: Đầu tư xây dựng
là đầu tư vào các đối tượng, vật chất là các công trình xây dựng
(Nguồn: Giáo trình Kinh tế Xây dựng, trường Đại học sư phạm kỹ thuật Hồ Chí Minh, trang 7)
1.2 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng:
Từ trước đến nay có rất nhiều các nhà khoa học kinh tế cũng như các nhàquản lý đã đưa ra các khái niệm rất khác nhau về dự án Mỗi một quan niệm nhấnmạnh về một số các khía cạnh của một dự án cùng các đặc điểm quan trọng của nótrong từng hoàn cảnh cụ thể
Nếu xem xét về hình thức, dự án là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cáchchi tiết và có hệ thống một dự kiến đầu tư trong tương lai
Nếu xét ở góc độ nội dung, dự án được hiểu là một ý đồ tiến hành một côngviệc cụ thể nào đó nhằm mục tiêu xác định trong khuôn khổ nguồn lực nhất định vàkhoảng thời gian nhất định
Nếu xét ở góc độ kế hoạch, dự án được hiểu là một kế hoạch chi tiết về đầu
tư phát triển, là đơn vị kế hoạch độc lập nhỏ nhất trong hệ thống kế hoạch hóa, làm
cơ sở cho việc ra quyết định về đầu tư phát triển
Nếu từ giác độ quan sát các hoạt động cần thiết cho một dự án thì dự án đượchiểu là hàng loạt các hoạt động cần thiết nhằm xác định mục tiêu, tiến hành cácnghiên cứu khả thi, dự đoán chi phí, hoàn thiện các thủ tục và thiết kế cuối cùng,cũng như việc lắp đặt và hoàn thiện các điều kiện làm việc Một dự án nhất định sẽ
Trang 11bị giới hạn về thời gian, về con người cùng các nguồn lực khác để hoàn thành mụctiêu đã được xác định.
(Nguồn: Giáo trình chương trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội, Trường Đại học kinh tế quốc dân, trang 79)
Kết hợp với khái niệm về đầu tư xây dựng ta có khái niệm về dự án đầu tưxây dựng như sau:
Dự án đầu tư xây dựng là một tập hồ sơ tài liệu mà nội dung của nó đượctrình bày một cách chi tiết việc sử dụng tài nguyên lâu dài để mang lại lợi ích kinh
tế - xã hội Nội dung của dự án đầu tư xây dựng phải được tính toán, phân tích mộtcách chi tiết số liệu về các phương diện pháp lý, thị trường, kỹ thuật, môi trường,quản trị, tài chính và lợi ích kinh tế - xã hội
Nói chung, dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đếnviệc bỏ vốn để xây dựng mới hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mụcđích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụtrong một thời hạn nhất định
(Nguồn: Giáo trình Quản lý dự án trường Đại học xây dựng, trang 9)
1.3 Phân loại dự án đầu tư xây dựng:
Theo Nghị định 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý
dự án đầu tư xây dựng công trình: Các dự án đầu tư xây dựng được phân loại nhưsau:
Theo quy mô và tính chất: Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội xem xét,quyết định về chủ trương đầu tư; Các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm
A, B, C theo quy định tại phụ lục I của Nghị định
Theo nguồn vốn đầu tư:
+ Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước
+ Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư pháttriển của Nhà nước
+ Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước
+ Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiềunguồn vốn
2 Tính chất đặc trưng của dự án đầu tư xây dựng
Phải đảm bảo tuân thủ theo pháp luật của Nhà nước về xây dựng
Do xây dựng đòi hỏi cao về yếu tố thời gian thực hiện do đó dự án đầu tưxây dựng cần phải có các giải pháp để thực hiện cho đúng với thời gian đề ra,tránh lãng phí những nguồn lực khác
Tùy theo quy mô tính chất của dự án mà mức độ nguồn vốn đầu tư cũng nhưyếu tố về công nghệ kỹ thuật đòi hỏi khác nhau song đối với một dự án đầu
tư xây dựng cần phải được phân bổ một cách hiệu quả nguồn vốn và đảmbảo chất lượng kỹ thuật của dự án
Dự án đầu tư xây dựng đòi hỏi rất lớn ở đặc điểm kỹ thuật, đây cũng là mộttính chất đặc trưng của dự án đầu tư xây dựng để có thể phân biệt với các dự ánkhác (như là dự án dịch vụ, thương mại, phát triển ) Các dự án khác thường chỉtập trung vào yếu tố về mặt tài chính (chi phí, lợi nhuận mà dự án đem lại) còn đốivới dự án đầu tư xây dựng thì phải kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố kỹ thuật và tài chính(xem xét từ sử dụng những loại nguyên vật liệu, công nghệ nào để tính ra chi phí và
Trang 12ngược lại cân đối về tài chính để xem xét sử dụng nguyên vật liệu, công nghệ nàocho phù hợp)
Những tính chất đặc trưng của dự án đầu tư xây dựng có ảnh hưởng rất lớnđến công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng:
Thứ nhất, do dự án đầu tư xây dựng phải đảm bảo tuân thủ theo pháp luậtcủa Nhà nước về xây dựng cho nên đòi hỏi công tác thẩm định dự án đầu tư xâydựng cũng phải tuân thủ theo đúng pháp luật, các chuyên viên thẩm định phải amhiểu về luật pháp cũng như là việc áp dụng đúng luật pháp vào từng lĩnh vực cụ thể.Mặt khác, các văn bản pháp luật được nhà nước ban hành cần phải được nắm rõ đặcbiệt là những bổ sung sửa đổi để đảm bảo tính khách quan, chính xác trong công tácthẩm định dự án đầu tư xây dựng
Thứ hai, dự án đầu tư xây dựng đòi hỏi về yếu tố thời gian, công tác thẩmđịnh dự án đầu tư xây dựng cũng vậy Việc thẩm định dự án đầu tư xây dựng phảiđược thực hiện trong một thời gian cụ thể, nếu chậm trễ sẽ khiến cho việc ra quyếtđịnh của chủ đầu tư chịu ảnh hưởng lớn Để đảm bảo về mặt thời gian đòi hỏi phải
có một quy trình thẩm định rõ ràng cụ thể, phải được lên kế hoạch một cách chi tiết
về việc sử dụng các yếu tố nguồn lực, cơ sở vật chất, sự phối hợp tham gia các bên
Thứ ba, dự án đầu tư xây dựng đòi hỏi cao về mặt kỹ thuật, đồng thời kếthợp chặt chẽ giữa yếu tố kỹ thuật và tài chính Đây cũng chính là tính chất ảnhhưởng lớn nhất đến công tác thẩm định dự án Tính chất này đỏi hỏi công tác thẩmđịnh dự án phải có chuyên môn cao về kỹ thuật và tài chính, nội dung thẩm định vàphương pháp thẩm định phải phù hợp, phối hợp chặt chẽ với nhau
3 Chu kỳ của một dự án đầu tư xây dựng
Chu kỳ của một dự án đầu tư xây dựng mang đặc điểm chu kỳ của một dự
án Cụ thể chu kỳ dự án bao gồm các giai đoạn thể hiện trong sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Chu kỳ dự án (Nguồn: Giáo trình chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội)
Một số nét khái quát về các giai đoạn của chu kỳ dự án:
Giai đoạn xác định dự án:
Xác định dự án là quá trình tìm hiểu các cơ hội đầu tư nhiều hứa hẹn, mà các
cơ hội đó được hướng tới để giải quyết được các vấn đề cản trở việc đạt các mụctiêu phát triển mong muốn, hoặc hướng tới việc khai thác một tiềm năng phát triển
Xác định dự ánXây dựng dự ánThẩm định dự ánTriển khai thực hiện dự ánĐánh giá và kết thúc dự án
Trang 13đang có Xác định dự án cần được tiến hành trong khuôn khổ chung về phân tíchlĩnh vực và phân tích không gian Điều này đảm bảo rằng đó là những dự án có khảnăng tốt nhất có thể được thực hiện phù hợp với hoàn cảnh
Giai đoạn xây dựng dự án:
Xây dựng dự án là một giai đoạn trong chu kỳ dự án Mục đích của dự án ởđây được xác đinh rõ ràng hơn và các yếu tố cũng được phân tích một cách chi tiếthơn Trong giai đoạn thiết lập dự án đầu tư xây dựng phải thực hiện những nội dungvề: thể chế - pháp lý, thị trường, kỹ thuật, tổ chức, môi trường, tài chính và kinh tế -
xã hội được phân tích một cách chi tiết Việc thiết lập đòi hỏi năng lực chuyên môn
kỹ thuật, các chuyên viên, kỹ sư có liên quan đến dự án đầu tư xây dựng
Giai đoạn thẩm định dự án:
Ở giai đoạn thẩm định dự án này, tùy theo đối tượng thẩm định dự án mà ta
có phân thành hai loại sau:
- Đối với đối tượng thẩm định dự án là các cơ quan chức năng:
Thẩm định dự án là giai đoạn đánh giá và lựa chọn dự án có khả năng sinhlời cao nhất cho chủ đầu tư, đồng thời trước hết phải xác định được ảnh hưởng của
dự án đến nền kinh tế quốc dân nhằm góp phần đạt được mục tiêu của kế hoạchđịnh hướng vĩ mô Việc thẩm định dự án được tiến hành theo sự phân cấp quản lýcủa nhà nước Kết quả thẩm định dự án có thể là: Chấp nhận dự án hoặc sửa đổi, bổsung dự án hoặc loại bỏ dự án
Nếu dự án được chấp nhận, cơ quan thẩm định sẽ gửi dự án lên cơ quan nhànước có thẩm quyền ra quyết định đầu tư và cấp giấy phép hoạt động
Nếu dự án được phê duyệt thì công việc tiếp theo là vạch ra các kế hoạch tàitrợ
- Đối với đối tượng thẩm định dự án là các cơ quan độc lập (tư nhân: chủ đầu tư thuê các công ty tư vấn xây dựng thẩm định dự án)
Thẩm định là xem xét, kiểm chứng về các yếu tố đảm bảo tính hiệu quả và vềmặt khả thi của dự án Ở giai đoạn này, các vấn đề liên quan đến luật pháp, kỹ thuật,tài chính phải được giải quyết trước khi dự án được chấp thuận để thực hiện
Giai đoạn triển khai thực hiện dự án:
Giai đoạn này chiếm phần lớn thời gian của vòng đời dự án Giai đoạn nàythực hiện hai công việc chính:
+ Thực hiện đầu tư
+ Đưa dự án vào khai thác, kinh doanh
Chất lượng và tiến độ thực hiện đầu tư phụ thuộc rất nhiều vào giai đoạn xâydựng dự án Vì vậy, nâng cao chất lượng xây dựng dự án là tiền đề triển khai thựchiện đầu tư Đến lượt mình, việc thực hiện đầu tư đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng
sẽ là tiền đề khai thác có hiệu quả dự án nhằm đạt được mục tiêu của dự án đề ra
Giai đoạn kiểm soát và đánh giá dự án, kết thúc dự án:
Đánh giá bao gồm việc phân tích các vấn đề nảy sinh trong từng giai đoạncủa chu kỳ dự án, các vấn đề như vượt kinh phí, thi công xây lắp chậm trễ, sự cố kỹthuật, khó khăn về tài chính Từ đó tìm nguyên nhân gây ra các vấn đề trong từnggiai đoạn của chu kỳ dự án và tìm biện pháp khắc phục
Đánh giá cuối cùng được thực hiện khi dự án hoàn thành cũng như trong quátrình hoạt động của nó
Trang 14Việc thanh lý dự án đầu tư có thể phải được tiến hành sau một thời gian dự
án đi vào hoạt động chứ không nhất thiết hết thời hạn mà dự án đã ký kết ban đầu
Như vậy, thẩm định dự án là một giai đoạn quan trọng trong chu kỳ của dự
án, là giai đoạn kết nối giữa việc hình thành nên dự án với giai đoạn dự án được đivào triển khai thực hiện Từ những giai đoạn xác định và xây dựng dự án đã có ảnhhưởng lớn đến giai đoạn thẩm định dự án Tùy theo từng loại dự án, mà công tácthẩm định dự án lại khác nhau Như dự án về dịch vụ, thương mại, phát triển công tác thẩm định dự án lại khác với công tác thẩm định của những dự án về xâydựng Chính từ những giai đoạn xác định và xây dựng dự án là những căn cứ để ápdụng những quy trình, nội dung và phương pháp thẩm định phù hợp trong giai đoạnthẩm định dự án cũng như là áp dụng các căn cứ pháp lý phù hợp cho từng loại dự
án Giai đoạn thẩm định dự án kết nối từ việc hình thành, xây dựng dự án đến dự ánđược triển khai Việc xây dựng một dự án luôn có một số các hạn chế như là nguồnlục đầu tư của các dự án có hạn, chất lượng cung cấp thong tin thấp, những yếu tốbất hợp lý trong quá trình thiết kế dự án có thể do trình độ hoặc tâm lý của ngườilập dự án hạn chế mà khi đưa vào triển khai sẽ làm cho dự án trở nên khó khăn,
có thể dẫn đến việc không đạt được mục tiêu đề ra Như vậy, giai đoạn thẩm định
dự án là rất quan trọng nó giúp cho dự án trở nên khả thi hơn khi đưa vào triển khai,nâng cao chất lượng thiết kế dự án, giúp cho các cơ quan thẩm định có thể lựa chọnđược các dự án đầu tư phù hợp, giúp cho chủ đầu tư có được luận chứng tốt nhất về
dự án đầu tư
II Công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng
1 Khái niệm về thẩm định dự án đầu tư xây dựng
Khái niệm về thẩm định dự án đầu tư xây dựng theo chuyên đề này có sựkhác biệt so với khái niệm thẩm định dự án đầu tư xây dựng thông thường
- Khái niệm thẩm định dự án đầu tư xây dựng thông thường:
Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét một cách khách quan, có cơ
sở khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản của dự án; từ đó ra quyết định đầu tư
và cấp phép đầu tư Đây là một quá trình kiểm tra, đánh giá các nội dung của dự ánmột cách độc lập tách biệt với quá trình soạn thảo dự án Thẩm định dự án tạo ra cơ
sở vững chắc cho hoạt động đầu tư có hiệu quả Các kết luận rút ra từ quá trìnhthẩm định là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước ra quyết định đầu tư
và cấp phép đầu tư
Thẩm định dự án đầu tư là cần thiết bắt nguồn từ vai trò quản lý vĩ mô củanhà nước đối với hoạt động đầu tư Nhà nước với chức năng công quyền của mình
sẽ can thiệp vào quá trình lựa chọn các dự án đầu tư
Tất cả các dự án đầu tư thuộc mọi nguồn vốn, thành phần kinh tế đều phảiđóng góp vào lợi ích chung của đất nước Bởi vậy trước khi ra quyết định đầu tưhay cấp phép đầu tư, các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước cần biết xem dự án
đó có góp phần đạt được mục tiêu của quốc gia hay không, nếu có thì bằng cách nào
và đến mức độ nào Việc xem xét này gọi là thẩm định dự án
- Khái niệm về thẩm định dự án đầu tư theo chuyên đề:
Thẩm định dự án đầu tư xây dựng là việc thẩm tra lại tính hợp lý, thuyếtphục của các hồ sơ dự án
Sở dĩ ở đây có sự khác biệt giữa khái niệm theo chuyên đề với khái niệmthông thường là do:
Trang 15+ Đối tượng thẩm định: dự án theo chuyên đề không phải là các dự án xây dựngphát triển kinh tế xã hội, do đó không phải do các cơ quan thẩm định có thẩm quyềnthẩm định mà các dự án ở đây là các dự án xây dựng tư nhân được chủ đầu tư thuêcác công ty tư vấn xây dựng kiểm tra lại tính hợp lý, thuyết phục của các hồ sơ dự
án để trên cơ sở đó chủ đầu tư ra quyết định đầu tư
+ Tính chất công việc thẩm định dự án: Do đối tượng thẩm định dự án ở đây là khácnhau dẫn đến tính chất công việc thẩm định dự án cũng khác nhau Các công ty tưvấn xây dựng thường là không có thẩm quyền, không có tính chất quyết định pháp
lý là chấp nhận hay bác bỏ dự án mà các công ty tư vấn xây dựng chỉ thực hiệnthẩm tra lại tính chính xác, hợp lý, thuyết phục của các hồ sơ dự án
2 Mục đích của thẩm định dự án đầu tư xây dựng
- Đối với Chủ đầu tư: nhằm xem xét xem dự án đầu tư xây dựng đã hoànthiện chưa, có đảm bảo khả năng sử dụng vốn một cách hiệu quả, đảm bảo về cácyếu tố kỹ thuật đặt ra hay không Và quan trọng nhất đó là qua thẩm định dự án đầu
tư xây dựng chủ đầu tư có thể xác định được chính xác lợi ích nhận được từ dự án
và từ đó ra quyết định đầu tư
- Đối với nhà thầu, hoặc các đơn vị lập dự án: thẩm định dự án đầu tư xâydựng giúp cho nhà thầu hay các đơn vị lập dự án đầu tư xây dựng xem xét lại về dự
án từ đó có các giải pháp hoàn thiện để dự án được đi vào triển khai một cách tốtnhất
3 Vai trò của thẩm định dự án đầu tư xây dựng trong quản lý dự án đầu tư
Hoạt động thẩm định dự án đầu tư xây dựng đóng vai trò rất quan trọngkhông chỉ với các nhà đầu tư là đối tượng hưởng lợi trực tiếp từ dự án mà còn đốivới các định chế tài chính (như ngân hàng, tổ chức tín dụng)
- Đối với nhà đầu tư:
+ Xác định được khả năng sinh lời cũng như mức độ rủi ro của dự án
+ Làm căn cứ để chỉnh sửa hoặc bổ sung cho dự án được hoàn thiện hơn
- Đối với các đối tác đầu tư:
+ Làm căn cứ ra quyết định góp vốn thực hiện dự án
- Đối với các định chế tài chính:
+ Xác định khả năng sinh lời, khả năng thanh toán nợ, tuổi thọ của dự án để quyếtđịnh phương thức cấp vốn, kỳ hạn trả nợ đối với khách hàng
III Quy trình, nội dung và phương pháp thẩm định dự án đầu tư xây dựng
1 Quy trình thẩm định dự án đầu tư xây dựng
Sau đây là sơ đồ quy trình thẩm định tiến hành đối với dự án đầu tư xây dựng đốivới cơ quan thẩm định là cơ quan có thẩm quyền và tổ chức tư nhân
Trang 16Sơ đồ 1.2: Quy trình thẩm định Sơ đồ 1.3: Quy trình thẩm định đối với tổ chức thẩm định là cơ quan NN đối với tổ chức thẩm định là tư nhân(Nguồn: Giáo trình thẩm định dự án đầu tư xây dựng - Lưu Tường Văn - TrườngĐại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh)
Qua hai sơ đồ về quy trình thẩm định dự án đầu tư xây dựng đối với tổ chứcthẩm định là cơ quan có thẩm quyền và tổ chức tư nhân, ta thấy ở đây trong hai quytrình có một số các bước tương đồng Vì đây là các bước bắt buộc phải có trong bất
kỳ quy trình thẩm định dự án Song trong từng bước của quy trình thẩm định lại cónhững sự khác biệt giữa hai quy trình
Ta có bảng so sánh quy trình thẩm định dự án đầu tư xây dựng đối với tổchức thẩm định là cơ quan có thẩm quyền và tổ chức tư nhân:
Tiếp nhận hồ sơ dự án
Lập tổ thẩm định
Tổ chức thẩm định
Thẩm định nội dung của dự ánBáo cáo thẩm định
Trang 17Các bước Cơ quan thẩm định có thẩm
Tiếp nhận hồ sơ
dự án Các tài liệu cơ bản bao gồm:Hồ sơ đơn vị, hồ sơ dự án và
các tài liệu liên quan
Hồ sơ tài liệu gồm hồ sơ dự án(phần thuyết minh và phầnthiết kế cơ sở) và các tài liệuliên quan (giấy phép, địnhmức, báo giá )
Lập hội đồng
thẩm định/ Lập tổ
thẩm định
Việc lập hội đồng thẩm địnhtùy theo quy mô của từng dựán:
- Hội đồng thẩm định nhànước
- Hội đồng thẩm định cấp tỉnh
Phân công các chuyên viên có
đủ năng lực, trình độ, kinhnghiệm tham gia vào tổ thẩmđịnh
Tổ chức thẩm
định Ở bước này đối với cơ quanthẩm định có thẩm quyền sau
khi lập hội đồng thẩm địnhtiến hành thẩm định bao gồm:
đủ mọi điều kiện để tiến hànhthẩm định nội dung dự ánThẩm định nội
dung dự án
Tiến hành xem xét, kiểmchứng về các yếu tố đảm bảotính hiệu quả, khả thi của dựa
án Tiến hành thẩm định nộidung dự án mà chủ đầu tư yêucầu thẩm định
Xây dựng báo cáo thẩm định:kết quả thẩm định, những biệnpháp sửa đổi bổ sung hoànthiện dự án gửi cho bên chủđầu tư Nếu chủ đầu tư chấpnhận báo cáo thẩm định thì quytrình thẩm định kết thúc Nếuchủ đầu tư thấy bản báo cáothẩm định chưa đạt yêu cầu vềchất lượng sẽ trả lại cho tổchức tư nhân thẩm định xemxét, hoàn thiện lại
Như vậy, tuy các bước trong hai quy trình thẩm định có những nét tươngđồng nhưng lại có sự khác nhau ở các công tác nghiệp vụ, đặc biệt là trong công tác
tổ chức thẩm định Đối với cơ quan có thẩm quyền thẩm định các bước đã được quyđịnh trong luật do đó các chủ đầu tư phải tuân theo, còn đối với tổ chức thẩm định
là tư nhân thì họ lại phụ thuộc vào chủ đầu tư, cho nên trong suốt quy trình thẩm
Trang 18định luôn phải có sự phối hợp qua lại chặt chẽ hơn giữa hai bên để công tác thẩmđịnh đạt hiệu quả, chất lượng cao nhất.
2 Nội dung thẩm định
Đối với cơ quan thẩm định nhà nước thì về cơ bản, nội dung thẩm định một
dự án đầu tư xây dựng được xem xét trên năm nhóm yếu tố, đó là:
+ Thẩm định các yếu tố về pháp lý: Xem xét tính hợp pháp (Sự tuân thủ) của dự ántheo các quy định của pháp luật Sự phù hợp của các nội dung dự án với nhữngchính sách quy định hiện hành (Luật, Nghị định, Quyết định, Thông tư, Hướngdẫn); Sự phù hợp với quy hoạch, định hướng phát triển của ngành, vùng lãnh thổ+ Thẩm định các yếu tố về Công nghệ - kỹ thuật: Xem xét, đánh giá trình độ, sựhợp lý, tính thích hợp và hiệu quả của các giải pháp công nghệ - kỹ thuật được lựachọn, áp dụng cho dự án
+ Thẩm định các yếu tố kinh tế, tài chính của dự án: Xem xét tính khả thi, sự hợp lýcủa các yếu tố kinh tế, tài chính được trình bày trong dự án
+ Thẩm định các điều kiện tổ chức, thực hiện, quản lý vận hành dự án: Xem xét,đánh giá sự hợp lý, tính chất ổn định, bền vững của các giải pháp và yếu tố liênquan đến tổ chức thực hiện, vận hành dự án, đảm bảo các mục tiêu của dự án
+ Thẩm định hiệu quả đầu tư: Đưa ra kết luận dự án nếu thực hiện có hiệu quảkhông và hiệu quả ở mức nào trên cơ sở xem xét, đánh giá hiệu quả dự án qua cácmặt: tài chính, kinh tế, xã hội và đánh giá hiệu quả tổng hợp của dự án làm căn cứ
để ra quyết định đầu tư Thẩm định hiệu quả dự án thường được xác định dựa trênnhững tính toán trong Hồ sơ dự án theo các chỉ tiêu cả định tính và định lượng
Đối với chủ thể thẩm định nhà nước thì bắt buộc phải thẩm định đầy đủ cácyếu tố trên để có cái nhìn toàn diện chính xác về dự án từ đó ra quyết định phêduyệt dự án
Còn đối với chủ thể thẩm định là tư nhân (các công ty tư vấn xây dựng),điểm khác biệt ở đây đó là các công ty tư vấn không bắt buộc phải thẩm định tất cảcác yếu tố này mà chủ đầu tư yêu cầu công ty tư vấn thẩm định theo khía cạnh nàothì công ty tư vấn sẽ thực hiện theo khía cạnh đó Thông thường, nội dung thẩmđịnh mà chủ đầu tư thường gồm các khía cạnh sau:
+ Thẩm định khía cạnh pháp lý của dự án
+ Thẩm định khía cạnh công nghệ - kỹ thuật của dự án
+ Thẩm định khía cạnh tài chính của dự án
2.1 Thẩm định theo khía cạnh pháp lý của dự án
Cơ sở pháp lý
Các nghị định, thông tư, luật xây dựng, luật đầu tư
Cơ sở hồ sơ tài liệu
Việc thẩm định các dự án đầu tư xây dựng sẽ căn cứ vào các tài liệu cơ bản
đó là: Hồ sơ đơn vị, hồ sơ dự án và các tài liệu liên quan Cụ thể là:
Hồ sơ đơn vị bao gồm các hồ sơ cần thiết về: Điều kiện, năng lực của chủđầu tư; Điều kiện, năng lực của chủ nhiệm lập dự án; Điều kiện, năng lực của tư vấnlập dự án; Điều kiện, năng lực của chủ nhiệm khảo sát xây dựng; Điều kiện, nănglực của tổ chức tư vấn khảo sát xây dựng; Điều kiện năng lực của chủ nhiệm thiết
kế xây dựng công trình; Điều kiện, năng lực của chủ trì thiết kế xây dựng côngtrình; Điều kiện, năng lực của tổ chức tư vấn thiết kế xây dựng công trình
Trang 19Hồ sơ dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm: Chủ trương đầu tư; Tờtrình thẩm định dự án thể hiện các nội dung theo biểu mẫu (Biểu mẫu tờ trình thẩmđịnh dự án đầu tư xây dựng công trình); Hồ sơ dự án bao gồm phần thuyết minh vàthiết kế cơ sở; Các văn bản pháp lý có liên quan
Đối với một công ty tư vấn thì hồ sơ tài liệu chính là hồ sơ dự án bao gồm phầnthiết kế cơ sở
Các quy phạm, quy chuẩn, tiêu chuẩn và các định mức trong từng lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật
+ Các quy phạm như: quy phạm về xây dựng, sử dụng đất đai trong các khu đô thị,khu công nghiệp, quy phạm về tĩnh không trong công trình cầu cống
+ Các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia bắt buộc áp dụng trong các hoạt động xây dụng,bao gồm: khảo sát và thí nghiệm chuyên ngành xây dựng; quy hoạch xây dựng vàquy hoạch đô thị; lập và thẩm định dự án đầu tư xây dựng; thiết kế, thi công vànghiệm thu công trình xây dựng
+ Các tiêu chuẩn như: tiêu chuẩn cấp công trình, các tiêu chuẩn thiết kế cụ thể đốivới từng loại công trình và từng bộ môn thiết kế, tiêu chuẩn về môi trường, tiêuchuẩn công nghệ, kỹ thuật riêng của từng ngành
+ Các định mức trong từng lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật như: Định mức dự toán xâydựng công trình, Định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng côngtrình, Định mức về lập quy hoạch xây dựng
Các quy ước, thông lệ quốc tế
+ Các điều ước quốc tế chung đã ký kết giữa các tổ chức quốc tế hay nhà nước vớinhà nước (về hàng hải, hàng không, đường sông )
+ Quy định của các tổ chức tài trợ vốn (WB, IMF, ADB, )
+ Các quỹ tín dụng xuất khẩu của các nước
+ Các quy định về thương mại, tính dụng, bảo lãnh, bảo hiểm
2.2.Thẩm định khía cạnh công nghệ - kỹ thuật của dự án
Thẩm định khía cạnh kỹ thuật là tiền đề cho việc tiến hành phân tích về mặttài chính, kinh tế xã hội của dự án Đặc biệt các dự án đầu tư xây dựng đều đòi hỏinhững giải pháp kỹ thuật về xây dựng công trình và kiến trúc rất phức tạp, vì thế khithẩm định khía cạnh kỹ thuật của dự án cần tiến hành một cách rất chi tiết và khoahọc Các nội dung kỹ thuật của dự án đầu tư xây dựng được tiến hành thẩm định là:
Phân tích địa điểm xây dựng
Đây là một vấn đề hết sức quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc thiết kế, thicông xây dựng công trình Cần phải xem xét:
- Công tác giải phóng mặt bằng có thuận lợi và khó khăn gì
- Điều kiện tự nhiên: địa hình, khí hậu, môi trường ảnh hưởng đến quá trình thicông như thế nào
Quy mô giải pháp xây dựng, kiến trúc: Quy mô xây dựng, giải pháp kết cấu kiếntrúc các hạng mục công trình có đảm bảo các định mức kinh tế kỹ thuật của dự án
đã đề ra hay không
Xem xét, đánh giá tổng dự toán và dự toán của từng hạng mục công trình, tránhbỏ sót hạng mục cần đầu tư mà chưa được dự tính, các hạng mục không cần thiếthoặc chưa cần thiết phải đầu tư
Tiến độ thi công có phù hợp với kế hoạch và thực tế hay không
Trang 20 Công nghệ trang bị cho dự án: Xem xét công nghệ được lựa chọn cho dự án làcông nghệ đã được qua kiểm chứng hay chưa, mức độ hiện đại, đồng bộ của côngnghệ, máy móc.
Đánh giá công tác phòng cháy chữa cháy (PCCC)
2.3 Thẩm định khía cạnh tài chính của dự án
Thẩm định tài chính dự án thông thường bao gồm:
Xác định lại cơ cấu vốn đầu tư cho dự án
Đánh giá độ an toàn tài chính của dự án (thông qua các chỉ tiêu như tỉ lệ vốn tựcó/ vốn vay, vốn tự có/ vốn đầu tư, tỉ lệ thanh toán tức thời )
Rà soát lại dự kiến thu chi và lợi nhuận của từng năm và cả đời dự án Từ đóđánh giá lại một số chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án (như NPV, BCR, IRR, )
Phân tích độ nhạy tài chính của dự án trước những thay đổi bất lợi của các biếnsố
Kết luận về tính khả thi tài chính của dự án
Đối với tổ chức thẩm định là tư nhân, thẩm định khía cạnh tài chính của dự
án cũng bao gồm những nội dung này Đây là những nội dung quan trọng, nó giúpcho chủ đầu tư có những căn cứ chính xác nhất, đảm bảo chi phí phù hợp, xác địnhđược có nên đầu tư vào dự án hay không
Đối với chủ thể thẩm định là Nhà nước hay tư nhân, thì các yếu tố trên đượcxếp vào hai nội dung thẩm định quan trọng đó là: phần thuyết minh dự án và phầnthiết kế cơ sở của dự án Tức là hai hồ sơ quan trọng được chủ đầu tư cung cấp đểthẩm định là phần thuyết minh dự án và phần thiết kế cơ sở của dự án và từ đó cơquan/ tổ chức thẩm định tiến hành thẩm định theo các khía cạnh như đã nói ở trên.Trong đó:
- Phần thuyết minh dự án phải thể hiện được:
+ Sự cần thiết và mục tiêu đầu tư; đánh giá nhu cầu thị trường, tiêu thụ sản phẩm đốivới dự án sản xuất; kinh doanh hình thức đầu tư xây dựng công trình; địa điểm xâydựng, nhu cầu sử dụng đất; điều kiện cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu và các yếu tốđầu vào khác
+ Mô tả về quy mô và diện tích xây dựng công trình, các hạng mục công trình bao
gồm công trình chính, công trình phụ và các công trình khác; phân tích lựa chọnphương án kỹ thuật, công nghệ và công suất
+ Các giải pháp thực hiện bao gồm:
a) Phương án giải phóng mặt bằng, tái định cư và phương án hỗ trợ xây dựng
hạ tầng kỹ thuật nếu có;
b) Các phương án thiết kế kiến trúc đối với công trình trong đô thị và công trình
có yêu cầu kiến trúc;
c) Phương án khai thác dự án và sử dụng lao động
d) Phân đoạn thực hiện, tiến độ thực hiện và hình thức quản lý dự án
+ Đánh giá tác động môi trường, các giải pháp phòng, chống cháy, nổ và các yêu cầu
về an ninh, quốc phòng
+ Tổng mức đầu tư của dự án; khả năng thu xếp vốn, nguồn vốn và khả năng cấpvốn theo tiến độ; phương án hoàn trả vốn đối với dự án có yêu cầu thu hồi vốn; cácchỉ tiêu tài chính và phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội của dự án
- Nội dung thiết kế cơ sở của dự án:
Trang 21+ Nội dung thiết kế cơ sở bao gồm phần thuyết minh và phần bản vẽ, bảo đảm thể
hiện được các phương án thiết kế, là căn cứ để xác định tổng mức đầu tư và triểnkhai các bước thiết kế tiếp theo
+ Phần thuyết minh thiết kế cơ sở bao gồm các nội dung:
a) Đặc điểm tổng mặt bằng; phương án tuyến công trình đối với công trình xâydựng theo tuyến; phương án kiến trúc đối với công trình có yêu cầu kiến trúc; phương
án và sơ đồ công nghệ đối với công trình có yêu cầu công nghệ;
b) Kết cấu chịu lực chính của công trình; phòng chống cháy, nổ; bảo vệ môi trường; hệ thống kỹ thuật và hệ thống hạ tầng kỹ thuật công trình, sự kết nối với các công trình hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào;
c) Mô tả đặc điểm tải trọng và các tác động đối với công trình;
d) Danh mục các quy chuẩn, tiêu chuẩn được áp dụng
+ Phần bản vẽ thiết kế cơ sở được thể hiện với các kích thước chủ yếu, bao gồm:
a) Bản vẽ tổng mặt bằng, phương án tuyến công trình đối với công trình xây dựng theo tuyến;
b) Bản vẽ thể hiện phương án kiến trúc đối với công trình có yêu cầu kiến trúc;c) Sơ đồ công nghệ đối với công trình có yêu cầu công nghệ;
d) Bản vẽ thể hiện kết cấu chịu lực chính của công trình; bản vẽ hệ thống kỹ thuật và hệ thống hạ tầng kỹ thuật công trình."
3 Phương pháp thẩm định
3.1 Phương pháp chung
Phương pháp chung để thẩm định dự án đó là quá trình so sánh, đối chiếu nộidung dự án với các chuẩn mực (tiêu chuẩn, định mức) đã được quy định bởi Phápluật (hoặc thông lệ Quốc tế) Phương pháp này đòi hỏi công tác thẩm định dự ánphải bám sát các căn cứ thẩm định (Luật, Nghị định, Quyết định, Văn bản hướngdẫn thi hành luật) Vì vậy, tính thống nhất, chuẩn mực của chính những căn cứ thẩmđịnh này cùng với mức độ chính xác, đáng tin cậy của các thông tin trong dự án sẽmang lại hiệu quả của phương pháp chung trong thẩm định dự án đầu tư
3.2 Phương pháp cụ thể
Có thể thống kê được 4 phương pháp thẩm định dự án đầu tư xây dựng được
áp dụng hiện nay đó là: Phương pháp so sánh chỉ tiêu, phương pháp thẩm định theotrình tự, phương pháp thẩm định dựa trên cơ sở của kết quả dự báo, phương phápthẩm định có xem xét đến các yếu tố rủi ro
Phương pháp so sánh chỉ tiêu:
Trên thực tế, đây được xem là phương pháp đơn giản, phổ biến và được dùngnhiều nhất Các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chủ yếu của dự án được so sánh với cácchỉ tiêu đã được định sẵn Các chỉ tiêu này thường là của các dự án đã và đang hoạtđộng Đó có thể là các chỉ tiêu về: tiêu chuẩn thiết kế xây dựng, tiêu chuẩn cấp côngtrình, định mức kinh tế - kỹ thuật, tiêu chuẩn công nghệ Áp dụng phương phápnày cho phép đánh giá tính hợp lý và chính xác về các chỉ tiêu của dự án Từ đó cócác kết luận đúng đắn, tin cậy đối với dự án Tuy nhiên các chỉ tiêu được dùng để sosánh phải được vận dụng một cách phù hợp với từng điều kiện và đặc điểm cụ thểcủa dự án, tránh sử dụng một cách máy móc, cứng nhắc dẫn đến những sai lầm,thiếu sót khi đánh giá dự án
Phương pháp thẩm định theo trình tự:
Trang 22Thẩm định một dự án đi theo một trình tự cụ thể, từ tổng quát đến chi tiết.Đối với các dự án đầu tư xây dựng thường thẩm định từ khía cạnh kỹ thuật rồi thẩmđịnh khía cạnh tài chính Vì khía cạnh kỹ thuật trong xây dựng đòi hỏi cao hơn vàảnh hưởng lớn đến khía cạnh tài chính.
Sau đây là một ví dụ về phương pháp thẩm định theo trình tự được thể hiện qua sơđồ:
Sơ đồ 1.4: Phương pháp thẩm định theo trình tự(Nguồn: Giáo trình thẩm định dự án đầu tư xây dựng - Lưu Tường Văn)
Phương pháp thẩm định dựa trên cơ sở của kết quả dự báo:
Thông qua việc điều tra, thống kê, phân tích và sử dụng các số liệu dự báo vềcác yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến tính hiệu quả và khả thi của dự án, phươngpháp này cho phép công tác thẩm định dự án đạt được mức độ chuẩn xác cao hơn vềnhững kết quả được tính toán trong dự án
Phương pháp thẩm định có xem xét đến những yếu tố rủi ro: Dự án đầu tư xâydựng được hình thành và thực hiện trong một khoảng thời gian thường khá dài,trong khi các phương án lại được thiết kế trên cơ sở các dữ liệu giả định trong tươnglai Vì vậy việc triển khai thực hiện dự án sau này có thể phát sinh nhiều rủi ro khólường trước được Điều đó đặt ra trong quá trình phân tích, đánh giá dự án phải xemxét đến các yếu tố rủi ro có ảnh hưởng đến hiệu quả dự án, xác định mức độ biếnđộng của các yếu tố này trên cở sở đánh giá lại dự án Trong trường hợp rủi ro phátsinh mà dự án vẫn giữ được mức hiệu quả theo yêu cầu thì điều đó chứng tỏ dự án
có độ an toàn cao Trong trường hợp ngược lại, cần thiết đề ra các giải pháp phòng
Trang 23ngừa rủi ro hay hạn chế thấp nhất các tác động của những yếu tố rủi ro này hoặcphân tán rủi ro một cách hợp lý nhất đối với dự án.
Bảng 1.1: Phương pháp thẩm định có xem xét đến những yếu tố rủi ro
Chậm tiến độ thi công - Thẩm định kỹ phương án tổ chức thi công được
thuyết minh trong dự án
- Đề xuất các biện pháp về đấu thầu, chọn thầu, bảolãnh hợp đồng
Vượt tổng mức đầu tư - Thẩm định kỹ hiệu quả tài chính
- Đề xuất việc kiểm tra hợp đồng một cách chặt chẽCung cấp các yếu tố
- Đề xuất kiểm tra các cam kết bảo đảm nguồn vốngóp, bên cho vay hoặc tài trợ cho dự án
Rủi ro trong quản lý
điều hành dự án
- Thẩm định kỹ năng quản lý của dự án
- Thẩm định kỹ các biện pháp tổ chức thi công
- Đề xuất các hợp đồng cung cấp dài hạn, đưa ra cácnguyên tắc về giá cho dự án
Rủi ro bất khả kháng Đề xuất biện pháp: mua bảo hiểm đầu tư hoặc bảo
hiểm xây dựng(Nguồn: Giáo trình thẩm định dự án đầu tư xây dựng - Lưu Tường Văn)
Các phương pháp trên không loại trừ lẫn nhau mà còn phối hợp, bổ sung chonhau giúp cho phương pháp thẩm định trở nên hoàn thiện hơn Ví dụ như khi ta ápdụng phương pháp thẩm định theo trình tự thì trong bước thẩm định về kỹ thuật, tàichính ta có thể sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu các chỉ tiêu
Phương pháp so sánh đối chiếu các chỉ tiêu được áp dụng khi ta có các chỉtiêu đã được định sẵn Các chỉ tiêu này có thể là được ban hành trong các văn bảnpháp luật, cũng có thể là áp dụng từ các dự án đã và đang hoạt động Việc so sánhđối chiếu các chỉ tiêu thường áp dụng khi trong dự án có nhiều giả định chủ quancủa người lập dự án
Phương pháp thẩm định theo trình tự thường được áp dụng đối với các cơquan thẩm định nhà nước khi mà các dự án đòi hỏi phải được thẩm định tất cả cáckhía cạnh Đặc biệt là tùy theo mục tiêu của dự án mà có các trình tự thẩm địnhkhác nhau Ví dụ như nếu là dự án xây dựng công cộng sử dụng ngân sách nhà nướcthì cần phải thẩm định yếu tố về tài chính, kinh tế, xã hội trước rồi mới thẩm địnhđến yếu tố kỹ thuật Tuy nhiên, phương pháp thẩm định theo trình tự cũng được ápdụng bởi các tổ chức thẩm định tư nhân Điều này là phụ thuộc vào yêu cầu của chủđầu tư Khi chủ đầu tư giao cho tổ chức tư nhân thẩm định nhiều khía cạnh và cóđưa ra rõ dự án đòi hỏi yêu cầu cao hơn về khía cạnh nào đó thì tổ chức thẩm định
tư nhân phải thẩm định theo trình tự mà chủ đầu tư yêu cầu
Đối với phương pháp thẩm định dựa trên cơ sở của kết quả dự báo vàphương pháp thẩm định có xem xét đến những yếu tố rủi ro thì thường được ápdụng đối với những dự án có thời gian hoạt động là dài hạn Các kết quả dự báo có
Trang 24thể được thu thập từ các phân tích dự báo của nhà nước đưa ra, hoặc nếu không cóthì chính các chuyên gia thẩm định phải kiểm tra lại những bước phân tích dự báocủa người lập dự án để kiểm tra tính khách quan, chính xác và hiệu quả của nhữnggiả định mà người lập dự án đưa ra.
Tóm lại, các phương pháp thẩm định cần phải được sử dụng một cách phùhợp, tùy thuộc vào tính chất của dự án, cũng như là những yêu cầu đặt ra của chủđầu tư đối với công tác thẩm định dự án để có được kết quả thẩm định chính xác,phù hợp, khách quan Đảm bảo dự án đi vào hoạt động một cách khả thi và đạt hiệuquả cao nhất
Trang 25CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT
XÂY DỰNG VIỆT NAM - VNECT
I Giới thiệu khái quát về Công ty cổ phần tư vấn kinh tế và kỹ thuật xây dựng Việt Nam – VNECT
1 Giới thiệu khái quát về công ty
Công ty cổ phần tư vấn kinh tế và kỹ thuật xây dựng Việt Nam - VNECTtiền thân là xưởng thiết kế 3, được thành lập từ năm 1999, là đơn vị trực thuộc trungtâm khoa học và công nghệ kiến trúc Hiện nay là đợn vị hạch toán độc lập có đăng
ký kinh doanh số 0103006461 do Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp ngày14/1/2005
Địa chỉ trụ sở chính: P6-C3 Thủ lệ 1 (Số mới 15/118 Phố Đào Tấn), PhườngCống Vị, Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Các ngành nghề kinh doanh chính của công ty:
- Tư vấn khảo sát thiết kế, lập dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật
- Tư vấn lập hồ sơ mới thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu
- Tư vấn, thẩm định dự án đầu tư xây dựng (thẩm tra thiết kế bản vẽ thi công và dựtoán)
- Tư vấn giám sát thi công
- Thí nghiệm nén tĩnh, kiểm tra công nghệ - chất lượng công trình
- Tư vấn quản lý dự án
- Thi công xây lắp
- Thi công chống mối
2 Giới thiệu về chức năng thẩm định dự án đầu tư xây dựng của công ty
Chức năng thẩm định dự án đầu tư xây dựng là một trong số các chức năngquan trọng của công ty Trong những năm hoạt động kinh doanh vừa qua, công ty
đã đảm nhận rất nhiều hợp đồng về thẩm định dự án đầu tư xây dựng Từ khi công
ty được thành lập cho đến nay công ty đã xây dựng được nhiều mối quan hệ với cácđối tác, đặc biệt là trong lĩnh vực thẩm định dự án, chính vì thế mà số lượng hợpđồng ở lĩnh vực này đem về cho công ty luôn nằm trong nhóm cao Tuy nhiên, mặc
dù ký kết được nhiều hợp đồng về chức năng này song tỉ suất lợi nhuận đem về lạichưa cao, do đó cần có các giải pháp hoàn thiện hơn về chức năng thẩm định dự ánđầu tư xây dựng trong các giai đoạn phát triển tới của công ty Mặt khác, trong thời
kỳ mà hoạt động xây dựng còn đang khó khăn và chưa có những biến chuyển tíchcực hiện nay, công ty luôn cố gắng hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư xâydựng của mình để đáp ứng nhu cầu về thẩm định trên thị trường
Chức năng thẩm định dự án đầu tư xây dựng mà công ty đảm nhận khác vớithẩm định dự án đầu tư xây dựng của các cơ quan nhà nước Đối với cơ quan thẩmđịnh là nhà nước thường là thẩm định các dự án xây dựng phát triển kinh tế xã hội,cần thẩm định một cách toàn diện đầy đủ, xác định tính khả thi của dự án để phêduyệt đầu tư, đảm bảo dự án đem lại ích lợi tốt nhất cho cả chủ đầu tư và cho xãhội Còn chức năng thẩm định dự án đầu tư xây dựng ở đây mà công ty đảm nhận
Trang 26lại không mang tính chất quyết định phê duyệt đầu tư dự án Mà đơn thuần, chủ đầu
tư giao cho công ty thẩm định một số các khía cạnh của dự án, kiểm tra lại tínhchính xác, phù hợp của dự án Từ quá trình thẩm định, công ty xây dựng nên báocáo thẩm định, đây sẽ là căn cứ cho bên chủ đầu tư có được những luận chứng tốtnhất về dự án đầu tư
II Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng của công ty
1 Kết quả thẩm định dự án đầu tư xây dựng giai đoạn 2009-2011
Trong những năm hoạt động vừa qua, từ những lúc công ty mới bắt đầuthành lập cho đến hiện tại, công ty đã luôn cố gắng phát triển và đạt được những kếtquả khả quan về lĩnh vực tư vấn xây dựng Đặc biệt là về mảng thẩm định dự án đầu
tư xây dựng Sau đây là một số kết quả của công tác thẩm định dự án đầu tư xâydựng của công ty trong giai đoạn 2009 - 2011 mà tôi đã thu thập được trong quátrình thực tập tại công ty:
Thứ nhất, phải đề cập đến ở đây đó là số lượng hợp đồng mà công ty đã ký
kết được trong giai đoạn 2009 - 2011, đây là một số lượng hợp đồng rất đáng nểtrong giai đoạn thị trường bấp bênh và số lượng các công ty tư vấn xây dựng trên
Tư vấn khảo sát thiết kế, lập dự án, báo cáo
Tư vấn lập hồ sơ mời thầu và đánh giá hồ
Tư vấn, thẩm định dự án đầu tư xây dựng 220 296 349
Thí nghiệm nén tĩnh, kiểm tra công nghệ -
Bảng 1.2: Kết quả hoạt động của công ty năm 2009, 2010, 2011
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty năm 2009, 2010, 2011)
Qua bảng số liệu trên, ta thấy được số lượng hợp đồng của công ty ký kếtđược qua các năm 2009, 2010 và năm 2011 của tất cả các lĩnh vực kinh doanh củacông ty Trước hết, số lượng hợp đồng của công ty ký kết được là khá lớn, tăng quacác năm: từ tổng số 769 hợp đồng năm 2009 tăng lên 985 hợp đồng năm 2010 vàhơi giảm đi trong năm 2011 còn 889 hợp đồng Do trong năm 2011 lĩnh vực xâydựng gặp nhiều khó khăn dẫn đến số lượng hợp đồng mà công ty ký kết được cóchút giảm Tuy nhiên với số lượng hợp đồng cao như vậy đã là một thành côngtrong công tác thị trường của công ty
Qua bảng số liệu trên ta còn thấy rõ hai lĩnh vực kinh doanh đạt được sốlượng lớn nhất qua các năm của công ty, đó là lĩnh vực thẩm định dự án đầu tư xây
Trang 27dựng và lĩnh vực tư vấn giám sát thi công Đối với lĩnh vực tư vấn giám sát thi côngtrong năm 2009 và năm 2010 đạt số lượng hợp đồng lớn nhất so với các lĩnh vựckinh doanh còn lại, đạt 270 hợp đồng năm 2009 và 305 hợp đồng năm 2010 Songđến năm 2011 lĩnh vực mặc dù vẫn nằm trong nhóm lĩnh vực kinh doanh đạt sốlượng hợp đồng lớn nhất nhưng đã xuống vị trí thứ hai đạt 235 hợp đồng, sau lĩnhvực thẩm định dự án đầu tư xây dựng Đây cũng là điều dễ hiểu khi mà lĩnh vực tưvấn giám sát thi công thường là những hợp đồng lớn về xây dựng mà trong năm
2011 thì lĩnh vực xây dựng lại có sự suy giảm, khó khăn dẫn đến số lượng hợp đồngtrong lĩnh vực tư vấn giám sát cũng bị giảm sút theo
Đối với lĩnh vực thẩm định dự án đầu tư xây dựng, đây luôn là lĩnh vựcmang về số lượng hợp đồng lớn, năm 2009 đạt 220 hợp đồng tăng lên 296 hợp đồngnăm 2010 và tiếp tục tăng lên 349 hợp đồng năm 2011 Đây thực sự là một thànhcông đối với công ty nói chung và đối với lĩnh vực thẩm định dự án đầu tư xâydựng nói riêng Khi mà thị trường xây dựng gặp nhiều khó khăn, lĩnh vực thẩm định
dự án đầu tư xây dựng vẫn đem lại số lượng hợp đồng nhiều hơn trong khi tất cả cáclĩnh vực kinh doanh còn lại của công ty đều có số lượng hợp đồng giảm vào năm
2011 Điều này có thể là do công ty luôn chú trọng hoàn thiện công tác thẩm định,
mở rộng mối quan hệ với các chủ đầu tư trong lĩnh vực này Hoặc cũng có thể là dolĩnh vực thẩm định dự án đầu tư xây dựng này thường đem về những hợp đồng xâydựng nhỏ và trung nên ít chịu ảnh hưởng hơn bởi sự khó khăn của ngành xây dựngnói chung Việc này ta sẽ xem xét ở phần sau khi phân tích về quy mô hợp đồng củatừng lĩnh vực kinh doanh của công ty
Ngoài hai lĩnh vực kinh doanh trên, một số các lĩnh vực cũng đem được về
số lượng hợp đồng tương đối cho công ty, đó là các lĩnh vực tư vấn khảo sát thiết
kế, lập dự án, báo cáo kinh tế- kỹ thuật và lĩnh vực thí nghiệm nén tĩnh, kiểm tracông nghệ - chất lượng công trình Còn các lĩnh vực còn lại như lĩnh vực tư vấn lập
hồ sơ mời thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu, lĩnh vực tư vấn quản lý dự án, thi côngxây lắp và thi công chống mối đem về số lượng hợp đồng ít cho công ty Do công tykhông tập trung phát triển các lĩnh vực này cũng như là trên thị trường những hợpđồng về các lĩnh vực này là ít mà số lượng các công ty tư vấn trên cùng địa bàncũng khá là nhiều, do đó hiểu được khả năng cũng như là mức độ khó khăn trongcác lĩnh vực này mà công ty không chú trọng phát triển các lĩnh vực này Nhưngkhông phải vì thế mà công ty không quan tâm đến các lĩnh vực này, công ty vẫn tiếptục phát triển nhưng công ty phải tập trung dành nguồn lực cho việc phát triển cáclĩnh vực quan trọng hơn, đem về hợp đồng nhiều hơn, làm tăng doanh thu cũng như
là đóng góp cho sự phát triển của công ty
Để thấy rõ hơn về mức độ đóng góp trong số lượng hợp đồng, và khả năngphát triển của từng lĩnh vực qua các năm 2009 - 2011, ta xem xét sơ đồ tỉ lệ hợpđồng ký kết được của công ty qua các năm:
Trang 28Tư vấn khảo sát thiết kế, lập dự
án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật
Tư vấn lập hồ sơ mời thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu
Tư vấn, thẩm định dự án đầu tư xây dựng
Tư vấn giám sát thi công
Thí nghiệm nén tĩnh, kiểm tra công nghệ- chất lượng công trình
Tư vấn quản lý dự án Thi công xây lắp
Thi công chống mối
Sơ đồ 1.5: Cơ cấu tỉ lệ hợp đồng ký kết được của công ty năm 2009, 2010, 2011(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty năm 2009, 2010, 2011)
Qua sơ đồ về cơ cấu tỉ lệ hợp đồng ký kết được của công ty, ta càng thấy rõnét hơn được vị trí quan trọng của hai lĩnh vực thẩm định dự án đầu tư xây dựng và
tư vấn giám sát thi công, hai lĩnh vực này chiếm tỉ lệ trong số lượng hợp đồng đem
về cho công ty là rất lớn Đặc biệt qua đây ta có thể thấy tỉ trọng trong tổng số hợpđồng của lĩnh vực thẩm định dự án tăng qua các năm và dần trở thành lĩnh vực đem
về số lượng hợp đồng lớn nhất cho công ty: từ 29% năm 2009 tăng lên 30% năm
2010 và đạt 39% năm 2011 Còn đối với lĩnh vực tư vấn giám sát thi công tỉ lệ lạigiảm qua các năm: 35% năm 2009 giảm còn 31% năm 2010 và còn 26% năm 2011.Mặc dù tỉ trọng giảm qua các năm song lĩnh vực này cùng với lĩnh vực thẩm định
Trang 29dự án luôn là các lĩnh vực quan trọng của công ty, luôn nằm trong nhóm đem về sốlượng đem về hợp đồng cao nhất.
Như vậy, qua các năm 2009 - 2011, ta có thể thấy được số lượng hợp đồng
mà công ty ký kết được ở lĩnh vực thẩm định dự án đầu tư xây dựng là tăng qua cácnăm, và hơn thế nữa số lượng hợp đồng ký kết được ở lĩnh vực này luôn đóng gópvào số tỉ lệ hợp đồng chung ký kết được của công ty rất lớn, luôn ở vị trí số 1 hoặc
2 Năm 2011, số lượng hợp đồng của lĩnh vực thẩm định dự án đầu tư xây dựng đãvươn lên chiếm vị trí đầu tiên (vượt qua lĩnh vực tư vấn giám sát thi công), như vậylĩnh vực này đang dần khẳng định rõ rệt vị trí quan trọng của mình trong hoạt độngkinh doanh của công ty
Thứ hai, ta sẽ đi xem xét đến tỉ lệ đóng góp doanh của lĩnh vực thẩm định
dự án đầu tư xây dựng vào doanh thu chung của toàn công ty trong giai đoạn 2009 2011:
Trang 30-KSTK, lập DA, báo cáo
kinh tế - kỹ thuật 3.615.520.000 14,69% 3.427.000.000 8,88% 1.592.872.000 7,51%Lập HS mời thầu và đánh
Bảng 1.3: Kết quả doanh thu theo từng lĩnh vực kinh doanh của công ty năm 2009, 2010, 2011
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty năm 2009, 2010, 2011)
Trang 31vào doanh thu chung của công ty ở mức lớn nhất Năm 2009 doanh thu lĩnh vực nàyđạt 11.162.470.000 VNĐ chiếm tỉ lệ 45,35%, gần chiếm một nửa doanh thu chungcủa cả công ty, đây quả thật là một tỉ lệ rất cao Như đã phân tích ở trên, thì ta đãbiết lĩnh vực tư vấn giám sát thi công đem về số lượng hợp đồng cũng là lớn nhất sovới những lĩnh vực còn lại Điều này cho thấy vai trò quan trọng của lĩnh vực nàycũng như là lĩnh vực chính mà công ty muốn phát triển ban đầu trên thị trường.Thời gian này cũng là thời gian mà lĩnh vực xây dựng trên thị trường rất phát triển
và những hợp đồng về tư vấn giám sát là rất nhiều mà đặc điểm của hợp đồng lĩnhvực này cho lợi nhuận rất cao (theo tỉ lệ công trình) Phát triển lĩnh vực này ban đầucho lợi nhuận cao sẽ là tiền đề để doanh nghiệp có thêm nguồn vốn phát triển mởrộng các lĩnh vực khác Cũng giống như đã phân tích ở trên phần số lượng hợpđồng, năm 2011, lĩnh vực tư vấn giám sát thi công có sự giảm mạnh trong doanhthu đóng góp vào tổng doanh thu của công ty do thị trường xây dựng gặp khó khăn.Song doanh thu mà lĩnh vực này đem về vẫn là doanh thu lớn nhất so với các lĩnhvực còn lại
Đối với lĩnh vực thẩm định dự án đầu tư xây dựng, với số lượng hợp đồngluôn nằm trong nhóm nhiều nhất đem về cho công ty, trái ngược ở đây là doanh thu
mà lĩnh vực này đem về cho công ty lại rất ít Năm 2009 đạt 1.422.220.000 VNĐchiếm 5,78% ; năm 2010 đạt 2.756.800.000 VNĐ chiếm 7,15% và năm 2011 đạt2.102.430.000 VNĐ chiếm 9,92% Điều này có thể hiểu được vì giá trị hợp đồngcủa công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng có giá trị thấp hơn so với những lĩnhvực khác Tuy nhiên, ta có thể thấy là tỉ lệ đóng góp vào doanh thu của lĩnh vựcthẩm định dự án đầu tư xây dựng tăng lên qua các năm Đặc biệt ở năm 2011, như
ta đã phân tích ở trên thì thấy được số lượng hợp đồng lĩnh vực thẩm định dự án đầu
tư xây dựng năm 2011 nhiều hơn năm 2010, nhưng ở đây doanh thu của lĩnh vựcnày trong năm 2011 lại ít hơn năm 2010 Điều này đúng với tình trạng thị trườngxây dựng đang gặp khó khăn, khiến cho hầu hết các doanh thu của các lĩnh vực đềugiảm Song công ty cũng nắm bắt được tình trạng thị trường đang gặp khó khăn,nên công ty tập trung vào các dự án nhỏ hơn nên số lượng hợp đồng thì tăng nhưngdoanh thu lại ít đi Đây là một chiến lược phát triển khá là đúng đắn của công tytrong điều kiện thị trường như vậy
Ngoài ra qua bảng trên ta còn thấy được một số lĩnh vực đem về doanh thukhá cao cho công ty, đó là lĩnh vực thí nghiệm nén tĩnh, kiểm tra công nghệ - chấtlượng công trình và lĩnh vực thi công xây dựng Đối với lĩnh vực thi công xây dựngtrong năm 2011 thật sự là có sự giảm sút mạnh (10,64% năm 2010 giảm xuống còn1,41% trong năm 2011) vì đây cũng là lĩnh vực chịu ảnh hưởng lớn nhất bởi sự khókhăn của lĩnh vực xây dựng Các lĩnh vực kinh doanh còn lại đem về số lượngdoanh thu ít và doanh thu đem về cho công ty cũng là ít Điều này cho thấy công tychưa phát triển ở các lĩnh vực kinh doanh này, các hợp đồng kiếm về được còn ít vàcũng chính vì chưa phát triển mà có thể những hợp đồng mà công ty có thể đảmnhận là những hợp đồng nhỏ nên đem về doanh thu ít
Trang 32Ngoài các bảng về tỉ lệ số hợp đồng và tỉ lệ đóng góp vào doanh thu, sau đây
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty năm 2009, 2010, 2011)
Qua bảng trên, ta thấy được rằng quy mô hợp đồng của lĩnh vực thẩm đinh
dự án đầu tư xây dựng chủ yếu là quy mô nhỏ (dưới 10 triệu đồng) và vừa (từ 10triệu đồng đến 50 triệu đồng) Số lượng hợp đồng với quy mô nhỏ luôn chiếm tỉtrọng rất cao năm 2009 đạt 60%, năm 2010 đạt 67,57% và năm 2011 đặt 57,88%.Điều này không chỉ phản ánh về giá trị hợp đồng của lĩnh vực thẩm định dự án làkhông cao, mà còn cho thấy chức năng thẩm định dự án đầu tư xây dựng của công
ty chủ yếu là đảm nhận những hợp đồng với quy mô nhỏ Mặt khác, qua đây ta còn
có thể đánh giá về công ty về một số mặt:
- Quy mô của công ty nói chung và quy mô của lĩnh vực thẩm định dự án đầu tư xâydựng nói riêng còn nhỏ, chưa đảm nhận được nhiều hợp đồng với quy mô lớn, dovậy mới chỉ tập trung vào khai thác những hợp đồng nhỏ
- Chưa có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực thẩm định dự án đầu tư xây dựng vớiquy mô lớn, chưa có sự tín nhiệm của các chủ đầu tư về chức năng thẩm định dự ánđầu tư xây dựng của công ty, do đó mà số lượng quy mô hợp đồng lớn còn rất ít
- Công tác thị trường chưa được chú trọng phát triển, chưa mở rộng phát triển, tìmkiếm những hợp đồng lớn để đảm nhận mà mới chỉ tập trung vào phát triển lĩnh vựchợp đồng quy mô nhỏ
- Kết hợp với bảng doanh thu ở trên, ta thấy được rằng trong năm 2011, doanh thugiảm so với năm 2010, nhưng ở đây thì số lượng hợp đồng lại tăng lên, đặc biệt là
có sự tăng về hợp đồng quy mô lớn Điều này là do những hợp đồng lớn mặc dùcông ty đã ký kết được hợp đồng song trong quá trình thẩm định lại không đạt đượcyêu cầu so với những gì mà bên chủ đầu tư mong muốn, cho nên nhiều hợp đồng đãkhông được thanh lý dẫn đến tỉ lệ đóng góp vào doanh thu của lĩnh vực thẩm định
dự án đầu tư xây dựng có sự giảm xuống mặc dù số lượng hợp đồng thi tăng lên
Tóm lại, qua bảng trên ta có thể thấy được khả năng trong công tác thẩmđịnh của công ty còn nhiều hạn chế, chưa tận dụng hết được những thế mạnh củamình Quy mô của công tác thẩm định còn nhỏ, chưa có nhiều khả năng đảm nhậnnhững hợp đồng thẩm định dự án lớn Điều này, khiến công ty luôn mong muốn tìmcách khắc phục, hoàn thiện hơn về công tác thẩm định của mình, nâng cao năng lựcthẩm định để có thể phát triển mở rộng thị trường và làm tăng thêm uy tín của công
ty trên thị trường