1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động của các trường đại học ngoài công lập

52 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 781,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền sở hữu trong quá trình chuyển đổi từ trường đại học dân lập sang loại hình đại học tư thục nổi lên như một vấn đề chính khi Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định 63/2011/QĐvTTg v

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2013

Tác giả luận văn

Lê Hồng Vân Nhi

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giảng dạy tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong 2 năm học tập tại Trường

Tôi xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị nhân viên, quản lý của Trường đã cung cấp cho tôi một môi trường học tập tốt nhất và sẵn sàng giúp đỡ tôi khi cần thiết

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Phó Giáo sư – Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa – người

đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn; và Tiến

sĩ Vũ Thành Tự Anh đã giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị thành viên lớp MPP4, đặc biệt là Châu, Triết, Nghĩa, Dung đã luôn là những người bạn thân thiết, giúp đỡ, động viên và khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Và cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình đã luôn yêu thương và ủng hộ tôi

Lê Hồng Vân Nhi

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC HỘP vii

DANH MỤC HÌNH VẼ vii

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1

1.1 Bối cảnh chính sách 1

1.2 Lý do chọn đề tài 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.6 Phương pháp nghiên cứu 3

1.7 Nguồn thông tin 3

1.8 Kết cấu đề tài và khung phân tích 3

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 5

2.1 Một số khái niệm 5

2.1.1 Đại học tư thục 5

2.1.2 Quản lý nhà nước về giáo dục đại học 6

2.2 Cơ sở để nhà nước can thiệp vào hoạt động của các trường đại học NCL 6

2.3 Các hình thức can thiệp của nhà nước 8

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP 10

3.1 Sự hình thành và phát triển của các trường đại học NCL 10

3.2 Những vấn đề các trường đại học NCL đang phải đối mặt 13

3.2.1 Số lượng tăng nhanh chưa tương xứng với nguồn lực 13

3.2.2 Chất lượng đào tạo chưa cao 15

Trang 4

3.2.3 Tình hình tuyển sinh tại các trường NCL 16

3.2.4 Vấn đề về quyền sở hữu khi chuyển đổi từ loại hình dân lập sang tư thục 17

3.3 Cơ sở pháp lý quản lý các trường ĐHTT 19

3.4 Mô hình quản lý nhà nước đối với các trường ĐHTT 20

CHƯƠNG 4 ĐÁNH GIÁ CÁC CHÍNH SÁCH CAN THIỆP CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TƯ THỤC 21

4.1 Cơ sở can thiệp của nhà nước 21

4.2 Các tiêu chí đánh giá chính sách theo OECD 22

4.3 Tiêu chí “Phục vụ các mục tiêu chính sách” 23

4.4 Tiêu chí “Nền tảng pháp lý và kinh nghiệm hợp lý” 23

4.5 Tiêu chí “Lợi ích – chi phí và phân bổ tác động” 26

4.6 Tiêu chí “Giảm thiểu tối đa chi phí và biến dạng thị trường” 27

4.7 Tiêu chí “Rõ ràng, đơn giản và thực tế với người sử dụng” 28

4.8 Tiêu chí “Khuyến khích đổi mới” 30

4.9 Tiêu chí “Phù hợp với các quy định và chính sách khác” 31

4.10 Tiêu chí “Tương thích với các nguyên lý cạnh tranh, thương mại và thuận lợi cho đầu tư” 32

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 33

5.1 Kết luận 33

5.2 Kiến nghị chính sách 34

5.2.1 Nâng cao chất lượng đào tạo 34

5.2.2 Nới lỏng nguồn tuyển sinh đầu vào cho các trường ĐHTT 35

5.2.3 Vấn đề bảo toàn vốn khi chuyển từ loại hình dân lập sang loại hình tư thục 36

5.3 Tính khả thi của kiến nghị chính sách 36

5.4 Hạn chế và hướng phát triển của đề tài 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO 38

PHỤ LỤC 41

Trang 5

TÓM TẮT

Chính sách xã hội hóa trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa đang được nhà nước thực hiện, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục Trong xu hướng đó, các trường đại học ngoài công lập đã liên tục hình thành, tạo nên một đối trọng với các trường đại học công lập trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước

Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động của các trường đại học ngoài công lập, đặc biệt là các trường đại học tư thục hiện nay gặp phải những trở ngại lớn Công tác quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cơ quan ban ngành liên quan, bằng Luật, quy định, quy chế, quyết định đã gây ra những rào cản trong hoạt động của các trường đại học tư thục

Đề tài khái quát những vấn đề tồn tại mà các trường đại học tư thục gặp phải, cũng như thực trạng quản lý nhà nước đối với các cơ sở giáo dục này Đó là những vấn đề về chất lượng đào tạo, năng lực giảng viên, nguy cơ tan rã do không tìm được nguồn tuyển sinh đầu vào cũng như vấn đề về quyền sở hữu tài sản khi chuyển từ loại hình dân lập sang tư thục Quyền sở hữu trong quá trình chuyển đổi từ trường đại học dân lập sang loại hình đại học tư thục nổi lên như một vấn đề chính khi Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định 63/2011/QĐvTTg về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế tổ chức và hoạt động của trường đại học tư thục ban hành kèm theo quyết định số 61/2009/QĐvTTg

Trước những khó khăn của các trường đại học ngoài công lập, nhà nước có cơ sở và đã can thiệp vào hoạt động của những trường này Tuy nhiên, chính sách nhà nước cần được đánh giá một cách khách quan Luận văn đi sâu phân tích đánh giá chính sách can thiệp này dựa vào 8 tiêu chí của OECD

Từ những thực tế đó, đề tài đưa ra những kiến nghị chính sách nhằm cải thiện thực trang quản

lý nhà nước trong lĩnh vực này Các kiến nghị bao gồm nâng cao chất lượng đào tạo của hệ thống trường đại học tư thông qua chính sách sử dụng giảng viên của trường, cụ thể hóa các tiêu chuẩn về chất lượng đào tạo; nới lỏng nguồn tuyển sinh đầu bằng cách giao quyền tự chủ cho các trường và giải quyết vấn đề sở hữu thông qua xác định rõ mục tiêu vì lợi nhuận hay không vì lợi nhuận và cổ phần hóa khi chuyển từ loại hình dân lập sang tư thục

Trang 6

OECD Organization for Economic

Cooperation and Development

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

QTKD

Quyết định Quản trị kinh doanh

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Danh sách các trường Đại học NCL năm 1995 10

Bảng 3.2 Các trường đại học NCL ở Việt Nam năm 2001 12

Bảng 3.3 Thực tế tuyển sinh tại một số trường đại học NCL 17

Bảng 4.1 Hệ thống văn bản nhà nước quản lý các trường đại học NCL 25

Bảng 4.2 So sánh sự tương đồng giữa công ty cổ phần và đại học NCL 26

DANH MỤC HỘP Hộp 4.1 Mười tiêu chuẩn giáo dục đại học (theo Qui định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học 65/2007/QĐvBGDĐT) 30

Hộp 4.2 Mâu thuẫn nội bộ tại trường Đại học Hùng Vương 31

DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 2.2 Cây quyết định sự can thiệp của nhà nước 8

Hình 3.1 Số lượng các trường đại học, cao đẳng và sinh viên các cơ sở GDĐH 14

Hình 3.2 Tỉ lệ sinh viên/giảng viên ở các trường đại học 15

Hình 5.1 Năng lực của một giảng viên 35

Trang 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Bối cảnh chính sách

Giáo dục đại học (GDĐH) có vai trò vô cùng quan trọng đối với xã hội, mở ra cánh cửa

hiểu biết cho con người Đại hội lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định “giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển.” Đó là một sự khẳng định hết sức đúng đắn xuất phát từ lợi

ích của nhân dân ta, đồng thời phù hợp với chân lý phổ biến của lịch sử thế giới Vì vậy đầu tư vào giáo dục sẽ tích luỹ vốn con người, là chìa khoá để cho sự tăng trưởng kinh tế

và tăng thu nhập Từ quan điểm trên có thể thấy sự nghiệp giáo dục đào tạo có vị trí và vai trò hết sức to lớn trong quá trình phát triển kinh tế v xã hội của mỗi đất nước

Những năm 80 thế kỷ trước, giáo dục, y tế được xem là lĩnh vực mà nhà nước phải chịu trách nhiệm hoàn toàn và phải đầu tư phát triển và quản lý Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường như nước ta hiện nay, vai trò chủ thể của nhà nước trong hoạt động kinh tế v xã hội đã thay đổi, khu vực tư nhân dần có những đóng góp vào sự phát triển của đất nước; và cũng theo xu hướng tất yếu của xã hội, nhà nước cũng đã chuyển giao một số lĩnh vực cho tư nhân Đó là nền tảng của “xã hội hóa”, thuật ngữ được sử dụng gần đây ở Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế

Gần 25 năm xây dựng và phát triển, các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập (NCL)

đã đóng góp đáng kể cho nền giáo dục Hiện nay, hệ thống trường NCL đã chiếm 1/5 số trường, chiếm 1/7 số sinh viên cả nước, trong khi đó Nhà nước lại không tốn ngân sách cho việc đào tạo Một số chính sách của Nhà nước trong những năm gần đây liên quan đến xã hội hóa GDĐH và lưu ý nhiều đến loại hình các trường tư thục “Chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao” cũng đã đưa ra những biện pháp khuyến khích các loại hình nhà trường NCL

Tuy nhiên, sự phát triển về số lượng của các trường đại học NCL lại không đi kèm với chất lượng đào tạo Lượng sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học, đặc biệt là các trường đại học tư thục (ĐHTT) không có khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường việc làm, tình trạng sinh viên ra trường thất nghiệp là một hiện tượng đáng báo động Bên cạnh

đó, các phương tiện truyền thông báo chí hiện nay thường xuyên đưa tin về sự bất ổn

Trang 9

trong quản lý và sở hữu tại các trường ĐHTT, cũng như nguy cơ tan rã của các trường này Bên cạnh những thành tựu không thể chối cãi trong những năm trước đây, các trường đại học NCL hiện nay đang đứng trước những thách thức to lớn Nhìn chung, chất lượng của hệ thống trường NCL còn thấp, cơ sở vật chất (CSVC) chưa được đầu tư thích đáng, đội ngũ giảng dạy và cán bộ quản lý thiếu và yếu, sinh viên đầu vào có chất lượng thấp hơn so với các trường công lập… Các trường đại học NCL được xem là một tổ chức tư nhân hoạt động không theo ngân sách nhà nước Nhưng lĩnh vực GDĐH, ở bất cứ nước nào, đều mang một vị thế hết sức quan trọng và thị trường giáo dục không phải là thị trường hoàn hảo, luôn gặp phải những thất bại… Điều này chứng tỏ sự can thiệp của nhà nước trong việc quản lý các trường này là một chính sách đúng đắn Tuy nhiên đến nay về mặt luật pháp và cơ chế chính sách cho loại hình này còn nhiều bất cập, chưa phù hợp, gây ra tình trạng khó kiểm soát và thanh kiểm tra cho cơ quan quản lý, cụ thể là Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đối với hoạt động của những trường này

1.2 Lý do chọn đề tài

Hàng loạt những bất cập của GDĐH hiện nay như mở trường, mở ngành ồ ạt, tuyển sinh vượt chỉ tiêu, CSVC, đội ngũ giảng viên không đáp ứng yêu cầu… được chỉ ra không chỉ trên các phương tiện truyền thông mà còn là đề tài bàn thảo của Quốc hội Do đó việc tìm hiểu cơ sở can thiệp của nhà nước, đánh giá quản lý nhà nước đối với hoạt động của các trường đại học là cần thiết để tìm hiểu rõ hơn những vấn đề còn tồn tại, từ đó có những kiến nghị chính sách phù hợp nhằm phần nào tháo gỡ những vướng mắc, giúp các trường đại học NCL phát triển tốt hơn, góp phần vào sự nghiệp chung của cả nước

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với các trường NCL nhằm mục tiêu xác định những ưu điểm, khuyết điểm của công tác quản lý nhà nước đối với các trường đại học NCL nói chung, và các trường ĐHTT nói riêng, rút ra nguyên nhân của ưu khuyết điểm đó đồng thời đề xuất những cơ sở khoa học để đổi mới công tác quản lý nhà nước, thúc đẩy các trường ĐHTT phát triển ổn định, bền vững

1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các trường đại học NCL, bao gồm các trường ĐHTT, dân lập, không bao gồm các trường quốc tế, có vốn đầu tư 100% nước ngoài, thông qua

Trang 10

đánh giá và phân tích các văn bản Luật, Thông tư, Quy chế, Quyết định… liên quan đến

hệ thống giáo dục NCL

Đề tài chỉ nghiên cứu quản lý của nhà nước đối với hoạt động của các trường ĐHTT, dân lập không đi sâu nghiên cứu quá trình thành lập trường

1.5 Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài nhằm trả lời hai câu hỏi sau:

Thứ nhất, những khó khăn, vấn đề nổi cộm của hệ thống đại học NCL hiện nay là gì?

Thứ hai, vai trò của nhà nước trong việc sửa chữa, khắc phục khó khăn của hệ thống giáo

dục tư thục?

Thứ ba, những chính sách nào cần áp dụng để nhà nước giải quyết những khó khăn đó?

1.6 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp phân tích định tính Tác giả phân tích các Chính sách và Luật, Thông tư, Quy định, Quyết định của Chính phủ, Bộ, UBND đối với các trường đại học NCL, trong điều kiện tương quan so sánh với các trường đại học công lập Trong quá trình thực hiện, tác giả cũng phỏng vấn ý kiến của một số chuyên gia đang công tác tại lĩnh vực này

1.7 Nguồn thông tin

Nghiên cứu dựa trên các nguồn thông tin có sẵn như: Luật Giáo dục Đại học 2012, Luật Giáo dục 2005, Luật doanh nghiệp 2005; các Thông tư, Quyết định của Chính phủ, UBND trong lĩnh vực giáo dục Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng một số thông tin từ phỏng vấn chuyên gia

1.8 Kết cấu đề tài và khung phân tích

Ngoài phần Tổng quan (Chương 1), đề tài gồm 4 chương chính Chương 2 nêu lên cơ sở

lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và nguồn thông tin Chương 3 khái quát thực trạng hoạt động của các trường ĐHTT ở Việt Nam hiện nay Chương 4 tập trung phân tích đánh giá chính sách của nhà nước đối với các trường ĐHTT thông qua các văn bản quy phạm

Trang 11

pháp luật Chương 5 kết luận và đưa ra những kiến nghị chính sách, đánh giá tính khả thi cũng như những hạn chế của nghiên cứu

Trang 12

xã hội cũng được sử dụng

Căn cứ vào những quy định pháp luật về loại hình ĐHTT, (i) “trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng CSVC và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước” (Điều 48 v Luật giáo dục 2005); (ii) “trường Đại học tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng CSVC và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước hoạt động theo quy chế này và Điều lệ trường đại học, các quy định pháp luật” (Điểu 1 v Quy chế Tổ

chức và hoạt động của trường ĐHTT ban hành kèm QĐ 61 ngày 17/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ; QĐ 63 ngày 10/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tổ chức và hoạt động của trường ĐHTT ban hành kèm theo QĐ 61 ngày

17/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ); (iii) “Cơ sở GDĐH tư thục thuộc sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội D nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân, do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội D nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng CSVC.” (Điều 7 v Luật Giáo dục Đại học 2012 (có hiệu lực năm 2013))

Theo những quy định pháp luật trên, có thể định nghĩa về trường ĐHTT một cách ngắn

gọn như sau: Trường ĐHTT là một cơ sở GDĐH thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, do cá nhân hoặc tổ chức thành lập và hoạt động bằng vốn đầu ngoài ngân sách nhà nước

Các trường ĐHTT được chia thành hai loại, trường ĐHTT vì lợi nhuận v được tổ chức và hoạt động như các công ty đối vốn và các trường ĐHTT phi lợi nhuận v không được tổ chức như các công ty cổ phần, không có vốn cổ phần, cổ đông cũng như không chia lợi tức (Phạm Duy Nghĩa, 2012)

Trang 13

2.1.2 Quản lý nhà nước về giáo dục đại học

Quản lý nhà nước về GDĐH là việc nhà nước sử dụng quyền lực công để điều tiết hoạt động GDĐH theo mục tiêu của mình Đó là việc quyết định các chủ trương quản lý; tổ chức bộ máy để thực hiện nhiệm vụ và chủ trương quản lý; lựa chọn, sắp xếp cán bộ và bộ máy; giáo dục, bồi dưỡng và ra chính sách khích lệ; kiểm tra và đánh giá kết quả của việc quản lý (Lê Văn Giang, 2001) Quản lý nhà nước về GDĐH là những tác động tự giác của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển GDĐH (Trần Kiểm, 2006)

2.2 Cơ sở để nhà nước can thiệp vào hoạt động của các trường đại học NCL

Nhà nước sẽ can thiệp vào thị trường khi thị trường xuất hiện một trong các thất bại về phân bổ nguồn lực không hiệu quả hoặc nền kinh tế vận hành không đạt được những kết quả theo mong muốn của nhà nước (Vũ Thành Tự Anh, 2012) Những biểu hiện của thất bại thị trường là: tồn tại thế lực thị trường, thông tin bất cân xứng, hàng hóa công, ngoại tác và bất ổn vĩ mô Nguyên nhân gây nên thất bại của thị trường chủ yếu là do bản chất hàng hóa và cách thức mà thị trường đang vận hành Cần phải xem xét đặc điểm của thị trường GDĐH tư nhân để xác định cơ sở can thiệp của nhà nước trong thị trường này

Thứ nhất, khi xem xét ở góc độ hàng hóa công – với hai đặc điểm là không có tính cạnh

tranh và tính loại trừ (Pindyck & Rubinfeld, 1999, tr.691) v GDĐH được xem là một dịch

vụ tư thuần túy

Tính loại trừ: một hàng hóa, dịch vụ không mang tính loại trừ khi không thể loại trừ mọi

người khỏi việc tiêu dùng nó (Pindyck & Rubinfeld, 1999, tr.691) Đối với GDĐH tính loại trừ thể hiện ở việc người học khi muốn sử dụng dịch vụ phải tham gia thi tuyển, phải đóng học phí… Nếu người học không thỏa mãn những điều kiện đó sẽ không được hưởng

thụ dịch vụ GDĐH

Tính cạnh tranh: hàng hóa, dịch vụ không có tính cạnh tranh là khi một cá nhân có thể tiêu

dùng hàng hóa, dịch vụ đó mà không làm giảm đi sự hiện diện hay lợi ích của hàng hóa, dịch vụ đó đối với sự tiêu dùng của người khác, hay nói cách khác, chi phí biên cho việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ đó cho một người tiêu dùng bổ sung bằng không (Pindyck & Rubinfeld, 1999, tr.690) Rõ ràng chi phí biên cho việc cung cấp dịch vụ GDĐH cho một sinh viên bổ sung là lớn hơn không Trường đại học bị hạn chế về CSVC, số lượng sinh

Trang 14

viên được tuyển sinh, số lượng sinh viên trên một giảng viên… nên nếu tăng thêm một sinh viên thì phát sinh thêm chi phí nhất định về CSVC, tiền lương cho giảng viên, chi phí quản lý sinh viên… hoặc ảnh hưởng đến việc học của các sinh viên khác

Tuy nhiên, GDĐH mang lại ngoại tác tích cực Lợi ích tư nhân của việc học luôn nhỏ hơn lợi ích xã hội do tồn tại lợi ích ngoại tác của việc đi học Lợi ích ngoại tác là người đi học đem lợi ích cho người khác và xã hội Việc học sẽ giảm bớt tệ nạn xã hội, dễ dàng hơn cho nhà nước trong việc phổ biến và thực hiện các chính sách kinh tế văn hóa và xã hội Hơn nữa, các doanh nghiệp và cơ quan tuyển dụng cũng có lợi nhuận trong việc học của các cá nhân Người học sau khi tốt nghiệp sẽ có lợi ích trong việc học, sẽ làm việc cho các doanh nghiệp, sự chênh lệch giữa tiền lương và hiệu quả lao động của người được đào tạo là lợi nhuận mà doanh nghiệp có được do việc học mang lại

Do đó, dịch vụ GDĐH phải được nhà nước đảm bảo về chất lượng đào tạo để phục vụ tốt cho nhu cầu xã hội

Thứ hai, thị trường giáo dục vận hành không hiệu quả Hiện nay, hầu hết các trường ĐHTT

được sinh viên, phụ huynh đánh giá là có chất lượng đào tạo yếu kém và đứng trước nguy

cơ tan rã khi không có nguồn tuyển sinh đầu vào Về chất lượng đầu ra, các sinh viên tốt nghiệp tại các trường NCL có tỉ lệ thất nghiệp rất cao, không được thị trường lao động đón nhận như nguồn nhân lực chất lượng cao Trong khi đó, chất lượng đầu vào được đảm bảo một phần bằng hình thức thi tuyển, trong khi chất lượng đầu ra lại chưa kiểm định chặt chẽ bởi một cơ quan nào mà giao trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục

Từ những điều trên, GDĐH tư thục có xuất hiện sự thất bại của thị trường, nhà nước có cơ

sở để can thiệp Nhiều chuyên gia giáo dục và các chính sách gia cũng không đồng tình với việc giao giáo dục hoàn toàn cho thị trường điều phối Theo quan điểm của UNESCO

(UNESCO, 1996, tr.160, trích từ Bùi Chí Bình, 2012), “Giáo dục là tài sản chung không thể phó mặc cho thị trường.” Vì thế, dù là tổ chức nào hay cấp độ phân quyền nào hoặc đa

dạng hóa như thế nào trong một hệ thống, nhà nước phải thể hiện trách nhiệm đối với công dân của mình, bao gồm việc tạo ra sự thống nhất trên cả nước về giáo dục, đảm bảo rằng

hệ thống đó tạo ra một thể nhất quán và đưa ra cách nhìn dài hạn cho tương lai

Trang 15

cung ứng cho sinh viên theo

Tài chính: Hai đối tượng ch

an thiệp của nhà nước

h sự can thiệp của nhà nước

003), trích trong S ChiavoDCampo và P.S.A Sundaram

ng thức cơ bản để can thiệp vào thị trường: Duy trì th

m quyền

Nhà nước dùng các quy định nhằm mục đích điề

ng để hạn chế tối đa các thất bại vốn có, theo đ

c GDĐH, nhà nước ban hành những quy chế, qu

ng viên, chỉ tiêu tuyển sinh… để đảm bảo chất l

n theo học

ng chủ yếu nhà nước sử dụng dịch vụ này là các nhà Nhà nước có thể dùng công cụ thuế (miễn, giảm thu

c làm này nhằm chuyển một phần lợi ích từ nhà cung

ó thể dùng tiền, hiện vật hoặc gián tiếp qua chính s

thiệp

Duy trì thẩm quyền

Cung cấp trực tiếp

Cơ quan nhà nước khác

Bộ, ngành

Tài chính

Các nhà cung cấp dịch vụ

Người tiêu dùng Quy định

Ủy quyền

Thực thể có mục đích

Chính quyền cấp dưới

LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH

m (1999)

trì thẩm quyền và

ều tiết việc cung theo định hướng nhà , quy định về tiêu

t lượng nhất định

ác nhà cung cấp dịch

m thuế) hoặc trợ cấp cung cấp sang người hính sách thuế để trợ

Chính quyền cấp dưới

Các tổ chức phi chính phủ

Doanh nghiệp tư nhân

Tài trợ thu nhập

Phiếu trả tiền và Trợ giúp đặc biệt

Can thiệp

Không can thiệp

Trang 16

Cung cấp trực tiếp: Nhà nước có thể cung ứng dịch vụ cho thị trường thông qua các doanh

nghiệp nhà nước hoặc các đơn vị do nhà nước thành lập và vận hành

Phương thức ủy quyền

Ủy quyền cho cấp dưới: Tùy từng loại dịch vụ, chính quyền có thể ủy quyền cho cấp thấp

hơn lựa chọn chính sách trên cơ sở phân cấp, phân quyền hiện hữu

Ủy quyền cho các thực thể có mục đích xác định: Nhà nước có thể ủy quyền cho các chủ

thể khác, như các doanh nghiệp tư nhân, cung ứng dịch vụ Nhà nước có thể dùng biện pháp ký hợp đồng trực tiếp với các doanh nghiệp tư nhân để mua lại các dịch vụ và giữ quyền phân phối dịch vụ Nhà nước cũng có thể ký hợp đòng với các doanh nghiệp tư nhân

để doanh nghiệp tự cung ứng các dịch vụ theo các điều khoản nhất định Tất cả các hoạt đoọng cung ứng dịch vụ nói trên, dù được tiến hành dưới hình thức nào thì Nhà nước cũng

là người chịu trách nhiệm trước xã hội về việc cung ứng chúng(Lê Chi Mai, 2003, tr 47)

Trang 17

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

NGOÀI CÔNG LẬP

3.1 Sự hình thành và phát triển của các trường đại học NCL

Trước 1986, hệ thống GDĐH ở Việt Nam hoàn toàn được vận hành và tài trợ bởi chính phủ Sau thời kỳ đổi mới, nhà nước nhận thức được vai trò của nền kinh tế tư nhân, dần cho phép các cá nhân, tổ chức tham gia vào lĩnh vực giáo dục

Trước xu thế đó, năm 1988, Trường Đại học (ĐH) Thăng Long, đại học tư nhân đầu tiên của Việt Nam ra đời tại Hà Nội dưới chính sách đổi mới của chính phủ Việt Nam Trường được thành lập bởi một nhóm những nhà trí thức, dẫn đầu là Tiến sĩ Hoàng Xuân Sính Việc này tạo tiền đề cho sự phát triển của hệ thống GDĐH NCL sau này Vào thời điểm thành lập, ĐH Thăng Long chỉ đào tạo một khoa duy nhất là “Toán và Khoa học máy tính”, năm 1989 tuyển sinh khóa đầu tiên Đến 1993, trường chỉ đào tạo 150 sinh viên khoa Toán và Khoa học máy tính và 54 sinh viên khoa Quản trị nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo Kinh phí hoạt động của Trường lúc này phụ thuộc vào học phí và tài trợ từ nước ngoài (Việt kiều, các giáo sư ở các trường đại học tại Pháp, các tổ chức phi chính phủ…) Tuy nhiên, do nhận thức của phụ huynh và học ở thời điểm đó chưa đánh giá cao các trường tư, nên chất lượng sinh viên của trường chưa đạt được như kỳ vọng và mục tiêu đã đề ra

Tiếp theo sau trường ĐH Thăng Long, trong khoảng thời gian 3 năm 1993v1995, 7 trường đại học tư được hình thành: 2 ở miền Bắc (ĐH Phương Đông và ĐH Đông Đô); 4 ở miền Nam (ĐH Ngoại ngữ Tin học (HUFLIT), ĐH Văn Lang, ĐH Hùng Vương và ĐH Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) (HUTECH)); và ĐH Duy Tân ở Đà Nẵng, miền Trung Việt Nam (Lam, 1995)

Trang 18

Bảng 3.1 Danh sách các trường đại học ngoài công lập năm 1995

STT Trường Đại học Địa điểm Khoa ngành đào tạo Số lượng

sinh viên

Đội ngũ giảng viên

1 Thăng Long Hà Nội Toán và khoa học máy tính,

Quản trị, Luật, Ngoại ngữ

600

2 Phương Đông Hà Nội Tin học, Quản trị kinh doanh

(QTKD), Luật, Kế toán ngân hàng, Ngoại ngữ

3 Đông Đô Hà Nội Tin học, QTKD, Luật, Ngoại

ngữ

4 HUFLIT TPHCM Ngoại ngữ, Công nghệ thông

tin (CNTT), Văn hóa và đông phương học, QTKD quốc tế

5 Văn Lang TPHCM CNTT, QTKD, Ngoại ngữ,

Tài chính kế toán, Quản lý kỹ thuật môi trường

Nhiều trường đại học NCL được thành lập sau đó ở TPHCM như: ĐH Hồng Bàng (1997),

ĐH Kỹ thuật Tôn Đức Thắng (1997) Trường ĐH Kỹ thuật Tôn Đức Thắng được thành lập

Trang 19

trực tiếp bởi Liên đoàn Lao động TPHCM, không nhận tài trợ từ tư nhân mà được quản lý tài chính như một trường công lập Trường đổi tên thành ĐH Tôn Đức Thắng năm 2003 và hiện nay đã chuyển đổi thành trường bán công Những trường này hoạt động dưới sự quản

lý của Bộ GD&ĐT Sau vài năm hoạt động, một số trường đã mở thêm nhiều ngành mới

Bảng 3.2 Các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam năm 2001

1 Thăng Long Hà Nội Toán và khoa học máy tính, Quản trị, Ngoại ngữ

2 Phương Đông Hà Nội Tin học, QTKD, Luật, Kế toán, Ngân hàng, Ngoại ngữ

3 Đông Đô Hà Nội Tin học, QTKD, Luật, Ngoại ngữ

4 Mở Hà Nội Hà Nội Điện tử viễn thông, Công nghệ sinh học, CNTT, Du

lịch, Kinh tế, Luật, Mỹ thuật công nghiệp

5 Kinh doanh và Công

nghệ Hà Nội

Hà Nội QTKD, Tin học, Tiếng Anh, Thương mại và

Marketing, Tài chính kế toán

6 Hải Phòng Hải Phòng CNTT, Điện điện tử, Điện tử viễn thông, Công nghệ

môi trường, Xây dựng, Công nghệ khoáng sản, Nông nghiệp, Văn hóa và du lịch, Ngoại ngữ

7 HUFLIT TPHCM Ngoại ngữ, CNTT, Văn hóa và đông phương học,

QTKD quốc tế, Du lịch, Quan hệ quốc tế

8 Văn Lang TPHCM CNTT, QTKD, Kiến trúc, Công nghệ Kỹ thuật môi

trường, Cơ khí, Ngoại ngữ, Tài chính kế toán, Kỹ thuật công trình xây dựng, Tài chính kế toán, Ngoại ngữ, Mỹ thuật công nghiệp

9 HUTECH TPHCM Điện điện tử, CNTT, Xây dựng, Cơ khí, Công nghệ Kỹ

thuật môi trường, QTKD, Thiết kế thời trang, Ngoại ngữ

10 Hùng Vương TPHCM CNTT, QTKD, Ngoại ngữ, Luật

11 Hồng Bàng TPHCM Sinh học và môi trường, CNTT, Kỹ thuật xây dựng,

Điện tự động, Mỹ thuật công nghiệp, Kỹ thuật dệt may

và da giày, Kinh tế, Ngoại ngữ, Châu Á Thái Bình Dương học

12 Tôn Đức Thắng TPHCM Khoa học ứng dụng, Khoa học xã hội và nhân văn,

CNTT và Toán ứng dụng, Kỹ thuật xây dựng, Điện

Trang 20

điện tử, Khoa học môi trường, Kinh tế, Ngoại ngữ, Mỹ thuật và thiết kế

13 Văn Hiến TPHCM CNTT, Điện tử viễn thông, Kinh tế, Vật ký, Tâm lý

học, Văn hóa học, Xã hội học, Du lịch, Ngoại ngữ

14 Duy Tân Đà Nẵng CNTT, QTKD, Luật, Ngoại ngữ

15 Lạc Hồng Đồng Nai Đông phương học, Điện tử, Công nghệ thực phẩm,

CNTT, Điện ứng dụng, Công nghệ sinh học và môi trường, QTKD, Tài chính kế toán

Nguồn: Thi Xa Phuong Pham (2006), tr.46

Hiện nay, các trường ĐHTT phát triển khác đa dạng, đào tạo ở hầu hết các ngành nghề (trừ một số ngành đặc trưng có rất ít trường đào tạo như an ninh quốc phòng, sư phạm, y khoa…) Trong những năm trước đây, một số trường đại học NCL đã tìm những đường đi tắt để tăng doanh thu Chẳng hạn như một số trường đã tuyển sinh quá chỉ tiêu mà Bộ GD&ĐT cấp, một số sinh viên được tuyển vào trường với khả năng có thể vào học ở bậc đại học là không đáng tin cậy; và một số trường đào tạo lượng sinh viên nhiều hơn khả năng về CSVC, đội ngũ giảng viên gây nên tình trạng quá tải (Welch, 2007, tr.47) Thực tế tồn tại một xu hướng ở các trường đại học NCL là họ chỉ tập trung đào tạo những ngành nghề có chi phí đầu tư ban đầu thấp nhưng lại thu được lợi nhuận cao, như những ngành về kinh doanh, kinh tế, CNTT, ngoại ngữ Sự đầu tư ngắn hạn và tập trung vào việc tìm kiếm lợi nhuận khiến cho nhưng trường đại học NCL trở thành nơi thu gom “rác” do những trường công lập để lại (Hayden & Khanh, 2010) Tình trạng này vẫn còn tồn tại cho đến hiện nay

3.2 Những vấn đề các trường đại học NCL đang phải đối mặt

3.2.1 Số lượng tăng nhanh chưa tương xứng với nguồn lực

Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2008v2020 của Bộ GD&ĐT, đặc biệt, với GDĐH, sẽ nâng tỉ lệ sinh viên đạt 450/vạn dân vào 2020, mở rộng quy mô GDĐH NCL, phấn đấu đến 2020 tỉ lệ sinh viên trong các cơ sở NCL chiếm 30v40% tổng số sinh viên cả nước Cùng với chính sách xã hội hóa, trong 10 năm trở lại đây (2001v2011), quy

mô của các cơ sở GDĐH NCL tăng từ 23 trường lên 82 trường, trong khi các cơ sở công

Trang 21

lập tăng từ 168 trường lên 337 trường Trong 10 năm, số lượng các trường công lập tăng 201%, trong khi các trường NCL tăng 357%, cao gấp rưỡi các trường công lập

Hình 3.1 Số lượng các trường đại học, cao đẳng và sinh viên các cơ sở GDĐH

Nguồn: Tác giả tự vẽ theo số liệu của Tổng cục thống kê (2012)

Số lượng sinh viên ở các trường NCL cũng tăng nhanh, từ 101.1 ngàn sinh viên (2001) lên đến 335 ngàn (2011), tăng 331% sau 10 năm

Mặc dù số lượng trường cũng như số lượng sinh viên tăng với tốc độ cao, các trường NCL vẫn còn rất nhiều thách thức phải đối mặt Chất lượng đào tạo nổi lên như một vấn đề thiết yếu Bên cạnh đó, những khó khăn còn tồn tại như tuyển dụng được những giảng viên có chất lượng, lương thấp, nguồn lực phân phối cho nghiên cứu khoa học quá ít, sự quản lý chặt chẽ về chương trình đào tạo

Theo dữ liệu của UNESCO, GDĐH Việt Nam có chỉ số giáo viên/sinh viên là 30/1 Đây là một tỉ lệ rất cao, không chỉ so sánh với tiêu chuẩn thế giới mà còn rất cao so với các nước khác trong khu vực (UNESCO, 2006)1

1

Tỉ lệ sinh viên/giảng viên tương ứng là 23/1 ở Philippines, 20/1 ở Malaysia và 15/1 ở Indonesia

0.0 200.0 400.0 600.0 800.0 1000.0 1200.0 1400.0 1600.0 1800.0 2000.0

Số lượng trường và sinh viên các cơ sở GDĐH

Số lượng trường công lập

Số lượng trường ngoài công lập

Số sinh viên trường công lập

Số sinh viên trường ngoài công lập

Trang 22

Hình 3.2 Tỉ lệ sinh viên/giảng viên ở các trường đại học

Nguồn: Tác giả tự vẽ theo số liệu của Tổng cục thống kê (2012)

Theo hình 3.2, tỉ lệ này ở các trường NCL rất không ổn định qua các năm, đỉnh điểm là 39.3/1 năm 2007 Số lượng giảng viên có tăng lên qua các năm, nhưng lại không đuổi kịp

sự tăng trưởng của số lượng sinh viên theo học tại các trường NCL Tỉ lệ này có xu hướng giảm trong những năm gần đây do quy định về chỉ tiêu tuyển sinh của Bộ GD&ĐT, một phần là do số liệu thống kê không đưa vào số lượng các sinh viên tại chức, văn bằng 2, liên thông,… từ 2009 Để đảm bảo đào tạo, các trường NCL dựa vào giảng viên thỉnh giảng Các trường đại học, cao đẳng NCL chỉ có khoảng 30% là giảng viên cơ hữu, trên 60% đội ngũ giảng viên là thỉnh giảng, mà những giảng viên này sẽ không thể đầu tư vào công việc bán thời gian nhiều hơn công việc chính của họ ở trường công lập Một vấn đề chung của các trường NCL là các giảng viên dành quá nhiều thời gian cho công việc giảng dạy hơn là công tác nghiên cứu (Pham & Gerald, 2005) Theo tiêu chuẩn quốc tế, tỉ lệ nghiên cứu được công bố ở Việt Nam là rất thấp, đặc biệt là ở khu vực NCL, chỉ chiếm tỉ lệ 1 nghiên cứu được công bố trên 100 giảng viên, tỉ lệ này là 39 ở các trường công lập (World Bank,

2008, tr xiv)

3.2.2 Chất lượng đào tạo chưa cao

Chất lượng đào tạo đáng báo động hiện nay còn thể hiện ở tỷ lệ sinh viên ra trường có được việc làm và lượng sinh viên phải làm việc trái ngành nghề được đào tạo Thực tế cho

Trang 23

thấy nền GDĐH Việt Nam đang đặt dưới sự đánh đổi giữa chất lượng và số lượng Theo khảo sát của Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TPHCM

về nhu cầu tìm việc làm của trên 10,000 sinh viên 2009v2012 cho thấy: có 80% sinh viên sau khi tốt nghiệp tìm được việc làm, 20% tìm việc rất khó khăn hoặc không tìm được việc phải chuyển đổi ngành học hoặc làm công việc thấp hơn trình độ đào tạo Trong tổng số sinh viên tìm được việc làm, chỉ 50% có việc làm phù hợp năng lực và phát triển tốt, 50% vẫn phải làm việc trái ngành nghề, thu nhập thấp; việc làm chưa thật sự ổn định và có thể phải chuyển việc làm khác Theo một thống kê gần đây của Trường ĐH Khoa học Xã hội

và Nhân văn: Có 26.2% cử nhân đại học ra trường không có việc làm; 70.8% cử nhân có việc làm nhưng phần lớn làm trái ngành nghề; chỉ 19% làm đúng ngành nghề được đào tạo

Đó là những con số tính chung cho cả sinh viên tốt nghiệp ở trường công lập và NCL Theo nhận định của Giáo sư Phạm Minh Hạc, nguyên Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, các trường ĐHTT thì 10 em mới có một em đạt chất lượng đại học thực sự (giaoduc.net, 2013) Các sinh viên tốt nghiệp các trường NCL không được thị trường việc làm công nhận Điều này không chỉ tồn tại ở các doanh nghiệp nước ngoài trong yêu cầu tuyển dụng, mà còn không được chấp nhận ở khu vực nhà nước Trong đợt thi công chức diễn ra vào ngày 16v17/10/2011, tỉnh Nam Định thông báo công khai danh sách thí sinh dự thi, nhưng có năm người dù nộp hồ sơ vẫn không được tham dự Lý do khiến họ bị loại là tốt nghiệp trường dân lập và một người tốt nghiệp ngành học không đúng yêu cầu (Hoàng Thùy, 2011)

Nhìn sâu hơn vào các trường đại học cao đẳng NCL, chúng ta có thể thấy rằng những trường này ra đời nhằm thẩm thấu những sinh viên không thể vào các trường công lập, chênh lệch cung cầu khi khả năng đáp ứng của hệ thống các trường đại học, cao đẳng thấp hơn nhu cầu học của xã hội Học phí ở các trường này cao hơn ở các trường công lập (Pham & Gerald, 2005) trong khi chất lượng đào tạo thì được chứng minh là thấp hơn Những sinh viên theo học ở hầu hết các trường NCL đều là những người bị coi là “sinh viên hạng hai”, những người thi trượt trong kỳ thi đại học vào các trường công Chính điều này làm cho chất lượng đào tạo của các trường NCL trở nên yếu kém

3.2.3 Tình hình tuyển sinh tại các trường NCL

Liên quan đến sự việc nhiều trường NCL vượt ra khỏi tầm kiểm soát và bị chỉ trích về việc không đảm bảo chất lượng đào tạo, Bộ GD&ĐT đã cho ra đời một loạt văn bản pháp luật

Trang 24

nhằm để hạn chế tình trạng các trường tuyển sinh một cách ồ ạt, hạn chế sự ra đời của các trường NCL Năm 2004, Bộ GD&ĐT quyết định mức “điểm sàn”, là mức tối thiểu mà sinh thí sinh phải đạt được trong kỳ thi tuyển sinh mới có thể đăng ký vào các trường đại học,

kể cả công lập và NCL Kết quả của việc này là năm học 2003–2004 và 2005v2006 có sự giảm đi đáng kể trong số lượng sinh viên theo học tại các trường NCL (Le, 2006, tr.80) Tuy nhiên, trong thời gian vài năm sau đó cho đến 2 năm trở lại đây, con số này có xu hướng tăng lên trở lại (Hình 3.1 và 3.2)

Các trường ĐHTT phần lớn gặp vấn đề về CSVC nên thực tế nhiều trường đã xác định chỉ tiêu tuyển sinh vượt quá quy định1 Cụ thể, trong đợt thanh tra sau tuyển sinh năm 2012 đối với 30 trường đại học thì có 21 trường xác định vượt chỉ tiêu tuyển sinh (bao gồm cả công lập và tư thục) Trong đó, trường ĐH dân lập Ngoại ngữ v Tin học TPHCM không còn năng lực tuyển sinh nhưng đã tự xác định 2000 chỉ tiêu; ĐH Văn Lang chỉ có năng lực tuyển 1021 chỉ tiêu nhưng đã tự xác định 2000 chỉ tiêu; ĐH Lương Thế Vinh chỉ có năng lực 473 chỉ tiêu nhưng đã tự xác định 1800 chỉ tiêu Đây là 3 trường ĐHTT trên tổng số 30 trường được thanh tra kiểm tra có sai phạm, trên thực tế, con số này chắc chắn cao hơn nhiều (Tuệ Anh, 2012)

3.2.4 Vấn đề về quyền sở hữu khi chuyển đổi từ loại hình dân lập sang tư thục

Theo Luật Giáo dục 2005, cơ sở giáo dục dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng CSVC và bảo đảm kinh phí hoạt động; cơ sở giáo dục tư thục do tổ chức

xã hội, tổ chức xã hội v nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép Nguồn đầu tư xây dựng CSVC và bảo đảm kinh phí hoạt động của cơ sở giáo dục tư thục là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước

Nghị định 75 hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục năm 2005 được ban hành năm 2006 quy định đối với GDĐH chỉ có loại hình công lập và tư thục, không tồn tại loại hình dân lập

Do đó, ngày 29/5/2006, bằng Quyết định 122, Chính phủ đã cụ thể hóa chủ trương chuyển các trường đại học dân lập sang hoạt động theo mô hình tư thục nhằm làm rõ vấn đề “lợi nhuận” hay “phi lợi nhuận”, tạo điều kiện giúp các trường phát triển đúng hướng theo chủ trương xã hội hóa của nhà nước (thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát

1

Tiêu chí thứ hai dựa trên diện tích sàn xây dựng trực tiếp phục vụ đào tạo thuộc sở hữu của cơ sở đào tạo/01 sinh viên Quy định này đối với các trường đại học là bình quân 01 sinh viên không thấp hơn 2m2

Trang 25

triển sự nghiệp giáo dục) Theo Quyết định 122 của Chính phủ, có 19 trường đại học dân lập phải hoàn thành chuyển đổi trước thời hạn 30/6/2007 Nhiệm vụ này được giao cho Bộ GD&ĐT chủ trì phối hợp với các bộ, ngành để ban hành quy định, hướng dẫn việc chuyển đổi Tuy nhiên, đến nay chỉ có 2 trường đã chuyển đổi thành công là ĐH Thăng Long và

ĐH Hồng Bàng

Chủ trương chuyển các trường dân lập sang tư thục được các trường ủng hộ, nhưng không thể giải quyết được vấn đề chủ sở hữu Theo quy chế tạm thời ban hành kèm Quyết định số 196/TCCB ngày 21/04/1994 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT thì đại học dân lập do các cá nhân, tập thể hoặc các tổ chức kinh tế v xã hội đầu tư xây dựng với mục đích không kinh doanh, không vụ lợi cá nhân Quy chế tạm thời này đã là cơ sở ra đời nhiều trường đại học dân lập trong thời điểm đó Đến năm 2000, quy chế trường đại học dân lập ban hành kèm theo Quyết định số 86/2000/QĐvTTg ngày 18/7/2000 của Thủ tướng Chính phủ quy định tài sản của trường đại học dân lập thuộc quyền sở hữu tập thể của những người góp vốn đầu tư, các giảng viên, cán bộ và nhân viên của trường

Các trường đại học, cao đẳng NCL hiện nay đều được thành lập và hoạt động theo cơ chế này, nhưng nguồn tài sản đã không được quy định rõ Sau một thời gian hình thành, tài sản của các trường tăng lên một cách nhanh chóng, chỉ từ một vài tỷ đồng vốn ban đầu, đến nay tài sản các trường có thể lên đến hàng trăm tỷ đồng, nhưng không thể xác định được chủ sở hữu của khối tài sản tăng lên đó Nếu khẳng định đây là tài sản của những người góp vốn ban đầu thì đi ngược lại quy định; nếu cho rằng đây là tài sản thuộc sở hữu chung thì các cá nhân góp vốn không đồng tình

Trường hợp tại Trường ĐH Văn Lang, Tiến sĩ Nguyễn Dũng, Hiệu trưởng Trường cho biết: tháng 11/1999, trường mua khu đất tại cơ sở chính trên đường Nguyễn Khắc Nhu quận 1 với giá 13.9 tỷ đồng (từ quỹ tích lũy xây dựng CSVC) do nhà nước bán lại theo Nghị định 60 Khi chuyển sang tư thục thì phải định giá lại tài sản này Tại thời điểm mua, công ty thẩm định giá trị đất là 8 tỷ đồng và giá trị nhà là 5.9 tỷ đồng Nhưng hiện nay, tính theo giá thị trường thì khu đất rộng 1,200 m2 của trường có giá 80 triệu đồng/m2, tương đương 96 tỷ đồng Khối tài sản này không được xác định sở hữu một cách rõ ràng, của cộng đồng, của tập thể cán bộ nhân viên trường hay của cá nhân góp vốn ban đầu

Trang 26

Trường hợp tại Trường ĐH Hùng Vương: Trường ĐH Hùng Vương TPHCM được định giá 17 tỷ đồng (chỉ tính tiền mặt hiện có gửi trong ngân hàng) vào năm 2007 Năm 2009, giá trị tài sản của trường là 22.1 tỷ đồng Đến ngày 12/6/2009, thời điểm các nhà đầu tư mới góp vốn để chuyển sang tư thục, hội đồng quản trị (HĐQT) của trường vẫn tiếp tục xác định tài sản nhà trường là 17 tỷ đồng Khối tài sản tăng lên không được công nhân và quy định cụ thể quyền sở hữu gây ra những tiêu cực trong việc xác định giá trị tài sản chung

Tóm lại, quá trình chuyển đổi các trường dân lập sang tư thục đã phát sinh vấn đề về hình thức sở hữu: Với việc xác định tài sản thuộc “sở hữu tập thể” nên phần lớn tài sản của các

trường đại học dân lập là thuộc “sở hữu tập thể”, vì vốn góp của các cá nhân ban đầu là không đáng kể so với giá trị tài sản hiện có Nhưng khi chuyển sang mô hình trường ĐHTT (tài sản thuộc “sở hữu tư nhân”) theo Quy chế 61/2009/QĐvTTg ngày 17/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ, khối tài sản “sở hữu tập thể” ấy sẽ thuộc “sở hữu chung của toàn trường” Điều này gây ra sự nhập nhằng, không tường minh vì nhiều người cho rằng khối tài sản tư nhân được cho không các trường tư

3.3 Cơ sở pháp lý quản lý các trường ĐHTT

Quản lý nhà nước đối với các trường ĐHTT hiện nay được thực hiện theo nhiều chính sách khác nhau thông qua các văn bản sau:

v Luật Giáo dục 2005, quy định “tài sản, tài chính của trường tư thục thuộc sở hữu của các thành viên góp vốn” (điều 67) và các quy định khác liên quan đến hoạt động của các cơ sở ĐHTT

v Luật Giáo dục Đại học 2012;

v Quyết định số 61/2009/QĐvTTg (QĐ 61) ngày 17/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ

về Quy chế tổ chức và hoạt động của trường ĐHTT đưa thêm một số khái niệm liên quan đến vấn đề sở hữu: “Chủ sở hữu chung”, “Cổ phần”, “Cổ đông”

v Quyết định số 63/2011/QĐvTTg (QĐ 63) ngày 10/11//2011 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của QĐ 61;

v Nghị định số 115/2010/NĐvCP của Chính phủ: Quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục

Ngày đăng: 18/09/2020, 13:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w