1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến làm việc quá giờ và tác động của làm việc quá giờ đến sức khỏe và hành vi lối sống của tài xế ngành dịch vụ chở khách tại TP HCM

101 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

L ời cam đoan Tôi xin cam đoan luận văn: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến làm việc quá giờ và tác động của làm việc quá giờ đến sức khỏe và hành vi lối sống của tài xế ngành dịch vụ

Trang 1

PHAN QUỐC THỊNH

NGHIÊN CƯU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNGĐẾN LÀM VIỆC QUÁ GIỜ VÀ TÁC ĐỘNGCỦA LÀM VIỆC QUÁ GIỜ ĐẾN SỨC

HCM

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

Mã số : 60310105

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NG ƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016

Trang 2

PHAN QU ỐC THỊNH

NGHIÊN C ỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LÀM

VI ỆC QUÁ GIỜ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA LÀM VIỆC QUÁ

GI Ờ ĐẾN SỨC KHỎE VÀ HÀNH VI LỐI SỐNG CỦA TÀI

X Ế NGÀNH DỊCH VỤ CHỞ KHÁCH TẠI TP.HCM

Chuyên ngành : Kinh t ế phát triển

Mã s ố: 60310105

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TP.H Ồ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 3

Trang phụ bìa

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Tóm tắt luận văn

Danh mục các hình vẽ, bảng biểu, đồ thị

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu 1

1.1.Tầm quan trọng của đề tài nghiên cứu 1

1.2.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

1.3.Mục đích, đối tượng, khách thể, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu 3

Chương 2: Cơ sở lý luận 5

2.1.Giới thiệu ngành vận chuyển hành khách 5

2.2.Giới thiệu về công việc tài xế ngành dịch vụ vận chuyển khách 7

2.3.Đặc thù tiêu chuẩn dành cho tài xế vận chuyển hành khách 10

2.4.Những vấn đề sức khoẻ đối với tài xế chở khách ngành dịch vụ 12

2.5.Các khái niệm liên quan đến sức khỏe khi làm việc ngoài giờ 14

2.5.1.Các khái niệm cơ bản liên quan đến sức khỏe 14

2.5.2.Làm việc quá giờ 20

2.5.3.Hồi phục sức khỏe 22

2.6.Các khái niệm về hành vi lối sống 23

2.6.1Khái niệm hành vi lối sống 23

2.6.2Hành vi sức khỏe tích cực và tiêu cực 23

2.7.Các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quyết định làm việc quá giờ 24

Trang 4

2.8 Kết quả từ những công trình nghiên cứu nước ngoài về ảnh hưởng của làm việc

quá giờ đối với sức khoẻ và hành vi sức khoẻ 28

Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu 33

3.1.Mô hình nghiên cứu 33

3.2.Đo lường các biến sức khoẻ và hành vi lối sống 36

3.3Đo lường các biến yếu tố kinh tế - xã hội tác động đến làm việc ngoài giờ 40

3.4.Phương pháp thu thập số liệu 41

3.5Phương pháp xử lý số liệu 42

Chương 4 : Kết quả nghiên cứu 45

Phần nghiên cứu thứ nhất: Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế xã hội đối với quyết định làm việc quá giờ của tài xế 45

4.1.Mô tả mẫu nghiên cứu 45

4.2.Kết quả hồi quy theo mô hình bình phương nhỏ nhất 47

4.3.Ma trận hệ số tương quan các biến độc lập 49

4.4Kiểm định dùng hệ số nhân tố phóng đại phương sai (variance inflation factor – vif) 50

4.5.Kiểm định phương sai thay đổi (Phụ lục 2) 51

4.6.Kiểm định sự tự tương quan 51

4.7.Khắc phục hiện tượng tự tương quan (Phụ lục 2) 51

4.8.Ý nghĩa kết quả hồi quy của mô hình đã chỉnh sửa 54

Phần nghiên cứu thứ hai: Tác động của làm việc quá giờ đối với sức khoẻ và hành vi lối sống 56

4.9.Mô tả số liệu nghiên cứu 56

4.10Ma trận tương quan giữa biến thời gian làm việc quá giờ với các biến sức khoẻ và hành vi sức khoẻ (ma trận hệ số tương quan Pearson) 57

Trang 5

4.11.Kiểm định các biến có phân phối chuẩn hay không 58

Kiểm định sự tương quan giữa các biến bằng đồ thị 58

4.12Giải thích ý nghĩa mô hình tác động của làm việc quá giờ đến sức khoẻ và hành vi lối sống người tài xế 59

Chương 5: Kết luận và kiến nghị 60

5.1.Tóm lược phương pháp nghiên cứu 61

5.2.Tổng hợp kết quả nghiên cứu 62

5.3.Kết luận 63

5.4.Hạn chế của nghiên cứu 64

5.5Kiến nghị 64 Tài liệu tham khảo

Phụ lục 1

Phụ lục 2

Phụ lục 3

Phụ lục 4

Trang 6

L ời cam đoan

Tôi xin cam đoan luận văn: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến làm việc quá giờ và tác động của làm việc quá giờ đến sức khỏe và hành vi lối sống của tài

xế ngành dịch vụ chở khách tại TP.HCM” là kết quả của quá trình tự nghiên cứu

của riêng tôi

Ngoại trừ các nội dung tham khảo từ các công trình khác như đã nêu rõ trong luận văn, các số liệu điều tra, kết quả nghiên cứu đưa ra trong luận văn là trung

thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã có từ trước

TP.HCM, ngày 25 tháng 04 năm 2017

Tác giả Phan Quốc Thịnh

Trang 7

OT(overtime): thời gian làm việc quá giờ

OLS(Ordinary Least Square): phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất VIF(Variance inflation factor): hệ số phóng đại phương sai

BMI(Body mass index): chỉ số khối cơ thể

ILO(International Labour Organization): Tổ chức lao động quốc tế

WHO(World Health Organization): Tổ chức Y tế thế giới

BGTVT: Bộ giao thông vận tải

BYT: Bộ Y tế

TCVN: tiêu chuẩn Việt Nam

TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

NĐ-CP: Nghị định Chính phủ

Trang 8

nước trên thế giới nhưng ở Việt Nam thì chưa có một công trình nào nghiên cứu

về vấn đề này tính đến thời điểm hiện tại Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người tuy nhiên do ảnh hưởng của các vấn đề kinh tế xã hội mà người tài xế ngành dịch vụ chở khách (đối tượng chính trong bài luận văn) chấp nhận đánh đổi thời gian nghỉ ngơi để làm việc

Nghiên cứu bao gồm cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu đi trước và số liệu thực tế làm nền tảng cho hai phần nghiên cứu sau

 Mô hình các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến làm việc ngoài giờ của tài xế ngành dịch vụ chở khách

 Mô hình tác động của làm việc quá giờ đối với sức khoẻ và hành vi lối

sống của tài xế ngành dịch vụ chở khách

Bài nghiên cứu có tất cả 5 chương:

Chương 1:Tổng quan nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận

Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu

Chương 4 : Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 9

Bảng 2.4.1 Nghiên cứu về mối

quan hệ giữa làm việc quá giờ đến

các chỉ số sức khoẻ cơ bản, hành vi

lối sống tích cực và hành vi lối sống tiêu cực 21

Bảng 2.4.2 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa làm việc quá giờ đến các bệnh tim mạch 25

Bảng 2.4.3 Nghiên cứu về mối liên hệ giữa làm việc quá giờ và năng suất lao động 27

Bảng 2.4.4 Nghiên cứu về mối quan hệ làm việc quá giờ và căng thẳng thần kinh 29

Bảng 2.4.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của làm việc quá giờ đến chỉ số khối cơ thể(BMI) 30

Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu tổng thể 32

Bảng 4.1 Thống kê mẫu nghiên cứu thứ nhất 44

Bảng 4.2 Kết quả hồi quy OLS nghiên cứu thứ nhất 45

Bảng 4.3 Ma trận hệ số tương quan các biến độc lập nghiên cứu thứ nhất 46

Bảng 4.4 Kiểm định dùng hệ số vif 47

Bảng 4.5 Mô hình OLS sau khi bỏ biến mrd 48

Bảng 4.6 Mô hình OLS sau khi bỏ biến nuchld 49

Trang 10

Đồ thị 4.7 Ước lượng phần dư 51 Bảng 4.7.2 Kiểm định hệ số tương quan Spearman 52 Bảng 4.8 Mô hình hồi quy hoàn chỉnh

của phần nghiên cứu thứ nhất 52 Bảng 4.9 Kiểm định tự tương quan

bằng đồ thị sau khi thay thế biến độc lập 53 Bảng 4.10 Mô tả số liệu phần nghiên cứu thứ hai 54 Bảng 4.11 Ma trận hệ số tương quan Pearson 54

Đồ thị 4.12 Đồ thị phân phối của biến

làm việc quá giờ và biến chỉ số khối cơ thể 54 Bảng 4.12.2 Kiểm định Skewness/Kurtosis 55 Bảng 4.13 Đồ thị phân tán thể hiện

tương quan của các biến trong

phần nghiên cứu thứ hai 62 Hình 5.1 Tổng hợp kết quả nghiên cứu 56

Trang 12

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương đầu tiên của bài nghiên cứu này sẽ giới thiệu tổng quan về tầm quan

trọng, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu Chương giới thiệu tổng quan về ngành vận tải hành khách, đây là ngành kinh doanh có hiện

trạng làm việc quá giờ, đặc biệt là người tài xế Những yêu cầu và tiêu chuẩn công việc lái xe và những vấn đề về sức khỏe của tài xế cũng được trình bày trong chương này

1.1 Tầm quan trọng của đề tài nghiên cứu

Làm việc quá giờ (overtime - OT) thường phổ biến trong các hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ Các doanh nghiệp thường sử dụng giờ làm thêm như một cách thức giải quyết khối lượng công việc gia tăng đột xuất mà không cần phải thuê thêm nhân lực Người lao động muốn làm quá giờ để đóng góp vào nền kinh

tế vừa có lợi cho bản thân khi có thể gia tăng thu nhập của họ Tuy nhiên, làm

việc gây nhiều tác hại cho cả người lao động, chủ doanh nghiệp và xã hội

Ngành vận chuyển phục vụ hành khách là một trong những ngành có yêu cầu công việc phải làm thêm ngoài giờ đối với người lao động, đặc biệt là vai trò của người tài xế Công việc lái xe cần sự tập trung cao độ, lái xe trong một khoảng

thời gian quá dài sẽ gây mệt mỏi và làm giảm năng suất Trong trường hợp người tài xế phải làm việc quá giờ sẽ gây ra những hậu quả về sức khoẻ và đe doạ

an toàn tính mạng cho cộng đồng

Nhận thức được tầm quan trọng của ảnh hưởng làm việc quá giờ đến sức khoẻ người tài xế “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến làm việc quá giờ và tác động của làm việc quá giờ đến sức khỏe và hành vi lối sống của tài xế ngành dịch vụ

chở khách tại TP.HCM” được tôi thực hiện để tìm ra của các yếu tố kinh tế xã hội

Trang 13

đến quyết định làm quá giờ của người tài xế cũng như tác động của làm việc quá

giờ đối với sức khoẻ và hành vi lối sống

Nghiên cứu bao gồm cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu đi trước và số liệu thực tế làm nền tảng cho hai phần nghiên cứu sau

 Mô hình các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến làm việc ngoài giờ của tài xế ngành dịch vụ chở khách

 Mô hình tác động của làm việc quá giờ đối với sức khoẻ và hành vi lối

xế ngành dịch vụ hy vọng sẽ đóng góp một phần nào đó để làm sáng tỏ và chứng minh cho phần lý luận đã được các nhà khoa học đi trước đưa ra giúp cho việc

nhận thức đúng vai trò các yếu tố của điều kiện lao động trong lao động, đồng

thời giúp người lao động có thể nhận thức đầy đủ về điều kiện lao động và có những hành động tích cực trong việc cải thiện bản thân và môi trường làm việc

của mình

1.2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu cho ta thấy thực trạng công việc và sức khoẻ của người tài xế để tìm ra các giải pháp nhằm làm giảm thời gian làm việc quá giờ qua đó làm giàm

Trang 14

hậu quả tiêu cực về sức khoẻ cũng như bệnh tật, góp phần cải thiện môi trường làm việc, đảm bảo sức khoẻ và tăng hiệu quả lao động

1.3 Mục đích, đối tƣợng, khách thể, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu

1.3.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định làm việc quá giờ và các vấn

đề sức khoẻ bị tác động theo thời gian làm việc quá giờ Từ đó tìm ra các giải pháp làm giảm thời gian làm việc quá giờ và giảm các hậu quả tiêu cực về sức khoẻ cũng như bệnh tật, thực hiện chủ trương “Sức khoẻ cho mọi người”

1.3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là nghiên cứu khảo sát và tìm ra các yếu

tố ảnh hưởng đến quyết định làm việc quá giờ và tác động làm việc quá giờ đến

sức khoẻ người tài xế

1.3.3 Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu là những người tài xế lái xe ngành dịch vụ Họ là

những người trực tiếp làm công việc lái xe chuyên chở phục vụ khách trong nhiều công ty hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau như taxi, vận chuyển hành khách theo hợp đồng, và trong những lĩnh vực khác

Vấn đề làm việc quá giờ không phải xuất hiện ở toàn bộ lĩnh vực vận tải hành khách Làm việc quá giờ chỉ xuất hiện khi công ty có vấn đề phát sinh và bất ngờ Tài xế ở công ty du lịch, tài xế taxi và tài xế phục vụ cho khách sạn là những nhóm tài xế thường xuyên phải đối mặt với làm việc quá giờ

1.3.4 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về không gian: Khảo sát thu thập thông tin cần thiết từ những người tài

xế hành nghề vận chuyển khách đang hoạt động ở TP.HCM Tác giả chọn ra 3

Trang 15

công ty lớn về dịch vụ vận chuyển hành khách ở TP.HCM, đó là công ty CP Taxi Mai Linh , Công ty TNHH v ận tải Thiên Phương chuyên phục vụ vận chuyển

khách theo hợp đồng, công ty CP dịch vụ EzyTrans chuyên phục vụ vận chuyển khách cho các khách sạn ở TP.HCM

Phạm vi về thời gian: Đề tài tiến hành từ tháng 11 năm 2016 đến tháng 4 năm

2017

Chương đầu tiên đã giới thiệu tổng quan về tầm quan trọng, ý nghĩa khoa học và

ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu Chương cũng đã giới thiệu tổng quan về ngành vận tải hành khách, đây là ngành kinh doanh có hiện trạng làm việc quá

giờ, đặc biệt là người tài xế Ngoài ra, những yêu cầu và tiêu chuẩn công việc lái

xe và những vấn đề về sức khỏe của tài xế cũng được đã trình bày trong chương này

Chương thứ hai của luận văn sẽ trình bày chi tiết lý thuyết làm nển tảng cho mô hình nghiên cứu Bài nghiên cứu này cũng thừa hưởng nhiều thành tựu đạt được

từ những công trình nghiên cứu nước ngoài sẽ được trình bày ở chương thứ hai

Trang 16

Chương 2: Cơ sở lý luận

Chương hai của bài nghiên cứu này sẽ trình bày chi tiết các lý thuyết được sử

dụng làm nền tảng cho hai mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến làm

việc quá giờ và tác động của làm việc quá giờ đến sức khỏe và hành vi lối sống

của tài xế ngành dịch vụ chở khách

Các khái niệm về sức khoẻ, nhu cầu nghỉ ngơi, hành vi lối sống là những lý khái

niệm lý thuyết mới trong lĩnh vực kinh tế sức khoẻ Phần lý thuyết về thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, trả lương là những khái niệm đã được luật hoá ở Việt Nam

Kết quả của các nghiên cứu đi trước ở nước ngoài đóng vai trò quan trọng nhất trong việc hình thành cơ sở lý luận của bài nghiên cứu này

2.1 Giới thiệu ngành vận chuyển hành khách

Trong báo cáo “Đánh giá tình hình thực hiện chiến lược phát triển giao thông

v ận tải Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030‖ của Bộ giao thông vận

tải có đánh giá rằng ngành vận chuyển hành khách có đóng góp không nhỏ trong

nền kinh tế ở nước ta.Trong 8 tháng đầu năm 2016, có đến hơn 220 triệu lượt khách được phục vụ bằng đường bộ trên toàn quốc

Tổng chiều dài đường bộ nước ta hiện có trên 258.200 km, trong đó, quốc lộ

và cao tốc 18.744 km, chiếm 7,26%; đường tỉnh 23.520 km, chiếm 9,11%; đường huyện 49.823 km, chiếm 19,30%; đường xã 151.187 km, chiếm 58,55%; đường

đô thị 8.492 km, chiếm 3,29% và đường chuyên dùng 6.434 km, chiếm 2,49%

Hiện có 104 tuyến quốc lộ, 5 đoạn tuyến cao tốc và các tuyến đường do Trung ương quản lý với tổng chiều dài 18.744 km; trong đó mặt đường bê tông nhựa

Trang 17

chiếm 62,97%, bê tông xi măng chiếm 2,67%, nhựa chiếm 31,7%, cấp phối và đá dăm chiếm 2,66%

Về tiêu chuẩn kỹ thuật thì đường có tiêu chuẩn kỹ thuật cao chiếm tỷ trọng rất

thấp chỉ đạt 7,51% Tỷ lệ đường đạt tiêu chuẩn kỹ thuật cấp trung bình chiếm 77,73%; còn lại đường có tiêu chuẩn kỹ thuật thấp chiếm tỷ lệ là 14,77%

Vận chuyển đường bộ chiếm tỷ trọng lớn nhất so với các phương thức vận chuyển khác và ngày càng tăng từ 82,4% năm 2001 lên 91,4% năm 2010 về vận chuyển hành khách và tăng từ 65,7% năm 2001 lên 70,6% năm 2010 về vận chuyển hàng hóa;

Vận chuyển đường bộ đã tăng trưởng rất nhanh cả về vận chuyển hàng hóa và hành khách Khối lượng vận chuyển hành khách đã tăng từ 677,3 triệu lượt hành khách năm 2001 lên 2011, 1 triệu hành khách năm 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 12,9%/năm và lượng luân chuyển hành khách tăng từ 23.394,9 triệu lượt hành khách trong năm 2001 lên đến 69.197,4 triệu lượt hành khách trong năm

2010, tốc độ tăng trưởng bình quân là 12,8%/năm

Vận chuyển khách đường bộ đã có sự kết nối tốt hơn với các phương thức hàng không, đường sắt và giữa các phương tiện đường bộ với nhau như xe buýt, taxi Luồng tuyến vận chuyển khách đường bộ đã phát triển hầu hết tới tất cả các huyện hoặc cụm xã Tuy nhiên, việc phát triển mạnh luồng tuyến vận chuyển khách liên tỉnh tới nay đã bão hoà và có sự chồng chéo tuyến vận chuyển khách

dẫn tới mất cân đối cung cầu theo tuyến (Quốc lộ 1A đang quá tải, nhưng đường đường Hồ Chí Minh mật độ giao thông lại rất thấp) Kết quả vận chuyển khách chưa đáp ứng được nhu cầu về số lượng những lúc cao điểm và yêu cầu về chất lượng, hiện tượng tranh giành, chèn ép khách nhất là các dịp lễ tết vẫn xảy ra Tai nạn giao thông vẫn ở mức cao, diễn biến phức tạp

Trang 18

Qua báo cáo trên, ta có thể nhận thấy vai trò không nhỏ của vận chuyển hành khách đối với nền kinh tế Người tài xế là nhân tố chủ đạo đem lại nguồn lợi tuy nhiên họ lại gặp những khó khăn về vĩ mô mà ngay cả Bộ giao thông vận tải còn chưa khắc phục được Những khó khăn này nếu không được giải quyết tốt sẽ ảnh hưởng không những đến sự ổn định trong công việc của người tài xế mà còn ảnh hưởng đến toàn xã hội

2.2 Giới thiệu về công việc tài xế ngành dịch vụ vận chuyển khách

Công việc lái xe được Trung tâm nghiên cứu và đào tạo thuộc Sở giao thông vận

t ải Hà Nội mô tả cụ thể từ mục 5.1 đến 5.4

2.2.1 Đặc điểm lao động của người lái xe

(i) Đặc điểm nghề nghiệp

Người lái xe là người trực tiếp thực hiện quá trình vận chuyển, có những đặc điểm riêng so với những ngành nghề khác Lái xe thực hiện công việc vận chuyển trên đường giao thông đòi hỏi phải tự chủ trong mọi hoạt động và khắc phục sự

cố liên quan đến vận chuyển Lái xe phải thường xuyên làm việc căng thẳng cả

về đầu óc lẫn chân tay, ngoài công việc vận chuyển lái xe phải làm thêm công việc bảo dưỡng, sửa chữa xe, các thủ tục, giấy tờ liên quan đến vận chuyển (ii) Kỷ luật lao động

Kỷ luật lao động của người lái xe thể hiện ở việc đúng giờ và hoàn thành công việc đúng nhiệm vụ giao, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về trật tự an toàn giao thông trong vận chuyển Thực hiện chăm sóc, bảo quản thường xuyên đối

với ô tô, thiết bị vận chuyển, dụng cụ đồ nghề, nhiên liệu dầu mỡ và hàng hoá trên xe

Kỷ luật lao động người lái xe có liên quan tới những hoạt động của doanh nghiệp vận chuyển ô tô, vì những công việc của vận chuyển được thực hiện ngoài

Trang 19

phạm vi doanh nghiệp Vì vậy, kỷ luật lao động tự giác của người lái xe có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng

2.2.2 Quá trình làm việc của người lái xe

(iii) Công tác chuẩn bị

N ắm vững kế hoạch vận chuyển

Khi nhận nhiệm vụ ghi trong lịch trình đi đường, người lái xe cần nắm vững nhiệm vụ được giao, nhất là các điều kiện vận chuyển Phải biết được những khó khăn, thuận lợi trong quá trình vận chuyển để đề ra biện pháp thực hiện Tài xế cũng cần nắm vững tuyến đường và các khả năng ùn tắc giao thông, các điểm

dừng xe và đậu xe

Ki ểm tra an toàn phương tiện

Trước khi hoạt động, xe ô tô cần kiểm tra tra các thiết bị chiếu sáng, còi, bộ

gạt nước, gương chiếu hậu, kiểm tra sự hoạt động của hệ thống lái, hệ thống phanh, lắng nghe tiếng động cơ làm việc ở các chế độ Nếu có hư hỏng cần kiểm tra, điều chỉnh, sửa chữa kịp thời

Chu ẩn bị vật tư và các nhu cầu thiết yếu phục vụ cho xe và hành khách

Tuỳ theo công việc sắp thực hiện, trước khi xe chạy, lái xe phải mang theo các thiết bị và dụng cụ cần thiết, bộ đồ nghề sửa chữa, nhiên liệu dự trữ Trên các

xe phải có tủ thuốc cấp cứu phục vụ hành khách

Chu ẩn bị thủ tục giấy tờ

Tài xế lái xe trước khi xe ra đường, cần phải xem xét lại các giấy từ cần thiết như giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe, giấy bảo hiểm và giấy chứng nhận kiểm định của xe

2.2.3 Thực hiện nhiệm vụ vận chuyển hành khách

(iv) Công tác chuẩn bị

Trang 20

Người tài xế phải đưa xe đến điểm đón khách theo yêu cầu của công ty và đúng giờ theo lịch hẹn Người lái xe luôn nhắc nhở hành khách bảo đảm an toàn khi xe chuyển bánh cụ thể như phải thắt dây an toàn và không làm ồn ào ảnh hưởng đến sự tập trung lái xe của tài xế

(v) Tổ chức nơi nghỉ ngơi hợp lý, đảm bảo sức khoẻ hành khách

Người lái xe có tư cách đạo đức tốt là người có trách nhiệm cao đối với hành khách cũng như hành lý mang theo của họ Khi vận chuyển hành khách có cự ly

xa, tài xế cần tính toán trước các chặng nghỉ có đủ điều kiện về ăn uống, nghỉ ngơi và có nhà vệ sinh cho khách Người lái xe cần biết chăm sóc và đáp ứng

những yêu cầu cần thiết của hành khách và tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo sức khoẻ cho họ

2.2.4 Giải quyết các trường hợp cần thiết khi có sự cố trên đường vận chuyển (vi) Sức khoẻ hành khách

Người lái xe cần đặc biệt chú ý khi vận chuyển những người bệnh, người có thương tật và trẻ em Trên xe phải có tủ thuốc cấp cứu Trong trường hợp phải

cấp cứu cho hành khách mà việc cấp cứu trên xe không đạt kết quả thì người lái

xe phải đưa người bệnh đến bệnh viện gần nhất Trường hợp người bệnh không

thể tiếp tục đi được, người lái xe phải làm thủ tục nhập viện

Khi xe bị tai nạn giao thông, người lái xe phải tìm cách cứu chữa và báo ngay với chính quyền sở tại hoặc cảnh sát giao thông gần nhất để giúp đỡ

Trường hợp do thiên tai tắc đường giao thông trên đường thì tuỳ tình hình mà tài xế có cách xử lý thích hợp Tài xế thông báo và trấn an hành khách, trong trường hợp kẹt xe nghiêm trọng không thể di chuyển buộc phải ngừng lại thì người tài xế phải thông báo cho khách và cũng phải liên lạc nhờ sự giúp đỡ từ công ty

Trang 21

Trường hợp tắc nghẽn giao thông trên đường mà phải đưa hành khách quay trở

lại nơi xuất phát thì người lái xe phải tìm mọi biện pháp giải quyết di chuyển về nơi xuất phát ban đầu

Trường hợp xe bị hư hỏng do kỹ thuật, người lái xe phải tìm mọi cách khác

phục và phải thông báo rõ cho hành khách biết

(vii) Kết thúc quá trình làm việc

Ki ểm tra xe sau khi hoạt động

Sau khi hoàn thành quá trình vận chuyển hoăc sau một ngày làm việc, người lái xe tiến hành kiểm tra toàn bộ xe trước khi đưa xe vào nơi để xe Kiểm tra tình

trạng kỹ thuật của xe cần chú ý về hệ thống phanh, hệ thống lái, hệ thống truyền

lực, nếu có hư hỏng phải kịp thời sửa chữa để giảm tiêu hao nhiên liệu và an toàn trong quá trình vận chuyển

T ổng hợp, nắm tình hình sau chuyến vận chuyển, giải quyết các tồn tại

Kiểm tra lại các công việc đã thực hiện, những vấn đề phát sinh trong quá trình vận chuyển phải báo cáo kịp thời với công ty hoặc trực tiếp với lãnh đạo để

có hướng giải quyết Ghi chép giấy đi đường, kiểm tra và ký các giấy tờ liên quan của chuyến xe và nộp cho bộ phận điều bộ

2.3 Đặc thù tiêu chuẩn dành cho tài xế vận chuyển hành khách

Chuyên chở khách bằng ô tô là một công việc đặc thù Luật giao thông đường

bộ đã nêu rõ, một người muốn có giấy phép lái xe phải trên 21 tuổi, đảm bảo sức

khỏe theo yêu cầu để mới có thể tham dự kỳ thi sát hạch giấy phép lái xe theo quy định của Bộ giao thông vận tải (BGTVT)

Tài xế hành nghề chuyên chở khách còn phải tuân theo tiêu chuẩn của BGTVT theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) về tiêu chuẩn an toàn cũng như phong cách

phục vụ Cụ thể các tiêu chuẩn này được nêu rõ trong “Dự thảo tiêu chuẩn chất

Trang 22

lượng dịch vụ vận tải hành khách bằng xe ô tô” của Tổng cục đường bộ Việt

Nam Tuy nhiên dự thảo này vẫn chưa được ban hành và công bố nên các công ty phải tự xây dựng cho mình tiêu chuẩn riêng để phục vụ hành khách một cách tốt

nhất

Tác phong phải chuyên nghiệp là tiêu chí quan trọng nhất đối với bất kỳ một ngành nghề kinh doanh dịch vụ nào Tính chuyên nghiệp của người lái xe là hình ảnh đầu tiên gây dựng thiện cảm với người khách hàng và là yếu tốt quan trọng quyết định sự hài lòng của khách hàng sau mỗi chuyến đi

Trang phục gọn gàng, chuyên nghiệp là hình ảnh đầu tiên để khách hàng nhận

diện chất lượng dịch vụ của trang phục của người lái xe thể hiện sự quan tâm của

công ty đối với người lái xe và thể hiện sự tôn trọng của người lái xe tới khách hàng nó tạo ra cảm giác sự tin tưởng của khách hàng vào sản phẩm mà mình có

thể họ chưa sử dụng

Chu đáo trong hành động thể hiện qua các hành động xuống mở cửa đón khách

và tiễn khách, mang hành lý sắp xếp vào xe khi đón khách và mang hành lý từ xe

ra ngoài khi tiễn khách Tự tin trong giao tiếp là tuỳ thuộc vào từng đối tượng khách hàng (già hoặc trẻ, nam hay nữ, người sống tại địa phương hay nơi khác)

và trong từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể người lái xe chủ động cởi mở trong giao

tiếp mục đích để khách hàng có cảm giác thoải mái trong chuyến xe và là phương tiện để khách hàng hiểu và thông cảm cho những trục trặc phát sinh trong quá trình phục vụ khách hàng như tắc đường, xe có sự cố kỹ thuật hoặc tai nạn

Thực hiện nếp sống văn minh khi tham gia giao thông, khách hàng sẽ cảm thấy yên tâm khi ngồi trong xe mà người lái xe chấp hành tốt các quy định của Luật giao thông đường bộ, không vượt đèn đỏ, không lạng lách, chèn ép phương tiện giao thông khác Người lái xe không chỉ thực hiện văn minh lịch sự với khách

Trang 23

hàng mà đối với cả người đi đường để tạo một thương hiệu hình ảnh với khách hàng

Điều quan trọng nhất trong công việc tài xế vận chuyển hành khách là đảm

bảo an toàn tính mạng cho khách trên xe nên tiêu chí “Tính mạng con người là trên hết” luôn được đặt lên hàng đầu

2.4 Những vấn đề sức khoẻ đối với tài xế chở khách ngành dịch vụ

Theo thống kê “Driver care day 2016”(Báo cáo b ệnh nghề nghiệp của tài xế năm 2016, Bệnh viện ôtô Việt Nam) có khoảng 25% bác tài gặp vấn đề về họng

với lý do mùi dầu mỡ, khói bụi 24% bác tài chạy xe ban đêm, 17.5% bác tài thường xuyên di chuyển xa gặp vấn đề về gan do chế độ ăn uống không cân đối,

ăn thực phẩm chất xơ, chất đạm nhiều Gan nhiễm mỡ do ít vận động và ngồi trên

xe quá lâu 15% bác tài cũng gặp vấn đề về thận do ít uống nước do ngại đi vệ sinh trên đường dẫn đến sỏi thận

Trong nghiên cứu The impact of work practices on fatigue in long distance drivers, Accident Analysis & Prevention của các tác giả Williamson, Anne-Marie Feyer, và Rena Friswell xuất bản năm 1996, danh sách các vấn đề sức khoẻ của tài xế lái xe đường dài ở Mỹ được tóm tắt như dưới đây từ mục 7.1 đến 7.8

(viii) Bệnh đau lưng

Ngồi lâu trên ghế lái trong khoảng thời gian dài khiến lưng chịu áp lực rất lớn, mặt khác tài xế thường ít vận động dẫn đến máu ít lưu thông, điều này về lâu dài khiến lưng đau nhức

(ix) Bệnh trĩ

Trang 24

Ngồi lâu một chỗ và thói quen nhịn vệ sinh quá lâu là những lý do cơ bản dẫn đến bệnh trĩ và táo bón Nếu mắc phải căn bệnh này, tài xế rất khó có thể tiếp tục lái xe vì mỗi lần ngồi lên xe là sẽ thấy đau nhức rát, buốt

(x) Đau mỏi vai gáy, xương khớp, tê tai

Đây là căn bệnh phổ biến thường xảy ra đối với các tay lái Đầu, cổ, vai và hai cánh tay phải hoạt động liên tục dẫn đến tài xế thường có cảm giác ê nhức và tê

cứng

(xi) Đau dạ dày

Ăn uống không theo theo giờ giấc cố định và một phần do đồ ăn không đảm bảo

vệ sinhlà lý do khiến tài xế hay bị đau dạ dày Một khi đã mắc căn bệnh này, tài

xế thường xác định sẽ sống chung cùng bệnh suốt đời Về lâu dài bệnh khiến cơ

thể trở nên mệt mỏi, mất ngủ, kém trí nhớ hay cáu gắt và gây nhiều bất tiện cho

cuộc sống sinh hoạt

(xii) Béo phì

Ít vấn động và hay uống đồ ngọt khiến các tài xế dễ mắc phải căn bệnh béo phì Căn bệnh này là mầm mống cho nhiều bệnh khác như tai biến, đột quỵ, mỡ trong máu

(xiii) Mất ngủ

Buồn ngủ là nỗi ám ảnh lớn nhất đối với mỗi tài xế, các tay lái thường đối phó với tình trạng này bằng cách uống cà phê, nước tăng lực, sử dụng cách này lâu dài sẽ khiến mất ngủ, sức khỏe suy yếu, mệt mỏi, cơ thể không tỉnh táo

(xiv) Bệnh về mắt

Trang 25

Phải tập trung với cường độ cao cộng thêm không khí bụi bẩn làm thị lực của các tay lái suy yếu và thường dễ mắc bệnh khô mắt, viễn thị

(xv) Bệnh về đường hô hấp

Thường xuyên ngồi trong xe bật điều hoà với thời gian lâu, tài xế rất dễ mắc bệnh

về đường hô hấp như cảm, sổ mũi, hen suyễn

2.5 Các khái ni ệm liên quan đến sức khỏe khi làm việc ngoài giờ

2.5.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến sức khỏe

(i) Sức khỏe

Bệnh tật thường được chú ý nhiều hơn sức khoẻ, vì bệnh tật ảnh hưởng trực tiếp, làm trở ngại cho công việc, học tập, thu nhập nên cần phải giải quyết ngay Sức khoẻ ít được quan tâm khi tuổi còn trẻ, giai đoạn mà người ta quan tâm đến hình thể bên ngoài hơn là bệnh tật vì ít khi có bệnh Nhưng khi tuổi càng lớn, người ta nghĩ đến việc bảo vệ sức khoẻ nhiều hơn Đứng trên bình diện quốc gia, thì sức khoẻ luôn luôn được coi là một trách nhiệm của nhà nước đối với người dân Khái niệm

về sức khoẻ là một khái niệm có vẻ đơn giản nhưng không dễ nắm bắt Nó tiến triển tùy theo trình độ y học, bối cảnh kinh tế xã hội Đối với những người làm công tác y

tế, định nghĩa về sức khoẻ có ý nghĩa quan trọng, vì qua đó nó xác định mục tiêu, không phải chỉ cho hệ thống y tế mà còn cho mọi người mọi ngành ngoài khu vực y

tế, tức là cho toàn xã hội

"Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội,

chứ không phải là chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế" (World Health Organization

- WHO, The International Health Conference, New York (22/07/1946)

Trong “Chiến lược bảo vệ sức khoẻ nhân dân 2011- 2020 tầm nhìn 2030‖, Bộ y tế

đã nêu rõ “Sức khoẻ là trạng thái thoải mái đầy đủ về thể chất, tâm hồn và xã hội

Trang 26

chứ không chỉ bó hẹp vào nghĩa là không có bệnh hay thương tật, đây là một quyền

cơ bản của con người Khả năng vươn lên đến một sức khoẻ cao nhất có thể đạt được là mục tiêu xã hội quan trọng liên quan đến toàn thế giới và đòi hỏi sự tham gia của nhiều tổ chức xã hội khác nhau chứ không đơn thuần là chủ lực của ngành y

tế”

Theo mỗi định nghĩa trên, mỗi người chúng ta cần chủ động để có một sức khoẻ

tốt Cần chủ động trang bị cho mình kiến thức về phòng bệnh và rèn luyện sức khoẻ Thực hành dinh dưỡng hợp lý, luyện tập thể dục thể thao phù hợp, an toàn lao động và khám bệnh định kỳ để chủ động trong việc phòng và chữa bệnh

Hoàn toàn thoải mái về mặt thể chất là hoạt động thể lực, hình dáng, ăn, ngủ, sức khoẻ tâm sinh lý ở trạng thái tốt nhất phù hợp với từng lứa tuổi Hoàn toàn thoải mái về mặt tâm thần là bình an trong tâm hồn, biết cách chấp nhận và đương đầu

với các căng thẳng trong cuộc sống Hoàn toàn thoải mái về mặt xã hội là nghề nghiệp với thu nhập đủ sống, an sinh xã hội được đảm bảo

Không có bệnh tật hay tàn phế là không có bệnh về thể chất, bệnh tâm thần, bệnh liên quan đến xã hội và sự an toàn về mặt xã hội Để có sức khoẻ tốt với sự nỗ lực của mỗi cá nhân là chưa đủ mà cần có sự đóng góp của cả cộng đồng, của toàn xã

hội trong các vấn đề an sinh, việc làm và giáo dục hay cụ thể hơn như các vấn đề về môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm

Sức khỏe thể chất được thể hiện một cách tổng quát là sự thoải mái về thể chất

Cơ sở của thoải mái về thể chất là sức lực, sự nhanh nhẹn, sự dẻo dai, khả năng

chống được các yếu tố gây bệnh, khả năng chịu đựng các điều kiện khắc nghiệt của môi trường

Trang 27

Sức khỏe tinh thần là hiện thân của sự thỏa mãn về mặt giao tiếp xã hội, tình cảm

và tinh thần Nó được thể hiện ở sự sảng khoái, ở cảm giác dễ chịu, cảm xúc vui tươi, thanh thản, ở những ý nghĩ lạc quan, yêu đời, ở những quan niệm sống tích

cực, dũng cảm, chủ động; ở khả năng chống lại những quan niệm bi quan và lối

sống không lành mạnh Sức khoẻ tinh thần còn là sự biểu hiện của nếp sống lành mạnh, văn minh và có đạo đức Cơ sở của sức mạnh tinh thần là sự thăng bằng và hài hoà trong hoạt động tinh thần giữa lý trí và tình cảm

Sức khoẻ xã hội thể hiện ở sự thoải mái trong các mối quan hệ chằng chịt, phức tạp giữa các thành viên trong gia đình, nhà trường, bạn bè, xóm làng, nơi công cộng, cơ quan Nó thể hiện ở sự được tán thành và chấp nhận của xã hội Càng hoà nhập với mọi người, được mọi người đồng cảm, yêu mến càng có sức khỏe xã hội tốt và ngược lại

Cơ sở của sức khỏe xã hội là sự thăng bằng giữa hoạt động và quyền lợi cá nhân với

hoạt động và quyền lợi của xã hội, của những người khác; là sự hoà nhập giữa cá nhân, gia đình và xã hội

(ii) Nhu cầu nghỉ ngơi

L ịch sử về các quy định thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi

Con người là một thực thể sinh học Hệ thần kinh của con người cũng hoạt động theo chu kỳ Các nhà khoa học nhất trí rằng một con người bình thường phải dành ít nhất 8 giờ đồng hồ để ngủ mỗi ngày Như vậy, trong số 24 giờ mỗi ngày sẽ chỉ còn lại trên dưới 16 giờ, trong đó có một số giờ dành cho làm việc

Lao động đến một mức nào đó thì cảm giác mệt mỏi sinh lý bắt đầu xuất

hiện Đó là một cơ chế bảo vệ, như cái phanh, bắt cơ thể ngừng hoạt động để tránh kiệt sức Để có thể làm việc hiệu quả, người lao động phải có thời gian nhất

Trang 28

định dành cho nghỉ ngơi Đó chính là giai đoạn mà người lao động tái sản xuất

sức lao động Như vậy, thời giờ làm việc là có giới hạn

Cho đến đầu thế kỷ XIX, người nô lệ, người làm thuê phải lao động quần

quật cho chủ không tính đến giờ giấc Hàng ngày họ phải làm việc khoảng 14, 16 , thậm chí đến 18 tiếng Cùng với sự phát triển của nền công nghiệp ở châu Âu, lực lượng công nhân ngày càng đông đảo và lớn mạnh Họ đã liên kết lại và đấu tranh đòi cải thiện điều kiện lao động, giảm giờ làm Một số nhà hoạt động xã hội

và nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng đề ra nhiều chủ trương cải cách xã hội Robert Owen, nhà xã hội học người Anh đầu tiên đề xuất đầu tiên việc rút ngắn

thời giờ làm việc cho lao động trẻ em và gương mẫu thực hiện ngay trong doanh nghiệp của mình Saint Simon, nhà xã hội học người Pháp cũng đã khởi xướng không sử dụng lao động trẻ em quá 10 giờ một ngày Năm 1833, Anh công bố

Luật Công xưởng, quy định ngày làm việc 15 giờ đối với lao động người lớn, 12

giờ đối với lao động 13 đến 18 tuổi, và 8 giờ đối với lao động từ 9 đến 12 tuổi, đồng thời cấm sử dụng lao động dưới 18 tuổi làm đêm Năm 1866, tại Đại hội đại

biểu Đệ nhất Quốc tế họp tại Geneva, lần đấu tiên Karl Marx đề xướng khẩu hiệu

“Ngày làm 8 giờ” Tiếp sau đó, năm 1884, ở Mỹ và Canada 8 tổ chức công nhân quyết định thị uy vào ngày 01/05/1886 và bắt đầu ngày làm việc 8 giờ Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, dưới áp lực của phong trào công nhân quốc tế, nói chung, các nước đều lần lượt thực hiện chế độ ngày làm 8 giờ Năm 1919, hội nghị tổ chức lao động quốc tế thông qua Công ước số 1 về độ dài thời gian làm

việc trong công nghiệp

Như vậy, trong số 16 giờ còn lại của một ngày thì có 8 giờ giành cho làm

việc trong quan hệ lao động, thời giờ còn lại là nghỉ ngơi Tuy nhiên, một khối lượng công việc nhất định bao giờ cũng đòi hỏi phải tiêu phí một khoản thời gian

để hoàn thành Tổng quỹ thời giờ làm việc của một người càng lớn thì số người

Trang 29

cần sử dụng để hoàn thành công việc đó càng ít Thế giới xuất hiện tình trạng thất nghiệp một phần vì tình trạng số người lao động thì nhiều mà số chỗ làm việc thì

ít Tình trạng này phải được xử lý bằng rất nhiều giải pháp, trong đó có một giải pháp đã được thực hiện ở một số nước Đó là, trong quan hệ lao động nảy sinh sáng kiến của các tổ chức của người lao động đấu tranh đòi rút ngắn hơn nữa thời gian làm việc trong ngày hoặc trong tuần Tất nhiên, việc rút ngắn này phải nằm trong tầm chấp nhận được của người sử dụng lao động, trong phạm vi số thời gian lao động thặng dư Năm 1935, Tổ chức lao động quốc tế thông qua Công ước số 47 về tuần làm việc 40 giờ Năm 1962 Tổ chức lao động quốc tế tiếp tục thông qua khuyến nghị 116 về giảm thời giờ làm việc Nay đã có một số nước

thực hiện tuần làm việc 36, 39, 40 giờ và mỗi tuần làm việc 5 hoặc 6 ngày Ở nước ta hiện nay đã và đang thực hiện chế độ tuần làm việc 40 giờ trong khu vực nhà nước

Chế độ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi được hình thành trên cơ sở cả sinh

học, tâm lý và kinh tế xã hội có liên quan đến quyền và lợi ích thiết thân trong quan hệ lao động, được người lao động và cả người sử dụng lao động cùng quan tâm

Nhu c ầu nghỉ ngơi theo quan điểm kinh tế học

lý học người Mỹ Abraham Maslow, đây là nhu cầu quan trọng nhất của con người bởi vì nhu cầu nghỉ ngơi thuộc về sức khoẻ thể chất cơ bản là điều kiện tiên quyết và quan trọng nhất đối với bất kỳ cá nhân nào

Trang 30

(Hình 2.1 : Tháp nhu c ầu của Maslow

nguồn : A Theory of Human Motivation của Abraham Maslow (1943))

Tầng thứ nhất bao gồm nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thể lý" (physiological) -

thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi Tầng thứ hai bao gồm nhu cầu an toàn (safety) - cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo.Tầng thứ ba là nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc (love/belonging) - muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy.Tầng thứ tư gồm có nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem) - cần có cảm giác được tôn trọng, kinh mến, được tin tưởng Tầng thứ năm gồm có nhu cầu về tự

thể hiện bản thân (self-actualization) - muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng,

thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt

Nhu c ầu nghỉ ngơi theo quan điểm kinh tế sức khoẻ

Trong lĩnh vực sức khoẻ, định nghĩa về “Nhu cầu sức khoẻ” cũng chưa được

thống nhất Về cơ bản, nhu cầu thường gắn liền với bệnh tật – người càng ốm yếu thì càng có nhu cầu cao đối với chăm sóc sức khoẻ Culyer và Wagstaff, tác giả

Trang 31

của nghiên cứu Equity in health care finance and delivery (2000) cho rằng định

nghĩa như thế này đã đơn giản hoá vấn đề một cách thái quá – một cá nhân có thể cần đến sự chăm sóc y tế với mục đích cải thiện sức khoẻ, ngay cả khi không có

vấn đề gì ở hiện tại Nhu cầu này nhắm đến một mức sức khoẻ cao hơn trong tương lai bằng cách nhận được sự chăm sóc dự phòng trong hiện tại

Williams (1974,1978) và Culyer (1976) đưa ra một ý tưởng khác Họ cho

rằng “nhu cầu” chính là khả năng hưởng lợi của mỗi cá nhân từ sự chăm sóc sức khoẻ Định nghĩa này quan tâm đến chủ thể mà sự chăm sóc tác động đến sức khoẻ hơn là thứ được cầu là chăm sóc sức khoẻ Hãy xem xét một sự tiến bộ trong y học, theo định nghĩa này, nhu cầu của một người đối với chăm sóc sức khoẻ là không đổi, trong khi đó nguồn lực cần thiết để chăm sóc cho anh ta lại giảm đi do những tiến bộ Trên những lý lẽ đó, Culyer và Wagstaff (1993) đưa ra định nghĩa trong đó “nhu cầu” là lượng nguồn lực tối thiểu để bù đắp “khả năng hưởng lợi”

(iii) Bệnh nghề nghiệp

Là hiện tượng bệnh lý mang tính chất đặc trưng nghề nghiệp hoặc liên quan tới nghề nghiệp do tác hại thường xuyên và kéo dài của điều kiện lao động

xấu (Từ điển bách khoa ViệtNam, NXB Hà Nội)

Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động tới người lao động Bệnh xảy ra cấp tính hoặc từ từ Một số bệnh nghề nghiệp không chữa khỏi và để lại di chứng Bệnh nghề nghiệp có thể phòng

tránh được (Thông tư số 28/2016/TT-BYT)

2.5.2 Làm việc quá giờ

(iv) Khái niệm làm việc quá giờ

Làm việc quá giờ trong trong Bộ luật Lao động gọi là “Làm thêm giờ” được

định nghĩa là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường

Trang 32

được quy định trong pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động

Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

Được sự đồng ý của người lao động;

Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì

tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm

giờ không quá 300 giờ trong 01 năm;

Sau mỗi đợt làm thêm giờ nhiều ngày liên tục trong tháng, người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động được nghỉ bù cho số thời gian đã không được nghỉ (Điều 106, Bộ luật Lao động sửa đổi bổ sung năm 2012)

(v) Quy định của nhà nước về trả công làm việc quá giờ

Trả lương khi người lao động làm thêm giờ được công bố rõ ràng theo quy

định tại Khoản 1 Điều 25 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP được quy định như sau

Người lao động hưởng lương theo thời gian, được trả lương làm thêm giờ khi làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường do người sử dụng lao động quy định theo Điều 104 của Bộ luật lao động và được tính như sau:

Tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường được xác định trên cơ

sở tiền lương thực trả theo công việc đang làm của tháng mà người lao động làm thêm giờ (trừ tiền lương làm thêm giờ, tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm) chia cho số giờ thực tế làm việc trong tháng (không kể số giờ làm thêm) Trường hợp trả lương theo ngày hoặc theo tuần, thì tiền lương giờ thực trả được

Trang 33

xác định trên cơ sở tiền lương thực trả của ngày hoặc tuần làm việc đó (trừ tiền lương làm thêm giờ, tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm) chia cho số giờ thực tế làm việc trong ngày hoặc trong tuần (không kể số giờ làm thêm);

Mức ít nhất bằng 150% so với tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường, áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày thường;

Mức ít nhất bằng 200% so với tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường, áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày nghỉ hằng tuần;

Mức ít nhất bằng 300% so với tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường, áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, chưa kể tiền lương của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương theo quy định của Bộ luật Lao động, đối với người lao động hưởng lương theo ngày Người lao động hưởng lương ngày là những người có tiền lương thỏa thuận ghi trong hợp đồng lao động theo ngày và chưa bao gồm tiền lương của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương theo quy định của Bộ luật Lao động

(vi) Trả công làm việc quá giờ ở công ty CP taxi Mai Linh, công ty TNHH thương mại du lịch Thiên Phương và công ty CP dịch vụ EzyTrans

Ở các công ty vận tải hành khách, trả công làm việc ngoài giờ được quy định khác nhau nhưng tất cả đều phải chấp hành quy định của Bộ luật Lao động

Công ty CP taxi Mai Linh công ty TNHH thương mại du lịch Thiên Phương và công ty CP dịch vụ EzyTrans trả mức lương cơ bản cho người tài xế là 4 triệu

một tháng Theo điều 104 Bộ luật Lao động “Nhà nước khuyến khích người sử

d ụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ‖, căn cứ vào điều luật này và mức

lương tháng như trên của tài xế ta có thể tính được lương của người tài xế trong

một giờ làm việc bình thường là

Cả ba công ty đều mức 150% để tính tiền làm việc ngoài giờ trên cơ sở tiền công giờ làm việc bình thường theo Khoản 1 Điều 25 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP

Trang 34

Ta có thể tính được tiền công làm thêm một giờ như sau

2.5.3 Hồi phục sức khỏe

Tác giả Mulder trong nghiên cứu ―Psychological aspects of workload (1998)‖

cho rằng hồi phục sức khoẻ là khả năng cơ thể con người trở lại tình trạng ban đầu trước những tổn hao về tâm sinh lý Thông thường những tổn hao về sức khoẻ có thể khôi phục sau khi nghỉ ngơi hết giờ làm việc, hệ thống sinh học sẽ trở lại mức chuẩn trước đó Hồi phục sức khỏe sẽ diễn ra sau khi kết thúc giờ làm

việc nhưng không phải là hồi phục hoàn toàn trong một số trường hợp cụ thể Những người làm việc quá giờ từ ngày hôm trước mặc dù chưa bình phục hoàn toàn sức khỏe nhưng họ phải đảm bảo hoàn thành tốt công việc cho ngày hôm sau Hậu quả của việc chưa hồi phục sức khoẻ hoàn toàn là làm gia tăng những

phản ứng tiêu cực từ bên trong cơ thể Quá trính tích tụ những phản ứng tiêu cực

có thể gây ra vấn đề sức khỏe như mệt mỏi kéo dài, cao huyết áp mạn tính Làm

việc quá giờ có thể đem đến những tác động bất lợi cho sức khỏe thể chất và tinh thần Hồi phục sau khi làm việc diễn ra khi nghỉ giải lao, nghỉ cuối tuần hoặc nghỉ dài ngày ví dụ như nghỉ phép, nghỉ đi du lịch Hiển nhiên, làm việc quá giờ

một mặt làm giă tăng căng thẳng thần kinh hay nói cách khác là tiêu tốn sức lực; mặc khác, nó cũng làm giảm khoảng thời gian đáng lý ra dành cho hồi phục sức

khỏe sau khi làm việc Tóm lại, làm việc quá giờ đều có nguy cơ tiềm ẩn làm ngăn cản khả năng cơ thể tự chữa lành những mệt mỏi trong ngày làm việc cũng như tác động tiêu cực đến tình trạng sức khỏe

2.6 Các khái niệm về hành vi lối sống

Hành vi là cách ứng xử của con người đối với một sự vật, sự kiện, hiện tượng trong một hoàn cảnh, tình huống cụ thể Hành vi biểu lộ yếu tố nhận thức, hiểu

biết, kiến thức, niềm tin, thái độ, chuẩn mực, giá trị của cá nhân và thể hiện qua hành động của con người

Trang 35

cập đến mối quan hệ giữa làm việc quá giờ và mối liên hệ của nó với bệnh tật nhưng chưa làm sáng tỏ được mối quan hệ này một cách rõ ràng Một ví dụ cụ thể của “Hành vi lối sống” là tác động của căng thẳng thần kinh đến hành vi cũng như thói quen hằng ngày trong đó có hành vi, thói quen tích cực và tiêu cực 2.6.2 Hành vi sức khỏe tích cực và tiêu cực

Hành vi sức khoẻ tích cực là những hoạt động hay thói quen có lợi cho sức khoẻ cụ thể như ăn uống đủ chất và tập thể dục thể thao đều đặn Những hoạt động hay thói quen như thế sẽ giúp cơ thể con người luôn vận hành hiệu quả Sau

giờ làm việc, thời gian được sử dụng cho việc nghỉ ngơi, vui chơi lành mạnh sẽ giúp cơ thể hồi phục tốt hơn

Những hành vi tiêu cực là những hoạt động hay thói quen liên quan đến nguy

cơ sức khỏe như hút thuốc, ăn không đúng cử, tiêu thụ nhiều chất béo và ít tập

thể dục thể thao dẫn đến dư năng lượng cơ thể hay còn gọi là dư calo Về cơ bản, hành vi tiêu cực đối với sức khỏe được giải thích là phản ứng của con người trước những thách thức từ môi trường sống và làm việc Khi mà người tài xế làm

việc liên tục đến một mức nào đó và những thói quen hay hành vi thường ngày cũng bị thay đổi theo Người lái xe làm việc tập trung cao độ có nhu cầu cao về

chất béo và đường trong khi đó lại ít ăn rau củ, trái cây Mức độ làm việc quá giờ

Trang 36

càng cao càng làm ảnh hưởng đến thời gian nghỉ ngơi cũng như các hoạt động thể

chất khác Khi cơ thể cảm thấy căng thẳng thì việc hút thuốc và uống đồ uống có cồn đối với nhiều người là một giải pháp làm dịu mệt mỏi từ áp lực công việc

2.7 Các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quyết định làm việc quá giờ

2.7.1 Thu nhập

Tác động của thu nhập đến làm việc ngoài giờ được chứng minh trong nghiên

cứu “Overtime working: employee willingness” của tác giả Hollman Robert thực

hiện năm 1980 Khi thu nhập của một người được xem là đủ đối vợi họ, nhu cầu làm thêm gần như là không có Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay, thu

nhập của hầu hết tài xế ở mức trung bình khá 8 triệu đồng một tháng Với mức

thu nhập như trên thì không phải là dễ dàng chi tiêu trong bối cảnh lạm phát và

vật giá leo thang Mức thu nhập như thế có thể đủ trang trải cho một người độc thân nhưng có thể được xem là khó khăn cho người có gia đình hoặc người có nhu cầu chi tiêu khác như nuôi người thân, chữa bệnh hoặc phải trả nợ

2.7.2 Tình trạng hôn nhân và số con trong gia đình

Gần giống như sự ảnh hưởng của thu nhập, người có gia đình có nhu cầu chi tiêu cao hơn người độc thân Tuy nhiên, người có gia đình càng muốn dành phần lớn

thời gian cho gia đình nên ảnh hưởng của tình trạng hôn nhân đến làm việc quá

giờ chưa được kiểm chứng một cách rõ ràng

Trong nghiên cứu ―Meeting the needs of families of the psychiatrically

disabled ‖ của Hatfield, Agnes B cùng với Robert Fierstein và Douglas M Johnson đăng trên tạp chí Psychosocial Rehabilitation Journal năm 1982 có nhắc

đến người Mỹ thời điểm thập niên 80 có xu hướng thích tăng ca làm việc vì nhu

cầu tiền bạc mà bỏ quên gia đình và hậu quả nghiêm trọng của việc làm này Nghiên cứu này nhanh chóng trở thành đề tài nóng lúc bấy giờ khi mà công nghệ thông tin ở Mỹ đang phát triển mạnh Các hộ gia đình đều có điện thoại bàn và

Trang 37

điện thoại cá nhân Họ cho rằng sẽ vẫn giữ được hạnh phúc gia đình khi chu cấp

tiền bạc và liên lạc với nhau bằng điện thoại Thực tế chứng minh trong nghiên cứu lúc đó đã chỉ ra rằng lý do cặp vợ chồng ly dị là không dành thời gian bữa tối cho nhau và hậu quả khác to lớn hơn là xu hướng trẻ vị thành niên có nguy cơ

phạm tội cao hơn do không được cha mẹ quản lý chu đáo

Tuy nhiên trong nghiên cứu ―Work and inequality in urban China” của tác giả

Bian Yanjie, Trung Quốc năm 1994 và một tác giả khác Tan Minghong năm 2005

có nghiêu cứu ―Urban land expansion and arable land loss in China—a case study of Beijing –Tianjin–Hebei region‖ lại đưa ra luận điểm và chứng minh khác

về gia đình và nhu cầu làm việc Các cặp vợ chồng có con trong độ tuổi đi học đều cho rằng mức thu nhập ở quê nhà không đủ chi tiêu cho con cái của họ theo

khảo sát của tác giả Tan Minghong Những cặp vợ chồng này bỏ lại con cái cho

ông bà nuôi dưỡng và họ quyết định di cư đến các thành phố lớn của Trung Quốc nơi có nhiều nhà máy xí nghiệp và họ cật lực làm tăng ca quá giờ để kiếm tiền trang trải cuộc sống cho gia đình ở quê nhà

2.7.3 Nhu cầu chi tiêu thiết yếu trong tháng và làm thêm việc khác

Thu nhập và chi tiêu là mối quan hệ phổ biến và quan trọng Khi thu nhập không

đủ cho nhu cầu chi tiêu thiết yếu, người ta phải nghĩ cách xoay sở để có thêm thu

nhập hoặc cắt giảm chi tiêu Đối với người độc thân thì có lẽ cắt giảm chi tiêu không phải là việc quá khó khăn Tuy nhiên người có gia đình có con cái thì việc này không hề đơn giản Do đó, giải pháp tìm kiếm công việc làm thêm hoặc “làm

việc quá giờ” có vẻ như giải pháp khả thi để trang trải cuộc sống gia đình

Trong nghiên cứu “Overtime bonuses would go a long way this winter” của tác

giả Aldridge Leslie năm 2000 khi điều tra về nhu cầu làm thêm giờ của công nhân quét dọn đường phố, tác giả đã phát hiện ra các công nhân thu nhập thấp

Trang 38

muốn kiếm thêm tiền trang trải cuộc sống cho gia đình đã đánh đổi thời gian nghỉ đông và tổn hao sức khoẻ trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt

2.7.4 Học vấn

Yếu tố “học vấn‖ được coi là rất quan trọng ở hầu hết các hành vi của con người

Bởi lẽ, học vấn có quan hệ mật thiết với “nhận thức” Con người ở mỗi cấp độ

nhận thức khác nhau sẽ có hành vi khác nhau Trong nghiên cứu “What are the

effects of education on work and health” năm 2006 của tác giả Feinstein Leon ở Đại học Copenhagen (Đan Mạch), tác giả đã chứng minh được những người có

học vấn cao hơn sẽ có xu hướng làm “vừa phải” , tạo ra năng suất cao và có ý

thức chăm sóc sức khoẻ tốt hơn Ngược lại, những người không nhận thức được

“chất lượng” công việc thì làm việc miệt mài mà không đem lại kết quả tốt

2.7.5 Tuổi tác

Người ta thường bắt đầu làm việc từ độ tuổi đôi mươi, trả qua nhiều năm làm

việc sẽ có nhiều kinh nghiệm cũng như nhận thức về công việc Tuổi trẻ hầu như

ai cũng làm việc hết mình quên giờ giấc và mô trường xung quanh Trong nghiên

cứu ― The monetary value of saving a high-risk youth (1998) ‖ của Cohen Mark,

tác giả chỉ ra những bằng chứng cho rằng người trẻ có xu hướng làm việc như con thiêu thân, lao vào đồng tiền mà không suy nghĩ thấu đáo cho sức khoẻ của

họ

Ngược lại, trong nghiên cứu “Emerging adults at work and at play: Leisure, work engagement, and career indecision (2011) ‖, hai tác giả Konstam Varda và Ilana

S Lehmann lại cho rằng những người lớn tuổi hơn sau một thời gian dài làm việc

cật lực lại có xu hướng sống chậm lại, chú trọng làm việc “hiệu quả” thay vì bỏ

ra quá nhiều thời gian như tuổi trẻ Họ coi trọng chất lượng công việc và nhắm

Trang 39

đến mức thu nhập vừa phải và sự bền vững trong sức khoẻ vốn dĩ đã hao mòn

thời theo thời gian

2.7.6 Tiền tiết kiệm, tài sản, các khoản nợ

Tài sản hay tiền tiết kiệm được xem như những khoản đầu tư dài hạn của con người trong xã hội Mọi người làm việc vất vả để tích cóp dành dụm một cuốn sổ tiết kiệm, tiền gửi ngân hàng hay mua một căn nhà, một chiếc xe Người càng có nhiều tài sản, tiền tiết kiệm sẽ có xu hướng ít làm việc quá giờ đơn giản là vì tiền

bạc không phải lá gánh nặng quá lớn đối với cuộc sống của họ Trong nghiên cứu

Wealth ranking in smallholder communities: a field manual” của Gradin thực

hiện năm 1988, tác giả chứng minh những người thuộc tầng lớp trung lưu có tài

sản và mức thu nhập ổn định có xu hướng ít làm việc hơn và dành thời gian cho nghiên cứu tài chính hay nói cách khác là họ nghĩ cách đầu tư đồng tiền của họ

một cách hiệu quả thay vì phải tốn nhiều sức lực để làm việc quá giờ

Ngược lại, những người đang phải trả nợ sẽ phải gồng gánh cực lực để có tiền

Họ sẽ tìm đủ mọi cách có thể để kiếm tiền một cách nhanh nhất thậm chí đánh

đổi sự mất mát lâu dài về sức khoẻ Trong nghiên cứu ―Overtime addition‖ của

Jackson Eric, tác giả chỉ ra rằng người trẻ ở Hoa Kỳ trong giai đoạn 2000 – 2008

có xu hướng chấp nhận làm việc quá sức và quá giờ để trả nợ mà hầu hết là

những khoản nợ từ cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ năm 2007

2.8 Kết quả từ những công trình nghiên cứu nước ngoài về ảnh hưởng của

Ở các nước phát triển, “Làm việc quá giờ” là con dao hai lưỡi cho chủ doanh nghiệp cũng như người làm thuê nên vấn đề này đã được nghiên cứu từ rất lâu

“Làm việc quá giờ” giúp tiết kiệm chi phí nhân nhân cho chủ doanh nghiệp tuy nhiên làm giảm năng suất lao động khi tình trạng này cứ kéo dài Trong nghiên

Trang 40

cứu “Effects of scheduled overtime on labor productivity” của Thomas H Randolph thực hiện năm 1992, tác giả đã điều tra, nghiên cứu và đưa ra những kết quả không mấy lạc quan khi công nhân làm việc quá giờ kéo dài Việc này còn dẫn đến các công trình bị trì trệ ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích kinh tế của

chủ đầu tư

Về vấn đề sức khoẻ, các nghiên cứu của những tác giả nước ngoài nhìn chung đều chỉ ra rằng làm việc quá giờ đều có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và hành

vi sức khoẻ

2.8.1 Nghiên cứu điều kiện lao động và tình hình sức khoẻ bệnh tật của lao động

nữ tại Công ty cổ phần phát triển thuỷ sản Huế năm 2010

Tóm t ắt Môi trường làm việc không tốt tác động tiêu cực đến sức khoẻ

người lao động

2.8.2 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa làm việc quá giờ đến các chỉ số sức khoẻ

cơ bản, hành vi lối sống tích cực và hành vi lối sống tiêu cực

Tác gi ả

(năm)

Taris Yoon (2011)

Nghiên

c ứu

Investigating the associations among overtime work, health behaviors, and health: a longitudinal study among full-time employees

Ngày đăng: 18/09/2020, 09:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w