Điều này càng được nhà văn tập trung biểu hiện trong truyện vừa Trái tim chó, sáng tác trong khoảng thời gian 1925 – 1926, câu chuyện về một chú chó hoang bỗng chốc trở thành con người s
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN - 2008
PHẦN III:
BÁO CÁO ĐẠT GIẢI BA
Trang 2ĐẶC ĐIỂM VÀ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN CỦA CÁI NGHỊCH DỊ TRONG
TÁC PHẨM “TRÁI TIM CHÓ” CỦA BULGACOV
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Anh
có thể in được một cuốn sách Thế nhưng, từ khi tác phẩm trở lại với bạn đọc Nga sauthời “cải tổ”, có lẽ không có nhà văn Nga – Xô Viết nào được quan tâm như ông
Điều đặc biệt là qua hầu hết các tác phẩm của mình, nhà văn luôn sử dụng “cáinghịch dị” như một phương thức để xây dựng thế giới hình tượng, từ đó, gián tiếp bộc lộthái độ của mình đối với xã hội đương thời Điều này càng được nhà văn tập trung biểu
hiện trong truyện vừa Trái tim chó, sáng tác trong khoảng thời gian 1925 – 1926, câu
chuyện về một chú chó hoang bỗng chốc trở thành con người sau một cuộc phẫu thuậtcấy ghép tuyến yên, làm nảy sinh trong xã hội loài người bao chuyện khóc cười…
Vì vậy, chúng tôi đã chọn “Đặc điểm và phương thức biểu hiện cái nghịch dị trong tác phẩm Trái tim chó cuả Milkhail Bulgacov” làm đề tài khảo sát và nghiên cứu,
qua đó tìm ra một hướng tiếp cận để “giải mã” những ý nghĩa ngầm ẩn mà nhà văn đã kíthác
2 Lịch sử nghiên cứu
Bulgacov và những tác phẩm của ông đã trở thành một “hiện tượng” đặc biệttrong văn chương thế giới, thu hút rất nhiều sự quan tâm của độc giả trong nước cũng nhưnước ngoài, nhất là các học giả phương Tây Ở Việt Nam cho đến nay chưa có một côngtrình nghiên cứu nào mang tính chất khái quát về toàn bộ tác phẩm của MilkhailBulgacov mà phần lớn chỉ là những bài viết đươc đăng trên báo, tạp chí về cuộc đời nhà
văn hoặc tìm hiểu một vài khía cạnh trong tiểu thuyết Nghệ nhân và Margarita - tác
phẩm lớn nhất của ông
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu về cái nghịch dị trong tác phẩm Trái tim chó của Milkhail Bulgacov, văn bản lấy từ Bulgacov, tuyến tập tác phẩm (Đoàn Tử Huyến).
4 Phương pháp nghiên cứu
Do tìm hiểu cái nghịch dị như một phương thức thẩm mĩ để biểu hiện nội dung tư
tưởng của tác phẩm nên phương pháp chủ yếu được sử dụng là thi pháp học.
Trang 35 Bố cục báo cáo
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, báo cáo bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở tồn tại cái nghịch dị trong tác phẩm.
Chương 2: Đặc điểm của cái nghịch dị trong tác phẩm.
Chương 3: Phương thức biểu hiện cái nghịch dị trong tác phẩm.
B NỘI DUNG
Chương I Cơ sở tồn tại cái nghịch dị trong tác phẩm Trái tim chó của Milkhail
Bulgacov
1 Giới thuyết về cái nghịch dị
Nghịch dị là một kiểu tổ chức nghệ thuật (hình tượng, phong cách, thể loại) dựavào huyễn tưởng, vào tính trào phúng, tính ngụ ngôn, ngụ ý, vào sự kết hợp và tươngphản một cách kì quặc cái huyền hoặc và cái thực, cái đẹp và cái xấu, cái giống thực vàcái biếm hoạ
2 Cơ sở tồn tại cái nghịch dị trong tác phẩm Trái tim chó
2.1 Truyền thống văn chương Nga
Sự xuất hiện của yếu tố nghịch dị trong sáng tác của Bulgacov là sự kế thừa vàtiếp nối truyền thống văn học dân gian Nga và văn học Nga thế kỉ XIX, cụ thể là các tácphẩm của A.X.Puskin, N.Gôgôn…
2.2 Cuộc đời nhà văn
Hiện thực nước Nga những năm 20 của thế kỉ XX đã thổi bùng lên khao khát sángtạo vốn vẫn đang âm ỉ trong một tâm hồn nhiều đam mê và trăn trở, từ đó tạo choBulgacov một phong cách độc đáo: chọn “nghịch dị” như một phương thức để biểu hiện
và xây dựng thế giới hình tượng
Chương II Đặc điểm của cái nghịch dị trong tác phẩm Trái tim chó của Milkhail
Bulgacov
1 Thế giới nhân vật
Cái nghịch dị được biểu hiện cụ thể và rõ nét nhất thông qua tính lưỡng trị(ambivalance), cùng một lúc xây dựng những mặt đối lập thậm chí đến mâu thuẫn bêntrong nhân vật (Sarik, Philip Philippovich) Thế giới nhân vật trong tác phẩm còn là mộtthế giới của những con người quái dị, khác thường: Daria, Dina, các bệnh nhân…
2 Không gian - thời gian
2.1 Thời gian
Phần lớn các sự kiện diễn ra vào ban đêm - thời gian thích hợp cho việc diễn tảnhững điều kì bí Thế giới nghịch dị với những sự kiện bất thường xảy ra trong một diễnbiến thời gian hoàn toàn bình thường, hợp với logich tự nhiên, tạo “độ tin cậy” về tínhchân thực của sự việc
Trang 42.2 Không gian
Trong tác phẩm, không gian thường có xu hướng thu hẹp, đặc tả những vùngkhông gian nhỏ như các căn phòng trong nhà giáo sư Philip Philippovich với hàng loạtnhững chi tiết có tính chất nghịch dị, thông qua cách bài trí, các âm thanh, màu sắc…Bêncạnh đó, còn có một kiểu không gian đặc biệt mang tính chất huyền hoặc: không gian củanhững giấc mơ…
Chương III Phương thức biểu hiện cái nghịch dị trong tác phẩm Trái tim chó của
Milkhail Bulgacov
1 Sự luân chuyển các điểm nhìn
1.1 Khảo sát một số điểm nhìn trong tác phẩm
Khảo sát các điểm nhìn bên trong, bên ngoài, zero được biểu hiện trong tác phẩm
1.2 Tính phức tạp của các điểm nhìn và ý nghĩa biểu hiện
Các điểm nhìn luôn được chuyển hoá một cách phức tạp, như một trong nhữngdụng ý nghệ thuật của nhà văn nhằm thể hiện tính đối lập giữa con người có trái tim chó
và con chó có trái tim người…
2 Cấu trúc lặp và thủ pháp tương phản
2.1 Cấu trúc lặp
Sự lặp lại của yếu tố “bóng tối”, “ánh sáng”, “tiếng chuông”, “sự im lặng”…thểhiện tính đa dạng và kì quái trong sự vận động của các hình tượng nghệ thuật Đặc biệt,theo thống kê, yếu tố “cánh cửa” được lặp lại 23 lần, trở thành một biểu tượng giàu sứcgợi cảm Sự mở ra và đóng lại của yếu tố cánh cửa thường đi kèm theo nó sắc thái của cáibất thường và đôi khi mang tính dự báo
3.2 Kết cấu
Kết cấu vòng tròn, có sự đan xen của các hình thức trần thuật khác…
C KẾT LUẬN
Cái nghịch dị trong Trái tim chó đã được biểu hiện thông qua một thế giới nhân
vật đầy kì quái trên nền không gian hết sức khác thường Có được điều đó là nhờ nhà văn
đã vận dụng khéo léo các điểm nhìn, cấu trúc lặp, thủ pháp tương phản, những sáng tạo
Trang 5trong cốt truyện và kết cấu Để từ đó, tác phẩm không chỉ đơn thuần là câu chuyện vềnhững xáo trộn trong gia đình bác sĩ Philip Philippovich mà còn là lời cảnh báo đối vớinhững phát minh khoa học của con người, khi chưa được kiểm định một cách cụ thể, sẽđem đến những hậu quả khôn lường - một thế giới méo mó, biến dạng đầy hài hước…
Trang 6BÀI CA DAO “THẰNG BỜM CÓ CÁI QUẠT MO” DƯỚI GÓC NHÌN DỊ BẢN
Sinh viên thực hiện: Dương Thị Lan Anh
Giáo viên hướng dẫn: GVC Nguyễn Hùng Vỹ
Văn học dân gian từ lâu đã trở thành thế giới đầy lí thú cho các nhà nghiên cứutìm tòi và khám phá Những giá trị của các sáng tác dân gian cho đến nay là những viênngọc quý càng tìm hiểu càng thấy nó sáng và trong hơn
Văn học dân gian có thể coi là sản phẩm đầu tiên trong lịch sử văn học nước nhà.Những bài ca dao, những câu tục ngữ, những câu hò, những bài vè được hát lên trongnhững đêm trăng trên sân đình mãi mãi vang vọng trong kí ức tuổi thơ của biết baongười
Trước hàng ngàn những sáng tác văn học, đặc biệt là các sáng tác văn học dân
gian, chúng tôi đã chọn bài ca dao Thằng Bờm có cái quạt mo để tìm hiểu những giá trị
và sự biến đổi của nó trong suốt tiến trình văn học
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, báo cáo gồm 4 chương:
chương I: Một vài lí thuyết về tiếp nhận văn bản văn học dân gian
Chương II: Bài ca dao Thằng Bờm có cái quạt mo dưới góc nhìn dị bản
Chương III: Cách hiểu và lí giải một số chi tiết thú vị trong bài ca dao Thằng Bờm Chương IV: Nguyên nhân của sự di chuyển dị bản trong bài ca dao Thằng Bờm
Trong chương III, chúng ta có thể thấy một số lí giải hết sức thú vị của những chi
tiết như: Thằng Bờm hay thằng Bần
Phú Ông hay Ông Trạng, Hán Ông
Quạt mo, bút bi hay giấy khen
Đặc biệt chi tiết chiếc quạt mo đã có nhiều cách hiểu rất khác nhau từ quan niệmdân gian đơn thuần tới việc người ta gán cho nó nghĩa Phật giáo
Mỗi chương trong báo cáo hi vọng sẽ đem đến cái nhìn về một tác phẩm văn họcdân gian điển hình, cho thấy sức sống của nó trong môi trường diễn xướng, thời gian tácđộng như thế nào tới sự tồn tại của nó?
Sự di chuyển các văn bản văn học đang là vấn đề mà các nhà nghiên cứu hết sứclưu ý khi tim hiểu tác phẩm văn học Yếu tố dị bản không chỉ xuất hiện trong các tácphẩm văn học dân gian mà ngay trong văn học viết, thứ văn bản được lưu trữ tốt nhất thìnay cũng xuất hiện rất nhiều dị bản Điều đó khiến ta đánh giá đúng hơn giá trị của cáctác phẩm văn học suốt quá trình tồn tại Khi đứa con tinh thần tách khỏi người nghệ sĩ,sống cuộc sống độc lập của riêng mình thì nó sẽ như thế nào? Đó không chỉ là sự quantâm của riêng các nhà văn
Trang 7NHU CẦU THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN ĐƯỢC ĐÀO TẠO
THEO PHƯƠNG THỨC TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Vân Anh, Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Giáo viên hướng dẫn: ThS Bùi Thanh Thuỷ
2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: nhu cầu TT của sinh viên đào tạo theo phương thức tín chỉ.Phạm vi nghiên cứu: sinh viên K51 - K52 của Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, ĐHQGHN năm học 2007 - 2008
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp điều tra xã hội học,phỏng vấn, quan sát; thống kê; phân tích, tổng hợp tài liệu
Mẫu khảo sát: 150 sinh viên các khóa K51 – K52 Trường Đại học Khoa học Xãhội và Nhân văn, ĐHQGHN
Trang 8phương pháp học tập và giảng dạy theo phương thức tín chỉ cho sinh viên hai khóa K51
và K52
Đối với sinh viên K51: các giảng viên giảng dạy theo đề cương tín chỉ nhưngchưa được lựa chọn môn học cũng như số tín chỉ trong một học kỳ; Đối với sinh viênK52 có quyền lựa chọn số tín chỉ trong học kỳ theo quy định (số tín chỉ được phép tốithiểu và tối đa mỗi sinh viên được học trong một học kỳ có trong quy chế đào tạo) bằngcách rút bớt hay đăng ký học thêm các môn học; Sinh viên K52 cũng được chủ động hơn
về thời gian học bằng cách lựa chọn thời gian học một số môn học
1.2 Vai trò của thông tin đối với sinh viên được đào tạo theo phương thức tín chỉ
Với phương thức đào tạo tín chỉ, sinh viên cần tự tìm và đọc tài liệu, sau đó traođổi, thảo luận nhóm, thuyết trình, tranh luận trên lớp Thời gian dành cho tự học, tựnghiên cứu của sinh viên sẽ nhiều hơn so với học theo phương pháp niên chế, một giờtrên giảng đường sẽ tương đương hai giờ tự học trên thư viện, đọc tài liệu Điều này cũng
có nghĩa sinh viên phải đọc tài liệu để tìm kiếm các câu trả lời gợi mở của giảng viên.Sinh viên phải hết sức tự giác, chủ động trong việc học của mình mới đáp ứng tốt đượcyêu cầu của môn học và của giảng viên Bên cạnh thông tin cho học tập, sinh viên cũngcần được cập nhật thông tin giải trí để hòa nhập với sự phát triển của xã hội
2 Thực trạng nhu cầu tin của sinh viên
2.1 Nhu cầu về thông tin phục vụ cho việc học tập trên lớp
Đối với mỗi sinh viên, tài liệu không thể thiếu cho việc học tập trên lớp đó là đềcương môn học Tuy nhiên, có 31% sinh viên được hỏi không có đủ Đề cương các mônhọc Trong đó: 45% thầy không cung cấp, 19% lớp không cung cấp, 16% mất, 3% chưalấy, 16% lý do khác Với 31% sinh viên không có đề cương môn học thì tương đương vớiviệc 31% sinh viên không được cung cấp đủ về các thông tin quan trọng như đã đưa ra ởtrên Như vậy cũng có nghĩa trong một số môn học, số sinh viên này không được địnhhướng về nội dung cho môn học của mình hay không được cung cấp địa chỉ tài liệu trước
để tìm kiếm (trong trường hợp giảng viên không cung cấp)
Ngôn ngữ các tài liệu mà sinh viên sử dụng chủ yếu là tiếng Việt, ngoài ra một sốsinh viên cũng sử dụng tài liệu tiếng nước ngoài như: Anh, Pháp…Qua thống kê bảnghỏi, 48% sinh viên chỉ sử dụng được tiếng Việt, 36% sinh viên ngoài sử dụng được tiếngViệt thì sử dụng được cả tiếng Anh, 3% sinh viên sử dụng được tiếng Pháp, 13% sử dụngđược các ngôn ngữ khác: Nhật, Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc…Bên cạnh đó, trình độngoại ngữ của sinh viên cũng phân hóa khá rõ rệt Ví dụ như sinh viên một số khoa: Dulịch, Báo chí, Quốc tế, Đông phương vượt hẳn lên nền chung toàn trường: 45% họ sửdụng được tiếng Anh, 3% sử dụng được tiếng Pháp, 13% sử dụng ngoại ngữ khác (Nhật,Trung, Hàn…), 39% chỉ sử dụng được tiếng Việt (trong số đó không ít sinh viên dùngđược song hành tiếng Anh và một ngôn ngữ khác ngoài tiếng Việt)
Điều tra cho thấy, số sinh viên có được tài liệu chủ yếu qua thư viện chiếm 34%,qua giảng viên chiếm 26%, qua internet chiếm 20%, mua chiếm 11%, 7% qua bạn bè,còn lại là qua nguồn khác Về loại hình tài liệu sinh viên cần 41% là sách, 41% trênInternet, 2% ở Đĩa, 7% ở báo, 9% ở Tạp chí Như vậy có thể thấy nguồn tài liệu cũng nhưloại hình tài liệu của sinh viên khá phong phú và đa dạng
Trang 9Trên thực tế, sinh viên gặp không ít khó khăn trong tìm tài liệu: với những sinhviên cho rằng tài liệu họ có được chủ yếu thông qua thư viện thì trong đó 37% thấy chỉtìm được 10 – 20% tài liệu mình cần ở thư viện, 24% tìm được 21 – 40% tài liệu cần,23% sinh viên tìm được 41 – 60% tài liệu mình cần, 11% tìm được 61 – 80% tài liệu, chỉ
có 5% tìm được 81 – 100% tài liệu cần ở thư viện Điều này thể hiện: thư viện vẫn chưađáp ứng được nhu cầu của phần lớn sinh viên Ngay cả những sinh viên đã tìm được tàiliệu mình cần trên thư viện thì vẫn có 60 % sinh viên cho rằng tài liệu thư viện thường lạchậu, 5% không ý kiến, chỉ có 35% cho rằng cập nhật Như vậy, cầu thì nhiều song cungthì ít dẫn tới một số sinh viên không có đủ tài liệu ngay cả học liệu bắt buộc chứ chưa nóitới học liệu tham khảo
Hầu hết sinh viên chỉ đọc học liệu bắt buộc, học liệu tham khảo thì do thiếu hayngay cả khi đã có cũng ít khi thu hút được nhiều sự chú ý của SV; hay cá biệt có trườnghợp lại ngược lại Nguyên nhân sinh viên không đọc tài liệu tham khảo vì: không có tàiliệu, không có khả năng đọc tài liệu (đối với tài liệu viết bằng tiếng nước ngoài) hoặckhông nhận thức đúng được tầm quan trọng của việc này, họ cho rằng đọc tài liệu bắtbuộc là đủ”
2.2 Nhu cầu về thông tin giải trí
Theo thống kê: sinh viên tìm kiếm thông tin qua Tivi, Đài là 17%, qua sách là10%, qua báo, tạp chí là 18%, qua internet là 54%, nguồn khác 1% Sinh viên một sốkhoa: Báo chí, Du lịch, Quốc tế… có thể nói là thuộc bộ phận sinh viên truy cập internetthường xuyên nhất, ví dụ khoa Đông phương 75% sinh viên thường xuyên truy cập tươngđương 95% cho rằng thông tin họ cần tìm được chủ yếu qua mạng
Trên thực tế, khi điều tra bằng bảng hỏi vấn đề sinh viên quan tâm nhất thì số sinhviên cho rằng chính trị chiếm 18,7 %, kinh tế chiếm 15,4%, văn hóa chiếm 29%, giáo dụcchiếm 11%, thông tin giải trí khác chiếm 24,5% cá biệt có 2% không quan tâm Qua đây
có thể thấy nhu cầu của sinh viên về thông tin xã hội là rất lớn nhưng vẫn có một bộ phậnkhông hề có định hướng về tầm quan trọng của các thông tin xã hội
Về thông tin trên Internet, nhiều sinh viên thì sử dụng những công cụ tìm kiếmhiện đại trên mạng: Google, Yahoo… xong vấn đề đặt ra là sinh viên cần được hướngdẫn cách xác định phạm vi, tiếp cận nguồn thông tin, đánh giá, sử dụng thông tin để đạtđược mục đích đúng pháp luật và đạo đức
Như vậy, có thể nói nhu cầu thông tin của sinh viên đào tạo theo phương thức tínchỉ của Trường ĐHKHXH&NV hiện nay có rất nhiều vấn đề đặt ra, muôn màu muôn vẻ.Trong đó cơ bản là nhu cầu của sinh viên rất lớn, phong phú về hình thức, đa dạng về thểloại nhưng chưa thực sự được đáp ứng thỏa mãn Có nhiều nguyên nhân, mà nguyên nhânquan trọng nhất là vấn đề tài chính của sinh viên, sau mới là trình độ tin học, ngoại ngữcủa sinh viên còn hạn chế, ảnh hưởng đến tìm và khai thác thông tin
3 Một số kiến nghị
3.1 Đối với sinh viên
Chủ động tìm tài liệu – thông tin bằng các nguồn khác nhau Học tập nâng caotrình độ tìm kiếm thông tin, kiểm định thông tin, đặc biệt là trình độ ngoại ngữ để tiếpxúc tốt hơn với tài liệu nước ngoài
Trang 10Sinh viên cần nhận thức rõ tầm quan trọng về việc tìm hiểu các thông tin về xãhội và tìm mọi cơ hội để tiếp cận với các nguồn thông tin đó
3.2 Đối với giảng viên
Cần cung cấp đầy đủ đề cương môn học, tài liệu và địa chỉ tìm kiếm tài liệu đọcthêm cho sinh viên Những học liệu quý hiếm hoặc đã xuất bản lâu năm phải photo vàcung cấp đầy đủ cho sinh viên Những học liệu là bài tạp chí, một phần của cuốn sách đãxuất bản, ngoài phần học liệu đã yêu cầu ghi trong đề cương môn học thì cần có bìa vàmục lục của học liệu Những học liệu tiếng nước ngoài nếu không có mục đích bắt buộcsinh viên sử dụng trong khuôn khổ giảng dạy bằng ngoại ngữ hoặc quy định sinh viênphải dịch ra để học thì vừa phải có bản gốc và bản dịch Nếu số lượng trang quá lớn thìtạm thời có thể lược dịch, biên dịch hoặc viết tóm tắt những điểm chủ yếu để sinh viên sửdụng trong thời gian tổ chức dịch đầy đủ Như vậy, sẽ giải quyết được việc sinh viênkhông tìm được tài liệu tham khảo hay không sử dụng được vì ngôn ngữ tài liệu là tiếngnước ngoài
3.3 Đối với nhà trường và khoa
Tăng cường hướng dẫn, đào tạo sinh viên sử dụng thư viện, tin học, khai thácmạng và ngoại ngữ Phòng tư liệu các khoa nên mở cửa phục vụ nhiều hơn (không phải là
2 ngày 1 tuần như hiện nay mà có thể là cả tuần như thư viện) giúp sinh viên tiếp xúc vớisách và kiến thức chuyên ngành
3.4 Đối với thư viện
Cần có một đội ngũ cán bộ phục vụ chuyên môn hóa cao, thường xuyên được tậphuấn, học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ Liên tục bổ sung trao đổi để tạo ra một nguồntài liệu phong phú phục vụ đầy đủ và tốt hơn nhu cầu của sinh viên Ngoài ra, thư việncũng cần tăng cường đầu tư các trang thiết bị hiện đại phục vụ nhu cầu tìm tin tra cứu tàiliệu được nhanh chóng và chính xác hơn Đặc biệt với thời lượng phục vụ như hiện tại,nhiều sinh viên phản ánh nên kéo dài thêm thời gian, tăng lượng sách tham khảo đượcmượn trong một lần ( không phải 2 cuốn như hiện nay ) vì với nhiều bài tập sinh viên cầndùng nhiều Tài liệu – Thông tin một lúc
Thư viện cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa với các khoa để bổ sung sách mới phùhợp với chương trình đào tạo của nhà Trường
C KẾT LUẬN
Nhu cầu về thông tin của sinh viên cần được đặc biệt quan tâm xử lý sớm tạođiều kiện thuận lợi cho giảng viên trong quá trình giảng dạy, gợi mở vấn đề và sinh viêntrong quá trình tiếp thu môn học Những kiến nghị trong khuôn khổ báo cáo khoa học này
có thể nói là đại diện cho mong muốn, suy nghĩ của nhiều sinh viên nhằm góp phần tháo
gỡ khó khăn về đáp ứng nhu cầu thông tin cho đào tạo – vấn đề đang thu hút được sựquan tâm của nhiều người
Trang 11TÌM HIỂU MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUẢN TRỊ TRI THỨC
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hoàng Anh, Nguyễn Thu Anh
Giáo viên hướng dẫn: ThS Đồng Đức Hùng
A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quản trị tri thức (Knowledge management) hiện nay còn là một khái niệm mới
trong ngành thông tin thư viện Việt Nam Tuy nhiên đây là hướng mà ngành thông tin thư viện trên thế giới đã và đang hướng tới Trong bối cảnh bùng nổ thông tin hiện nay,việc nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề liên quan đến tri thức và quản trị tri thức (QTTT)đang là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho những cán bộ công tác trong ngành thông tin - thưviện Việc đổi mới giáo dục để hướng tới một nền kinh tế tri thức đòi hỏi ngành thông tin
thư viện phải nhanh chóng đổi mới để tiến đến quản trị tri thức nhằm đóng góp mộtphần quan trọng trong việc hình thành tri thức cho mọi người trong sự nghiệp tri thức hoá
xã hội
Đề tài khoa học " Tìm hiểu một số vấn đề về quản trị tri thức" được nghiên cứu
nhằm tiếp thu những tri thức mới về quản trị tri thức từ các nhà nghiên cứu trên thế giới,
từ đó ứng dụng vào thực tiễn quản trị tri thức nói chung và trong hoạt động thông tin thư viện nói riêng ở nước ta
-2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hiểu được nội dung cơ bản của khái niệm "tri thức", "quản trị tri thức" và cáckhái niệm liên quan
- Nắm được trình tự và nội dung các công đoạn của quy trình quản trị tri thức
- Làm cơ sở cho những nghiên cứu về quản trị tri thức trong tương lai
3 Phạm vi nghiên cứu
Quản trị tri thức có thể được nghiên cứu ở nhiều khía cạnh như: khái niệm quảntrị tri thức, quy trình quản trị tri thức, tổ chức tri thức, đào tạo cán bộ quản trị tri thức,ứng dụng công nghệ trong quá trình quản trị tri thức… Báo cáo khoa học này chỉ nghiêncứu các khái niệm tri thức và quản trị tri thức, quy trình quản trị tri thức; trong đó tậptrung nghiên cứu các giai đoạn trong quy trình quản trị tri thức
B NỘI DUNG
1 Khái niệm tri thức và quản trị tri thức
1.1 Khái niệm tri thức
Tri thức (Knowledge): Một khối lượng thông tin đã được xử lý, đồng hoá, đưa
vào sự nhận thức của cá nhân, là thông tin và phán đoán
Trang 12Từ cách nhận thức trên có thể thấy tri thức chính được hình thành trên cơ sở cácthông tin đã được xử lý, ứng dụng, phát triển; và qua quá trình đó, thông tin được tinhchế để tạo thành tri thức
Khái quát một cách cô đọng, tri thức có nghĩa là “hiểu” và “biết” Trong nền kinh
tế tri thức và trong ngành khoa học thông tin - thư viện ngày nay định nghĩa tri thức là
thông tin hữu ích (useful) và có ý nghĩa (meaningful).
1.2 Khái niệm quản trị tri thức
Quản trị tri thức (Knowledge management) là khái niệm dùng để chỉ những công
nghệ, kỹ thuật, hoặc những thông lệ xã hội nhằm thu thập và tổ chức “tri thức” sao cho cóthể áp dụng chúng vào một địa điểm và thời điểm phù hợp
Quản trị tri thức là đòn bẩy cho sự hiểu biết chung để làm tăng tính mới và sự đápứng nhanh chóng các nhu cầu về tri thức
2 Quy trình quản trị tri thức
Quản trị tri thức bao gồm 8 giai đoạn, đó là:
1 Tạo lập và bổ sung tri thức (Knowledge creation or acquisition)
3 Sử dụng trực tiếp (Immediate use)
6 Cải biến/tái định hướng (Translation/repurposing)
7 Người dùng tin truy nhập (User access)
Trang 13Có thể khái quát 8 giai đoạn trên qua sơ đồ dưới đây:
Hình 1: Các giai đoạn của quy trình quản trị tri thức
Cụ thể từng giai đoạn như sau:
2.1 Tạo lập và bổ sung (Creation and Acquisition)
Trong giai đoạn tạo lập và bổ sung, thông tin được sáng tạo bởi người lao động trithức, bổ sung thông qua việc tiếp nhận thông tin từ nguồn đối tác Vấn đề chính liên quantới tạo lập và bổ sung thông tin trong chu trình QTTT bao gồm: chi phí, công nghệ phầnmềm và phần cứng, khổ mẫu và định danh thông tin, kiểm soát chất lượng, sự bảo mậtthông tin, biện pháp theo dõi thông tin Thêm vào đó, việc biên tập thông tin, quyền sởhữu và ngôn ngữ được sử dụng để trình bày thông tin cũng rất quan trọng
2.2 Sửa đổi (Modification)
Trong giai đoạn này, thông tin được sửa đổi để phù hợp với những nhu cầu hiệntại và trong tương lai gần của người lao động tri thức (knowledge worker) và nhà quản lý.Yếu tố chính liên quan tới công tác sửa đổi là: quyền về tinh thần của tác giả, mức độ tácgiả liên quan, đưa ra quyết định mang tính 2 chiều cho sự sửa đổi thông tin và xác minh
Cải biến/
Tái định hướng
Trang 14quyền sở hữu thông tin Công cụ hỗ trợ chính cho giai đoạn này gồm có: công cụ biêntập, theo dõi thông tin, cơ chế bảo mật thông tin và kiểm soát các phiên bản.
2.3 Sử dụng (Use)
Trong giai đoạn sử dụng, thông tin được thu nhận cho một số mục đích có ích.Việc sử dụng thông tin cụ thể có thể bị hạn chế bởi sự cấp phép, quyền tinh thần của tácgiả và sự kiểm soát các tài sản trí tuệ khác Công cụ hỗ trợ chủ yếu cho giai đoạn này là
hệ thống phản hồi và hệ thống theo dõi cũng như sự đa dạng của công nghệ phổ biến vàcông nghệ tìm kiếm
2.4 Lưu trữ (Archiving)
Lưu trữ thông tin cũng như lưu kho thông tin trong một mẫu hoặc một khổ mẫuqua thời gian vẫn có thể truyền đạt được và còn giá trị Lưu trữ, đặc biệt là kho trung tâm,rất hấp dẫn đối với các tin tặc vì thông tin được tập trung ở một địa điểm Xây dựngnhiều kho lưu trữ không chỉ đề phòng hỏa hoạn, lũ lụt và các thiên tai khác mà còn tăngtính an toàn cho tài liệu Một vài yếu tố chính liên quan đến giai đoạn lưu trữ gồm có:thời gian truy nhập, dịch vụ bảo mật thông tin cá nhân, chỉ dẫn thông tin, chi phí lưu trữ
và những công nghệ khác nhau được sử dụng Tuổi thọ của thông tin trong kho lưu trữphụ thuộc vào việc xây dựng một môi trường được kiểm soát, các chương trình bảo quản
và một cán bộ thư viện để trông coi quá trình lưu trữ
2.5 Chuyển tải (Transfer)
Sự chuyển tải hoặc truyền đạt thông tin là điều kiện tiên quyết cho một hệ thốngQTTT có hiệu quả Thành phần chính trong giai đoạn chuyển tải gồm: chi phí, tính bảomật và thời gian chuyển tải Chi phí cho mỗi lượng thông tin được truyền đạt có thể khálớn, đặc biệt nếu không có mạng lưới cơ sở hạ tầng Thêm vào đó, tính bảo mật của thôngtin luôn là vấn đề mang tính then chốt khi thông tin được chuyển tải qua một mạng lướicông cộng, như mạng toàn cầu (Internet) hoặc mạng không dây, mạng điện thoại Thờigian chuyển tải thường cho thấy sự hữu hiệu của một hệ thống QTTT Trong nhiềutrường hợp, thời gian chuyển tải càng ngắn, thông tin càng có ích
2.6 Cải biến/tái định hướng (Translation/Repurposing)
Trong giai đoạn cải biến/tái định hướng, thông tin được biến đổi từ dạng gốc sangmột dạng thích hợp hơn tùy theo mục đích sử dụng Những yếu tố then chốt trong giaiđoạn này: tính thuận nghịch của quá trình biến đổi, quyền về tinh thần của tác giả, sự xácminh quyền sở hữu và trách nhiệm liên quan Công cụ hỗ trợ quan trọng nhất trong giaiđoạn cải biến/tái định hướng là những kiến thức chuyên môn thu được từ bên ngoài vàcác ứng dụng đa dạng của công nghệ thông tin
2.7 Truy nhập (Access)
Một nét đặc trưng của hầu hết các hệ thống QTTT là sự bảo mật thông tin Thôngtin trong hệ thống không sẵn sàng mở với tất cả mọi người Truy nhập thông tin cũng cóthể bị giới hạn bởi một lượng lớn thông tin sẵn có Các yếu tố quan trọng liên quan tớigiai đoạn truy nhập là tính bảo mật thông tin, chi phí, các công nghệ thích hợp nhất vànhận thức của người lao động tri thức Chi phí cho việc truy nhập thông tin có thể rấtkhác nhau
2.8 Thanh lý (Disposal)
Trang 15Mọi loại thông tin đều có thể lỗi thời Thông tin có giá trị giới hạn bị loại bỏ đểtiết kiệm không gian và giảm phí tổn Phương pháp xác định thông tin nào cần bảo lưu vàthông tin nào cần loại bỏ cần tuân theo quy định chung cũng như điều lệ của chính phủ về
hồ sơ kinh doanh Các thành phần chính xung quanh việc loại bỏ thông tin trong giaiđoạn thanh lý là chi phí, mức độ bảo mật thích hợp nhất, ước định giá trị thông tin vànhiều loại công nghệ thích hợp khác Loại bỏ thông tin không phải là không có chi phí,đặc biệt nếu thông tin đó được xử lý tốn kém trước khi thanh lý
Trong một xã hội hướng tới nền kinh tế tri thức, vai trò của tri thức và QTTTngày càng trở nên quan trọng và thiết yếu Việc cung cấp những tri thức cho cộng đồng
đã và đang đặt ra cho ngành thông tin - thư viện nhiều cơ hội cũng như những thách thức.Vai trò và vị thế của ngành thông tin - thư viện sẽ ngày càng được khẳng định trong một
xã hội tri thức Chính vì vậy, chúng ta - những cán bộ của ngành thông tin - thư viện phải
tự đổi mới, hội nhập, cùng đồng nghiệp khắp nơi trên thế giới tiến dần đến QTTT trongmột xã hội tri thức
Trang 16MỨC ĐỘ LO ÂU CỦA SINH VIÊN KHOA TÂM LÝ HỌC TRƯỚC KỲ THI HỌC
Trong cuộc sống mỗi người đều có những vấn đề lo lắng nhất định, có thể lo lắng
về công việc, gia đình, tình yêu Sự lo lắng đã đặt con người vào những hoàn cảnh phảiđương đầu với vấn đề, phải tư duy Điều đó tạo cho con người tâm thế để hoạt động Cácnhà khoa học cho rằng 10% lo âu cho một người bình thường là đủ, song trên thực tếkhông phải lúc nào cũng như vậy Ở rất nhiều người sự lo âu đã vượt ra khỏi giới hạnbình thường, kéo dài, dai dẳng và trở thành bệnh lý, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sốngtinh thần của họ
Đối với sinh viên, sự lo lắng trước kì thi là vấn đề mà hầu hết sinh viên nào cũnggặp phải Sự lo âu thái quá, kéo dài khiến cho họ bị Stress, luôn căng thẳng ảnh hưởngkhông chỉ đến chất lượng bài thi mà còn ảnh hưởng rất lớn tới đời sống tinh thần của họ
Nghiên cứu về vấn đề này sẽ cho chúng ta có một cái nhìn tổng quát nhất về thựctrạng lo âu trước kì thi của sinh viên khoa Tâm lý học, giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn vềđời sống của sinh viên, từ đó có biện pháp trợ giúp họ
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về thực trạng lo âu của sinh viên khoa Tâm lý học trước kỳ thi học
kỳ, từ đó tìm ra giải pháp hữu hiệu nhất cho vấn đề này
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan những tài liệu liên quan đến vấn đề ngiên cứu
Nghiên cứu, khảo sát thực tiễn để đánh giá thực trạng lo âu ở sinh viên
Phân tích kết quả nghiên cứu, từ đó đề xuất những kiến nghị, giải pháp để giảmthiểu tình trạng lo âu ở sinh viên
4 Mục tiêu nghiên cứu
Chỉ ra được tỷ lệ sinh viên lo âu ở các mức độ khác nhau
Chỉ ra được những biểu hiện của sự lo âu
Chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến lo âu ở sinh viên
Trang 17 So sánh sự khác nhau về thực trạng lo âu ở sinh viên giữa hai hình thức đàotạo: theo niên chế và theo tín chỉ (K49, K50 và K51, K52).
5 Đối tượng nghiên cứu
Mức độ lo âu của sinh viên khoa Tâm lý học trước kỳ thi học kỳ
6 Khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu 130 sinh viên khoa Tâm lý học, gồm:
25 sinh viên thuộc lớp K49
35 sinh viên thuộc lớp K50
35 sinh viên thuộc lớp K51
35 sinh viên thuộc lớp K52
7 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu mức độ lo âu trước kỳ thi học kỳ của sinh viên khoa Tâm lý họcthuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN
8 Giả thuyết nghiên cứu
- Sinh viên khoa Tâm lý có mức độ lo âu trước kỳ thi học kỳ là khác nhau:
+ Sinh viên K49 có mức độ lo âu cao
+ Sinh viên K50 có mức độ lo âu bình thường
+ Sinh viên K51 và K52 có mức độ lo âu khá cao, trong đó ở lớp K52 mức độ lo
âu cao hơn cả
- Sự lo âu của sinh viên chưa đến mức bệnh lý
9 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng quan tài liệu
- Phương pháp điều tra: Sử dụng thang tự đánh giá mức độ lo âu dành cho người
từ 15 tuổi trở lên của Charler D.Spielberger.Ph.D đã được chuẩn hoá tại Việt Nam do TS.Nguyễn Công Khanh biên soạn
Trang 181 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ những năm 60 của thế kỷ XX có nhiều cách gọi khác nhau để chỉ trạng thái lo
âu (ICD8, 1968; ICD9, 1978; ICD10, 1992; DSM III, 1983 )
Lo âu theo quan điểm của các nhà tâm lý học Nga, theo Aubrey Leus (nhà tâm lýhọc người Anh)
1.2 Ở Việt Nam
Nghiên cứu dưới góc độ chẩn đoán trị liệu qua 352 hồ sơ của Bác sỹ Phạm VănĐoàn từ tháng 1/1989 đến tháng 10/1995
Lo âu theo quan điểm của Bác sỹ Phạm Văn Trụ (Bệnh viện TP HCM), Bác sỹ
Nguyễn Minh Tuấn (“Các rối loạn tâm thần ở trẻ em và thanh thiếu niên”).
Nghiên cứu của nhóm sinh viên khoa Tâm lý học, Trường ĐHKHXH&NV vànghiên cứu của sinh viên Nguyễn Thị Hằng Phương, K46 Tâm lý học (Nhân văn)
2 Các khái niệm cơ bản
2.1 Khái niệm lo âu
2.1.1 Định nghĩa
Có nhiều định nghĩa về lo âu, có thể hiểu lo âu qua các ý sau:
- Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên (bình thường) của con người trước nhữngkhó khăn và các mối đe doạ của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua đểtồn tại
- Lo âu là một tín hiệu báo động, báo trước một nguy hiểm sắp xảy đến, cho phépcon người sử dụng mọi biện pháp để đương đầu với đe dọa
- Lo âu bệnh lý là lo âu quá mức hoặc dai dẳng không tương xứng với sự đe doạđược cảm thấy, ảnh hưởng đến hoạt động của người bệnh, có thể kèm theo những ý nghĩhay hành động có vẻ như quá mức hay vô lý
2.2.2 Lo âu bình thường
2.2.3 Lo âu bệnh lý
- Phân biệt lo âu bình thường và lo âu bệnh lý
2.2 Các biểu hiện của rối loạn lo âu: về nhận thức; về cơ thể; về tâm lý
Trang 192.3 Một số RLLA thường gặp: lo âu tâm căn, lo âu lan toả
2.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán RLLA
- Dựa theo bảng phân loại quốc tế lần thứ 10 (ICD - 10)
- Dựa theo bảng phân loại các rối loạn tâm lý và các bệnh tâm thần của Hiệp hộitâm thần Mỹ DSM - IV
2.5 Nguyên nhân của RLLA
- Nguyên nhân tâm lý: tiếp cận Phân tâm học (Freud); tiếp cận tập nhiễm xã hội(Skiner, Bandura); tiếp cận nhận thức (Beck và Emery); tiếp cận ứng xử; học thuyết phản
3 Đặc điểm tâm lý của khách thể nghiên cứu
3.1 Khái niệm sinh viên
- Khái niệm tuổi thanh niên
- Sự phát triển về thể chất
- Vai trò xã hội của sinh viên
- Các hoạt động cơ bản của tuổi thanh niên sinh viên (học tập, NCKH, hoạt độngkinh tế - chính trị )
3.2 Đặc điểm tâm lý cơ bản của sinh viên
- Sự thích nghi của sinh viên với cuộc sống và hoạt động mới
- Sự phát triển vể nhận thức, trí tuệ
- Đời sống xúc cảm - tình cảm của sinh viên
- Sự phát triển một số phẩm chất nhân cách
4 Các khái niệm liên quan: đào tạo tín chỉ, đào tạo niên chế, sự khác nhau.
Chương II: Phương pháp nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu
Trang 201 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp sau: phương pháp điều tra, phương pháp phỏng vấnsâu
2 Tổ chức nghiên cứu
Chương III: Kết quả nghiên cứu
1 Thực trạng lo âu của sinh viên khoa Tâm lý học
Bảng trên thể hiện mức độ lo âu khác nhau giữa các lớp, đồng thời cũng thể hiện
sự khác nhau về mức độ lo âu giữa hai hình thức đào tạo: đào tạo theo niên chế và theotín chỉ
2 Những biểu hiện của lo âu: căng thẳng, mệt mỏi, lo lắng, không hài lòng về
bản thân
3 Nguyên nhân của sự lo âu
* Nguyên nhân về học tập: Chủ yếu là do phương pháp học và áp lực từ hình thức
đào tạo (Đào tạo tín chỉ)
Ngoài ra còn có các yếu tố khác như: kỳ vọng vào kết quả bài thi, kết quả của học
kì trước và của bài thi giữa kì, không khí học tập của tập thể lớp, mục tiêu cụ thể của từngsinh viên, giới hạn môn thi và hình thức thi
* Nguyên nhân về mặt tình cảm: tình cảm gia đình, tình cảm bạn bè, tình yêu nam
nữ
Ngoài ra còn có các yếu tố khác ảnh hưởng đến sự lo âu của sinh viên như: sựthích ứng của cá nhân với môi trường sống, những sự kiện trong cuộc sống làm cho sinhviên bị Stress
* So sánh thực trạng lo âu của sinh viên theo hai hình thức đào tạo: niên chế và tín chỉ: về tỷ lệ lo âu, về nguyên nhân dẫn đến lo âu.
Chương IV: Kết luận và kiến nghị
1 Kết luận
Vấn đề lo âu ở con người là bình thường, cần thiết cho cuộc sống
Lo âu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng kỳ thi của sinh viên, có nhiều nguyênnhân dẫn đến lo âu, chủ yếu là do phương pháp học tập và hình thức đào tạo
Trang 21Mức độ lo âu của sinh viên khoa Tâm lý trước kỳ thi là từ 22,31% đến 26,92%(không phải là con số đáng lo ngại), không đồng đều giữa các lớp và các hình thức đàotạo Kết quả thu được khá phù hợp so với giả thuyết ban đầu đưa ra.
2 Kiến nghị
Về phía sinh viên: Phải nhận thức được thực chất vấn đề gây ra sự lo lắng củamình là gì, tìm biện pháp khắc phục nguyên nhân ấy Gắn với vấn đề nghiên cứu, sinhviên phải tìm ra phương pháp học tập hiệu quả và phù hợp, chủ động trong việc học tậptheo phương pháp mới, rèn luyện năng lực làm chủ xúc cảm - tình cảm
Về phía Đoàn - Hội: Tổ chức toạ đàm về phương pháp học tập, kinh nghiệm họctập ở bậc ĐH, các hoạt động thiết thực cho sinh viên
Về phía Ban chủ nhiệm khoa: Luôn lắng nghe và phản hồi cho sinh viên biết vềnhững vấn đề họ thắc mắc, chủ động tìm hiểu những khó khăn mà họ gặp phải trong quátrình học tập theo hình thức đào tạo tín chỉ
Trang 22BLOG DU LỊCH VÀ VAI TRÒ CỦA BLOG DU LỊCH
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Vân Dung
Chương I Lý luận chung về blog
1 Khái niệm, tác dụng và phân loại blog
Làm rõ khái niệm blog, nêu lên những tác dụng chung của blog và phân loại blogtheo nhiều tiêu chí
2 Sự ra đời và những chặng đường phát triển
Giới thiệu lịch sử hình thành, nguồn gốc của blog và những giai đoạn phát triển chính củablog
3 Các tiêu chí và đặc trưng chính của blog
Nêu lên những đặc tính và đặc trưng cơ bản của blog, phân biệt blog với một sốcông cụ khác được sử dụng trên internet
Chương II Blog du lịch và vai trò của blog với hoạt động du lịch
1 Vai trò của blog với hoạt động du lịch
- Đưa ra định nghĩa về blog du lịch: blog du lịch cá nhân, blog du lịch tổ chức (blog
do các công ty, doanh nghiệp du lịch thiết lập)
- Nêu lên những vai trò quan trọng chủ yếu của blog trong hoạt động du lịch quaviệc nghiên cứu các tính năng, ưu điểm riêng của nó Vai trò của blog đối với hoạt động
du lịch được thể hiện ở những tác dụng và lợi ích của nó đem lại đối với 4 đối tượng khácnhau hoạt động trong lĩnh vực du lịch đó là: nhà kinh doanh du lịch, khách du lịch, cộngđồng du lịch và nhà quản lý du lịch
2 Giới thiệu blog du lịch, blog chuyên về du lịch
Giới thiệu một số blog du lịch nổi tiếng trên thế giới, blog du lịch đã có ở ViệtNam (bao gồm nội dung, ưu điểm, nhược điểm của mỗi blog) Rút ra những nhận xétchung về blog du lịch thế giới cũng như blog du lịch ở Việt Nam
Chương III Những đề xuất cho việc khai thác và sử dụng blog trong hoạt động du lịch ở Việt Nam
1 Nhận xét chung
Trang 23Nêu lên những ưu điểm vượt trội nhất của blog, khẳng định lại tầm ảnh hưởngcũng như vai trò của blog đối với hoạt động du lịch và nêu một vài điểm hạn chế của blog
2 Những đề xuất cho việc khai thác và sử dụng blog trong hoạt động du lịch ở Việt Nam
Nêu lên một số đề xuất chung cho việc khai thác, sử dụng blog một cách hiệu quảcho hoạt động du lịch ở Việt Nam
QUỐC HOA - NÉT VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG CỦA MỖI DÂN TỘC
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Cảnh, Phan Thị Hoài,
Nguyễn Thuỳ Linh, Trần Thị Thuỳ
Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thu Hằng
I Hoa Mẫu đơn - Quốc hoa của Trung Quốc
Trung Quốc là một trong những cái nôi sớm nhất của nền văn minh nhân loại Vàcho đến bây giờ Trung Quốc vẫn tự hào là quốc gia có nền văn hoá phong phú, đa dạngvới những loại hình văn hoá độc đáo
Hoa mẫu đơn có rất nhiều tên gọi khác nhau như lộc phỉ, thử cô, bạch truật, bạchlượng kim, mộc thược dược…Hoa mẫu đơn nở đẹp lộng lẫy, hương thơm sắc màu hiệndiện khắp nơi Vì vậy nó còn được mệnh danh là “quốc sắc thiên hương” (sắc nướchương trời), “hoa trung chi vương”(vua của các loài hoa), “phú lệ nhi tiêu sái” (hoa đẹplộng lẫy mà thanh thoát tự nhiên)…
Ý nghĩa của hoa mẫu đơn:
Ngày nay mẫu đơn được xem là biểu tượng của sự phồn hoa, thịnh vượng, bấtkhuất, là ý chí quật cường của dân tộc Trung Hoa không cam chịu làm một dân tộc nghèonàn, lạc hậu, mà nuôi hung tâm tráng trí dọc ngang trời lập nên đại nghiệp chấn hưng đấtnước, đưa đất nước Trung Hoa phát triển lên một tầm cao mới
II Hoa Anh đào - Quốc hoa của Nhật Bản
Mặc dù là nước có nền kinh tế phát triển cao, Nhật Bản vẫn giữ được những nétvăn hoá hết sức độc đáo của mình như môn đấu vật Sumô, áo Kimono, trà đạo… NướcNhật còn được mệnh danh là “xứ sở hoa anh đào” vì hoa anh đào được trồng khắp nơitrên đất nước Phù Tang
Hoa anh đào, tên tiếng Nhật là Sakura, tên tiếng Anh là Cherry Blossom, là quốchoa của Nhật Bản Hoa anh đào, phần lớn màu hồng nhạt hoặc màu trắng, chỉ có nămcánh nhỏ, chỉ lưu lại trên cành độ mười ngày Hoa anh đào ở Nhật được xem là “hoa đạo”– loài hoa cao quý không chỉ nở rộ cho người đời ngắm nhìn mà còn để cho nhân gianngưỡng mộ, tôn vinh, yêu quý và trân trọng Cuộc đời ngắn ngủi nhưng mong manh củaloài hoa này khiến người ta lưu luyến khi chia xa và vui mừng hạnh phúc khi được gặplại Đối với người Nhật Bản hoa anh đào vừa tượng trưng cho vẻ đẹp thanh cao vừa là nỗibuồn cho sự phù du và tình khiêm nhường nhẫn nhịn
Ý nghĩa của hoa anh đào:
Trang 24Người Nhật có tình cảm đặc biệt với hoa anh đào Mỗi khi mùa hoa anh đào đến,khắp đất nước Nhật Bản được phủ kín bởi màu hoa này Cả một màu hồng phấn ôm trọnlấy núi đồi tượng trưng cho một mùa đẹp nhất trong năm: Mùa hoa anh đào.
Ngoài ra, hoa anh đào còn tượng trưng cho tinh thần võ sỹ đạo (Samurai) - biếtchết một cách cao đẹp Người Nhật Bản có câu: “Nếu làm hoa, xin làm hoa anh đào, nếu
là người xin làm võ sỹ đạo” Điều đó có nghĩa là khi một võ sỹ đạo đối mặt với hiểmnguy, anh ta không run sợ trước cái chết bởi giống như hoa anh đào, anh ta sẽ tự đâmmình và gục xuống, không ngần ngại
III Hoa Mugunghwa - Quốc hoa của Hàn Quốc
Hàn Quốc (còn gọi là Đại Hàn Dân Quốc) có khá nhiều nét văn hoá đặc biệt như
áo truyền thống Hanbok, món Kim chi, nhân sâm… Và thế giới còn biết đến Hàn Quốcvới quốc hoa là Mugunghwa (thuộc loại hoa hồng Sharon)
Hoa Mugunghwa có nhiều màu: màu hồng, màu trắng, màu hồng pha tím, hoa nởmột cách thầm lặng và rất lâu vào khoảng từ đầu tháng 7 Loại hoa này gắn liền vớingười dân Hàn Quốc từ thời xa xưa nên ngoài tên Mugunghwa, người Hàn Quốc còn cókhi gọi nó là “Hoa không nghèo” Theo những bản ghi chép còn lại, từ thời cổ đại, ngườidân Triều Tiên coi loài hoa này là hoa thiên đường từ Trên thực tế, triều đại Silla đã từngđược gọi là “Đất nước của hoa Mugunghwa” Thậm chí những người Trung Quốc cổ đại
đã gọi Triều Tiên là “Mảnh đất của những con người hoà nhã, nơi hoa Mugunghwa đua
nở Tình yêu dành cho loài hoa này đã được thể hiện rõ nét khi những ca từ “Hoa hồngSharon, nở ngàn dặm trên những ngọn núi và bên những dòng sông tươi đẹp” đã được ghitrong quốc ca vào cuối thế kỷ XIX Do đó Hàn Quốc đã lựa chọn loài hoa này làm quốchoa sau khi được giải phóng khỏi ách thống trị của thực dân Nhật Bản năm 1990
Ý nghĩa của hoa Mugunghwa:
Quốc huy của Hàn Quốc mang hình bông hồng Sharon bao quanh vòng trònTaegeuk, quốc hiệu được sử dụng trong nhiều văn bản như phần đầu đề của công vănchính phủ, giấy tờ bổ nhiệm các quan chức cấp cao của chính phủ, huân chương tuyêndương của Tổng thống và các văn bản chính thức tại nước ngoài Vào năm 1963 HànQuốc đã thông qua quốc hiệu ở dạng huy hiệu hoặc được rập nổi Quốc huy của HànQuốc có hình tròn, trung tâm là hình thái cực màu lam và đỏ Xung quanh thái cực là mộtbông hoa Mugunghwa tượng trưng cho tinh thần kiên nghị, bất khuất, niềm tự hào dântộc Chính loài hoa này đã biểu tượng cho mong ước về sự phát triển không ngừng và sựthịnh vượng của quốc gia, những thử thách, đau khổ trong suốt những trang sử vẻ vangcủa nước Hàn
IV Quốc hoa của Việt Nam
Nhắc đến Việt Nam người ta nhớ đến ngay một đất nước có nền văn hoá lâu đờihàng ngàn năm văn hiến, đậm đà bản sắc dân tộc Hiện nay có rất nhiều ý kiến xoayquanh việc chọn quốc hoa cho Việt Nam Trong đó những loại hoa được nhắc đến nhiềunhất là hoa sen, cây tre, hoa đào và hoa mai
1 Hoa sen
Trang 25Là một loại hoa thanh khiết có truyền thống lâu đời nhất ở phương Đông Đây làloài thực vật sống dưới nước có nguồn gốc Á châu và chiếm giữ một vị trí cổ xưa trongtất cả các nền văn hoá đặc biêt của Phật giáo Những cánh, nhụy và gương hạt đã cấuthành một bông hoa sen có vẻ đẹp thanh thoát và màu sắc tươi sáng Gương sen là mộtcảm hứng cho các nhà nghệ sỹ và những người thợ thủ công sáng tạo những tác phẩmdiệu kỳ của mình.
Hoa sen được dùng trong nghệ thuật và trang trí của Phật giáo Ngó sen đượcdùng làm thức ăn, còn củ sen có thể ăn sống hoặc nấu chín Củ sen cung cấp nhiều tinhbột
Ở Việt Nam, hầu như vùng nào cũng có thể trồng được hoa sen Hoa sen phân bốrộng khắp trên cả nước Mỗi người dân Việt Nam không ai là không biết đến hoa sen với
vẻ đẹp diệu kỳ của nó Hoa sen đã trở thành một trong những niềm tự hào của dân tộcViệt, con người Việt Ngắm hoa sen chúng ta có thể nhận ra hình ảnh của con người ViệtNam
Nhìn vào lịch sử của hoa sen, chúng ta có thể thấy được sự gắn bó giữa văn hoáViệt, con người Việt với hoa sen Hoa sen đã trở thành biểu tượng cho rất nhiều các công
ty, các sự kiện… ở Việt Nam Việt Nam Airlines đã chọn hình ảnh bông sen làm biểutượng vẽ lên thân máy bay Đại hội thể thao Châu Á được tổ chức tại Việt Nam đã chọnhoa sen làm biểu tượng cho tinh thần Việt Nam
2 Cây tre
Tre là một nhóm thực vật có rễ ngắn, sống lâu, mọc ra những trồi gọi là măng Cảđời tre chỉ ra hoa một lần và vòng đời của nó sẽ khép lại khi tre “bật ra hoa” Cây tre gắn
bó với văn minh “làng xã” của nước ta hàng ngàn năm qua
Vốn gần gũi với đời sống con người, cây tre đã trở thành nguồn cảm hứng trongvăn học, nghệ thuật Từ những câu truyện cổ tích (Nàng Út ống tre, Cây tre trăm đốt…)đến các ca dao, tục ngữ đều có mặt của tre
Có thể thấy rằng bản lĩnh, bản sắc của người Việt và văn hoá Việt có những néttương đồng với sức sống và vẻ đẹp của cây tre đất Việt Tre không mọc riêng lẻ mà sốngthành từng luỹ, từng rặng tre Đặc điểm này tượng trưng cho tính cộng đồng của ngườiViệt Chính vì thế mà cây tre được ví như là con người Việt Nam cần cù siêng năng, bámđất, bám làng Tre cùng con người Việt Nam trải qua bao thăng trầm của lịch sử, qua baocuộc chiến tranh giữ nước Tre xứng đáng là biểu tượng cho tính kiên cường, bất khuấtcủa con người Việt Nam, cho cái đẹp Việt Nam
Trang 26TÌM HIỂU VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT
ĐỂ PHỤC VỤ XÂY DỰNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI XÃ BÍCH HOÀ, THANH OAI, HÀ TÂY)
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Chu Du
Góp phần tích cực giải quyết việc làm cho người nông dân
1.3 Hướng nghiên cứu của đề tài nhằm
Tìm hiểu về việc làm của người nông dân
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Mô tả thực trạng việc làm của người dân
3 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu việc làm của người nông dân sau khi bị thu hồi đất để phục vụ choxây dựng các cụm công nghiệp
3.1 Khách thể nghiên cứu
Các hộ gia đình thuộc xã Bích Hoà - Thanh Oai - Hà Tây
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu khảo sát: từ tháng11/2007 đến tháng 2/2008
3.3 Mẫu nghiên cứu: chọn 100 khách thể để nghiên cứu.
4 Cơ sở phương pháp luận
Đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử; Hệ phương pháp nghiên cứu;Phương pháp quan sát; Phương pháp phân tích tài liệu; Phương pháp phỏng vấn
5 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
5.1 Giả thuyết nghiên cứu
Trang 27Quá trình công nghiệp hoá đã làm thay đổi khá nhiều đời sống của người nôngdân.
5.2 Khung lý thuyết
B NỘI DUNG
1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên tỉnh Hà Tây
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện Thanh Oai
2 Sự chuyển dịch cơ cấu lao động ở Xã Bích Hoà
Số người làm ruộng giảm xuống đáng kể từ 80% chỉ còn 20% Người làm buônbán tự do đã tăng lên nhanh chóng từ 5% lên 20%, những người làm thuê cũng tăng lênđáng kể từ 2% lên 10% Bên cạnh đó là tỷ lệ người chuyển sang làm công nhân cũng tăng
Chính sáchthu hồi đất
Sự hỗ trợ củachính quyềnđịa phương
Cơ cấuviệc làm
Độ tuổi
Trình độ chuyênmôn kỹ thuật
Trình độ học vấn
Sử dụng tiền đền bù
Điều kiện kinh tế xã hội
Trang 28lên mạnh mẽ từ 3% lên 20% Và ngoài ra các lĩnh vực khác cũng có sự chuyển dịch về cơcấu lao động nhưng cũng không cao.
2.1 Sự thay đổi về trình độ chuyên môn kỹ thuật
Chúng ta có thể thấy số người được tạo nghề mới sau quá trình công nghiệp hoákhông đáng kể chỉ tăng lên 15%
2.2 Sự chuyển đổi việc làm thể hiện qua mức sống
Đã có đến 70% người được hỏi cho rằng cuộc sống của mình trước khi thu hồi đất
là khó khăn trong cuộc sống, 25% cho rằng đời sống của mình thuộc diện khá giả tronglàng và chỉ có 2% tự nhận thấy cuộc sống của mình thuộc diện giàu có trong làng
- Về mặt nhận thức của người dân:
Vì nhận thức của người dân về quá trình đô thị hoá nông thôn còn chưa cao nênkhả năng để có được một việc làm là rất khó có thể thực hiện
- Yếu tố trình độ học vấn
Qua điều tra chúng tôi thấy rằng đến 80% cho rằng chỉ những người đã họchết cấp 3 mới có thể có được một công việc ổn định
- Yếu tố trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề
Người dân nơi đây đã có trình độ học vấn thấp điều đó tất yếu dẫn đến trình
độ chuyên môn về kỹ thuật cũng không có Nhưng sau khi thu hồi đất trình độchuyên môn kỹ thuật cũng không được cải thiện
- Yếu tố tuổi
Bên cạnh đó tuổi tác càng cao thì khả năng thất nghiệp càng lớn
- Vai trò của chính quyền địa phương: nhưng một kết quả cho thấy rằng số
lượng người dân có nghề nghiệp từ việc giới thiệu của chính quyền là không nhiều
2.3 Phân hoá giầu nghèo và các tệ nạn xã hội nảy sinh
Cùng với trình độ học vấn thấp và thiếu tay nghề và thiếu vốn liếng làm ăn nhưchúng ta thấy ở bảng trên thì sự phân hoá giầu nghèo là điều sẽ không thể tránh khỏi
Một điều đáng quan tâm trong xã hội hiện nay đó chính là các tệ nạn xã hội đangdiễn ra tại địa bàn nghiên cứu
3 Kết luận
Để hoàn thành được mục tiêu tổng quát đó mỗi địa phương phải cố gắng thuhút vốn đầu tư nước ngoài, trong nước… nhằm nâng cao tỷ trọng của công nghiệp,dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của tỉnh mình
Giải pháp
- Đối với nguyên nhân từ phía chính sách
- Đối với nguyên nhân từ người dân
- Chính quyền các cấp nên phát triển các trung tâm đào tạo nghề
Trang 29Khuyến nghị
- Đối với Nhà nước
- Đối với chính quyền địa phương
- Đối với người dân
Trang 30QUAN ĐIỂM NHÂN HỌC CỦA XÔCRÁT
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Ngọc Diệp
1 Khái quát quan niệm về con người trong triết học
Nhân học triết học là một lĩnh vực tri thức triết học chuyên nghiên cứu con người.Trọng tâm của nhân học triết học là cái đặc trưng phổ biến của con người, nhân học triếthọc xem xét con người như một dạng hiện tồn tại đặc biệt, hiện hữu, khác với mọi thựcthể khác Cho dù triết học có quan tâm tới vấn đề gì, cho dù các đối tượng nào đó có rơivào nhãn quan của nó thì triết học vẫn luôn hướng sự chú ý của mình vào con người
2 Hoàn cảnh xuất hiện quan nhân học triết học Xôcrat
* Tiền đề chính trị, xã hội, văn hóa:
- Nền dân chủ Aten được coi là hình thức hoàn thiện của lối tổ chức cai trị dânchủ trong nhà nước chiếm hữu nô lệ
- Nền văn hóa với tính đa dạng, muôn vẻ, xu hướng nhân bản và tự do, thể hiệntrong văn chương, nghệ thuật, khoa học và các bộ phận cấu thành Các sáng tác thôngqua các vị thần và anh hùng đã khắc họa cuộc đấu tranh không mệt mỏi của con ngườichống lại sức mạnh của tự nhiên, những thế lực ác độc và tôn vinh cái đẹp chân chính và
sự quả cảm
* Trên lĩnh vực triết học.
- Các nhà triết học đi sâu chủ yếu vào vấn đề căn nguyên của thế giới để xem xét,
lí giải các vấn đề của tự nhiên, của xã hội và tư duy Tri thức thời kì này chủ yếu dựa trênnhững nhận thức kinh nghiệm, trực quan, cảm tính, những quan sát trực tiếp Nhưng vấn
đề con người vẫn chưa được quan tâm thoả đáng Triết học Xôcrat đã cố gắng khắc phục
sự phiến diện và hụt hẫng của truyền thống, nhận thức lại vấn đề thiên chức của triết học
Chương II: Quan niệm về con người trong triết học Xôcrat
1 Cuộc đời và sự nghiệp của Xôcrat
Xôcrat (469 – 399) là một trong những nhà tư tưởng nổi tiếng thời cổ đại, “là mộtbước ngoặt lịch sử vĩ đại” trong triết học Hy Lạp cổ đại
2 Quan điểm nhân học độc đáo của Xôcrat.
Xôcrat là nhà triết học đầu tiên đã đặt con người, mục đích tồn tại của con người,các đặc điểm của bản tính con người vào trung tâm suy nghĩ của mình Quan niệm “Hãy
Trang 31tự biết lấy chính mình” đã được Xôcrat gắn chặt với triết học nhân bản, xoay quanh nhậnthức cá nhân của con người, hay nói cách khác, đó là sự tự ý thức của chủ thể nhận thức.
- Học thuyết đạo đức gồm 3 bộ phận: Học thuyết về phúc lợi (kiềm chế, dũng
cảm và sự công bằng), về các đức hạnh và về các nghĩa vụ
Xôcrat coi phúc lợi là cái qui định mục đích cuộc sống của con người, là cái mà
con người cần hướng tới để trở thành người hạnh phúc Phúc lợi (điều tốt) là thoả mãn,hài lòng còn cái ác là khổ đau
Còn đức hạnh là những phẩm chất tích cực của con người, là cái hoàn toàn khác
với những khuyết tật mà con người không thể tránh khỏi Để đạt tới phúc lợi, con ngườicần phải có những phẩm chất cụ thể, những đức hạnh: những sự kiềm chế (tự chủ), sự
dũng cảm và sự công bằng Ba đức hạnh này, theo Xôcrat cộng lại chính là sự thông thái.
Sự thông thái là đức hạnh nói chung và thể hiện ở khả năng phân biệt cái tốt với cái xấu,
cái hữu ích với cái vô ích
Các nghĩa vụ là luật mà con người có lí tính cần phải tuân theo Hiểu luật có
nghĩa là hiểu mối liên hệ của nó với phúc lợi (hạnh phúc) và các đức hạnh
Xôcrat cố gắng xây dựng một học thuyết hoàn chỉnh về con người và bản tính conngười từ quan niệm độc đáo về tâm hồn con người, về giá trị cuộc sống của con người.Xôcrat cho rằng cội nguồn của cái ác là sự không có tri thức và sự không có tri thức làsản phẩm của tình trạng tâm hồn hỗn loạn, của việc lí tính không có khả năng khắc phụcnhững dục vọng Với Xôcrat thì cái ác và sự không có tri thức là đồng nhất Và với ông,nếu con người hiểu biết (có tri thức) về một cái gì đó mà họ cho là cái ác, cái chỉ đem lại
cho họ điều xấu xa thì họ sẽ không làm điều đó Do vậy, nghĩa vụ của nhà triết học cũng như nghĩa vụ của bất kì ai có tư duy là ở chỗ, giúp đỡ người khác trải qua con đường nhận thức có lôgic và phúc lợi, đức hạnh và nghĩa vụ để hướng tới một cuộc sống đức hạnh.
Coi quan điểm về sự chế định trực tiếp về mặt lôgic của đạo đức bởi tri thức màXôcrat xây dựng và bảo vệ là thuyết chủ trí đạo đức học (Nội dung: đức hạnh luôn là trithức, khuyết tật luôn là sự dốt nát, không ai có thể mắc tội một cách có ý thức mà chỉ làmcái ác vì không có tri thức)
B KẾT LUẬN
Triết học Xôcrat là một bước ngoặt trong lịch sử phát triển tư tưởng triết họcphương Tây cổ đại với việc coi con người là trung tâm của các vấn đề thế giới quan “biểutượng của triết học”(C.Mác) Quan niệm này của Xôcrat đã góp phần vào mục tiêu coicon người là xuất phát điểm, là mục đích tối cao của mọi thứ, tất cả phải cho con người
và vì con người Với những lí do đã trình bày ở trên, Xôcrat xứng đáng được coi là ngườiđặt nền móng, ông tổ của nhân học triết học, làm nền tảng cho các quan niệm nhân họctriết học sau này
Trang 32NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN K51, K52 TRƯỜNG ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
VỀ MÔ HÌNH ĐÀO TẠO TÍN CHỈ
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc Dung, Tân Thị Thanh
Nguyễn Thị Hà, Hoàng Thị Mai Yên
Giáo viên hướng dẫn: ThS Cam Anh Tuấn
A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Học chế tín chỉ là hình thức đào tạo tiên tiến trên thế giới, cho phép người học chủđộng trong việc tiếp thu kiến thức Việc chuyển mô hình đào tạo từ niên chế sang học chếtín chỉ đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới Trong xu thế chung đó, đào tạo đạihọc ở Việt Nam không thể hội nhập quốc tế nếu không triển khai, tổ chức theo học chếnày Chính vì vậy, ngay từ năm học 2001-2002, Bộ Giáo dục- Đào tạo đã khuyến khíchcác trường đại học, cao đẳng thực hiện theo hình thức này Đối với Đại học Quốc gia HàNội nói chung và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn nói riêng, đây là nămhọc đầu tiên chúng ta áp dụng mô hình đào tạo này Kết quả thực hiện mô hình này phụthuộc rất nhiều yếu tố, trong đó một yếu tố quan trọng là nhận thức của sinh viên về môhình đào tạo này Bản thân chúng tôi cũng là những sinh viên đang trực tiếp được đào tạotheo mô hình tín chỉ Với mong muốn tìm hiểu những vấn đề xoay quanh mô hình đào tạo
này, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Nhận thức của sinh viên K51, K52 Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn về mô hình đào tạo tín chỉ” làm báo cáo nghiên cứu
khoa học năm học 2007-2008
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến mô hình đào tạotín chỉ và nhận thức của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn về môhình đào tạo này
Đối tượng khảo sát là sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai của Trường Đại họcKhoa học Xã hội và Nhân văn - những người đang trực tiếp được đào tạo theo mô hìnhhình tín chỉ
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Với mục tiêu góp phần thúc đẩy việc triển khai mô hình đào tạo theo tín chỉ ởTrường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn một cách triệt để, đồng thời giúp sinh viên
có được nhận thức đầy đủ hơn, rõ ràng hơn về mô hình đào tạo tín chỉ, đề tài nghiên cứucủa chúng tôi tập trung tìm hiểu những vấn đề cụ thể sau :
- Khái quát chung về mô hình đào tạo tín chỉ
- Thực trạng nhận thức của sinh viên K51, K52 của Trường Đại học Khoa học Xãhội và Nhân văn về mô hình đào tạo tín chỉ
Trang 33- Đánh giá, kiến nghị và đề xuất biện pháp giúp sinh viên có được nhận thức đầy
đủ, rõ ràng hơn về mô hình tín chỉ
4 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Do đây là năm đầu tiên áp dụng mô hình đào tạo tín chỉ ở Trường Đại học Khoahọc Xã hội và Nhân văn, vì vậy chưa có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đềnày Trong khi đó, qua nghiên cứu các báo cáo khoa học và khoá luận tốt nghiệp, chúngtôi thấy ít bài có nội dung nghiên cứu hướng tới đề tài này Hiện nay, vấn đề này lại cóảnh hưởng lớn đến chất lượng giảng dạy, nhận thức và kết quả học tập của sinh viên Vìvậy, chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu này
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã dựa trên những nguồn tư liệu: sách báo, giáotrình, tạp chí, mạng internet, các bài luận và các công trình nghiên cứu có liên quan đếnvấn đề này
Những phương pháp nghiên cứu mà chúng tôi sử dụng để thực hiện đề tài nàybao gồm: phương pháp logic, phương pháp hệ thống hoá tư liệu, phương pháp phân tích
và tổng hợp, đăc biệt là phương pháp khảo sát thực tế (lập bảng hỏi, phiếu điều tra)
6 Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, báo cáo của chúng tôi được chia làm bachương :
- Chương I: Khái quát chung về mô hình đào tạo tín chỉ.
- Chương II: Thực trạng nhận thức của sinh viên K51, K52 về mô hình đào tạo tín
Mô hình đào tạo tín chỉ là mô hình sử dụng tín chỉ làm đơn vị căn bản để đokhối lượng kiến thức và đánh giá kết quả học tập của sinh viên; là mô hình được đổi mới
về nội dung, giáo trình, phương pháp dạy và học, đổi mới các phương tiện và hình thứctriển khai trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các phương pháp truyền thống, vậndụng phương pháp dạy và học tiên tiến
2 Ưu điểm và hạn chế của mô hình đào tạo tín chỉ
Trang 34+ Ưu điểm:
Nâng cao hiệu quả đào tạo
Có tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao
Tăng cường vai trò tổ chức, hướng dẫn, định hướng, điều khiển của giáo viên đốivới hoạt động học, hoạt động tư duy, sáng tạo, rèn luyện kĩ năng cho sinh viên
Đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo
+ Hạn chế :
Khó tạo nên sự gắn kết trong sinh viên
Chương trình học bị xé lẻ
Không hiệu quả đối với các sinh viên thụ động
3 Lịch sử hình thành và phát triển của mô hình đào tạo tín chỉ
Mô hình đào tạo tín chỉ là một sản phẩm trí tuệ sáng tạo của người Mĩ Ý tưởng
về một nền giáo dục đại học cho số đông người (đại chúng) nảy sinh lần đầu tiên vào cuốithế kỉ XIX
Năm 1872, Charle Eliot, Viện trưởng Viện Đại học Harvard đã đề xuất một quytrình đào tạo mới gọi là giải pháp môđun hoá các môn học (học chế tín chỉ) được cungcấp trong trường đại học Quy trình đào taon này nhằm mục đích để sinh viên có thể lựachọn một tổ hợp môn học thích hợp cấu thành một chương trình đào tạo để có thể nhậnđược văn bằng tốt nghiệp Ngày nay, mô hình đào tạo theo tín chỉ được áp dụng rộng rãi
ở nhiều nước trên thế giới
Chương 2: Thực trạng nhận thức của sinh viên K51, K52 về mô hình đào tạo tín chỉ
1 Thực trạng của việc áp dụng mô hình đào tạo tín chỉ ở Việt Nam và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHn
1.1 Thực trạng của việc áp dụng mô hình đào tạo tín chỉ ở Việt Nam
Ở Việt Nam, việc chuyển đổi từ mô hình đào tạo theo niên chế sang mô hình đàotạo theo tín chỉ được thực hiện đầu tiên ở Đại học Bách Khoa - thành phố Hồ Chí Minh.Sau đó là Đại học Đà Lạt, Đại học Cần Thơ, Đại học Thủy sản Nha Trang…
Cũng như các trường đại học khác trong cả nước, thực hiện chủ trương chuyển từ
“niên chế” sang “tín chỉ”, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng hưởng ứng và đi vào thực hiện.Sau khi nhận được chủ trương của Chính phủ, bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng đơn vịđào tạo Đại học Quốc gia Hà Nội đã được ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-KĐCngày 13/12/2004 của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội Trường Đại học Khoa học Xãhội và Nhân Văn là một bộ phận trong hệ thống các Đại học Quốc gia Hà Nội Thực hiệnchủ trương trên, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn bắt đầu áp dụng mô hìnhđào tạo theo tín chỉ từ năm học 2007-2008
1.2 Lộ trình thực hiện mô hình đào tạo tín chỉ ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN
Trang 35Ngày 24 tháng 9 năm 2007, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã
ban hành Quyết định số 2345QĐ/XHNV-ĐT về việc áp dụng mô hình đào tạo tín chỉ Bắt
đầu từ năm học 2007-2008, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn nói riêng và
các trường trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội nói chung đã áp dụng việc đào tạo theo
tín chỉ thay thế cho việc đào tạo theo niên chế như trước kia
2 Thực trạng nhận thức của sinh viên K51 và K52 về mô hình đào tạo tín chỉ
2.1 Cách thức tiến hành
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát nhận thức của sinh viên về mô hình đào tạo theo
tín chỉ thông qua phương pháp điều tra bảng hỏi
Tổng số phiếu phát ra là 250 phiếu
Tổng số phiếu thu về là 231 phiếu
Cấu trúc bảng hỏi:
Bảng hỏi được thiết kế phục vụ nghiên cứu gồm 2 nhóm vấn đề sau:
+ Thứ nhất là vấn đề nhận thức của sinh viên về mô hình đào tạo tín chỉ
+ Thứ hai là vấn đề phương pháp học tập của sinh viên khi học theo mô
Câu 2: Theo bạn,
mô hình đào tạo
theo tín chỉ là?
62,77%: là mô hình đổi mới nội dung, giáo trình, phương pháp dạy
và học, đổi mới các phương tiện
và hình thức triển khai phương pháptrên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các phương pháp truyền thống và vận dụng một số phương pháp dạy
và học tiên tiến
5,63%: Mô hình
sử dụng đơn vị học trình là đơn
vị cơ bản để đo khối lượng kiến thức và đánh giá kết quả học tập của sinh viên
12,12%: là hìnhthức đào tạo tiên tiến trên thế giới, giúp việc đánh giá kết quả sát thực
tế hơn nhưng làm cho người học trở nên thụ động hơn
13,42%: mô hình sử dụng tínchỉ là đơn vị căn bản để đo lượng kiến thức
và đánh giá kếtquả học tập của sinh viên
Trang 36khối lượng kiến
của sinh viên theo
mô hình đào tạo
tín chỉ?
6,93%: cơ sở vật chất (phòng đọc, phòng học, học liệu…)
3,46%: phương pháp và kiến thứccủa giảng viên
18,61%: tính chủ động của người học
71,0%: tất cả các phương án trên
18,18%: lên lớp nghe giảng, ghi chép bài
vai trò của thầy cô
trong mô hình đào
tạo theo tín chỉ?
58,61%: là người cung cấp phương pháp tiếp cận kiến thức
3,46%: là người cung cấp kiến thức
38,53%: cả hai phương án trên
Trên đây là số liệu thống kê được của 7 câu hỏi đóng Ngoài ra còn có 3 câu hỏi
mở là:
Câu 3: Theo bạn, mô hình đào tạo theo tín chỉ có ưu điểm gì?
Câu 4: Theo bạn, mô hình đào tạo theo tín chỉ có nhược điểm gì?
Câu 10: Bạn có kiến nghị gì với Khoa, với Trường về mô hình đào tạo nàykhông?
Chương III Kết luận và kiến nghị
1 Nhận xét
- Sinh viên hiểu về mô hình đào tạo tín chỉ, nhưng hiểu chưa đầy đủ, sâu sắc về
mô hình này Các bạn sinh viên đã thấy được ưu điểm, nhược điểm của mô hình này
- Đa số sinh viên đều nhận thức được vai trò của thầy cô trong mô hình đào tạo tínchỉ Thầy cô chỉ có vai trò hỗ trợ, cung cấp phương pháp tiếp cận kiến thức, giúp sinhviên xác định được mục đích của toàn bộ quá trình học tập
- Một số sinh viên đã tìm ra phương pháp học tập riêng cho mình để phù hợp với
mô hình đào tạo tín chỉ Song nhiều sinh viên chưa đưa ra được mục tiêu và phương pháphọc tập đúng đắn nên kết quả đạt được chưa cao
2 Kiến nghị
Trang 37- Đối với nhà trường:
+ Tăng cường hướng dẫn, trao đổi phương pháp
+ Hoàn thiện cơ sở vật chất: tài liệu, giảng đường, máy chiếu
+Thiết kế khoa học thời khoá biểu cho sinh viên
+Nghiên cứu cách đánh giá việc học của sinh viên cho sát với thực tế
- Đối với khoa:
+ Tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ giảng dạy
+ Bổ sung các nguồn tài liệu chuyên ngành
- Đối với sinh viên:
+ Chủ động tìm hiểu về mô hình đào tạo này
+ Chủ động hơn nữa trong việc tiếp thu kiến thức được học
+ Lập kế hoạch học tập cho bản thân một cách khoa học nhất
Trang 38KHẢO SÁT VÀ DỊCH CHÚ HỆ THỐNG ĐẠI TỰ - CÂU ĐỐI
TẠI VĂN MIẾU QUỐC TỬ GIÁM HÀ NỘI
Sinh viên thực hiện: Lê Phương Duy
Người hướng dẫn: ThS Đinh Thanh Hiếu
A MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài, lịch sử vấn đề
Với vị trí và ý nghĩa lịch sử mang tầm vóc lớn lao, Văn miếu - Quốc tử giám HàNội đã và đang trở thành một trung tâm nghiên cứu thu hút các học giả trong và ngoàinước dưới nhiều lĩnh vực như: Lịch sử và ý nghĩa của Văn miếu - Quốc tử giám, giáodục và khoa cử truyền thống Việt Nam, văn bia tiến sĩ… Trong đó việc tìm hiểu về hệthống đại tự - câu đối tại Văn miếu- Quốc tử giám cũng là một đề tài đáng được quantâm
Trước đây, việc nghiên cứu, tìm hiểu về hệ thống đại tự câu đối tại Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội đã được giới thiệu một cách khái quát và nằm rải rác trong các sáchbáo, tạp chí, tập san, đề tài nghiên cứu… mà chúng ta có thể kể đến như: Cuốn sách “Vănmiếu - Quốc tử giám - Thăng Long - Hà Nội” do Trung tâm hoạt động văn hóa khoa họcVăn miếu - Quốc tử giám xuất bản năm 2000; “Văn miếu - Quốc tử giám ở Thăng Long -Trung tâm giáo dục Nho học cao cấp” nằm trong cuốn “Một số vấn đề về Nho giáo ViệtNam” do giáo sư Phan Đại Doãn chủ biên hay trong mảng giới thiệu về Văn miếu - Quốc
-tử giám cuốn “Giáo trình Hán Nôm dành cho du lịch” của Phó giáo sư - tiến sĩ Phạm
Văn Khoái… Nhìn chung, các tác phẩm kể trên đã giới thiệu một cách khái quát, ngắngọn về hệ thống đại tự - câu đối tại Văn miếu - Quốc tử giám Hà Nội, nhưng đó chỉ lànhững phần, những mục nhỏ nằm trong một chuyên đề chung Bởi vậy cho tới nay, vẫnchưa có một đề tài nào nghiên cứu một cách đầy đủ, chi tiết với việc chú giải cặn kẽ về hệthống đại tự - câu đối tại Văn miếu - Quốc tử giám Hà Nội
II Phạm vi tài liệu và phương pháp nghiên cứu
1 Phạm vi tài liệu
a) Tài liệu khảo sát
Chúng tôi khảo cứu cuốn Nhĩ Hoàng di ái lục (yêu thương để lại Nhĩ Hoàng) kíhiệu VHv.1435 tại Thư viện Hán Nôm (in năm Kỷ Tỵ 1869 tại Trí Trung đường Hà Nội)
vì trong tài liệu này ghi lại một số vấn đề có liên quan tới công việc nghiên cứu Tácphẩm do Hoàng Trung Đặng Huy Trứ (Khâm phái thương biện tỉnh vụ Hà Nội) viết vềngười bác là Lễ Trai - Đặng Văn Hòa (1791-1856) cùng người anh trai họ tác giả là án sátLương Hiên Đặng Huy Tá và Tổng đốc Tôn Thất Hàn, Bố chính Hà Nội Lê Hữu Thanh
đã có một số việc làm công đức đối với Văn miếu - Quốc tử giám Hà Nội
Qua đó chúng tôi đã tìm thêm được ba đôi câu đối ở nhà bia Văn Miếu (một nay
đã mất) và đại tự- câu đối ở Văn Hồ đình (nay đều đã mất) và khảo đính lại nội dung mộtđôi câu đối ở nhà bia Văn miếu hiện nay
Trang 39b) Tài liệu dịch chú
Nội dung đại tự - câu đối tại Văn miếu - Quốc tử giám Hà Nội tập trung ca ngợi,
đề cao Nho giáo, vai trò và tầm vóc của thánh nhân đặc biệt là Khổng Tử nên những chữ,những điển trong đó chủ yếu được sử dụng hoặc trích dẫn từ những thư tịch, kinh điểncủa Nho gia Điều đó buộc chúng tôi phải tra cứu tham khảo nhưng kinh điển, thư tịch cóliên quan Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo thêm một số tài liệu có liên quan tới nhữngvấn đề về Triết học, tư tưởng Nho giáo và những bản dịch về đại tự câu đối tại Văn miếu
- Quốc tử giám Hà Nội nhằm phục vụ cho việc dịch thuật được nhuần nhuyễn chính xác
2 Phương pháp nghiên cứu
Trong bài báo cáo khoa học này, chúng tôi chủ yếu sử dụng những phương phápnghiên cứu như: khảo sát, đối chiếu, dịch, bổ chú, thống kê… Ngoài ra các phương phápnghiên cứu thông thường như: miêu tả, diễn dịch, quy nạp, phân tích, so sánh cũng đượcdùng trong báo cáo
III Đóng góp của đề tài
Qua bản báo cáo này, chúng tôi muốn cung cấp một tài liệu tương đối đầy đủ và
kỹ lưỡng về hệ thống đại tự - câu đối tại Văn miếu- Quốc tử giám Hà Nội nhằm phục vụsinh viên chuyên ngành và những đối tượng muốn tìm hiểu
Việc khảo cứu cuốn Nhĩ Hoàng di ái lục đã giúp chúng tôi tìm thêm một số câuđối tại Nhà bia và Văn Hồ đình hiện đã không còn Trong đó chúng tôi đã khảo đính lạicâu đối ở nhà bia bên trái (xem phần nội dung)
Với việc chú giải tương đối kĩ lưỡng chúng tôi muốn giúp người đọc có thể hiểuđược một cách chính xác, cặn kẽ những đại tự và câu đối đó, đồng thời cung cấp thêmnhững kiến thức có liên quan tới các lĩnh vực Triết học, tư tưởng được trích dẫn từ cáckinh điển, thư tịch nổi tiếng
B NỘI DUNG
Chương I: Tổng quan về Văn miếu - Quốc tử giám
Nội dung của chương này tập trung vào 2 vấn đề: sơ lược lịch sử và kiến trúc.Văn miếu Hà Nội - Trung tâm Nho học lón nhất của Việt Nam được xây dựngvào năm 1070 dưới triều vua Lý Thánh Tông
Năm Nguyên Phong thứ 3 (1253) Trần Thái Tông xuống chiếu lập Quốc học viện,
tô tượng Chu Công, Khổng Tử, Á Thánh
Đến thời Lê, Nho giáo toàn thịnh được coi là quốc giáo Năm Hồng Đức thứ 14(1483) thực hiện đợt đại trùng tu Văn miếu - Quốc tử giám
Hồng Thuận thứ 3 (1511), Lê Tương Dực sai Nghĩa Quận Công Nguyễn VănLong tu sửa điện Sùng Nho ở Quốc tử giám, làm hai nhà dải vũ, sáu nhà Minh luân, nhàbếp, nhà kho Làm mới hai nhà bia bên đông và bên tây
Năm Vĩnh Thọ thứ năm (1662), vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tạc chuẩn y lờitâu của bộ Lễ xin cho tu sửa Quốc tử giám Lê Thần Tông giao cho Tham tụng lễ bộ
Trang 40thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ Yên quận công Phạm Công Trứ lo liệu toàn bộcông việc trùng tu.
Tháng 9 năm Cảnh Hưng thứ 23 (1762), chúa Trịnh Doanh cho tu sửa Quốc tửgiám
Đến thời nhà Nguyễn, Văn miếu - Quốc tử giám cũng được trùng tu và bổ sungthêm Khuê Văn các (1805) và Điện Khải Thánh Năm 1863 tức năm Tự Đức thứ 16 Bốchính Hà Nội là Lê Hữu Thanh cùng án sát Lương Hiên - Đặng Huy Tá và Tổng đốc TônThất Hàn xây dựng lại hai dãy nhà bia Đến năm Ất Sửu (1865) tức năm Tự Đức Thứ 18,
Án sát Lương Hiên Đặng Huy Tá mở rộng Văn Hồ và cho xây Văn Hồ đình trên đảo KimChâu
Từ đó tới nay, Văn miếu - Quốc tử giám lần lượt trải qua các những đợt trùng tu
và xây dựng lớn Xứng đáng là trung tâm văn hóa lớn của đất Thăng Long - Hà Nội
Về kiến trúc, chúng tôi giới thiệu sơ lược hệ thống kiến trúc tại Văn miếu - Quốc
tử giám