Tuy nhiên, công tác quản lý thuế TNCN tại tỉnh Phú Yên hiện nay còn chưa theo 13-kịp với tình hình thực tiễn, số thu thuế TNCN của tỉnh năm 2016 là 103,4 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 3,67% tro
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ
Tp H ồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ
Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng
Trang 3dẫn của PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp
đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác gi ả luận văn
Trang 4
LỜI CAM DOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC ĐỒ THỊ
CHƯƠNG I 4
GI ỚI THIỆU VỀ CỤC THUẾ TỈNH PHÚ YÊN VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU Ế THU NHẬP CÁ NHÂN 4
1.1 Giới thiệu về Cục Thuế tỉnh Phú Yên 4
1.1.1 Sơ lược về sự hình thành Cục Thuế tỉnh Phú Yên 4
1.1.2 Tổ chức bộ máy ngành thuế tỉnh 4
1.2 Lý do hình thành đề tài 7
CHƯƠNG II 9
TH ỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI 9
C ỤC THUẾ TỈNH PHÚ YÊN 9
2.1 Tổng quan về quản lý thuế TNCN 9
2.1.1 Khái niệm về quản lý thuế TNCN 9
2.1.2 Đặc điểm của công tác quản lý thuế TNCN 9
2.1.3 Sự cần thiết phải QLT TNCN 11
2.2 Thực trạng công tác QLT TNCN tại Cục Thuế tỉnh Phú Yên 12
2.2.1 Khái quát chung về tình hình thu thuế TNCN từ năm 2013 đến năm 2016 12
2.2.2 Thực trạng công tác QLT TNCN tại Cục Thuế tỉnh Phú Yên 15
2.3 Những hạn chế và nguyên nhân trong công tác QLT TNCN tại Cục Thuế tỉnh Phú Yên giai đoạn 2013-2016 31
2.3.1 Hạn chế 31
2.3.2 Nguyên nhân 35
CHƯƠNG III 41
Trang 53.1 Nâng cao quản lý NNT cũng như các nguồn thu thuế TNCN 41
3.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền chính sách pháp luật thuế đến NNT 42
3.3 Đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ công tác kê khai, nộp thuế nhằm phục vụ công tác quản lý NNT chặt chẽ hơn nữa 43
3.4 Ti ếp tục nghiên cứu kiện toàn và tinh giản bộ máy tổ chức của C ục Thuế 44
3.5 Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế 45
3.6 Đẩy mạnh hơn nữa công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế 46
CHƯƠNG IV 47
K Ế HOẠCH THỰC HIỆN TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ THU NH ẬP CÁ NHÂN TẠI CỤC THUẾ TỈNH PHÚ YÊN 47
4.1 Định hướng và nhiệm vụ của ngành Thuế Phú Yên trong giai đoạn 2017-2020 47
4.1.1 Nhiệm vụ thu NSNN ngành Thuế Phú Yên giai đoạn 2017-2020 47 4.1.2 Định hướng của ngành Thuế Phú Yên trong giai đoạn 2017-2020 48
4.2 Kế hoạch thực hiện 48
4.2.1 Kế hoạch tăng cường quản lý NNT và các nguồn thu thuế TNCN 48
4.2.2 Kế hoạch tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT 50
4.2.3 Kế hoạch triển khai toàn diện việc ứng dụng CNTT phục vụ công tác QLT 52
Nguồn: Cục Thuế tỉnh Phú Yên 53
4.2.4 Kế hoạch tiếp tục nghiên cứu kiện toàn và tinh giản bộ máy tổ chức của Cục Thuế 53
4.2.5 Kế hoạch tăng cường hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra ngành thuế 55
4.2.6 Kế hoạch tăng cường công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ 56
CHƯƠNG V 58
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
5.1 Kết luận 58
Trang 65.2.2 Kiến nghị với UBND tỉnh Phú Yên 59 5.2.3 Phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan 60
DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 7- CNTT : Công nghệ thông tin
- CMND : Chứng minh nhân dân
- BĐS : Bất động sản
Trang 8Bảng 2.1: Kết quả thu thuế TNCN chi tiết giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2016 13 Bảng 2.2 Tình hình cấp MST cá nhân giai đoạn 2013 đến năm 2016 17
Bảng 2.3: Kết quả công tác giải quyết hồ sơ hoàn thuế TNCN giai đoạn từ năm
2013 đến năm 2016 25 Bảng 2.4: Kết quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế TNCN giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2016 26 Bảng 2.5: Số liệu nợ thuế TNCN của ĐVCT từ năm 2013 năm 2016 28
Trang 9Hình 1.1 Tổ chức bộ máy Cục Thuế tỉnh Phú Yên ………6 Hình 2.1 Ứng dụng cấp MST cá nhân cho NNT ……….16 Hình 4.1 Ứng dụng tra cứu thông tin MST ……… 53
Trang 10Đồ thị 2.1 Kết quả thu thuế TNCN từ năm 2013 đến năm 2016 15
Đồ thị 2.2: Số thuế TNCN truy thu từ năm 2013 đến năm 2016 ……….27
Trang 11hiệu lực từ 01/01/2009 Sau nhiều năm thực hiện đến thời điểm hiện tại Luật thuế đã cho thấy được tầm quan trọng của nó trong việc góp phần tăng số thu cho NSNN Tuy nhiên, trong quá trình thực thi luật thuế TNCN cũng nảy sinh nhiều vướng mắc nên cũng đã có rất nhiều văn bản sửa đổi bổ sung nhằm phù hợp với tình hình kinh
tế xã hội Việt Nam
Trong các nền kinh tế thị trường thì thuế TNCN chiếm tỷ trọng đáng kể từ 40% tùy theo quan điểm đánh thuế của từng nước Trên thực tế, ở nước ta thuế TNCN chỉ mới được đặt ra trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, nên số thu thuế TNCN trong suốt những năm đã áp dụng là không đáng kể Về lâu dài, tỷ trọng của sắc thuế này sẽ phải tăng dần, tiến tới chiếm tỷ trọng chính trong cơ cấu thu thuế Tuy nhiên, công tác quản lý thuế TNCN tại tỉnh Phú Yên hiện nay còn chưa theo
13-kịp với tình hình thực tiễn, số thu thuế TNCN của tỉnh năm 2016 là 103,4 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 3,67% trong tổng thu cân đối NSNN của tỉnh Đây là tỷ trọng khá
thấp so với cả nước và tiềm năng của nguồn thu này trên địa bàn tỉnh Nhiều ý kiến cho rằng công tác quản lý thuế TNCN chưa chặt chẽ, chưa quản lý hết nguồn thu, quy trình quản lý chưa theo kịp với mô hình quản lý do vậy chưa bảo đảm việc tuân
thủ pháp luật của người nộp thuế Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Tăng cường quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Cục Thuế tỉnh Phú Yên”
Đề tài này sẽ mang ý nghĩa cao về thực tiễn
2 M ục tiêu nghiên cứu
Trang 122.1 M ục tiêu nghiên cứu chung
Đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Cục Thuế
tỉnh Phú Yên
2.2 M ục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Phú Yên để xác định những mặt hạn chế tồn tại và nguyên nhân của những hạn
chế tồn tại trong công tác quản lý, kê khai, hoàn thuế, kiểm tra thuế, quản lý nợ và cuỡng chế nợ thuế, tuyên truyền và hỗ trợ NNT về thuế TNCN tại Cục thuế Tỉnh Phú Yên
- Đề xuất các giải pháp và kế hoạch thực hiện để khắc phục những hạn chế còn tồn tại nhằm tăng cường công tác quản lý thuế TNCN tại Cục Thuế tỉnh Phú Yên
3 Câu hỏi nghiên cứu
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu, đề tài sẽ phải làm rõ trả lời được các câu
- Kế hoạch thực hiện những giải pháp đó như thế nào?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý thuế TNCN tại Cục Thuế tỉnh Phú
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin từ các số liệu thống kê tại Cục thuế tỉnh Phú Yên trong thời gian 04 năm từ 2013 – 2016
- Phương pháp thu thập thông tin từ tham khảo tài liệu, phương pháp này dựa trên nguồn thông tin từ các các tài liệu trong ngành thuế như các sách, báo, tạp chí thuế, các báo cáo chuyên ngành, luận văn nghiên cứu trước về công tác quản lý thuế TNCN
- Phương pháp phân tích so sánh: Phân tích diễn biến sự việc theo thời gian, đánh giá sự thay đổi
6 Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu giúp các nhà quản lý tại Cục thuế tỉnh Phú Yên chỉ ra được được những hạn chế còn tồn tại, nguyên nhân của những hạn chế đó từ thực
trạng của công tác quản lý thuế TNCN tại Cục thuế tỉnh Phú Yên Để từ những hạn chế, tồn tại đó đưa ra những giải pháp, kế hoạch thực hiện các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN tại Cục thuế tỉnh Phú Yên góp phần nâng cao nguồn thu NSNN
7 K ết cấu luận văn
Trang 14CHƯƠNG I GIỚI THIỆU VỀ CỤC THUẾ TỈNH PHÚ YÊN VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1.1 Giới thiệu về Cục Thuế tỉnh Phú Yên
1.1.1 Sơ lược về sự hình thành Cục Thuế tỉnh Phú Yên
Cục Thuế tỉnh Phú Yên được thành lập theo Quyết định số 314 TC/QĐ/TCCB ngày 21/08/1990 của Bộ trưởng Bộ Tài chính với chức năng, nhiệm vụ là tổ chức thực hiện công tác QLT, phí, lệ phí và các khoản thu khác của NSNN thuộc phạm
vi, nhiệm vụ của ngành thuế trên địa bàn theo quy định của pháp luật Ngành thuế Phú Yên ra đời trong bối cảnh nền kinh tế của cả nước nói chung và Phú Yên nói riêng gặp không ít khó khăn với đặc điểm là một tỉnh duyên hải Nam trung bộ, điểm xuất phát thấp, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp Đời sống của đại bộ phận dân cư còn khó khăn, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, không có thế mạnh về phát triển về công nghiệp nên nguồn thu rất nhỏ lẻ, rải rác Mặt khác, địa bàn rộng, địa hình khá
đa dạng, đồng bằng đồi núi, cao nguyên, thung lũng xen kẽ nhau và thấp dần từ Tây sang Đông, phần lớn có độ dốc lớn nên ảnh hưởng lớn đến hiệu quả công tác thuế, đồng thời gặp không ít khó khăn, thử thách
Kể từ khi được thành lập, với sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của tập thể cán
bộ, công chức cùng với lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương, Bộ Tài chính, Tổng Cục thuế đã phối hợp nhịp nhàng cùng với các cơ quan, đơn vị trên địa bàn, ngành Thuế tỉnh trong nhiều năm liên tiếp đã hoàn thành vượt mức dự toán thu ngân sách Từ những năm 1990 số thu ngân sách của toàn tỉnh chỉ xấp xỉ 15 tỷ đồng, đến năm 2004 thu NSNN đạt 500 tỷ, đến năm 2016 số thu của tỉnh đã ở con
số 3214,2 tỷ đồng
1.1.2 Tổ chức bộ máy ngành thuế tỉnh
Từ khi thành lập năm 1990, tổ chức bộ máy Cục thuế gồm 07 phòng và 07 Chi cục thuế trực thuộc Đến năm 1997, Cục thuế tỉnh Phú Yên có 09 phòng, 01 tổ và 07 Chi cục thuế trực thuộc
Trang 15Ngày 10/5/1997, Quốc hội ban hành 02 Luật thuế mới đó là Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999, bãi bỏ các quy định về Luật thuế doanh thu và Luật thuế lợi tức Để phù hợp với quy trình quản lý thu thuế và phục vụ cho việc thực hiện các luật thuế mới, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 110/TT-BTC, ngày 03/8/1998 hướng dẫn việc sửa đổi,
bổ sung cơ cấu bộ máy Cục thuế nhà nước các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Lúc này, Cục thuế tỉnh Phú Yên có 10 phòng, 01 tổ và 07 Chi cục thuế trực thuộc
Do thay đổi địa giới hành chính và để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, yêu cầu hội nhập ngày càng sâu rộng, ngành Thuế tỉnh Phú Yên liên tục thực hiện cải cách và hiện đại hóa hệ thống thuế Thực hiện Quyết định số 49/2007/QĐ-BTC ngày 15/6/2007 của Bộ Tài chính về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục thuế trực thuộc Tổng cục thuế, Cục thuế tỉnh Phú Yên có 11 phòng, 09 Chi cục thuế trực thuộc
Hiện nay, Cục thuế tỉnh Phú Yên có 10 phòng, 09 Chi cục thuế trực thuộc Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được thực hiện theo Quyết định số 108/QĐ-BTC, ngày 14/01/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
Trang 16Hình 1 1 Tổ chức bộ máy Cục Thuế tỉnh Phú Yên
Phòng
Than
h tra thuế
P Phòng Quản
lý nợ
và cưỡng
vụ, ấn chỉ
P Phòng Tổng
h ợp nghiệp
vụ dự toán
Phòng Tin
h ọc
Phòng
Kiểm tra nội
CCT huy ện Sơn Hòa
CCT huy ện Đồng Xuân
CCT huy ện Tuy
An
CCT
th ị xã Sông Cầu
CCT huy ện Phú Hòa
CCT huy ện Đông Hòa
CCT huy ện Tây Hòa
Trang 18toán năm 2015, tăng 36% so với cùng kỳ năm 2014 Năm 2016, thu NSNN là 3.214,2 tỷ đồng, đạt 100,4% dự toán năm 2016, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2015
Kết quả thực hiện dự toán thu NSNN đối với Thuế TNCN từ năm 2013 đến năm 2016 như sau: Năm 2013, thu thuế TNCN là 70.959 triệu đồng, đạt 83,5% so
với dự toán, tăng 108,7% so với cùng kỳ 2012; Riêng năm 2014, việc thay đổi chính sách về thuế TNCN nên đề ra dự toán thu là 80.000 triệu đồng, thấp hơn năm 2013 Tuy nhiên, việc áp dụng mức giảm trừ cho người nộp thuế là 9 triệu đồng/ tháng và cho NPT 3,6 triệu đồng/ tháng nên thuế TNCN phát sinh thấp, do đó khoản thu thuế TNCN thấp chỉ được 66.040 triệu đồng, đạt 82,6% so với dự toán, thấp hơn 6,9% so
với cùng kỳ năm 2013 Năm 2015, thu thuế TNCN là 92.836 triệu đồng, vượt dự toán 117,% Năm 2016, thu thuế TNCN là 103.400,4 triệu đồng, đạt 103,4% dự toán, tăng 11% so với cùng kỳ 2015
Tuy nhiên qua bảng số liệu và dữ liệu phân tích có thể thấy tỷ lệ đóng góp của thuế TNCN vào tổng thu NSNN từ năm 2013 đến 2016 ở mức trung bình từ 3% đến 3,7% Đây là tỷ trọng thấp so với cả nước và tiềm năng của nguồn thu này trên địa bàn tỉnh Điều này phản ảnh công tác quản lý thuế TNCN chưa chặt chẽ, chưa quản
lý hết nguồn thu, đồng thời chưa theo kịp với mô hình quản lý
Qua giai đoạn 2013-2016 mặc dù công tác QLT TNCN đã có sự thay đổi tích cực, tăng trưởng về số thu qua các năm, nhưng công tác QLT gặp không ít khó khăn
do NNT tự khai tự tính, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về các khoản kê khai
của mình, ý thức tự giác chấp hành pháp luật thuế của NNT vẫn còn thấp, tình trạng
vi phạm pháp luật thuế cụ thể là thuế TNCN vẫn luôn xảy ra ở nhiều hình thức, với
mức độ khác nhau Thực trạng quản lý NNT chưa được chặt chẽ còn sót nhiều NNT chưa được quản lý, tình hình nợ thuế ngày càng tăng… Nếu như không thực hiện thì việc thất thu nguồn thuế này sẽ vẫn tiếp tục và ngày càng gia tăng Xuất phát từ
sự cần thiết phải quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh đòi hỏi phải có những biện pháp khả thi cấp thiết để khắc phục những mặt hạn chế đó nhằm tăng cường công tác QLT TNCN
Trang 19CHƯƠNG II
T HỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI
CỤC THUẾ TỈNH PHÚ YÊN 2.1 Tổng quan về quản lý thuế TNCN
2.1.1 Khái niệm về quản lý thuế TNCN
“Thuế thu nhập cá nhân là sắc thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận được
của cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định (thường là một năm) không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập”
Thuế là nguồn thu quan trọng nhất của NSNN Chính vì vậy, quản lý việc thu thuế chính là quản lý NSNN tránh bị thu thiếu, làm ảnh hưởng đến quỹ chung của Nhà nước Do đó, QLT được các cơ quan Nhà nước tại các địa phương rất quan tâm
Để hiểu rõ về công tác QLT, Tổng Cục Thuế đã ra khái niệm về công tác QLT như sau: “Quản lý thuế là tất cả hoạt động của Nhà nước có liên quan đến
Nhà nước; xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thuế; ban hành pháp luật thuế
và ki ểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật thuế.” (Tổng Cục Thuế, 2017,
tr.494)
Thuế TNCN là một bộ phận của thuế Nhà nước nên công tác QLT TNCN có nhiều nét tương đồng với công tác QLT nói chung Do đó, QLT TNCN chính là thông qua việc quy định rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của NNT, cơ quan quản lý
và của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc QLT; đảm bảo tính công bằng,
hiệu quả trong quản lý thu thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho NNT nộp đúng, nộp đủ,
nộp kịp thời vào NSNN
2.1.2 Đặc điểm của công tác quản lý thuế TNCN
Để thực hiện tốt công tác QLT TNCN tốt thì cần phải nghiên cứu cụ thể từng đặc điểm của công tác quản lý loại thuế này Đặc điểm của công tác QLT bao gồm:
chủ thể QLT, đối tượng QLT và mục tiêu QLT Cụ thể như sau:
Trang 20Chủ thể QLT TNCN chính là các CQT ở Nhà nước và các địa phương; trong
đó, làm việc trực tiếp với NNT chính là các cán bộ, công chức ngành thuế Như vậy,
để nâng cao chất lượng QLT TNCN thì cần phải xây dựng Bộ máy QLT TNCN sao cho hiệu quả Để làm được điều này, chúng ta cần một đội ngũ cán bộ, công chức trình độ chuyên môn được đào tạo chuyên sâu trong công tác QLT Bên cạnh đó, CQT cần phải tổ chức lại một cách thống nhất, đồng bộ và có khoa học trong việc điều hành, giám sát và thực thi công tác thu thuế Điều này sẽ giúp CQT tiết kiệm được chi phí cho công tác QLT TNCN nói riêng và công tác QLT nói chung; góp
phần đảm bảo thực hiện tốt công tác thu thuế ngày một tốt hơn
Theo quy định của Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007, đối tượng của QLT TNCN chính là thu nhập của NNT Chính vì vậy, đây chính là khâu quan trọng nhất của công tác QLT TNCN
Để làm tốt việc này, CQT cần phải giám sát thu nhập của tất cả NNT, từ đó
mới có thể xác định được đối tượng nào phải nộp thuế và nộp thuế bao nhiêu Đồng
thời tại các doanh nghiệp cần phải thực hiện chế độ giám sát các khoản thu nhập
một cách chặt chẽ thông qua sổ sách, chứng từ kế toán và các khoản chi trả thu nhập
cần phải được làm sáng tỏ trong sổ sách kế toán Điều này giúp CQT dễ dàng hơn trong việc xác định, kiểm tra thu nhập của người lao động
Bên cạnh đó, để kiểm tra, kiểm soát việc thu thuế được hiệu quả, CQT cần
tiến hành cấp MST cho NNT và ĐVCT thu nhập Sau khi cấp MST thì CQT có thể giám sát các đối tượng qua MST của họ, nhờ đó mà tránh được tình trạng thiếu sót NNT đồng thời cũng thuận lợi cho CQT trong công tác QLT
Trang 21sót trong quá trình thực hiện chính sách, đồng thời cũng sẽ dễ tìm ra những cách
thức phương pháp quản lý thuế tốt nhất, thuận tiện nhất, đơn giản nhất và đảm bảo được yêu cầu thu đúng, thu đủ và kịp thời số thu vào NSNN Từ đó CQT có thể
kiến nghị lên cấp trên xem xét để có thể hoàn thiện tốt hơn Luật thuế TNCN và công tác tổ chức QLT TNCN
2.1.3 Sự cần thiết phải QLT TNCN
Tăng cường công tác QLT TNCN nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế TNCN để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Để tạo bộ khung pháp lý về QLT hoàn chỉnh, phù hợp với thời kỳ hội nhập thì việc tăng cường công tác QLT TNCN là rất cần thiết vì:
- QLT TNCN nhằm góp phần tăng nguồn thu cho NSNN góp phần phát triển đất nước: trong thời lỳ hội nhập kinh tế quốc tế thì hệ thống chính sách thuế TNCN
phải bao quát được hết mọi nguồn thu nhập cần thiết để đảm bảo tăng nguồn thu vào tổng số thu NSNN
- QLT TNCN giúp cho việc thực hiện thu thuế TNCN được thực hiện nghiêm minh: do đặc điểm thuế TNCN là thuế trực thu đánh trên thu nhập của cá nhân nên
nó rất có tác dụng trong việc điều hòa thu nhập Tuy nhiên thuế TNCN có diện thu thuế rộng và phân tán nên cần phải có biện pháp quản lý hiệu quả để đảm bảo việc thu thuế được nghiêm minh, đúng pháp luật
- QLT TNCN đảm bảo mục tiêu công bằng xã hội: thể hiện ở chỗ người có thu
nhập cao hơn thì nộp thuế nhiều hơn, mỗi cá nhân dù có thu nhập từ các nguồn khác nhau đều được điều chỉnh thống nhất trong một chính sách thuế Mặc dù thuế TNCN chưa mang lại số thu lớn cho NSNN, song xét trên phương diện công bằng
xã hội và phương diện công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước thì thuế TNCN có vị trí quan trọng trong việc điều tiết thu nhập đối với những người có thu nhập cao
- QLT TNCN nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập về kinh tế quốc tế: hiện nay chúng ta đã hội nhập đầy đủ toàn diện với kinh tế quốc tế do đó để đảm bảo yêu cầu đòi hỏi về tính phù hợp với các điều ước và thông lệ quốc tế về chính sách tài chính;
Trang 22đồng thời tạo điều kiện tối đa cho NNT trong việc khai nộp thuế thì đòi hỏi việc QLT TNCN phải được nâng cao
2.2 Thực trạng công tác QLT TNCN tại Cục Thuế tỉnh Phú Yên
2.2.1 Khái quát chung về tình hình thu thuế TNCN từ năm 2013 đến năm 2016
- Giai đoạn năm 2013-2015, ngành thuế tỉnh triển khai thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách trong bối cảnh lĩnh vực sản xuất kinh doanh trên địa bàn tiếp tục phải đối phó với nhiều khó khăn thách thức do suy giảm kinh tế từ những năm trước; sản xuất nông lâm thuỷ sản còn gặp nhiều khó khăn do thời tiết, dịch bệnh, hạn hán; sức mua tăng thấp; lượng hàng tồn kho cao ở một số ngành, thị trường nhà đất chưa
khởi sắc; hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh còn gặp nhiều khó khăn; bên cạnh đó Nhà nước đang đẩy nhanh lộ trình thực hiện cải cách thuế, thực hiện điều chỉnh mức điều tiết thu đối với một số ngành hàng để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, thu hút đầu tư, từng bước khôi phục đà tăng trưởng của nền kinh tế, đã tác động đến thu NSNN
Trong khi đó, dự toán thu NSNN được các cấp giao năm sau cao hơn năm trước và so với khả năng thực tế về kinh tế của tỉnh Trước tình hình đó, bên cạnh
việc tranh thủ sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên về mọi mặt của các cấp, lãnh đạo
Cục Thuế đã tập trung triển khai quyết liệt và đồng bộ có hiệu quả các mặt công tác nghiệp vụ theo Luật Quản lý thuế, các luật và quy trình QLT góp phần tích cực vào
việc tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế, đồng thời thành lập Ban chỉ đạo chống thất thu và đôn đốc thu nộp NSNN nhằm kiểm soát
chặt chẽ nguồn thu, tăng cường chống thất thu thuế, đôn đốc thu hồi nợ thuế Do
đó, nhiệm vụ công tác thuế từ năm 2013 đến năm 2015 đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần vào việc cân đối thu chi NSNN trên địa bàn tỉnh
- Bước vào thực hiện nhiệm vụ thu năm 2016, tỉnh Phú Yên có một số thuận
lợi cơ bản như: đây là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần
thứ XVI và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020, các dự án có vốn đầu tư lớn tiếp tục được triển khai; tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục
phục hồi…Bên cạnh đó, tồn tại những khó khăn như: sản xuất kinh doanh của các
Trang 23doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, rất ít doanh nghiệp có bước đột phá đáng kể
hầu hết chỉ duy trì hoạt động ở mức cầm chừng; đầu năm, thời tiết khô hạn gay gắt,
cuối năm tình hình mưa lụt diễn ra trên diện rộng, kéo dài và liên tục ảnh hưởng tiêu
cực đến sản xuất nông nghiệp, đời sống người nông dân, sức mua của xã hội sụt
giảm Tuy nhiên, với sự lãnh đạo thường xuyên về mọi mặt của các cấp chính quyền cùng với sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và sự quyết tâm phấn đấu của toàn
thể công chức ngành thuế tỉnh, nhiệm vụ công tác thuế năm 2016 đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần vào việc cân đối thu chi NSNN trên địa bàn
1 Thuế thu nhập từ tiền
lương, tiền công 41.165 37.051 40.182 43.776
Tăng 9%
3 Thuế thu nhập từ đầu
tư vốn của cá nhân 1.711 2.509 2.457 2.455
Giảm 0,08%
4 Thuế thu nhập từ
Tăng 299,3%
Trang 24trúng thưởng 7,4%
7
Thuế thu nhập từ thừa
kế, quà tặng, quà biếu
Có thể thấy, tổng số thuế TNCN thu được từ 03 nguồn thu: tiền lương, tiền công; hoạt động sản xuất kinh doanh cá nhân; chuyển nhượng BĐS, nhận thừa kế quà tặng là BĐS chiếm tỷ lệ rất lớn so với các nguồn thu khác trong tổng số thu thuế TNCN, cụ thể: Năm 2013, thuế thu được từ 03 nguồn thu này chiếm 82,26% tổng số thu thuế TNCN; tương tự năm 2014 chiếm 85,24% tổng số thu thuế TNCN; năm 2015 chiếm 86,8% và năm 2016 chiếm 88,12% tổng số thu thuế TNCN Vì vậy
tập trung tăng cường quản lý 3 nguồn thu trên sẽ góp phần gia tăng số thu thuế TNCN vào tổng thu NSNN là cần thiết Đây cũng là những nguồn thu chủ yếu trong
tổng thu thuế TNCN ở hầu hết các địa bàn trên cả nước
Chúng ta có thể minh họa bằng đồ thị 2.1
Trang 25Đồ thị 2.1 Kết quả thu thuế TNCN từ năm 2013 đến năm 2016
2.2.2 Thực trạng công tác QLT TNCN tại Cục Thuế tỉnh Phú Yên
Để có thể đưa ra những giảp pháp nhằm tăng cường hơn nữa công tác QLT TNCN thì ở chương này tác giả đưa ra những mặt còn tồn tại trong QLT TNCN tại
Cục Thuế tỉnh Phú Yên để làm rõ vấn đề nghiên cứu Thực trạng quản lý thuế TNCN hiện nay tại Cục Thuế tỉnh Phú Yên như sau:
2.2.2.1 Quản lý NNT:
Tại Cục Thuế tỉnh Phú Yên, hiện nay có 5 nhóm NNT đang được cơ quan thuế quản lý, đó là: Nhóm NNT là doanh nghiệp; tổ chức hoạt động kinh doanh, ĐVCT thu nhập; cá nhân; và nhóm NNT khác Với việc phân loại theo nhóm NNT giúp cho CQT có thể quản lý từng nhóm NNT một cách cụ thể, rõ ràng đồng thời đưa ra
những biện pháp hỗ trợ phù hợp với từng nhóm NNT để nâng cao hiệu quả tuân thủ pháp luật thuế Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài này quan tâm hơn cả là nhóm NNT là cá nhân, cá nhân kinh doanh hoặc cá nhân có thu nhập từ tiền lương tiền công thuộc diện phải nộp thuế Quản lý NNT là khâu đặc biệt quan trọng đối với
Trang 26công tác QLT TNCN Bởi vì, quản lý tốt NNT chúng ta sẽ biết chính xác ai thuộc
diện phải nộp thuế trước khi kê khai thu nhập của họ thông qua MST Hiện nay để
quản lý NNT CQT phải quản lý MST cá nhân và MST NPT gắn với NNT
* Quản lý NNT thông qua MST TNCN:
Muốn quản lý tốt NNT thì CQT phải quản lý tốt MST cá nhân của NNT Hiện nay Tổng cục thuế đã triển khai ứng dụng QLT tập trung TMS trên hầu hết các Cục Thuế trên cả nước Thông qua ứng dụng này CQT có thể tra cứu cũng như cấp MST
cá nhân cho NNT một cách nhanh chóng và chính xác Dưới đây là bản chụp màn hình thể hiện việc cấp mã số thuế cá nhân cho NNT
Hình 2.1 Ứng dụng cấp MST cá nhân cho NNT
“Nguồn: Ứng dụng QLT tập trung Cục Thuế tỉnh Phú Yên”
Kết quả cấp MST cá nhân từ năm 2013 đến năm 2016
Trang 27Bảng 2.2 Tình hình cấp MST cá nhân giai đoạn 2013 đến năm 2016
“Nguồn: Báo cáo tổng kết Cục Thuế tỉnh Phú Yên từ năm 2013 đến 2016” Qua bảng số liệu trên cho thấy công tác kiểm kê, rà soát MST được CQT rất quan tâm và chú trọng đảm bảo nắm bắt kịp thời số lượng MST cá nhân được cấp
để có thể nắm rõ số lượng NNT theo từng năm
Tuy nhiên, vấn đề ở đây là trên thực tế không phải NNT nào cũng có sẵn MST
cá nhân hoặc hiểu biết về việc đăng ký cấp MST cá nhân để thực hiện cho đúng
Hầu như việc đăng ký cấp MST đều được kế toán các ĐVCT nơi NNT đang làm
việc thực hiện thay cho NNT Nhất là các trường hợp làm việc theo hợp đồng ngắn hạn, như là sinh viên đi làm thêm công việc bán thời gian, những công nhân làm
việc thời vụ thì ĐVCT thường tự đi đăng ký cấp MST cá nhân cho NNT để khấu trừ thuế nhưng không thông báo cho NNT và NNT ko hề biết bản thân đã có MST cá nhân Hoặc trường hợp NNT là người sở hữu đứng tên một diện tích đất phi nông nghiệp thì khi thực hiện thủ tục với CQT, NNT đã được cấp một MST được gọi là MST phi nông nghiệp được lưu trên hệ thống dữ liệu của CQT và làm căn cứ tính thuế TNCN khi NNT thực hiện các giao dịch liên quan đến đất đai MST này đã được thông báo đến NNT nhưng NNT có thể không để ý hoặc rất ít khi sử dụng nên quên hoặc không biết đến việc tồn tại MST này
Vì vậy, xảy ra tình trạng rất nhiều NNT đã có MST cá nhân nhưng hoàn toàn không biết, không nhớ cho đến khi NNT làm việc chính thức, ký hợp đồng dài hạn tại một ĐVCT khác thì lại tiếp tục đăng ký cấp MST cá nhân một lần nữa Khi đăng
ký như vậy thì trên hệ thống dữ liệu của CQT sẽ báo trùng lắp và thông báo đến NNT đồng thời tiến hành đối chiếu thông tin cá nhân chính xác với MST đã được cấp trước đây cho NNT Điều này gây mất thời gian cho cả NNT trong việc thực
hiện nghĩa vụ thuế vì có nhiều trường hợp phức tạp cần phải xác minh giữa các CQT khác nhau, gây chậm trễ trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của cá nhân cũng như mất thời gian của NNT và CQT
Trang 28* Quản lý NNT thông qua quản lý MST NPT:
Việc quản lý NNT trong thời điểm hiện tại còn quản lý thêm thông tin NPT
mà NNT đã đăng ký giảm trừ cho bản thân trong năm dương lịch Hiện nay Cục thuế đã triển khai hướng dẫn thực hiện cấp MST NPT gắn kèm với NNT được một
thời gian và bắt đầu đi vào ổn định Trong quá trình cấp MST NPT cũng gặp phải nhiều vấn đề còn tồn tại và cần được khắc phục trong thời gian tới Đơn cử là việc nhiều NNT cùng khai giảm trừ gia cảnh cho một cá nhân nào đó, như bố và mẹ cùng khai giảm trừ cho con, hoặc nhiều người con cùng khai giảm trừ cho bố và
mẹ Việc cấp MST NPT căn cứ vào thông tin trên CMND nếu NPT từ 15 tuổi trở lên hoặc căn cứ vào thông tin trên giấy khai sinh nếu NPT dưới 15 tuổi Việc thực hiện cấp MST NPT được thực hiện trên hệ thống QLT tập trung nên khi có sự trùng
lắp thông tin thì hệ thống sẽ phát hiện và báo lỗi với CQT
Tuy nhiên việc phát hiện này chỉ có thể thực hiện nếu những NNT này đều kê khai chính xác và trung thực thông tin của NPT, lúc này hệ thống mới có thể phát
hiện các dữ liệu trùng lắp Trường hợp những NNT này đều không trung thực trong
kê khai thông tin hoặc cố tình khai sai đi thì việc hai NNT có thu nhập thuộc diện
phải đóng thuế nhưng không phải đóng thuế do đã khai giảm trừ cùng một người nhưng CQT chưa kiệp phát hiện là hoàn toàn có thể xảy ra Bởi vì, hiện nay hồ sơ khai giảm trừ không phải nộp đến CQT nữa mà đơn vị tự lưu giữ và tự chịu trách nhiệm nên việc kiểm soát những trường hợp này là rất khó nếu không có đợt thanh tra, kiểm tra tại đơn vị
Ngoài ra việc quản lý NNT thông qua quản lý MST cá nhân và MST NPT
phần lớn là dựa vào thông tin trên CMND là nhiều nhất Nhưng hiện nay việc trùng
số CMND giữa các cá nhân cùng tỉnh hoặc khác tỉnh xảy ra rất nhiều Điều này dẫn đến tình trạng khi hai NNT trùng số CMND mà một trong hai người đã đăng ký cấp MST cá nhân hoặc MST NPT trước thì người còn lại khi tiến hành đăng ký với CQT sẽ phức tạp hơn rất nhiều nhất là những cá nhân làm việc xa thì việc xác minh tính xác thực của thông tin sẽ mất thời gian hơn Mà vấn đề này thì không thuộc
phạm vi, quyền hạn của CQT vì CQT không phải là đơn vị cấp số CMND Nhưng
Trang 29CQT lại đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc giải quyết những trường hợp như
vậy Nhiều trường hợp trùng số CMND mà cùng tỉnh thì sẽ được giải quyết nhanh cho NNT nhưng nhiều trường hợp trùng thông tin mà khác tỉnh thì việc xác minh sẽ
mất thời gian và gây tâm lý không hài lòng đối với NNT vì đây không phải là lỗi
của họ
2.2.2.2 Quản lý kê khai, nộp thuế
.Việc quản lý kê khai, nộp thuế nhằm đảm bảo theo dõi, quản lý NNT thực hiện các thủ tục hành chính thuế về khai thuế, nộp thuế, kế toán thuế, hoàn thành nghĩa vụ thuế đầy đủ, đúng quy định và đảm bảo công chức thuế, CQT thực thi đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Quản lý thuế, cácLuật thuế hiện hành và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật
Việc quản lý kê khai, nộp thuế TNCN tại Cục Thuế tỉnh được thực hiện theo nguyên tắc khấu trừ tại nguồn ĐVCT thu nhập có nghĩa vụ khấu trừ tiền thuế trước khi chi trả thu nhập cho NNT để nộp thay tiền thuế vào NSNN Mục đích áp dụng thuế khấu trừ tại nguồn là để tạo thuận lợi cho việc quản lý các nguồn thu của thuế TNCN cũng như tạo thuận lợi cho công tác thu thuế TNCN và giảm thiểu hành động trốn thuế của người phải đóng thuế thu nhập Những NNT thuộc diện tự kê khai đa phần là những người hành nghề tự do hoặc làm việc tại các doanh nghiệp lớn, có thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau nhưng trường hợp này không nhiều mà
chủ yếu tập trung vào những NNT theo phương pháp khấu trừ tại nguồn
Công tác quản lý kê khai của CQT các cấp trên địa bàn tỉnh được thực hiện theo một trong hai phương pháp sau: Kê khai, nộp thuế thông qua ĐVCT thu nhập
và kê khai, nộp thuế tại CQT
* Đối với thu nhập thường xuyên:
- Kê khai và n ộp thuế thông qua ĐVCT thu nhập:
Đối với ĐVCT thu nhập, việc kê khai, tạm nộp thuế hàng tháng (hoặc hàng quý theo quy định) được thực hiện như sau:
+ Thực hiện khấu trừ thuế theo biểu lũy tiến từng phần đối với khoản chi trả thu nhập cho cá nhân thuộc sự quản lý của ĐVCT thu nhập;
Trang 30Trên địa bạn tỉnh hiện nay, hầu hết các cá nhân có thu nhập từ tiền lương tiền công đều thực hiện theo hình thức này Theo như bảng số liệu phân tích 2.3 thì khoản thu thuế TNCN từ tiền lương tiền công chiếm tỷ trọng lớn nhất trong số thu
về thuế TNCN Do đó việc quản lý kê khai, nộp thuế nhóm NNT này cần được quan tâm và chú trọng hơn nữa Việc kê khai, nộp thuế được thực hiện theo chủ trương NNT tự kê khai, tự nộp và tự chịu trách nhiệm về những thông tin đã kê khai, đã
nộp
Hiện nay, việc kê khai, nộp thuế này hầu hết là do kế toán của các ĐVCT nơi NNT làm việc thực hiện thay cho NNT Với số lượng ĐVCT cũng như số lượng NNT hiện tại là rất lớn nên CQT không thể kiểm tra sự chính xác của tất cả các thông tin trên các tờ khai khấu trừ thuế TNCN nộp hàng tháng, hàng quý của ĐVCT cũng như NNT mà chỉ có thể kiểm tra tính chính xác về mặt số học, công thức còn
có đúng theo các quy định pháp luật thuế hay không thì thường được phát hiện chính xác qua các đợt thanh tra, kiểm tra tại đơn vị Điều này ngoài phụ thuộc vào
sự trung thực, tự giác của NNT thì còn phụ thuộc rất lớn vào mức độ hiểu biết chính sách, pháp luật thuế của kế toán các ĐVCT cũng như NNT Trên thực tế thì việc kê khai sai, khai thiếu vẫn còn xảy ra rất nhiều nhưng các trường hợp NNT tự phát
hiện và tự giác kê khai bổ sung lại cho chính xác chỉ là số ít còn hầu hết là do CQT kiểm tra phát hiện và hướng dẫn đơn vị kê khai bổ sung lại cho đúng Điều này gây khó khăn cho việc quản lý của CQT cũng như mất thời gian cho việc xử lý các sai
Trên thực tế, số NNT có các khoản thu nhập dạng này ít khi được ĐVCT thu
nhập chủ động thực hiện khấu trừ hoặc thực hiện không đúng theo quy định Hiện nay, việc này được thực hiện chủ yếu tại các đơn vị có hợp đồng với những NNT thường xuyên có hồ sơ đề nghị hoàn với số thuế đã khấu trừ 10% tại đơn vị vì bắt
Trang 31buộc cấp chứng từ khấu trừ cho NNT để NNT hoàn chỉnh hồ sơ hoàn thuế còn lại thì rất ít đơn vị thực hiện đúng quy định Một phần là do CQT chưa bao quát hết số lượng NNT này cũng như các hình thức thu nhập này Do vậy, các biện pháp cụ thể
để có thể yêu cầu đối với các ĐVCT thu nhập khấu trừ 10% là chưa có, việc khấu
trừ hầu như được thực hiện rất ít Ví dụ như thu nhập của các ca sĩ, giáo viên, bác sĩ, các hình thức dạy thêm… chưa được cơ quan QLT quản lý chặt chẽ Có thể nói, nguyên tắc quản lý khấu trừ 10% trên các khoản thu nhập này vẫn chỉ là trên giấy
tờ, còn trong thực tế chưa được thực hiện rộng rãi
- Kê khai, nộp thuế tại CQT:
Trường hợp xác định được ĐVCT thu nhập nhưng đơn vị này ở nước ngoài hoặc cá nhân không muốn nộp thuế qua tổ chức ủy nhiệm thu thì cá nhân có thể tự đăng ký và kê khai nộp thuế hàng tháng tại CQT
Hiện nay, số NNT này chưa được quản lý một cách đầy đủ, nhất là những NNT làm việc cho các doanh nghiệp liên doanh, đặc biệt là những NNT là người nước ngoài thì việc quản lý những trường hợp này khá phức tạp Điều này đã làm
giảm đáng kể phần nào nguồn thu từ thuế TNCN
* Đối với thu nhập không thường xuyên:
Thuế TNCN đối với thu nhập không thường xuyên nộp cho từng lần phát sinh thu nhập ĐVCT thu nhập thực hiện khấu trừ tiền thuế và cấp biên lai thuế khi chi
trả cho người có thu nhập Tuy nhiên, do chưa có các hình thức quản lý thu nhập có
hiệu quả nên các khoản thu từ thu nhập không thường xuyên hiện nay chủ yếu là các lần trúng thưởng xổ số
Trong cả hai trường hợp trên, thời hạn nộp tờ khai cho CQT và nộp vào NSNN chậm nhất vào ngày 20 của tháng tiếp theo tháng phát sinh thu nhập Trường hợp, hàng tháng tổ chức, cá nhân trả thu nhập phát sinh số thuế khấu trừ trong tháng dưới 50 triệu đồng thì thực hiện khai thuế theo quý Thời hạn nộp tờ khai thuế theo quý chậm nhất là ngày 30 của tháng đầu quý sau
- Ngoài việc quản lý kê khai, nộp thuế TNCN được thực hiện theo nguyên tắc
khấu trừ tại nguồn thì việc quản lý kê khai, nộp thuế thông qua quản lý nghĩa vụ kê
Trang 32khai, nộp thuế bằng hình thức khai thuế qua mạng và nộp thuế điện tử cũng đóng vai trò quan trọng trong công tác QLT TNCN Bởi đây chính là nguồn dữ liệu chủ
yếu làm cơ sở để có thể khai thác thông tin cũng như thực hiện nghiệp vụ QLT của CQT
Việc triển khai kê khai thuế qua mạng và nộp thuế điện tử đã đạt được nhưng nhưng lợi ích đáng kể mà trước hết là tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian cho CQT cũng như NNT Nếu như trước đây, NNT phải nộp tờ khai giấy vừa tốn chi phí đi lại cho NNT vừa tốn chi phí lưu trữ hồ sơ cho CQT, vừa mất thời gian di chuyển của NNT vừa mất thời gian tiếp nhận của CQT Nhất là những ngày đến hạn
nộp tờ khai thì xảy ra tình trạng quá tải, chậm trễ trong xử lý chưa nói đến việc trải qua thời gian, tờ khai sẽ bị hư hỏng, mục nát Chuyển sang kê khai, nộp thuế qua
mạng mang lại rất nhiều thuận lợi và phù hợp với thời kỳ hội nhập như hiện nay Tuy nhiên, vì mới triển khai trong khoảng thời gian chưa dài và vẫn đang trong quá trình hoàn thiện theo từng giai đoạn và nâng cấp liên tục nên đôi khi hệ
thống vẫn bị quá tải hoặc trục trặc trong khâu đường truyền dữ liệu Nhiều trường
hợp NNT đã nộp tờ khai và gửi đi nhưng hệ thống mạng bị nghẽn dẫn đến tờ khai không được gửi thành công và CQT phải nhắc nhở trong khi lỗi không phải ở NNT Cũng như khai thuế qua mạng thì nộp thuế điện tử hiện nay cũng được khuyến khích triệt để theo xu hướng hạn chế dùng tiền mặt và giao dịch qua cổng liên thông
giữa thuế và ngân hàng giúp NNT có thể nộp thuế ở bất cứ đâu Tuy nhiên, trong giai đoạn mới triển khai và sửa lỗi nên đôi khi hệ thống vẫn bị trục trặc và gián đoạn làm NNT không thực hiện kịp thời các nghĩa vụ đóng thuế trong đó có thuế TNCN, điều này gây phiền hà cho NNT và chậm trễ số thu đối với CQT
2.2.2.3 Quản lý quá trình quyết toán và hoàn thuế
Đây là khâu quan trọng trong QLT TNCN, việc quản lý tốt quá trình quyết toán sẽ giúp cho việc kiểm soát dữ liệu của các ĐVCT nói chung và cá nhân NNT nói riêng được thực hiện một cách dễ dàng Nhất là khi đã có ứng dụng QLT tập trung thì việc quản lý tốt ở khâu quyết toán sẽ thuận lợi rất nhiều cho việc xử lý hoàn thuế TNCN cho tổ chức cũng như cá nhân NNT Đồng thời giúp ích rất nhiều
Trang 33trong việc phát hiện các cá nhân có thu nhập nhiều nơi mà không khai báo trung
thực với CQT
Quyết toán thuế được thực hiện theo năm dương lịch Cuối năm hoặc sau khi
hết hạn hợp đồng, ĐVCT thu nhập cá nhân tổng hợp tất cả nguồn thu nhập chịu thuế trong năm thực hiện kê khai quyết toán thu nhập và nộp tờ khai quyết toán thuế
* Quyết toán tại ĐVCT thu nhập: được áp dụng đối với các cá nhân trong năm chỉ có thu nhập duy nhất ở một nơi
NNT lập giấy ủy quyền quyết toán thuế TNCN nộp cho ĐVCT vào tháng 01
của năm sau năm quyết toán hoặc trước khi kết thúc hợp đồng Trên cơ sở giấy ủy quyền, ĐVCT thu nhập tổng hợp quyết toán thuế, lập bảng kê chi tiết của các cá nhân và gửi CQT chậm nhất là ngày thứ 90 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch
hoặc năm tài chính
Trên cơ sở tờ khai quyết toán thuế, ĐVCT thu nhập phải nộp số thuế còn thiếu vào NSNN chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp tờ khai quyết toán thuế Đây là hình thức thực hiện kê khai quyết toán thuế chủ yếu tại tỉnh cũng như trên cả nước Hầu như các cá nhân thuộc diện quyết toán này đều thực hiện ủy quyền quyết toán thay cho ĐVCT để ĐVCT thực hiện quyết toán cho cả đơn vị Theo quy định, thời hạn nộp chậm nhất của quyết toán thuế TNCN là ngày thứ 90
kể từ ngày kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài chính nhưng thực tế thì NNT và các ĐVCT thường nhầm lẫn là đây là ngày phải nộp quyết toán thuế TNCN và chỉ được nộp trong ngày đó Đúng ra, khi vừa kết thúc năm dương lịch hay năm tài chính thì NNT đã có đầy đủ số liệu để có thể bắt đầu hoàn chỉnh quyết toán thuế TNCN và nộp trong vòng 90 ngày đó, nộp càng sớm càng tốt vì nếu có sai sót thì tiến hành điều chỉnh bổ sung trước thời hạn Nhưng trên thực tế thì NNT lại chờ đúng những ngày kề sát thời hạn nộp hoặc tệ hơn là đúng ngày cuối cùng để nộp tờ khai quyết toán thuế TNCN dù bằng hình thức qua mạng hay trực tiếp Điều này gây rất nhiều khó khăn cho chính CQT cũng như NNT vì những ngày này dễ xảy ra
Trang 34tình trạng quá tải, nghẽn mạng và dẫn đến tình trạng nộp chậm tờ khai quyết toán thuế TNCN của NNT cũng như ĐVCT
* Quyết toán tại CQT
- Đối với cá nhân chỉ có thu nhập từ tiền lương, tiền công
Cá nhân có thu nhập tiền lương, tiền công trực tiếp khai thuế trong năm thì nơi nộp hồ sơ quyết toán là Cục thuế nơi cá nhân nộp và khai thuế trong năm
Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công từ hai nơi trở lên thuộc diện tự quyết toán thuế thì sau khi tính giảm trừ gia cảnh cá nhân thì nộp hồ sơ quyết toán thuế tại CQT trực tiếp quản lý tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập Có rất nhiều cá nhân thuộc trường hợp này nhưng không tự giác, chủ động nộp quyết tóan thuế đối với CQT hoặc cũng có trường hợp không biết phải thực hiện nộp quyết toán với CQT Điều này gây thất thu không nhỏ cho nguồn thu thuế TNCN không chỉ riêng trên địa bản tỉnh mà trên cả nước nói chung Việc quản lý những cá nhân có thu nhập từ hai nơi là một vấn đề phức tạp và cần nhiều thời gian cùng với sự phối hợp
từ nhiều phía để cùng rà soát và hướng dẫn chính xác đối với những trường hợp này
Cá nhân thay đổi nơi làm việc trong năm và tại tổ chức, cá nhân trả thu nhập
cuối cùng có tính giảm trừ gia cảnh thì nộp hồ sơ quyết toán thuế tại CQT quản lý
tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập cuối cùng Ngược lại, các trường hợp: không tính
giảm trừ gia cảnh; cá nhân chưa tính giảm trừ gia cảnh ở bất cứ tổ chức, cá nhân trả thu nhập nào; cá nhân không ký hợp đồng lao động, hợp đồng lao động dưới 03 tháng, hợp đồng cung cấp dịch vụ có thu nhập tại một nơi hoặc nhiều nơi đã khấu
trừ 10%; có thu nhập từ tiền lương, tiền công tại một nơi hoặc nhiều nơi nhưng tại
thời điểm quyết toán không làm việc tại tổ chức, cá nhân trả thu nhập nào thì nộp hồ
sơ quyết toán tại Chi cục thuế nơi cá nhân cư trú (đăng ký thường trú hoặc tạm trú)
- Đối với cá nhân, nhóm cá nhân chỉ có thu nhập từ kinh doanh
Nộp hồ sơ quyết toán thuế tại Chi cục thuế nơi cá nhân kinh doanh gồm: cá nhân, nhóm cá nhân kinh doanh tại một nơi; cá nhân làm đại lý bảo hiểm, đại lý xổ
Trang 35số, bán hàng đa cấp có đăng ký kinh doanh; cá nhân vừa có thu nhập từ kinh doanh,
tiền lương, tiền công
Nộp hồ sơ quyết toán thuế tại Chi Cục thuế nơi cá nhân cư trú: cá nhân làm đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, bán hàng đa cấp không đăng ký kinh doanh
Nộp hồ sơ quyết toán thuế tại CQT quản lý nơi kinh doanh cuối cùng: cá nhân, nhóm cá nhân thay đổi nơi kinh doanh trong năm
Nộp hồ sơ quyết toán thuế tại Chi Cục thuế nơi cấp MST đầu tiên: các nhân kinh doanh ở nhiều nơi
Mặc dù pháp luật quy định rõ thời gian quyết toán thuế, nhưng trên thực tế thì CQT vẫn chưa thực hiện tốt việc quyết toán thuế cho từng NNT Chính vì vậy, công tác QLT TNCN ở tỉnh Phú Yên hiện nay còn khá nhiều hạn chế dẫn đến quản lý chưa hết nguồn thu và còn thất thu thuế
* Hoàn thuế: Sau khi nhận đủ hồ sơ hoàn thuế thì CQT kiểm tra số liệu, xác minh số thuế được hoàn và ra quyết định hoàn trả cho NNT, đồng thời gửi Kho bạc Nhà nước làm thủ tục hoàn trả cho cá nhân
Kết quả hoàn thuế TNCN được nêu trong bảng 2.4
Bảng 2.3: Kết quả công tác giải quyết hồ sơ hoàn thuế TNCN giai đoạn từ năm
nhất tất cả các biểu mẫu, thủ tục, trình tự về khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế phù hợp
Trang 36với thực tế, đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính, giảm thời gian thực hiện thủ
tục hành chính, góp phần giúp công tác quản lý thuế TNCN đạt được hiệu quả cao
Theo quy định thì NNT có thể hoàn thuế bất cứ lúc nào chứ ko phải bắt buộc nộp hồ
sơ hoàn vào cuối năm hoặc cùng thời điểm thời hạn nộp quyết toán thuế TNCN Tuy nhiên, vì hiểu lầm này mà đến thời điểm hạn nộp tờ khai quyết toán thuế thì hàng loạt NNT cũng đồng thời nộp hồ sơ đề nghị hoàn thuế TNCN Điều này gây khó khăn trong việc xử lý hoàn thuế vì số lượng quá tải đối với CQT, gây áp lực cho cả NNT và CQT
2.2.2.4 Thanh tra, kiểm tra thuế TNCN
Thanh tra, kiểm tra là một trong những hoạt động quan trọng của ngành thuế, trong đó có hoạt động QLT TNCN Nhất là khi hiện nay ý thức kê khai thuế TNCN
của NNT còn rất thấp Công tác thanh tra, kiểm tra tại ngành thuế tỉnh càng phải được chú trọng hơn nữa
Tại Cục Thuế đã triển khai thực hiện kiểm tra nội bộ theo chuyên đề về công tác kê khai, kế toán thuế; thanh tra, kiểm tra thuế; quản lý NNT…qua đó chấn chỉnh
những tồn tại trong việc thực hiện các quy định QLT trong toàn ngành
Kết quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế TNCN được nêu trong bảng 2.5
Bảng 2.4: Kết quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế TNCN giai đoạn từ năm
2013 đến năm 2016
2 Số tiền thuế TNCN truy thu (nghìn
3
Số tiền thuế TNCN truy thu bình
quân cuộc thanh tra, kiểm tra