Luận văn tiến sĩ tình hình song ngữ khmer việt tại đồng bằng sông cửu long – một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_
ĐINH LƯ GIANG
TÌNH HÌNH SONG NGỮ KHMER-VIỆT TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
LUẬN ÁN TIẾN SỸ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_
ĐINH LƯ GIANG
TÌNH HÌNH SONG NGỮ KHMER-VIỆT TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận án
Đinh Lư Giang
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Để có thể hoàn thành luận án này, chúng tôi đã nhận được sự hướng dẫn khoa học, sự giúp đỡ, những trao đổi học thuật và sự động viên của nhiều thầy cô, đồng nghiệp, cộng tác viên, bạn bè cũng như gia đình
Trước hết, chúng tôi xin bày tỏ lòng cảm tạ sâu sắc nhất đến GS.TS Bùi Khánh Thế, người Thầy đã nhiều năm hướng dẫn khoa học, chỉ bảo cho chúng tôi trong nghiên cứu cũng như trong cuộc sống
Chúng tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Đinh Lê Thư và PGS.TS
Võ Công Nguyện đã tạo điều kiện cho chúng tôi được tham gia các công trình khoa học của các Thầy Cô về các vấn đề giáo dục và dân tộc học Khmer Nam Bộ và qua
đó học hỏi được nhiều điều để tiến hành viết luận án
Chúng tôi bày tỏ lòng cảm ơn đến hai giáo sư phản biện độc lập GS.TS Nguyễn Văn Khang và PGS Đào Thản, đã đọc và góp ý những ý kiến quan trọng cho bản luận án này
Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả các Thầy Cô trong hội đồng đánh giá cấp đơn vị tại trường ĐHKHXH và NV (ĐHQG TP HCM), các thầy cô đã giảng dạy cho chúng tôi, các bạn bè đồng nghiệp ở Việt Nam và nước ngoài đã quan tâm, trao đổi khoa học, cung cấp tư liệu Đặc biệt, nếu không có sự giúp đỡ của các cộng tác viên và chính quyền các địa phương Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang mà chúng tôi không thể kể hết được tên ở đây, thì luận án của chúng tôi sẽ không thể hoàn thành
Trang 5QUY ƯỚC VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU PHIÊN ÂM
1 Ký hiệu phiên âm: Để tiện theo dõi và in ấn, ở một số nội dung trong luận án, một số chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt sẽ được dùng để thay thế cho ký hiệu phiên âm quốc tế, cụ thể như sau:
Ký hiệu nguyên âm:
Trang 6CPC = Cămpuchia
CTV = cộng tác viên
ĐBSCL = đồng bằng sông Cửu Long
Trang 7MỤC LỤC
DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 9
2 Tính cấp bách, cần thiết, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 9
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 10
5 Cơ sở lý luận 14
6 Phương pháp nghiên cứu 14
7 Cấu trúc luận án 17
Chương 1: BỐI CẢNH TIẾP XÚC NGÔN NGỮ KHMER-VIỆT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 19
1.1 Ngôn ngữ học tiếp xúc 19
1.1.1 Các định nghĩa và khái niệm 19
1.1.2 Các lĩnh vực nghiên cứu của Ngôn ngữ học tiếp xúc 21
1.1.3 Các hệ quả của tiếp xúc ngôn ngữ 22
1.2 Bối cảnh tiếp xúc ngôn ngữ KV ở ĐBSCL 25
1.2.1 ĐBSCL và cộng đồng dân tộc Khmer 25
1.2.2 Các trường hợp nghiên cứu điển hình 32
1.2.3 Tiếng Việt, tiếng Khmer và sự phát triển quy tụ của các ngôn ngữ Đông Nam Á 38
1.3 Xác định cảnh huống tiếng Khmer ở ĐBSCL 48
1.3.1 Tiêu chí phân loại 48
1.3.2 Các loại hình cảnh huống ngôn ngữ 49
1.3.3 Loại hình của cảnh huống tiếng Khmer 51
1.4 Tiểu kết chương 53
Trang 8Chương 2: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CỘNG ĐỒNG SONG NGỮ
KHMER-VIỆT Ở ĐBSCL 55
2.1 Các môi trường song ngữ ở ĐBSCL 55
2.1.1 Môi trường song ngữ về mặt địa lý 55
2.1.2 Môi trường song ngữ về mặt xã hội 57
2.2 Phân loại người Khmer về mặt song ngữ 63
2.2.1 Phương pháp và tiêu chí phân loại 64
2.2.2 Kết quả phân loại 67
2.2.3 Khuynh hướng phát triển của các nhóm người Khmer song ngữ 73
2.2.4 Người Khmer song ngữ nhìn từ một số tham tố xã hội 75
2.3 Phân loại vùng địa lý về mặt song ngữ 78
2.3.1 Các tiêu chí và phương pháp phân loại 78
2.3.2 Kết quả phân vùng và một số đặc điểm vùng song ngữ KV 79
2.4 Vị thế và việc sử dụng các ngôn ngữ trong cộng đồng song ngữ 82
2.4.1 Vị thế ngôn ngữ và các lĩnh vực giao tiếp 82
2.4.2 Sự phân công chức năng tiếng Việt và tiếng Khmer 85
2.5 Tiểu kết chương 91
Chương 3: MỘT SỐ HỆ QUẢ CỦA SỰ TIẾP XÚC NGÔN NGỮ KHMER-VIỆT Ở ĐBSCL 92
3.1 Các cơ sở lý thuyết và phân biệt 92
3.1.1 Khái niệm “mã” 92
3.1.2 Một số hiện tượng về mã qua tiếp xúc ngôn ngữ 93
3.1.3 Một số hiện tượng về biến đổi ngôn ngữ qua tiếp xúc 95
3.1.4 Một số phân biệt giữa các khái niệm 96
3.2 Chọn mã và luân phiên mã ở song ngữ KV 99
3.2.1 Chọn mã, vay mượn và sao phỏng trong tiếng Khmer 99
3.2.2 Chuyển mã 113
3.3 Giao thoa KV 122
Trang 93.3.1 Giao thoa thanh điệu tiếng Việt của người Khmer 123
3.3.2 Lỗi chính tả của học sinh Khmer 131
3.4 Tiểu kết chương 135
Chương 4: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH VÀ GIÁO DỤC SONG NGỮ KHMER-VIỆT Ở ĐBSCL 137
4.1 Chính sách ngôn ngữ đối với dân tộc Khmer 137
4.1.1 Tình hình nghiên cứu và chính sách ngôn ngữ dân tộc của Việt Nam 137
4.1.2 Chính sách ngôn ngữ cho vùng song ngữ KV 143
4.2 Giáo dục song ngữ KV 156
4.2.1 Một số kiểu loại giáo dục song ngữ 158
4.2.2 Tình hình giáo dục song ngữ KV hiện nay 160
4.2.3 Giáo dục tiếng Việt cho đồng bào Khmer 166
4.2.4 Vài lưu ý về việc học và viết chữ Khmer 169
4.3 Tiểu kết chương 176
KẾT LUẬN 178
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 185
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 200
PHỤ LỤC 201
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự cộng cư lâu đời và hoà hợp giữa hai dân tộc Việt và Khmer cũng như sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Khmer đã tạo nên tình hình song ngữ KV tại nhiều khu vực ở ĐBSCL với các kiểu loại người, các vùng song ngữ khác nhau, cũng như những biến đổi, phát triển của hai ngôn ngữ trong tiếp xúc Trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia, nhất là quốc gia đa dân tộc như Việt Nam, từ ngôn ngữ, đến giáo dục, đến phát triển xã hội là con đường mà các nhà làm chính sách cần phải tính đến, và ba yếu tố này cũng tạo nên một tam giác tương hỗ Đề tài “Tình hình song ngữ Khmer-Việt tại ĐBSCL – Một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn.” được lựa chọn trên cơ sở đó và quan tâm đến mối quan hệ tương hỗ này ở mắt xích đầu tiên (ngôn ngữ), và các kết quả nghiên cứu sẽ làm nền tảng cho việc hoạch định hai mắt xích còn lại một cách hợp lý trường hợp cộng đồng người Việt gốc Khmer tại ĐBSCL Đề tài được thực hiện với những lý do chủ yếu sau:
- Lý do thứ nhất: Nghiên cứu dân tộc thiểu số là một mảng nghiên cứu quan trọng ở một quốc gia đa dân tộc như Việt Nam Ở vùng ĐBSCL - một khu vực kinh tế trọng điểm của Việt Nam, dân tộc Khmer đóng vai trò rất quan trọng về các mặt lịch sử, văn hoá, kinh tế, xã hội và chính trị Vì vậy, việc nghiên cứu tiếng Khmer và tình hình song ngữ KV, như là một phần của nghiên cứu dân tộc, sẽ đóng góp vào sự phát triển của bản thân cộng đồng dân tộc này và vào sự ổn định kinh tế, văn hoá, xã hội và chính trị
- Lý do thứ hai: Vấn đề song ngữ thuộc lĩnh vực ngôn ngữ học xã hội, một khuynh hướng nghiên cứu cần được phát triển ở Việt Nam, đặc biệt là giữa tiếng Việt với ngôn ngữ dân tộc thiểu số Đây là một lĩnh vực mà chúng tôi quan tâm từ lâu và thích thú, bởi tính ứng dụng của nó trong việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, vốn là nghề nghiệp của chúng tôi hiện nay
- Lý do thứ ba: Luận án tiến sĩ này được phát triển từ luận văn cao học của chúng tôi về đề tài song ngữ KV Vì vậy, việc lựa chọn đề tài này sẽ giúp
Trang 11chúng tôi tận dụng được các kết quả nghiên cứu trước đó và khai thác được khía cạnh mô tả lịch đại thông qua so sánh
- Lý do thứ tư: Khi lựa chọn đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ cho sự phát triển của cộng đồng dân tộc mà chúng tôi đã nhiều năm tiếp xúc, nghiên cứu và trở nên yêu mến
2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở một số lý thuyết mới về nghiên cứu song ngữ, cũng như số liệu, ngữ liệu thu thập được qua thực địa, mục đích nghiên cứu là mô tả các đặc điểm môi trường, đặc điểm cộng đồng, đặc điểm ngôn ngữ học, qua đó cung cấp một bức tranh toàn cảnh về tình hình song ngữ KV hiện nay của đồng bào Khmer ĐBSCL Bức tranh đó sẽ bao gồm việc mô tả khả năng và việc sử dụng song ngữ của người Khmer trong giao tiếp, sự hành chức của hai ngôn ngữ trong xã hội, thái độ của cộng đồng đối với các ngôn ngữ, sự phát triển biến đổi của các ngôn ngữ trong tiếp xúc và từ đó cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoạch định các chính sách dân tộc, chính sách giáo dục cho cộng đồng Khmer ở ĐBSCL
Để thực hiện các mục tiêu trên, nhiệm vụ cụ thể của luận án là: hệ thống hoá
và giới thiệu một cách có chọn lọc các lý thuyết liên quan đến nội dung luận án; giới thiệu khái quát về ĐBSCL cũng như các địa bàn nghiên cứu; miêu tả và chỉ ra các đặc điểm của cộng đồng song ngữ KV qua các nghiên cứu trường hợp cả ở góc
độ định tính lẫn định lượng; mô tả và phân tích các hệ quả của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ KV; và, tổng thuật, phân tích, đánh giá cũng như gợi ý những chính sách ngôn ngữ, chính sách giáo dục song ngữ và giáo dục ngôn ngữ cho người Khmer vùng song ngữ
3 Tính cấp bách, cần thiết, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Hiện nay, tình hình song ngữ KV ở ĐBSCL tương đối đa dạng và phức tạp Một bộ phận người Khmer vẫn còn chưa thông thạo tiếng Việt - ngôn ngữ giao tiếp chung - và cả tiếng Khmer Đặc biệt tỷ lệ mù chữ Khmer còn khá cao Vấn đề song ngữ này ít nhiều cản trở cho giao tiếp, và một cách gián tiếp ảnh hưởng đến nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của dân tộc Khmer nói riêng và của địa phương nói chung
Trang 12Nếu không kịp thời nghiên cứu, mô tả và từ đó đưa ra những gợi ý về mặt chính sách, thì những bất cập, những khuynh hướng biến đổi tiêu cực, sẽ làm chậm lại sự phát triển
Về ý nghĩa khoa học, luận án góp phần củng cố các l ý thuyết về Ngôn ngữ học tiếp xúc, gợi ý các hướng nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu song ngữ trên cơ sở liên ngành giữa ngôn ngữ học, xã hội học và dân tộc học Ở góc độ thu thập tư liệu nghiên cứu, luận án kết hợp hai hướng định lượng và định tính, kết hợp nghiên cứu ngôn ngữ học điền dã và dân tộc học Luận án còn làm nổi bật các giá trị khoa học qua việc nghiên cứu sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ có đặc thù đơn lập, ở một nước đang phát triển Hơn nữa, luận án cung cấp các tư liệu phục vụ cho các đề tài tương tự Đặc biệt, luận án còn đóng góp một vài khía cạnh l ý thuyết mới trong nghiên cứu song ngữ ở các ngôn ngữ đơn lập
Về ý nghĩa thực tiễn, luận án sẽ cung cấp thêm sự hiểu biết về tình hình sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng Khmer ở ĐBSCL, cung cấp các kết quả khoa học làm cơ sở cho các cơ quan chức năng trong việc hoạch định các chính sách dân tộc, chính sách giáo dục, chính sách ngôn ngữ, cũng như là cơ sở cho công tác quản l ý giáo dục, quản lý chính quyền tại các địa phương ở góc độ song ngữ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tiếng Việt Nam Bộ và tiếng Khmer ở ĐBSCL trong
sự so sánh đối chiếu, trong việc sử dụng và trong quá trình tiếp xúc Về mặt đối tượng, đề tài nghiên cứu giới hạn trong việc nghiên cứu người Việt gốc Khmer và không nghiên cứu đối tượng song ngữ là người Việt1 Đó là lý do cách gọi Khmer – Việt thay vì Việt – Khmer, bởi nó cho thấy chủ thể của nghiên cứu Về mặt thời gian, đề tài này được thực hiện trong 3 năm 2007 đến 2010 với các dữ liệu, vấn đề song ngữ trong thời gian 10 năm trở lại đây (2000 – 2010) Về mặt không gian địa
lý, luận án chỉ nghiên cứu ở khu vực ĐBSCL, thuộc lãnh thổ Việt Nam2, trong đó tập trung ở ba tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, những nơi có nhiều người Khmer sinh sống, và mở rộng ra một số khu vực khác của ĐBSCL và CPC với mục đích chủ yếu là so sánh và kiểm chứng
Trang 135 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam, nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc thiểu số đã được quan tâm và
nghiên cứu từ rất sớm Cuốn “Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt
Nam từ những năm 90” của Viện Thông tin Khoa học Xã hội (Trung tâm KHXH &
NV Quốc gia) đã liệt kê thư mục nghiên cứu về ngôn ngữ dân tộc (từ trang 172 đến trang 210) từ những năm 1990 cho đến 2002, trong đó có 58 công trình (sách, bài viết) về vấn đề chung và 235 công trình về các ngôn ngữ dân tộc khác nhau Từ đó đến nay, hàng chục cuốn sách, luận văn, luận án, bài nghiên cứu v.v đã được thực hiện Tình hình đó cho thấy nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc ở Việt Nam có một bề dày đáng tự hào Từ thời điểm cuối những năm 90, đầu những năm 2000, Bùi Khánh Thế đã cung cấp một cái nhìn tổng thể về những đóng góp này:
“Hàng trăm khoá luận tốt nghiệp đại học cả ở phía Bắc lẫn ở phía Nam, trong nước và ngoài nước khai thác đề tài từ những ngôn ngữ dân tộc Việt Nam và con số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ trong lĩnh vực này lên đến con số vài chục Có thể dẫn ra đây một số tác giả Việt Nam và ngoại quốc có công trình nghiên cứu về các ngôn ngữ dân tộc ở Việt Nam Đó là Hoàng Tuệ, Nguyễn Văn Tài (về dân tộc Mường), Nguyễn Văn Lợi (về tộc Mèo/Hmông), Trần Trí Dõi (về tộc Chứt), Đoàn Văn Phúc (về tộc Êđê), Hoàng Văn Ma (về tộc La ha), Tạ Văn Thông (về tộc Kơ ho), Hoàng Văn An (về tộc Tày), Phạm Đức Dương, Bùi Khánh Thế, Vương Hữu Lễ, Nguyễn Phú Phong, Nguyễn Bạt Tụy, Phạm Hữu Lai … Trong số các nhà nhà khoa học nước ngoài viết về ngôn ngữ dân tộc Việt Nam ta thường gặp trên sách báo tên các tác giả Haudricourt A.G Ferlus M., Martini F., Piat M., Savina F.M., Aumonier E.F., Cabaton A., Adams K.L., Diffloth G., Banker J.E., Blood David và Dorothy, Edmonson J.A., Gregerson K.J., Miller J.D và V.G., Fuller E., Friberg T và V., Pittman R.S., Watson L., Solnsev V.M., Solseva N.V., Alieva N.F., Efimov A.J., Sokolovskaja N.K., Pogibenko T.T., Blagonrarova J.L …” ([93], tr.60)
Trang 14Và cho đến nay, đã có thêm nhiều tác giả Việt Nam và nước ngoài nữa Đặc biệt ở miền Nam còn có các nghiên cứu của Phú Văn Hẳn, Brunelle M (tiếng Chăm), Đinh Lê Thư, Thái Văn Chải, Trần Thanh Pôn, Nguyễn Thị Huệ, Phan Trần Công (tiếng Khmer), Nguyễn Văn Huệ (tiếng Raglai), Lê Khắc Cường (tiếng Stiêng), … cũng như một số khoá luận tốt nghiệp và luận văn cao học ở các trung tâm đào tạo phía Nam
Mảng đề tài tiếp xúc ngôn ngữ và song ngữ cũng đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm từ rất sớm giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ như tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh và trong vài chục năm trở lại đây là giữa tiếng Việt và một (hay hơn một) ngôn ngữ dân tộc Mục đích của các nghiên cứu này là phục vụ cho biên soạn từ điển, biên soạn giáo trình dạy tiếng, viết chuyên khảo, nghiên cứu chính sách ngôn ngữ - dân tộc Ngoài các công bố ở các tạp chí Ngôn ngữ (Viện Ngôn ngữ học) và Ngôn ngữ và Đời sống (Hội Ngôn ngữ học Việt Nam), có một số tài liệu nghiên cứu thành sách hay dưới dạng bài nghiên cứu mà chúng tôi đã tham khảo trực tiếp từ các tác giả Hoàng Tuệ, Phan Ngọc, Bùi Khánh Thế, Hoàng Thị Châu, Phạm Đức Dương, Đinh Lê Thư, Nguyễn Văn Lợi, Lý Toàn Thắng, Vương Toàn, Nguyễn Đức Tồn, Nguyễn Văn Ma, Nguyễn Văn Chiến, Trần Trí Dõi, Nguyễn Văn Khang, Tạ Văn Thông, Nguyễn Hữu Hoành, Đoàn Văn Phúc, Hoàng Quốc… Có thể thấy tình hình nghiên cứu tiếp xúc ngôn ngữ qua thư mục nghiên cứu khá đầy đủ của Lý Tùng Hiếu ([49], tr.289-305) bao gồm 169 tài liệu công trình bằng tiếng Việt và tiếng Anh
Việc nghiên cứu tiếng Khmer, ngoài những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đối với tiếng Khmer ở CPC được công bố ở tạp chí Mon-Khmer Studies3(Xem Phụ lục 1), JSEALS và một số tạp chí quốc tế khác, ngoài một số nghiên cứu của các nhà dân tộc học như Lê Hương ([54]) (nghiên cứu từ vay mượn Khmer), Nguyễn Đình Đầu, Lê Trung Hoa ([42], [43]) (nghiên cứu về địa danh và nhân danh) …, Trần Thanh Pôn (trong [100]) (nghiên cứu về giáo dục tiếng Khmer), ngoài các công trình ngôn ngữ học của Phan Ngọc ([77]), Thái Văn Chải ([9]) Nguyễn Văn Chiến ([12]), Mai Ngọc Chừ ([13]), Vũ Đức Nghiệu ([76]), Ch Bauer
Trang 15([3]), Cl Gotze-Sam ([35]), Nguyễn Văn Lợi và Nguyễn Thị Huệ ([67]) về các đặc điểm khác nhau của tiếng Khmer… thì những nghiên cứu về đặc điểm của tiếng Khmer Nam Bộ hay từ điển Khmer – Việt, Việt - Khmer phần lớn được các nhà giáo, nhà giáo dục học người Khmer nghiên cứu với mục đích sư phạm, như Lâm
Es, Trần Chinh, Lâm Sai, Lâm Khu, Châu Ngọc Phước, Thái Chợt, Trần The, Ngô Chân Lý, Trịnh Thới Cang, Sơn Song Sơn… biên soạn Việc nghiên cứu về tiếng Khmer Nam Bộ còn được một số các khoá sinh viên thuộc khoa Văn hóa học (Đại học Trà Vinh), khoa Ngữ văn và Báo chí (trước đây) và khoa Văn học và Ngôn ngữ (bây giờ) (ĐHKHXH và NV – ĐHQG TP Hồ Chí Minh), Trung tâm nghiên cứu giáo dục (ĐHSP TP HCM)… thực hiện dưới hình thức khoá luận tốt nghiệp hay báo cáo thực tập, báo cáo khoa học
Riêng việc nghiên cứu vấn đề song ngữ KV có thể nói là còn chưa nhiều Song ngữ KV chủ yếu được đề cập sơ lược trong các cuốn địa chí, trong phần mở đầu của các nghiên cứu xã hội học, nhân học, lịch sử về ĐBSCL và về cộng đồng Khmer Năm 2003, luận văn thạc sĩ của chúng tôi đã được thực hiện về tình hình song ngữ KV tại ấp Trà Sết, thuộc xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng trong hoàn cảnh ít tài liệu tham khảo Gần đây hơn, một vài nghiên cứu của Bùi Khánh Thế, Đinh Lê Thư, Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Văn Huệ, Nguyễn Công Đức, Nguyễn Thị Huệ, Trần Thanh Pôn, Phan Trần Công, Nguyễn Chí Tân … đã bắt đầu cung cấp những tư liệu ở các góc độ từ chính sách ngôn ngữ, đến giáo dục song ngữ, đến các vấn đề cấu trúc ngôn ngữ Luận án đang hoàn thành của Nguyễn Thị Huệ
do GS.TS Nguyễn Văn Lợi hướng dẫn là tư liệu gần nhất với luận án của chúng tôi, trong đó Nguyễn Thị Huệ tập trung nghiên cứu tình hình song ngữ KV ở Trà Vinh Tuy nhiên, chúng tôi chưa tham khảo được nhiều ngoài những trao đổi trực tiếp với tác giả, ngoài việc nghe trình bày luận án tại hội đồng bảo vệ cấp cơ sở và một bài viết đã công bố về thanh điệu của người Khmer nói tiếng Việt trong năm 2008 [67]
Việc nghiên cứu song ngữ KV được chúng tôi tiến hành bắt đầu từ năm 2001 khi thu thập tài liệu cho luận văn thạc sĩ [38] Cho đến nay, khoảng 12 đợt điền dã
đã được thực hiện, mỗi đợt kéo dài từ 1 tuần đến hơn 1 tháng, với khoảng 1,2 Gb dữ
Trang 16liệu âm thanh dạng wav, khoảng 300 hình ảnh và tiếp xúc gần 60 CTV (ngoài số
300 đối tượng được phỏng vấn bằng bảng hỏi) Từ nguồn tư liệu đó, chúng tôi đã công bố một số bài nghiên cứu về tiếng Khmer và song ngữ KV tại các hội thảo quốc tế (SEALS 19), hội thảo ngôn ngữ học toàn quốc (Cần Thơ – 2008; Hà Nội – 2009; TP.HCM - 2010), và đăng bài nghiên cứu tại một số tạp chí nghiên cứu
Trên đây là bức tranh có thể chưa đầy đủ về lịch sử nghiên cứu tiếng Khmer
và song ngữ KV, tuy nhiên, đó là số lượng tài liệu tham khảo trực tiếp mà chúng tôi
có trong tay khi thực hiện luận án này
6 Cơ sở lý luận
Về mặt l ý luận, luận án được nghiên cứu trên hai cơ sở lý thuyết, đó là Ngôn ngữ học tiếp xúc (Contact Linguistics), trước đây được gọi là lý thuyết Tiếp xúc ngôn ngữ (Theory of Language Contact), và lý thuyết Ngôn ngữ học đối chiếu (Theory of Contrastive Linguistics)
Lý thuyết Tiếp xúc ngôn ngữ được đánh dấu bằng công trình của H Schuchargt (1842-1927) về ngôn ngữ pha trộn (mixed language), về các biến thể pidgin và créole của ngôn ngữ và được phát triển thành một lý thuyết qua công trình
Language in contact: Findings and Problems (1953) của U Weinreich được xuất
bản ([142], tr.1) Lý thuyết này được sử dụng xuyên suốt luận án và sẽ được mô tả chi tiết ở chương 1
Lý thuyết Ngôn ngữ học đối chiếu là khuynh hướng nghiên cứu theo hướng thực hành ngôn ngữ (practice-oriented approach) nhằm mô tả những tương đồng và khác biệt giữa các ngôn ngữ ([157]) Lý thuyết này được sử dụng trong luận án khi khảo sát những khác biệt giữa hai ngôn ngữ KV trong các hiện tượng hòa mã, chuyển mã, chuyển di và giao thoa, vay mượn và sao phỏng
7 Phương pháp nghiên cứu
Về mặt phương pháp, luận án có sự kết hợp giữa định lượng và định tính, trên cơ sở các giáo trình về phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội ([63]; [110])
Sự kết hợp này được mô tả chi tiết trong công trình của Robert Murray Thomas ([180]) Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu còn có sự tham khảo các bài giảng về
Trang 17nghiên cứu định lượng và định tính của PGS.TS Phan Thị Yến Tuyết, và TS Phan Ngọc Lan (trong chương trình Cao học Việt Nam học, năm 2010)
7.1 Hướng tiếp cận định lượng
Ở hướng định lượng, dữ liệu được thu thập qua phương pháp thống kê xã hội học như là phương pháp chủ đạo Phương pháp này lấy cơ sở trên việc chọn mẫu phân tầng, sử dụng bảng hỏi tổng hợp và việc xử lý số liệu bằng phần mềm MS Excel và SPSS
Chọn mẫu: Mẫu được chọn theo từng phân tầng, với tỷ lệ lấy từ cơ cấu toàn ĐBSCL (trên cơ sở Niên giám thống kê năm 20074 của 3 tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng
và An Giang) Cách chọn mẫu theo phương pháp phân tầng này có thể nói là phù hợp với tính chất và quy mô nghiên cứu, cũng như số lượng đối tượng nghiên cứu
Do các mẫu được chọn trên cơ sở phần trăm các tiêu chí, nghĩa là tập hợp mẫu phản ánh cấu trúc của toàn bộ đối tượng nghiên cứu, nên kết quả nghiên cứu thu được về mặt lý thuyết mới có thể khái quát được cho toàn bộ đối tượng nghiên cứu Tuy vậy, chúng tôi vẫn nhấn mạnh đến tính chất tương đối của nghiên cứu định lượng, do số lượng mẫu là ít so với tập hợp đối tượng nghiên cứu Ba phân tầng được sắp xếp theo thứ tự như sau:
- Phân tầng thứ nhất – giới tính, có hai biến độc lập là nam và nữ
- Phân tầng thứ hai – nghề nghiệp Ở phân tầng này có sự phân biệt nhỏ giữa
nam – nữ bởi tính chất hoạt động nghề nghiệp khác nhau Đối với nam, các
biến được chọn là nông dân; người buôn bán; cán bộ địa phương; sư sãi,
giáo viên; lái xe ôm, xe ba gác và người làm thuê làm mướn Đối với nữ, đó
là các biến nông dân; người buôn bán; cán bộ địa phương; giáo viên; làm
thuê làm mướn; nội trợ
- Phân tầng thứ ba – độ tuổi Phân tầng này bao gồm 3 biến tố, thể hiện ở 3
nhóm: 1 – 30 tuổi; 31 – 60 tuổi, trên 60 tuổi
Sau khi các mẫu đã được phân bổ, thì việc chọn mẫu tiếp theo dựa trên nguyên tắc ngẫu nhiên và thuận lợi: bên trong mỗi nhóm, chúng tôi chọn phỏng vấn
và thu thập thông tin ở những người chúng tôi gặp, miễn là những người này thỏa
Trang 18mãn các yêu cầu của biến và có khoảng cách không gian đã được khoanh vùng Sau khi tính được tỷ lệ mẫu theo từng biến tố, 300 mẫu đã được chọn (và 30% mẫu dự phòng - để đảm bảo mỗi biến có ít nhất là 1 mẫu dự phòng), và được phân bổ đều cho 3 xã của ba trường hợp nghiên cứu điển hình sẽ được đề cập ngay sau đây Việc phân bố 300 mẫu trên được thể hiện ở Phụ lục 2
Nghiên cứu đa trường hợp: Một số trường hợp điển hình có những điểm tương đồng và cả dị biệt đã được chọn để nghiên cứu Do địa bàn nghiên cứu rất rộng, nên chỉ 3 huyện được chọn nghiên cứu điển hình, đó là các huyện Trà Cú (tỉnh Trà Vinh), huyện Vĩnh Châu (tỉnh Sóc Trăng) và huyện Tri Tôn (tỉnh An Giang), là các huyện đông đồng bào Khmer nhất ở ĐBSCL Trong các huyện đó, 3
xã được chọn để triển khai nghiên cứu định lượng Ba xã này chưa hẳn đã thể hiện hết các đặc thù của ĐBSCL, vì vậy, trừ các nghiên cứu định lượng, các nghiên cứu
mô tả, định tính còn sử dụng cả dữ liệu ở các địa phương khác nữa
Các xã trên được lựa chọn dựa trên một số đặc điểm tương đồng và đại diện,
sẽ được đề cập chi tiết hơn ở chương 1 của luận án Bảng hỏi phỏng vấn 300 mẫu
có thể thấy ở Phụ lục 3a
7.2 Hướng tiếp cận định tính
Nghiên cứu ngôn ngữ học điền dã: Phương pháp này thường được sử dụng trong nghiên cứu thực địa, nhất là nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc Nó bao gồm việc quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, thu âm ngữ liệu, quan sát các tình huống giao tiếp, chụp và sao lưu tài liệu để tiến hành phân tích Phương pháp này được sử dụng trong luận án để đi sâu vào chi tiết và kiểm chứng, mô tả thêm về kết quả định lượng
Nghiên cứu tư liệu: Phương pháp này được sử dụng trong việc tham khảo các công trình nghiên cứu l ý thuyết và thực tiễn trước đó về tiếng Việt, tiếng Khmer cũng như song ngữ nói chung Phần lớn chương 4 của luận án sử dụng phương pháp này
Nghiên cứu hồi cố (lịch sử lời kể): Phương pháp này được sử dụng ở các cuộc phỏng vấn sâu nhằm tìm lại những thông tin trong quá khứ Đặc biệt, phương
Trang 19pháp này được chúng tôi sử dụng trong việc mô tả sự khác biệt của tình hình sử dụng cũng như khả năng song ngữ của người Khmer trong hiện tại và trong quá khứ, trong khảo sát sự biến đổi ngôn ngữ, cũng như những nghiên cứu về song ngữ KV trước 1975
7.3 Các phần mềm xử lý thông tin Luận án cũng sử dụng một số phần mềm để xử
lý các dạng thông tin, ngữ liệu, số liệu khác nhau:
Phần mềm xử lý ngữ âm Praat: PRAAT (Tiếng Hà Lan nghĩa là "NÓI") được
sử dụng trong luận án để phân tích các mẫu âm thu được khi nghiên cứu về giao thoa ngôn ngữ và lỗi phát âm của người Khmer song ngữ
Speech Tools: Speech Tools là bộ các ứng dụng do Hội ngữ học Mùa hè phát triển, được sử dụng để tìm ra sự biến đổi thanh điệu, sự khác biệt phương ngữ giữa các phương ngữ Khmer Nam Bộ và một số dấu hiệu đơn tiết hoá
MS Excel: Đây là một sản phẩm phần mềm phục vụ cho thống kê, tính toán bằng bảng biểu Phần mềm này được sử dụng để thống kê và phân loại người song ngữ cũng như một số phân tích số liệu về từ vay mượn và hoà mã
MapInfo (Thông tin bản đồ) MapInfo Professional là phần mềm hệ thống thông tin địa lí do công ty MapInfo (nay là Pitney Bowes) sản xuất Đây là phần mềm vẽ và biên tập các bản đồ MapInfo được sử dụng với sự hỗ trợ của Google Earth để xác định các vùng song ngữ KV trong các nghiên cứu trường hợp
8 Cấu trúc luận án
Cấu trúc luận án gồm 4 chương (không kể phần dẫn nhập và kết luận):
Chương 1: BỐI CẢNH TIẾP XÚC NGÔN NGỮ VIỆT – KHMER Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Chương này giới thiệu về lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ,
mô tả bối cảnh và môi trường tiếp xúc ngôn ngữ KV, mô tả và đối chiếu các đặc điểm của tiếng Việt và tiếng Khmer trong tiếp xúc cũng như hệ quả và xu hướng biến đổi do quá trình tiếp xúc ngôn ngữ tạo nên Ngoài ra, chương còn dành một phần quan trọng để xác định loại hình cảnh huống tiếng Khmer dựa trên một số tiêu chí phổ quát
Trang 20Chương 2: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CỘNG ĐỒNG SONG NGỮ KHMER – VIỆT Ở ĐBSCL Chương này đề cập đến các môi trường (địa lý và xã hội), nơi hai ngôn ngữ KV tiếp xúc với nhau Các kiểu loại người Khmer và các nhóm người Khmer về mặt song ngữ cũng được phân loại trên cơ sở nghiên cứu định tính Cuối chương là nghiên cứu về vị thế và sự phân công chức năng của tiếng Việt và tiếng Khmer ở ĐBSCL
Chương 3: MỘT SỐ HỆ QUẢ CỦA SỰ TIẾP XÚC NGÔN NGỮ VIỆT Ở ĐBSCL Chương này đề cập đến các khái niệm về mặt lý thuyết liên quan đến các ngôn ngữ trong môi trường song ngữ, mô tả các hiện tượng khác nhau trong giao tiếp song ngữ KV tại địa phương Một phần của chương được dành để nghiên cứu về các hiện tượng giao thoa và lỗi phát âm của người song ngữ Khmer nói tiếng Việt và của học sinh dân tộc Khmer viết tiếng Việt
KHMER-Chương 4: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH VÀ GIÁO DỤC SONG NGỮ KHMER-VIỆT Ở ĐBSCL Vấn đề thực tiễn được rút ra trên cơ sở kết quả nghiên cứu của luận án, bao gồm những đề xuất thực tiễn cho chính sách ngôn ngữ, chính sách giáo dục song ngữ và một số giải pháp cho việc dạy và học tiếng Việt và tiếng Khmer
Cuối cùng là phần kết luận, thư mục tham khảo và hơn 10 phụ lục minh hoạ thêm cho nội dung của luận án
Trang 21Chương 1: BỐI CẢNH TIẾP XÚC NGÔN NGỮ KHMER-VIỆT Ở ĐBSCL
Ở Đông Nam Á và ở Việt Nam, lịch sử tiếp xúc giữa các ngôn ngữ đã được quan tâm nghiên cứu, bởi quá trình này là tác nhân quan trọng của sự biến đổi của các ngôn ngữ trong khu vực, trong đó có tiếng Việt và tiếng Khmer Từ những cơ
sở lý thuyết về ngôn ngữ học tiếp xúc, chương này sẽ giới thiệu bối cảnh nơi sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Khmer diễn ra
1.2 Ngôn ngữ học tiếp xúc
1.2.1 Các định nghĩa và khái niệm
Tiếp xúc ngôn ngữ, ở góc độ nhân học văn hóa, được xem là một bộ phận của quá trình tiếp biến văn hoá (acculturation) Việc nghiên cứu vấn đề này là nhiệm vụ của Ngôn ngữ học tiếp xúc (Contact Linguistics), và các cơ sở lý thuyết đúc kết được đã xây dựng nên lý thuyết Tiếp xúc ngôn ngữ (Theory of Language Contact) Lịch sử nghiên cứu tiếp xúc ngôn ngữ đã được Winford D ([184]) mô tả một cách chi tiết5, trong đó cho thấy công trình xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX của H Schuchardt (1842-1927) về “sự pha trộn ngôn ngữ” là nghiên cứu tiên phong (theo Bùi Khánh Thế, trong [112], tr.11) Sau đó, các tác giả Boudouin de Courtenay
(1845-1929) với “Bàn về tính chất pha trộn của tất cả các ngôn ngữ” (1900), “Bàn
về khái niệm pha trộn ngôn ngữ” (1926 và 1958), rồi L.V Scerba (1880-1940) với
“Thổ ngữ Đông Lugits” (1915) là những tác giả đặt tiền đề cho con đường Ngôn ngữ học tiếp xúc được hình thành Theo Bùi Khánh Thế ([112], tr.12), từ tiếp xúc
(contact), thuật ngữ mở đầu cho khuynh hướng nghiên cứu này xuất phát từ Martinet A trong “Sự lan truyền ngôn ngữ và ngôn ngữ học cấu trúc” (1950) Tuy vậy, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sự mở đầu đích thực của lý thuyết Tiếp xúc
ngôn ngữ được đánh dấu bằng Language in contact: Findings and Problems (1953)
của U Weinreich6 Sau đó, hàng loạt công trình đã được xuất bản, trong đó gần đây
và nổi bật nhất là các công trình của Sarah Thomason và Terrence Kaufman (1988)7, Sarah Thomason (2001)8, Winford D (2002)9, Ghil'ad Zuckermann (2003)10 Tại
Trang 22Việt Nam, Phan Ngọc, Phạm Đức Dương11, Bùi Khánh Thế thuộc nhóm người tiên phong nghiên cứu tiếp xúc ngôn ngữ và đặt những nền móng lý thuyết và thực tiễn thông qua các nghiên cứu của mình Tiếp theo họ, nhiều công trình, như đã được nêu ở phần dẫn nhập của luận án, cho thấy Ngôn ngữ học tiếp xúc đã đặt nền móng vững chắc ở Việt Nam, cho dù những nghiên cứu theo hướng này đến nay vẫn chưa nhiều
Để tìm hiểu về vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ, có lẽ cần phải điểm qua một số định nghĩa cơ bản Theo từ điển International Encyclopedia of Linguistics (quyển 4,
Bùi Khánh Thế ([112], tr.13) cũng dẫn ra hai định nghĩa về tiếp xúc ngôn ngữ, trong đó, theo O.S Akhmanova (1966) , tiếp xúc ngôn ngữ là:
“sự tiếp hợp nhau giữa hai ngôn ngữ do những điều kiện cận kề về mặt địa
lý, sự tương cận về mặt lịch sử, xã hội dẫn đến nhu cầu của các cộng đồng người vốn có những thứ tiếng khác nhau phải giao tiếp với nhau.”
Trang 23còn từ điển Bách khoa về ngôn ngữ học (tiếng Nga do V.N Jarceva chủ biên, 1990
- trích theo Bùi Khánh Thế trong [112], tr.13) thì viết:
“sự tác động qua lại giữa hai hoặc nhiều ngôn ngữ, tạo nên ảnh hưởng đối với cấu trúc và vốn từ của một hay nhiều ngôn ngữ Những điều kiện xã hội của sự tiếp xúc ngôn ngữ được quy định bởi yêu cầu cần thiết phải giao tiếp lẫn nhau giữa những thành viên thuộc các nhóm dân tộc và ngôn ngữ do những nhu cầu về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội v.v thúc đẩy.”
Tuy các định nghĩa trên có khác về nguồn gốc, thời điểm và cách tiếp cận, nhưng tất cả đều đề cập đến góc độ môi trường xã hội của sự tiếp xúc và đến những ảnh hưởng qua lại của các ngôn ngữ trong tiếp xúc Đó chính là những đối tượng trung tâm mà Ngôn ngữ học tiếp xúc nghiên cứu
1.2.2 Các lĩnh vực nghiên cứu của Ngôn ngữ học tiếp xúc
Bằng việc tổng hợp tư liệu có được (Từ điển trực tuyến Wikipedia, các định nghĩa ở trên, các bài viết, công trình của các tác giả trong và ngoài nước, và nhất là
từ mục lục của các sách chuyên khảo kinh điển), có thể thấy Ngôn ngữ học Tiếp xúc quan tâm nghiên cứu các địa hạt sau:
Nghiên cứu môi trường Môi trường địa lý, lịch sử, kinh tế, xã hội, chính trị của sự tiếp xúc được quan tâm nghiên cứu, mô tả, phân loại nhằm tìm ra bản chất
của sự tiếp xúc ngôn ngữ Đó có thể là môi trường cá nhân (lịch sử tiếp xúc ngôn
ngữ trong mỗi cá nhân, vấn đề tâm lý và bản sắc cá nhân giữa các ngôn ngữ tiếp
xúc), môi trường cộng đồng (trong đó có môi trường gia đình, hàng xóm, cộng đồng
địa phương, cộng đồng xã hội rộng lớn, cộng đồng quốc gia và khu vực) Các nghiên cứu ở góc độ này có thể sẽ mô tả những yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội ảnh hưởng đến sự tiếp xúc, mô tả và phân loại các môi trường tiếp xúc, các đối tượng tiếp xúc và các không gian (khu vực địa lý) của sự tiếp xúc, vị thế và sức mạnh của các ngôn ngữ trong mối tương quan lẫn nhau
Nghiên cứu biến đổi Các hiện tượng của tiếp xúc ngôn ngữ liên quan đến 3 vấn đề:
Trang 24- Sự duy trì ngôn ngữ nghiên cứu về các vấn đề vay mượn từ vựng, phổ biến
cấu trúc hay vay mượn cú pháp, sự chuyển di và giao thoa v.v
- Sự biến đổi ngôn ngữ nghiên cứu về sự phát triển quy tụ và khuếch tán, sự
chuyển mã, sự hoà mã v.v
- Sự tạo mới ngôn ngữ nghiên cứu về các ngôn ngữ pha trộn, sự thụ đắc ngôn
ngữ thứ hai, sự bào mòn ngôn ngữ, sự diệt vong của một ngôn ngữ, hiện tượng bồi hoá ngôn ngữ (pidginization), sự nảy sinh créole
Nghiên cứu hoạch định Hướng nghiên cứu này quan tâm đến các vấn đề vĩ
mô như kế hoạch hoá ngôn ngữ, lập pháp ngôn ngữ, ngôn ngữ và chính trị, ngôn
ngữ và bản sắc văn hoá xã hội, duy trì bảo vệ các ngôn ngữ nguy cấp, phát triển, hiện đại hoá, trí tuệ hoá các ngôn ngữ giao tiếp v.v và v.v
1.1.3 Các hệ quả của tiếp xúc ngôn ngữ
Có rất nhiều hệ quả trực tiếp và gián tiếp của quá trình tiếp xúc, tuy nhiên, ba
trong số các hệ quả có thể nói là trực tiếp và có tính chất quy luật là sự phát triển
quy tụ, sự giao thoa ngôn ngữ và song ngữ (Rozentzzveig V 1972, trích theo [112],
tr 14; [94], [104])
1.1.3.1 Phát triển quy tụ (convergence)
Khi tiếp xúc với một cường độ và thời gian nhất định, hai ngôn ngữ sẽ có những biến đổi theo xu thế giống nhau và làm cho một số đặc điểm của chúng gần
nhau hơn Hiện tượng này được gọi là sự phát triển quy tụ (hay hội tụ) Khái niệm này luôn gắn liền với khái niệm khu vực ngôn ngữ (linguistic area) hay liên minh
ngôn ngữ (sprachbund) Liên minh ngôn ngữ thường là một khu vực gồm những
ngôn ngữ cận kề về địa lý, có thể có hoặc không có quan hệ về nguồn gốc với nhau ([141]) Vùng ngôn ngữ gồm các tiếng Trung Quốc, Việt, Hàn, Nhật, hay vùng ngôn ngữ Đông Nam Á là các thí dụ về một liên minh ngôn ngữ trong đó các ngôn ngữ có khuynh hướng phát triển xích lại gần nhau và tham gia vào cùng một khuynh hướng phát triển Giữa tiếng Thái, tiếng Việt và một số ngôn ngữ trong khu vực Đông Nam Á, sự phát triển hội tụ trong liên minh ngôn ngữ này chính là sự hình thành thanh điệu và đơn tiết hoá
Trang 25Bùi Khánh Thế ([92], [93], [94]) sau một số nghiên cứu đã nhận xét rằng xu hướng phát triển quy tụ của các ngôn ngữ ở Việt Nam và trong khu vực Đông Nam
Á là có quy luật và là xu hướng chủ đạo Myers-Scotton ([167], tr.271) đã dành hẳn một chương nói về hiện tượng quy tụ này và đã phát biểu rằng quy tụ là thứ ngôn ngữ của những người song ngữ bao gồm trong nó tất cả những hình thức bề mặt từ một ngôn ngữ, nhưng với những bộ phận của cấu trúc từ vựng trừu tượng nằm bên dưới những khuôn mẫu bề mặt đến từ một ngôn ngữ khác Mayers-Scotton cho rằng quy tụ là một trong hai quá trình bao gồm sự quy tụ và sự bào mòn ngôn ngữ 1.1.3.2 Giao thoa ngôn ngữ (interference)
Đã có những cách hiểu, những định nghĩa khác nhau về hiện tượng giao thoa trong ngôn ngữ, và không phải lúc nào những cách hiểu và định nghĩa này cũng thống nhất, ít nhất là ở các tác giả chúng tôi tham khảo, như Postman L ([171]), R Wardhaugh R ([182]), cũng như một số tác giả khác chưa tiếp cận được tài liệu như Pimsen Buarapha (2006), Lehiste I (1988), Thomason và Kaufman (1991) Một cách ngắn gọn, giao thoa là sự ảnh hưởng của ngôn ngữ cho lên ngôn ngữ nhận trong quá trình chuyển di một hình thái nào đó Nguyễn Văn Khang ([56], tr.45-47)
đã tổng thuật hai bình diện của giao thoa: bình diện thứ nhất, coi giao thoa là “hiện tượng tác động qua lại giữa cấu trúc và các yếu tố trong cấu trúc của hai (hoặc hơn hai) ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp của cư dân song ngữ” – đây là bình diện thuần tuý ngôn ngữ học; và bình diện thứ hai, bình diện ngôn ngữ học xã hội, trong
đó việc nghiên cứu giao thoa sẽ làm “sáng tỏ toàn bộ những hiểu biết về hai (hoặc trên hai) ngôn ngữ” Hiện tượng giao thoa ngôn ngữ sẽ được đề cập ở chương 3 1.1.3.3 Song ngữ (bilingualism)
Song ngữ đôi khi được hiểu và nghiên cứu như là một khái niệm bao hàm cả những vấn đề giao thoa và quy tụ Phan Ngọc, Phạm Đức Dương ([78], tr.55) cho rằng “Cơ sở của lý luận tiếp xúc ngôn ngữ là hiện tượng song ngữ” Ở Việt Nam và trên thế giới, số lượng các chuyên khảo về ngôn ngữ học xã hội và về vấn đề song ngữ nhiều bao nhiêu, thì những định nghĩa và cách tiếp cận song ngữ cũng nhiều gần như vậy Song ngữ là kết quả trực tiếp, cơ bản và rõ rệt nhất của sự tiếp xúc
Trang 26ngôn ngữ Từ điển The Encyclopedia of Language and Linguistics (năm 1994, cuốn
1, tr 354) định nghĩa song ngữ (hay đa ngữ) là “sự cùng tồn tại của hai hay hơn hai
ngôn ngữ được sử dụng bởi các cá nhân và các nhóm trong xã hội”, và theo chúng
tôi, định nghĩa này đã bao hàm đầy đủ mà súc tích nội dung của song ngữ Đối với nghiên cứu song ngữ ở Việt Nam, Hoàng Tuệ ([114]) đã gợi ý vấn đề song ngữ là vấn đề mang tính chất xã hội – tâm lý Vương Toàn ([104]) đã mô tả một cách đầy
đủ các vấn đề cần nghiên cứu của hiện tượng song ngữ trong bài viết “Về hiện tượng song ngữ” như nó được hiểu trong ngôn ngữ học hiện đại Về mặt nghiên cứu thực tiễn, Bùi Khánh Thế, từ rất sớm (các năm 1973, 1975, 1976, 1978), đã có một
số bài nghiên cứu về song ngữ ở miền Nam trong đó đặc biệt là nghiên cứu về song ngữ Chăm – Việt Đây có thể nói là nghiên cứu điển hình, bao hàm đầy đủ những mối quan tâm của Ngôn ngữ học Tiếp xúc và nhất là về mặt thực tiễn đã đưa ra được một mô hình nghiên cứu song ngữ, trong đó nghiên cứu song ngữ không thể tách rời việc mô tả tỉ mỉ môi trường song ngữ, và cũng không thể tách rời với nghiên cứu chính sách để đưa vào ứng dụng thực tiễn Nguyễn Văn Khang ([56]) đã thể hiện vấn đề song ngữ một cách cân đối giữa hai bình diện cá nhân và cộng đồng, cũng như giới thiệu các vấn đề cần nghiên cứu bên trong và chung quanh hiện tượng này
Về nội dung nghiên cứu của song ngữ, khuynh hướng nghiên cứu hiện đại ([138], [156], [172], [176]) nhìn nhận song ngữ ở hai mặt: bản chất cá nhân và bản
chất xã hội, và thể hiện quan điểm này thành hai thuật ngữ: song ngữ cá nhân
(individual bilingualism, bilinguality13) và song ngữ xã hội (societal bilingualism, collective bilingualism) Nếu như song ngữ cá nhân nghiên cứu về các quá trình thụ
đắc các ngôn ngữ, trạng thái hay mối tương quan giữa các ngôn ngữ, năng lực song ngữ và cách đo năng lực song ngữ, các kỹ năng song ngữ, tâm lý song ngữ, việc xử
lý các ngôn ngữ trong hệ thần kinh, mối quan hệ giữa tiếng mẹ đẻ và các ngôn ngữ
khác, mối quan hệ giữa song ngữ, nhận thức và tư duy v.v thì song ngữ xã hội lại
nghiên cứu về sự hình thành, tồn tại, biến đổi của các cộng đồng song ngữ, môi trường song ngữ với sự sản sinh ngôn ngữ mới, sự bồi đắp cho các ngôn ngữ, sự lụi
Trang 27tàn, diệt vong, hồi sinh của các ngôn ngữ, sức sống ngôn ngữ trong cộng đồng song ngữ, các vấn đề song ngữ và song văn hoá, các vấn đề song ngữ và bản sắc, song ngữ và chính trị, các kiểu loại người song ngữ và vùng song ngữ, các hiện tượng diễn ra trong giao tiếp song ngữ, sự phân công chức năng xã hội của các ngôn ngữ trong cộng đồng v.v Song ngữ cá nhân được xem là nguyên nhân của sự tiếp xúc, còn song ngữ xã hội là kết quả của nó Luận án của chúng tôi sẽ chỉ tập trung chủ yếu vào nghiên cứu một số mặt chủ yếu và cơ bản thuộc bản chất xã hội của hiện tượng song ngữ, và sẽ không đề cập nhiều đến vấn đề song ngữ cá nhân
1.2 Bối cảnh tiếp xúc ngôn ngữ KV ở ĐBSCL
1.4.1 ĐBSCL và cộng đồng dân tộc Khmer
1.2.1.1 Lịch sử hình thành vùng ĐBSCL
ĐBSCL, hay còn gọi là khu vực Tây Nam Bộ là một khu vực tương đối bằng phẳng, bao gồm 12 tỉnh và một thành phố14 trên một diện tích gần 40,000 km2 (11% diện tích cả nước) Lịch sử hình thành vùng ĐBSCL hiện nay được đánh dấu bằng
sự xuất hiện của cư dân bản địa thuộc văn hoá Đồng Nai (từ khoảng 4000 năm đến
2500 năm trước) Từ thế kỷ thứ I đến thứ VI, ở ĐBSCL là sự xuất hiện của vương quốc Phù Nam (Funan), chủ nhân của nền văn hoá Óc Eo Đến thế kỷ thứ VII, vương quốc Phù Nam bị Chân Lạp (Chenla, một thuộc quốc của Phù Nam của người Môn cổ và người Khmer cổ) xâm chiếm Và cũng từ đó, khu vực rộng lớn này đã bị chia ra thành hai phần là Lục Chân Lạp (High Chenla) là lãnh thổ của CPC hiện nay, và Thủy Chân Lạp (Low Chenla) là khu vực ĐBSCL hiện nay Từ khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ XIII, khu vực Thủy Chân Lạp là khu vực hoang vắng, và chỉ bắt đầu đón những nhóm nhỏ người Khmer từ CPC đến cư trú rải rác tại đây từ thế kỷ thứ XIII Các nhóm dân cư này chạy từ thủ đô Angkor sau những cuộc nội chiến giữa các hoàng tộc CPC và nhất là để tránh cuộc chiến tranh với quân Xiêm
Từ cuối thế kỷ XV, khu vực ĐBSCL hình thành nên 3 vùng do sự rút dần của nước biển, và những nơi này thu hút ngày càng đông cư dân đến sinh sống Đó
là vùng Sóc Trăng – Bạc Liêu – Cà Mau (chủ yếu là khu vực Sóc Trăng, Vĩnh Châu,
Trang 28Vĩnh Lợi); vùng An Giang – Kiên Giang (Vọng Thê, Tri Tôn, Nhà Bàng), và vùng
Trà Vinh Đến thế kỷ XVI trở đi, cư dân Việt, từ Đàng Trong (chủ yếu là khu vực từ
Quảng Ngãi trở vào) bắt đầu xuất hiện và khẩn hoang tại đây ([31]; [6], [74]) Như vậy, cư dân Khmer (từ thế kỷ XIII) và cư dân Việt (từ thế kỷ XVI) đã bắt đầu khai thác, khẩn hoang, canh tác Có một đặc điểm giống nhau là cư dân nông nghiệp lúa nước, hai dân tộc này cùng khai thác và qua nhiều thế kỷ, cùng với sự bồi tích tự nhiên của biển Đông, đã biến vùng đất hoang sơ này thành một vùng đồng bằng trù phú Và trong đó, dân tộc Việt là dân tộc chủ thể và chiếm đa số ở ĐBSCL Còn dân tộc Khmer cũng là chủ nhân lâu đời của vùng đất này, với những đặc điểm riêng về kinh tế, văn hoá xã hội và cả ngôn ngữ Trong ý thức của họ, nhất là sau khi chúa Nguyễn sát nhập vùng Biên Hoà, Gia Định, Hà Tiên vào lãnh thổ Việt Nam, đã phân biệt và nhận thức rõ tiếng nói giữa người Khmer miệt dưới (ở ĐBSCL) và người Khmer miệt trên (ở CPC) Cho đến nay, theo số liệu điều tra dân
số 2007, tại ĐBSCL có hơn 17 triệu người, trong đó người Việt chiếm khoảng 15 triệu, người Khmer chiếm khoảng 1,2 triệu, người Hoa chiếm khoảng 800,000 và phần còn lại là các dân tộc Chăm, Chơ ro, Stiêng, Mnông, Nùng … Cộng đồng người Khmer sống tập trung nhiều nhất ở hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh, ngoài ra còn sống rải rác ở một số huyện xã thuộc các tỉnh Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Vĩnh Long, Cần Thơ, Tây Ninh (Xem Phụ lục 5a về sự phân bố người Khmer ở ĐBSCL, [100]) Từ những nhóm sống tách biệt, dần dần hình thành nên sự cộng cư ngày một dày đặc giữa hai (hoặc 3 dân tộc – bao gồm cả người Hoa, những người di
cư ồ ạt từ khoảng nửa sau thế kỷ XVII) trong từng huyện từng xã, và sự cộng cư này càng được khuyến khích từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng
1.2.1.2 Lịch sử tiếp xúc ngôn ngữ KV ở ĐBSCL
Như vậy, có thể thấy lịch sử tiếp xúc giữa hai dân tộc Việt và Khmer, mà cũng chính là sự tiếp xúc giữa 2 ngôn ngữ Việt và Khmer ở ĐBSCL bắt đầu từ khoảng thế kỷ XVI Lịch sử tiếp xúc giữa 2 ngôn ngữ theo chúng tôi là một quá trình gồm những giai đoạn như sau:
Trang 29- Hai ngôn ngữ tiếp xúc với nhau từ thế kỷ thứ XVI, XVII khi những nhóm cư dân ở Đàng Trong di cư xuống phía Nam và khai hoang Theo “Lịch sử khẩn hoang Nam Bộ” ([73]), một phần ĐBSCL lúc bấy giờ chỉ là những giồng đất cao, và một phần vẫn còn nằm dưới biển Khi đó, sự tiếp xúc giữa hai cộng đồng, với hai ngôn ngữ hoàn toàn khác biệt ở một khu vực vừa rộng lớn, vừa đầy rẫy những hiểm nguy, theo chúng tôi là không nhiều
- Cho đến đầu thập kỷ 1620, vương quốc của vua Khmer Chey Chettha II 1628) bắt đầu suy yếu do những cuộc xung đột với Thái Lan Rồi đến cuối thế kỷ XVII, Mạc Cửu từ Lôi Châu (Trung Quốc) vượt biển chạy sang Chân Lạp lánh nạn, được vua Chân Lạp cho khai phá vùng Sài Mạc (khu vực Hà Tiên bây giờ) Về sau, khu vực này được mở rộng ra Phú Quốc, Rạch Giá, Cà Mau Mạc Cửu được chúa Nguyễn phong làm Tổng binh trấn Hà Tiên Sự di cư của người Hoa, một dân tộc vốn giỏi về thương nghiệp, đã tạo cơ hội cho sự giao lưu giữa người Việt và người Khmer có thêm điều kiện phát triển, và có lẽ từ đó những tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ cũng dần dần hình thành, và hoàn toàn mang tính tự phát ([6]; [64])
(1618 Cho đến 1698, Nguyễn Hữu Cảnh do nhà Nguyễn ở triều đình Huế phái đi bắt đầu đặt những trạm thu thuế, mở đầu cho sự thành lập bộ máy hành chính ở khu vực Sài Gòn Đến giữa thế kỷ XVIII về cơ bản, chúa Nguyễn đã nắm giữ toàn bộ vùng ĐBSCL Chúa Nguyễn chia vùng Nam Bộ ra làm 3 trấn: Biên Hòa, Gia Định, Hà Tiên Cuối cùng, đến 1802, khi Nguyễn Ánh trở thành vua Gia Long và thống nhất toàn bộ khu vực ĐBSCL, thì làn sóng dân cư người Việt đến định cư khẩn hoang ở đây ngày càng đông, và tiếng Khmer và tiếng Việt đã có những tiếp xúc mạnh mẽ
và hình thành nên nhiều nhóm song ngữ, nhiều khu vực song ngữ mạnh
- Đến cuối thập kỷ 50 của thế kỷ XVIII, thực dân Pháp bắt đầu xâm lược Đông Dương và đặt chế độ bảo hộ của mình Và cũng từ đó, cho đến hết chiến tranh Việt Nam, sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ phát triển mạnh, hình thành nên những cộng đồng song ngữ Chính sách “chia để trị” của thực dân Pháp, cũng như chính sách
“Việt Nam hoá chiến tranh” và “chiến tranh tổng lực” của đế quốc Mỹ đã cùng lúc vừa chia rẽ hai dân tộc Việt và Khmer, nhưng cũng đồng thời là cơ hội để hai dân
Trang 30tộc gần nhau hơn trong cuộc chiến đấu chống ngoại xâm ([117], [118]) Sự tiếp xúc ngôn ngữ nhờ đó mà phát triển ngày càng mạnh hơn về nhiều mặt
- Từ sau 1975 đến nay, với các chính sách bình đẳng dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam, tiếng Khmer đã được đưa vào sử dụng trong trường học, trên các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài, tivi), sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ bước sang trang mới, và giảm dần tính tự phát cũng như được định hướng hơn trong khuynh hướng chung về vấn đề ngôn ngữ và dân tộc của một quốc gia đa dân tộc, thống nhất trong đa dạng như Việt Nam Tầng lớp trí thức Khmer song ngữ tạo điều kiện cho sự phát triển của song ngữ KV Hai ngôn ngữ Việt và Khmer, đối với phần đông đồng bào Khmer, đều là những ngôn ngữ được sử dụng trong giao tiếp Song ngữ KV đi vào đời sống của cả hai dân tộc, thể hiện qua hệ thống vay mượn, nhân danh, địa danh, tài liệu song ngữ v.v
Sự tiếp xúc trong nhiều thế kỷ và liên tục như vậy đã mang đến những kết quả không chỉ ở sự biến đổi ngôn ngữ mà ở nhiều góc độ khác nữa
Ở hệ thống tên gọi, người Khmer sống ở ĐBSCL ngày càng có khuynh hướng đặt tên theo tiếng Việt Đây là một minh chứng quan trọng cho tính chất hoà đồng dân tộc cũng như cho chiều sâu của sự tiếp xúc Nghiên cứu trên 2200 tên của
người Khmer tại xã Tập Sơn (huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh) cho thấy xu
được đặt tên tiếng Việt ngày càng tăng lên: 43% những người sinh từ năm
1941 đến 1950 được đặt tên theo tiếng Việt, trong khi tỷ lệ này từ những năm 2001-2008 là 83%
2.1: Tỷ lệ người Khmer có tên tiếng Việt
(từ 2200 mẫu) ở xã Tập Sơn
Trang 31Ở góc độ địa danh, chiều sâu trong sự tiếp xúc thể hiện ở số lượng các địa danh có gốc Khmer hay chuyển dịch từ tiếng Khmer (Trương Vĩnh Ký ([187]), Bùi Đức Tịnh ([103]), Vương Hồng Sển ([84]), Trịnh Hoài Đức ([32]), Lê Trung Hoa ([42], [43]), các cuốn địa chí các tỉnh An Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh ) Rất nhiều địa danh từ cấp thành phố, tỉnh, đến các ấp có nguồn gốc Khmer nhưng được Việt Hoá Thí dụ: Mỹ Tho < /m so/; Sóc Trăng < /srɔk khleaŋ/; Cần giờ < /phnɔr kansɔ/; Sài Gòn < /prɛi nɔkɔr/ ; Trà Cú < /tku/; Cà Mau < /tɨk kmao/; Sa Đéc < /ph
sa dk/;
Kế Sách < /ksak/ (Xem thêm Phụ lục 14)
Ở góc độ cộng đồng, người Khmer có khả năng sử dụng hai ngôn ngữ khi giao tiếp chiếm tỷ lệ cao Ở những khu vực có đông đồng bào Khmer sinh sống, đa
số các vùng địa lý đều là vùng song ngữ Các vấn đề về thành phần người Khmer song ngữ và vùng địa lý song ngữ sẽ được khảo cứu một cách chi tiết ở chương 2
Ở góc độ sự biến đổi giữa các ngôn ngữ, các hiện tượng sao phỏng, hoà mã, chuyển mã, cũng như những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực giữa hai ngôn ngữ diễn
ra rất phong phú và đa dạng Đó là hệ quả của sự tiếp xúc KV và sẽ được khảo cứu
ở chương thứ 3 của luận án này
1.2.1.3 Vài nét về người Khmer ở ĐBSCL
Cộng đồng dân tộc Khmer là một trong những dân tộc có số lượng người lớn nhất Việt Nam Dưới đây là một số nét sơ lược về cộng đồng này, làm cơ sở cho nghiên cứu song ngữ của luận án
Về mặt dân cư, người Khmer hiện nay khoảng 1,2 triệu người, sống tập trung
ở các tỉnh Sóc Trăng (hơn 300 ngàn người), Trà Vinh (hơn 290 ngàn người), Kiên Giang (gần 200 ngàn người), An Giang (gần 90 ngàn), Bạc Liêu (gần 58 ngàn) và các tỉnh khác
Về mặt cư trú, người Khmer sinh sống chủ yếu ở ba vùng là vùng nội địa, vùng ven biển và vùng biên giới Tây Nam Ở vùng nội địa, họ thường tụ cư thành những nhóm gia đình gồm một số gia đình, thường là có quan hệ thân tộc, tạo nên
các phum và sóc (srok) Các phum và sóc trước đây đều có người quản trị, là các mê
phum, mê sóc Người Khmer sống theo 5 hình thức cư trú khác nhau: trên giồng đất,
Trang 32trên đất ruộng, dọc theo kênh và lạch nhỏ, dọc theo trục lộ giao thông và theo dạng vành khăn ven chân núi Tuy nhiên, hiện nay, người Khmer ngày càng có xu hướng
cư trú theo hình thức hỗn hợp và xen kẽ với người Việt, người Hoa
Về mặt tôn giáo, tín ngưỡng, người Khmer theo Phật giáo Nam Tông (Theravada) Chùa Khmer (hiện nay khoảng gần 500 chùa ở ĐBSCL) đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần của người Khmer Chùa Khmer là trung tâm của cộng đồng Khmer ở các địa phương Đứng đầu mỗi chùa là một vị sư cả, dưới là các sư sãi Ngoài ra, còn có một ban quản trị chùa (kna kômaka wat) lo việc trị sự trong chùa Đàn ông Khmer đến tuổi thì thường đi tu một thời gian để tu thân
và cũng là để trả hiếu cho cha mẹ Đi tu làm cho đàn ông Khmer không những có giá trị hơn, có đạo đức hơn, mà đa số qua thời gian đi tu học được chữ viết Khmer
và tiếng Phạn Ngoài tôn giáo, người Khmer còn có tín ngưỡng thờ cúng arăk, neak
ta, tevâna
Về mặt văn hoá, người Khmer Nam Bộ có nhiều giá trị vật chất lẫn tinh thần Bữa ăn của người Khmer thường có cơ cấu cơm – rau – cá, và cũng như người Việt, cơm là lương thực chính Người Khmer thường sử dụng các loại mắm, nước dừa làm nguyên liệu chế biến thức ăn, trong đó đặc trưng nhất là mắm bò hóc (prahok) Trang phục truyền thống của người Khmer cũng dễ phân biệt với các dân tộc khác
và được sử dụng trong các dịp lễ Tết, đám cưới v.v Về nhà ở, hầu hết ở ĐBSCL, người Khmer làm nhà đất mái lá rất đơn giản Tuy nhiên, kiến trúc Khmer trong các chùa lại phản ánh một nghệ thuật tinh xảo và độc đáo Đối với phương tiện đi lại, do địa hình có nhiều kênh rạch, nên các loại thuyền “tắc ráng”, “đuôi tôm” rất phổ biến, đặc biệt là ghe “ngo” nổi tiếng thường được biết đến trong các lễ hội đua ghe ngo ở các địa phương (Xem thêm [119])
Về lễ hội: Người Khmer có nhiều lễ hội, và lễ hội là một phần sinh hoạt văn hoá cộng đồng của họ Các lễ hội của người Khmer thường có nguồn gốc Phật Giáo,
Bà la môn Giáo hay nguồn gốc tín ngưỡng nông nghiệp Từ các lễ Chol Chnăm Thmây, Đôn ta, Ok om bok, đến các lễ sơ sinh, cầu an, lễ xuất gia, lễ núi ngàn, lễ đại cầu siêu luôn thu hút nhiều người tham gia Đặc biệt, bên cạnh các lễ hội đó, các
Trang 33hình thức thể thao, nghệ thuật cũng phổ biến, làm tăng thêm tính cộng đồng của người Khmer Trong quá trình tiếp xúc với người Việt và Hoa, người Khmer Nam
Bộ cũng dần dần đưa vào trong văn hoá của mình một số giá trị và biểu tượng, cũng như tham gia vào các lễ hội văn hoá của các dân tộc khác
Về truyền thống gia đình, gia đình Khmer bao gồm 2 loại chủ yếu là gia đình hạt nhân và gia đình phức hợp Điểm đặc biệt của người Khmer là không có sự phân biệt tử hệ mà là song hệ, khác với tính chất phụ hệ hay mẫu hệ ở các dân tộc khác Văn hoá gia đình Khmer mang đậm nét văn hoá Phật giáo trong cách ứng xử, trong quan hệ, trong các nghi lễ vòng đời
Về cơ cấu nghề nghiệp, nông nghiệp giữ vai trò quan trọng, bên cạnh đó, người Khmer cũng có một số hoạt động khác như chăn nuôi, đánh bắt thủy hải sản, thủ công nghiệp và một bộ phận buôn bán nhỏ Thí dụ, theo nghiên cứu của Đinh
Lê Thư ([100], tr.35-36), trong số 1675 người Khmer trong độ tuổi lao động ở hai huyện Trà Cú và Châu Thành (Trà Vinh), thì cơ cấu nghề nghiệp như sau: Nông nghiệp (65,2%), tiểu thủ công nghiệp (4,8%), công nhân viên (3,4%), nghề không
ổn định (19,6%), thất nghiệp hoặc không xác định nghề nghiệp (7%)
Về chỉ số phát triển, theo Đặng Quốc Bảo ([100], tr 39), chỉ số phát triển giáo dục của 5 tỉnh Kiên Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và An Giang là 0,77 (chỉ số G), và chỉ số phát triển kinh tế (K) là 45,6 Các chỉ số này là thấp nhất trong
8 vùng kinh tế của cả nước ([100], bảng 1.2, tr.38)
1.4.2 Các trường hợp nghiên cứu điển hình
Do tính chất rộng lớn của địa bàn nghiên cứu, để triển khai đề tài, chúng tôi
đã chọn 3 trường hợp nghiên cứu điển hình, đó là các xã Tập Sơn (huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh), xã Vĩnh Châu (huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng) và xã Cô Tô (huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang) Nếu như ba tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng và An Giang
là những tỉnh có đông đồng bào Khmer nhất, thì ba huyện Trà Cú, Vĩnh Châu, Tri Tôn thuộc ba tỉnh này cũng vậy Ba xã trên được chọn nghiên cứu nhằm triển khai nghiên cứu định tính như đã đề cập ở phần phương pháp nghiên cứu, còn các nghiên cứu quan sát, điền đã ngôn ngữ học v.v để mô tả các hiện tượng của song
Trang 34ngữ KV thì được mở rộng ra một số địa bàn khác nữa Việc chọn 3 xã trên vừa có lý
do chủ đích, vừa có lý do thuận lợi Về mặt chủ đích, chúng tôi ưu tiên chọn những
xã có những nét tương đồng nhất định với nhau và phản ánh những đặc trưng cơ bản và đa dạng của ĐBSCL Các xã này đều gần trung tâm huyện thị, là ngã ba đường giao thông, có các điểm trường, các khu chợ hay một số điểm kinh doanh, sản xuất công nghiệp hay thương mại, có tỷ lệ người Khmer tương đối cao, có các chùa Khmer, đa dạng về cơ cấu ngành nghề v.v
1.4.2.1 Xã Tập Sơn15 (huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh)
Vị trí địa lý: Tập Sơn là một trong xã nằm ở phần phía bắc của huyện Trà Cú Cách thành phố Trà Vinh khoảng 40 km và cách thị trấn Trà Cú khoảng 6 km, Tập Sơn nằm ở đầu mối giao thông giữa Quốc lộ 54 đi huyện Tiểu Cần và Quốc lộ 53 dẫn đến thị trấn Trà Cú
Dân số và dân tộc: Xã Tập Sơn có diện tích đất 19,19 km2, dân số là 9,550 người16 (trong đó số nữ là 4898, chiếm 51,28%), mật độ dân số của xã là 498 người/km217 Về thành phần dân tộc, xã Tập Sơn là một trong những xã tập trung
Trang 35đông đồng bào Khmer sinh sống nhất, bao gồm 3700 người Việt (38,74%), 5809 người Khmer (60,82%) và 41 người thuộc thành phần dân tộc khác (khoảng 0,42%)
Tổ chức hành chính: Xã Tập Sơn có 9 khóm ấp: Bà Tây A, Bà Tây B, Bà Tây C, Đông Sơn, Chợ, Cây Da, Trà Mềm, Bến Trị, Ô Người Khmer tập trung ở một số ấp như các ấp Bà Tây A, Bến Trị, trong khi đó, người Việt tập trung đông ở
ấp Chợ Một bộ phận người Việt đến định cư muộn hơn thì lại ở các ấp nằm xa đường giao thông hơn, như các ấp Ô, Trà Mềm (Xem bản đồ vệ tinh xã Tập Sơn ở Phụ lục 5b)
Hệ thống giáo dục: Xã Tập Sơn tính đến năm học 2008 – 2009 có 02 trường tiểu học (gồm 49 lớp học, 2988 học sinh, 80 giáo viên) trong tổng số 32 trường của Huyện, 01 trung học cơ sở (21 lớp học, 816 học sinh, 60 giáo viên) trong tổng số 15 trường của Huyện, 01 trung học phổ thông (23 lớp, 811 học sinh, 65 giáo viên) trong tổng số 5 trường Ngoài ra, xã còn có tổ chức khuyến học, có nhiệm vụ vận động phụ huynh và học sinh đi học
Cơ sở tôn giáo: Trên địa bàn xã Tập Sơn có 01 chùa Khmer, với khoảng 40
vị sư hiện đang tu ở đây
Hoạt động kinh tế và nghề nghiệp: Với diện tích đất nông nghiệp chiếm hơn 90% (1800,27 ha/1918,64 ha), đa số người dân ở đây làm nông nghiệp theo hai dạng: canh tác trên đất nhà hoặc được thuê canh tác Ngoài ra, những người trong
độ tuổi lao động còn làm (hẳn hoặc phụ thêm) một số nghề như: tham gia làm cán
bộ hành chính tại UBND Xã và các ấp, giáo viên các trường trong và ngoài xã; buôn bán ở chợ hay ở ngã ba đường giao thông; chạy xe ôm, xe lôi, xe ba gác để
chở người và hàng hoá; làm thuê làm mướn tại một số địa phương khác (đặc biệt là phong trào đi làm nghề giúp việc hay làm công nhân ở các nhà máy ở Bình Dương,
tập trung phần lớn ở nhóm người Khmer độ tuổi 20 – 40 tại các cấp Bà Tây A, B,
C) Một bộ phận thuộc lứa tuổi lao động vẫn còn ở trong tình trạng thất nghiệp Một
trong những địa điểm quan trọng của xã Tập Sơn là chợ Tập Sơn, nằm ở ấp Chợ, nơi quy tụ hàng hoá buôn bán và trao đổi không chỉ trong nội bộ xã mà lan sang cả các xã lân cận như Tân Sơn, Phước Hưng, Ngãi Xuyên, Tân Hiệp Tuy thuộc loại
Trang 36một trong những xã có kinh tế khá nhất huyện (không kể các thị trấn Trà Cú và Định An), xã Tập Sơn vẫn còn đến 695 hộ nghèo (2839 nhân khẩu)18, trong đó 156
hộ Việt (22,45%) và 539 hộ Khmer (77,55%)
1.4.2.2 Xã Vĩnh Châu (huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng)
Nếu như ở Tập Sơn (Trà Cú, Trà Vinh) chỉ có hai dân tộc Việt và Khmer, thì
xã Vĩnh Châu nói riêng, cũng như toàn tỉnh Sóc Trăng (và Kiên Giang, Bạc Liêu …) còn có cộng đồng dân tộc Hoa, chủ yếu là người Phúc Kiến và Triều Châu sinh sống Không nằm ở vị trí
trọng yếu giao thông đến thị
trấn Vĩnh Châu, nhưng xã
Vĩnh Châu nằm trong một
vùng đặc biệt mà ở những
năm gần đây được đánh dấu
bởi sự phát triển của nghề
nuôi tôm sú, nghề làm thay đổi cơ cấu nghề nghiệp, thói quen canh tác nông nghiệp
và cả quan hệ kinh tế, văn hoá xã hội của vùng Những thông tin dưới đây giúp chúng ta có một cái nhìn cụ thể hơn về trường hợp này
Vị trí địa lý: Vĩnh Châu, tên của xã trùng với tên huyện Vĩnh Châu mà xã trực thuộc, là một xã nằm ven biển, phía tây của thị trấn Vĩnh Châu Phía bắc giáp
xã Khánh Hoà và xã Hòa Đông, phía tây giáp xã Lạc Hoà và phía nam giáp biển, Vĩnh Châu có thể nói là xã cửa ngõ dẫn từ thị trấn Vĩnh Châu đến các xã phía tây của huyện như Lạc Hoà, Vĩnh Hải và huyện Long Phú (tỉnh Sóc Trăng) ra đến cửa biển Mỹ Thạnh (giáp Cù lao Dung) thông qua tỉnh lộ 111 và tỉnh lộ 38 (Xem bản
đồ vệ tinh của xã Vĩnh Châu ở Phụ lục 5c)
Dân số và dân tộc: Xã Vĩnh Châu có diện tích 44,7 km2, dân số toàn xã là
21273 người (trong đó nữ là 10615, chiếm 49,90%), mật độ dân số là 466 người/km2 (so với tỷ lệ toàn huyện là 324 người/km2) Về thành phần dân tộc, người Việt chiếm 6%, người Hoa 16,8% và người Khmer chiếm 77,2% D8ây là xã
Trang 37đông đồng bào Khmer nhất huyện (15891 người so với xã đông thứ hai là Lai Hoà,
15694 người)
Tổ chức hành chính: Xã Vĩnh Châu có tất cả 11 ấp: Cà Lăng A, Cà Lăng A Biển, Cà Lăng B, Cà Săng, Đại Rụng, Giồng Me, Sân Chim, Soài Côn, Vĩnh An, Vĩnh Bình, Vĩnh Trung Người Việt tập trung chủ yếu ở các ấp Giồng Me và Soài Côn, người Hoa sống phần lớn ở các ấp Cà Săng, Cà Lăng A Biển, Vĩnh Bình Người Khmer, do chủ yếu làm ruộng, nên tập trung nhiều ở các ấp còn lại Tuy nhiên, có thể thấy ở một vài khu vực có sự cộng cư rất đông đúc giữa 3 dân tộc
Cơ sở tôn giáo: Địa bàn xã Vĩnh Châu, do đặc điểm đa dạng về dân tộc, nên
có đến 8 cơ sở tôn giáo, trong đó gồm 3 chùa Khmer (chùa Soài Côn, Sala Pô Thi, Siri Kro Săng), 2 tịnh xá (Ngọc Châu Như, Ngọc Định), 1 miếu (Miếu Phước Đức Kim Long), 1 chùa (Pháp Hoa) Ba chùa Khmer trong xã tính đến 2009 có tất cả 81
vị sư hiện đang tu hành
Hoạt động kinh tế và nghề nghiệp chủ yếu quay quanh việc nuôi trồng thủy
sản, mà chủ yếu là nuôi tôm sú và trồng hành, làm rẫy (ở những khu vực gần biển,
nước mặn không thể nuôi sú) Những năm gần đây, nhiều hécta đất trồng lúa đã được chuyển thành các vuông tôm, với sự đầu tư của người dân trong xã cũng như
từ những nơi khác trong huyện và tỉnh Trong số diện tích đất màu là 1877,5 ha, diện tích thủy sản đã chiếm đến 62% (1070 ha) Năm 2009, đã có 555 hộ được hỗ trợ 314 triệu đồng tiền tôm giống; các hộ này canh tác trên 393 ha Ngoài các hộ
đầu tư các vuông tôm, phần lớn lao động trong xã là làm thuê, làm mướn cho những
hộ này Một số nghề nghiệp khác trong xã bao gồm: cán bộ xã, ấp, giáo viên, thu
mua tôm, buôn bán lẻ tại nhà, trên các trục lộ hay buôn bán ở thị trấn Vĩnh Châu, xe
ôm, ngư dân đánh bắt ven biển hoặc xa bờ, làm vườn, trồng hành, vận chuyển hàng hoá đường sông hoặc biển, một bộ phận cũng đi làm mướn ở Cà Mau, và gần đây là
ở Đồng Nai Tỷ lệ nhân công làm trên một nghề chiếm đa số, kể cả tầng lớp cán bộ
xã và giáo viên Tỷ lệ thất nghiệp của xã tương đối thấp, do hoạt động nuôi tôm cần nhiều nhân công Tuy vậy, xã Vĩnh Châu vẫn còn 1438 hộ nghèo (tỷ lệ 29,87%) 1.4.2.3 Xã Cô Tô (huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang)
Trang 38Tri Tôn cũng như Tịnh Biên là hai trong số các huyện nằm gần biên giới Việt Nam – CPC và có tỷ lệ người Khmer sinh sống cao nhất tỉnh An Giang Tuy không nằm gần thị trấn Tri Tôn, Cô Tô có những nét đặc biệt riêng như có đến 2 công ty khai thác đá hoạt động, góp phần thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của không những bản thân xã, mà cả huyện Tri Tôn Cùng với đặc trưng nông nghiệp và chăn nuôi, trường hợp điển hình này mang cả hai thế mạnh kinh tế truyền thống (nông nghiệp)
và hiện đại (khai thác đá)
Vị trí địa lý: Xã Cô
Tô có thể dễ dàng được nhận
ra bởi cái tên của nó gắn liền
với núi Cô Tô Cách thị trấn
Tri Tôn khoảng 5 km về phía
Nam, cách biên giới Việt
Nam – CPC khoảng 25km
đường chim bay, Cô Tô nằm ở ngã ba giữa quốc lộ 15 chạy vòng quanh núi Cô Tô,
và tỉnh lộ 943 đi về hướng Ba Thê, Óc Eo, Rạch Giá Cô Tô giáp xã Núi Tô ở phía bắc, hai xã Tà Đảnh và Tân Tuyến ở phía tây, xã Ô Lâm ở phía đông, và giáp với địa phận tỉnh Kiên Giang ở phía nam
Dân số và dân tộc: Có diện tích thuộc loại trung bình so với các xã khác (42,34 km2), dân số Cô Tô tính đến năm 2008 là 9837 người, trong đó có 5640 nữ (chiếm 57,33%) Mật độ dân số 232 người/km2 là khá thưa so với các xã Tập Sơn
và Vĩnh Châu Thành phần dân tộc ở Cô Tô bao gồm người Việt (32%) và người Khmer chiếm 68% (6696 người)
Tổ chức hành chính: Cô Tô có 6 ấp: Tô Bình, Tô Lợi, Tô An, Tô Phước, Huệ Đức và Sóc Triết Người Khmer chủ yếu phân bố ở các ấp chân núi Cô Tô và các ấp phía nam (như Tô An, Sóc Triết, Tô Lợi), trong khi ở khu vực kinh tế mới định cư
và khu vực chợ Cô Tô chủ yếu là người Việt (như Huệ Đức, Tô Phước hoàn toàn không có hộ Khmer; Tô Bình chỉ có 3 hộ)
Trang 39Hệ thống giáo dục: Xã Cô Tô có 01 trường mẫu giáo (khoảng 200 em, 9 giáo viên), 03 trường tiểu học (1100 học sinh, 42 giáo viên), 01 trường trung học cơ sở (560 học sinh, 23 giáo viên) Như vậy, có thể thấy với 5 trường, Cô Tô là một trong những xã có tương đối nhiều điểm trường
Cơ sở tôn giáo: Trong địa bàn xã Cô Tô có tất cả 4 cơ sở tôn giáo, trong đó có
3 chùa Khmer (đều được công nhận là “chùa văn hoá”), gồm 56 vị sư sãi Khmer Đặc biệt, chùa Bà Chúa xứ ở Cô Tô khá nổi tiếng trong vùng và hàng năm nhiều có nhiều người đến viếng thăm
Hoạt động kinh tế và nghề nghiệp: Hoạt động kinh tế ở Cô Tô chủ yếu gồm 3
dạng chính Về mặt truyền thống, đó là hoạt động trồng lúa nước của phần đông người Việt và một bộ phận người Khmer, hay chăn nuôi, làm vườn (chủ yếu do
người Khmer vốn không quen sống ở những khu vực thấp) Về mặt kinh doanh, cả người Việt lẫn người Khmer đều kinh doanh ở chợ Cô Tô, nhưng vai trò có sự khác
biệt: người Việt mua, bán ở chợ với tư cách là người buôn bán lẻ, còn người Khmer chủ yếu bán nông sản sản xuất được Ngoài ra, một bộ phận không nhỏ (cả hai dân tộc Việt lẫn người Khmer) làm công nhân cho các công ty khai thác đá Ngành khai
thác đá ở Cô Tô thu hút nhiều dạng lao động khác nhau, do những công việc này có nhiều công đoạn: chọn đá, chẻ đá, chuyển đá, bán đá v.v Nhân công không chỉ được các công ty thuê mướn, mà cả những chủ thu mua đá hay các chủ ghe thuyền chở đá cũng thuê họ vận chuyển đá Cùng với nghề này, một bộ phận nhỏ làm nghề
sửa chữa máy móc, buôn bán xăng dầu, nước giải khát, bán quán Nhờ hoạt động
khai thác đá, thu nhập của một bộ phận người từ vài năm trở lại đây ngày càng trở nên khá hơn tuy công việc nguy hiểm và vất vả Ngoài ra, còn có một số người
tham gia công tác chính quyền, làm giáo viên, tu tại các chùa v.v
1.4.3 Tiếng Việt, tiếng Khmer và sự phát triển quy tụ của các ngôn ngữ Đông Nam Á
Trên đây là bối cảnh tiếp xúc ngôn ngữ Việt-Khmer ở ĐBSCL Phần tiếp theo đây sẽ giới thiệu tổng quan về hai ngôn ngữ Việt và Khmer trong tiếp xúc 1.4.3.1 Tiếng Việt
Trang 40Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức của nước CHXHCN Việt Nam, được khoảng 80 triệu người Việt Nam và khoảng 3 triệu người Việt sống ở nước ngoài (Mỹ, Pháp, Thái Lan, CPC v.v.) sử dụng Nguyễn Thiện Giáp ([36]), cũng như
nhiều tác giả trước đó, kết luận rằng “tiếng Việt là ngôn ngữ thuộc nhóm Việt –
Mường, tiểu chi Việt – Chứt, nằm trong khối Việt-Katu, thuộc khu vực phía đông của ngành Mon-Khmer, họ Nam Á” Các nhóm cư dân Proto Việt-Chứt khi di cư đã
lần lượt tiếp xúc với nhóm Katu, Bahnar, Khmer, cũng như Thái-Kađai Sự tiếp xúc của tiếng Việt với tiếng Hán trước và nhất là trong thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc đã ảnh hưởng đến tiếng Việt về nhiều mặt Đến năm 939, khi Việt Nam giành được độc lập, tiếng Việt dần dần có những bước phát triển riêng của nó, trong đó có sự sáng tạo ra chữ Nôm Đến thế kỷ thứ XVII, sự hình thành chữ Quốc ngữ gắn liền với các nhà truyền giáo phương Tây đã làm cho tiếng Việt thay đổi đáng kể Vào thời kỳ Pháp thuộc, tiếng Việt du nhập vào nhiều từ vay mượn và khái niệm mới Cuối cùng, sự tiếp xúc của tiếng Việt với tiếng Anh và các ngôn ngữ khác, từ 1945 trở lại đây đã làm cho tiếng Việt có một bộ mặt như ngày nay Nguyễn Tài Cẩn (trích theo [36], tr.19) đã phân tiếng Việt ra làm 6 giai đoạn phát triển trong lịch sử của nó Như vậy, có thể nói lịch sử tiếng Việt cũng là lịch sử của những tiếp xúc lâu dài và liên tục với các ngôn ngữ trong và ngoài khu vực Đông Nam Á
Về mặt loại hình, tiếng Việt thuộc vào loại hình ngôn ngữ đơn lập (isolated), đơn tiết tính (monosyllabic), không biến hình (amorphous) Tính chất đơn lập đơn tiết tính này được xem là khá triệt để Các đặc điểm cơ bản về loại hình của tiếng Việt cho thấy từ trong tiếng Việt không biến đổi hình thái; ý nghĩa ngữ pháp được biểu thị bằng các đơn vị từ và trật tự từ; trong tiếng Việt không có phương thức phụ
tố mà là phương thức hư từ và trật tự từ; đơn vị tiếng là một âm tiết về mặt ngữ âm
và là một hình vị về mặt ngữ pháp; tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu v.v
Về mặt chữ viết, trong quá trình hình thành và phát triển, tiếng Việt đã sử dụng các hệ thống chữ Hán, chữ Nôm, và hệ chữ La tinh hiện nay là chữ Quốc ngữ
Về hệ thống âm vị, có thể thấy những đặc điểm cơ bản sau: