1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần giáo dục bầu trời xanh

116 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kế toán trách nhiệm là một nội dung cơ bản của kế toán quản trị, đóng vai trò như là hệ thống thu thập, xử lý và truyền đạt thông tin có thể kiểm soát theo phạm vi của từng bộ phận cho n

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGÔ TH Ị DIỆU THÚY

LU ẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp H ồ Chí Minh - 2017

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGÔ TH Ị DIỆU THÚY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn “Xây dựng kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần giáo

dục Bầu Trời Xanh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự góp ý của Giảng viên Hướng dẫn khoa học TS Trần Anh Hoa Số liệu sử dụng trong luận văn là trung

thực Những kết quả của Luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào

Tác giả luận văn

Ngô Th ị Diệu Thúy

Trang 4

M ỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục Lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục bảng

Danh mục sơ đồ

1 Lý do thực hiện đề tài 1

2 Tổng quan các nghiên cứu trước 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 5

4 Đối tượng nghiên cứu 5

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6

6 Ý nghĩa thực tiễn thực hiện đề tài 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM 8

1.1 Tổng quan về hệ thống kế toán trách nhiệm 8

1.1.1 Các quan niệm về kế toán trách nhiệm 8

1.1.2 Khái niệm kế toán trách nhiệm 10

1.2 Vai trò, chức năng đối tượng sử dụng thông tin kế toán trách nhiệm 11

1.2.1 Vai trò 11

1.2.2 Chức năng kế toán trách nhiệm 12

1.2.3 Đối tượng sử dụng thông tin kế toán trách nhiệm 12

1.3 Các bộ phận cấu thành kế toán trách nhiệm 14

1.3.1 Sự phân cấp quản lý 14

1.3.2 Trung tâm trách nhiệm 15

1.3.2.1 Trung tâm chi phí 15

1.3.2.2 Trung tâm doanh thu 17

1.3.2.3 Trung tâm lợi nhuận 17

1.3.2.4 Trung tâm đầu tư 18

Trang 5

1.3.3 Xác định các chỉ tiêu đánh giá trách nhiệm quản trị bộ phận 19

1.3.3.1 Đánh giá thành quả quản trị và đo lường kết quả hoạt động của trung tâm chi phí 19

1.3.3.2 Đánh giá trách nhiệm quản trị và đo lường kết quả hoạt động của trung tâm doanh thu 21

1.3.3.3 Đánh giá trách nhiệm quản trị và đo lường kết quả hoạt động của trung tâm lợi nhuận 21

1.3.3.4 Đánh giá trách nhiệm quản trị và đo lường kết quả hoạt động của trung tâm đầu tư 22

1.3.4 Báo cáo kế toán trách nhiệm 25

1.3.4.1 Mục tiêu, đặc điểm và yêu cầu của báo cáo kế toán trách nhiệm 26

1.3.4.2 Các loại báo cáo trách nhiệm 28

1.3.4.3 Nội dung của hệ thống báo cáo trách nhiệm 30

1.4 Đặc điểm của ngành giáo dục chi phối đến công tác xây dựng kế toán trách nhiệm 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC TỔ CHỨC CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ THÀNH QU Ả HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIÁO DỤC BẦU TRỜI XANH 37

2.1 Giới thiệu tổng quan về công ty tình hình hoạt động tổ chức 37

2.1.1 Tổng quan về Công Ty 37

2.1.2 Quá trình hình thành và Phát triển 37

2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý công ty 41

2.1.4 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán công ty 46

2.1.4.1 Tổ chức bộ máy kế toán tài chính 46

2.1.4.2 Nội dung tổ chức công tác kế toán 47

2.1.4.3 Đặc điểm phần mềm Misa 48

Trang 6

2.2 Thực trạng việc tổ chức công tác đánh giá thành hoạt động tại Công Ty

Cổ Phần Giáo Dục Bầu Trời Xanh 48

2.2.1 Nhận thức của nhà quản lý về KTTN 54

2.2.2 Hệ thống dự toán tại công ty 54

2.2.2.1 Kế hoạch thu học phí và dự toán chi phí hoạt động tại trường 54

2.2.2.2 Dự toán chi phí của các phòng ban công ty 60

2.2.3 Đo lường và đánh giá thành quả hoạt động của công ty 62

2.2.3.1 Đo lường thành quả hoạt động các trường 62

2.2.3.2 Đánh giá thành quả hoạt động kinh doanh và quản lý của công ty 68

2.3 Đánh giá thực trạng việc tổ chức công tác đánh giá thanh quả hoạt động tại Công ty Cổ phần giáo dục Bầu Trời Xanh 68

2.3.1 Đánh giá về phân cấp quản lý 68

2.3.2 Đánh giá về hệ thống dự toán 69

2.3.3 Đánh giá về công tác đo lường đánh giá thành quả hoạt động của công ty 69

K ẾT LUẬN CHƯƠNG 2 70

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG HỆ THỐNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIÁO DỤC BẦU TRỜI XANH 71

3.1 Các quan điểm định hướng xây dựng kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần giáo dục Bầu Trời Xanh 71

3.1.1 Phù hợp với đặc điểm tổ chức quản lý của công ty 71

3.1.2 Phù hợp với yêu cầu và trình độ quản lý 71

3.1.3 Tính thống nhất giữa BCTN với báo cáo chung công ty 72

3.1.4 Phù hợp và hài hòa giữa chi phí lợi nhuận 72

3.2 Xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty 73

3.2.1 Phân cấp quản lý và xác định các trung tâm trách nhiệm 73

3.2.1.1 Trung tâm chi phí 75

Trang 7

3.2.1.2 Trung tâm doanh thu 76

3.2.1.3 Trung tâm lợi nhuận 77

3.2.1.4 Trung tâm đầu tư 78

3.2.2 Xác định các chỉ tiêu đánh giá thành quả hoạt động kinh doanh và thành quả quản lý cho từng trung tâm trách nhiệm cụ thể 79

3.2.2.1 Chỉ tiêu đánh giá trung tâm chi phí 79

3.2.2.2 Chỉ tiêu đánh giá trung tâm doanh thu 80

3.2.2.3 Chỉ tiêu đánh giá trung tâm lợi nhuận 80

3.2.2.4 Chỉ tiêu đánh giá trung tâm đầu tư 80

3.2.3 Xây dựng hệ thống báo cáo trách nhiệm tương ứng với từng trung tâm trách nhiệm 82

3.2.3.1 Hệ thống báo cáo trung tâm chi phí 82

3.2.3.2 Hệ thống báo cáo trung tâm doanh thu 89

3.2.3.3 Hệ thống báo cáo trung tâm lợi nhuận 92

3.2.3.4 Hệ thống báo cáo trung tâm đầu tư 95

3.3 Các giải hỗ trợ xây dựng kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần giáo dục bầu trời xanh 96

3.3.1 Hoàn thiện quá trình lập dự toán 96

3.3.2 Thu thập thông tin kế toán gắn với trung tâm trách nhiệm 97

3.3.3 Đào tạo, bồi dưỡng nhân viên 99

3.3.4 Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc phân tích và xử lý kịp thời các thông tin 99

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 100

K ẾT LUẬN 101

Danh mục tài liệu tham khảo

I.Danh mục tài liệu tham khảo tiếng Việt

II Danh mục tài liệu tham khảo tiếng Anh

Phụ lục 1

Trang 8

DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT

BE: Blue Sky Belleza

BCTN: Báo cáo trách nhiệm

DN: Doanh nghiệp

EVA: Economic value added (Giá trị kinh tế tăng thêm) HARV: Blue Sky HARV

HĐKD: Hoạt động kinh doanh

HP: Blue Sky Hưng Phát

RI: Residual Income (LN còn lại)

ROI: Return on Investment (Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư)

SU: Blue Sky Sunview

TTTN: trung tâm trách nhiệm

TNHH: Trách Nhiệm Hữu Hạn

TH: Thực hiện

Trang 9

DANH M ỤC BẢNG

Bảng 1.1 Đánh giá trách nhiệm trung tâm chi phí 20

Bảng 1.2 Báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí định mức 31

Bảng 1.3 Báo cáo trách nhiệm của trung tâm doanh thu 32

Bảng 1.4 Báo cáo trách nhiệm trung tâm lợi nhuận 33

Bảng 1.5 Trách nhiệm báo cáo của các trung tâm đầu tư 33

Bảng 2.1 Tổng hợp báo cáo tài chính năm 2014, 2015 và 2016 40

Bảng 2.2 Danh sách khảo sát 49

Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả khảo sát việc tổ chức kế toán trách nhiệm tại Công Ty Cổ Phần Giáo Dục Bầu Trời Xanh 53

Bảng 2.4 Bảng học phí dự toán trường 58

Bảng 2.5 Đề xuất chi phí hoạt động trường 59

Bảng 2.6 Kế hoạch dự trù kinh phí hoạt động Phòng học vụ 60

Bảng 2.7 Kế hoạch dự trù kinh phí hoạt động phòng nhân sự 61

Bảng 2.8 Kế hoạch dự trù kinh phí hoạt động phòng dự án 62

Bảng 2.9 Báo cáo hoạt động trường 63

Bảng 2.10 Báo cáo hoạt động toàn công ty 65

Bảng 2.11 Báo cáo so sánh hoạt động thực tế giữa các trường 67

Bảng 3.1 Bảng chỉ tiêu đánh giá đối với từng trung tâm trách nhiệm 82

Bảng 3.2 Bảng chi tiết chi phí theo khoản mục 85

Bảng 3.3 Báo cáo thực hiện kế hoạch chi phí các phòng ban công ty 86

Bảng 3.4 Báo cáo thực hiện kế hoạch chi phí các trường 88

Bảng 3.5 Báo cáo thực hiện kế hoạch chi phí toàn công ty 89

Bảng 3.6 Báo cáo thực hiện kế hoạch doanh thu 91

Bảng 3.7 Báo cáo phân tích quan hệ chi phí doanh thu 92

Bảng 3.8 Báo cáo kế hoạch thực hiện lợi nhuận tại các trường 93

Bảng 3.9 Báo cáo thực hiện kế hoạch lợi nhuận toàn công ty 94

Bảng 3.10 Báo cáo trách nhiệm trung tâm đầu tư 95

Bảng 3.11 Bảng mã hóa tài khoản kế toán 98

Trang 10

DANH M ỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức công ty 42

Sơ đồ 2.2 Sơ đồ tổ chức các trường 44

Sơ đồ 2.3 Cơ cấu tổ chức kế toán 46

Sơ đồ 3.1 Sơ đồ trung tâm trách nhiệm 74

Sơ đồ 3.2 Sơ đồ trung tâm chi phí 76

Sơ đồ 3.3 Sơ đồ trung tâm doanh thu 77

Sơ đồ 3.4 Sơ đồ trung tâm lợi nhuận 78

Sơ đồ 3.5 Sơ đồ trung tâm đầu tư 79

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do th ực hiện đề tài

Trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa hiện nay, các doanh nghiệp trong nền kinh

tế luôn phải đối phó với những cạnh tranh ngày càng gay gắt Làm sao để tồn tại và phát triển luôn là câu hỏi mà các nhà quản trị đặt ra Ngoài việc đổi mới mẫu mã sản

phẩm, công nghệ sản xuất, phát triển thị trường thì các doanh nghiệp cũng phải đổi

mới trong cách tổ chức quản lý doanh nghiệp Sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin làm cho những yêu cầu của khách hàng ngày càng cao, dẫn đến vòng đời

sản phẩm cũng bị rút ngắn lại, vì thế các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới toàn diện để đáp ứng được những yêu cầu của khách hàng Để có được những quyết định đúng đắn thì nhu cầu thông tin đóng vai trò rất quan trọng Trong môi trường kinh tế phát triển và nhiều biến động như vậy thì công tác kế toán mà đặc biệt là kế toán quản trị đóng một vài trò hết sức to lớn vì đây là một trong những công cụ cung

cấp thông tin hữu hiệu cho các nhà quản trị trong việc ra quyết định

Kế toán trách nhiệm là một nội dung cơ bản của kế toán quản trị, đóng vai trò như là hệ thống thu thập, xử lý và truyền đạt thông tin có thể kiểm soát theo phạm vi

của từng bộ phận cho nhà quản trị, nhằm đưa ra các tiêu chí đánh giá kết quả công

việc của mỗi cá nhân, mỗi bộ phận trong tổ chức, đây là công cụ quản lý kinh tế tài chính có vai trò quan trọng trong điều hành, kiểm soát, đánh giá hiệu quả hoạt động

của doanh nghiệp Thông qua các báo cáo của nhà quản trị sẽ thấy được những hạn

chế còn tồn đọng trong hoạt động của từng bộ phận trong doanh nghiệp, đồng thời cũng cho thấy những tác động của các quyết định ảnh hưởng đến doanh nghiệp như

thế nào, từ đó sẽ đưa ra được quyết định phù hợp nhất với tình hình của doanh nghiệp

Được thành lập từ cuối năm 2013, Công Ty Cổ Phần Giáo Dục Bầu Trời Xanh

là một công ty chuyên về giáo dục mầm non với quy mô vừa và nhỏ, qua bốn năm hoạt động công ty ngày càng phát triển nhanh chóng, cơ cấu công ty không ngừng được thay đổi để phù hợp với quy mô cũng như định hướng phát triển, các cấp quản

lý, các bộ phận đã được tổ chức hoạt động.Tuy nhiên, công tác quản lý chưa hữu hiệu

dẫn đến các hệ thống thông tin trong công ty còn nhiều hạn chế, việc kiểm soát cung

Trang 12

cấp thông tin chưa thật sự hiệu quả Phân quyền chưa rõ ràng dẫn đến tránh né trách nhiệm, vì vậy đặt ra yêu cầu cần có một công cụ quản trị đánh giá trách nhiệm quản

trị, đánh giá trách nhiệm của mỗi cá nhân mỗi bộ phận trong tổ chức giúp các nhà

quản trị làm rõ được nguyên nhân yếu kém của doanh nghiệp là do bộ phận nào, cá nhân nào

Nhận thức được tầm quan trọng của kế toán trách nhiệm tác động đến tổ chức,

từ hoạt động thực tế kế toán tại doanh nghiệp tác giả thực hiện đề tài “Xây dựng kế

toán trách nhi ệm tại công ty Cổ Phần Giáo dục Bầu Trời Xanh” làm đề tài nghiên

cứu nhằm giúp doanh nghiệp có thể vận dụng kế toán trách nhiệm vào hoạt động quản

lý thực tiễn, đáp ứng tốt hơn trong việc cung cấp thông tin đến nhà quản trị, cung cấp một công cụ điều hành hoạt động kinh doanh một cách tốt nhất

2 Tổng quan các nghiên cứu trước

Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về kế toán trách nhiệm, KTTN được đề cập đầu tiên năm 1950 Từ đó đến nay, vấn đề về KTTN được quan tâm nhiều hơn với những quan điểm khác nhau, bởi những tác giả khác nhau

- Rehana Fowzia (2011) Use of Responsibility Accounting and Measure the satisfaction levels of service organizations in Bangladesh, International Review of

Buisiness Research Papers Vol 7 No 5 September 2011, Pp.53-67; đây là một nghiên cứu tại Bangladesh về các loại của kế toán trách nhiệm đang được sử dụng trong ngành các ngành dịch vụ và cũng tập trung vào đánh giá mức độ hài lòng của

hệ thống kế toán trách nhiệm Tác giả sử dụng phương pháp định lượng thông qua khảo sát 88 tổ chức dịch vụ từ tháng 7 đến tháng 9/2010, trong đó có 25 ngân hàng,

15 công ty cho vay, 20 tổ chức phi chính phủ, 20 công ty bảo hiểm và 8 công ty khác (khách sạn, bệnh viện…) Kết quả cho thấy các doanh nghiệp không chỉ sử dụng một loại mà sử dụng nhiều loại mô hình kế toán trách nhiệm Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng

sự hài lòng của hệ thống kế toán trách nhiệm tổng thể bị ảnh hưởng bởi sự hài lòng

của phân công trách nhiệm, kỹ thuật đo lường hiệu suất và hệ thống khen thưởng Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu là chỉ tập trung vào những mô hình KTTN và loại

hệ thống KTTN đã được xem xét, một hướng nghiên cứu mới có thể mở ra là xem

Trang 13

xét đến các hoạt động của người quản lý và bằng cấp của họ có thể sẽ cho ra những kết luận khác, và nghiên cứu này chỉ tập trung ở Bangladesh nên tính đại diện không cao

- Công trình “Examining the Role of responsibility accounting in organization structure” của tác giả Mojgan được công bố năm 2012 trên tạp chí “American Academic & Scholarly Research” Tác giả cho rằng trong một tổ chức khi kinh doanh phát triển nhanh thì nhu cầu ủy quyền sẽ phụ thuộc vào quy mô doanh nghiệp Nếu quyền quản lý hoạt động chuyển từ nhà quản lý cấp cao xuống cho nhà quản lý cấp trrung, thì nhà quản lý cấp cao sẽ có nhiều thời gian tập trung vào kế hoạch chiến lược của công ty Theo tác giả thì hệ thống báo cáo trách nhiệm tập hợp chi phí theo từng cấp độ trách nhiệm, có ba loại trung tâm trách nhiệm là trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu và trung tâm đầu tư

- Bài báo nghiên cứu “Does responsibility accounting in public universities matter?” của Philip Owino, John C Munene và Joseph M Ntayi được đăng 14/12/2016 Bài nghiên cứu thực hiện khảo sát vấn đề kế toán trách nhiệm tại các trường đại học công ở Uganda Nghiên cứu này được thiết kế sử dụng cả hai phương pháp định tính và định lượng, thực hiện khảo sát 256 quản lý tại năm trường đại học

Kết quả cho thấy tại các trường công có thực hiện hệ thống KTTN, chi phí và doanh thu được quản lý bởi các phòng ban tương ứng Các trưởng bộ phận có quyền quyết

với ngân sách mà họ quản lý Nghiên cứu cũng cho thấy rằng kế toán trách nhiệm tuân theo các mô hình phân cấp trong trường đại học

Như vậy, nhìn chung thì kế toán trách nhiệm trên thế giới đã được nghiên cứu ở nhiều quốc gia ở nhiều góc độ khác nhau Trên các cơ sở nghiên cứu trên thế giới đề tài nghiên cứu kế thừa các lý luận về KTTN như là khái niệm, bản chất, vai trò của KTTN trong tổ chức, cũng như mối quan hệ giữa KTTN và sự phân cấp trong tổ chức, các công cụ sử dụng, nội dung của các trung tâm trách nhiệm Tại Việt Nam công tác xây dựng kế toán quản trị nói chung và kế toán trách nhiệm nói riêng ở các doanh nghiệp còn hạn chế Vì vậy việc xây dựng thực hiện KTTN tại các doanh nghiệp ở

Việt Nam là hết sức cần thiết

Trang 14

+ Trong nước

Đề tài “Tổ chức kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần đầu tư và phát triển

vi ễn thông miền Tây” của Đặng Quang Sang (2013) – luận văn thạc sĩ kinh tế trường

đại học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh: đề tài được thực hiện dựa trên quan điểm duy vật

lịch sử, thông qua phương pháp khảo sát thực tế, thống kê, phân tích hệ thống và tổng

hợp để đánh giá thực trạng quản lý tại công ty cổ phần đầu tư và phát triển viễn thông

miền Tây, từ đó nêu ra được những vấn đề còn bất cập từ đó làm nổi bật lên nhu cầu cần xây dựng kế toán trách nhiệm của doanh nghiệp, đồng thời đề ra được cách thức xây dựng kế toán trách nhiệm phù hợp với cách thức tổ chức của doanh nghiệp

Đề tài “Vận dụng KTTN trong trường đại học” của Thái Anh Tuấn được đăng trên Tạp Chí Tài Chính số thứ 3 năm 2014 Nội dung nghiên cứu trình bày các quan điểm về KTTN, nêu lên tầm quan trọng và những lợi ích khi vận dụng KTTN vào các trường đại học, cũng như cách thức để vận dụng KTTN vào các trường đại học, tác

giả tập trung nhấn mạnh vào trung tâm chi phí như sau: (1) Xác định các trung tâm chi phí của trường học; (2) xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá trung tâm chi phí; (3) Phương pháp đánh giá trung tâm chi phí

Đề tài “Xây dựng Kế toán trách nhiệm cho các trường trung cấp, cao đẳng công l ập thuộc sở giáo dục và đào tạo TP Hồ Chí Minh” của Triệu Mộng Lan (2014)

– luận văn thạc sĩ kinh tế trường đại học Kinh Tế Tp Hồ Chí Minh: đề tài là nghiên

cứu ứng dụng, dựa trên nên tảng là để ứng dụng thực tế, phương pháp luận duy luật

biển chứng tập trung nghiên cứu và xây dựng kế toán trách nhiệm cho các cơ sở giáo

dục như trường Trung Cấp, Cao đẳng công lập trực thuộc sở Giáo Dục và Đào tạo TP

Hồ Chí Minh Đề tài đã đưa ra được các nhận định nhu cầu thông tin, sự cần thiết của trung tâm trách nhiệm, nhằm đề ra các giải pháp xây dựng kế toán trách nhiệm một cách phù hợp với môi trường giáo dục

Đề tài “Xây dựng Kế toán trách nhiệm tại Công ty Cổ phần chế biến xuất nhập khẩu thủy sản Bà Rịa – Vũng Tàu” của Nguyễn Thị Hồng Ngân (2015) – luận văn

thạc sĩ kinh tế trường đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh: đề tài tập trung trình bày về

đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, thực trạng tổ chức công tác kế toán

Trang 15

đánh giá trách nhiệm quản lý của các bộ phận trong công ty để từ đó đề ra các giải pháp nhằm xây dựng kế toán trách nhiệm cho công ty

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các lý thuyết về kế toán trách nhiệm đã được đề

cập rất nhiều, vận dụng những kiến thức trên vào mỗi doanh nghiệp là khác nhau Các nghiên cứu thường tập trung vào các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là là các tập đoàn, các công ty sản xuất, trên thế giới đã có những nghiên cứu đính tính, định lượng

về các mô hình KTTN từ doanh nghiệp đến các trường đại học Những nghiên cứu

về trường tư nhân còn hạn chế, đặc biệt là ngành giáo dục mầm non vẫn chưa được nghiên cứu Trong khi công ty ngày càng phát triển, yêu cầu về tổ chức bộ máy quản

lý, phân công trách nhiệm là nhu cầu cấp thiết của công ty đặt ra, cần có giải pháp thực hiện ngay Từ những vấn đề trên tác giả nhận thấy đề tài “Xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm của công ty Cổ phần giáo dục Bầu Trời Xanh” càng cần phải thực

hiện ngay

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung của đề tài: Tìm hiểu về kế toán trách nhiệm và đánh giá thực

trạng công tác đánh giá đo lường thành quả hoạt động của các bộ phận và đánh giá trách nhiệm quản lý tại Công ty Cổ Phần Giáo Dục Bầu Trời Xanh từ đó đề xuất

những giải pháp phương hương nhằm xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại doanh nghiệp

Đề tài tập trung vào ba mục tiêu cụ thể như sau:

- Trình bày những cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp

- Khảo sát và phân tích thực trạng quản lý kinh doanh, đo lường đánh giá hiệu quả hoạt động tại Công Ty Cổ Phần Giáo Dục bầu Trời Xanh thông qua việc mô tả các đặc điểm, cơ cấu tổ chức, trách nhiệm quản lý của các bộ phận đối với mục tiêu chung của tổ chức, từ đó đưa ra được những đặc thù của doanh nghiệp hoạt động ngành giáo dục, rút ra được những ưu điểm và hạn chế của hệ thống cần khắc phục

- Đề xuất các giải pháp giúp xây dựng và hoàn thiện công tác kế toán trách nhiệm tại công ty Cổ Phần Giáo dục bầu Trời Xanh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 16

 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài “Xây dựng kế toán trách nhiệm tại công ty Cổ Phần Giáo Dục Bầu Trười Xanh” tập trung vào nghiên cứu về công tác tổ chức kế toán trách nhiệm của Công ty

cổ Phần Giáo Dục Bầu Trời Xanh, một công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ giáo

dục

 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu về kế toán quản trị, trong đó tập trung nghiên cứu về kế toán trách nhiệm Đề tài khảo sát thực tiễn công tác đánh giá hiệu quả đo lường thành quả hoạt động và trách nhiệm quản lý tại Công Ty Cổ Phần Giáo Dục Bầu Trời Xanh Số liệu

sử dụng trong đề tài là từ năm 2014 -2017

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện nghiên cứu định tính Thông qua các phương pháp thống

kê, phương pháp logic, phương pháp phân tích, so sánh, khảo sát để đạt được các mục tiêu nghiên cứu

Nền tảng lý thuyết về kế toán trách nhiệm được hệ thống hóa bằng phương pháp thu thập, thống kê các quan điểm lý luận của nhiều tác giả trong và ngoài nước Dùng pháp pháp thu thập, phân tích khảo sát, phương pháp so sánh tổng hợp các số

liệu, báo cáo thực tế tại công ty cổ phần giáo dục Bầu Trời Xanh làm căn cứ đo lường đánh giá thành quả hoạt động của công ty

6 Ý nghĩa thực tiễn đề tài

Đề tài tập trung việc đánh giá về tình hình cụ thể tại Công ty cổ phần giáo dục

Bầu Trời Xanh, để từ đó đề xuất những ý kiến xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm phù hợp với đặc thù của công ty, đồng thời cung cấp các thông tin một cách đầy đủ cho nhà quản trị công ty, hướng đến việc sử dụng kế toán trung tâm trách nhiệm một cách hiệu quả

Bên cạnh đó, đề tài sẽ góp phần tích cực trong việc xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm cho các doanh nghiệp khác trong cùng ngành hệ thống trường mầm non

BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận bố cục của đề tài bao gồm 3 chương

Trang 17

Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm

Chương 2: Thực trạng việc tổ chức công tác đánh giá thành quả hoạt động tại Công

Ty Cổ Phần Giáo Dục Bầu Trời Xanh

Chương 3: Giải pháp xây dựng trung tâm kế toán trách nhiệm tại công ty Cổ Phần

Giáo Dục Bầu Trời Xanh

Trang 18

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM

1.1 T ổng quan về hệ thống kế toán trách nhiệm

1.1.1 Các quan niệm về kế toán trách nhiệm

Kế toán trách nhiệm là một phần của kế toán quản trị, sự hình thành của kế toán trách nhiệm gắn liền với sự hình thành của kế toán quản trị Kế toán trách nhiệm được

đề cập đầu tiên ở Mỹ vào năm 1950 trong tác phẩm “Basic Organizational Planning

to tie in with Responsibility Accounting” của Ailman, H.B.1950 Từ đó đến nay, vấn

đề KTTN được quan tâm nhiều vơi những quan điểm khác nhau, bởi những tác giả khác nhau ở nhiều quốc gia trên thế giới như Atkinson; R.D Banker; R.S Kaplan; S.M Young; James R Martin Các quan điểm nổi bật của kế toán trách nhiệm

Quan điểm 1: Kế toán trách nhiệm để kiểm soát chi phí (Thái Anh Tuấn, 2014)

Từ năm 1952 John A Higgins đã nghiên cứu về KTTN là công cụ để kiểm soát chi phí và đánh giá kết quả hoạt động cho từng cá nhân, xác định trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức Hệ thống kiểm soát này được thiết kế cho tất cả các cấp quản lý trong đơn vị Đến năm 1997, nhóm tác giả Anthony A Athinson, Rajiv.D Banker, Robert S và S Mark Young quan điểm KTTN là một bộ phận của hệ thống kế toán

có chức năng thu thập, tổng hợp và báo cáo các thông tin liên quan đến trách nhiệm

của nhà quản lý các cấp trong tổ chức Qua đó để cung cấp các thông tin liên quan đến chi phí, thu thập, kết quả hoạt động của từng bộ phận mà họ có trách nhiệm kiểm soát

Tính kiểm soát trong KTTN còn được hai tác giả Prof.B Venkat Rathnam và Prof.K Raji Reddy thể hiện qua khái niệm về KTTN: KTTN là một hệ thống kiểm soát của nhà quản lý được dựa trên những nguyên tắc về ủy quyền, phê chuẩn và xác định trách nhiệm Sự ủy quyền được giao đến từng trung tâm trách nhiệm, nhà quản

lý phải chịu trách nhiệm theo từng phân khu, các phân khu này có thể là các bộ phận, chi phí hay phòng ban…

Mục đích chính của KTTN là quá trình kiểm soát của nhà quản lý đối với bộ phận mình Theo nhóm tác giả Jerry J Weygandt, Paul D Kimmel Donald E Kieso (2008), kế toán trách nhiệm là một bộ phận của kế toán quản trị, nó liên quan đến

Trang 19

việc tích lũy, báo cáo về thu thập và chi phí, trên cơ sở nhà quản lý có quyền đưa ra

những quyết định trong hoạt động hàng ngày và các vấn đề đó Chỉ cần thông qua

việc kiểm soát chi phí, nhà quản lý có thể điều hành tổ chức một cách hiệu quả

Quan điểm 2: Kế toán trách nhiệm đề cao vai trò của các trung tâm trách nhiệm

(Thái Anh Tuấn, 2014)

James R Martin định nghĩa: “KTTN là hệ thống kế toán cung cấp thông tin và kết

quả, hiệu quả hoạt động của các bộ phận, các đơn vị trong tổ chức Đó là công cụ đo lường, đánh giá hoạt động của những bộ phận liên quan đến đầu tư, lợi nhuận, doanh thu và chi phí mà mỗi bộ phận đều có quyền và trách nhiệm riêng biệt” Với quan điểm này, tác giả đã dựa trên cơ sở phân chia tổ chức thành những trung tâm trách nhiệm, các bộ phận được giao quyền để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nào đó Việc phân quyền trong tổ chức tạo nên sự phân cấp và đòi hỏi cấp trên phải theo dõi và đánh giá kết quả của cấp dưới

Nhóm tác giả Clive R Emmanuel, David T Otley, Kenneth A Merchant đã có quan điểm về KTTN như sau: KTTN là việc thu thập và báo cáo những thông tin tài chính về những trung tâm khác nhau trong một tổ chức Theo quan điểm này KTTN được xem xét chi phí, thu nhập, lợi nhuận đến những người chịu trách nhiệm về các

chỉ tiêu đó, KTTN phù hợp với các tổ chức mà ở đó nhà quản lý cấp cao thực hiện chuyển giao quyền ra quyết định cho các cấp dưới

Quan điểm 3: Kế toán trách nhiệm nhấn mạnh kiểm soát chi phí và đề cao vài trò của các trung tâm trách nhiệm (Thái Anh Tuấn, 2014)

Ngoài tính kiểm soát của KTTN các tác giả còn đề cập đến các trung tâm trách nhiệm, sự phân cấp trong quản lý và các chỉ tiêu chi phí, doanh thu và lợi nhuận Charles T Hongreen định nghĩa: “KTTN là hệ thống kế toán được nhìn nhận qua các trung tâm trách nhiệm khác nhau trong toàn bộ tổ chức và phản ánh các kết quả hoạt động của mỗi trung tâm này bằng các chỉ tiêu khác nhau về doanh thu và chi phí”

Một quan điểm khác nhau của nhóm tác giả David F Hawkins, Jacob Cohen, Michele Jurgens, V.G Naryanan cho rằng KTTN không chỉ được đề cập đến các trung tâm trách nhiệm ở góc độ về chi phí, thu nhập hay tính kiểm soát mà KTTN còn được là

Trang 20

một hệ thống tạo ra những thông tin tài chính và phi tài chính về những hoạt động

thực tế và lập kế hoạch của những trung tâm trách nhiệm trong một đơn vị Trung tâm trách nhiệm là những đơn vị thuộc tổ chức mà người đứng đầu chịu trách nhiệm

về kết quả hoạt động của đơn vị đó

Như vậy mỗi quan điểm của các nhà khoa học, KTTN được nhìn nhận khai thác ở các khía cạnh khác nhau Song sự khác nhau không mang tính đối nghịch mà nhìn chung bổ trợ cho nhau tạo nên một cái nhìn toàn diện về KTTN (Thái Anh Tuấn, 2014)

1.1.2 Khái niệm kế toán trách nhiệm

Anthony A Atikinson, Rajive D.Banker, Robert S.Kaplan and S.mark Young

(2001) chapter 12, Responsibity Accounting in Managerment Accounting; Theo nhóm

tác giả thì KTTN là:

Một hệ thống kế toán có chức năng thu thập, tổng hợp và báo cáo các dữ liệu kế toán có liên quan đến trách nhiệm của từng nhà quản lý riêng biệt trong một tổ chức, thông qua các báo cáo liên quan đến chi phí, thu thập và các số liệu hoạt động bởi

từng khu vực trách nhiệm hoặc đơn vị trong tổ chức

Một hệ thống cung cấp thông tin nhằm đánh giá trách nhiệm và thành quả mỗi nhà

quản lý, chủ yếu ở khía cạnh thu thập và những khoản chi phí mà họ có quyền kiểm soát đầu tiên (quyền gây ảnh hưởng)

Một hệ thống tạo ra các báo cáo chứa cả những đối tượng có thể kiểm soát và không thể kiểm soát đối với một cấp quản lý Theo đó, những đối tượng có thể kiểm soát và không thể kiểm soát cần được phân tách rõ ràng và sự nhận diện những đối tượng cụ thể kiểm soát được là một nhiệm vụ cơ bản trong kế toán trách nhiệm và báo cáo trách nhiệm

Một vài yêu cầu cơ bản cũng như cơ cấu của trung tâm trách nhiệm bao gồm 4 phần: trung tâm doanh thu, trung tâm chi phí và trung tâm lợi nhuân, và trung tâm đàu tư Theo James R Martin, “Kế toán trách nhiệm là hệ thống kế toán cung cấp thông tin về kết quả, hiệu quả hoạt động của các bộ phận, đơn vị trong một DN Đó là công

cụ đo lường, đánh giá hoạt động của những bộ phận liên quan đến đầu tư, lợi nhuận,

Trang 21

doanh thu và chi phí mà mỗi bộ phận có quyền kiểm soát và chịu trách nhiệm tương ứng”

Theo nhóm tác giả David F Hawkins, V.G Narayanan, Jacob Cohen, Michele Jurgens, thì KTTN là một hệ thống tạo ra những thông tin tài chính và phi tài chính

có liên quan, về những hoạt động thực tế và được lập kế hoạch của những trung tâm trách nhiệm trong một công ty – những đơn vị trong tổ chức được đứng đầu bởi những nhà quản lý có trách nhiệm cho kết quả hoạt động của đơn vị họ quản lý

Tóm lại, có nhiều quan điểm khác nhau về KTTN, tuy nhiên có thể thấy rằng sự khác nhau này được thể hiện dựa trên cách nhìn nhận của mỗi tác giả về đặc điểm, ý nghĩa và cơ chế tổ chức KTTN ở DN Từ những quan điểm trên, KTTN có thể được định nghĩa như sau:

Kế toán trách nhiệm là hệ thống thu thập, xử lý và truyền đạt thông tin có thể kiểm soát theo phạm vi trách nhiệm của từng nhà quản trị nhằm đạt được mục tiêu chung

của tổ chức Thông tin có thể kiểm soát của một bộ phận là những thông tin về doanh thu, chi phí, vốn đầu tư… mà nhà quản trị của bộ phận đó có thể đưa ra các quyết định tác động lên nó Thông tin có thể kiểm soát cụ thể đối với từng nhà quản trị phụ thuộc vào trách nhiệm quản lý của nhà quản trị đó (Phạm Văn Dược và cộng sự, 2010, trang 7-8)

1.2 Vai trò, ch ức năng đối tượng sử dụng thông tin kế toán trách nhiệm

1.2.1 Vai trò

Trong một doanh nghiệp, muốn điều hành quá trình hoạt động SXKD được hiệu

quả nhà quản trị cần xác lập mục tiêu, xây dựng kế hoạch và triển khai việc thực hiện

mục tiêu của mình Trong quá trình hoạt động, nhà quản trị phải không ngừng kiểm tra, đôn đốc và đánh giá việc thực hiện mục tiêu chung của các cấp thừa hành, thông qua việc phân tích, tính toán hiệu quả của từng hoạt động, từng khâu, từng sản phẩm

Với yêu cầu đó, hệ thống KTNN được thiết lập để ghi nhận, đo lường kết quả hoạt động của từng bộ phận trong một tổ chức, nhằm giúp các nhà quản lý kiểm soát được

hoạt động và chi phí của họ, đồng thời qua đó đánh giá được trách nhiệm của nhà

quản trị ở từng cấp độ quản lý khác nhau Do vậy, KTTN được thực hiện trên nguyên

Trang 22

tắc là nó tập hợp và báo cáo những thông tin kế toán thực tế và được dự toán về các đầu vào, đầu ra của các trung tâm trách nhiệm

KTTN được thực hiện dựa trên những thông tin có liên quan đến các đầu vào và đầu ra Những nguồn lực được sử dụng được gọi là đầu vào Những nguồn lực được

sử dụng, bởi một tổ chức về cơ bản là có bản chất tự nhiên, vật chất, như số lượng nguyên liệu được tiêu dùng, số lượng lao động… Với sự kiểm soát mang tính quản

lý, những nguồn lực vật chất mang tính hỗn tạp này được biểu hiện dưới dạng những đơn vị tiền tệ, và được gọi là chi phí Do vậy, các đầu vào được biểu hiện dưới dạng chi phí Một cách hoàn toàn tương tự, các đầu vào được đo lường theo những đơn vị

tiền tệ dưới tên gọi “thu nhập” Nói cách khác, KTTN được dựa trên dữ liệu chi phí

và thu nhập của từng trung tâm trách nhiệm trong một tổ chức Phạm Văn Dược (2010, trang 8-9)

1.2.2 Ch ức năng kế toán trách nhiệm

KTTN là một phương pháp phân chia cấu trúc của một tổ chức thành những trung tâm trách nhiệm khác nhau để đo lường biểu hiện của chúng Nói cách khác, KTTN

là một “công cụ” để do lường về kết quả hoạt động của một khu vực nào đó trong tổ

chức, qua đó giúp nhà quản trị kiểm soát và đánh giá trách nhiệm quản trị ở từng cấp

quản lý khác nhau Chức năng của KTTN được thể hiện ở những khía cạnh sau đây: KTTN giúp xác định sự đóng góp của từng đơn vị, bộ phận vào lợi ích của toàn bộ

tổ chức

KTTN cung cấp một cơ sở cho việc đánh giá chất lượng về kết quả hoạt động của

những nhà quản lý bộ phận

KTTN được sử dụng để đo lường kết quả hoạt động của các nhà quản lý và do đó,

nó ảnh hưởng đến cách thực hiện hành vi của các nhà quản lý này

KTTN thúc đẩy các nhà quản lý bộ phận điều hành bộ phận của mình theo phương cách phù hợp với những mục tiêu cơ bản của toàn bộ tổ chức

1.2 3 Đối tượng sử dụng thông tin kế toán trách nhiệm

Thông tin KTTN là một bộ phận thông tin quan trọng của KTQT, và do vậy đối tượng sử dụng thông tin KTTN cũng gồm các nhà quản trị cấp thấp, cấp trung và cấp

Trang 23

cao, nhằm đánh giá trách nhiệm quả trị của từng bộ phận cấu thành từng cấp quản lý

cụ thể

Đối với nhà quản trị cấp cao

KTTN cung cấp thông tin cho việc thực hiện chức năng tổ chức và điều hành doanh nghiệp KTTN xác định các trung tâm trách nhiệm, qua đó nhà quản lý có thể hệ

thống hóa các công việc của từng trung tâm mà thiết lập các chỉ tiêu đánh giá KTTN giúp nhà quản trị đánh giá và điều chỉnh các bộ phận cho thích hợp

Đối với nhà quản trị cấp trung

KTTN cung cấp thông tin cho việc thực hiện chức năng kiểm soát tài chính và

kiểm soát quản lý Thông qua KTTN, nhà quản trị có thể phân tích đánh giá chi phí, doanh thu và lợi nhuận thực hiện của từng bộ phận Báo cáo trách nhiệm phản hồi cho người quản lý biết thực hiện kế hoạch của các bộ phận ra sao, nhận diện các vấn

đề hạn chế để có sự điều chỉnh các chiến lược mục tiêu sao cho kết quả kinh doanh

là tốt nhất Đây có thể xem là nguồn thông tin quan trọng để nhà quản lý nâng cao

hiệu quả sử dụng vốn, tăng doanh thu, giảm chi phí một cách hợp lý, và cuối cùng là

tối đa lợi nhuận

Đối với nhà quản trị cấp thấp

KTTN khuyến khích nhà quản lý hướng đến mục tiêu chung của tổ chức Mục tiêu chiến lược của DN được gắn với các trung tâm trách nhiệm Khi KTTN có thể kiểm soát được công tác tài chính và công tác quản lý, sẽ điều chỉnh hoạt động hướng đến

mục tiêu chung của doanh nghiệp Đồng thời, bản thân các giám đốc trung tâm trách nhiệm được khích lệ hoạt động sao cho phù hợp với các mục tiêu cơ bản của toàn doanh nghiệp

Tóm lại, một nhà quản trị chịu trách nhiệm cho hiệu quả hoạt động của bộ phận do mình quản lý thì họ sẽ cần thông tin về hoạt động đó Về cơ bản, dù ở cấp quản trị nào, nhà quản lý cũng cần ba loại thông tin KTTN có thể cung cấp như sau:

Nguồn gốc của bộ phận: đó là các thông tin về tài chính, nguyên vật liệu nhân lực, máy móc, thời gian yêu cầu hoàn thành công việc

Trang 24

Mức độ tiêu hao của các nguồn lực đó là thông tin về mức độ nhanh chóng, thuần

thục của công nhân, mức độ phát sinh các chi phí, mức độ tận dụng nguyên vật liệu Các nguồn lực được sử dụng như thế nào đó là thông tin về mức độ hoàn thành công việc

1.3 Các b ộ phận cấu thành kế toán trách nhiệm

Từ các vấn đề khái quát chung về KTTN, có thể xác định rằng các nội dung cơ bản

để thực hiện hệ thống KTTN bao gồm những vấn đề cụ thể sau: (1) Phân cấp quản lý

và xác định các trung tâm trách nhiệm; (2) Xác định các chỉ tiêu được sử dụng đề đánh giá trách nhiệm quản trị bộ phận; (3) Xác định trách nhiệm báo cáo của từng trung tâm trách nhiệm

Ưu điểm của sự phân cấp quản lý

Người quản lý có thể giảm bớt khối lượng công việc và san sẻ cho người khác, từ

đó có thể tiết kiệm thời gian làm việc của mình, và có thể tập trung vào thực hiện các

mục tiêu và chỉ tiêu lớn hơn cho DN như đầu tư thời gian để đề ra những công việc mang tính chất chiến lược lâu dài

Nguồn thông tin được cung cấp đầy đủ kịp thời hơn, chính sự phân quyền trong

quản lý mà các bộ phận có thể chủ động trong tiếp cận các thông tin và phản hồi nhanh chóng

Tạo môi trường thuận lợi phát triển những nhà quản lý cấp thấp hơn Nhà quản lý

có thể đánh giá nhân viên tốt và đào tạo lớp quản lý mới để kế thừa Cấp dưới có thể

tập trung học tập, rèn luyện, nâng cao nghiệp vụ, tích lũy kinh nghiệm khi thực hiện các công việc quyết định của mình

Trang 25

Cơ cấu tổ chức được thiết lập phù hợp với môi trường hoạt động hơn Bởi nếu các lĩnh vực kinh doanh đa dạng, quy mô kinh doanh lớn, thị trường và thị phần mở rộng, thì nhất thiết có nhiều nhân sự quan trọng cùng gánh vác trách nhiệm và ngược lại Các bộ phận trong cơ cấu tổ chức có thể điều chỉnh để thích nghi với môi trường kinh doanh một phần là nhờ vào việc phân cấp đó

Khuyến khích nhân nhiên nỗ lực với trách nhiệm được giao hơn, từ đó góp phần hoàn thành mục tiêu chung của toàn DN Khi kết quả thực hiện của mỗi bộ phận, mỗi con người trong tổ chức được xác định và thừa nhận một cách rõ ràng sẽ khuyến khích họ làm việc tốt hơn Bên cạnh đó, tạo môi trường thi đua tích cực và lành mạnh

giữa các cá nhân, các đơn vị, và khuyến khích họ đạt được các chỉ tiêu của từng bộ phận cũng như mục tiêu chung của toàn đơn vị

1.3.2 Trung tâm trách nhiệm

Trung tâm trách nhiệm là một bộ phận trong một doanh nghiệp mà các nhà quản

trị của nó chịu trách nhiệm đối với thành quả hoạt động của chính bộ phận do mình

phụ trách Có 4 loại trung tâm trách nhiệm:

Trung tâm chi phí

Trung tâm doanh thu

Trung tâm lợi nhuận

Trung tâm đầu tư

1.3.2.1 Trung tâm chi phí

Thành quả của các trung tâm chi phí thường được đánh giá bằng việc so sánh chi phí thực tế với chi phí dự toán và phân tích các chênh lệch phát sinh

Trung tâm chi phí là một loại trung tâm trách nhiệm thể hiện phạm vi cơ bản của hệ

thống xác định chi phí, là điểm xuất phát của các hoạt động như:

Lập dự toán chi phí

Phân loại chi phí thực tế phát sinh

So sánh chi phí thực tế với định mức chi phí tiêu chuẩn

Trung tâm chi phí gắn liền với cấp quản lý mang tính chất tác nghiệp, trực tiếp tạo

ra sản phẩm, dịch vụ, hoặc gián tiếp phục vụ kinh doanh (như phân xưởng sản xuất,

Trang 26

các phòng ban chức năng) Theo đó, Trung tâm chi phí là một bộ phận mà các nhà

quản trị của nó chỉ được quyền ra quyết định đối với chi phí phát sinh trong bộ phận

đó, không có quyền với việc tiêu thụ và đầu tư vốn

Trung tâm chi phí được chia làm hai dạng

Trung tâm chi phí tiêu chuẩn: là trung tâm chi phí mà các yếu tố chi phí và các

mức hao phí về các nguồn lực sử dụng để sản xuất một đơn vị sản phẩm, dịch vụ đều được xây đựng định mức cụ thể Nhà quản trị trung tâm chi phí tiêu chuẩn có trách nhiệm kiểm soát chi phí thực tế phát sinh, để vẫn đảm bảo kế hoạch sản xuất cũng như đảm bảo kế hoạch chi phí cho từng đơn vị sản phẩm, dịch vụ và tính cho toàn bộ Trung tâm chi phí tiêu chuẩn được nhận biết trên cơ sở chúng ta có thể xác định, đo lường một cách chắc chắn đầu ra, và có thể xác định được định mức các đầu vào cần thiết để sản xuất ra một đơn vị đầu ra đó Theo đó, nhà quản lý không chịu trách nhiệm về những biến động gây ra bởi các mức độ hoạt động cao hơn tiêu chuẩn trung tâm, mà chỉ chịu trách nhiệm về tính hiệu quả trong phạm vi hoạt động của trung tâm Đối với trung tâm này thì hiệu suất được đo lường bởi mối liên hệ giữa đầu vào và đầu ra, còn tính hiệu quả được đo lường bằng mức độ trung tâm đạt được sản lượng mong muốn tại những mức độ về chất lượng và thời gian đã định Các trung tâm chi phí thường gắn với cấp quản trị cơ sở và có thể là các nhà máy sản xuất, các phân xưởng sản xuất, và các tổ chức sản xuất…

Trung tâm chi phí dự toán: là trung tâm chi phí mà các yếu tố được dự toán và đánh giá căn cứ trên nhiệm vụ được giao tính chung, không thể xác định cụ thể cho

từng đơn vị sản phẩm hoặc cho từng công việc của trung tâm Nhà quản tri trung tâm chi phí này có trách nhiệm kiểm soát chi phí thực hiện nhiệm vụ được giao Đặc điểm

của trung tâm chi phí này là các đầu ra không thể đo lường bằng các chỉ tiêu tài chính,

hoặc không có sự liên hệ rõ ràng giữa các chi phí đã được sử dụng để tạo ra các kết

quả đầu ra tương ứng Các trung tâm này bao gồm phòng kế toán, phòng quản trị nhân sự - hành chính, phòng nghiên cứu, và phát triển… Đánh giá hiệu quả của trung tâm này thường bằng cách so sánh chi phí giữa dự toán ngân sách đã định sẵn và thực

tế thực hiện Tuy nhiên, cách so sánh này chỉ cho các kết quả tương đối, nên cần phải

Trang 27

kết hợp một số chỉ tiêu phi tài chính về mức độ và chất lượng của các dịch vụ mà các trung tâm cung cấp

1.3.2.2 Trung tâm doanh thu

Trung tâm doanh thu là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó được quyền ra quyết định đối với doanh thu phát sinh trong bộ phận đó, không chịu trách nhiệm với

lợi nhuận và vốn đầu tư Trung tâm doanh thu thường được gắn với bậc quản lý cấp trung hoặc cấp cơ sở, đó là các bộ phận kinh doanh trong đơn vị như các chi nhánh tiêu thụ, khu vực tiêu thụ, cửa hàng tiêu thụ, nhóm sản phẩm

Trên thực tế khi xác định chỉ tiêu đánh giá trung tâm doanh thu, cần xem xét giá thành sản phẩm để khuyến khích trung tâm này tạo ra lợi nhuận chứ không chi đơn thuần là tạo ra doanh thu Các quản lý bán hàng thường chiết khấu giảm giá hàng bán khi bán hàng số lượng lớn, hay thực hiện các chiến dịch quản cáo, khuyến mại Các hoạt động này sẽ làm tăng doanh thu nhưng đều làm giản lợi nhuận mà DN chỉ

chấp nhận trong một thời gian kinh doanh có hạn Như vậy, trung tâm này có chính sách bán hàng, không chỉ dựa trên tình hình thị trường mà còn dựa trên giá thành, chi phí, và các mục tiêu lâu dài của công ty

1.3.2.3 Trung tâm lợi nhuận

Trung tâm lợi nhuận là loại trung tâm trách nhiệm mà nhà quản trị phải chịu trách nhiệm với kết quả sản xuất và tiêu thụ của trung tâm Trong trường hợp này nhà quản

lý có thể ra quyết định loại sản phẩm nào cần sản xuất, sản xuất như thế nào, mức độ

chất lượng, giá cả, hệ thống phân phối và bán hàng Nhà quản lý phải quyết định các nguồn lực sản xuất được phân bổ như thế nào giữa các sản phẩm, điều đó cũng có nghĩa là họ phải đạt được sự cân bằng trong việc phối hợp giữa yếu tố giá cả, sản lượng, chất lượng và chi phí

Loại trung tâm trách nhiệm này thường được gắn với bậc quản lý cấp trung, đó là giám đốc điều hành công ty, các đơn vị kinh doanh trong tổng công ty như công ty

phụ thuộc, các chi nhánh… Nếu nhà quản lý không có quyền quyết định mức độ đầu

tư tại trung tâm của họ, thì tiêu chí lợi nhuận được xem là tiêu chí thích hợp nhất để đánh giá kết quả thực hiện trung tâm này

Trang 28

1.3.2.4 Trung tâm đầu tư

Trung tâm đầu tư là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó được quyền ra quyết định đối với lợi nhuận và vốn đầu tư của đơn vị đó Đây là loại trung tâm trách nhiệm

gắn với bậc quản lý cấp cao như Hội Đồng quản trị công ty, các công ty độc lập, …

Đó là sự tổng quát hóa của các trung tâm lợi nhuận, trong đó khả năng sinh lời được

gắn với các tài sản được sử dụng để tạo ra lợi nhuận đó Một trung tâm trách nhiệm được xem là một trung tâm đầu tư khi nhà quản trị của trung tâm đó không những quản lý chi phí và doanh thu mà còn quyết định lượng vốn sử dụng để tiến hành quá trình đó

Bằng cách tạo ra mối liên hệ giữa lợi nhuận và tài sản sử dụng để tạo ra lợi nhuận

đó, chúng ta có thể đánh giá lợi nhuận tạo ra có tương xứng với đồng vốn đã bỏ ra hay không Thông qua đó cũng hướng sự chú ý của nhà quản lý đến mức độ sử dụng

hiệu quả vốn lưu động, đặc biệt là các khoản phải thu và hàng tồn kho được sử dụng

tại trung tâm

Thành quả của các trung tâm đầu tư thường được đánh giá bằng việc sử dụng thước đo:

Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI)

Lợi nhuận còn lại (RI)

Như vậy, các loại trung tâm trách nhiệm gắn liền với từng cấp quản trị trong tổ

chức Mỗi loại trung tâm trách nhiệm sẽ xác định trách nhiệm hoặc quyền kiểm soát đối với từng đối tượng cụ thể của nhà quản trị các cấp Trong thực tế, việc chọn lựa

một trung tâm thích hợp nhất cho một đơn vị trong tổ chức là điều không dễ dàng

Cơ sở để xác đinh một bộ phận trong tổ chức là trung tâm loại gì, là căn cứ trên loại nguồn lực hoặc trách nhiệm mà nhà quản lý trung tâm trách nhiệm đó được giao Do

vậy, việc phân biệt rõ ràng loại trung tâm trách nhiệm cho các bộ phận, đơn vị trong

một tổ chức chỉ mang tính tương đối, và phụ thuộc vào quan điểm của nhà quản trị

cấp cao nhất Trong thực tế, để có thể phân loại các bộ phận, đơn vị trong tổ chức vào các trung tâm trách nhiệm hợp lý thì nên căn cứ vào nhiệm vụ chính của bộ phận, đơn

vị đó

Trang 29

1.3.3 Xác định các chỉ tiêu đánh giá trách nhiệm quản trị bộ phận

Để đo lường đánh giá các trung tâm trách nhiệm, có hai loại chỉ tiêu cơ bản thường

sử dụng lầ chỉ tiêu kết quả và chỉ tiêu hiệu quả Chỉ tiêu kết quả là mức độ các trung tâm trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ đề ra, có thể là số tuyệt đối hay số tương đối

Ví dụ như nhà quản lý đặt ra doanh thu cần đạt cho trung tâm doanh thu, mức tỷ lệ hòa vốn của trung tâm lợi nhuận, mức thực hiện thực tế so với kế hoạch của mỗi bộ

phận

Đối với chỉ tiêu hiệu quả, là tỷ lệ so sánh giữa tổng đầu ra và tổng đầu vào của một trung tâm trách nhiệm Nó cho thấy kết quả thực tế đạt được so với các nguồn lực được sử dụng để tạo ra kết quả đó, tức xác định mức trung bình kết quả mang lại trên mỗi đơn vị đầu vào Ví dụ như chỉ tiêu lợi nhuận trên vốn, trên tài sản Ngược lại, tỷ

lệ so sánh giữa đầu vào và đầu ra cho ta trung bình số lượng đầu vào tiêu hao trên

mỗi đơn vị đầu ra và đầu vào cho ta trung bình số lượng đầu vào tiêu hao trên mỗi đơn vị đầu ra, như tỷ lệ chi phí trên mỗi sản phẩm làm được, chi phí vốn

Phương pháp đánh giá trách nhiệm quản trị bộ phận: Đánh giá trách nhiệm quản

trị của các cấp quản lý cũng như việc đo lường thành quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm, bằng cách lấy kết quả thực hiện của các trung tâm trách nhiệm, so sánh đối chiếu với số liệu dự toán ban đầu trên cả hai mặt hiệu quả và hiệu năng Do đầu ra và đầu vào của mỗi trung tâm trách nhiệm khác nhau, vì vậy các chỉ tiêu đo lường cho từng loại trung tâm cũng khác nhau

1.3 3.1 Đánh giá thành quả quản trị và đo lường kết quả hoạt động của trung tâm chi phí

Đánh giá trách nhiệm quản trị và đo lường kết quả hoạt động của trung tâm chi phí:

Thành quả quản lý của các nhà quản trị ở trung tâm chi phí được đánh giá qua báo cáo thành quả được lập cho từng trung tâm chi phí riêng biệt

Thông tin đưa vào báo cáo thành quả để đánh giá thành quả của các nhà quản trị ở trung tâm chi phí chỉ là chi phí có thể kiểm soát được bởi từng nhà quản trị ở từng trung tâm chi phí

Trang 30

Cần được phân biệt làm hai dạng là trung tâm chi phí tiêu chuẩn và trung tâm chi phí dự toán Thông tin chủ yếu sử dụng để đánh giá thành quả của các nhà quản trị ở trung tâm chi phí, là chi phí có thể kiểm soát bởi từng nhà quản trị đối với bộ phận

do mình phụ trách Bằng phương pháp so sánh chi phí thực tế với chi phí dự toán (hay định mức), nhà quản trị có thể biết được chênh lệch nào là thuận lợi, chênh lệch nào

là bất lợi Chênh lệch nào do biến động của khối lượng hoạt động, chênh lệch nào do thành quả kiểm soát chi phí mang lại

Nhà quản trị trung tâm chi phí có trách nhiệm điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh ở trung tâm sao cho đạt được kế hoạch được giao, đồng thời đảm bảo chi phí

thực tế phát sinh không vượt quá chi phí tiêu chuẩn (hoặc dự toán) Do vậy, khi đánh giá trách nhiệm quản trị cũng như đo lường kết quả hoạt động của loại trung tâm này, chúng ta cần đánh giá hai chỉ tiêu cơ bản sau:

Có hoàn thành nhiệm vụ được giao về sản lượng sản xuất kinh doanh hay không? Chi phí thực tế phát sinh có vượt quá định mức tiêu chuẩn (hoặc dự toán) hay không? Trường hợp hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh như chi phí thực tế vượt quá định mức (dự toán), thì sẽ tiến hành phân tích xác định nguyên nhân để làm cơ sở đánh giá trách nhiệm quản trị ở từng cấp độ một cách chính xác nhất

B ảng 1.1 Đánh giá trách nhiệm trung tâm chi phí

1 Kết quả dương [thực tế > định

mức (hoặc dự toán)]

Không tốt vì chi phí thực tế cao hơn định mức (dự toán)

Trang 31

1.3.3.2 Đánh giá trách nhiệm quản trị và đo lường kết quả hoạt động của trung tâm doanh thu:

Trách nhiệm của nhà quản trị ở trung tâm doanh thu là tổ chức hoạt động tiêu thụ

sản phẩm, dịch vụ sao cho đạt được doanh thu trong kỳ nhiều nhất của bộ phận do mình kiểm soát Theo đó, chúng ta sẽ đối chiếu doanh thu thực tế đạt được so với doanh thu dự toán của bộ phận, xem xét tình hình thực hiện dự toán tiêu thụ, trên cơ

sở đó phân tích sai biệt doanh thu do ảnh hưởng của các nhân tố có liên quan, như đơn giá bán, khối lượng tiêu thụ và cơ cấu sản phẩm tiêu thụ

Do đầu ra của trung tâm doan thu được lượng hóa bằng tiền, nhưng đầu vào thì trung tâm này không chịu trách nhiệm về giá thành sản phẩm hay giá vốn hàng bán Trong khi đó chi phí phát sinh tại trung tâm doanh thu thì không thể so sánh được với doanh thu của trung tâm, vì vậy để đo lường hiệu năng hoạt động của trung tâm này, chúng ta sẽ so sánh giữa chi phí thực tế và chi phí dự toán của trung tâm

1.3 3.3 Đánh giá trách nhiệm quản trị và đo lường kết quả hoạt động của trung tâm l ợi nhuận

Trách nhiệm của nhà quản trị ở trung tâm lợi nhuận là tổ chức hoạt động kinh doanh sao cho lợi nhuận đạt được là cao nhất Nhà quản trị trung tâm lợi nhuận được giao vốn và quyền quyết định trong việc sử dụng số vốn đó để tạo ra lợi nhuận Do

vậy, bên cạnh trách nhiệm phải tạo ra lợi nhuận cao, trung tâm lợi nhuận còn có trách nhiệm kiểm soát chi phí phát sinh Chính vì lẽ đó, để đánh giá kết quả của trung tâm

lợi nhuận, chúng ta cần đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu lợi nhuận, giá bán và lượng bán

Trang 32

Đối với chỉ tiêu lợi nhuận: cần xác định sai biệt giữa lợi nhuận thực hiện so với lợi nhuận kế hoạch được giao cả về số tuyệt đối lẫn số tương đối

Do lợi nhuận tạo ra trong kỳ của DN là phần còn lại của doanh thu sau khi trừ chi phí phát sinh tương ứng tạo ra doanh thu đó, nên doanh thu và chi phí là hai nhân tố

có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận Để đánh giá chính xác kết quả của trung tâm

lợi nhuận, chúng ta cần xác định phạm vi chi phí mà nhà quản trị trung tâm có thể

kiểm soát được, rồi áp dụng phương pháp phân tích biến động chi phí như phương pháp áp dụng ở các trung tâm chi phí Riêng chỉ tiêu doanh thu, cần đánh giá ở các khía cạnh sau:

Trung tâm có đạt được mức tiêu thụ dự toán hay không?

Trung tâm có thực hiện giá bán đúng như dự toán hay không

Trung tâm có thực hiện cơ cấu hàng bán đúng như dự toán hay không (trường hợp kinh doanh nhiều loại sản phẩm)

Khi đánh giá chênh lệch giữa doanh thu thực hiện so với doanh thu dự toán ta cần

tiến hành phân tích xác định các nhân tố ảnh hưởng, trên cơ sở đó xác định các nguyên nhân chủ quan và khách quan làm biến động doanh thu

Ngoài ra, còn có thể sử dụng các chỉ tiêu như số dư bộ phận, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu; tỷ suất doanh thu trên chi phí, để đánh giá thành quả hoạt động của các trung tâm lợi nhuận

1.3.3.4 Đánh giá trách nhiệm quản trị và đo lường kết quả hoạt động của trung tâm đầu tư:

Về bản chất có thể xem trung tâm đầu tư là một dạng mở rộng của trung tâm lợi nhuận, trong đó nhà quản trị có nhiều quyền hạn và trách nhiệm hơn, vì ngoài việc đưa ra các quyết định ngắn hạn như xác định các cơ cấu sản phẩm, giá bán, chi phí

sản phẩm, … họ còn có quyền kiểm soát và đưa ra các quyết định về vốn đầu tư của doanh nghiệp Vì vậy về mặt hiệu quả hoạt động của trung tâm đầu tư có thể được đo lường giống như trung tâm lợi nhuận, nhưng về hiệu năng hoạt động thì cần so sánh

lợi nhuận đạt được với tài sản hay giá trị đã đầu tư vào trung tâm

Trang 33

Các chỉ tiêu cơ bản có thể sử dụng để đánh giá hiệu năng hoạt động của trung tâm đầu tư như: Tỷ suất hoàn vốn đầu tư (ROI); Lãi thặng dư (RI); Giá trị thị trường của tài sản doanh nghiệp

Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI)

Khái niệm về tỷ lệ hoàn vốn đầu tư: là tỷ số giữa lợi nhuận thuần trên vốn đầu tư

đã bỏ ra, hay theo Du Pont thì ROI còn được phân tích là tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu nhân với vòng quay của vốn đầu tư

Mục tiêu sử dụng chỉ số tỷ lệ hoàn vốn đầu tư

Mục tiêu đầu tiên của việc sử dụng ROI là việc đánh giá hiệu quả đầu tư của các trung tâm đầu tư và các doanh nghiệp có quy mô vốn khác nhau, để phân tích xem nơi nào đạt hiệu quả cao nhất, từ đó làm cơ sở đánh giá thành quả quản lý

Mục tiêu thứ 2 khi sử dụng ROI để tìm ra các nhân tố tác động đến hiệu quả quản

lý, nhằm tìm ra các giải pháp để làm cho kết quả hoạt động được tốt hơn Đó là các

biện pháp cải thiện doanh thu, kiểm soát chi phí hay tính tái cơ cấu vốn đầu tư

Công th ức tính phổ biến là

Hay ROI = Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu x số vòng quay của vốn đầu tư

Lợi nhuận được sử dụng trong công thức là lợi nhuận thuần trước thuế thu nhập

Lý do sử dụng lợi nhuận thuần là để phù hợp với doanh thu và vốn hoạt động đã tạo

ra nó, và để xác định vòng quay vốn Vốn hoạt động được sử dụng trong ROI ở điều

kiện bình thường là vốn bình quân giữa đầu năm và cuối năm Nếu vốn trong năm

biến động liên tục thì phải tính bình quân từng tháng

ROI phụ thuộc vào hai nhân tố quan trọng: Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và số vòng quay tài sản

Lợi nhuận

Vốn đầu tư

Lợi nhuận Doanh thu

Doanh thu

Vốn Đầu tư

Trang 34

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cho biết khi một đồng doanh thu thực hiện sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ số này cao hay thấp phụ thuộc vào việc kiểm soát doanh thu và chi phí của các nhà quản trị ở trung tâm đầu tư

Số vòng quay của vốn đầu tư cho biết một đồng vốn vào trung tâm đầu tư đã thực

hiện được bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ số này cho thấy hiệu quả suất sử dụng vốn

Chỉ số này càng hay thấp phụ thuộc vào việc kiểm soát doanh thu và tài sản của các nhà quản trị ở trung tâm đầu tư

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và số vòng quay của tài sản giúp chúng ta giải thích sự biến động của ROI của một trung tâm đầu tư, sự khác nhau của ROI giữa các trung tâm đầu tư

Nhược điểm của ROI

Mặc dù chỉ tiêu tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) được các nhà quản trị sử dụng rộng rãi để đánh giá thành quả quản lý của các trung tâm đầu tư, tuy nhiên nó vẫn còn một

số điểm hạn chế như sau:

ROI có khuynh hướng chú trọng đến quá trình sinh lợi ngắn hạn hơn là quá trình sinh lợi dài hạn, do vậy nhà quản trị nếu chỉ quan tâm đến ROI có thể bỏ qua nhiều

cơ hội đầu tư mới mà kết quả của chúng chỉ có thể thể hiện trong tương lai dài thay

vì một hai kì sắp đến, làm cản trở việc hướng đến mục tiêu chung của tổ chức ROI không phù hợp với mô hình vận động của các dòng tiền nên bị hạn chế sử

dụng để đánh giá thành quả quản lý của trung tâm đầu tư

ROI có thể không hoàn toàn chịu sự điều hành của nhà quản trị trung tâm đầu tư,

vì tài sản của nó có thể được quyết định bởi các nhà quản trị cấp trên

Nếu các nhà quản trị được đánh giá bằng ROI, họ sẽ tìm mọi cách để tăng ROI Điều này có thể sẽ không phù hợp với chiến lược của toàn công ty, chẳng hạn việc

cắt giảm các chi phí nghiên cứu phát triển

Lãi thặng dư (RI)

Khái niệm về lãi thặng dư: Lãi thặng dư (hay còn gọi lợi tức còn lại) là khoản thu

nhập của bộ phận hay toàn doanh nghiệp, được trừ đi chi phí sử dụng vốn mong đợi

Trang 35

đã đầu tư vào bộ phận đó Chỉ số này nhấn mạnh thêm khả năng sinh lời vượt trên chi phí vốn đã đầu tư vào một bộ phận hay toàn doanh nghiệp

Mục đích sử dụng của chỉ số lãi thặng dư – RI:

Mục tiêu thứ nhất của việc sử dụng chỉ số RI là cho biết lợi nhuận thực tế đã mang

về là bao nhiêu, sau khi trừ đi các khoản chi phí sử dụng vốn để có được lợi nhuận trên

Mục tiêu thứ hai của việc sử dụng chỉ số RI là cho biết có nên đầu tư gia tăng hay không, mà khi sử dụng chỉ số ROI không đủ cơ sở ra quyết định

Công thức tính của RI: RI = P – R

Với RI: lãi thặng dư, P: Lợi tức của trung tâm đầu tư

R=∑ri * Ci (trong đó R: chi phí sử dụng vốn bình quân, Ci Vốn đầu tư (Capital) huy động từ nguồn I; ri tỷ suất sinh lời mong muốn tối thiểu của nguồn i)

trị bộ phận chấp nhận bất kỳ cơ hội kinh doanh nào, được dự kiến sẽ mang lại ROI cao hơn ROI bình quân

Tuy nhiên, RI cũng có nhược điểm là do RI là một chỉ tiêu được thể hiện bằng số tuyệt đối, nên không thể sử dụng RI để so sánh thành quả quản lý của các nhà quản

trị ở các trung tâm đàu tư có tài sản được đầu tư khác nhau Vì trong thực tế, nếu dùng

RI đánh giá thì RI thường có khuynh hướng lạc quan nghiêng về những nơi có quy

mô vốn lớn

Như vậy để đánh giá kết quả của trung tâm đầu tư, nhà quản trị cần sử dụng kết

hợp các chỉ tiêu cơ bản như ROI, RI, với việc xem xét mức chênh lệch trong việc

thực hiện các chỉ tiêu thực tế so với kế hoạch

1.3.4 Báo cáo k ế toán trách nhiệm

Trang 36

Thành quả của mỗi trung tâm trách nhiệm được tổng hợp định kì trên một báo cáo

kế toán trách nhiệm (gọi tắt là báo cáo trách nhiệm) Báo cáo trách nhiệm của từng trung tâm sẽ phản ánh kết quả tài chính chủ yếu theo thực tế và theo dự toán, đồng

thời chỉ ra các chênh lệch giữa kết quả thực hiện so với dự toán, theo từng chỉ tiêu được chuyển tải trong báo cáo phù hợp với từng loại trung tâm trách nhiệm Ví dụ, báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí bao gồm các khoản mục chi phí thực tế, chi phí dự toán và các khoản chênh lệch giữa chi phí thực tế so với dự toán, báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận là báo cáo tình hình thực hiện dự toán lợi nhuận theo hình thức số dư đảm phí, báo cáo thu nhập bộ phận Nhu vậy báo cáo trách nhiệm chú trọng vào việc đánh giá các khoản chênh lệch này một cách phù hợp và đúng đắn, người ta thường sử dụng dự toán linh hoạt nhằm cung cấp một mức chuẩn cho việc

so sánh, đánh giá tình hình thực hiện dự toán doanh thu, chi phí và lợi nhuận

1.3.4.1 M ục tiêu, đặc điểm và yêu cầu của báo cáo kế toán trách nhiệm Mục tiêu của báo cáo kế toán trách nhiệm

Cũng như hệ thống kế toán khác, sản phẩm cuối cùng của hệ thống KTTN cũng

là những báo cáo, đó là những báo cáo kế toán trách nhiệm (hay gọi tắt là báo cáo trách nhiệm) Những báo cáo trách nhiệm được chuẩn bị cho mỗi cá nhân có sự kiểm soát trên thu nhập và chỉ tiêu của bộ phận mình phu trách Nhóm tác giá Atkinson, A A., R D Banker, R S Kaplan and S M Young đã đưa ra khái niệm về báo cáo trách nhiệm như sau: Báo cáo trách nhiệm là sản phẩm của kế toán trách nhiệm Đó là

những báo cáo kết quả hoạt động cho mỗi cấp bậc của trách nhiệm theo sơ đồ tổ chức

quản lý của DN Hệ thống báo cáo này ghi nhận việc thực hiện mục tiêu và so sánh

với mục tiêu được phân công của mỗi bộ phận trong DN Sau đó hệ thống sẽ tổng

hợp thực hiện mục tiêu của các cấp dưới lên cấp cao hơn, và cứ thực hiện như vậy cho đến khi tổng hợp được việc thực hiện mục tiêu của toàn doanh nghiệp, so sánh

với mục tiêu của toàn DN, và tạo báo cáo thực hiện theo từng bộ phận và toàn DN

Sự khác biệt giữa thông tin thực hiện với mục tiêu dự toán sẽ giúp nhà quản trị đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động của các cấp quản trị của bộ phận

Đặc điểm của báo cáo trách nhiệm

Trang 37

Theo R S Kaplan, một hệ thống báo cáo trách nhiệm thường có những đặc điểm

cơ bản sau:

Thứ nhất, mức độ chi tiết của thông tin trên các báo cáo sẽ khác nhau đối với

những cấp độ quản lý khác nhau Theo đó, cấp quản lý càng thấp thì các mức độ chi

tiết của các chỉ tiêu báo cáo càng nhiều, những kết quả tổng cộng từ báo cáo của các

cấp quản lý sẽ được báo cáo cho cấp quản lý cao hơn kế tiếp Dữ liệu được tổng hợp,

chắt lọc và cô đọng khi thông tin được báo cáo lên cho những cấp độ quản lý cao hơn, hay nói một cách khác, mức độ chi tiết của các chỉ tiêu giảm dần ở cấp qản lý càng cao

Thứ hai, mặc dù lượng thông tin của các báo cáo có sự biến đổi, nhưng những bản báo cáo được phát hành dưới một hệ thống báo cáo trách nhiệm có mối liên hệ

mật thiết với nhau Thông tin trong báo cáo ở cấp thấp sẽ mang tính giải thích, chứng minh cho các chỉ tiêu trong báo cáo ở cấp cao hơn

Thứ ba, báo cáo phải bao gồm tất cả những chỉ tiêu doanh thu, chi phí và lợi nhuận, mà có thể xác định một cách trực tiếp hay phân bổ một cách gián tiếp đến một

cấp quản lý cụ thể, điều này phải căn cứ vào tính có thể kiểm soát được hay không đối với từng chỉ tiêu cụ thể Theo đó khi áp dụng phương pháp này, cần phải có sự

thận trọng khi phân tách giữa những hạng mục có thể kiểm soát được và không thể

kiểm soát được, để xác định rõ những hạng mục mà một nhà quản lý có thể và phải

chịu trách nhiệm đối với nó

Các yêu c ầu cơ bản của kế toán trách nhiệm

Báo cáo trách nhiệm là một bộ phận của báo cáo KTQT, do vậy trước hết báo cáo

kế toán trách nhiệm phải đáp ứng được các yêu cầu chung của báo cáo KTQT Ngoài

ra, do tính đặc thù riêng có cũng như để phát huy được tác dụng, thì báo cáo kế toán trách nhiệm phải thỏa mãn những yêu cầu cơ bản sau:

Thứ nhất, báo cáo phải được lập và truyển đạt một cách kịp thời

Thứ hai, báo cáo phải được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục

Thứ ba, hình thức phải tương đối đơn giản, dễ hiểu và có sự so sánh điều này thể

hiện:

Trang 38

Người lập nên tránh những thuật ngữ có thể gây hiều lầm

Những kết quả nên được thể hiện bằng những con số thích hợp, vì như vậy sẽ quen thuộc và dễ hiểu với những nhà quả lý hơn

Để giúp đỡ cho nhà quản lý trong việc nhanh chóng phát hiện ra những biến động

so với dự toán ngân sách, thì cả những lượng thực tế và dự toán đều phải được báo cáo

Một sự biến động là sự chênh lệch giữa lượng thực tế và lượng được dự toán của một hạng mục nào đó

Các bảng báo cáo thường bao gồm cả phân tích hiện thời và phân tích cả quá trình

nhằm đưa ra các loại thông tin hướng đến tương lai

1.3.4.2 Các lo ại báo cáo trách nhiệm

Như đã trình bày ở trên, thông tin KTTN cung cấp cho nhà quản lý trong DN cơ

sở để đánh giá trách nhiệm quản trị của từng đơn vị, bộ phận, gắn với từng trung tâm trách nhiệm cụ thể, thông qua trách nhiệm quản trị nguồn lực của bộ phận, mức tiêu hao của các nguồn lực và mức độ hoàn thành công việc của họ Do vậy, căn cứ vào trách nhiệm báo cáo thì hệ thống báo cáo trách nhiệm được chia thành bốn nhóm báo cáo, ứng với bốn loại trung tâm trách nhiệm sau:

Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí

Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm doanh thu

Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận

Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm đầu tư

Dù là báo cáo của trung tâm trách nhiệm nào, căn cứ vào nội dung và hình thức báo cáo, chúng ta có thể chia báo cáo trách nhiệm trong DN thành hai nhóm báo cáo sau đây:

Nhóm báo cáo th ực hiện:

Đây là loại báo cáo phản ánh cụ thể, chi tiết tình hình hoạt động, tình hình tài chính,

kết quả sản xuất kinh doanh của từng bộ phận, từng chức năng, từng lĩnh vực hoạt động của DN Định kì các trung tâm trách nhiệm từ cấp thấp nhất phải báo cáo dần lên cấp cao hơn, về tình hình thực hiện những chỉ tiêu chủ yếu của trung tâm mình

Trang 39

Trong mỗi báo cáo thực hiện trình bày các số liệu về kế hoạch, thực hiện và các số chênh lệch Thông qua các báo cáo thực hiện, cấp nhận báo cáo sẽ kiểm soát được các hoạt động của cấp dưới trực thuộc

Báo cáo chi phí: Là báo cáo thực hiện của các trung tâm chi phí, tùy thuộc vào yêu

cầu của việc đánh giá trách nhiệm ở các trung tâm chi phí, báo cáo này có thể được chi tiết theo yếu tố hoặc theo khoản mục Trong trường hợp DN đã thực hiện kế toán chi phí theo mối quan hệ với quy mô hoạt động, thì trong báo cáo chi phí có thể chi tiết thành định phí và biến phí Dựa vào báo cáo này, cấp nhận báo cáo sẽ đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chi phí, cũng như trách nhiệm quản trị của nhà quản lý trong các trung tâm chi phí

Báo cáo doanh thu: Báo cáo doanh thu dùng ở các trung tâm doanh thu để báo cáo tình hình thực hiệ kế hoạch tiêu thu sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ ở từng trung tâm, cũng như tổng hợp doanh thu của toàn DN Tùy thuộc vào đặc điểm, tình hình tiêu thụ của từng đơn vị, báo cáo này có thể chi tiết theo từng lĩnh vực hoạt động, theo từng chi nhánh, khu vực cửa hàng tiêu thụ hoặc theo từng nhóm mặt hàng, sản

phẩm cụ thể

Báo cáo lợi nhuận bộ phận: Báo cáo lợi nhuận bộ phận là công cụ đánh giá tình hình thực hiện của các trung tâm lợi nhuận và trách nhiệm của những người đứng đầu trung tâm đó Bộ phận ở đây được hiểu là bất cứ một đơn vị hay một hoạt động nào

đó trong tổ chức, mà ở ở đó ta có thể xác định được doanh thu, chi phí và lợi nhuận Báo cáo lợi nhuận toàn DN: thực chất đây là báo cáo kết quả hoạt động của toàn doanh nghiệp và được tổng hợp từ các báo cáo lợi nhuận bộ phận, tuy nhiên trong báo cáo còn thể hiện các chỉ số phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư như ROI, RI,

… Do vậy, báo cáo này được sử dụng để đánh giá trách nhiệm quản trị của nhà quản

lý ở cá trung tâm đầu tư

Nhóm báo cáo phân tích

Nhằm có cơ sở đầy đủ hơn trong việc đánh giá trách nhiệm quản trị các chỉ tiêu được bàn giao cho các trung tâm trách nhiệm cũng như từng bộ phận trong DN ngoài

những báo cáo thực hiện, nhà quản trị cần thông tin từ các báo cáo phân tích sự biến

Trang 40

động của các chỉ tiêu thực hiện so với kế hoạch, trong mối quan hệ với các yếu tố cấu thành từng chỉ tiêu đó Nhóm báo cáo phân tích bao gồm: Báo cáo phân tích tình hình

thực hiện chi phí của các trung tâm chi phí, báo cáo phân tích tình hình thực hiện doanh thu của các trung tâm doanh thu, báo cáo phân tích tình hình thực hiện lợi nhuận của các trung tâm lợi nhuận; báo cáo phân tích phản ánh tình hình sử dụng hiệu

quả vốn đầu tư của các trung tâm đầu tư

1.3.4.3 N ội dung của hệ thống báo cáo trách nhiệm

Báo cáo trách nhiệm được thiết kế chứa đựng những thông tin về các dữ liệu tài chính, theo các trung tâm trách nhiệm trong một tổ chức và cho các cấp quản lý khác nhau Thông qua việc tính những khoản doanh thu, chi phí mà một nhà quản lý nào

đó có thể kiểm soát được đối với bộ phận mình Đồng thời, số lượng các cấp quản lý trong một trung tâm trách nhiệm tùy thuộc vào cấu trúc tổ chức của DN

Trong thực tế không có mẫu biểu chính xác và chi tiết của một bảng báo cáo kết

quả hoạt động của từng bộ phận trong các DN, mà vấn đề này phụ thuộc vào đặc thù

của từng tổ chức kinh tế, từng DN cụ thể và bản chất của trung tâm trách nhiệm Thông thường, những bảng báo cáo sẽ cung cấp sự so sánh giữa dữ liệu thực tế và dự toán ban đầu, với sự chênh lệch dược báo cáo như một sự biến động so với ngân sách

Những bảng báo cáo kết quả hoạt động này thường phải tương thích với cấu trúc tổ

chức của DN Tại những bộ phận quản lý cấp cao, những báo cáo có khuynh hướng trình bày tổng hợp, ít các sự kiện, ít chi tiết, và nhiều sự tổng hợp của các đơn vị sản

xuất kinh doanh bộ phận

Tùy thuộc vào mỗi loại trung tâm trách nhiệm mà nội dung báo cáo sẽ khác nhau

và mang lại đặc trưng riêng, điều này thể hiện như sau:

Trách nhi ệm báo cáo của các trung tâm chi phí

Báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí là bảng so sánh chi phí thực hiện và

dự toán, và xác định mức chênh lệch giữa chi phí thực hiện so với dự toán Ngoài ra, các chênh lệch còn có thể được phân tích chi tiết tùy theo yêu cầu quản lý thành các

biến động theo các nhân tố cấu thành chi phí đó

Ngày đăng: 18/09/2020, 09:31

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm