1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề xuất một số chỉ tiêu đánh giá năng lực làm việc của sinh viên tốt nghiệp áp dụng cho trường đại học kinh tế đại học quốc gia hà nội

68 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ --- NGUYỄN THỊ THANH THỦY ĐỀ XUẤT MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC LÀM VIỆC CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP: ÁP DỤNG CHO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ-

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NGUYỄN THỊ THANH THỦY

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC LÀM VIỆC CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP: ÁP DỤNG CHO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ- ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NGUYỄN THỊ THANH THỦY

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC LÀM VIỆC CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP: ÁP DỤNG CHO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ- ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Chuyên ngành : Quản Trị Kinh Doanh

Trang 3

MỤC LỤC

Danh mục các từ viết tắt iv

Danh mục bảng ii

Danh mục hình vẽ iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 10

MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC LÀM VIỆC CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP 10

1.1 Một số khái niệm cơ bản 10

1.1.1 Năng lực 10

1.1.2 Năng lực của sinh viên tốt nghiệp đại học 11

1.1.3 Năng lực làm việc 15

1.1.4 Khả năng đáp ứng công việc của NNL sau đào tạo 15

1.1.5 Đánh giá - Đánh giá năng lực 16

1.1.6 Cách tiếp cận đánh giá sản phẩm giáo dục 18

1.1.7 Nhân lực – Nguồn nhân lực 19

1.2 Một số chỉ tiêu đánh giá năng lực làm việc của nguồn nhân lực sau đào tạo ở Việt Nam 20

1.2.1 Trình độ chuyên môn nghiệp vụ 20

1.2.2 Khả năng đáp ứng công việc của NNL sau đào tạo 22

Trang 4

1.2.3 Các tiêu chí về kỹ năng mềm 23

1.2.4 Phẩm chất nghề nghiệp 25

CHƯƠNG 2 27

ỨNG DỤNG CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ-ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 27

2.1 Khát quát về Đại học Kinh tế-Đại học Quốc Gia Hà Nội 27

2.1.1 Mục tiêu chiến lược của trường Đại học Kinh tế 27

2.1.2 Hoạt động đào tạo tại trường Đại học Kinh tế 29

2.2 Thực trạng năng lực làm việc của sinh viên sau đào tạo Đại học Kinh tế 35

2.2.1 Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của sinh viên sau đào tạo Đại học Kinh tế 35

2.2.2 Khả năng đáp ứng công việc của sinh viên sau đào tạo Đại học Kinh tế ……… 38

2.2.3 Các tiêu chí về kỹ năng mềm 44

2.2.4 Phẩm chất nghề nghiệp 47

2.3 Một số đánh giá về thực trạng năng lực làm việc của sinh viên sau đào tạo Đại học Kinh tế 48

CHƯƠNG 3 50

ĐỀ XUẤT CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC LÀM VIỆC CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP TẠI ĐẠI HỌC KINH TẾ 50

3.1 Đề xuất một số chỉ tiêu đánh giá năng lực làm việc của SVTN trường ĐH Kinh tế 50

Trang 5

3.2 Một số đề xuất về việc áp dụng đánh giá năng lực làm việc của SVTN tại Đại học Kinh tế 51 3.3 Một số giải pháp đề xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực làm việc của sinh viên tốt nghiệp tại Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội 52 3.3.1 Giải pháp từ phía nhà nước 52 3.3.2 Giải pháp từ phía nhà trường 53 KẾT LUẬN 55

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 CNH-HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

8 Nxb CTQG Nhà xuất bản Chính Trị Quốc gia

9 SVTN Sinh viên tốt nghiệp

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê mức thu nhập của sinh viên kinh tế sau một

Bảng 2.2 Thống kê đánh giá chung của sinh viên tốt nghiệp về

mức độ phù hợp giữa công việc hiện tại với ngành đào tạo

40

Bảng 2.3 Mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của SVTN có

việc làm phù hợp với chuyên ngành đào tạo 43 Bảng 2.4 Thống kê chi tiết các mức đáp ứng của SVTN K51 với

các tiêu chí trong mục tiêu đào tạo của chương trình 46

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Các loại hình doanh nghiệp mà cựu sinh viên tham gia 36 Hình 2.2 Tỷ lệ sinh viên đã thay đổi công việc 37 Hình 2.3 Thời gian thích ứng công việc của sinh viên sau ra trường 41

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời kỳ hội nhập và cạnh tranh quốc tế gay gắt như hiện nay, nguồn nhân lực là yếu tố then chốt, là nguồn vốn quan trọng nhất của mỗi quốc gia, nó quyết định thành công hay thất bại của mỗi quốc gia Chính vì thế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là việc làm thúc đẩy cho nền kinh tế - xã hội của quốc gia phát triển Phát triển chất lượng nguồn nhân lực đặc biệt là khả năng đáp ứng công việc của nhân lực sau đào tạo đại học đang

là một vấn đề được các doanh nghiệp, tổ chức xã hội đặc biệt quan tâm

Trong Nghị Quyết Đại hội Đại biểu Đảng Cộng Sản lần thứ VIII, đã nêu rõ: “lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững” và “nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực

to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa” Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã nêu

ra định hướng phát triển giáo dục và đào tạo trong thời gian tới là: “Định hình quy

mô giáo dục và đào tạo, điều chỉnh cơ cấu đào tạo, nhất là cơ cấu các cấp học, ngành nghề và cơ cấu theo lãnh thổ phù hợp với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội”

Hiện nay, tuy nguồn nhân lực Việt Nam tăng cả về số lượng và chất lượng trên tất cả các lĩnh vực ngành nghề như kinh tế, xã hội, công nghệ thông tin, giáo dục …, nhưng so với các nước cùng khu vực thì chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo đại học Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội hiện nay và chưa có uy tín trong giáo dục đại học trên thế giới Thực trạng rất rõ ràng đó là trong những năm qua, giáo dục đại học không ngừng nỗ lực nâng cao chất lượng đào tạo nhưng thực tế xã hội cho thấy rất nhiều sinh viên ra trường không xin được việc làm, số lượng sinh

Trang 11

viên ra trường làm trái ngành nghề khá cao, các nhà tuyển dụng không tuyển được lao động phù hợp với yêu cầu và số lượng được tuyển dụng vào làm ở các doanh nghiệp thì hầu hết đều phải đi đào tạo lại để bắt đầu công việc

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường như hiện nay thì nhân lực ngành kinh tế đóng một vai trò quan trọng vào bậc nhất trong việc phát triển kinh tế

- xã hội ở mỗi quốc gia Do đó, việc khai thác tốt nguồn lực này nhằm mục đích tạo điều kiện phát huy hết khả năng tiềm ẩn, năng lực của từng nhân lực

là vấn đề quan trọng cần quan tâm của các nhà quản lý giáo dục, giảng viên, sinh viên mà còn cả tổ chức, doanh nghiệp và toàn xã hội

Ở một số nước trên thế giới như Hàn Quốc, Singapore, Mỹ , các cơ

sở đào tạo của họ đã áp dụng các biện pháp khác nhau để đào tạo gắn với nhu cầu sử dụng nhân lực, đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động Ở Việt Nam, vấn đề này hiện đang được rất nhiều nhà khoa học, các cơ sở đào tạo quan tâm và nghiên cứu Như trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia

Hà Nội, mặc dù mới được thành lập từ năm 2007, nhưng đã có sự phát triển nhanh chóng trong những năm vừa qua Trường đã thực hiện những thay đổi căn bản trên nhiều phương diện khác nhau từ tổ chức, nhân lực đến nội dung

và phương pháp giảng dạy với mục tiêu đưa trường thành một Trung tâm đào tạo hiện đại có uy tín trong nước cũng như trong khu vực

Vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu và đề xuất một số chỉ tiêu đánh giá năng lực làm việc của sinh viên tốt nghiệp đại học nhằm đưa ra một số khuyến nghị nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam đến năm 2020 là rất hữu ích

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Nghiên cứu ở ngoài nước

Ở ngoài nước, có một số nghiên cứu gần với nội dung nghiên cứu của

đề tài Có thể kể đến những nghiên cứu:

Trang 12

Managing university-industry relations: A study of institutional practices from 12 different countries, 2000 do Michaela Martin thực hiện Đây là tổng hợp kết quả nghiên cứu về các đổi mới quản lý trong lĩnh vực liên kết giữa trường đại học – ngành công nghiệp Các nhà quản lý của 12 cơ sở giáo dục ở Châu Âu, Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ La Tinh được đề nghị tổng hợp các kinh nghiệm về quản lý các mặt chung, quản lý tài chính, nhân

sự và quản lý sở hữu trí tuệ Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng cùng với thực tế là các quan hệ với các doanh nghiệp tăng lên thì các cơ sở giáo dục có xu hướng

áp dụng các cách quản lý chủ động và có tính phối hợp tốt hơn Họ cũng đặt

ra các quy tắc và tiến trình/ thủ tục cần thiết để bảo vệ các hoạt động truyền thống của các tổ chức giáo dục đại học khỏi những can thiệp thái quá từ bên ngoài nhằm tận dụng tối đa các liên kết trường học – ngành công nghiệp

Điều tra theo dấu vết sinh viên cũng được thực hiện ở nước ngoài như: Cuộc điều tra 3000 cựu sinh viên do Trường đại học Melbourne của Úc thực hiện năm 1999; Cuộc điều tra 6000 cựu sinh viên do Trường đại học Michigan thực hiện năm 2001 Trong hai cuộc điều tra này, các nhà nghiên cứu đã so sánh các chỉ tiêu về kỹ năng và kiến thức mà cựu sinh viên thấy cần được đào tạo và các tiêu chí kiến thức, kỹ năng các trường đại học đã đào tạo cho sinh viên để đánh giá khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng thực tế các sản phẩm đào tạo đại học

Một vài nghiên cứu nữa cũng rất gần với nghiên cứu của đề tài là khảo sát của tạp chí Update (Nhật Bản) thực hiện năm 1996, của Viện Giáo dục Hàn Quốc (KEDI) thực hiện năm 2003 và của Viện Quản lý Đào tạo nhân lực (NIAM) của Hà Lan đối với các doanh nghiệp sử dụng lao động Nội dung của cuộc khảo sát là tìm ra các tiêu chí mà các doanh nghiệp đánh giá cao ở người lao động trong quá trình tuyển dụng

Trang 13

2.2 Nghiên cứu ở trong nước

Ở trong nước, có một số đề tài và các công trình đã được nghiên cứu đã được công bố liên quan đến vấn đế nghiên cứu như:

Đề tài của: GS Phạm Minh Hạc (1996), Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, Nxb Chính trị Quốc gia Đề tài nghiên cứu này bàn về vấn đề con người, mô hình mới về sử dụng nguồn nhân lực con người, trí tuệ hóa lao động và đào tạo chuyên môn, tiếp cận mới đối với chính sách việc làm, con người và môi trường Hay cuốn sách của TS Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm (1998), Phát triển nguồn nhân lực – kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta Cuốn sách đã khái quát những kinh nghiệm về phát triển nguồn nhân lực của các nước phát triển trên thế giới và tập trung nghiên cứu lĩnh vực giáo dục – đào tạo – yếu tố quyết định phát triển nguồn nhân lực Cuốn sách của Viện Phát Triển Giáo Dục (2002), Từ chiến lược phát triển giáo dục đến chính sách phát triển nguồn nhân lực; cuốn sách đã tập hợp kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học và các nhà quản lý ở nhiều lĩnh vực khoa học kinh tế - xã hội khác nhau với mục tiêu thống nhất quan điểm, chính sách về phát triển nguồn nhân lực, đồng thời để xuất một khung chính sách phát triển nguồn nhân lực nhằm triển khai thành công các mục tiêu đề ra trong chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo

Đề tài “Cơ sở lý luận đo lường và đánh giá mức độ đáp ứng với công việc của sinh viên tốt nghiệp đại học qua ý kiến người sử dụng lao động” do ThS Ngô Thị Thanh Tùng đã đề cập đến mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng người tốt nghiệp đại học; Nghiên cứu này tổng hợp các quan điểm của người sử dụng lao động về chất lượng người tốt nghiệp đại học hiện nay (quan điểm, các tiêu chí đánh giá)

Trang 14

Đề tài khoa học: “Nghiên cứu kinh nghiệm gắn kết đào tạo đại học với nhu cầu nhân lực của một số nước trên thế giới” của ThS Đinh Thị Bích Loan

đã nghiên cứu lý luận về mối quan hệ giữa giáo dục đại học và nhu cầu nhân lực Đề tài nghiên cứu này tổng hợp và phân tích các kinh nghiệm về giáo dục đại học đáp ứng nhu cầu nhân lực của một số nước trên thế giới nhằm đưa ra một số đề xuất tăng cường sự đáp ứng của đào tạo đại học với nhu cầu nhân lực ở Việt Nam

Bên cạnh đó, nghiên cứu về nguồn nhân lực cũng thu hút được đông đảo những học viên tham gia nghiên cứu ở bậc thạc sĩ và tiến sĩ, như:

Báo cáo luận văn thạc sĩ: “Đánh giá mức độ đáp ứng công việc trên biển của sinh viên chính quy tốt nghiệp ngành Điều khiển tàu biển và Máy tàu biển của Trường Đại học Hàng hải” của tác giả Đỗ Thị Thúy nghiên cứu về mức độ đáp ứng công việc trên biển của sinh viên chính quy đã tốt nghiệp thông qua trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ đối với công việc mà sinh viên đã được trang bị khi còn đi học trong trường Trên cơ sở đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, công tác huấn luyện cho nguồn nhân lực đi biển của Trường ĐH Hàng hải, đảm bảo đưa ra được những sản phẩm nguồn nhân lực hoàn thiện nhất đáp ứng tốt các yêu cầu của công việc trên biển

Trong luận văn thạc sĩ “Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam: thực trạng và giải pháp” của tác giả Doãn Thị Thanh Phương đã nêu khát quát vai trò và sự cần thiết để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để phát triển kinh

tế xã hội, phân tích thực trạng và đưa ra một số giải pháp để phát triển NNL ở

VN trong thời gian tới…

Một số trường cũng thực hiện các nghiên cứu khảo sát các sinh viên đã tốt nghiệp như điều tra dấu vết do trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2000); Khảo sát đánh giá tình hình sinh viên sau tốt nghiệp từ năm 2006

Trang 15

của Học viện Tài chính do Viện Kinh tế tài chính và học viện tài chính phối hợp thực hiện; Đánh giá chất lượng đào tạo từ hướng tiếp cận cựu sinh viên của trường Đại học Bách Khoa TP Hồ Chí Minh thực hiện năm 2002 Bên cạnh đó, một số trường cũng thực hiện lấy ý kiến của cựu sinh viên như trường Đại học Hàng Hải, trường Đại học Nông – Lâm, trường Cao đẳng Hoa Sen TP Hồ Chí Minh, trường Đại học Thương Mại… Các nghiên cứu này được thực hiện với đối tượng là cựu sinh viên để tìm hiểu sự thích ứng của sinh viên với thị trường lao động Ngoài ra, các trường còn thực hiện một số cuộc khảo sát đánh giá của doanh nghiệp về sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Kinh tế Quốc dân do trường ĐH Kinh tế Quốc dân thực hiện năm 2005; Điều tra công giới về thị trường việc làm và tình hình sử dụng cựu sinh viên ngành ngông học trường ĐH Nông nghiệp I Hà Nội do trường ĐH Nông nghiệp I Hà Nội thực hiện năm 2006 … Các nghiên cứu này đều lấy ý kiến của các cơ sở sử dụng lao động về những sinh viên tốt nghiệp các ngành học của trường Mục tiêu điều tra nhằm lấy thông tin về nhu cầu tuyển dụng sinh viên các ngành trường đào tạo

Đây là những tài liệu hữu ích về đào tạo đại học và thị trường lao động

mà đề tài đã tham khảo trong quá trình triển khai Các tài liệu đó chủ yếu nói đến vấn đề chất lượng nhân lực sau đào tạo đại học và sử dụng nhân lực sau đào tạo đại học ở Việt Nam nhưng chưa chia ra từng giai đoạn cụ thể để nghiên cứu sâu hơn để rút ra bài học kinh nghiệm cho giai đoạn tiếp theo

Tóm lại, sinh viên tốt nghiệp đại học chính là sản phẩm của đào tạo đại học Chất lượng làm việc của sinh viên này trong các doanh nghiệp, tổ chức,

cơ quan, xí nghiệp phản ánh rõ nét nhất chất lượng đào tạo của trường đại học Vì thế, việc nghiên cứu đề xuất một số chỉ tiêu đánh giá năng lực làm việc của sinh viên tốt nghiệp: Áp dụng cho trường ĐH Kinh tế - ĐH Quốc Gia HN để đưa ra một số khuyến nghị điều chỉnh phát triển chất lượng nguồn

Trang 16

nhân lực ở VN đến năm 2020 có giá trị thực tiễn trong bối cảnh kinh tế - xã hội như hiện nay

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

a Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất một số chỉ tiêu đánh giá năng lực làm việc của sinh viên tốt nghiệp đại học: áp dụng một số chỉ tiêu đánh giá năng lực làm việc cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Đại học

Quốc gia Hà Nội

b Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận về đánh giá năng lực làm việc của sinh viên tốt nghiệp đại học và một số chỉ tiêu đánh giá năng lực làm việc

Phân tích thực trạng năng lực làm việc của sinh viên tốt nghiệp Đại học Kinh tế năm 2010 thông qua một số chỉ tiêu đánh giá năng lực làm việc

Đề xuất một số chỉ tiêu đánh giá năng lực làm việc của sinh viên tốt nghiệp Đại học sau khi áp dụng đánh giá thử năng lực làm việc của sinh viên Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng

Một số tiêu chí đánh giá năng lực làm việc của sinh viên hệ đại học đã tốt nghiệp từ 1-2 năm tại ĐH Kinh tế - ĐH Quốc Gia Hà Nội hiện đang làm việc tại một số doanh nghiệp ở Việt Nam

b Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu một số tiêu chí đánh giá năng lực làm việc

và áp dụng đánh giá sinh viên tốt nghiệp đại học Kinh tế về trình độ đáp ứng công việc: kỹ năng mềm (tiếng anh, tin học, giao tiếp hay thuyết trình, bày tỏ

ý kiến cá nhân), khả năng giải quyết các công việc thực tế ở doanh nghiệp họ đang làm

Trang 17

5 Phương pháp nghiên cứu

Hồi cứu tư liệu: Tham khảo, nghiên cứu một số tài liệu có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu của đề tài

Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến của một số các chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực giáo dục, nhân lực nhằm hiểu một cách chuyên sâu về vấn

đề chất lượng nguồn nhân lực các trở ngại đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo, trên cơ sở đó cùng thống nhất đưa ra một số khuyến nghị điều chỉnh nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo ở VN

Phương pháp thống kê: Phân tích số liệu thống kê GD, liên kết với một

số chỉ tiêu kinh tế - xã hội

Phương pháp điều tra bảng hỏi: Quy mô cuộc khảo sát thông qua 317 sinh viên tốt nghiệp cử nhân năm 2010 qua email, số điện thoại

Bảng hỏi cùng tài liệu hướng dẫn trả lời được gửi đến một số cựu sinh viên của trường ĐH Kinh tế qua email và một số sinh viên được điều tra qua điện thoại

Bảng hỏi gồm phần lớn là các câu hỏi đóng, bảng hỏi có kết cấu như sau:

o Phần 1: Các thông tin chung về sinh viên tốt nghiệp

o Phần 2: Các thông tin về tình hình làm việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp Các câu hỏi được đưa ra trong phần này là những thông tin có liên quan đến những khó khăn và thuận lợi của SVTN trong tìm kiếm việc làm và những đánh giá về khả năng thích ứng với công việc đã lựa chọn

o Phần 3: Những nhận định của SVTN về chương trình đào tạo được thụ hưởng tại trường Là các vấn đề có liên quan đến chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, cơ sở vật chất… và về khả năng chiếm lĩnh kiến thức sau khi hoàn thành chương trình học Bên cạnh đó là những thông tin phản ảnh về những khó khăn thuận lợi SVTN đã gặp trong quá trình học tập tại trường

Trang 18

6 Những đóng góp của luận văn

Hệ thống hóa một số khái niệm cơ bản như năng lực, năng lực làm việc, đánh giá năng lực, nhân lực,…

Đề xuất một số tiêu chí để đánh giá năng lực làm việc của sinh viên tốt nghiệp

Áp dụng tiêu chí cho trường ĐH Kinh tế nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm giáo dục và năng lực làm việc của sinh viên

7 Kết cấu luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chương 1 Một số cơ sở lý luận về đánh giá năng lực làm việc của sinh viên tốt nghiệp

Chương 2 Ứng dụng một số chỉ tiêu đánh giá cho Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội

Chương 3 Đề xuất chỉ tiêu đánh giá năng lực làm việc của sinh viên tốt nghiệp tại Đại học Kinh tế

Trang 19

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC LÀM VIỆC CỦA

SINH VIÊN TỐT NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Năng lực

Theo quan điểm của những nhà tâm lý học: Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động hiệu quả cao.[26]

Khái niệm năng lực được biểu hiện dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau Theo cách tiếp cận truyền thống (tiếp cận hành vi), năng lực là khả năng đơn

lẻ của cá nhân, được hình thành dựa trên sự kết hợp giữa kiến thức và kỹ năng

cụ thể Năng lực được đánh giá thông qua kết quả có thể quan sát được

Theo John Erpenbeck (1998), “năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc như là khả năng, hình thành qua trải nghiệm/ củng cố kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí”

Nhiều thập kỷ gần đây, năng lực được nhìn nhận dưới tiếp cận tích hợp

Theo Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn (1998) “năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của mọi hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” Còn nhà tâm lý học người Pháp – Denyse Trembaly (2002) thì quan niệm rằng “năng lực là khả năng hành động, đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống”

Trang 20

Năm 2002, Tổ chức các nước kinh tế Phát triển (OECD) đã thực hiện một nghiên cứu lớn về những năng lực cần đạt của người lao động trong thời

kỳ kinh tế tri thức Nghiên cứu này xác định “năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức tạp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bổi cảnh cụ thể”

Trong nghiên cứu này, năng lực được quan niệm là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công công việc của mình

Nói cách khác năng lực là tổ hợp nhiều khả năng và giá trị được cá nhân thể hiện qua các hoạt động có hiệu quả Khi mô tả năng lực cá nhân người ta hay dùng các động từ chỉ hành động như: hiểu, biết, phân tích, khám phá, sử dụng, xây dựng, vận hành… Muốn đánh giá năng lực cá nhân phải xem xét chúng trong hoạt động Năng lực của người lao động đáp ứng với yêu cầu của công việc là sự tổng hợp toàn bộ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm được tích lũy trong quá trình học tập tại trường đại học và trong thời gian làm việc thực

tế được biểu hiện qua mức độ hoàn thành công việc của họ

1.1.2 Năng lực của sinh viên tốt nghiệp đại học

Năng lực của sinh viên tốt nghiệp đại học là những năng lực mà cá nhân người tốt nghiệp đại học có được sau khi hoàn thành chương trình giáo dục đào tạo đại học Như đã đề cập ở khái niệm năng lực, năng lực của người tốt nghiệp đại học cũng là một năng lực tổng hợp, bao gồm nhiều thành tố và

có nhiều quan điểm khác nhau về những thành tố cấu thành năng lực của người tốt nghiệp đại học

 Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu giáo dục:

Trong giới nghiên cứu giáo dục cũng có nhiều quan điểm khác nhau về các thành tố của năng lực mà người tốt nghiệp đại học phải có Tuy nhiên, về

cơ bản, năng lực của người tốt nghiệp đại học bao gồm 4 thành tố (trích theo

Trang 21

Lê Đức Ngọc, 2006): 1/ Khối lượng, nội dung và trình độ kiến thức được đào tạo; 2/ Năng lực vận hành (kỹ năng kỹ xảo thực hành) được đào tạo; 3/ Năng lực nhận thức và năng lực tư duy được đào tạo; 4/ Năng lực xã hội (phẩm chất nhân văn) được đào tạo Đây là những thành tố cơ bản mà từ đó mội nhà nghiên cứu lại chia nhỏ hơn thành các kỹ năng hoặc các cấp độ năng lực đo đếm được

Chẳng hạn, chất lượng đào tạo đại học được phân loại theo năng lực, với các mức như sau [11]:

 Kỹ năng, kỹ sảo: Bắt chước Thao tácChuẩn hóaPhối hợpTự động hóa

 Năng lực nhận thức: BiếtHiểuVận dụngPhân tíchTổng hợpĐánh giáChuyển giao Sáng tạo

 Năng lực tư duy: Tư duy logic Tư duy trừu tượng Tư duy phê phán Tư duy sáng tạo

 Phẩm chất nhân văn: Khả năng hợp tác Khả năng thuyết phục

Khả năng quản lý Một cách phân chia khác về năng lực của người tốt nghiệp đại học là căn cứ vào mục tiêu của giáo dục đại học toàn diện, theo đó, năng lực của người tốt nghiệp đại học bao gồm bốn nội dung: 1/Phẩm chất công dân, lý tưởng và kỹ năng sống; 2/Tri thức (chuyên môn, xã hội, ngoại ngữ, tin học)

và khả năng thường xuyên cập nhận kiến thức; 3/Khả năng giao tiếp, hợp tác, năng lực thích ứng với những thay đổi; 4/Khả năng thực hành, tổ chức và thực hiện công việc, khả năng tìm việc làm và tự tạo ra việc làm có ích cho bản thân và người khác (trích theo Bùi Mạnh Nhị, 2004)

Một nhà nghiên cứu khác lại cho rằng người tốt nghiệp đại học có ba năng lực nổi trội và đánh giá ba năng lực này là có thể đánh giá được mức độ

Trang 22

thành công trong công việc của họ: 1/Có khả năng tìm được việc làm, tạo được việc làm trong một thị trường lao động đầy biến động; 2/Có khả năng tự học, tự đào tạo, thường xuyên cập nhận kiến thức của mình và 3/ Có khả năng chuyển đổi ngành nghề, chiếm lĩnh được những trình độ chuyên môn mới, đó chính là yếu tố của năng lực thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng [1]

Gần với quan điểm này nhất là quan điểm về tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo đại học, theo đó, đối với từng ngành đào tạo, người tốt nghiệp phải có năng lực sau: 1/ Phẩm chất xã hội – nghề nghiệp (đạo đức, ý thức, trách nhiệm và uy tín …); 2/ Các chỉ số về sức khỏe, tâm lý, sinh học; 3/ Trình độ kiến thức, kỹ năng chuyên môn; 4/ Năng lực hành nghề (cơ bản và thực tiễn); 5/Khả năng thích ứng với thị trường lao động; 6/ Năng lực nghiên cứu và tiềm năng phát triển nghề nghiệp (Trần Khánh Đức, 2004)

 Theo quan điểm của các trường đại học:

Các trường đại học có quan điểm gần với các nhà nghiên cứu giáo dục về năng lực của người lao động tốt nghiệp đại học Tuy nhiên, họ quan tâm nhiều hơn đến các tiêu chí cụ thể để đo lường khả năng đáp ứng với yêu cầu thực tế công việc của người lao động Các thành tố của năng lực theo quan điểm của trường đại học có vẻ ít hàn lâm hơn của các nhà nghiên cứu giáo dục

Hiệp hội các trường đại học trên thế giới có các tiêu chí rất rõ ràng để

đo lường năng lực của người lao động tốt nghiệp đại học, bao gồm 9 tiêu chí (Journal of Higher Education, 2008): 1/ Có sự sáng tạo và thích ứng cao trong mọi hoàn cành, chứ không chỉ học để đảm bảo tính chuẩn mực; 2/ Có khả năng thích ứng với công việc mới; 3/ Biết đặt những câu hỏi đúng; 4/ Có kỹ năng làm việc theo nhóm; 5/ Có hoài bão để trở thành những nhà khoa học lớn; 6/ Có năng lực tìm kiếm và sử dụng thông tin; 7/ Biết kết luận, phân tích

Trang 23

đánh giá; 8/ Chấp nhận sự đa dạng; 9/Biết phát triển, chứ không đơn thuần là chuyển giao; 10/ Biết vận dụng những tư tưởng mới

Trong khi đó, Hiệp hội các trường đại học Châu Á lại có những tiêu chí

về năng lực khả tổng quát và toàn diện Theo họ, sản phẩm đào tạo của các trường đại học phải có những năng lực sau (Lê Đức Ngọc, 2004): 1/Chỉ số thông minh (IQ); 2/Chỉ số sáng tạo (CQ); 3/Chỉ số cảm xúc (EQ); 4/Chỉ số đạo đức (MQ); 5/ Chỉ số say mê (PQ); 6/ Chỉ số số hóa (DQ) (chính là hiểu biết và khả năng sử dụng công nghệ thông tin, truyền thông trong công tác); 7/ Chỉ số quốc tế hóa (InQ) (bao gồm hiểu biết về ngôn ngữ, dân tộc, văn hóa, các nền văn minh thế giới, bản chất và xu thế toàn cầu hóa, khả năng giao lưu, hợp tác)

Các trường đại học của Việt Nam chưa có những tiêu chí chung về năng lực của người tốt nghiệp đại học Tuy nhiên, một số cuộc khảo sát do các trường đại học thực hiện với các cựu sinh viên có đề cập đến những năng lực của họ Chẳng hạn, trường Đại học Kinh tế Quốc dân trong cuộc khảo sát thực hiện năm 2005 đã đề cập đến những tiêu chí sau của người sinh viên tốt nghiệp từ trường mình, bao gồm: 1/ Kiến thức cơ bản về chuyên môn; 2/ Khả năng ra quyết định; 3/ Khả năng thích nghi; 4/ Khả năng làm việc độc lập; 5/ Khả năng làm việc theo nhóm; 6/ Khả năng sử dụng ngoại ngữ; 7/ Khả năng

sử dụng vi tính; 8/ Khả năng giao tiếp; 9/ Kỹ thuật lao động (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, 2005.)

Trường Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh cụ thể hóa năng lực của sinh viên sau khi tốt nghiệp thành 16 tiêu chí Các tiêu chí này được sử dụng trong cuộc điều tra qui mô nhỏ về cựu sinh viên chứ không phải tiêu chí chính thức mà sinh viên của trường cần phải đạt Theo đó, sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Bách Khoa Tp Hồ Chí Minh có được những năng lực

Trang 24

sau (Trường Đại học Bách Khoa Tp Hồ Chí Minh, 2005): 1/ Có lợi thế cạnh tranh trong công việc; 2/ Nâng cao khả năng tự học; 3/Chịu áp lực công việc cao; 4/ Tư duy độc lập, năng lực sáng tạo; 5/ Thích ứng với môi trường mới; 6/ Kỹ năng phân tích, đánh giá và giải quyết vấn đề; 7/ Kỹ năng chuyên môn tốt; 8/ Ứng dụng kiến thức vào công việc thực tiễn; 9/ Kiến thức và kỹ năng

về quản lý/tổ chức công việc; 10/ Thăng tiến nhanh trong tương lai; 11/ Làm việc trong môi trường đa văn hóa; 12/ Sử dụng tin học tốt; 13/ Tính chuyên nghiệp; 14/ Làm việc nhóm; 15/ Sử dụng ngoại ngữ tốt và 16/ Kỹ năng giao tiếp tốt

1.1.3 Năng lực làm việc

Tài liệu của OCED đưa ra rất nhiều định nghĩa về năng lực làm việc, như: Theo Rycher (2004,tr 7) “năng lực làm việc là khả năng đáp ứng các yêu cầu hoặc tiến hành thành công một công việc Năng lực này bao gồm khía cạnh nhận thức và phi nhận thức” Còn theo Winch và Foreman-Peck (2004,

tr 4) “năng lực làm việc là một hỗn hợp bao gồm các hành động, kiến thức,

giá trị và mục đích thay đổi bối cảnh”.[20]

1.1.4 Khả năng đáp ứng công việc của NNL sau đào tạo

Theo từ điển tiếng Việt: “đáp ứng là đáp lại theo đúng như đòi hỏi, yêu cầu” Trong nghiên cứu này, đáp ứng công việc được hiểu là đáp lại những đòi hỏi, yêu cầu của công việc Người có khả năng đáp ứng công việc là những người có đủ năng lực để hoàn thành được các yêu cầu, đòi hỏi của công việc Chủ thể đáp ứng với công việc trong nghiên cứu này chính là những người lao động có trình độ đại học, hay nói cách khác là sinh viên đã tốt nghiệp đại học Mức độ đáp ứng công việc của sinh viên tốt nghiệp đại học chính là mức độ hoàn thành các yêu cầu, đòi hỏi của công việc dựa trên năng lực mà những sinh viên tốt nghiệp đại học tích lũy được

Trang 25

1.1.5 Đánh giá - Đánh giá năng lực

Theo Nguyễn Hữu Châu (2008), “Đánh giá là căn cứ vào các số đó và các tiêu chí xác định đánh giá năng lực và phẩm chất của sản phẩm đào tạo để nhận định, phán đoán và đề xuất các quyết định nhằm nâng cao không ngừng chất lượng đào tạo Đánh giá có thể định lượng vào các con số hoặc định tính dựa vào các ý kiến và giá trị”

Theo J.M Deketele: “Đánh giá có nghĩa là xem xét mức độ phù hợp của một tập hợp các thông tin thu được với một tập hợp các tiêu chí thích hợp của mục tiêu đã xác định nhằm đưa ra quyết định theo một mục đích nào đó”

Theo Khối Thịnh Vượng Anh (2003), “đánh giá năng lực không chỉ là việc đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ hoặc hành động học tập Nó bao hàm việc đo lường khả năng tiềm ẩn của học sinh và đo lường việc sử dụng những kiến thức, kỹ năng, và thái độ cần có để thực hiện nhiệm vụ học tập tới “một chuẩn” nào đó”

Hay theo Wolf (2001), “Đánh giá năng lực dựa trên việc miêu tả các sản phẩn đầu ra cụ thể, rõ ràng tới mức giáo viên, học sinh và các bên liên quan đều có thể hình dung tương đối khách quan và chính xác về thành quả của học sinh sau quá trình học tập Đánh giá năng lực cũng cho phép nhìn ra tiến bộ của học sinh dựa trên mức độ thực hiện các sản phẩm”

Đánh giá năng lực là đánh giá việc thực hiện Tuy nhiên để thực hiện một hoạt động nào đó có kết quả thì bao giờ cũng có một quá trình bao gồm

từ nhận thức (cognitive) với sự tác động của tình cảm (affective) để lựa chọn cách hành động sau đó tiến hành hành động (active) để có kết quả (product) Bên cạnh đó thì trong các hoàn cảnh thực tế khác nhau, bằng kinh nghiệm và khả năng riêng, cá nhân học sinh sẽ có những điều chỉnh hành động hợp lí

Trang 26

và kinh nghiệm thì rất khó có được nhận thức đúng Tuy nhiên, khi đã có nhận thức đúng thì hành động còn phụ thuộc vào tình cảm, kinh nghiệm của người thực hiện Nếu người thực hiện có tình cảm tốt, giầu kinh nghiệm thì sẽ chọn phương án tối ưu để thực hiện hành động nhằm đem lại chất lượng cao nhất, trong thời gian ngắn nhất để có được sản phẩm như mong muốn Ngược lại, nếu người thực hiện hoạt động có tình cảm hoặc kinh nghiệm không tốt thì sẽ có những chọn lựa không đúng hoặc cố tình làm theo cách mà không đem lại hiệu quả cao dẫn đến sản phẩm kém chất lượng

Trong việc chọn lựa cách thực hiện và trong quá trình thực hiện một hoạt động nào đó thì một yếu tố rất quan trọng tác động đó là ngữ cảnh, điều kiện cụ thể của đời sống thực Nói cách khác, ngoài tác động của yếu tố tâm lí (động cơ, tình cảm…) của người thực hiện thì cần chú trọng thêm tới các điều kiện, yếu tố khác bên ngoài tác động khi những hành động/hành vi xảy ra Vì vậy, nếu chỉ đánh giá sản phẩm/kết quả của hành động/hành vi thì

Trang 27

chưa thể khẳng định đúng được năng lực của người thực hiện Để đánh giá chính xác năng lực thì cần chú trọng đến tất cả các thành tố tạo nên sản phẩm cuối cùng

Trong khuôn khổ của đề tài, “đánh giá năng lực” là việc làm đánh giá khả năng đáp ứng của sinh viên tốt nghiệp đại học đối với yêu cầu của công việc ở mức độ nào

1.1.6 Cách tiếp cận đánh giá sản phẩm giáo dục

Sinh viên tốt nghiệp đại học chính là những sản phẩm của giáo dục đại học được "lưu hành" trong xã hội Sản phẩm của giáo dục đại học rất đặc biệt, đó là Con người, là Nhân lực hiện đại Việc đánh giá chất lượng của loại sản phẩm đặc biệt này không dễ, bởi có những yếu tố thấy kết quả ngay nhưng cũng không ít điều cần thời gian kiểm nghiệm, thử thách Không thể chỉ đo chất lượng giáo dục đại học thông qua số lượng sinh viên tốt nghiệp, số sinh viên đi làm hay thất nghiệp sau khi tốt nghiệp, mặc dù đây cũng là những chỉ số của chất lượng, mà còn phải đo lường thông qua mức độ đáp ứng với công việc của sinh viên khi ra trường, mức độ hài lòng của người chủ cơ sở sử dụng lao động Cũng có những ý kiến cho rằng, có thể thiết kế những kỳ thi để đánh giá năng lực chung của người học, nhưng thực tế, mỗi kỳ thi đó chỉ có thể dùng để đánh giá trong từng lĩnh vực (ví dụ: kinh tế), và khó có thể có một kỳ thi dùng chung cho các lĩnh vực rất khác nhau như giữa xã hội-nhânvăn và kỹ thuật Hơn nữa, các kỳ thi đánh giá năng lực chung sẽ làm cho nhà trường ít chú ý đến đào tạo chuyên môn, trái với mục tiêu đào tạo chuyên môn hoá của giáo dục đại học Trên thế giới, tuỳ theo từng mô hình giáo dục đại học của từng nước mà áp dụng các phương thức đánh giá chất lượng và quản lý chất lượng giáo dục khác

nhau Cách tiếp cận đánh giá chất lượng giáo dục đại học thông qua đánh giá sản phẩm (outcome assessment) được sử dụng rộng rãi trên thế giới cũng

Trang 28

bởi tính chất đặc biệt của sản phẩm giáo dục đại học

1.1.7 Nhân lực – Nguồn nhân lực

1.1.7.1 Nhân lực

Trước hết, xin được trích lại khái niệm đã được trình bày và cơ bản thống nhất tại hội thảo về nhân lực do Trung tâm Phân tích và dự báo nhu cầu đào tạo nhân lực của Viện khoa học giáo dục Việt Nam thực hiện năm 2012 như sau: “Nhân lực được định nghĩa là bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội, tức là tất cả các thành viên trong tổ chức hay xã hội đó sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức

để thành lập, duy trì và phát triển tổ chức hay xã hội

Theo từ điển BusinessDictionary, nhân lực (manpower) là tổng thể lực lượng lao động của một quốc gia, bao gồm cả nam giới và nữ giới Nếu số lượng người vượt quá số lượng việc làm sẵn có tại một thời điểm, thì khi đó được gọi là dư thừa nhân lực; nếu số lượng việc làm vượt quá số người lao động, thì khi đó gọi là thiếu nhân lực (Total labor force of a nation, including both men and women If there are more people than available jobs, it is called manpower surplus; if available people are fewer than jobs, it is called

manpower deficit)

Như vậy, nhân lực có thể được hiểu là sức người được cung cấp trong quá trình sản xuất Nói một cách khái quát, nhân lực là toàn bộ khả năng về thể lực, trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được, có tiềm năng đem lại thu nhập khi được sử dụng trong sản xuất.”

1.1.7.2 Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực (NNL) có thể được định nghĩa từ quan điểm phát triển

kinh tế, theo đó nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định

có khả năng tham gia lao động Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt:

Trang 29

số lượng và chất lượng, số lượng là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; chất lượng là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động

Beng, Fischer & Dornhusch (1995) cho rằng, nguồn nhân lực được hiểu

là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai

Theo GS Phạm Minh Hạc (2001) thì nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung) bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa [4]

Ngoài ra, theo Liên Hợp Quốc (1999) thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”

Tóm lại, nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố

số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả ở hiện tại cũng như trong tương lai dưới dạng tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới

1.2 Một số chỉ tiêu đánh giá năng lực làm việc của nguồn nhân lực sau

đào tạo ở Việt Nam

1.2.1 Trình độ chuyên môn nghiệp vụ

1.2.1.1 Học lực, bảng điểm, bằng cấp

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ trước tiên được thể hiện thông qua kết quả học tập, điểm tốt nghiệp và phân loại tốt nghiệp ở mức độ nào (yếu, trung

Trang 30

bình, khá, giỏi, xuất sắc), đó chính là cơ sở đầu tiên để đánh giá năng lực của một cá nhân nào đó

Trình độ chuyên môn thể hiện qua học lực chính là thể hiện nội tại bản thân người học có những khả năng, kỹ năng bẩm sinh và được trau dồi qua thực tế

1.2.1.2 Số lần thay đổi công việc

Số lần thay đổi công việc cũng là một tiêu chí để đánh giá năng lực làm việc của người lao động và thể hiện ở hai mặt:

Đối với người có khả năng làm việc tốt, có thể họ sẽ thay đổi 2, 3 hay nhiều công việc bởi vì họ thử sức, muốn tìm đến một công việc, một vị trí tốt hơn để thể hiện bản thân mình

Hoặc đối với những người khả năng làm việc của họ ở vị trí hiện tại chưa phù hợp đúng với khả năng của họ, khả năng của họ chưa đủ để đáp ứng yêu cầu công việc, họ sẽ tìm đến một công việc mới phù hợp hơn với mình để làm, cồng hiến và phát triển

1.2.1.3 Môi trường làm việc

Tiêu chí môi trường làm việc có tác động lớn đến trình độ chuyên môn nghiệp vụ Ở một môi trường làm việc chuyên nghiệp, được đào tạo bài bản,

có văn hóa doanh nghiệp và văn hóa làm việc cao sẽ là một quy chuẩn để cho người lao động hướng tới và tự ý thức được bản thân; đặc biệt ở một môi trường làm việc tốt mọi mặt, người lao động sẽ có cơ hội để phát triển chuyên môn của mình nhiều hơn Ngược lại, ở một môi trường làm việc không tốt, ít chuyên nghiệp, nó cũng sẽ tác động mạnh mẽ đến người lao động ở đó

1.2.1.4 Vị trí và thu nhập

Tuy vị trí và thu nhập là thước đo của tổng hợp: trình độ chuyên môn, các kỹ năng mềm, kỹ năng bổ trợ và phẩm chất của sinh viên, nhưng nó phản ánh lớn nhất ở trình độ chuyên môn nghiệp vụ của sinh viên

Trang 31

1.2.1.5 Khả năng triển khai được các yêu cầu công việc

Khả năng triển khai được yêu cầu công việc đòi hỏi người lao động phải đầu tư chất xám, phải tiếp cận, tìm hiểu, hiểu rõ và triển khai được yêu cầu của công việc được giao Tiêu chí phản ánh trình độ chuyên môn nghiệp

vụ sâu đối với sinh viên mới tốt nghiệp và mới bắt đầu công việc

1.2.1.6 Khả năng tự học tập bồi dưỡng, nâng cao trình độ

Khả năng tự nâng cao trình độ bản thân, tự học tập để trau dồi kiến thức chuyên môn, kỹ năng cho công việc cũng là tiêu chí phản ánh trình độ chuyên môn nghiệp vụ của sinh viên tốt nghiệp

1.2.2 Khả năng đáp ứng công việc của NNL sau đào tạo

1.2.2.1 Sự phù hợp giữa chuyên ngành được đào tạo và thực tiễn công việc

Tiêu chí đầu tiên phản ánh khả năng đáp ứng công việc của NNL sau đào tạo đó chính là sự phù hợp giữa chuyên ngành được đào tạo với công việc thực tiễn Việc phù hợp giữa chuyên ngành được đào tạo và công việc rất quan trọng, đó chính là tiêu chí cơ bản để sinh viên có thể hiểu bản chất để tiếp cận với công việc một cách dễ dàng hơn

1.2.2.2 Thời gian thích ứng công việc

Thời gian thích ứng công việc đó chính là thời gian để sinh viên tiếp

cận, nắm vững và làm chủ công việc

1.2.2.3 Mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của sinh viên

Sinh viên sau ra trường có đáp ứng được yêu cầu của công việc hay không, hay sinh viên chỉ đáp ứng được ở mức khá tốt, hay sinh viên chỉ đáp ứng được một phần công việc, hoặc không đáp ứng được công việc Đây chính là thang đo cho khả năng đáp ứng công việc của NNL sau đào tạo đại học

Trang 32

1.2.3 Các tiêu chí về kỹ năng mềm

1.2.3.1 Khả năng thích nghi nhanh

Yêu cầu của công việc luôn đa dạng vì vậy sinh viên cần linh hoạt trong làm việc Có thể sinh viên biết cách để viết các biên bản và thông báo theo đúng quy tắc nhưng sếp lại muốn người lao động của mình có cả khả năng ghi nhớ tốt và ghi chép nhanh trong công việc Điều quan trọng là sinh viên cần có khả năng thích nghi nhanh với những yêu cầu mới thậm chí trong

cả những thời điểm khó khăn, bất ổn

1.2.3.2 Khả năng xử trí xung đột

Những cuộc đối thoại căng thẳng, lắm lúc “nảy lửa” không phải là hiếm

ở công sở và những ai thiếu kỹ năng xử trí vấn đề hiệu quả sẽ hẳn nhiên gặp khó khăn.Vấn đề mấu chốt là tập trung vào kết quả, chứ không phải là cảm xúc cá nhân Cố gắng đánh giá đồng nghiệp bằng lý trí và hành xử tao nhã, cho dù bạn hoàn toàn không thể chấp nhận quan điểm của họ Nếu bạn mở lòng với người khác thay vì vội vàng “tát nước lạnh” vào ý tưởng của họ, họ cũng sẽ mở lòng và lắng nghe bạn

1.2.3.3 Năng lực sử dụng công nghệ thông tin

Năng lực cập nhật, tìm kiếm và sử dụng thông tin Trong trường học, các Giảng viên có thể chưa nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc đọc tin tức Thực tế, không gì ấn tượng hơn khi một “tân binh” có thể nắm bắt thông tin thời sự và liên hệ đến ngành cũng như là công việc của mình Sinh viên có thể email cho người sử dụng lao động những thông tin nóng liên quan đến ngành nghề của công ty, hay thậm chí là tóm tắt khi bài báo quá dài

Việc đọc tin tức và các ấn phẩm chuyên ngành để mở rộng kiến thức Sinh viên có thể tham khảo người sử dụng lao động và đồng nghiệp về những trang web hoặc tạp chí chuyên ngành cần đọc

Trang 33

1.2.3.4 Năng lực sử dụng ngoại ngữ trong công việc

Năng lực sử dụng thông thạo ngoại ngữ đang dần trở thành một kỹ năng không thể thiếu trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập hiện nay Khả năng sử dụng ngoại ngữ cũng là một trong những tiêu chí vô cùng quan trọng để nhiều nhà tuyển dụng lớn, đặc biệt là ở các công ty đa quốc gia đưa

ra để lựa chọn

1.2.3.5 Khả năng giao tiếp, truyền đạt thông tin

Những nhà tuyển dụng muốn nhân viên của họ có thể viết được những bản báo cáo với trình tự khoa học và không có bất cứ lỗi ngữ pháp hay chính

tả nào trong câu

1.2.3.6 Khả năng giải quyết vấn đề

Khả năng bình tĩnh giải quyết vấn đề khi có trường hợp đột xuất xảy ra đối với yêu cầu công việc, yếu tố quan trọng để hoàn thành tốt mục tiêu yêu

cầu công việc

1.2.3.7 Khả năng tổ chức và thực hiện công việc

Khả năng tổ chức và thực hiện công việc hay chính là khả năng tự quản thời gian Thực trạng của sinh viên mới ra trường thường cảm thấy nhiệm vụ của mình trong công ty là gật đầu, tức không được từ chối bất kỳ công việc nào được giao Nhưng nếu làm như vậy, bạn có thể không cân bằng được thời gian và xao lãng công việc chính, hoặc phải “rướn” hết mình chịu trận

Kỹ năng tự quản thời gian là cách sinh viên kiểm soát năng lượng và sự tập trung của mình

1.2.3.8 Khả năng làm việc nhóm

Khả năng làm việc nhóm là một trong những tiêu chí quan trọng để đạt hiệu quả trong công việc làm việc theo nhóm Điều này đòi hỏi người lao

Trang 34

động cần có tính cách hòa đồng, tôn trọng thời hạn công việc, và sẵn sàng giúp đỡ những thành viên còn lại trong nhóm để kịp tiến độ dự án cho dù việc

đó không thuộc nhiệm vụ của họ

1.2.3.9 Khả năng làm việc độc lập

Đây cũng là một tiêu chí vô cùng quan trọng người sử dụng lao động cần ở người lao động của mình, tiêu chí này đòi hỏi người lao động cần phải

có khả năng làm việc độc lập khi công việc đòi hỏi, yêu cầu

1.2.3.10 Năng lực nắm bắt cơ hội

Năng lực nắm bắt cơ hội là một trong những tiêu chí mềm khá quan trọng, nó đòi hỏi ở người lao động có cái nhìn nhanh nhạy và biết chớp thời

cơ, cơ hội để phát triển năng lực làm việc, năng lực tư duy

1.2.4 Phẩm chất nghề nghiệp

1.2.4.1 Thái độ làm việc và tính kỷ luật trong công việc

Ý thức tổ chức kỷ luật cao cùng thái độ làm việc chuyên nghiệp, nhiệt tình có trách nhiệm là tiêu chí quan trọng đầu tiên đối với người lao động

nghiêm túc có trình độ và năng lực

1.2.4.2 Khả năng lắng nghe và tiếp nhận các quan điểm khác

Biết lắng nghe và tiếp nhận các quan điểm từ người khác là một kỹ năng giúp sinh viên tiến đến thành công nhanh hơn Trong mọi hoàn cảnh, cần đánh giá công việc bằng lý trí và hành xử tao nhã ngay cả khi bất đồng quan điểm sẽ đạt được hiệu quả cao trong công việc Nếu biết lắng nghe, bạn

sẽ học thêm được nhiều điều từ người khác cũng như bạn có thể chia sẻ được

ý tưởng của mình cho người khác để nâng cao giá trị bản thân

Ngày đăng: 18/09/2020, 21:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w